
Cư
sĩ Hạnh Cơ biên soạn, đánh máy,
và
tŕnh bày trang sách
Nữ
cư sĩ Tịnh Kiên đọc và sửa chữa bản
thảo
Làng
Cây Phong in lần thứ nhất, Montreal, 1996
Ban
Bảo Trợ Phiên dịch Pháp Tạng Việt Nam
in
lần thứ hai, California, 2008
(có
sửa chữa và bổ túc)
Ban
Phiên Dịch Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam
in
lần thứ ba, Nha Trang, Việt Nam, 2009
Kính
thưa chư Tôn Đức Tăng Ni,
Kính thưa chư vị đạo hữu,
Kính thưa chư vị độc giả,
Tập sách LƯỢC
GIẢI NHỮNG PHÁP SỐ CĂN BẢN do chúng tôi biên soạn,
đă được Làng Cây Phong xuất bản từ 11
năm trước. Hồi đó, khi soạn sách này, chúng
tôi chỉ nhắm vào một số độc giả bạn
đạo giới hạn, nên chỉ soạn ngắn gọn;
nhưng sau khi quyển sách ra đời, th́ nó đă
được phổ biến thật rộng răi trong mọi
giới độc giả.
Riêng chư Tôn Đức
Tăng Ni th́ vừa tán thưởng, vừa nhắc
nhở soạn giả rằng: “Khi nào tái bản th́ nên bổ
túc cho đầy đủ hơn, để phổ biến
rộng răi hơn.”
Sách đă phát hành hết từ lâu, rất nhiều
quí vị Phật tử và thiện hữu tri thức
đă yêu cầu cho tái bản; nhưng thời gian qua chúng
tôi c̣n quá bận với những soạn phẩm khác, nên việc
tái bản đành phải chậm lại, măi đến hôm
nay mới thực hiện được. Lần tái bản
này, chúng tôi cố gắng sửa chữa những điều
cần thiết, và soạn thêm những pháp số mới
để bổ túc cho quyển sách được đầy
đủ hơn; nhưng dù sao th́ cũng chỉ tự ḿnh
tạm cho là “đủ”, chứ sự thật th́ chẳng
biết bao nhiêu mới là đủ!
Chúng tôi xin chân thành tri ân chư Tôn Đức
Tăng Ni và chư vị Phật tử đă quan tâm và khích
lệ, khiến chúng tôi luôn luôn tinh tấn trong Phật sự.
Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo
tác đại chứng minh
Kính cẩn
Hạnh Cơ - Tịnh Kiên
Miền Tây Gia-nă-đại, mùa An-cư PL. 2551 (2007)
Mười năm trước đây, nhân một
khóa tu với Thầy Nhất Hạnh, tôi có duyên gặp
cư sĩ Hạnh Cơ, được nghe cư sĩ
giảng cho một số anh chị em về Pháp Số. Sau
cư sĩ Hạnh Cơ gửi cho chúng tôi những pháp số
đă viết. Ai nấy đọc đều lấy làm
thích thú, ước ao rằng cư sĩ sẽ hoàn thành
công việc biên soạn quư hóa đó.
Tới nay th́ ḷng mong
ước của chúng tôi đă được toại nguyện,
và tôi có được niềm vui giới thiệu tập
Lược Giải Những Pháp Số Căn Bản với
quư vị độc giả bốn phương. Tôi là kẻ
hậu học, nên không dám có lời phê b́nh quyển sách này.
Chỉ xin nói rằng, mỗi pháp số được tác
giả tŕnh bày một cách gọn gàng và sáng sủa, không
sơ sài mà cũng không đi quá vào chi tiết.
Tôi tin chắc rằng
cuốn sách sẽ giúp ích rất nhiều cho những vị
muốn t́m hiểu đạo Phật và sẽ có chỗ xứng
đáng trong tủ sách của mọi Phật tử. Những
người muốn tu thân theo phương pháp đạo Bụt
sẽ thấy các lời giải thích của Hạnh Cơ
rất hữu ích cho việc tu học. Đạo Bụt
không phải chỉ là một kho hiểu biết mà đích
thật là tŕnh bày cho chúng ta cách sống để đạt
tới an lạc trong cuộc đời này.
Tôi xin ghi lại nơi đây ḷng ngưỡng mộ của tôi đối với tác giả, đă dồn nhiều tâm trí thực hiện một công cuộc đ̣i hỏi rất nhiều hiểu biết và kiên nhẫn.
