Với người Phật tử th́ chỉ có Phật, Pháp, Tăng là ba ngôi
báu, ba viên ngọc quí nhất trên đời.
1. PHẬT. Phật là bậc đă đạt được
thành quả giác ngộ trọn vẹn, là người có nếp
sống tỉnh thức thường trực, và là người
đưa đường chỉ lối cho chúng ta trong cuộc
đời.
Đức Thích-ca Mâu-ni, vị khai sáng ra đạo
Phật cách đây 26 thế kỉ, trước hết là một
con người, nhưng đó là một người đă
phát huy đầy đủ khả năng giác ngộ (Phật
tính) để đạt đến địa vị của
một đức Phật. Ngài đă giác ngộ chân lí của
cuộc sống (tự giác); rồi đem
chân lí ấy truyền bá, chỉ dạy, giúp cho mọi
người cùng được giác ngộ (giác tha); và như vậy
tức là sự nghiệp giác ngộ của Ngài đă
được thành tựu trọn vẹn (giác hạnh viên măn).
Khả năng giác ngộ của Phật gồm
có ba đức:
a) Đức TRÍ: là khả năng trí tuệ
đưa đến sự giác ngộ cùng tột đối
với tất cả những hiện tượng riêng biệt
cùng tính cách duyên sinh của vạn hữu.
b) Đức
BI: là t́nh thương rộng lớn thúc đẩy
cho việc hóa độ một cách b́nh đẳng và bao
quát tất cả mọi người, mọi loài, khiến
cho bỏ ác làm lành, chuyển mê thành ngộ, dứt đau
khổ được an vui.
c) Đức
DŨNG: là ư chí mạnh mẽ để diệt trừ
tất cả những động lực tiềm tàng ở
bên trong cũng như những hiện tượng phát hiện
ra bên ngoài của các phiền năo tham, sân, si – tức là những
nọc độc ghê gớm nhất gây ra tham tàn, thù hận,
lừa đảo, mù quáng, giết chóc v.v... DŨNG cũng
là ư chí mạnh mẽ, nhờ đó mà trí tuệ và t́nh
thương được sử dụng triệt để
trong công cuộc độ sinh, khiến cho những cực
khổ, gian nguy, cám dỗ, chướng ngại đều
bị khắc phục.
2. PHÁP. Pháp là đạo tỉnh thức, là con đường của t́nh thương, hiểu biết và cởi mở. Con đường ấy đă do đức Phật mở lối, chỉ dạy. Phật đă chứng ngộ và truyền dạy những giáo lí thích hợp với những điều kiện về sinh hoạt, tâm lí, kinh tế, chính trị và xă
hội của thời đại Ngài. Rồi trong quá tŕnh phát triển của đạo Phật, nhiều hệ thống cấp tiến như Thiền, Duy thức, Tịnh độ, v.v... được xuất hiện. Những hệ thống giáo lí này cũng dung hợp những điều kiện về sinh hoạt, tâm lí, kinh tế, chính trị và xă hội của con người đương thời, và ở bất cứ nơi nào chúng được truyền tới. Bởi vậy, giáo lí của Phật đă được gọi là giáo lí khế cơ. Điều đó chứng tỏ rằng giáo lí của đạo Phật không phải là một thứ giáo lí bảo thủ, giáo điều, cứng ngắc, đóng khung, mà trái lại, nó luôn luôn cởi mở, khai phóng và tiến bộ để mở rộng chân trời tương lai. Tuy cởi mở, khai phóng, tiến bộ, nhưng những hệ thống giáo lí của đạo Phật trải qua bao đời, ở mọi nơi chốn, vẫn không bị lạc gốc, vẫn luôn luôn phù hợp với chân lí, vẫn giữ đúng các đặc
tính căn bản, và tiếp nối
được truyền thống từ bi, trí tuệ,
hùng lực, b́nh đẳng và giải
thoát nguyên thỉ của đạo Phật;
cho nên giáo lí của Phật c̣n được gọi là giáo lí khế lí.
3. TĂNG. Tăng là đại chúng, là đoàn thể của
những người nguyện sống cuộc đời tỉnh thức. Tăng bao gồm tất
cả những đoàn thể đang tu học, hành tŕ hoặc hướng dẫn người
khác tu học theo giáo pháp của Phật. Họ
nguyện cùng nhau làm kẻ đồng hành trên con đường
của hiểu biết, t́nh thương và cởi mở –
tức là con đường giác ngộ. Đó là đoàn thể
của các vị Bồ-tát; đoàn thể của những vị
xuất gia; đoàn thể của những
người cư sĩ tại gia. Lại nữa, trong cái ư nghĩa là đoàn
thể, TĂNG cũng c̣n bao hàm cái ư nghĩa ḥa hợp – tức là mọi
người trong đoàn thể ấy phải cùng nhau công nhận và tôn trọng những
nguyên tắc sống ḥa hợp để ai ai cũng hưởng được cái không khí ḥa thuận, thoải mái, an lạc. Có như thế th́ sự tu học và hoằng
dương đạo pháp mới có kết quả tốt đẹp.
Theo lịch
sử th́ sau khi chứng đắc đạo quả giác ngộ, đức Phật Thích-ca Mâu-ni đă đến vườn
Nai (Lộc uyển) dạy bài pháp đầu tiên (chuyển pháp luân) về đạo lí
Bốn Sự Thật (tứ
đế) để khai ngộ cho năm người bạn
đồng tu của Ngài lúc trước. Năm vị này do Sa-môn Kiều-trần-như lănh
đạo, đă được Phật thâu nhận làm đệ tử xuất gia đầu
tiên và làm thành tăng đoàn đầu tiên của Ngài. Chính lúc đó mà
Ba Ngôi Báu (Tam Bảo) lần
đầu tiên xuất hiện ở thế gian này.
