Cảm thọ tức là cảm giác, là trạng
thái hay kinh nghiệm tâm lí phát sinh khi nội thân tiếp xúc với
ngoại cảnh. Duy thức học phân biệt có ba loại
cảm thọ:
1. Cảm thọ khó chịu (khổ
thọ): những
cảm giác khó chịu, buồn phiền, đau khổ sinh
ra khi ta tiếp xúc với những hoàn cảnh ngang trái, những
bạo hành đày đọa.
2. Cảm thọ dễ chịu (lạc
thọ): những
cảm giác dễ chịu, vui thích, sung sướng sinh ra
khi ta tiếp xúc với những hoàn cảnh thuận lợi,
hợp ư, thích thú.
3. Cảm thọ trung tính (xả thọ – bất khổ bất
lạc thọ): những cảm giác trung ḥa, không dễ chịu cũng
không khó chịu, không đau khổ cũng không vui sướng,
hoặc không có cảm giác nào cả.
“Cảnh” ở đây là chỉ cho đối
tượng của nhận thức; v́ vậy nó có liên hệ mật thiết với “lượng” là h́nh thái của
nhận thức. (Xin xem mục “Ba H́nh
Thái Nhận Thức” ở sau.) Những tên khác của “cảnh” là trần, tướng,
tướng phần, sở
duyên – tất cả đều có nghĩa là đối
tượng của nhận thức.
Cảnh có 3 loại:1. TÁNH CẢNH: là tự thân hay thật tướng của sự
vật(1). Ở đây, sự vật hiện hữu trong
đúng bản tính chân thật của chúng, không bị bóp
méo, xuyên tạc hay cắt vụn bởi sự phân biệt,
so sánh, suy luận hay phán đoán của nhận thức. Có
2 loại tánh cảnh:
a) Vô chất tánh cảnh: là bản thể chân thực
của thực tại, cũng tức là chân như hay pháp thân.
Cảnh giới này không thể đạt tới bằng
các thức, mà chỉ có thể
bằng tuệ giác – tức
trí tuệ giác ngộ, là loại nhận thức trực tiếp,
không phân biệt. (Loại trí tuệ này khi đă phát sinh th́
không c̣n rơi vào chỗ nhận thức sai lạc nữa,
cho nên nó c̣n được gọi là “trí vô lậu” hay “trí Bát-nhă”.)
b) Hữu chất tánh cảnh: là tướng trạng
của vạn pháp phát hiện từ vô chất tánh cảnh. Sự phát hiện của
chúng tùy thuận theo luật tương quan duyên khởi.
Trong khi vô chất tánh cảnh
ở trên chỉ làm đối tượng cho tuệ giác
th́ hữu chất tánh cảnh ở đây lại là đối
tượng của “chân hiện lượng”. (Xin xem mục “Ba H́nh Thái Nhận Thức” ở
sau.)
2. ĐỚI
CHẤT CẢNH: chính là những ư tượng được
cấu tạo từ hữu chất
tánh cảnh để làm đối tượng cho bảy
thức (nhăn, nhĩ, tĩ, thiệt,
thân, ư và mạt-na thức), nhưng quan trọng hơn hết
là ư thức. Nói cách khác, thức
đă căn cứ trên thế giới hữu chất tánh cảnh (tức là tướng
trạng của vạn pháp) để tạo nên thế giới
đới
chất cảnh (tức là các ư tượng) và nhận thức thế giới
này như là thế giới
tánh cảnh.
3. ĐỘC
ẢNH CẢNH: là thế giới ảnh tượng do ư thức
tái tạo hoặc sáng tạo khi nó hoạt động
độc lập, không có sự cộng tác của 5 thức
cảm giác (nhăn, nhĩ, tĩ, thiệt và thân thức) - nghĩa
là khi không có cảm giác. V́ vậy, độc ảnh cảnh
chỉ làm đối tượng cho ư thức mà thôi. Đó
là thế giới của hồi tưởng, tưởng
tượng và mộng mị.
Có 2 loại độc ảnh cảnh:
a) Hữu chất độc ảnh cảnh: là những
ảnh tượng của tri giác và ư tượng (đới
chất cảnh) đă từng
là đối tượng của ư thức, được
ư thức tái tạo để rồi lại lấy đó
làm đối tượng cho chính nó. Những ảnh tượng
này biểu hiện một cách trung thành hay đôi khi có thay
đổi chút ít đối với những tri giác và ư
tượng cũ. Chẳng hạn, khi ta hồi tưởng
lại cái giờ phút hăi hùng trên biển cả khi chiếc
ghe máy của ta bị giặc cướp hoành hành trong chuyến
vượt biên mười mấy năm về trước,
th́ những h́nh ảnh đang lần lượt diễn lại
trong trí nhớ của ta lúc này chính là thế giới của
hữu chất độc ảnh
cảnh.
b) Vô chất độc ảnh cảnh: là những
ảnh tượng hoàn toàn do ư
thức tạo dựng ra. Chẳng hạn, khi ta mơ
tưởng về một cuộc sống huy hoàng cho chính
ta trong tương lai, hoặc tưởng tượng về
đời sống của một giống người ở
tận một tinh cầu xa xôi nào đó, tất cả những
h́nh ảnh tưởng tượng “viển vông” ấy
đều là vô chất độc
ảnh cảnh.