Chân Hội NGUYỄN TẤN HỒNG
(1995)
Tại núi Linh Thứu (gần thành Vương Xá), trước khi khởi sự chuyến du hành bố giáo lần cuối cùng hướng về phương Bắc (rừng Câu-thi-na – nơi sẽ nhập Niết-bàn), đức Thế Tôn có dạy chư tăng về Bảy Phép Bất Thối, và Ngài kết luận: “Này các vị khất sĩ! Chừng nào mà các vị c̣n thực hành được bảy điều ấy, gọi là bảy phép bất thối, th́ đạo pháp c̣n hưng thịnh và giáo đoàn không bị suy thoái.” Sau đó, tại rừng Đại Lâm (gần thành T́-xá-li), Ngài lại dạy: “Các vị khất sĩ! Những ǵ mà Như Lai đă thực chứng và đă truyền lại cho quí vị, quí vị hăy thận trọng và khéo léo mà học hỏi, giữ ǵn, tu tập, chứng nghiệm, và truyền đạt lại cho những thế hệ tương lai. Nếp sống phạm hạnh
cần được nối tiếp v́ an lạc và hạnh phúc của mọi người và mọi loài.” Rồi tại rừng Câu-thi-na, trong những phút cuối cùng của cuộc đời hóa đạo, Ngài cũng c̣n ân cần nhắc nhở cho vị đệ tử cuối cùng là Tu-bạt-đà-la: “Subhadda!
Ở đâu, trong đoàn thể nào mà
có sự thực hành Bát Chánh Đạo là ở đó có người đạt
đạo.”
Qua các lời dạy
trên, chúng ta thấy rơ đức Thế Tôn đă rất
quan tâm đến sự tu học, thực chứng, và thực
hành giáo pháp. Chánh pháp phải được tu tập, thực
chứng, thể hiện, và truyền đạt th́ mới
trường cửu ở thế gian. Pháp bảo không phải
là những bộ Đại Tạng
nằm im ĺm trong các tủ kinh sách, mà chính là “nếp sống
như pháp” nơi các đoàn thể tu học và nơi mỗi
cá nhân của tăng đoàn và Phật tử. Bởi vậy,
sự học hỏi, thực hành và truyền bá Phật
pháp là việc vô cùng quan trọng của người tu học.
Chúng ta thường
nghe nói, giáo pháp của Phật có đến tám vạn bốn
ngàn pháp môn, bất cứ người có căn cơ, tŕnh
độ cao thấp ra sao cũng đều có pháp môn thích
hợp để tu học. Lời nói ấy chỉ có
nghĩa, giáo pháp của Phật luôn luôn là phương tiện
hướng dẫn người tu học đạt đến
thành quả cuối cùng là giác ngộ và giải thoát; chúng ta
đừng hiểu lầm mà cho rằng, giáo pháp của Phật
có tám vạn bốn ngàn pháp môn sai khác nhau, tách biệt nhau,
độc lập với nhau. Sự thật th́ Phật
pháp là giáo pháp viên dung, bất cứ một pháp môn nào
cũng hàm chứa trong nó những pháp môn khác; một pháp môn
có mặt trong tất cả pháp môn, tất cả pháp môn có
mặt trong một pháp môn. V́ vậy, khi “chọn lựa” một
pháp môn để tu học th́ không có nghĩa là chúng ta chỉ
ôm giữ, miệt mài, “chết sống” với pháp môn
đó thôi; mà chúng ta phải thấy rằng, trong lúc thực
hành một pháp môn th́ đồng thời chúng ta cũng
đang thực hành nhiều pháp môn liên hệ khác. Bởi thế
mà trong biển Phật pháp, có những pháp môn được
gọi là “PHÁP SỐ”, tức
là tập hợp một số lượng pháp môn chi tiết
có tính chất liên hệ mật thiết với nhau để
làm thành một pháp môn tổng quát hơn, mục đích là
giúp cho sự tu tập được nhất quán, toàn vẹn.
Ví dụ: Hành động đầu tiên để trở
thành một Phật tử là chúng ta phải phát nguyện quay về và nương tựa
(qui y). Khi phát nguyện như vậy, chúng ta không thể
nói: “Tôi chỉ qui y Phật và
Pháp mà thôi, chứ không muốn qui y Tăng!”; mà phải
nói: “Tôi phát nguyện qui y Tam Bảo.”
Đă phát nguyện quay về nương tựa th́ phải
quay về nương tựa với đầy đủ
Ba Ngôi Báu, tại v́ theo đạo lí viên dung, trong Phật
đă bao gồm có Pháp và Tăng, trong Pháp đă hàm chứa
Phật và Tăng, và trong Tăng cũng đă hiện hữu
Phật và Pháp; không thể nào có Phật nếu không có Pháp
và Tăng, cũng như không thể nào có Phật và Pháp nếu
không có Tăng... Như vậy, Ba
Ngôi Báu (Tam Bảo) là một pháp số.