Nhưng theo cái nh́n siêu lịch sử th́ trong khoảng không gian vô biên và thời gian vô tận, không phải chỉ có một đức Phật mà có vô lượng vô số đức Phật; mỗi đức Phật lại có đủ ba thân (pháp thân, báo thân, hóa thân), cho nên số lượng chư Phật trong mười phương không thể nào dùng trí tưởng của con người mà biết được. Đó
là Ngôi Báu Thứ Nhất (Phật Bảo). Giáo pháp của Phật cũng không phải chỉ có Bốn Sự Thật, Mười Hai Nhân Duyên, hay Sáu Phép Qua Bờ (lục độ), mà thật rộng lớn như
biển cả (pháp hải) – thường được diễn tả bằng con số “tám vạn bốn ngàn pháp môn” (nghĩa là rất nhiều pháp môn). Không phải chỉ có đức Thích-ca Mâu-ni nói ra giáo pháp ấy mà vô lượng vô số Phật trong mười phương cũng đều nói giáo pháp như vậy; cho nên sự rộng lớn của Phật pháp cũng không thể dùng trí tưởng của con người mà
biết được. Đó là Ngôi Báu Thứ Hai (Pháp Bảo). Đoàn thể của những người tu học, nguyện cùng nhau làm kẻ đồng hành trên đường giác ngộ cũng có rất nhiều: đoàn thể của các chúng Bồ-tát, Duyên giác, Thanh văn, T́-kheo, T́-kheo-ni, Sa-di, Sa-di-ni, Cư sĩ v.v... Một đức Phật làm giáo chủ của một giáo hội gồm có các chúng như vậy, th́ vô lượng vô số chư Phật trong mười phương cũng vậy; cho nên số lượng các tăng thân cũng không thể nào dùng trí tưởng của con người mà biết được. Đó là Ngôi Báu Thứ Ba (Tăng Bảo). Như vậy th́ sự hiện hữu của Ba Ngôi Báu không phải chỉ hạn
hẹp ở một quốc độ, một thời
ḱ, mà ở khắp ba ngàn đại thiên thế giới, trải khắp quá khứ,
hiện tại, vị lai; không chỗ nào, không thời nào mà không có sự hiện
hữu của Ba Ngôi Báu.
Thực ra th́ sự phân biệt có ba ngôi báu khác nhau như trên chỉ nói lên được sự thật tương đối mà thôi. Người tu học Phật pháp – nhất là tu theo pháp môn thiền quán – cần phải thường xuyên quán chiếu để thấy rằng PHẬT, PHÁP, TĂNG chỉ là một. Tất cả mọi loài đều có khả năng giác ngộ (Phật tính), vậy Phật và chúng sinh (Tăng) là một. Phật pháp không thể tách rời vũ trụ vạn hữu mà có. Giác ngộ là giác ngộ cái chân lí của vũ trụ vạn hữu. Nhưng người giác ngộ và chân lí cũng không thể tách rời nhau,
v́ cả hai không phải là hai sự kiện độc lập với nhau, mà chỉ là một. Cho nên có Phật tức là có Pháp và Tăng; có Pháp tức là có Phật và Tăng; có Tăng th́ cùng lúc cũng có Phật và có Pháp. Kinh Niết-bàn nói: “Tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Phật, Pháp và Tăng không có ǵ khác biệt”. Vậy th́ Ba Ngôi Báu không phải t́m cầu
ở nơi xa xôi nào mà vốn đă có đầy đủ trong tự thân của
mỗi người. Nhưng muốn thấy (thực chứng)
được
điều đó, người tu học phải thường xuyên sống trong tỉnh thức và tinh cần trong
công phu thiền quán. Trong nếp sống quên lăng, buông trôi sẽ không thấy được
ǵ cả.
Dù sao th́ h́nh tướng vẫn rất cần thiết cho người mới nhập vào nếp sống tu học. H́nh tướng là phương tiện dẫn dắt bước đầu để Phật tử chúng ta đi dần vào nếp sống tỉnh thức. Do đó, một niệm Phật đường, một ngôi chùa, hay một tu viện sẽ trở nên
rất hữu ích cho chúng ta; v́ ở những nơi đó luôn luôn có đầy đủ biểu tượng của Ba Ngôi Báu: Phật được biểu hiện qua các ảnh, tượng; Pháp được chứa đựng trong ba tạng kinh điển, các sách báo, câu đối, bích chương v.v...; và Tăng là các chúng xuất
gia và tại gia đang tu học và thực
hiện mọi công tác Phật sự có ích lợi cho chúng sinh.
Đây là giới pháp đại thừa của
hàng Bồ-tát.
1. Nhiếp luật nghi giới (cũng gọi là tự
tánh giới). Đây là thuộc về phương diện
“dứt
ác” (chỉ ác), bao hàm
tất cả các loại giới luật nhằm ngăn chận
và đoạn trừ tất cả tội lỗi, ác nghiệp.
Tùy theo là tại gia hay xuất gia mà thọ tŕ 5 giới, 10
giới, cụ túc giới v.v... Các loại giới luật
này là nhân làm cho pháp thân hiển
lộ. Pháp thân vốn tự thanh tịnh, nhưng lâu nay do
bị ác nghiệp che lấp nên không hiển lộ
được; nay nhờ hành tŕ giới luật, đoạn
ĺa các ác nghiệp, th́ công thành đức hiện.
2. Nhiếp thiện
pháp giới. Đây là thuộc về phương diện “làm
lành” (tu thiện), bao hàm tất cả giới hạnh
của Bồ-tát đạo, tu tập mọi nghiệp thiện
về thân, ngữ, ư và hồi hướng về quả vị
Vô thượng Bồ-đề. Bồ-tát luôn luôn chuyên cần
tinh tấn, cúng dường Tam Bảo, tâm không buông lung, giữ
ǵn và bảo hộ sáu căn, hành tŕ sáu pháp qua bờ; nếu
lỡ vi phạm điều giới nào th́ theo đúng pháp
chí thành sám hối, nuôi lớn căn lành. Các hạnh lành này
cùng với các hành vi “dứt ác” ở trên, là nhân duyên để
làm nên báo thân Phật.
