Từ “A-hàm” có ư chỉ cho các giáo thuyết
được truyền thừa, hoặc các thánh điển
truyền thừa giáo pháp của đức Phật; v́ vậy,
có lúc nó được coi là đồng nghĩa với từ
“pháp”. Gọi “A-hàm” là “A-Hàm Kinh”, đó là do thói quen
xưa nay của người Trung Quốc.
Trong thời nguyên thỉ của Phật giáo, các vị
đệ tử Phật sau khi nghe pháp, đă dùng h́nh thức
kệ tụng để khẩu truyền cho nhau; và những
ǵ được khẩu truyền, đều y cứ vào
trí nhớ. Nhưng, những vị đệ tử Phật,
tùy căn cơ mà lănh thọ giáo pháp của Phật mỗi
người mỗi khác; từ đó mà nảy sinh những
tư tưởng không giống nhau. Vậy, khi giáo đoàn
đă chính thức xác lập, th́ việc chỉnh lí, thống
nhất tất cả giáo thuyết của đức Phật,
nghiễm nhiên trở thành một nhu cầu bức thiết.
Kết quả là, tất cả những lời dạy của
đức Phật trong suốt cuộc đời hóa độ,
trải qua bốn ḱ kết tập, đă được kết
tập, chỉnh lí và bổ sung cho hoàn bị, dần dần
phát triển thành một loại h́nh thức văn học
nhất định; cuối cùng đă h́nh thành toàn bộ
THÁNH ĐIỂN, được gọi là KINH A-HÀM, tức KINH TẠNG trong Ba Tạng.
Như vậy, Kinh
A-hàm đă được truyền thừa từ giáo
đoàn nguyên thỉ; đến thời ḱ Phật giáo bộ
phái, nó lại được truyền thừa trong từng
bộ phái. Các tài liệu hiện có cho thấy, vào thời
đó, ít ra th́ Nam Phương Thượng tọa bộ, Hữu
bộ, Hóa địa bộ, Pháp tạng bộ, Đại
chúng bộ, Ẩm Quang bộ, và Kinh lượng bộ,
đều có kinh điển truyền thừa; nhưng cho
đến ngày nay th́ chỉ thấy có kinh điển của
Nam Phương Thượng tọa bộ là được
bảo tồn trọn vẹn; gồm có 5 bộ kinh: Trường bộ, Trung bộ,
Tương ưng bộ, Tăng chi bộ, và Tiểu bộ. Tất cả
đều được viết bằng chữ Pāli,
và được gọi là Năm
Bộ Kinh Nam Truyền (Nam truyền ngũ bộ),
cũng tức là Năm Bộ
Kinh A-hàm Nam Truyền (Nam truyền ngũ a-hàm).
Trong khi đó, ở phía Bắc truyền, kinh A-hàm cũng được
lưu truyền, nhưng kinh bản gốc đă được
viết bằng chữ Sanskrit, và nội dung kinh đă
được góp nhặt từ các bộ A-hàm của các bộ phái để h́nh thành 4 bộ
kinh A-hàm là Trường a-hàm,
Trung a-hàm, Tăng nhất a-hàm, và Tạp a-hàm; được
gọi là Bốn Bộ Kinh
A-hàm Bắc Truyền (Bắc truyền tứ a-hàm). Toàn
bộ bốn bộ A-hàm này
đă được dịch sang Hán ngữ tuần tự
như sau:
1) Trung A-hàm Kinh, 60 quyển, do ngài Cù-đàm Tăng-già-đề-bà
dịch vào khoảng những năm cuối thế kỉ
thứ IV đầu thế kỉ thứ V, tại kinh
đô Kiến Khang của nhà Đông Tấn, hiện
được lưu giữ trong tạng Đại Chánh, quyển 1. Nguyên bộ kinh này
trước đó đă được ngài
Đàm-ma-nan-đề dịch (gồm 59 quyển) tại
kinh đô Trường An của nhà Tiền Tần (351-394),
nhưng chưa được hoàn chỉnh, nay ngài
Tăng-già-đề-bà dịch lại. Theo các bộ luận
giải thích, chữ “trung” ở
đây có nghĩa là vừa phải, không lớn không nhỏ,
không dài không ngắn, tức bộ kinh này là một tổng
tập của những kinh không dài không ngắn. Về sự
truyền thừa, có thuyết nói kinh này do Đại chúng bộ
truyền, nhưng phần nhiều cho rằng nó đă do
Tát-bà-đa bộ truyền. Kinh này tương
đương với kinh Trung
Bộ của hệ Nam Truyền Ngũ Bộ, nhưng
nội dung của hai bộ kinh không hoàn toàn giống nhau:
kinh Trung
A-hàm gồm 222 kinh, kinh Trung
bộ gồm 152 kinh, nhưng chỉ có 98 kinh của
chúng là giống nhau; vả lại, thuận tự của
các phẩm kinh cũng khác nhau.
2) Tăng Nhất A-hàm Kinh, 51 quyển, do ngài Cù Đàm Tăng-già-đề-bà
dịch vào khoảng những năm cuối thế kỉ
thứ IV đầu thế kỉ thứ V, tại kinh
đô Kiến Khang của nhà Đông Tấn, hiện
được lưu giữ trong tạng Đại Chánh, quyển 2. Theo các bộ luận
giải thích, chữ “tăng nhất”
ở đây có nghĩa là y theo thứ tự của các pháp
số; bộ kinh này ghi lại các bài pháp bắt đầu
bằng con số, ghi theo thứ tự từ 1 pháp cho đến
11 pháp, cho nên gọi là “tăng
nhất” (tức là tăng lên từng số một: 1 rồi
2, rồi 3, v.v...). Theo sự khảo sát của các nhà học
giả, trong Bốn Bộ Kinh
A-hàm Bắc Truyền, bộ kinh này đă được
h́nh thành sau cùng, và nội dung có mang nhiều sắc thái của
tư tưởng đại thừa. Về sự truyền
thừa, có thuyết nói kinh này do Đại chúng bộ truyền,
nhưng cũng có thuyết nói là do Tát-bà-đa bộ (tức
Hữu bộ) truyền. Trong Năm
Bộ Kinh A-hàm Nam Truyền th́ kinh này tương
đương với kinh Tăng
Chi Bộ, nhưng nội dung của hai kinh không hoàn toàn
đồng nhất: kinh Tăng Nhất A-hàm của
hệ Bắc truyền gồm có 472 kinh, kinh Tăng Chi Bộ của hệ
Nam truyền gồm có 2.203 kinh, trong đó chỉ có khoảng
từ 136 đến 153 kinh của chúng là có nội dung
tương đồng. Vả lại, theo các nhà học giả
đă khảo sát, trong kinh Tăng
Chi Bộ của hệ Nam truyền không hề hàm chứa
tư tưởng đại thừa như trong kinh Tăng
Nhất A-hàm của hệ Bắc truyền.
3) Trường A-hàm Kinh, 22 quyển, do hai ngài Phật-đà-da-xá và Trúc Phật
Niệm dịch vào năm 413 đời Diêu Tần, hiện
được lưu giữ trong tạng Đại Chánh, quyển 1. Chữ “trường” ở đây, theo các bộ luận
giải thích, có ba ư nghĩa: đó là sự tổng tập
của các kinh dài; đó là các kinh đả phá ngoại
đạo; và đó là sự tồn tại lâu dài bất
tuyệt. Về sự truyền thừa, có thuyết nói rằng,
kinh này đă do Đại chúng bộ truyền; có thuyết
nói do Hóa địa bộ truyền; lại có thuyết nói
do Pháp Tạng bộ truyền. Kinh này tương
đương với kinh Trường
Bộ của hệ Nam Truyền Ngũ Bộ, nhưng
nội dung không hoàn toàn giống nhau: Trường A-hàm Kinh
gồm 30 kinh, Trường Bộ
Kinh có 34 kinh, trong đó chỉ có 6 kinh trong Trường
A-hàm có nội dung tương đương rơ rệt
với 10 kinh trong Trường
Bộ, các kinh khác c̣n lại th́ không nhất trí với
nhau; vả lại, kinh Thế
Kí trong phần chót của Trường A-hàm th́ hoàn
toàn không có trong Trường Bộ.