Các pháp môn có tên bắt
đầu bằng các con số như một (1), hai (2), ba (3), mười (10), v.v... đều
gọi là pháp số (cũng
gọi là “danh số”). Trong
ba tạng kinh điển, những pháp số như vậy rất nhiều. Các pháp số chúng tôi tŕnh bày trong
sách này là các pháp môn có tính cách căn bản, không những
chúng xuất hiện bàng bạc trong cùng khắp kinh luận
mà c̣n là những pháp môn nền tảng
cho công phu tu tập, là những viên gạch rắn chắc
cho con đường an lạc và giải thoát. Cho nên, chúng
tôi sẽ tŕnh bày các pháp số đó trong ư hướng tu học
mà không phải là một “từ điển” về pháp số.
Với những pháp số này, trong ư hướng tu học,
chúng ta có thể khảo cứu, học hỏi, thực
hành và trao đổi; lấy ánh sáng của pháp môn soi rọi
cho đời sống hằng ngày, rồi lại đem những
kinh nghiệm của cuộc sống phản chiếu làm
cho pháp môn càng thêm sáng tỏ. Đó cũng là cách thực hành
lời dạy bảo ân cần của đức Thế
Tôn trước khi Ngài nhập Niết-bàn.
Chúng tôi hi vọng tập
sách nhỏ này sẽ giúp ích phần nào cho sự tu học của
đại chúng. Chúng tôi cũng mong mỏi được
các bậc cao minh tôn túc chỉ bảo cho những điều
sai sót mà chúng tôi biết chắc chắn là không thể nào
tránh khỏi được.
Thành phố Edmonton, Gia-nă-đại,
đầu Hạ năm Ất-Hợi, PL. 2539 (1995)
Hạnh Cơ
SỐ 1
Theo toán số Ấn
Độ xưa, “a-tăng-ḱ” có nghĩa là vô lượng
số, là con số vô cùng lớn, không thể nào tính đếm
được. Nếu cho nó có một con số, th́ con số
đó là: 1 a-tăng-ḱ = 1.000
vạn vạn vạn vạn vạn vạn vạn vạn
triệu (mà “1 triệu” ở
đây bằng 1.000.000.000.000).
Câu trên có ư nói, đạo
lí mà chư Phật tự chứng, không thể dùng ngôn ngữ
văn tự để diễn đạt, chỉ có Phật
với Phật mới hiểu rơ trọn vẹn, triệt
để. Cũng giống như dùng ngón tay để chỉ
mặt trăng, ngón tay ấy chẳng phải là mặt
trăng; tất cả ngôn ngữ văn tự cũng không
sánh được với nội dung chứng ngộ của
chư Phật. Đó là lí do mà Thiền tông chủ
trương “không lập
văn tự” (bất lập
văn tự).
“Con đường” (hay “cỗ xe”) là
chỉ cho giáo pháp (v́ giáo pháp có năng lực đưa con
người từ cơi vô minh đến nơi giác ngộ,
cho nên lấy h́nh ảnh chiếc
xe hay con đường
làm ví dụ); “một” là chỉ có một chứ không
có hai, ba, bốn, v.v... – tức là duy nhất. Vậy, “một cỗ xe” là giáo pháp duy
nhất đưa đến sự chứng ngộ tuệ
giác viên măn của chư Phật.
Kinh Pháp hoa (phẩm “Phương tiện”) nói: “Chư Phật chỉ dùng một con
đường (nhất thừa) để hóa độ chúng sinh, chứ không có con đường (thừa) nào khác, dù là hai hay ba...”; hoặc: “Thật ra chỉ có một con đường duy nhất
(nhất Phật thừa), nhưng chư Phật
tùy căn cơ mà dùng phương tiện,
dạy có ba con đường (tam thừa).”
Các kinh luận thường dùng thuật ngữ
này – nhất thừa – để
chỉ cho giáo pháp đại thừa. (Xin
xem thêm các mục “Hai Con Đường” và “Ba Con Đường”
ở sau.)