3. Nhiếp chúng sinh giới (cũng gọi là nhiêu
ích hữu t́nh giới). Đây là về phương
diện “làm lợi ích cho chúng sinh” (lợi sinh) của Bồ-tát,
đem ḷng từ bi làm mọi việc đem lại lợi
ích cho tất cả chúng sinh, một cách b́nh đẳng,
không phân biệt.
Ba nhóm tịnh giới
trên đây, hai giới xuất gia và tại gia phát tâm đại
thừa, tu hạnh Bồ-tát, đều có thể thọ
tŕ; chỉ riêng về nhóm thứ nhất, nhiếp luật nghi giới, chúng nào th́ phải thọ
loại giới luật căn bản (như 5 giới cho cư sĩ tại gia, cụ túc
giới cho T́-kheo xuất gia v.v...) của chúng ấy
trước khi cùng thọ tŕ chung ba nhóm tịnh giới (chỉ
ác, tu thiện, lợi sinh).
Đây là ba loại phiền năo gốc rễ luôn luôn đeo dính và thúc đẩy chúng sinh tạo ra vô vàn tội lỗi, gây đau khổ triền miên cho chính ḿnh, cho xă hội, và cho cả mọi loài.
Bởi vậy,
người tu học xem chúng như là những nọc độc nguy hiểm, chuyên tàn phá căn thân huệ mạng
ḿnh, để lúc nào
cũng tỉnh giác, ngăn
chận, không để bị chúng lôi cuốn, sai sử. Ba loại nọc độc
đó là:
1. Tham: tâm tham muốn mọi thứ dục vọng.
2. Sân: tâm sân hận đối với những hoàn cảnh
không thuận ư.
3. Si: tâm ngu muội do bị vô minh che phủ, không thấy
rơ được đâu là chánh, đâu là tà, điều ǵ
là tốt, điều ǵ là xấu, thế nào là xây dựng,
thế nào là phá hoại v.v...
Ba loại phiền năo trên, không những là ba loại
nọc độc, mà chúng c̣n làm nền tảng để
sinh khởi mọi pháp bất thiện, cho nên chúng cũng
được gọi là “ba căn bất thiện” (tam bất thiện căn).
Sở dĩ có sự quay về là v́ từ trước chúng ta đă bị bao nhiêu thứ mê hoặc làm cho sai đường, lạc lối. Chúng ta đă quen nếp sống quên lăng, tâm trí cứ luôn bị níu kéo về những h́nh ảnh quá khứ hoặc buông trôi theo những ảo tưởng tương lai. V́ vậy,“quay
về” có nghĩa là ư thức phải được thắp sáng, từ bỏ nếp
sống buông trôi, quên lăng, để sống trong tỉnh thức, nh́n rơ chân lí của
thực tại vạn hữu. Muốn quay về th́ phải có chỗ để quay về; và
cái chỗ để quay về đó cũng đồng thời là nơi cho chúng ta nương tựa để sống. Có ba
căn cứ vô cùng vững chắc để cho chúng ta quay về và nương tựa: đó là Ba
Ngôi Báu (Tam Bảo) vừa được tŕnh bày ở trên.
1. Quay về nương tựa Phật, người đưa đường chỉ lối
cho chúng ta trong cuộc đời.
2. Quay về nương tựa
Pháp, con
đường của t́nh thương và sự hiểu biết.
3. Quay về nương tựa
Tăng, đoàn
thể của những người nguyện sống cuộc
đời tỉnh thức.
Nhưng, như trong mục “Ba Ngôi Báu” ở trên đă nói, Phật - Pháp -
Tăng vốn có đầy đủ nơi tự thân của
mỗi người, v́ vậy, quay về và nương tựa
ở đây không có ǵ khác hơn là quay về và nương
tựa nơi chính tự tính giác ngộ của
chúng ta.
(Xin xem mục “Một Tâm Ba Phép Quán” ở trước.)
Chữ “tam-muội” nghĩa là “định”. Ba chân
lí không, vô tướng, vô nguyện do tu tập thiền
định mà đạt được, nên gọi là “ba
phép tam-muội”. Đó cũng là ba cánh cửa đưa hành
giả vào cảnh giới giải thoát, an lạc, tự tại,
nên cũng được gọi là ba cửa giải thoát (tam giải thoát môn – xin
xem lại mục “Ba Cửa Giải Thoát” ở trên).
Chữ “tạng”
nghĩa là cái kho chứa; ở đây có ư nói là cái kho chứa
giữ tất cả giáo pháp cần phải biết – tức
thâu gồm tất cả thánh điển của Phật
giáo. Tất cả thánh điển này được chia
làm ba loại, mỗi loại là một
cái kho; có ba cái kho, cho nên gọi là “ba tạng”:
đó là tạng Kinh, tạng Luật và tạng Luận.
1. Tạng KINH (Tu-đa-la tạng):
bao gồm
tất cả yếu nghĩa giáo thuyết của đức
Phật. Kinh, nói đủ
là “Khế
Kinh”. Chữ “khế”
nghĩa là phù hợp, khế hợp. Tất cả những
lời dạy của đức Phật vừa khế hợp
với chân lí của vũ trụ (khế lí), vừa khế hợp với từng
loại căn cơ của chúng sinh (khế cơ), cho nên gọi là “Khế Kinh” – nói tắt là “Kinh”.
2. Tạng LUẬT (T́-nại-da tạng): bao gồm tất cả những qui điều,
phép tắc sinh hoạt áp dụng cho toàn thể giáo đoàn
(xuất gia lẫn tại gia), do đức Phật chế
định. Ư nghĩa của chữ “luật” là điều phục. Tất cả những
luật nghi do đức Phật chế định có thể
đối trị những ác nghiệp của chúng sinh,
điều phục tâm tính của chúng sinh, cho nên gọi là “Luật”.