4) Tạp
A-hàm kinh, 50 quyển, do ngài Cầu-na-bạt-đà-la
dịch vào thời Lưu Tống, hiện được
lưu giữ trong tạng Đại
Chánh, quyển 2. Theo các bộ luận giải thích, chữ
“tạp” ở đây
nghĩa là lộn xộn, không thống nhất, không chuyên
đề. Nội dung của kinh này thâu tóm tất cả
giáo thuyết của Phật dành cho đủ loại đối
tượng: T́-kheo, T́-kheo-ni, cư sĩ nam nữ, thiên tử,
thiên nữ v.v...; giáo pháp đủ loại như tứ
đế, bát chánh đạo, thập nhị nhân duyên v.v...,
lại có cả những pháp môn về thiền định;
văn cú của kinh cũng dài ngắn lộn xộn, không
theo một thể loại nhất định nào. Về sự
truyền thừa, có thuyết nói kinh này do Đại chúng bộ
truyền, có thuyết nói do Thuyết nhất thiết hữu
bộ truyền. Kinh Tạp A-hàm này gồm 1.362
kinh, tương đương với kinh Tương Ưng Bộ (gồm 2.858 kinh) của Tạng Kinh Nam Truyền. Nó là
bộ kinh lớn nhất trong Bốn
Bộ Kinh A-hàm Hán tạng, và theo công tŕnh nghiên cứu của
các nhà học giả, đó cũng là bộ kinh được
h́nh thành sớm nhất; v́ vậy, nó ǵn giữ được
cái phong mạo của Phật giáo Nguyên thỉ. Ngoài bản
Hán dịch của ngài Cầu-na-bạt-đà-la mang tên Tạp A-hàm kinh, vừa nêu
trên, c̣n có hai bản dịch khác cũng mang tên Tạp A-hàm kinh, nhưng số quyển ít hơn, và tên người
dịch bị thất truyền.
Chữ
Phạn “tất-đàn”
được người Hoa dịch ư là “thành tựu”, tức là tùy từng đối
tượng khác nhau mà đức Phật dùng các cách thức
giáo hóa khác nhau để làm cho chúng sinh nhập vào tri kiến
Phật. Một cách tổng quát, có bốn cách thức
như vậy, gọi là “tứ tất-đàn”:
1. Thế giới tất-đàn. Đối với đối tượng chung là
chúng sinh trong khắp thế gian, đức Phật đă
tùy thuận thế gian mà dùng các tư tưởng, ngôn ngữ,
quan niệm v.v... của thế gian mà thuyết pháp, khiến
cho hạng phàm phu vui mừng tiếp nhận, từ đó
mà có được chánh trí.
2. Các các vị nhân tất-đàn. Đức Phật ứng theo căn cơ và
năng lực của từng người cá biệt mà nói
giáo pháp thực tiễn, thích hợp, làm cho họ sinh khởi
căn lành.
3. Đối trị tất-đàn. Đức Phật tùy từng loại phiền
năo (hoặc tham, hoặc sân, hoặc si, v.v...) của chúng
sinh mà dùng cách đặc biệt để đối trị,
giống như tùy từng chứng bệnh mà cho thuốc
chữa trị.
4. Đệ nhất nghĩa tất-đàn. Đối với người căn cơ
thượng thừa, đức Phật dứt bỏ tất
cả nghị luận, ngữ ngôn, dùng giáo pháp đệ nhất
nghĩa đưa thẳng đối tượng vào lí thể
chân thật của vạn pháp.
“Nhiếp” là thu phục người; và “nhiếp pháp” là cách thức tiếp xúc, cư xử với người, làm thế nào cho người ta đến với ḿnh bằng t́nh thân thiện và ḷng tin tưởng. Nếu cuộc sống xă hội được hoàn toàn an lạc th́ sự có mặt của hành giả chắc hẳn là không cần thiết. Nhưng cuộc sống lại đầy dẫy thương đau, oan nghiệt, nghi kị, hận thù, giả trá, cho nên sự có mặt của hành giả trong cuộc đời thật là quan trọng với trách nhiệm giúp xoa dịu đau thương, đánh tan nghi kị, điều chỉnh giả trá, hóa giải oan nghiệt, và xóa bỏ hận thù. Đă vậy, muốn cho tiếng nói của ḿnh được hữu hiệu, chương tŕnh của ḿnh được tin nhận, cũng như muốn có được sự cộng tác của mọi người, hành giả trước tiên phải lấy được ḷng thân ái và sự tín nhiệm của mọi người đối
với ḿnh; làm sao cho sự hiện diện của ḿnh luôn luôn là cánh hoa tươi
mát cho toàn thể mọi người. Bốn phương pháp thu phục nhân tâm sau đây
sẽ giúp ích rất nhiều cho hành giả trong việc xử thế.
1. Bố thí
“Bố
thí” là chia sớt,
giúp đỡ người bằng tài vật hoặc bằng
ư kiến, lời khuyên, th́ giờ, khả năng, tâm lực,
hay giáo pháp.
2. Ái ngữ
“Ái ngữ” là lời nói ôn ḥa, thành thật và thân thiết. Lời
nói như thế là phải phát xuất từ t́nh
thương và sự hiểu biết; v́ có t́nh thương
th́ lời nói mới êm dịu, thành thật, và có hiểu biết
th́ lời nói mới thích hợp cho từng người, từng
lúc và từng hoàn cảnh.
3. Lợi hành
“Lợi hành” là làm bất cứ việc ǵ có thể giúp ích cho
người thăng tiến trong đời sống tinh thần
và vật chất.
4. Đồng sự
“Đồng
sự” là quan
tâm đến công việc của người và cùng giúp một tay với họ để hoàn tất
công việc đó.
“Chánh kiến” được
đặt đứng đầu trong tám nguyên tắc hành động chân chính (bát chánh đạo),
là một đức tánh quan trọng để thành tựu
sự nghiệp giác ngộ. Người tu học Phật,
một khi đă có được “chánh kiến” th́ liền dứt hết tà kiến,
phá lưới si mê, trừ mọi tội lỗi. Rất
có nhiều chi tiết để diễn đạt về
“chánh kiến”, nhưng căn bản nhất là bốn cái
thấy sau đây:
1. Tất cả các pháp do nhân duyên sinh, chuyển biến
sinh diệt trong từng giây phút, cho nên bản chất của
vạn pháp là VÔ THƯỜNG.
2. V́ vạn pháp là do nhân duyên sinh, nên sự có mặt
của chúng chỉ là giả hợp
mà có, không chắc thật, không thường c̣n, rốt
cuộc rồi cũng hoàn không, cho nên bản chất của
vạn pháp là KHÔNG.
3. Tâm ư phan duyên trần cảnh, vọng tưởng
phân biệt, chấp trước, tham đắm, bao nhiêu
phiền năo khởi sinh, trói buộc, bức năo; lại luôn
luôn lo buồn, sợ sệt về những khổ đau
của sinh già bệnh chết, cho nên bản chất của
đời sống con người là KHỔ.
4. Con người có ư thức nên biết sự vật,
rồi tưởng rằng ḿnh là chủ tể, cho ḿnh có
cái “ngă” (ngă) chân thật, và có những sự vật “thuộc về ḿnh” (ngă sở hữu). Sự thật
th́ cái thân này là do bốn đại giả hợp mà thành,
tâm ư cũng do nhân duyên ḥa hợp mà có, nói chung là con người
vốn do năm uẩn nhóm họp làm thành, không chân thật,
không có cái ngă thể thường nhất bất biến,
cho nên không có cái ǵ gọi là “ngă”, hay nói cách khác, bản chất
của con người là VÔ NGĂ.
Người tu học Phật nhận
chân được vạn pháp trong vũ trụ (kể cả
con người) đều là vô thường, đều
là không,
đều là khổ, đều là vô ngă, đó là “chánh
kiến”.
Theo thế giới quan của người Ấn Độ
thời cổ đại, trong vũ trụ có vô
lượng vô số thế giới. Thế giới là một
đơn vị (gọi là “một
thế giới”), gồm có núi Tu-di ở trung tâm, bao chung
quanh có 9 núi, 8 biển, mặt trời, mặt trăng, sao,
và 4 châu thiên hạ.
Từ trung tâm núi Tu-di, chia ra bốn phương
Đông, Nam, Tây, Bắc, mỗi phương có một châu,
đều là nơi cư trú của loài người.
1. Châu ở phương Đông có tên là Thắng thân (Đông Thắng thân
châu), địa h́nh giống như một nửa mặt
trăng, khuôn mặt của người ta cũng giống
như vậy. V́ loài người ở đây có thân h́nh thù
thắng, nên châu ấy được gọi là “Thắng
thân châu”. Điểm đặc biệt của châu
này là rất rộng, rất lớn, vô cùng ḱ diệu.