“Do-tuần” là tiếng dịch âm từ Phạn
ngữ “yojana”, dịch ư là hạn
lượng, ḥa hợp, một lộ tŕnh; là đơn vị
đo chiều dài lộ tŕnh của người Ấn
Độ. Lại nữa, do từ ngữ căn “yuj”, chữ yojana (Do-tuần)
cũng có nghĩa là “mang ách”, tức chỉ cho chiều dài
của đoạn đường mà con ḅ mang cái ách đi
trong một ngày. Sách Đại
Đường Tây Vực kí (do Phật quang đại từ điển trích dẫn)
th́ nói rằng, “Do-tuần”
là chỉ cho lộ tŕnh một ngày hành quân của vua chúa. Về
cách tính toán, có nhiều thuyết không giống nhau, theo
đó, một Do-tuần có thể là 12 dặm, 16 dặm,
17 dặm, 30 dặm, 32 dặm, 42 dặm, 46 dặm; hoặc
7.3 km, 8.5 km, 14.6 km, 17 km, 19.5
km, 22.8 km, v.v...; nhưng con số thường dùng là: một
Do-tuần = 13.5 km.
Một đại kiếp là một thời ḱ của thế giới từ
khi bắt đầu h́nh thành đến lúc hoại diệt,
gồm bốn giai đoạn Thành, Trụ, Hoại, Không, tổng
cộng là 80 trung kiếp. (Xin xem mục “Một
Trung Kiếp” ở sau.)
Chữ “đại” ở đây chỉ cho thật tướng của vũ trụ nhân sinh; chữ “sự” chỉ
cho công cuộc giáo hóa độ sinh của đức Phật; chúng sinh vốn có thật tướng đó mới có cơ cảm với đức Phật, gọi là “nhân”; đức Phật đă chứng nhập cái thật tướng đó cho nên có thể ứng theo cơ cảm của chúng sinh mà cứu độ, gọi là “duyên”. Chư Phật xuất hiện ở thế gian chỉ có một mục đích là chỉ bày cái
thật tướng mà chúng sinh vốn có, và giáo hóa cho chúng sinh cũng chứng
đắc cái thật tướng đó như đức Phật (kinh Pháp hoa gọi là “ngộ nhập Phật tri kiến”). Bởi vậy kinh nói: “Như Lai chỉ v́ một đại sự nhân duyên mà xuất
hiện ở thế gian” (Như Lai duy dĩ nhất đại sự nhân duyên cố
xuất hiện ư thế. - Kinh Pháp hoa)
Từ “nhất sinh bổ xứ”
được dịch từ tiếng Phạn “eka-jāti-pratibaddha”,
nguyên có nghĩa là kiếp luân hồi
cuối cùng, tức là hết đời này rồi,
đời sau nhất định sẽ thành Phật tại
thế gian. Trong ư nghĩa đó, từ này được
dùng để chỉ cho bậc Đẳng giác Bồ-tát,
là địa vị cao nhất của hàng Bồ-tát. Trong
kinh điển có nói, đức Bồ-tát Di-lặc là vị
“Bồ-tát nhất sinh bổ xứ”, hiện cư trú tại
cơi trời Đâu-suất, đến lúc thọ mạng ở
đó hết, Ngài sẽ hạ sinh ở nhân gian, và thành Phật
để kế tục đức Phật Thích-ca Mâu-ni.
Kinh luận thường
dùng từ “một hạt bụi
nhỏ” (nhất vi trần),
hoặc nói ngắn ngọn là “một
hạt bụi” (nhất trần),
để chỉ cho đơn vị vật chất nhỏ
nhất.
Có thể nói, đây
là mệnh đề tóm tắt toàn bộ
yếu nghĩa kinh Hoa nghiêm. Yếu nghĩa ấy
nói về sự tương quan
tương duyên chằng chịt của tất cả mọi
sự vật trong vũ trụ: Sự
vật này tức là sự vật kia, sự vật
kia tức là sự vật này; một sự
vật có mặt trong tất cả mọi
sự vật, tất cả mọi
sự vật có mặt trong một sự vật; một sự vật tức là tất cả các sự vật,
tất cả các sự vật tức là một
sự vật.
Nguyên lí duyên khởi cho ta thấy rằng, một sự vật không thể tự nó có mặt, mà đă do vô số các sự vật khác, không phải là nó, hợp lại cấu thành. Một cuốn sách chẳng hạn, không phải tự nó hiện ra, nhưng đă do tất cả những cái “không phải là sách” (như giấy, mực, máy in, nhân công, những vật liệu làm ra giấy, làm ra mực, làm ra máy in, rồi những thứ đă nuôi sống thợ làm giấy, thợ làm mực,
thợ in v.v..., nhiều
lắm, cùng khắp vũ trụ, không kể hết
được!) hợp lại làm thành. Bởi
vậy, giữa cuốn sách và chiếc
máy in không có ǵ ngăn cách; trong cuốn sách có mặt tất cả các thứ
giấy, mực, máy in v.v..., và đồng
thời cuốn sách cũng có mặt trong
tất cả các thứ kia. Hành giả khi
đă đạt được cái thấy này th́ tâm ư tức khắc được
giải thoát khỏi những ràng buộc, những hạn chế của ngă chấp và pháp chấp,
chấm dứt khổ đau.