(1) Các danh từ thực tại, sự vật, vạn
pháp, vạn hữu, vạn vật, vạn sự vạn vật,
đều cùng mang một ư nghĩa như nhau.
Ba cơi cũng tức là ṿng sinh tử luân hồi. Các kinh
luận thường dạy rằng, tất cả mọi
loài chúng sinh đều có sẵn khả năng giác ngộ
(Phật tính), nhưng v́ bị các kiến chấp sai lạc
làm cho mờ tối nhận thức, khiến không tự phát
hiện và thắp sáng được khả năng ấy,
cho nên cứ phải quanh quẩn măi trong ba cơi. C̣n ở
trong ba cơi là c̣n bị phiền năo chi phối. Chỉ khi nào
đạt được quả vị giác ngộ th́ mới
được giải thoát ra khỏi ba cơi – tức là thoát khỏi ṿng sinh tử luân hồi.
Ba cơi đó là:
1. Cơi Dục (Dục giới). “Dục” là ham muốn.
Cơi Dục là cơi của thực phẩm, ước muốn
vật chất và dục vọng thể xác. Chúng sinh trong
cơi này v́ đam mê theo các “thú vui” về sắc tướng,
âm thanh, mùi hương, ăn uống, chạm xúc và dâm dục
cho nên luôn luôn gây ra nhiều tội lỗi, tai họa và khổ
đau. Các loài chúng sinh trong cơi Dục này gồm có: Người,
A-tu-la, Địa ngục, Ngạ quỉ và Súc sinh. Trong 5
loài này th́ loài Người có tâm ư phát triển cao hơn hết,
là cảnh giới có khổ đau và hạnh phúc lẫn lộn.
Bởi vậy, các vị Bồ-tát thường chọn
sinh vào thế giới loài Người, nơi có nhiều
hoàn cảnh thuận lợi, để phụng sự chúng
sinh và tu tập các pháp môn cần thiết sau cùng để
thành tựu quả Phật. Cũng bao gồm trong phạm
vi cơi Dục này c̣n có 6 cơi Trời, tuy hưởng
được nhiều phước báo hơn loài Người,
nhưng vẫn là những phước báo tạm bợ, và
trí tuệ th́ không hơn loài Người. Chúng sinh trong 6 cơi
này vẫn có h́nh sắc, nhưng phần vật chất của
họ vô cùng vi tế, mắt người thường
không thể trông thấy được. Họ đều
là hóa sinh, cũng mang h́nh thể nam, nữ, với đầy
đủ các thứ dục vọng như con người.
Sáu cơi trời của cơi Dục (Lục
Dục thiên) này, từ thấp lên cao gồm có: Tứ vương, Đao-lợi
(cũng gọi là cơi trời Ba mươi ba – tam thập
tam thiên), Dạ-ma, Đâu-suất,
Hóa lạc và Tha hóa tự tại.
2. Cơi Sắc (Sắc giới). “Sắc” là h́nh
tướng, vật chất. Đây là cơi của các vị
Phạm Thiên, có h́nh tướng, vật chất như thân
thể, cung điện v.v..., nhưng rất vi tế,
đẹp đẽ, tinh diệu. Các vị trời ở
đây không có tướng nam nữ, không có tham dục như
ở cơi Dục, chỉ sống trong thiền định.
Tùy theo mức độ cao thấp của thiền định,
cơi Sắc được chia làm 4 bậc, gồm 18 cơi Trời:
a) Cơi Sơ thiền (Sơ thiền thiên), gồm 3
cơi Trời: Phạm chúng (các
vị trời tùy tùng của các vị Phạm Thiên), Phạm phụ (các vị trời
thân cận các vị Phạm Thiên), Đại phạm (các vị Phạm Thiên có nhiều
hạnh phúc, đẹp đẽ, tuổi thọ cao nhất
trong cơi Sơ thiền). Các vị
Phạm Thiên ở các cơi này có thân thể khác nhau, nhưng
cách suy nghĩ th́ đều giống nhau, và trong tám thức
th́ không c̣n có tị thức và thiệt thức hoạt
động.
b) Cơi Nhị thiền (Nhị thiền thiên), gồm
3 cơi Trời: Thiểu quang
(các vị Phạm Thiên có chút ít ánh sáng), Vô lượng quang (các vị Phạm Thiên có ánh
sáng vô cùng), Quang âm (các vị
Phạm Thiên có ánh sáng rực rỡ). Cơi Nhị thiền này
có rất nhiều ánh sáng. Các vị Phạm Thiên ở
đây đều có thân thể giống nhau nhưng cách suy
nghĩ th́ khác nhau, và trong tám thức th́ từ cơi Nhị thiền
này trở lên, cả năm thức cảm giác đều
không c̣n hoạt động.
c) Cơi Tam thiền (Tam thiền thiên), gồm 3 cơi Trời:
Thiểu tịnh (có hào quang
nhỏ), Vô lượng tịnh
(có hào quang vô hạn), Biến
tịnh (có hào quang không xao động). Cơi Tam thiền
này mọi sự đều thanh tịnh, cả thân và tâm của
các vị Phạm Thiên đều hoàn toàn giống nhau.
d) Cơi Tứ thiền (Tứ thiền thiên), gồm 9
cơi Trời: Vô vân (cảnh giới
quang đăng), Phước sinh
(cảnh giới trường cửu), Quảng quả (hưởng phước báo rộng
lớn), Vô phiền (hoàn toàn
tinh khiết), Vô nhiệt (hoàn
toàn thanh tịnh), Thiện kiến
(cảnh giới đẹp đẽ), Thiện hiện (hoàn toàn tự tại), Sắc cứu cánh (cảnh giới
tối thượng), Vô tưởng
(không c̣n tư tưởng). Đây là cơi cao nhất của
Sắc giới, chúng sinh sống trong cảnh giới thiền định sâu xa,
hoàn toàn tịch tịnh, chẳng những năm thức
cảm giác mà cả ư thức cũng không c̣n hoạt động
nữa.