3. Tạng LUẬN (A-t́-đạt-ma
tạng): bao gồm
tất cả những lời bàn luận, lí giải, làm cho
tỏ rơ ư nghĩa kinh điển, xác minh tánh tướng của
vạn pháp. Từ những giáo thuyết nguyên thỉ của
đức Phật, các vị Bồ-tát và các bậc Thánh
tăng dùng trí tuệ thù thắng của ḿnh để giải
thích, nghị luận, phân tích, hệ thống hóa, làm tỏ
rơ ư tứ cô đọng trong Kinh Luật, làm nổi bật
các yếu nghĩa, giải đáp các nghi hoặc, v.v...
đều gọi là “Luận”.
Nói đến “Ba Tạng” là nói đến
phần nội dung của giáo điển; nhưng muốn
nói đến sự tu tập để tiến đến
giác ngộ giải thoát th́ phải nói đến “Ba
Pháp Học” (Tam Học hay Tam Vô Lậu Học) là Giới, Định và Tuệ.
Nếu xét kĩ, chúng ta sẽ thấy rơ, tự thân ba tạng
Kinh Luật Luận đă nói lên đầy đủ cả
lí (lí thuyết) và sự (thực hành) của ba
pháp học Giới Định Tuệ. Tất cả những
ǵ Phật dạy trong KINH đều nhằm để nhiếp
niệm, an tâm, định ư, cho nên KINH tạng chính là
cái kho bảo vật của ĐỊNH học. Tất
cả những luật nghi do Phật chế định
đều nhằm pḥng hộ thân miệng ư, ngăn ngừa
các hành động tội lỗi, cho nên LUẬT tạng
chính là cái kho bảo vật của GIỚI học. Tất
cả những minh giải, biện luận, phân tích, giải
hoặc, v.v... đối với kinh điển, đều
nhằm phát triển trí tuệ đến chỗ siêu việt
để thành tựu đạo quả giác ngộ, cho nên LUẬN
tạng chính là cái kho bảo vật của TUỆ
học. Như vậy là Kinh
tạng thông với Định học; Luật tạng
thông với Giới học; và Luận tạng thông với
Tuệ học. Nhưng đó chỉ là cái nh́n giới hạn,
thực ra, với cái nh́n thấu đáo, th́ trong tạng
Kinh không những chứa đựng đầy đủ
tinh yếu của Định học, mà c̣n chứa đựng
tất cả những yếu nghĩa của Giới và Tuệ
học. Cho nên có thể nói, Kinh tạng đă bao hàm cả
ba pháp học Giới, Định và Tuệ; trong khi đó,
Luật tạng bao hàm cả Giới và Định học, c̣n Luận tạng th́ chỉ
bao hàm Tuệ học mà thôi.
Các vị cao tăng tinh thông cả ba tạng Kinh
Luật Luận th́ được tôn xưng là “tam
tạng pháp sư”. Tôn hiệu này vốn đă
được Phật giáo Ấn Độ dùng từ lâu,
để chỉ cho những vị cao tăng thông hiểu
cả ba tạng và thuyết giảng cho đồ chúng. Phật
giáo Trung Quốc dùng tôn hiệu ấy để chuyên gọi
các vị cao tăng tinh thông ba tạng và tùng sự phiên dịch
Kinh Luật Luận từ Phạn văn ra Hán văn. Đặc
biệt, chỉ một ḿnh pháp sư Huyền Trang ở
đời Đường đă được người
đời gọi là “Đường Tam Tạng”
(tức là chỉ có tên triều
đại ghép với từ “tam
tạng”, là thành tên ngài Huyền
Trang). Ngoài ra, những vị cao tăng chỉ chuyên về
Kinh tạng th́ gọi là “kinh
sư”; chỉ chuyên về Luật tạng th́ gọi là “luật sư”; chỉ chuyên về
Luận tạng th́ gọi là “luận
sư”.
Ba tạng
Kinh Luật Luận được h́nh thành sơ khởi
trong ḱ kết tập kinh điển lần thứ nhất,
3 tháng sau ngày Phật nhập diệt. Bởi vậy, ở
buổi đầu, nói đến “Ba Tạng” là nói đến thánh điển của
Phật giáo Nguyên thỉ và Phật giáo Bộ phái, cũng tức
là “ba tạng giáo” của tiểu
thừa. Về sau, khi Phật giáo đại thừa
phát triển, th́ Ba Tạng được phân làm hai loại:
Ba Tạng hạ thừa
(Thanh văn thừa) và Ba Tạng
thượng thừa (Bồ-tát thừa) – hợp tất
cả lại thành ra “Sáu Tạng”. Ngày nay, Ba Tạng
hiện lưu hành gồm có hai hệ: 1) Tạng Bắc truyền,
điển h́nh là Hán Tạng, bao gồm tất cả các
Kinh, Luật và Luận của đại thừa lẫn tiểu
thừa, và được gọi là “Đại Tạng
Kinh”; 2) Tạng Nam truyền, điển h́nh là Tạng
Ba-li (Pāli), chỉ gồm có Kinh, Luật và Luận của
tiểu thừa.
Lại nữa,
từ “Ba Tạng” cũng c̣n được dùng để
chỉ cho ba loại giáo pháp Phật nói cho ba thừa: thừa
Thanh văn th́ có tạng Thanh
văn (Thanh Văn Tạng); thừa Duyên giác th́ có tạng Duyên giác (Duyên Giác Tạng);
và thừa Bồ-tát th́ có tạng
Bồ-tát (Bồ-Tát Tạng). Nhưng thông thường,
hễ nói tới “Ba Tạng”
th́ ai cũng hiểu đó là ba tạng Kinh, Luật và Luận,
gồm thâu tất cả giáo điển đạo Phật.