2. Châu ở
phương Nam có tên là Thiệm-bộ
(Nam Thiệm-bộ châu – cũng gọi là Diêm-phù-đề),
địa h́nh trông giống như cái thùng xe, khuôn mặt
người ta cũng giống như vậy. V́ ở châu
này đặc biệt có nhiều cây thiệm-bộ (cây bồ-đào),
nên gọi là “Thiệm-bộ châu”. Loài người ở châu
này mạnh mẽ, có trí nhớ tốt, có thể tạo
nghiệp ác, mà cũng có thể tu hành phạm hạnh, có Phật
ra đời để cứu độ; đó là những
điểm đặc biệt của châu này hơn cả
ba châu kia.
3. Châu ở
phương Tây có tên là Ngưu
hóa (Tây Ngưu hóa châu), địa h́nh giống như
mặt trăng tṛn, khuôn mặt người ta cũng giống
như vậy. V́ ở châu này loài người dùng trâu trong
việc mậu dịch, nên gọi là “Ngưu hóa châu”.
Đặc điểm của châu này là có nhiều trâu, nhiều
dê, nhiều châu ngọc.
4. Châu ở
phương Bắc có tên là Câu-lư (Bắc Câu-lư châu),
địa h́nh bằng thẳng, giống như hồ
nước, khuôn mặt người ta cũng giống
như vậy. Loài người ở châu này có đời sống
sung sướng, tốt đẹp hơn hết so với
ba châu kia, nên gọi là “Câu-lư châu”. Người ở châu này có
quả báo tốt đẹp, hưởng nhiều thú vui,
ít có sự khổ, sống lâu ngàn tuổi; nhưng v́
nơi đây không có Phật pháp, nên con người không biết
tu hành để gieo trồng thiện căn, thọ mạng
hết liền bị đọa lạc, cho nên châu này là một
trong tám nạn (bát nạn) đối với
người tu hành.
Đây là
những điều làm chướng ngại khiến không
thấy được chánh đạo, hoặc không chứng
được quả vị Vô thượng Bồ-đề.
A. Bốn
sự chướng ngại ngăn che chánh đạo:
1. Hoặc (hoặc chướng). Hoặc tức là phiền năo. Chúng sinh bị các
thứ hoặc như tham dục, sân nhuế, si mê v.v... làm
cho mờ tối căn tánh, không thấy được
chánh đạo.
2. Nghiệp (nghiệp chướng). Nghiệp tức là hành động. Chúng sinh
thường không làm các việc lành, mà thường làm các
việc xấu ác hại ḿnh hại người; v́ tánh bất
thiện ấy không thấy được chánh đạo.
3. Báo (báo chướng). Chúng sinh do phiền năo sai sử khiến tạo
nghiệp nhân xấu ác, phải chiêu cảm quả báo
đau khổ nơi các cảnh giới súc sinh, ngạ quỉ,
địa ngục, không có cơ hội được nghe
chánh đạo.
4. Kiến (kiến chướng). Chúng sinh đầy dẫy tà kiến, chấp
trước, cho nên chỉ làm toàn chuyện sai quấy, không
biết ǵ đến chánh đạo.
B. Bốn
hạng người không thể chứng được quả
Phật:
1. Nhất xiển đề (xiển
đề bất tín chướng). Nhất xiển đề là hạng người
đă đoạn mất căn lành. Người nhất xiển
đề không tin nhân quả thiện ác, phỉ báng chánh pháp, Tam Bảo; như thế là
đoạn mất thiện căn, bị chướng
ngại trên đường tiến đến quả vị
Vô thượng Bồ-đề, tức là không thể thành
Phật.
2. Ngoại đạo (ngoại
đạo trước ngă chướng). Ngoại đạo học theo tà giáo, vọng
tưởng chấp trước, cho rằng có cái ngă chân thật,
từ đó mà làm điều sai quấy, gây nhiều tội
lỗi, không thấy được chánh đạo, không biết
tu hành để tiến đến thành Phật.
3. Thanh văn (Thanh văn úy khổ
chướng). Các hành
giả Thanh văn thừa, v́ nhàm chán, sợ hăi cái khổ
sinh tử ở thế gian, mà chỉ muốn sớm nhập
Niết-bàn, không có tâm nguyện thành Phật, nên không thể
thành Phật.
4. Duyên giác (Duyên giác xả tâm
chướng). Các hành
giả Duyên giác thừa bỏ mất tâm đại bi, tâm lợi
tha, chỉ muốn riêng ḿnh chứng nhập cảnh giới
vô dư Niết-bàn. V́ không có tâm nguyện thành Phật nên
không thể thành Phật.
Bốn hạng người trên v́ bị các lỗi
lầm ấy chướng ngại, che khuất, làm cho không
thấy được pháp tánh Như Lai, nên không thể chứng
đạt quả vị Bồ-đề Vô thượng.
Chỉ có các hành giả Bồ-tát thừa, v́ dứt
bỏ được các thứ chướng ngại kia,
thấy được pháp tánh, cho nên nhất định sẽ
thành Phật.
Chúng sinh ở thế gian có bốn điều
không thể nào đạt thành như ư muốn:
1. Không thể
nào trẻ
măi.
2. Không thể
nào không
bệnh hoạn.
3. Không thể
nào không
già.
Theo luật
duyên sinh th́ bất cứ một sự vật nào trong
vũ trụ cũng đều do nhiều sự vật
khác hợp lại sinh ra. Những sự vật khác đó gọi
là “DUYÊN” – nghĩa là điều kiện. Theo Duy thức học
th́ có bốn loại điều kiện tất cả:
1. Nhân duyên, là điều kiện chính, là chủng tử, là
cái nhân để sinh ra một vật. Hạt lúa là điều
kiện chính để sinh ra cây lúa; chánh niệm là điều
kiện chính để phát sinh trí tuệ, v.v...
2. Tăng thượng duyên, là điều kiện phụ giúp. Dù hạt lúa là điều kiện chính, nhưng nó không phải là điều kiện duy nhất và đầy đủ, v́ nếu chỉ một ḿnh nó không thôi, cũng không thể làm nảy sinh ra cây lúa, mà phải nhờ đến nhiều điều kiện khác như đất, nước, phân bón, ánh sáng mặt trời, sức người, sức vật, máy móc v.v..., những thứ này là tăng thượng duyên của hạt lúa. Những điều kiện phụ giúp này cũng có thuận và có nghịch, cho nên chúng có thể phân làm hai loại: những điều kiện giúp cho điều kiện chính phát sinh và tiến triển cho đến khi có được thành quả mĩ măn, th́ gọi là “thuận
tăng thượng duyên”; ngược lại, những điều kiện đe dọa, ngăn cản, phá hoại, làm cho hạt giống không thể phát sinh được, th́ gọi là “nghịch tăng thượng duyên”. Có điều nên chú ư, không phải lúc nào thuận tăng thượng duyên cũng là tốt và nghịch tăng thượng duyên cũng là xấu, mà cũng có trường hợp ngược lại. Nếu có những điều kiện
thuận lợi nào đó đă giúp cho một tâm niệm độc ác phát sinh
thành hành động gây đau khổ th́ đó là những thuận tăng
thượng duyên xấu;
trái lại, khi một ư tưởng xấu vừa khởi
lên mà người tu học biết dùng những phương pháp hữu hiệu dập
tắt liền, không để cho phát hiện thành hành động, th́ đó là những
ghịch tăng thượng duyên tốt.
3. Sở duyên duyên, là điều kiện đối tượng của nhận thức. Danh từ “sở duyên duyên” gồm có hai danh từ nhập lại: “sở duyên” và “duyên”. “Sở duyên” nghĩa là đối tượng của nhận thức; và “duyên” nghĩa là điều kiện. Duy thức học nói, “nhận thức luôn luôn bao gồm chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức”. Biết th́ không thể biết suông, mà phải là biết cái ǵ; nhận thức luôn luôn phải là nhận thức một đối tượng, cho nên, không có đối tượng th́ không có nhận thức. V́ vậy, sở duyên là điều
kiện thiết yếu cho thức, tức là điều
kiện thiết yếu để vạn pháp có mặt.
4. Đẳng vô gián duyên, là điều kiện tiếp nối liên tục, không gián đoạn của vạn pháp. Trong ḍng sống của vạn pháp cần có sự liên tục, nếu gián đoạn th́ sẽ không có ǵ được h́nh thành cả. Nếu tôi của phút thứ nhất mà không có tôi của giây thứ hai tiếp nối th́ sẽ không c̣n ǵ là tôi cả! V́ vậy, đẳng vô gián cũng là một điều kiện vô
cùng quan
trọng cho sự hiện hữu của sự vật.