3. Cơi Vô sắc (Vô sắc giới). Cơi này hoàn toàn
không c̣n có vật chất, h́nh thể, cho nên cũng không có
tướng nam nữ, không có dục vọng, mà chỉ thuần
có nghiệp thức trú trong các cảnh giới thiền
định thâm diệu. Đây là cơi cao nhất trong ba cơi, gồm
có 4 cơi Trời:
a) Cơi Không gian vô biên (Không vô biên xứ thiên): Cảnh
giới của các vị trời chỉ thấy có không gian
vô biên, đă đạt được và đang an trú trong
trạng thái thiền định gọi là không vô biên xứ
định.
b) Cơi Tâm thức vô biên (Thức vô biên xứ thiên): Cơi
chỉ thấy có tâm thức vô biên, là cảnh giới của chư thiên đă đạt
được và đang an trú trong trạng thái thiền
định gọi là thức vô
biên xứ định.
c) Cơi Vô sở hữu (Vô sở hữu xứ thiên):
Cơi này không c̣n có bất cứ một hiện tượng
ǵ, là cảnh giới của chư thiên đă đạt
được và đang an trú trong trạng thái thiền
định gọi là vô sở
hữu xứ định.
d) Cơi Phi tưởng phi phi tưởng
(Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên): Cơi này
không có tri giác mà cũng không phải là không có tri giác, là cảnh
giới của chư thiên đă đạt được
và đang an trú trong trạng thái thiền định gọi
là phi tưởng phi phi
tưởng xứ định.Trong
sách Đức Phật và Phật pháp (Phạm Kim Khánh dịch),
hoà thượng Narada Maha Thera có nói: “Nên ghi nhận rằng đức Phật không nhằm
mục đích truyền bá một lí thuyết về vũ
trụ. Dầu những cảnh giới trên có hay không,
điều ấy không ảnh hưởng ǵ đến
giáo lí của Ngài. Không ai bị bắt buộc phải tin một
điều nào, nếu điều ấy không thích hợp với
sự suy luận của ḿnh. Nhưng nếu bác bỏ tất
cả những ǵ mà lí trí hữu hạn của ta không thể
quan niệm được, th́ điều ấy cũng
không phải hoàn toàn là chính đáng.”
Con dấu dùng để chứng nhận một
sự việc là thật, chắc chắn, đáng tin tưởng.
Vậy từ ngữ “con dấu” (ấn) ở đây có nghĩa là chân lí, là điều
chân thật được chứng ngộ và nói ra bởi
bậc Giác Ngộ (Phật) mà người học tṛ của
Phật phải tin tưởng, phải thường quán
niệm để có được một nhận thức
sáng tỏ về thực tại. Tất cả giáo lí nào
phát biểu đúng với nội dung ba con dấu này đều
là Phật pháp. Tất cả mọi nhận thức không phù
hợp với ba con dấu này đều là sai lạc, tà ngụy.
A) Trong
các kinh luận, ba con dấu thường được
nói tới là:
1. Tất cả mọi sự vật đều
biến đổi không ngừng (chư hành vô thường).
2. Tất cả mọi sự vật đều
không có bản ngă chân thật (chư
pháp vô ngă).
3. Bản thể của vạn hữu là vô phân biệt,
ĺa khỏi mọi h́nh tướng, mọi tri kiến, mọi
khái niệm (Niết-bàn tịch
tịnh).
Con dấu 1 và con dấu 2 (vô thường và vô ngă) nói lên tướng trạng
của vạn hữu, và con dấu 3 (Niết-bàn) nói lên bản thể của vạn
hữu.
B) Mặt
khác, theo kinh Pháp ấn th́ ba
con dấu này như sau:
1. Không. Bản thể của mọi sự vật là không.
“Không” ở đây có nghĩa
là mọi sự vật đều hiện hữu theo nguyên
lí duyên sinh, không có tự ngă.
2. Vô tướng. V́ là không cho nên bản
thể của vạn hữu là vô
niệm – tức là không thể dùng nhận thức phân
biệt và khái niệm để nhận biết, mà phải
dùng trí b́nh đẳng, vô phân biệt mới thấy rơ
được.
3. Vô tác (cũng gọi là vô nguyện, hay vô khởi). Trong nhận thức b́nh đẳng, vô phân biệt
(tức trí tuệ giác ngộ) đó, sẽ không c̣n có sự
phân biệt về chủ thể nhận thức và đối
tượng nhận thức, về chủ thể chứng
đắc và đối tượng chứng đắc;
không có tạo tác; không có sinh khởi; không có sự mong cầu
cũng không có cái ǵ để mong cầu.