Kinh Hoa nghiêm (phẩm “Công đức của người mới
phát tâm Bồ-đề”) nói: “Cái thấy
của vị Bồ-tát phát
tâm Bồ-đề rộng lớn thật không
có giới hạn: không có ǵ khác nhau giữa
thế giới thô lậu và thế
giới vi diệu, v́ thô lậu tức là
vi diệu; không có ǵ khác nhau giữa thế
giới nhỏ và thế giới lớn,
v́ nhỏ tức là lớn; không có ǵ
khác nhau giữa một thế giới
và vô lượng thế giới, v́ một
tức là vô lượng; không có
ǵ khác nhau giữa thế giới dơ
và thế giới sạch, v́ dơ tức là sạch;
một thế giới nằm trong vô lượng
thế giới, vô lượng thế
giới nằm trong một thế giới; ...”
Chuyên chú vào một
đối tượng, không khởi vọng niệm, gọi
là “một ḷng” (nhất tâm). Do đó, chuyên
tâm nghĩ nhớ đến Phật, gọi là “một ḷng chuyên niệm” (nhất tâm chuyên niệm).
Tông Tịnh độ đặc biệt chú trọng việc
chấp tŕ danh hiệu của đức Phật
A-di-đà, và theo Kinh A-di-đà,
người nào chuyên tâm tŕ niệm danh hiệu “A-di-đà Phật” cho đến
chỗ “một ḷng không tán loạn”
(nhất tâm bất loạn)
th́ liền được văng sinh về thế giới
Cực lạc. Để hiểu cho tỏ tường,
đầy đủ từ “một
ḷng” này, kinh Vô lượng
thọ nói: “Nhất tâm bao gồm
đầy đủ cả ba tâm, là tâm chí thành, tâm tin sâu và
tâm phát nguyện hồi hướng văng sinh về nước
Cực lạc.” (Xin xem mục “Một Ḷng Không Tán Loạn”
ở sau.)
Đây là trạng thái
tâm lí khi tâm chuyên chú vào một đối tượng, không dao
động, không tán loạn. Từ này được đặc
biệt dùng trong pháp môn tu Tịnh độ. Khi hành giả
đem ḷng tin sâu sắc, chí thành tŕ niệm danh hiệu A-di-đà Phật, khiến cho
tâm không bị tán loạn; lúc đó ngă thể riêng biệt
không c̣n nữa, mà đă ḥa hợp làm một với câu danh
hiệu Phật, gọi là “nhất tâm bất loạn”. (Xin
xem mục “một ḷng” ở trên.)
Trong kinh điển
Phật giáo thường dùng chữ “na-do-tha” làm đơn vị số
lượng. Thông thường, một na-do-tha là 1.000 ức. Nếu tính theo số
nhỏ th́ 1 ức là 100.000; nếu
tính theo số lớn th́ 1 ức là 100.000.000. Vậy,
1.000 ức = 100.000.000, hoặc
100.000.000.000. Có nhiều thuyết nói khác nhau về con
số này, không có một con số chính xác thống nhất,
cho nên, theo ư kinh, thường chỉ nên hiểu “một na-do-tha”
nghĩa là rất nhiều mà thôi.
Từ “một niệm” được
dùng để chỉ cho đơn vị thời gian rất ngắn. Kinh Nhân vương hộ quốc
Bát-nhă nói: 90 sát-na là một niệm, trong một sát-na có
900 lần sinh diệt. “Một
niệm” cũng có nghĩa là cái khoảng thời gian khởi
lên một ư niệm.
Trong Phật học, thuật ngữ “một niệm” (nhất niệm) thường được dùng để chỉ một ư tưởng, một sát-na, một khoảnh khắc, tức là cái khoảng thời gian ngắn
nhất. “Ba ngàn” ở đây tức
là ba ngàn thế giới.
“Một niệm ba
ngàn” – nếu nói cho đầy đủ là “trong một niệm
có đủ cả ba ngàn thế giới” – là một mệnh
đề khai triển từ mệnh đề “Một
là tất cả, tất cả là một” ở trên. Đó là một trong những điểm
đặc sắc của giáo lí tông Thiên
thai (Trung Hoa). Vị tổ của tông này,
đại sư Trí Giả (tức Trí Khải),
trong bộ luận Ma-ha chỉ quán,
đă chia ra có 10 loại thế giới trong vũ trụ:
1. Địa ngục:
thế giới của đau khổ vô cùng.