Bốn điều kiện trên đây đă hợp lại mà làm nên sự vật. Chúng chính là nội dung của đạo lí “Duyên Sinh”, theo đó, vạn pháp trong vũ trụ, không có sự vật nào có thể tự ḿnh sinh ra, không có tự ngă riêng biệt, cũng không thể tồn tại một ḿnh. Sự sinh thành và hoại diệt của một sự vật luôn luôn tùy thuộc vào sự sinh thành và hoại diệt của vạn pháp; v́ vậy, Duy thức học nói, tự tính của vạn pháp là y tha khởi. (Xin xem
lại mục
“Ba Tự Tính” ở trước.)
Đây là
bốn đức tính của pháp thân Như Lai.
1. Thường. Thể tánh của pháp thân Như Lai là thường
trú, vĩnh viễn không dời đổi, không biến cải,
cho nên nói là “thường”.
2. Lạc. Pháp thân Như Lai vĩnh viễn xa ĺa mọi sự
đau khổ, an trú trong cái vui tịch tĩnh của cảnh
giới Niết-bàn, cho nên nói là “lạc”.
3. Ngă. Pháp thân Như Lai tự tại vô ngại, không bị
ràng buộc bởi hai thứ vọng chấp hữu ngă và vô ngă, không bị các pháp hữu vi chi phối, cuốn
trôi vào ḍng sinh tử, cho nên nói là “ngă”.
4. Tịnh. Pháp thân Như Lai xa ĺa mọi thứ cấu nhiễm,
lắng trong thanh tịnh, cho nên nói là “tịnh”.
Bốn
đức vô úy tức
là 4 đức tự tin, dũng mănh, không sợ sệt. Nhờ
4 đức tính này mà công việc giáo hóa chúng sinh trở nên
dễ dàng, không trở ngại. Có 4 đức vô úy của
Phật và 4 đức vô úy của Bồ-tát.
A. Bốn
đức vô úy của Phật:
1) Có trí biết rơ tất cả
không sợ sệt: Phật biết rơ tất cả các pháp, luôn luôn trụ
nơi chánh kiến, rất tự tin, không ǵ làm cho khuất
phục, không ǵ làm cho sợ sệt.
2) Dứt tuyệt các phiền năo
không sợ sệt: Phật đă hoàn toàn dứt trừ tất cả
mọi loại phiền năo, không một thứ chướng
nạn nào có thể làm cho sợ sệt.
3) Vạch rơ những thứ làm
chướng ngại cho đạo không sợ sệt: Phật chỉ rơ các phương pháp tu tập
để vượt qua những chướng ngại,
đối với bất cứ lời cật vấn nào
cũng không làm cho sợ sệt.
4) Vạch rơ cách diệt khổ
không sợ sệt: Phật chỉ bày cặn kẽ con đường
dứt tuyệt khổ đau mà không ǵ làm cho sợ sệt.
B. Bốn
đức vô úy của Bồ-tát:
1) Nắm giữ tất cả
không sợ sệt: Bồ-tát luôn luôn nhớ đến giáo pháp, thọ
tŕ không xao lăng, cho nên khi thuyết pháp trước đại
chúng, ḷng rất tự tin về những nghĩa lí nói ra,
không có ǵ làm cho sợ sệt.
2) Biết rơ căn tánh không sợ
sệt: Bồ-tát
biết rơ căn tánh của chúng sinh, tùy theo sáng suốt hay
tối tăm mà hướng dẫn cho thích hợp, cho nên
ḷng rất tự tin, không ǵ làm cho sợ sệt.
3) Ứng đáp không sợ sệt: Đối với tất cả những câu hỏi
của mọi người, Bồ-tát khéo léo giải đáp
đúng như chánh pháp, không ǵ làm cho sợ sệt.
4) Giải tỏa nghi nan không sợ
sệt: Bồ-tát
lắng nghe tất cả những lời vấn nạn của
mọi người, rồi theo như chánh pháp mà giảng
giải cho từng trường hợp, làm cho mọi nghi
nan đều được giải tỏa, sau đó lại
thuyết pháp giáo hóa, không ǵ làm cho sợ sệt.
(Xin xem mục “Bốn
Thiện Căn” ở dưới.)
Bốn quả vị Thanh văn (xin xem mục “Bốn Quả Vị
Thanh Văn” ở sau), mỗi quả có hai giai đoạn:
giai đoạn tu tập hướng
tới, gọi là “hướng”; và giai đoạn
chứng đắc, gọi
là “quả”.
Theo đó, bốn quả Thanh văn gồm có bốn
Hướng và bốn Quả như sau: Dự
lưu hướng, Dự lưu quả; Nhất lai hướng,
Nhất lai quả; Bất hoàn hướng, Bất hoàn quả;
A-la-hán hướng, A-la-hán quả. Như vậy, mỗi quả
Thanh văn là một đôi, gồm hai hạng hành giả;
và bốn quả Thanh văn là bốn đôi, gồm tám hạng
hành giả; do đó, bốn hướng bốn quả
cũng gọi là “bốn đôi tám hạng” (tứ
song bát bối).
Tất cả các loài hữu t́nh trong ba cơi (hay sáu
đường) đều luân chuyển trong ṿng luân hồi
sinh tử, sinh rồi chết, chết rồi lại sinh,
trải qua bốn giai đoạn – mà thuật ngữ Phật
học gọi là “bốn hữu” (chữ “hữu” nghĩa là sự hiện
hữu): tử hữu, trung hữu, sinh hữu, và bản hữu.
Ở đây xin lấy con người làm ví dụ để
giải thích về bốn giai đoạn chuyển sinh này:
1) Tử hữu: Con người do nghiệp lực
đời trước chiêu cảm mà nhận lấy quả
báo là cái thân ở đời này. Đời trước
người ấy sống trọn một đời rồi
xả bỏ thân mạng, th́ cái khoảng sát-na cuối cùng
của đời sống (tức phút lâm chung), giai đoạn
đó được gọi là “tử
hữu”.
2) Trung hữu: cũng gọi là “trung
ấm”, chỉ cho giai đoạn từ sau khi xả bỏ
thân mạng ở đời trước cho đến khi
đủ duyên để đầu thai ở đời
này. Theo chủ trương của luận Câu-xá và Hữu bộ, trong giai đoạn này có sự
hiện hữu của một sắc thân, gọi là thân trung hữu (hay thân trung ấm). Thân này lớn
cỡ con nít năm, sáu tuổi, có đủ sáu căn, do thứ
sắc chất cực vi tế cấu thành, nên nhục nhăn
không thấy được, chỉ có thiên nhăn và những hữu
t́nh cùng ở giai đoạn trung hữu đó mới thấy
được. Về thời gian tồn tại của
thân trung hữu này, có bốn thuyết khác nhau: các luận
sư T́-bà-sa cho rằng, sau khi chết liền đi đầu
thai, nên nó chỉ tồn tại trong khoảnh khắc; luận
sư Thế Hữu cho rằng, nó tồn tại lâu nhất
là 7 ngày; luận sư Thiết-ma-đạt-đa cho rằng,
nó có thể tồn tại lâu nhất là 7 lần 7 ngày (tức
49 ngày); luận sư Pháp Cứu th́ cho rằng, v́ tùy theo
nghiệp lực thúc đẩy đi thọ sinh mạnh
hay yếu, mà thời gian tồn tại của thân trung ấm
không có hạn ḱ nhất định. Đại chúng bộ,
Hóa địa bộ, Thuyết xuất thế bộ và Kê dận
bộ th́ không thừa nhận có thân trung hữu này.
3) Sinh hữu: Khi nhân duyên đầu thai đă thành thục, nghiệp
thức liền xả bỏ thân trung hữu để thác
sinh vào thai mẹ; khoảng sát-na đầu tiên nhập thai
ấy là giai đoạn “sinh hữu”.