“Không - vô tướng - vô tác” là ba giai đoạn
liên tục, toàn vẹn của công phu thiền quán. Đó là
giáo lí căn bản của Phật giáo, Kinh Pháp ấn nói: “Pháp ấn này chính là ba cánh cửa
đi vào cảnh giới giải thoát, là giáo lí căn bản
của chư Phật, là con mắt của chư Phật,
là chỗ đi, về của chư Phật.”
Kinh Pháp hoa nói: “Thật
ra chỉ có một con đường (nhất thừa),
nhưng chư Phật tùy căn cơ mà dùng phương tiện,
nói có ba con đường (tam
thừa)...”
1. Con đường nhỏ (hay cỗ xe nhỏ – tiểu
thừa) tức là con đường Thanh văn (Thanh
văn thừa).
2. Con đường vừa (hay cỗ xe vừa – trung
thừa) tức là con đường Duyên giác (Duyên giác
thừa).
3. Con đường lớn (hay cỗ xe lớn – đại
thừa) tức là con đường Bồ-tát (Bồ-tát
thừa).
GHI CHÚ: Xin xem lại mục “Hai Con Đường” ở
trước.
Do ba cửa (môn) này mà hành giả đạt
tới được cảnh giới giải thoát, tự
tại, an lạc. Ba cửa đó là không, vô tướng
và vô
tác. (Xin xem lại mục
“Ba Con Dấu” vừa tŕnh bày ở trên.)
1. Chỉ cho 3 đức tướng của cảnh giới đại Niết-bàn
là: pháp
thân đức (thể tánh chân như xưa nay vốn
có của thực tại vạn hữu), Bát-nhă đức
(trí tuệ giác ngộ) và giải thoát đức
(thoát khỏi mọi sự ràng buộc của phiền
năo).
2. Chỉ cho 3 đức tướng của quả vị Phật là: trí
đức (trí tuệ giác ngộ quán sát thấy rơ thật
tướng của vũ trụ vạn hữu), đoạn
đức (diệt trừ tận gốc mọi phiền
năo hoặc nghiệp) và ân đức (công ơn cứu
độ chúng sinh).
Chữ “đồ”
nguyên có nghĩa là dơ nhớp, lầm than. Bởi vậy,
“ba đường” (tam đồ) cũng tức
là “ba đường dữ” (tam ác đạo, tam ác thú),
là thuật ngữ Phật học, đặc biệt dùng
để chỉ cho ba cảnh giới Địa ngục,
Ngạ quỉ và Súc sinh.
1. Đường Địa ngục
(Địa ngục đạo) gọi là đường Lửa (hỏa
đồ), tương đương với tâm sân
hận (một trong ba thứ phiền năo căn bản
được gọi là “tam
độc”). Những chúng sinh không có tâm từ bi, thường
ôm ḷng sân hận, sẽ sinh vào các cảnh giới Địa
ngục, phải chịu các h́nh cụ nóng bức như chảo
dầu sôi, nước đồng sôi, roi sắt nướng
đỏ, giường lửa, chó lửa v.v...
2. Đường Ngạ quỉ
(Ngạ quỉ đạo) gọi là đường Dao (đao đồ),
tương đương với tâm xan tham (một
trong “ba độc”). Những
chúng sinh không có tâm bố thí giúp đỡ, thường ôm
ḷng tham lam keo kiệt, sẽ sinh vào cảnh giới Ngạ
quỉ, thường bị dao gậy đuổi đánh.
3. Đường Súc sinh (Súc sinh
đạo) gọi
là đường
Máu (huyết đồ), tương đương với
tâm ngu si (một trong “ba độc”). Những chúng sinh tâm niệm ngu si,
không có trí sáng suốt, không rơ đạo lí, sẽ sinh vào cảnh
giới Súc sinh, các loài tàn hại, uống máu ăn thịt
lẫn nhau.
Ba hiền là một trong năm địa vị (ngũ vị)
trên quá tŕnh tu chứng của các hành giả tiểu thừa
cũng như đại thừa. Trong Phật học, hạng
người chưa từng biết tu tập, vô minh c̣n dầy,
tạo nhiều nghiệp ác, gọi là “phàm phu”; hạng
người bắt đầu biết tu tập, có chút ít
trí tuệ, trừ dần nghiệp ác, dứt dần phiền
năo, tạo nhiều nghiệp thiện, điều phục
tâm ư, tinh tấn tiến tới trước, gọi là “hiền”;
khi bước vào quả Dự lưu (đối với
hàng tiểu thừa), hay bậc Sơ địa (đối
với hàng Bồ-tát đại thừa) trở lên, th́ gọi
là “thánh”.
Vậy, Ba hiền là địa
vị trung gian giữa phàm phu và thánh nhân. Lại nữa,
hành giả ở địa vị Ba hiền, tuy cao hơn
phàm phu, nhưng vẫn c̣n ở trong ṿng ba cơi, vẫn c̣n chấp
tướng, c̣n “hướng ngoại” để t́m cầu
chân lí; v́ vậy, Ba hiền cũng được
gọi là “Ngoại phàm” (phàm phu hướng ngoại).
Trong quá tŕnh tu tập, ở tiểu thừa cũng như ở
đại thừa, địa vị Ba hiền được
xác lập rơ ràng; hành giả có thể
theo đó mà tự soi xét, để thấy ḿnh tu tập
có tiến bộ hay không.