Ngoài ba tạng đó ra, Đại chúng bộ c̣n thêm Tạp tập tạng, làm
thành bốn tạng; Độc
Tử bộ th́ thêm Cấm chú
tạng, cũng làm thành bốn
tạng; Pháp Tạng bộ thêm Cấm chú tạng và Bồ-tát tạng để lập
nên năm tạng; Nhất
Thuyết bộ lại thêm Tạp
tập tạng và Cấm chú
tạng, luận Thành thật
th́ thêm Tạp tập tạng và Bồ-tát tạng, kinh Lục Ba-la-mật thêm Bát-nhă ba-la-mật tạng và Đà-la-ni tạng, cũng
đều lập nên năm tạng.
Tất cả
chư Phật đều có đầy đủ 3 thân:
1. Pháp thân: thân chân thật, thường trú, không biến đổi, không bị giới
hạn bởi không-thời-gian, không thể nắm bắt được bằng tri thức
và khái niệm, không bị sinh lăo bệnh tử chi phối. Pháp thân cũng tức
là chân như, là pháp tính, là bản thể. Theo truyền sử th́ liền sau khi thành
đạo và trước khi rời gốc cây Bồ-đề, đức Thích-ca Mâu-ni,
với chính pháp thân
này, đă cùng với chư vị Đại Bồ-tát đă chứng giải thoát môn, tuyên
thuyết kinh Hoa nghiêm.
Tông Pháp tướng c̣n gọi pháp thân Phật là thân
tự tính.
2. Báo thân: hiện thân chúng sinh của Phật. Thân này giả
hợp, vô thường, bị sinh lăo bệnh tử chi phối
như bao nhiêu thân chúng sinh khác. Đó là cái nhục thân của
đức Thích-ca Mâu-ni từ khi nhập thai và sinh ra là thái
tử Tất-đạt-đa ở thành Ca-t́-la-vệ, có
32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp; lớn lên lập
gia đ́nh, xuất gia tu khổ hạnh; rồi thành đạo,
thuyết pháp độ sinh; và cuối cùng nhập diệt
tại thành Câu-thi-na.
Tông Pháp tướng c̣n gọi báo thân Phật là thân
thọ dụng.
3. Hóa thân: cũng gọi là ứng thân hay ứng hóa thân, là thân
hóa hiện của đức Phật. Do tâm nguyện cứu độ chúng sinh một cách
b́nh đẳng và bao la, chư Phật thường tùy duyên mà ứng hiện làm nhiều
loại thân khác nhau của các loài chúng sinh khác nhau để dễ
dàng hóa độ. Kinh Hoa
nghiêm (phẩm 33) nói: “Khắp cả
hư không, ở mỗi một chỗ bằng đầu
sợi lông đều có vô lượng vô số
cơi Phật; ở mỗi một cơi Phật
như vậy, trong mỗi một niệm, Phật ứng
hiện vô số hóa thân nhiều như bụi
để chuyển pháp luân...”.
Tông Pháp tướng c̣n gọi hóa thân Phật là thân
biến hóa.
1. Kinh pháp không thể hết (kinh
pháp bất khả tận). Kinh pháp do đức Như Lai nói ra là tùy theo
căn cơ không đồng đều của chúng sinh, hoặc
nói sâu rộng, hoặc nói giản lược; tuy dùng một
âm thanh diễn nói mà phổ biến cả mười
phương, cho nên nói là “kinh
pháp không thể hết”.
2. Ư nghĩa của văn tự
không thể hết (văn tự chi nghĩa bất khả tận). Kinh giáo do đức Như Lai nói
ra, nghĩa
lí thâm diệu, rộng khắp mười phương, dài
suốt ba đời; lớn th́ không có cái ǵ là không bao trùm,
nhỏ th́ không vật mảy may nào bị sót lọt; nếu
là kẻ căn cơ thấp kém, trí biết cạn cợt,
th́ không thể nào nh́n thấy chỗ áo diệu ấy
được, cho nên nói là “ư
nghĩa của văn tự không thể hết”.
3. Lời giáo huấn không thể
hết (sở tuyên huấn hối bất khả tận). Những lời dạy bảo của đức
Như Lai nói cho chúng sinh, hoặc pháp môn đại thừa,
hoặc pháp môn tiểu thừa, tùy từng giống loài mà
hiện hành để giáo hóa cùng khắp, làm lợi ích vô
lượng, cho nên nói là “lời
giáo huấn không thể hết”.
Tính chất
của nhận thức gồm có 3 loại:
1. Tính thiện (thiện): những nhận thức chân chính khiến tạo
ra các nghiệp nhân tốt, phù hợp với chân lí, có công
năng dẫn tới giác ngộ và giải thoát.
2. Tính ác (ác): những nhận thức sai lạc khiến tạo
nên các nghiệp nhân xấu, có công năng dẫn tới vô
minh và sinh tử luân hồi.
3. Tính vô kí (vô kí): những nhận thức không thiện mà cũng
không ác, không có công năng dẫn tới giải thoát hay sinh
tử luân hồi.
Không những chỉ có nhận thức, mà tất
cả mọi lời nói, cử chỉ và hành động – nói chung là ba nghiệp – của
con người cũng đều thể hiện tính chất
của một trong ba tính ấy.
Vấn đề “tiêu chuẩn thiện ác” thật
rất quan trọng đối với việc tu học. (Chúng ta có thể đọc thêm sách Đạo Phật
ngày nay [Chương X] của Nhất Hạnh để có
được một hiểu biết rơ ràng, cụ thể
và chính xác về vấn đề này).
Từ “tịnh nghiệp”
ở đây có nghĩa là những hành động làm nguyên
nhân để được sinh về cơi Tịnh độ.