2. Ngạ quỉ:
thế giới của đói khát và bẩn thỉu cùng cực.
3. Súc sinh: thế giới của loài vật,
của ngu si tăm tối.
4. A-tu-la:
thế giới của hận thù, cuồng bạo, chém giết.
5. Người: thế
giới của loài người, hạnh phúc và đau khổ
đều có mặt.
6. Trời: thế
giới của an vui, phước đức cao hơn loài người.
7. Thanh văn: thế giới giải thoát
do kết quả của công phu tu học theo đức
Phật mà được giác ngộ.
8. Duyên giác: thế
giới giải thoát do kết quả của công phu tự ḿnh quán chiếu
thực tại mà được giác ngộ, đó là một đức Phật
nhưng không giảng dạy cho kẻ khác.
9. Bồ-tát: thế giới của những vị luôn luôn đem t́nh thương yêu, trí hiểu biết, ḷng cởi mở và chí dũng mănh để phục vụ và giúp ích cho mọi loài, và tinh tiến tu tập măi cho đến ngày thành Phật.
Nói cách khác, đó là những vị
Phật tương lai.
10. Phật: thế
giới của các bậc giác ngộ và giải thoát hoàn toàn.
Giáo lí tông Thiên thai nói rằng, mười thế giới ấy tương dung tương nhiếp
lẫn
nhau, mỗi thế giới đều mang trong nó cả
9 thế giới kia. Trong thế giới Người
chẳng hạn, cũng có sự hiện
hữu của các thế giới Địa ngục, Ngạ
quỉ, Súc sinh, A-tu-la, Trời, Thanh văn, Duyên
giác, Bồ-tát và Phật. Như vậy,
trong vũ trụ không phải chỉ có 10 thế
giới riêng lẻ, biệt lập nhau, mà có
đến (10 x 10) 100 thế
giới tương
quan tương duyên với nhau. Sự hiện
hữu của một thế giới bao
hàm sự
hiện hữu của cả một trăm
thế giới.
Lại nữa, tất cả 100 thế giới này đều có cùng chung 10 tính chất. Đó là 10 điều kiện tồn tại của các thế giới mà giáo lí tông Thiên thai gọi là 10 “như”(1), gồm có: 1) tướng (h́nh dáng bên ngoài); 2) tánh (cá tính bên trong); 3) thể (yếu tố h́nh thành); 4) lực (năng lực nội tại); 5) tác (tác dụng do năng lực mà
có); 6) nhân (nguyên nhân để đưa đến kết quả); 7) duyên (điều kiện giúp cho nhân kết thành quả); 8) quả (kết quả có từ nguyên nhân); 9) báo (quả báo nối tiếp do nhân, duyên và quả ở trên đem lại); 10) bổn mạt cứu cánh (từ điều kiện 1 cho đến điều kiện 9, hoàn toàn đều là “như” – tức là tất cả đều là không, v́ chính không là bản thể của vạn hữu). Mỗi thế giới đều có 10 “như”; vậy 100 thế
giới có (100 x 10) 1.000 “như” – cũng tức là 1.000 thế giới
tương quan
tương duyên với nhau.
Lại nữa, ở mỗi thế giới ấy
đều có đầy đủ 3 hiện tượng của
thế gian là quốc độ,
chúng sinh và ngũ ấm.
Vậy, trong vũ trụ không những
chỉ có 10, 100, hay 1.000 thế giới,
mà có đến (1.000 x 3) 3.000 thế giới
tương quan tương duyên với nhau.
Cả 3.000 thế giới ấy không ra ngoài
một niệm, cho
nên gọi là “một niệm ba ngàn”;
cũng như kinh Hoa nghiêm nói, một niệm
không những bao quát cả quá khứ, hiện
tại, vị lai, mà c̣n bao gồm cả
không gian và vật thể. Hay nói cách khác, bất
cứ một niệm nào của tâm cũng
bao hàm cả vũ trụ vạn hữu.
(1) Chữ “như” có nghĩa là thể tính b́nh đẳng, không phân
biệt, không có hai, là thật tướng
của vạn pháp. Kinh Pháp hoa nói: “Những
ǵ Phật đă thành tựu đều là pháp tối thượng, hiếm
có, khó hiểu. Chỉ có chư Phật
mới thấu suốt được thật
tướng của tất cả các pháp, tức
là tất cả các pháp đều có
tướng như vậy, tánh như vậy, thể
như vậy, nhân như vậy, lực như vậy,
tác như vậy, duyên như vậy, quả
như vậy, báo như vậy, bổn mạt cứu
cánh như vậy.”