Ba hiền
tức
địa vị của 3 bậc Hiền, là địa vị
đầu tiên của người tu hành trong Phật pháp;
có hai loại, của tiểu thừa và của đại
thừa:
A. Địa vị Ba hiền của tiểu thừa:
Tên của mỗi bậc Hiền ở địa
vị này cũng tức là tên pháp môn tu tập của hành giả
ở bậc ấy.
1. Bậc Năm phép quán ngưng loạn
tưởng (Ngũ đ́nh tâm quán): Dùng “năm phép quán ngưng loạn tưởng” (xin xem mục “Năm Phép Quán” ở sau) để chế phục các tâm tham, sân, si, ngă kiến,
và tán loạn.
2. Bậc Quán niệm tướng
riêng (Biệt tướng niệm trụ): Dùng phép quán “bốn lĩnh vực quán niệm” (xin xem mục “Bốn Lĩnh Vực
Quán Niệm” ở sau), quán chiếu từng tướng
riêng như thân thể là bất tịnh, cảm thọ là
đau khổ, tâm thức là vô thường, và vạn pháp
là vô ngă.
3. Bậc Quán niệm tướng
chung (Tổng tướng niệm trụ): Cũng dùng phép quán “bốn lĩnh vực quán niệm”
ấy, nhưng quán chiếu tổng quát các tướng
đều cùng chung là bất tịnh, khổ, vô thường,
và vô ngă. Ví dụ: Khi quán chiếu “thân thể là bất tịnh”, th́ đồng thời
cũng quán chiếu “thân thể
là đau khổ, là vô thường, là vô ngă”; khi quán chiếu
về tính chất “bất tịnh”,
th́ cả thân thể, cảm thọ,
tâm thức và vạn pháp đều là “bất tịnh”(1).
Trong ba bậc trên th́ bậc Ngũ đ́nh tâm quán sẽ
thành tựu về phương diện “chỉ” (dừng lại); c̣n hai bậc Biệt tướng
niệm trụ và Tổng tướng niệm trụ sẽ
thành tựu về phương diện “quán” (quán chiếu).
B. Địa
vị Ba hiền của đại thừa:
Địa vị Ba hiền của đại thừa
tức là giai đoạn mà các hành giả tu tập Bồ-tát
hạnh phải trải qua trước khi tiến lên cấp
Mười địa, v́ vậy, địa vị này cũng
c̣n được gọi là “Bồ-tát Địa tiền”;
gồm ba cấp từ thấp lên cao có tên là Mười
trụ, Mười hạnh và Mười hồi hướng
(xin xem các mục
“Mười Trụ”, “Mười Hạnh”, “Mười Hồi
Hướng” ở sau).
(1) Từ “bất tịnh” vừa được
hiểu theo nghĩa hẹp, là không sạch sẽ, dơ bẩn;
vừa được hiểu theo nghĩa rộng, là giả
dối, không chân thật, vô thường, đầy phiền
năo cấu nhiễm.
“Lượng” là h́nh thái hay phương cách nhận
thức, có 3 loại:
1. Nhận thức trực tiếp
(hiện lượng): nhận
thức đối tượng một cách trực tiếp,
thuần túy cảm giác, không có suy luận, diễn dịch,
so sánh hay phán đoán. Đây là phương cách nhận thức
của năm thức cảm
giác (nhăn, nhĩ, tị, thiệt và thân thức), đôi
khi có sự cộng tác của thức thứ sáu là ư thức – nhưng vẫn là
trực tiếp, không có suy luận hay phán đoán.
H́nh thái nhận thức này có khi đúng và có khi sai.
Khi đúng th́ gọi là chân hiện
lượng, khi sai th́ gọi là tợ hiện lượng. (“Tợ” nghĩa là
trông giống như cái đó chứ không phải chính thực
là cái đó.)
2. Nhận thức so sánh
(tỉ lượng): nhận thức mang tính cách suy luận,
diễn dịch, so sánh, hay phán đoán. Đây là
phương cách nhận thức của thức thứ sáu – ư thức, có khi đúng và cũng
có khi sai. Khi đúng th́ gọi là chân
tỉ lượng, khi sai th́ gọi là tợ tỉ lượng.
3. Nhận thức sai lầm (phi
lượng): Thực
ra, không có riêng một h́nh thái nhận thức độc lập
nào gọi là “phi lượng”.
Cho nên, phi lượng chẳng
qua chỉ là “tợ hiện
lượng” và “tợ tỉ
lượng” ở trên vừa nói – tức là nhận thức
sai lầm, trông giống như cái đó chứ không phải
chính là bản thân cái đó. Duy thức học cho rằng, thức thứ bảy (mạt-na)
luôn luôn nhận thức sai lầm về sự tồn tại
của một bản ngă chân thật, bất biến, cho
nên h́nh thái nhận thức của nó luôn luôn là phi lượng.
Khổ là một thứ cảm thọ (cảm giác), là trạng
thái đau đớn, khó chịu, bất như ư khi thân tâm
bị bức bách. Y vào tính chất, khổ được
chia làm ba loại:
1) Những hoàn cảnh trái ngang, những điều
bất như ư, những sự bách hại, v.v... gây ra những
cảm giác khó chịu, đau đớn, buồn phiền
nơi thân tâm con người; cái khổ đó gọi là “khổ
khổ”.