Theo kinh Quán vô lượng thọ,
người tu học Phật muốn được văng
sinh về cơi Cực lạc của đức Phật
A-di-đà, ngoài công phu niệm Phật, phải thường
xuyên tu tập ba nghiệp sau đây:
1. Hiếu kính và phụng dưỡng cha mẹ, phụng
sự các bậc sư trưởng, nuôi lớn tâm từ
bi không giết hại chúng sinh, tu tập 10 nghiệp lành thập
thiện nghiệp.
2. Thọ tŕ “tam qui”, giữ ǵn trọn vẹn giới
luật, oai nghi tề chỉnh đoan trang.
3. Phát tâm Bồ-đề, tin sâu sắc lí nhân quả,
đọc tụng kinh điển đại thừa, khuyến
khích người khác tu hành tinh tấn.
Ba trí tức là ba tŕnh độ của trí tuệ. Có nhiều
danh số về “ba trí”:
A. Theo luận Đại trí độ, ba trí gồm
có:
1. Nhất thiết
trí: Trí tuệ của các hàng Thanh văn và Duyên giác, thấy
rơ tổng tướng của tất cả các pháp là không,
vô thường, vô ngă.
2. Đạo chủng trí: Trí tuệ của hàng Bồ-tát, thấy rơ biệt
tướng của tất cả các pháp, mỗi mỗi
đều có tính chất đặc thù khác nhau.
3. Nhất thiết chủng trí: Trí tuệ trọn vẹn của Phật, thông
đạt cả thông tướng lẫn biệt tướng.
Tông Thiên thai th́ cho rằng, ba trí trên là do ba phép quán không, giả và trung mà có; tức
là: nhất thiết trí là do không
quán mà có, đạo chủng
trí là do giả quán mà có, và nhất
thiết chủng trí là do trung quán mà có. Tông này lại
y theo ư nghĩa của ba phép quán không, giả, trung mà lập
ra hai loại “ba trí” khác nhau:
1) Ba trí biệt tướng:
Các vị Bồ-tát theo thứ tự tu tập ba phép quán
riêng biệt để thành tựu nhất thiết trí, đạo chủng trí và nhất thiết
chủng trí, thấy rơ Phật tánh, thường trú
trong cảnh giới Niết-bàn. 2) Ba trí nhất tâm: Không theo thứ tự như trên,
mà dung thông ba chân lí vào một cảnh, chỉ trong một niệm
mà có đủ ba phép quán, cho nên cũng chỉ trong một
niệm mà chứng đắc cả ba trí, không có thứ tự
trước sau.
B. Ba trí
cũng là thanh tịnh trí, nhất thiết trí và vô ngại
trí.
1. Thanh tịnh trí là trí tuệ tuyệt
đối của chư Phật, do quán chiếu chân lí tuyệt
đối, đoạn trừ tất cả các tập khí
phiền năo, giải thoát mọi thứ chướng ngại,
hoàn toàn không c̣n ô nhiễm.
2. Nhất thiết trí là trí tuệ theo thế tục của chư Phật,
biết rơ tất cả pháp tướng, như: tất cả
thời, tất cả cơi, tất cả sự việc, tất
cả chủng loại.
3. Vô ngại trí cũng là trí tuệ
theo thế tục của chư Phật, tức là, đối
với bốn loại “tất cả pháp tướng” (thời,
cơi, sự việc, chủng loại) ở trên, hễ khởi
niệm là biết rơ ngay, không nhờ phương tiện,
không cần suy nghĩ, không có ǵ làm trở ngại
được.
Cả ba loại trí tuệ trên đều thuộc
về nhất thiết chủng
trí.
C. Ba trí
cũng là thế gian trí, xuất thế gian trí và xuất thế
gian thượng thượng trí.
1. Thế gian trí là trí tuệ của
phàm phu và ngoại đạo, đối với vạn pháp
luôn luôn khởi niệm phân biệt, chấp có chấp
không, cho nên không thể nào giải thoát khỏi thế gian.
2. Xuất thế gian trí là trí tuệ của
hàng Thanh văn và Duyên giác, do tu tập bốn sự thật
và mười hai nhân duyên mà thoát li thế gian, nhưng v́ c̣n
đắm vào tướng chung mọi người và tướng
riêng ḿnh, nên c̣n thấy có sinh tử để chán ghét và có
Niết-bàn để mong cầu.
3. Xuất thế gian
thượng thượng trí là trí tuệ của chư Phật và Bồ-tát lớn,
thấy rơ vạn pháp là tịch tịnh, không sinh không diệt,
vượt hẳn các hàng Thanh văn và Duyên giác.
D. Ba trí cũng là ngoại trí, nội trí và chân trí.
1. Ngoại trí là trí tuệ phân biệt
rơ ràng sáu căn sáu trần, thông suốt cổ kim, rành rẽ
việc đời.
2. Nội trí là trí tuệ diệt
trừ phiền năo vô minh, làm cho tâm ư được vắng
lặng.
3. Chân trí là trí tuệ thấy
rơ thể tính vốn vắng lặng của vạn vật,
không c̣n phân biệt có dơ có sạch.
Đ. Ba trí cũng là hạ trí, trung trí và thượng
trí.
1. Hạ trí là trí tuệ có thể
chứng đắc giác ngộ của hàng Thanh văn.
2. Trung trí là trí tuệ có thể
chứng đắc giác ngộ của hàng Duyên giác.
3. Thượng trí là trí tuệ có thể
chứng đắc giác ngộ của hàng Bồ-tát và
chư Phật.
Trong công
cuộc hoằng pháp độ sinh, có ba trường hợp
mà ngay cả đức Phật cũng không thể thực
hiện được tâm nguyện của ḿnh:
1. Không thể cải
biến định nghiệp (bất năng miễn định
nghiệp). Phật
là bậc đầy đủ trí tuệ, hoàn toàn không c̣n
tâm chấp trước đối với tất cả mọi
hiện tượng; tuy vậy, đối với kết
quả chiêu cảm bởi các định nghiệp thiện
ác, Ngài cũng không có cách ǵ có thể chuyển đổi
làm cho khác đi được.