Đó là cảnh giới
hoàn toàn không có một ư niệm ǵ phát khởi, là cảnh giới
vượt khỏi mọi khái niệm, tức cảnh
giới Phật.
Một pháp giới (nhất pháp giới) là chỉ cho lí thể chân như chỉ có một,
không có hai, tuyệt đối b́nh đẳng. Tông Thiên thai
gọi đó là “thật tướng
các pháp”, và tông Hoa nghiêm th́ gọi là “pháp giới nhất chân”. Chữ “giới” ở đây có nghĩa là chỗ y cứ,
chỉ cho chân như. Pháp y cứ nơi chân như
mà sinh khởi, cho nên gọi là “pháp giới”. Pháp đó tuyệt
đối b́nh đẳng, chân thật, chỉ có một,
không hai, cho nên gọi là “một pháp giới” (nhất pháp
giới).
Chữ “pháp” ở đây là chỉ cho
sự tồn tại, là vạn sự vạn vật. Chữ
“trung đạo” ở
đây có nghĩa là không phải có cũng không phải
không, tức vượt trên ư niệm có không. “Một pháp trung đạo” tức
là luận về diệu lí trung
đạo (không phải có cũng không phải không) trên
ngay một pháp, do tông Pháp tướng khởi xướng.
Tông này cho tánh biến kế sở chấp là vọng t́nh,
cho nên nói là “không”; và cho tánh y tha khởi cùng tánh viên thành thật(1) là giả có và thật có, cho nên nói là có (hữu). Ngay trong một
pháp đă có đầy đủ 3 tánh đó, bởi vậy,
một pháp vừa là không phải có, vừa là không phải
không; đó tức là nghĩa lí trung
đạo. Bất cứ một sắc, một thanh, một
hương v.v... nào cũng nằm trong nghĩa lí đó, cho
nên gọi là “một pháp trung đạo”.
(1) Về 3 tánh biến kế sở
chấp, y tha khởi và viên thành thật, của vạn
pháp, xin xem mục “Ba Tự Tánh” ở sau.
Một phẩm tức là một chương kinh
văn. “Phẩm” là một
thuật ngữ Phật học, dùng để phân chia thiên,
chương trong kinh điển. Chữ “phẩm” cũng có nghĩa là một bậc, địa
vị, như nói “9 phẩm hoa
sen” chẳng hạn.
Một sát-na là một
khoảng thời gian rất ngắn, tương đương với ngày nay là 1/6.480.000 của
24 giờ, hay 1/75 sao.
Đây cũng là một yếu nghĩa của
giáo lí tông Thiên thai.
Đại sư Trí Giả đă phối hợp
giáo lí “ba phép quán” (tam quán) trong kinh Anh lạc với tư tưởng
“không có ngăn cách giữa
không và có” (không hữu vô ngại)
của Bồ-tát Long Thọ mà lập
nên giáo nghĩa “một tâm ba phép quán”, là
một trong những giáo lí nền tảng
của tông Thiên thai. Ba phép quán là:
1. Không: quán niệm rằng tất cả mọi hiện tượng
đều nương nhau mà có, cho nên chúng không
có bản chất chân thật, tất cả đều là
không.
2. Giả: quán niệm rằng tất cả mọi sự vật
đều biến đổi luôn luôn (vô thường),
không có tính đồng nhất;
tuy chúng có hiện hữu, nhưng sự
hiện hữu của chúng chỉ là giả
tạm, không có ǵ tồn tại
vĩnh viễn.
3. Trung đạo: quán niệm rằng tất cả mọi hiện
tượng vừa là không mà cũng vừa
là giả, đồng thời,
không phải là không mà cũng không phải
là giả.
Ba phép quán này, nếu
quán niệm một cách có thứ tự –
trước hết là quán niệm
về không, thứ đến là về
giả, sau cùng là về trung – th́ gọi
là "thứ đệ tam quán”; nhưng đó không phải là chủ
trương của tông Thiên thai. Đại sư Trí
Giả của tông Thiên thai đă phát triển ba
phép quán trên đây đến chỗ
viên dung, không ngăn cách, không thứ tự
trước sau, vượt tất
cả khái niệm: trong một phép quán gồm
đủ cả ba phép quán, cho nên gọi là “nhất tâm tam quán” – hay cũng gọi
là “viên dung tam quán”, “bất thứ đệ tam quán”, “bất khả tư nghị tam quán”.
Ba phép quán trên đây
là ba chân lí của tông Thiên
thai: chân lí của Không, chân lí của Giả,
và chân lí của Trung
đạo. Ba chân lí này không cách biệt
nhau mà dung nhiếp nhau, ba trong một, một
trong ba. Mỗi một trong ba đều có giá trị
toàn diện. Vậy, “một tâm ba phép quán”
là phép quán niệm
như sau:
- Khi quán niệm về
không, một cái đă là không th́ tất
cả cũng đều là không; cả
giả và trung cũng đều
không (nhất không nhất thiết không).