2) Những hoàn cảnh thuận lợi, những
điều như ư có đem lại niềm vui cho con
người. Nhưng đó chỉ là niềm vui tạm bợ.
Khi niềm vui đă tàn th́ lại sinh tiếc nuối, khổ
đau; cái khổ đó gọi là “hoại khổ”.
3) Mọi vật trong vũ trụ vốn không có
tính chất khổ, vui; tâm ư con người cũng có lúc
không cảm thấy khổ hay vui; nhưng v́ do nhân duyên sinh,
nên chúng vô thường, biến đổi, sinh diệt,
trôi chảy không ngừng, gây ra đau khổ, phiền muộn
một cách âm thầm, vi tế, thâm sâu, mà con người
không tỉnh giác nên không nhận biết; cái khổ đó gọi
là “hành
khổ”.
Ba ḱ tức
là ba a-tăng-ḱ kiếp, nghĩa là ba vô số kiếp; là thời
gian tu hành của một vị Bồ-tát từ lúc mới
phát tâm cho đến ngày thành Phật. Bồ-tát Địa tiền tu tập trải qua
bốn mươi bậc (gồm mười Tín, mười
Trụ, mười Hạnh và mười Hồi hướng)
th́ hoàn tất a-tăng-ḱ thứ nhất (sơ a-tăng-ḱ); Bồ-tát Địa-thượng,
từ bậc Sơ địa cho đến khi đạt
được bậc Thất địa th́ hoàn tất a-tăng-ḱ
thứ hai (nhị a-tăng-ḱ); từ bậc Bát địa
cho đến bậc Thập địa th́ hoàn tất a-tăng-ḱ
thứ ba (tam a-tăng-ḱ).
Pháp số
này có hai ư nghĩa:
A. Chỉ
cho đức Thế Tôn nói pháp Tứ Đế lần
đầu tiên tại vườn Nai sau khi Ngài thành đạo,
để độ cho năm vị Sa-môn nhóm Kiều-trần-như.
Khi nói pháp Tứ Đế này, đức Phật đă nói
đi nói lại ba lần, với ba chủ ư khác nhau, gọi
là “tam chuyển pháp luân”:
1. Thị chuyển. Đầu
tiên, với chủ ư khai thị cho thấy, đức Phật
đă dạy: “Đây là khổ. Đây là nguyên nhân của khổ.
Đây là cảnh giới tịch diệt. Đây là các pháp
môn tu tập để chứng đạt cảnh giới
tịch diệt.”
2. Khuyến chuyển. Sau
đó, với chủ ư khuyên tu tập, đức Phật dạy
tiếp: “Đây là khổ, quí vị nên nhận biết.
Đây là nguyên nhân của khổ, quí vị nên đoạn
trừ. Đây là cảnh giới tịch diệt, quí vị
nên chứng đạt. Đây là các pháp môn tu tập để
chứng đạt cảnh giới tịch diệt, quí vị
nên tu tập.”
3. Chứng chuyển. Cuối
cùng, với chủ ư xác minh để gây tin tưởng,
đức Phật dạy tiếp: “Đây là khổ,
Như Lai đă thấy rơ. Đây là nguyên nhân của khổ,
Như Lai đă đoạn trừ. Đây là cảnh giới
tịch diệt, Như Lai đă chứng đạt.
Đây là các pháp môn tu tập để chứng đạt
cảnh giới tịch diệt, Như Lai đă tu tập.”
B. Tông Tam
luận (Trung Quốc) đă chia toàn bộ giáo thuyết của
đức Phật trong suốt cuộc đời hóa độ
45 năm của Ngài làm ba phần, với 3 chủ ư khác
nhau, gọi là “tam chuyển
pháp luân”:
1. Căn bản pháp luân. Trước
tiên, ngay sau khi thành đạo, ở cội cây Bồ-đề,
đức Phật đă trực tiếp nói giáo pháp căn
bản nhất thừa cho hàng Bồ-tát lớn, tŕnh bày cảnh
giới giác ngộ mà Ngài vừa thực chứng; – đó
là giáo nghĩa hàm chứa trong kinh Hoa nghiêm, – gọi là
“căn bản pháp luân”.
2. Chi mạt pháp luân. Nhưng
giáo pháp nhất thừa ấy quá cao sâu mầu nhiệm, con
người độn căn phước mỏng không thể
nào lĩnh hội được, cho nên, tiếp theo đó,
trong suốt thời gian dài gần 40 năm (nếu kể
thời gian hóa độ là 45 năm), đức Phật
đă phải tùy theo cơ trí của đại chúng mà nói giáo pháp tam thừa (Thanh
văn, Duyên giác và Bồ-tát), tức là Ngài đă
phương tiện đem giáo pháp nhất thừa mà chia chẻ
ra thành ngành ngọn, gọi là “chi
mạt pháp luân”.
3. Nhiếp mạt qui bản pháp
luân. Nhờ
dùng nhiều phương tiện mà đức Phật
đă đưa được vô số chúng sinh vào con
đường giác ngộ giải thoát; cuối cùng, khi thấy
cơ trí của phần đông đại chúng đều
đă thăng tiến, thuần thục, có thể thọ
nhận giáo pháp vi diệu, Ngài đă dùng những năm c̣n
lại của cuộc đời hóa độ, thu nhiếp
hết giáo pháp phương tiện của ba thừa mà qui
kết về giáo pháp căn bản nhất thừa; –
đó là giáo nghĩa hàm chứa trong các kinh Pháp hoa, Niết-bàn, – gọi là “nhiếp mạt qui bản pháp luân”.