2.
Không thể độ kẻ vô duyên (bất năng độ
vô duyên). Đức Phật biết rơ căn tánh của tất
cả chúng sinh, biết rơ mọi sự vật vô cùng tận,
hóa độ khắp chúng sinh; tuy vậy, đối với
các chúng sinh không có cơ duyên, Ngài cũng không có cách ǵ hóa
độ được.
3. Không thể làm cho hết thế
giới chúng sinh (bất năng tận sinh giới). Tuy
đức Phật có thể cứu độ tất cả
chúng sinh ở thế gian, nhưng thế giới của
chúng sinh th́ vô tận, Ngài không thể làm cho hết chúng sinh
được.
1. Trí tuệ do nghe mà
có (văn tuệ). Người tu học Phật, do được
nghe giáo pháp từ ba tạng thánh điển, hoặc từ
các bậc thiện hữu tri thức, mà phát sinh trí tuệ
vô lậu. Đặc biệt, đây là trường hợp
thành tựu của các hành giả Thanh văn thừa.
2. Trí tuệ do suy tư về những
điều nghe thấy mà có (tư tuệ). Người tu học Phật, do suy tư về
những đạo lí đă được nghe, hoặc
được thấy, mà phát sinh trí tuệ vô lậu.
Đặc biệt, đây là trường hợp thành tựu
của các hành giả Duyên giác thừa.
3. Trí tuệ do tu tập mà có (tu tuệ). Người tu học Phật, do tinh cần tu tập
mà phát sinh trí tuệ vô lậu. Đặc biệt, đây là
trường hợp thành tựu của các hành giả Bồ-tát
thừa.
Thật ra, ba loại trí tuệ trên đây là một toàn bộ của quá tŕnh
đoạn diệt phiền năo chứng đắc Niết-bàn.
Văn tuệ là nhân.
Chúng sinh nếu chuyên cần thọ tŕ đọc tụng,
nghiên cứu và quảng bá kinh điển, th́ chắc chắn
trí tuệ sẽ phát sinh; y nơi văn tuệ này mà phát
sinh tư
tuệ; y nơi tư tuệ này mà phát sinh tu tuệ.
Quá tŕnh này cũng giống như một cái cây, do từ hạt
giống mà nẩy sinh ra mầm; do mầm mà sinh ra thân cây; từ
thân cây mà sinh ra cành lá hoa trái. Xét về
tác dụng, th́ văn tuệ và tư tuệ
chỉ đóng vai tṛ làm trợ
duyên để cho tu tuệ phát sinh; chính tu tuệ mới có
đầy đủ khả năng đoạn diệt phiền
năo và chứng đắc Niết-bàn.
“Tự tính” của thực tại (vạn pháp) tức là bản chất, chân tướng của thực tại. Tự tính
đó là đối tượng của nhận thức. V́ không sáng suốt, không tỉnh thức, chúng ta luôn luôn có những nhận thức sai lạc về thực tại.
Cho nên người tu học Phật cần phải
quán chiếu thường xuyên nhằm “điều chỉnh” nhận thức để có được
một cái thấy đúng đắn, cái thấy giác ngộ về chân tướng của thực
tại. Khi nghiên cứu về chân tướng của thực tại, các nhà Duy thức
học đă phân tích có ba
tự tính như sau:
1. Tự tính biến kế sở chấp.
Tự tính này vạn pháp vốn không tự có, nhưng chính v́ sự sai lầm của nhận thức mà thực tại phải mang lấy cái tự tính đó. Tại v́ chúng ta quan niệm vạn pháp có sinh, có diệt, có thành, có bại, có thêm, có bớt, có dơ, có sạch, cái này khác cái kia, cái kia không phải cái này, cái kia tốt, cái nọ xấu v.v..., cho nên vạn pháp mới phải mang lấy những tính chất như vậy. Khi ta đang buồn th́ ta nh́n cảnh vật cũng thấy buồn; cảnh vật buồn không phải là v́ nó vốn có bản chất buồn, mà chính là v́ nó phải mang lấy cái tâm trạng buồn của ta lúc ấy. Bởi vậy, khi c̣n bị vô minh che phủ, bản chất của nhận thức về thực tại của ta vốn là biến kế chấp (tức là vọng tưởng phân biệt), đă
tạo ra cho thực tại những tính chất mà chúng không tự có. Cái tự
tính của vạn pháp vốn do nhận thức ngu muội của chúng ta tạo ra cho chúng đó,
các nhà Duy thức học gọi là tự tính biến kế sở chấp.
2. Tự tính y tha khởi. “Y tha khởi” tức là nương vào cái khác mà có. Đây mới là
tự tính của thực tại. Tự tính này phát hiện được là do công tŕnh tu học và quán chiếu lâu dài về các tính chất vô thường, vô ngă và nhân duyên của vạn pháp nhằm “điều chỉnh” những nhận thức sai lạc (biến kế chấp) của chúng ta. Theo tự tính này th́ mọi
sự vật đều nhờ nhau và nương
nhau mà sinh thành, tồn tại và hủy diệt. Không có hiện tượng nào hiện
hữu độc lập với những hiện tượng khác. Kinh A-hàm
nói: “Cái này có th́ cái kia có; cái này không th́ cái kia không; cái này sinh th́ cái
kia sinh; cái này diệt th́ cái kia diệt.” Nếu chúng ta quán chiếu và thấy được
tự tính y tha khởi
này của sự vật, th́ chúng ta đă có khả năng chuyển hóa vô minh thành tuệ giác.