4) Bản hữu: Giai đoạn của mạng sống từ sau
khi nhập thai (tức sinh hữu) cho đến lúc lâm chung
(tức tử hữu), gọi là “bản hữu”. Thân bản hữu này gồm hai
giai đoạn: ở trong bào thai và ra khỏi bào thai. a) Giai đoạn ở trong bào
thai, tuần tự trải qua 5 trạng thái: - trong 7 ngày
đầu thụ thai, h́nh tượng như một chút
váng sữa; - trong 7 ngày thứ nh́, h́nh tượng như một
cục máu; - trong 7 ngày thứ ba, h́nh tượng cục máu
tiến triển thành thịt mềm; - trong 7 ngày thứ
tư, cục thịt mềm tiến triển thành thịt
cứng; - từ 7 ngày thứ năm trở đi, các chi tiết
của h́nh vóc dần dần tượng thành và phát triển
cho đến khi sinh ra đời. b) Từ sau khi sinh ra đời cho đến lúc lâm
chung, thân mạng cũng tuần tự tiến triển
qua 5 h́nh thái: - anh hài (em bé từ khi sinh ra cho đến 6 tuổi);
- đồng tử (trẻ em từ 7 đến 15 tuổi);
- thiếu niên (từ 16 đến 30 tuổi); - tráng niên (từ
31 đến 40 tuổi); - lăo niên (từ 41 tuổi cho đến
lúc lâm chung). Sự phân chia tuổi tác của các giai đoạn
này chỉ là đại khái mà thôi.
Hữu t́nh chúng sinh từ tử hữu bước
sang trung hữu, từ trung hữu bước sang sinh hữu,
từ sinh hữu bước sang bản hữu; trong giai
đoạn bản hữu nếu không biết tu đạo giải thoát mà vẫn ngu si tạo
nghiệp, th́ từ bản hữu lại tiếp tục
quá tŕnh sang tử hữu, sang trung
hữu, sang sinh hữu, sang bản hữu..., cứ như
thế, ṿng luân hồi cứ quay măi, con đường
sinh tử kéo dài bất tận!
Danh từ Phật học Hán Việt gọi lĩnh vực quán niệm là “niệm xứ”
hay “niệm trú”. Niệm là có ư thức, để tâm tới, thuật
ngữ thiền học gọi là quán niệm. Xứ
là chỗ, nơi, lĩnh vực, đối tượng;
niệm
xứ là đối tượng hay lĩnh vực
quán niệm – tức là nơi mà hành giả để tâm tới, đặt ư thức lên đó. Trú
nghĩa là ở, như trong từ ngữ “cư trú”, “an
trú”; niệm trú là duy tŕ ư thức trên đối tượng quán
niệm – tức là quán chiếu đối tượng trên ngay đối tượng đó.
Tu tập phép quán niệm này, muốn được
thành công mĩ măn, phải trải qua hai giai đoạn:
giai đoạn căn bản, quán chiếu tướng
riêng của từng lĩnh vực (biệt tướng niệm trú); và giai đoạn
dung thông, cùng lúc quán chiếu tướng chung của cả
bốn lĩnh vực (tổng
tướng niệm trú).
A. Giai đoạn căn bản:
1. Quán niệm rằng thân thể là không trong sạch
(quán thân bất tịnh). Hành giả hăy quán niệm rằng,
thân thể là xác thịt do cha mẹ sinh ra. Tất cả những
ǵ làm nên và chứa đựng trong thân thể (như da, thịt,
máu, mủ, phân, nước tiểu
v.v...) đều dơ bẩn, hôi hám, không có thứ ǵ
là trong sạch.
2. Quán niệm rằng mọi cảm thọ đều
là đau khổ (quán thọ thị khổ). Hành giả
hăy quán niệm rằng, dù cảm thọ
có vui có khổ, nhưng ở thế gian không
bao giờ có cái vui chân thật, c̣n cái khổ
th́ đầy dẫy. Nếu có cái vui
th́ cũng chỉ là tạm bợ, và chỉ
là cái khổ trá h́nh; rốt cuộc,
cái vui lại là nguyên nhân của cái khổ.
Bởi vậy, tất cả mọi cảm
thọ đều chỉ là đau khổ. Có chỗ
cũng giải thích “thọ thị
khổ”
là có nhận lănh là có đau khổ. Trước tiên là nhận lănh cái
thân này, cái tâm này; sau đó là nhận lănh các thứ cơm ăn, áo mặc,
nhà ở, thuốc thang, mọi
thứ vật dụng, rồi nào là sắc,
thanh, hương, vị, xúc, v.v..., tất cả
những ǵ ta thọ nhận trong đời
sống đều là nguồn gốc sinh ra
đau khổ.
3. Quán niệm rằng tâm ư là vô thường (quán tâm
vô thường). Hành giả hăy quán niệm rằng, tâm ư
luôn luôn thay đổi, từng phút từng giây, không bao giờ
ngưng nghỉ. Không có một ư nghĩ, một trạng
thái tâm lí nào là bền vững, chắc chắn.
4. Quán niệm rằng vạn pháp là vô ngă (quán pháp vô
ngă). Hành giả hăy quán niệm rằng, vạn pháp ở
thế gian đều do nhân duyên ḥa hợp mà làm nên, không vật
ǵ có bản tính độc lập, chân thật.
Mục đích của phương pháp quán niệm như trên là để hành giả tự cảnh giác trên đường tu tập. Khi đă thấy rơ thân thể là dơ nhớp th́ hành giả sẽ nhàm chán nhục dục, sẽ diệt được những ham muốn thể xác, không để ḿnh bị lôi cuốn bởi những quyến
rũ của ái dục. Khi đă thấy rơ được tất cả mọi cảm thọ, mọi cái thọ nhận đều là đau
khổ th́ hành giả không c̣n để cho ḿnh bị tham đắm vào những thú vui thường tục, những nghiện ngập trác táng, những nhu cầu quá độ hay vô ích chỉ nhằm thỏa măn ḷng tham. Khi đă thấy rơ tâm ư là vô thường th́ hành giả có thể tùy từng trường hợp,
từng hoàn cảnh mà đối trị với những vọng tưởng, những tà
niệm của chính ḿnh; hoặc có thể giữ được tâm b́nh thản trước
những oan nghịch, những phản trắc của t́nh đời. Khi đă thấy rơ
các pháp là vô ngă th́ hành giả đă mở được con mắt
tuệ cho chính ḿnh, một niệm tham cũng không c̣n, tâm chấp trước cũng
tiêu mất.
B. Giai đoạn dung thông:
Khi đă tu tập thành công giai đoạn quán niệm
căn bản như trên, hành giả nên tiến sang giai
đoạn kế tiếp, cao sâu hơn, viên dung hơn,
đó là, khi quán niệm về một lĩnh vực, th́
đồng thời cũng quán niệm để thấy
rơ, trong một lĩnh vực đă có hàm chứa cả bốn
lĩnh vực. Khi quán niệm về thân thể th́ thấy thân thể là bất tịnh, mà đồng
thời cũng là đau khổ, vô thường, vô ngă; cảm thọ, tâm ư và vạn pháp
cũng vậy. Khi quán niệm Tâm
ư là vô thường, th́ thân thể, cảm thọ và vạn
pháp cũng đều là vô thường.
Mặt khác, công phu quán chiếu – và quán chiếu càng sâu sắc – sẽ đem lại cho hành giả những cái thấy sáng tỏ hơn nhiều về thực tại; như quán chiếu về thân thể chẳng hạn, hành giả sẽ thấy được những sự bất tịnh của thân thể mà đồng thời cũng thấy được cả những mầu nhiệm của thân thể; đối với cảm thọ, tâm ư v.v... cũng vậy.
Cuộc sống có mặt tiêu cực nhưng cũng có mặt tích cực; có khổ
đau nhưng cũng có
hạnh phúc; có những thọ nhận vô ích, tội lỗi,
nhưng
cũng có những thọ nhận hữu ích, tốt đẹp.
Đây là phương pháp quán niệm theo tinh thần kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm (Niệm Xứ Kinh). Phương pháp của kinh này là quán chiếu thân thể, cảm thọ, tâm thức và đối tượng của tâm thức (tức là “pháp”) với tinh thần không chán ghét mà
cũng không ham thích, không xa lánh cũng không vồ vập, không đè nén cũng không buông trôi. Cứ quán sát mà đừng đặt sẵn một định kiến nào, đừng tỏ một thái độ nào. Hăy cứ quán chiếu, và quán chiếu thật sâu sắc th́ tự tính của vạn pháp tự nhiên sẽ hiển
bày, và hành giả sẽ đạt được
những cái thấy thật là mầu nhiệm về sự sống.