Chữ “tịnh” ở đây có nghĩa
là không cố ư giết, không bảo người khác giết,
và không chấp nhận khi biết người khác v́ ḿnh mà
giết sinh vật để lấy thịt. Theo kinh điển
đại
thừa, ăn thịt là trái phạm tinh thần từ
bi của người tu hành, cho nên có qui điều cấm
chỉ ăn thịt. Nhưng trong kinh luật tiểu
thừa th́ quyền nghi cho phép các thầy T́-kheo, có thể
ăn ba loại thịt, được gọi là “tịnh nhục”, mà không bị
phạm giới; đó là:
1. Không phải v́ ḿnh mà giết (bất vị ngă
sát), ḿnh không thấy (bất kiến) người ta v́
ḿnh mà cố ư giết sinh vật cho ḿnh ăn.
2. Không phải v́ ḿnh mà giết (bất vị ngă
sát), ḿnh không nghe nói (bất văn) người ta v́ ḿnh
mà giết sinh vật cho ḿnh ăn.
3. Không phải v́ ḿnh mà giết (bất vị ngă
sát), không có điều ǵ làm cho ḿnh nghi ngờ (bất
nghi) là người ta v́ ḿnh mà giết sinh vật cho ḿnh
ăn.
Ngoài ra, thịt của sinh vật tự nó chết,
hoặc thịt sinh vật bị các loài thú khác ăn c̣n thừa,
cũng được gọi là “tịnh nhục”; và nếu
kể thêm hai thứ thịt này th́ có “năm loại tịnh
nhục” (ngũ tịnh nhục).
Trái lại với các trường hợp trên th́
thuộc loại “thịt bất tịnh” (bất
tịnh nhục), tuyệt đối không được
ăn.
Các bậc thánh khi chứng đến quả Phật,
th́ dứt trừ tận tuyệt vô minh si ám, trí sáng tối thượng hiển
lộ, thấy biết thấu suốt 3 sự việc
hoàn toàn vô ngại, gọi là “ba minh”:
1. Túc mạng minh: trí sáng
thấy biết thấu suốt tướng trạng của
ḿnh và tất cả chúng sinh từ một đời cho
đến hàng trăm, ngàn, vạn, ức đời ở
thời quá khứ.
2. Thiên nhăn minh: trí sáng
thấy biết thấu suốt các tướng trạng
sinh tử của tất cả chúng sinh, chết nơi này
chuyển sinh nơi kia, chết nơi kia chuyển sinh
nơi này; hoặc do nhân duyên xấu ác mà tạo nghiệp xấu
ác, sau khi chết phải sinh vào các cảnh giới đau
khổ; hoặc do nhân duyên thiện lành mà tạo nghiệp
thiện lành, sau khi chết được sinh về các cảnh
giới an vui v.v...
3. Lậu tận minh: trí sáng
thấy biết rơ ràng ḿnh đă chân thật chứng ngộ
chân lí, đă giải thoát hoàn toàn cái tâm lậu hoặc,
đă diệt trừ tận gốc rễ tất cả
phiền năo vô minh.
Mục đích của người tu học Phật
là đạt tới thành quả giác ngộ, an lạc và giải
thoát cho chính ḿnh và cho cả mọi người. Mục
đích ấy chỉ có thể đạt được
khi nào hành giả thể nghiệm trọn vẹn 3 phép học là Giới, Định
và Tuệ.
1. Giới, hay giới luật, trên căn bản nó có nghĩa
là răn cấm và ngăn ngừa, tức là cấm đoán làm các điều
xấu về thân, khẩu và ư, để ngăn ngừa những hậu quả tai hại,
xấu xa. Nhưng đó mới chỉ là ư nghĩa tiêu cực
của nó. Trên phương diện tích cực, giới
c̣n có nghĩa là sự thể hiện nếp sống
tỉnh thức, thường trực đặt tâm ư trong
chánh niệm, thực hiện các hành động cụ thể,
chính đáng, nhằm xây dựng sự sống, đem lại
lợi ích và an lạc cho muôn loài.
Theo cả hai ư nghĩa trên th́ giới đích thực là chất liệu sinh hoạt
tâm linh căn bản của
người tu học Phật. Nó có công năng chuyển
hóa bản thân cho chính hành giả và tạo không khí ḥa điệu
giữa hành giả với môi trường sống chung
quanh. V́ vậy mà Kinh Niết-bàn
nói: “Giới là những pháp lành
nâng chịu cho hành giả một cách vững vàng, chắc
chắn, như những bậc thang bằng đá...”; hoặc:
“Hành giả nên hành tŕ giới
luật cho bền vững, coi đó như cái phao nổi
dùng bơi qua biển cả.” Kinh Di giáo cũng dạy: “Này
quí vị khất sĩ! Sau khi Như Lai diệt độ,
quí vị hăy quí trọng và tôn kính giới luật, như ở
nơi tối tăm mà thấy được ánh sáng,
như người nghèo mà gặp được của
báu. Phải xem giới luật chính là thầy của quí vị,
không khác ǵ Như Lai c̣n trụ thế.”