3. Tự tính viên thành thật. “Viên thành thật” là tính chất viên măn, thành tựu và chân thật của vạn hữu. Đó chính là bản thân, thể tính, hay chân tướng của thực tại; cũng được gọi là pháp tính hay chân như. Tự tính viên thành thật ngược lại với tự tính biến kế sở chấp – v́ nó không do tâm ư tạo tác ra, cho nên nó đích thực là tự tính của vạn pháp, trong đó không có sinh diệt, không có thành bại, không có thêm
bớt, không có dơ sạch v.v... Bản thân (hay thể tính) của vạn hữu không thể nhận thức bằng khái niệm, không thể diễn tả bằng ngôn từ. Vạn pháp hiện hữu như thế đó, trong
cách thức của chúng, không qua trung gian nhận thức phân biệt. Chỉ khi nào
quán chiếu và thấy được tự tính y tha khởi của thực tại th́ người tu học mới diệt
trừ được mọi sai lạc của
nhận thức (biến kế chấp) về thực tại, và lúc đó tự tính viên thành
thật của thực tại mới
hoàn toàn hiển lộ.
“Ba vầng” là ba thành phần làm nên một toàn bộ của một
hạnh tu. Từ này được đặc biệt dùng
cho sáu pháp qua bờ (lục độ). Ba vầng
của pháp bố thí là
người cho, người thọ nhận, và vật
đem cho; của pháp tŕ giới
là người giữ giới, giới được giữ,
và sự phạm hay không phạm giới; của pháp nhẫn nhục là người
chịu nhẫn, đối tượng phải chịu nhẫn,
và sự động hay không động tâm; của pháp tinh tấn là người tinh
tấn, đối tượng cần tinh tấn để
đạt đến, và tính siêng năng hay lười biếng;
của pháp thiền định
là người thiền định, cảnh giới của
thiền định, và sự có hoặc không có thiền vị;
của pháp trí tuệ là
người có trí tuệ, bản tánh của vạn pháp, và
tướng trạng của vạn pháp.
Khi tu tập sáu pháp qua bờ,
dù ở bất cứ pháp nào, hành giả chỉ biết một
mực tu tập mà không để tâm chấp trước
vào ba vầng, không mong cầu
phước báo hữu lậu, gọi là ba vầng thanh tịnh.
Ví dụ, khi tu hạnh bố
thí, hành giả nên bố thí một cách vô tâm, không để
ư rằng ḿnh chính là người
bố thí, người kia là người
thọ nhận vật bố thí của ḿnh, và của cải (nhiều ít, tốt
xấu v.v...) này chính là do ḿnh đem cho người. Nếu
để ư tới ḿnh là người đem cho th́ sinh ḷng tự
đắc; để ư tới người thọ nhận
th́ sinh ḷng thương hại hoặc khinh mạn; để
ư đến của cải đem cho th́ sinh tâm phân biệt,
so đo, đôi khi c̣n hối tiếc, và như thế tức
là tâm đă bị nhiễm ô; ngay cả khi bố thí một
cách vô tâm mà lại mong cầu mai sau sẽ được
phước, được đền ơn, được
gặp quả báo tốt, v.v... th́ tâm vẫn bị nhiễm
ô, gọi là “ba vầng không thanh tịnh” (tam luân bất tịnh),
chẳng được phước báo ǵ, hoặc chỉ
được chút ít phước báo hữu lậu ở
thế gian mà thôi. Hành giả thực hiện hạnh bố
thí với tâm hoàn toàn vô tư như trên, thể hội tánh
tướng của ba vầng đều không, không vướng
mắc cũng không mong cầu, gọi là “ba vầng thanh tịnh”;
đó chính là bố thí Ba-la-mật
(hay bố thí độ).
Tuy tự tính y tha khởi có thể giúp phá vỡ được tính cách “biến kế sở chấp” của sự
vật, nhưng dù sao th́ nó vẫn chỉ
được xem là một phương tiện, v́ vẫn c̣n
là một khái niệm về sự vật, và cuối cùng cũng phải bị quét
sạch th́ chân tướng của thực tại mới hoàn toàn được hiển
lộ. V́ lí do đó, sau khi thuyết minh “ba tự
tính” của
đối tượng nhận thức, Duy thức học lại thành lập thuyết “ba vô
tính” nhằm triệt tiêu hết mọi khái niệm:
1. Tướng vô tính. Tuy biến
kế sở chấp là tự tính của thực tại
nhưng đó cũng chỉ là một khái niệm về sự
vật mà thôi, không phải đích thực là chân tướng
của thực tại. Thực
tại là thực tại, không phải là biến kế sở
chấp, cũng không phải là không biến kế
sở chấp.
2. Sinh vô tính (hay vô tự nhiên tính). Y tha khởi là tự tính của
thực tại, nhưng đó cũng chỉ là một khái
niệm về sự vật. Sự vật là nhân duyên sinh
(y tha khởi), và nhân duyên sinh
không có thực tính. Bởi vậy, thực tại là thực tại, không phải là y tha
khởi, cũng không phải là không y tha khởi.
3. Thắng nghĩa vô tính (hay pháp vô tính). “Thắng nghĩa” có nghĩa
là tuyệt đối, là tên gọi khác của tự tính viên thành thật. Viên thành thật
cũng tức là chân như, là thực tính của vạn
pháp. Dù vậy, cuối cùng th́ khái niệm này cũng phải
được ĺa bỏ; v́ với tuệ giác vô niệm, thực tại là thực tại,
không phải là viên thành thật, cũng không phải là không
viên thành thật.
Như vậy, “vô tính” mới chính thực là “tự
tính”, và thực tại trong trường hợp này chỉ
hiển lộ dưới tuệ giác vô niệm, v́ với bất cứ một khái niệm
nào – dù đó là khái niệm “viên thành thật” – thực tại
cũng chỉ là một mảnh cắt xén (biến kế)
của vọng tưởng phân biệt, của tà kiến.