1. Quán niệm thân thể nơi thân thể.
Quán niệm thân thể nơi thân thể là quán sát để có ư thức rơ rệt về mọi tư thế, trạng thái và hành động của chính thân thể ḿnh. Hành giả luôn luôn có ư thức rơ rệt về hơi thở ra, hơi thở vào, hơi thở dài và hơi thở ngắn của ḿnh. Hành giả biết rơ là ḿnh đang đi, đang đứng, đang ngồi hay đang nằm. Hành giả biết rơ là ḿnh đang ở đâu, làm ǵ, lúc nào. Những hành động của ḿnh là có mục đích hay không có mục đích. Đặc biệt lúc thiền tọa, hành giả có thể quán chiếu để thấy rơ những yếu tố cấu tạo nên thân thể ḿnh: yếu tố rắn chắc (thịt, xương v.v...); yếu tố lưu nhuận (nước, máu v.v...); yếu tố viêm nhiệt (sức nóng); và yếu tố chuyển động (hơi thở). Hành giả cũng quán chiếu để thấy rơ từng bộ phận và các chất chứa đựng trong thân thể ḿnh, như da, thịt, xương, đầu, tóc, tay, chân, tim, phổi, máu, phân, nước tiểu, v.v... Hành giả cũng quán sát để thấy được quá tŕnh sinh khởi, tồn tại và hủy diệt của từng tế bào trong cơ thể cũng như của toàn vẹn thân thể ḿnh. Hành giả lại quán tưởng đến thân
thể ḿnh sau khi chết, máu khô thịt rữa, c̣n lại bộ xương trắng trong ḷng đất lạnh. Hoặc giả bộ xương ấy cũng có thể nằm trơ vơ trên mặt đất, c̣n nguyên vẹn hay ră rời
nằm rải rác đó đây, từ lúc c̣n rắn chắc cho đến khi hoàn toàn mục nát trộn lẫn với đất đá cỏ cây. Hành giả cũng lại quán niệm để thấy được rằng da thịt này, bộ xương này, thân thể này chính thật là ta, nhưng cũng không phải là ta. Thân thể ta là h́nh hài này nhưng cũng không phải chỉ giới hạn, cục bộ và đơn độc trong h́nh hài này, mà ở đâu đâu cũng có thân thể ta: nơi ngọn cỏ, cành cây, rừng núi, sông hồ, chim muông, tinh tú...; ngược lại, tất cả những thứ ấy cũng hiện diện đầy đủ trong thân thể ta. – Ta chính
là sự sống vĩnh cửu của vũ trụ, mà thân thể này chỉ là một
phần rất nhỏ của ta.
2. Quán niệm cảm thọ nơi cảm thọ.
Cảm thọ là những cảm giác phát sinh khi sáu giác quan tiếp xúc với đối tượng của chúng. Quán niệm cảm thọ nơi cảm thọ là thường trực nhận diện mọi cảm giác phát
sinh trong ta. Một cảnh tượng đẹp làm cho ta cảm thấy thích thú; một cảnh tượng bạo ác làm cho ta sợ hăi; một âm thanh êm dịu hay chát chúa; một giọng nói ngọt ngào hay khó chịu; một mùi thơm của hoa; một vị ngọt của thức ăn; sự nóng bức hay giá lạnh của thời tiết; sự ngứa ngáy do muỗi đốt; sự đau nhức của vết thương; một ư kiến hay làm cho ta khoan khoái; một tư tưởng xấu làm cho ta hổ thẹn v.v... Tất cả những cảm thọ ấy, dù vui hay buồn, khoái lạc hay đau khổ, về vật chất hay tinh thần, khi chúng vừa phát sinh th́ hành giả biết rơ là chúng vừa phát sinh; chúng đang c̣n đó th́ biết rơ
là chúng đang c̣n đó; khi chúng đă tiêu mất th́ biết rơ là chúng đă
tiêu mất; ngay cả khi không có một cảm thọ nào có mặt th́ hành giả cũng
biết rơ là không có một cảm thọ nào đang có mặt trong ta. Trong khi thiền
tọa, hành giả có thể quán niệm để thấy rơ nỗi đau khổ, buồn
phiền mà mọi người chung quanh ta đang chịu đựng. Những nỗi khổ
đau ấy hoặc là về vật chất, hoặc là về tinh thần, và gây ra do bệnh tật,
đói khát, bất an, tham lam, thù hận, chiến tranh, ngu muội v.v... Hành giả cũng
có thể quán tưởng đến một xă hội an lạc, trong đó mọi người
được sống thanh b́nh, v́ ai cũng hiểu biết, thương yêu và ḥa thuận.
Hành giả cũng có thể quán chiếu để thấy rơ tất cả những cảm
thọ như vậy ở cả trong đời sống của muôn loài: gia súc, cầm thú,
cá tôm, rong rêu, hoa cỏ, núi rừng v.v...
3. Quán niệm tâm thức nơi tâm thức.
Tâm thức là tiếng dùng để chỉ chung cho các hoạt động phi sinh lí, phi vật chất, là các hiện tượng tâm lí như ư tưởng, suy nghĩ, tưởng tượng, phân biệt, hồi ức v.v... Quán niệm tâm thức nơi tâm thức là thường trực quán sát để nhận diện mọi hiện tượng tâm lí phát sinh trong ta. Khi một ư nghĩ hoặc tốt hoặc xấu vừa phát sinh, hành giả nhận biết ngay rằng nó vừa phát sinh. Khi trong tâm có ư niệm tham dục th́ hành giả biết rơ rằng ḿnh đang có ư niệm tham dục. Khi trong tâm có ư niệm sân hận, oán thù hay bực bội th́ hành giả biết rơ rằng ḿnh đang có ư niệm sân hận, oán thù hay bực bội. Khi trong tâm không có các ư niệm tham dục, sân hận, oán thù hay bực bội th́ hành giả cũng biết rơ ràng như vậy. Khi ḷng ḿnh đang mê loạn, không tỉnh táo th́ hành giả biết rơ rằng ḷng ḿnh đang mê loạn, không tỉnh táo. Khi tâm ḿnh đang định tĩnh, sáng suốt, hành giả biết rơ ràng là tâm ḿnh đang định tĩnh, sáng suốt. Khi có tâm khoan dung, từ ái, ḥa thuận, hành giả biết rơ tâm ḿnh đang như vậy. Khi có tâm kiêu mạn, nghi ngờ, ganh ghét, hổ thẹn, hối hận v.v..., hành giả đều biết rơ ràng là tâm ḿnh đang như vậy. Khi tâm được an nhiên, thư thái, giải thoát th́ hành giả có ư thức rơ rệt về tâm ḿnh như vậy. Hành giả thường xuyên quán sát để thấy rơ quá tŕnh sinh khởi, tồn tại, chuyển biến và hủy diệt của các trạng thái tâm lí ấy trong tâm thức ḿnh. Khi chúng vừa phát sinh th́ biết là chúng vừa phát sinh; c̣n đang tồn tại th́ biết là c̣n
đang tồn tại; có biến chuyển th́ biết là có biến chuyển; đă tiêu mất th́ biết là đă tiêu mất. Trong lúc thiền quán, hành giả có thể quán chiếu để thấy được tâm lí của người khác, một kẻ xấu mà ta đang để tâm thù ghét chẳng hạn. Ta có chịu khó quán sát th́
mới hiểu được rơ ràng con người mà ta thù ghét, và nhờ đó mà ta có thể hóa giải mọi
thù ghét một cách dễ dàng.
4. Quán niệm đối tượng của tâm thức
nơi đối tượng của tâm thức.
Đối tượng của tâm thức, thường được gọi là “pháp”. Trong đạo Phật, “pháp” là tiếng dùng để chỉ cho mọi hiện tượng trong vũ trụ. Duy thức học chia mọi hiện tượng này thành 100 pháp, gồm trong năm loại là sắc pháp (gồm mọi hiện tượng vật và sinh lí), tâm pháp (gồm các hiện tượng tâm lí đứng về phương diện nhận thức), tâm sở pháp (gồm các hiện tượng tâm lí vốn là thuộc tính của nhận thức), tâm bất tương ưng hành pháp (gồm các hiện tượng không thuộc tâm, sinh hay vật lí), và vô vi pháp (gồm các hiện tượng không lệ thuộc vào nhân duyên)(1). Điều này cho ta thấy, chẳng những các hiện tượng sinh vật lí là đối tượng của tâm thức, mà ngay cả các hiện tượng
tâm lí, các hiện tượng phi-tâm-sinh-vật-lí, và các hiện tượng đứng ngoài nhân duyên cũng đều là đối tượng của tâm thức. Mặt khác, Duy thức học nói rơ rằng: nhận thức luôn luôn là nhận thức một cái ǵ, như thế cũng có nghĩa là, tâm thức và đối tượng
của tâm thức chỉ là một, không có đối tượng th́ chủ thể (tâm thức) cũng không có, và
ngược lại, không có chủ thể th́ cũng không có đối tượng. Rốt cuộc, tâm thức và đối tượng của tâm thức (trong đó có tâm thức) cũng đều là tâm thức, và “tâm quán tâm” là phương pháp mầu nhiệm để đạt tới tuệ giác. Đây không phải là điều nghiên cứu để hiểu, suy tưởng để thấy như người ta học một môn triết học, mà phải là nếp sống thường trực của người tu học. Khi tâm được định tĩnh, hành giả có thể quán niệm về nhân duyên, vô thường, vô ngă và từ bi, cho đến khi nào đạt được tŕnh độ phá chấp, vô úy và đại bi của các vị Bồ-tát. Hành giả có thể lấy ngay bản thân ḿnh để quán sát về hợp thể ngũ uẩn, về tính chất duyên sinh, vô thường, vô ngă v.v... của hợp thể ngũ uẩn ấy. Từ bản thân ḿnh, hành giả quán chiếu hợp thể ngũ uẩn ấy trong vũ trụ, cho đến khi thấy rơ được sự tương quan và đồng nhất giữa ḿnh và vũ trụ. Ta thấy ta trong ng̣i bút, cuốn sách, cái bàn, cây xương rồng, ngọn xà lách, và ngược lại. Quán niệm để thấy rơ niềm vui của ta là của người, nỗi khổ của người là của ta. Nói tóm lại, tất cả “pháp môn” đều phải là đối tượng của tâm thức mà người tu học thường xuyên quán chiếu để đem tâm thức thể nhập vào trong đối tượng của tâm thức – tâm thức và
đối tượng của tâm
thức là một.