- Khi quán niệm về
giả, một cái đă là giả th́ tất cả cũng
đều là giả; cả không và trung cũng đều
giả (nhất giả nhất
thiết giả).
- Khi quán niệm về
trung, một cái đă là trung th́ tất cả cũng đều
là trung; cả không và giả cũng đều trung (nhất trung nhất thiết
trung).
Cũng cần nói
thêm, “trung” không có nghĩa là ở giữa hai, mà là ở
trên, vượt cả hai; cũng có thể nói nó là cả
hai. “Trung” chính là thực tướng, gồm có không tướng
và giả tướng. Cả ba chân lí: không, giả và trung luôn luôn hợp nhất, dung ḥa
và bao hàm lẫn nhau.
Chữ “thế” nghĩa là trôi chảy,
ở đây là chỉ cho thời
gian. Chữ “giới”
nghĩa là khu vực, phạm vi, ở đây là chỉ cho không gian. Từ “thế giới” nguyên
được dùng để chỉ cho nơi cư trú của
chúng sinh, là cái thế giới hữu vi trong ba cơi; nhưng
trong kinh điển đại thừa cũng dùng từ
này để chỉ cho thế giới vô vi, tuyệt đối
ngoài ba cơi, như Kinh Hoa nghiêm có
nói tới “thế giới Liên hoa
tạng”, kinh A-di-đà có
nói tới “thế giới Cực
lạc” v.v..., đều là cảnh giới chân thường
của chư Phật. Ở đây chỉ xin nói về “thế
giới hữu vi” mà thôi.
Người Ấn
Độ thời cổ đại đă y cứ vào thuyết
“núi Tu-di” mà thành lập
vũ trụ luận, tức là lấy núi Tu-di làm trung tâm,
bao quanh có 9 núi, 8 biển, 4 châu thiên hạ, mặt trời
và mặt trăng, hợp lại làm thành một đơn
vị, gọi là “một thế giới”. Hợp
1.000 thế giới làm thành “một
tiểu thiên thế giới”. Hợp 1.000 tiểu thiên thế
giới làm thành “một trung
thiên thế giới”. Hợp 1.000 trung thiên thế giới
làm thành “một đại thiên
thế giới”. Vậy, một đại thiên thế
giới gồm có (1.000 x 1.000 x 1.000 =) 1.000.000.000 thế giới;
và trong vũ trụ gồm có vô số cái “một đại
thiên thế giới” như thế.
Một tiểu kiếp là chỉ cho một đơn vị thời gian.
Theo luận Đại T́-bà-sa,
khi mạng sống của con người ở mức 10
tuổi, kể từ đó, mỗi 100 năm tăng lên 1
tuổi, tăng cho tới 84.000 tuổi là mức cùng cực;
lại bắt đầu từ đó, mỗi 100 năm giảm
xuống 1 tuổi, giảm cho tới 10 tuổi là mức
cùng cực. Cứ một lần tăng và một lần
giảm của tuổi thọ con người như thế,
cộng lại được 16.800.000
năm, đó là thời gian của một tiểu kiếp.
Chữ “trần” ở đây cũng
được gọi là “cảnh”,
chỉ cho đối tượng của căn (giác quan).
Sáu căn (lục căn: nhăn, nhĩ, tị, thiệt,
thân, ư) có đối tượng là sáu trần (lục trần: sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp)(1).
Thông thường người phàm phu, hễ căn tiếp
xúc với trần (mắt thấy sắc chẳng hạn)
th́ sinh niệm tham ái, bám víu, mà gây nên nhiều hành động
xấu ác, Phật giáo gọi đó là “bị cấu nhiễm” (nhiễm). Nếu người có căn trí, biết
tu tập, th́ mắt thấy sắc mà tâm không sinh niệm
tham ái, không bám víu, cho nên không gây tội lỗi, Phật giáo
nói, người này tuy căn vẫn tiếp xúc với trần
mà tâm thức vẫn thanh tịnh, không bị cấu nhiễm (bất nhiễm). Đó là ư nghĩa của câu nói “một
trần không nhiễm” (nhất trần bất nhiễm).
(1) Sáu căn, sáu trần, xin xem mục
“Sáu Giác Quan,...” ở sau.
Cứ 20 tiểu kiếp
th́ gọi là một trung kiếp. (Xin
xem mục “Một Tiểu Kiếp” ở trên.)