Giới thường là những điều luật do Phật
chế ra – gọi là “chế giới”
– cho các chúng tại gia (5 giới),
Sa-di (10 giới), T́-kheo (250 giới), T́-kheo-ni (348 giới), và Bồ-tát (34 giới cho chúng tại gia và 58
giới cho chúng xuất gia). Nếu hành tŕ nghiêm túc các “chế
giới” này th́ hành giả sẽ có được một
tác phong đứng đắn, một tư cách cao thượng,
một tâm niệm trong sáng, ngay thẳng, đáng làm
gương mẫu và chỗ nương tựa hoàn toàn tin
cậy cho mọi người. Đó là ư nghĩa của giới
điều gọi là “nhiếp
luật nghi” (nghiêm tŕ giới hạnh), một trong 3 nhóm giới tổng quát của
đại thừa (tam tụ
tịnh giới) mà người tu học theo hạnh
Bồ-tát cần phải hành tŕ.
Hai giới điều khác của “tam tụ tịnh
giới” là “nhiếp thiện
pháp” (làm mọi điều lành) và “nhiêu ích hữu t́nh” (làm lợi ích cho tất cả
chúng sinh). Khác với loại “chế giới” ở trên,
“tam tụ tịnh giới” là những giới luật
đích thực – gọi là “tự
tính giới” – của những hành giả phát tâm tu hạnh
Bồ-tát mà mọi ư tưởng, ngôn ngữ và hành động
đều nhằm đem lại lợi ích và an lạc cho
tất cả chúng sinh.
2. Định, là sự tập trung tâm ư bằng cách sống trọn
vẹn trong chánh niệm. Con người thường bị
hoàn cảnh chi phối, tâm ư luôn luôn bị phân tán, cho nên cứ
mải sống trong loạn động, quên lăng, đến
nỗi nhiều khi không c̣n nhận biết ḿnh là ai, đang
làm ǵ, ở đâu! Bởi vậy, sự tu “giới” như trên vừa nói, sẽ giúp cho hành giả
tỉnh thức, tâm ư được thắp sáng, các vọng
niệm sẽ bị tiêu trừ. Hành giả sẽ thường
xuyên có ư thức sáng tỏ về ḿnh, biết ḿnh đang
nghĩ ǵ, nói ǵ, làm ǵ. Sự quán niệm thường xuyên ấy
sẽ làm cho sức mạnh của tâm linh được tập
trung và phát triển: đó gọi là định lực.
3. Tuệ, hay trí tuệ giác ngộ, là sự nhận thức
sáng tỏ về thực tại, là sự chứng ngộ
chân lí của vạn hữu. Tuệ đạt được
là nhờ có định lực, và đó là mục đích tối
hậu của người tu học Phật.
Giới
- Định - Tuệ là tŕnh tự của giác ngộ: do Giới
sinh Định, do Định phát Tuệ. Vậy, muốn
đạt được trí tuệ giác ngộ th́ phải
tu tập thiền định; muốn có được
định lực th́ phải nghiêm tŕ giới luật.
Không những là tŕnh tự của giác ngộ, mà Giới - Định - Tuệ
c̣n là ba yếu tố tương duyên và bất khả phân
li của giác ngộ. Một vị hành giả đă đạt
được tuệ giác th́ không thể nào là không có giới
hạnh và định lực; đă nghiêm tŕ giới hạnh
th́ cùng lúc cũng đă có định lực và trí tuệ;
khi có đầy đủ định lực th́ chắc chắn
là giới hạnh và trí tuệ cũng viên măn. Như thế
tức là trong Giới có đầy đủ Định
và Tuệ; trong Định có đầy đủ Giới
và Tuệ; trong Tuệ có đầy đủ Giới và
Định. Hay nói khác đi, tu Giới là đồng thời
cũng tu Định và Tuệ; tu Định là đồng
thời cũng tu Giới và Tuệ; và tu Tuệ là đồng
thời cũng tu Giới và Định. Có một yếu tố
là có đủ cả ba yếu tố; thiếu một yếu
tố là không có quả vị giác ngộ.
Có thể nói, Giới
- Định - Tuệ là nội dung căn bản và tổng
quát nhất của tất cả các pháp môn để
đưa hành giả đến đạo quả giác ngộ,
giải thoát.
“Nghiệp” là hành động. Tất cả mọi hành động
do chúng ta tạo ra được gọi là nghiệp nhân,
và kết quả do những hành động ấy đem lại
được gọi là nghiệp quả, nghiệp báo, hay
quả báo. Hành động được chia làm 3 loại:
1. Hành động của thân thể
(thân nghiệp), gồm những động tác đi, đứng,
nằm, ngồi và tất cả những động tác
khác của tay, chân và thân thể (kể cả ăn uống,
đụng chạm v.v...).
2. Hành động của miệng
lưỡi (khẩu nghiệp), gồm mọi lời nói và âm thanh do miệng
lưỡi phát ra.
3. Hành động của tâm ư (ư
nghiệp), gồm
mọi tư tưởng phát sinh từ tâm ư.
Tính chất của cả ba loại hành động
này có khi là thiện (giúp ích),
có khi là ác (phá hoại), và cũng
có khi là vô kí (trung tính, không
thiện cũng không ác).