(1) Xin xem mục “Một Trăm Pháp” ở
sau.
Các kinh điển Phật giáo thường dùng chữ
“bốn loài” (tứ sanh)
để chỉ cho bốn cách thức từ đó các sinh
vật được sinh ra ở thế gian:
1. Các loài sinh vật sinh ra từ bào thai trong bụng
mẹ (thai sanh), như loài
người, các giống thú như ḅ, trâu, ngựa v.v...
2. Các loài sinh vật sinh ra từ trứng (noăn sanh),
như các giống chim, rắn, rùa v.v...
3. Các loài sinh vật sinh ra chỗ ẩm thấp
(thấp sanh), như các giống bọ, côn trùng v.v...
4. Các loài sinh vật sinh ra bằng cách chuyển
hóa (hóa sinh), như các giống tằm, bướm
v.v...
Người Phật tử thường xưng
tán đức Phật là bậc “Đạo
Sư của ba cơi”, và là đấng “Cha Lành của bốn loài”. Khi cứu độ
chúng sinh, các vị Bồ-tát luôn luôn đem t́nh thương
trải rộng một cách b́nh đẳng trên cả bốn loài.
“Ma” cũng gọi là
“ác ma”, có nghĩa là giết hại, phá hoại, chướng
ngại, cướp đoạt mạng sống, giết
chết huệ mạng; dùng để chỉ cho những
loài quỉ thần hung ác chuyên cản trở các việc
lành, cũng chỉ cho tất cả những phiền năo,
nghi ngờ, mê luyến, v.v... thường nhiễu hại
chúng sinh; có thể nói tóm tắt một câu: “Ma là tất cả các thế
lực vô minh, luôn luôn t́m mọi cách ngăn trở người
tu hành tiến đến giác ngộ giải thoát”.
Kinh Phật bổn hạnh tập
liệt kê có 20 loại ma: ma ham muốn, ma không hoan hỉ,
ma đói khát nóng lạnh, ma mê đắm, ma ham ngủ, ma sợ
sệt, ma nghi hoặc, ma sân hận, ma tranh danh đoạt
lợi, ma ngu si, ma kiêu căng ngạo mạn, ma hại
người, v.v... Luận Đại trí độ cho rằng, tất cả những
ǵ không phải là thật tướng của các pháp th́
đều là “ma”. Nhưng, một
cách tổng quát, luận Du-già
sư địa phân “ma” làm bốn loại:
1. Ma ngũ ấm
(ngũ ấm ma). Năm uẩn (hay năm ấm) sắc, thọ,
tưởng, hành, thức, tích tụ lại mà thành quả
khổ sinh tử, che lấp chân tánh, có thể đoạt
mất huệ mạng.
2. Ma phiền năo (phiền
năo ma). Trăm ngàn loại phiền năo làm năo loạn tâm
thần chúng sinh, cướp đoạt huệ mạng,
làm cho không thể thành tựu đạo quả giác ngộ.
3. Ma chết (tử
ma). Cái chết làm cho thân tứ đại phân ră, làm
cho người tu hành không có cách nào kéo dài thời giờ
để vun bồi huệ mạng.
4. Ma trời (thiên ma). Kinh điển thường nói, thiên ma (hay thiên ma
ba tuần) ở cơi trời Tha hóa tự tại là loại
thần hay phá hoại chánh giáo, hay ganh ghét các bậc hiền
thánh, hại người lương thiện, gây ra bao nhiêu
sự nhiễu loạn, ngăn trở việc lành, làm cho
người tu hành khó thành tựu được đạo
nghiệp, con đường giải thoát bị chướng
ngại.
Ba loại ma ngũ ấm,
phiền năo và chết đều vốn có sẵn trong tự
thân mỗi người, nên được gọi là “nội
ma”; c̣n loại ma trời
là ở bên ngoài con người, nên gọi là “ngoại
ma”. Nhưng nếu xét rộng thêm th́ “ngoại ma” không phải chỉ có thiên ma, mà c̣n vô số loại ma khác nữa, đến
từ ngoại đạo tà giáo, từ những con người ác độc. Có thể nói,
trên cơi đời này, cứ có bao nhiêu người tính
t́nh độc ác là có bấy nhiêu con ma, và bản chất của
chúng không khác ǵ thiên ma.
Thức ăn là để nuôi sống cả thân lẫn
tâm của chúng sinh. Có bốn loại thức ăn:
1. Thức
ăn vật chất, ăn vào bằng miệng (đoàn, hay đoạn thực), là những thức ăn uống trực tiếp
nuôi sống thân thể, có khối lượng, có màu sắc,
có mùi hương, có vị nếm, và chúng ta ăn vào bằng
miệng, như cơm, bánh, trái cây, nước trong, trà,
rượu v.v...
2. Các loại
thức ăn tinh thần, ăn bằng cách dùng các giác quan tiếp
xúc với chúng (xúc thực), như h́nh sắc, phim ảnh, âm nhạc, mùi
hương, xúc chạm v.v... Những loại thức
ăn này giúp chúng ta yêu đời để sống.
3. Ư chí
muốn sống (tư thực), là những suy nghĩ, những tư tưởng,
những quyết tâm, những tranh thủ v.v... của chúng
ta để thực hiện bất cứ điều ǵ nhằm
giữ ǵn, bảo vệ mạng sống.
4. Tâm
thức chính là nền tảng của sự sống
– có tâm thức mới có sự sống (thức thực).
V́ thức
ăn là để nuôi dưỡng thân tâm, trị liệu
các bệnh khổ, cho nên trong khi “ăn”
– dù là ăn theo nghĩa nào, người tu học cần phải
giữ chánh niệm, để có thể thấy rơ thức
ăn ḿnh đang ăn là thực sự “bổ dưỡng”
cho thân tâm hay chỉ là “chất độc” làm hại thân
tâm. Và dĩ nhiên là chúng ta chỉ ăn các thức có tính chất
bổ dưỡng và trị liệu mà thôi.
Tông Thiên thai đề xướng có bốn loại
Phật độ, hay bốn loại Tịnh độ:
1. Phàm thánh đồng cư độ: tức là quốc độ mà trong đó Người,
Trời (phàm) và các vị
Thanh văn, Duyên giác (thánh) cùng ở chung. Lại nữa,
trong “phàm” th́ Người và
Trời thuộc về “thiện chúng sinh”, ngoài ra c̣n có thể
kể thêm bốn loài “ác chúng sinh”
cũng cùng ở chung là Địa ngục, Ngạ quỉ,
Súc sinh và A-tu-la; trong “thánh”
th́ Thanh văn và Duyên giác là các bậc thánh chính thức, ngoài
ra c̣n có thể kể chung các vị “thánh quyền biến”,
tức là chư Phật và Bồ-tát lớn, v́ cứu độ
chúng sinh mà thị hiện trong các quốc độ đó.
2. Phương tiện hữu
dư độ: tức là quốc độ của các bậc
A-la-hán, Phật Bích-chi và Bồ-tát Địa tiền. Những
vị này nương vào các pháp phương tiện để
tu tập, đoạn trừ các kiến tư hoặc, nên
gọi là “phương tiện”;
nhưng vẫn c̣n căn bản vô minh làm che lấp thật
tướng trung đạo, nên gọi là “hữu dư”.
3. Thật báo vô chướng ngại
độ: tức
là quốc độ thuần túy của các vị Bồ-tát
Địa thượng. Những vị này đă trừ từng
phần căn bản vô minh, có được quả báo tự
tại vô ngại của đạo chân thật.
4. Thường tịch quang độ: tức là quốc độ của chư Phật.
Đó là quốc độ của pháp thân thường trú (thường), hoàn toàn giải
thoát (tịch), và trí tuệ
siêu việt (quang).
Những người phát tâm tu học và thực
hành hạnh Bồ-tát đều phải phát bốn lời nguyện lớn
như là hành trang tinh thần cho họ vào đời để
thực hiện sứ mạng của ḿnh. Không phát bốn
lời nguyện này th́ công phu của hành giả sẽ trở
nên vô nghĩa.
1. Lời nguyện thứ nhất: Chúng
sinh không số lượng, thệ nguyện đều
độ khắp.
Lời nguyện này phát xuất từ đức tính từ bi của đạo Phật. Nh́n thấy chúng sinh là nh́n thấy
đau khổ. Có nh́n thấy đau khổ mới có ư chí chấm dứt khổ đau. Chữ “độ” ở đây không có nghĩa ǵ khác hơn là chấm dứt
khổ đau để đạt tới giải
thoát, an lạc. Do đó chúng ta thấy, nội dung của lời nguyện thứ nhất này
gắn bó rất chặt chẽ với sự thật thứ nhất –nhận thức
về khổ đau (khổ đế) – của giáo lí Bốn Sự Thật.
(Xin xem mục “Bốn Sự
Thật” ở sau.) Với lời nguyện này, hành giả đă nói lên ư chí của ḿnh là
quyết tâm chấm dứt khổ đau để kiến tạo hạnh phúc, an lạc cho ḿnh và
cuộc đời.
2. Lời nguyện thứ hai: Phiền năo không cùng tận,
thệ nguyện đều dứt sạch.
Lời nguyện này phát xuất từ đức tính hùng lực (hay dũng mănh) của đạo Phật. Phiền năo
là tất cả những ǵ đă gây ra đau khổ cho chúng sinh. Sở dĩ đau
khổ cứ triền miên đè nặng cuộc sống là v́ con người không thấy
được nguyên nhân gây ra đau khổ; hoặc giả có kẻ thấy được
th́ lại không có đủ ḷng từ bi để cứu khổ mà đôi khi c̣n
nhân đó làm cho khổ đau tăng thêm, chồng chất măi; hoặc giả có người
muốn chấm dứt khổ đau nhưng lại không có đủ hùng lực để
diệt trừ phiền năo là nguyên nhân gây ra đau khổ. Cho nên lời nguyện
này đă nói lên ư chí của hành giả quyết tâm đem dũng lực của
ḿnh để dứt sạch mọi nguyên nhân đă gây nên đau khổ. Nội dung của
lời nguyện có liên hệ mật thiết với sự thật thứ hai – nguyên
nhân của khổ đau (tập đế)
– của giáo lí Bốn Sự
Thật.
3. Lời nguyện thứ ba: Pháp môn không kể xiết,
thệ nguyện đều tu học.
Lời nguyện này phát xuất từ đức tính trí tuệ của đạo Phật. Pháp môn là tất cả những phương pháp hành động chân chính dùng để tận diệt phiền năo, chấm dứt khổ đau và xây dựng hạnh phúc, an lạc. Đó là những lời Phật dạy được ghi chép trong rừng kinh điển đạo Phật, và tất cả những lời luận thuyết của hàng đệ tử Phật trải qua bao thời đại nhằm xiển dương giáo nghĩa của đức Phật. Chữ “tu học” ở đây phải được hiểu là học hiểu giáo lí và áp dụng giáo lí ấy một cách thông minh vào đời sống hằng ngày để giúp ích cho chính ḿnh và cho mọi người, mọi loài. Có học như vậy th́
pháp môn kia mới trở thành hành trang chính yếu và quí báu cho hành giả vào đời. Pháp môn ấy sẽ là cây kiếm báu để chặt đứt mọi gốc rễ của phiền năo, là viên gạch bền chắc để xây nền móng cho ṭa nhà an lạc, và là nước trong, gạo trắng, hoa cỏ xinh tươi, không khí thơm lành của cơi Tịnh độ. Lời nguyện đă nói lên cái ư chí khai mở trí tuệ của hành giả, v́ chúng ta từng biết rằng, t́nh thương, trí tuệ và hùng lực là ba yếu
tố cần thiết, không thể thiếu một,
cho những người phát tâm thực hành hạnh Bồ-tát. Nội dung lời nguyện
đă gắn bó chặt chẽ với sự thật
thứ tư –
phương pháp hành động để chấm dứt khổ
đau và đạt tới an lạc, giải thoát (đạo đế) – của giáo lí Bốn
Sự Thật.
4. Lời nguyện thứ tư: Quả Phật không ǵ
hơn, thệ nguyện được viên thành.
Quả Phật là sự nghiệp giác ngộ đă được trọn vẹn. Đối với người tu học, không có mục đích ǵ khác hơn, không có địa vị nào cao hơn là đạo quả giác ngộ. Khi đă có đầy đủ ba đức tính từ bi, trí tuệ và hùng lực tức là hành giả đă có đầy đủ tư cách của một đức Phật. Cho nên lời nguyện này đă nói lên cái mục tiêu cuối cùng mà hành giả quyết tâm đạt tới, đó là sự nghiệp giác ngộ toàn vẹn sau khi đă tự độ, độ tha, tự giác, giác tha. Nội dung của lời nguyện đă gắn bó mật thiết với sự thật thứ ba – sự hiện hữu của an lạc và giải thoát (diệt đế) – của giáo lí Bốn Sự Thật.
Thật là rơ ràng, bốn lời nguyện lớn này đă được đặt nền tảng trên giáo lí Tứ Đế;
và cũng v́ giáo lí ấy là một nhận thức toàn bộ, bất khả phân
li về các sự thật to lớn của cuộc sống, cho nên bốn lời nguyện
lớn này cũng phải là một ư thức toàn bộ, bất khả phân li của
hành giả khi dấn thân vào đời. Bốn lời nguyện đă được
tŕnh bày theo một thứ tự hợp lí và liên hệ mật thiết với
nhau: Phải thấy được khổ đau mới có ư chí chấm dứt khổ
đau để kiến tạo an lạc; muốn
vậy phải tu học các phương pháp hành động chính đáng; và khi khổ đau
đă chấm dứt, an lạc và giải thoát đă thành đạt th́ hành giả
thành tựu được sự nghiệp giác ngộ trọn vẹn.
Kinh văn Hán Việt chép bốn lời nguyện lớn này như sau:
Chúng sinh
vô biên, thệ nguyện độ.
Phiền
năo vô tận, thệ nguyện đoạn.
Pháp môn vô
lượng, thệ nguyện học.
Phật
đạo vô thượng, thệ nguyện thành.
V́ có các tiếng vô
biên, vô tận, vô lượng, vô thượng cho nên những
lời nguyện của hành giả đă trở thành là những
lời “nguyện lớn”.
Ở đây chúng ta có thể xét kĩ thêm ư nghĩa của chữ “ĐỘ” ở cuối câu “Chúng
sinh vô biên, thệ nguyện độ” vừa ghi trên. Người tu học luôn luôn nhận thức rằng, tất cả mọi người, mọi loài, mọi vật trong vũ trụ đều có ơn nghĩa với ta, và đều có liên quan ơn nghĩa với nhau. Không gian, thời gian, trăng sao, không khí, đám mây, đống đất, cọng rau, cành hoa, con chim, con cá, con thú, bác nông phu, cô thợ dệt, em bé, cụ già v.v... nghĩa là tất cả những ǵ hiện hữu chung quanh ta cũng đều là nguồn sống
hoặc có liên quan đến sự sống của ta, cho nên đều là ơn nghĩa của ta. Đă biết có ơn th́ đền ơn phải là bổn phận. Và cách đền ơn chính đáng, cụ thể của hành giả là bằng mọi cách đem lại lợi ích, an lạc cho đối tượng đền ơn. Đó chính là tư cách phụng sự xă hội của những người tu học. Vậy th́ ư nghĩa đích thực của chữ “độ” trên đây không có ǵ khác hơn là đền ơn bằng cách phụng sự và giáo hóa.