NIỆM PHẬT VÔ TƯỚNG
(Lí Luận và Nhập Môn Pháp Môn Niệm
Phật Viên Thông của Bồ Tát Đại Thế Chí)
Nguyên tác Hoa văn của Tiêu B́nh
Thật cư sĩ
Cư sĩ Hạnh Cơ
dịch ra Việt văn
Hội Cư Sĩ
xuất bản
PL 2550 (2006)
NIỆM PHẬT VÔ TƯỚNG (VÔ
TƯỚNG NIỆM PHẬT)
Nguyên tác Hoa văn của Tiêu B́nh
Thật cư sĩ (Đài-loan)
Cư sĩ Hạnh Cơ dịch,
giới thiệu, chú thích bổ túc, đánh máy,
và
tŕnh bày trang sách
Nữ cư sĩ Tịnh Kiên
đọc và sửa chữa bản thảo
Hội Cư Sĩ Phật Giáo
Orange County in lần thứ nhất, California, 2006
TỰA
“Niệm Phật”, đối với phần đông đệ
tử Phật, là xưng niệm thánh hiệu Phật và
Bồ-tát. Do đem tâm chí thành xướng niệm liên
tục, hoặc mặc niệm, tin tưởng sâu xa,
hướng về nương cậy, mà được
Phật và Bồ-tát cảm ứng, hoặc trong âm thầm,
hoặc hiện rơ h́nh tướng. Và mục đích
chủ yếu rất phổ biến của họ là
cầu mong cho mai sau, khi xả bỏ báo thân này,
được nhờ Phật, Bồ-tát tiếp dẫn
họ văng sinh về cơi tịnh độ Cực-lạc.
Nhưng thực ra, tịnh độ của chư
Phật trong mười phương, kể cả tịnh
độ của đức Thế Tôn Bổn Sư Thích
Ca, là nhiều vô lượng vô số, không thể kể
xiết, chứ đâu phải chỉ có một cơi
nước Cực-lạc của đức Phật A Di
Đà mà thôi! Ngoài ra, “tịnh độ” cũng có sự
khác nhau giữa “duy tâm tịnh độ” và tịnh
độ do chư Phật hóa hiện.
Nếu
nói một cách rộng răi hơn, tất cả giáo pháp
Phật giáo đại thừa, lẽ nào chỉ có một
pháp môn Niệm Phật, lẽ nào chỉ có một pháp môn
Tịnh Độ? Một cách phổ quát như mọi
người đều biết: tŕ danh hiệu Phật, tŕ
chú, lễ Phật, cúng dường, chỉ quán, tŕ
giới, tụng kinh, xem kinh, chép kinh, giảng kinh, tham
cứu[1], tư duy, nhớ nghĩ v.v..., đều là
mục đích của người học Phật nhằm
tu hành, ngộ nhập tri kiến Phật, chứng nhập
cảnh giới giải thoát, có được công
đức Phật, thậm chí đi đến chỗ
thành Phật, thành tựu cả bốn loại tịnh
độ[2]. Đó là ư nghĩa rộng răi của sự
niệm Phật.
Thật
ra, Thiền và Tịnh Độ có mối liên hệ
mật thiết không thể tách rời. Muốn
được thành Phật, không phải chỉ tŕ
niệm danh hiệu Phật là xong; mà quyết phải
nhờ tới thiền định để khơi sáng
tâm tánh. Sau địa vị Kiến-đạo[3], mau chóng tiến lên địa vị
Tu-đạo[4], th́ quả Phật đă gần kề.
Nhưng muốn đạt địa vị
Kiến-đạo, cần phải tham thiền, hoặc tu
tập lí quán của pháp môn chỉ quán. Như thế
tức là, không có định lực th́ không thành tựu
được việc ǵ, nhất là công phu trong động[5]. Mà người niệm Phật, muốn tŕ
danh niệm Phật cho đến chỗ “nhất tâm
bất loạn”, th́ cũng cần có công phu. Nếu dùng cách
tŕ danh niệm Phật và lễ Phật làm phương
tiện, để đi vào pháp môn niệm Phật viên thông
của Bồ-tát Đại Thế Chí, hoàn toàn không phải
việc khó; thế th́ việc văng sinh về cơi tịnh
độ Cực-lạc có thể nắm chắc
được. Cũng có thể tham cứu niệm
Phật: Nói rằng “Không nhờ phương tiện mà tâm
tự sáng.”, không phải là không có thể. Nếu đem cái
công phu bước đầu của pháp môn niệm
Phật viên thông mà chuyển sang tham thiền, th́ cánh cửa
vô môn tự nhiên hiện rơ trước mắt; muốn
được thấy rơ tâm tánh, cũng có hi vọng.
Như thế có thể thấy, Thiền và Tịnh
Độ khắng khít không thể phân li.
Người
đệ tử Phật, nếu có thể đem cái tinh
yếu của Thiền Định mà tu tập pháp môn
Tịnh Độ, và đem pháp môn tịnh độ
trợ giúp thêm để thành tựu cái công phu trong
động, th́ bất luận là tu Thiền hay tu Tịnh,
đều dồi dào công lực, mau chóng đạt
được thành tích. Kẻ hậu học này đă không
lượng sức học nông cạn của ḿnh, dám nói lên
cái nh́n của ḿnh như trên, chỉ v́ muốn đem cái
kinh nghiệm hạn hẹp, cái văn bút thô lậu của
ḿnh mà bày tỏ ḷng chí thành của kẻ quê mùa. Chỉ
cầu mong lợi ích cho chúng sinh mà không kể ǵ cá nhân ḿnh
bị chê cười, cầm bút viết văn, để
dành dần từng bài, cuối cùng th́ thành sách. Ngoài
những ư kiến thiển cận vừa nêu ở
trước, sau đây xin sơ lược tŕnh bày về
duyên khởi của sách này, gọi là làm tỏ rơ gốc ngọn.
Vào
đầu năm 1987, kẻ hậu học này, nhân v́ công
việc quá bận rộn, đă không có th́ giờ ngồi
thiền, mỗi buổi tối tụng kinh Kim Cang th́
vừa tụng vừa ngáp; xong thời khóa tụng th́
lạy Phật và Bồ-tát.
Năm
ấy, vào một đêm hè, sau thời khóa tụng và
lạy Phật xong, bỗng nhiên tôi nghĩ rằng, nên
thử bỏ đi danh hiệu Phật và h́nh tướng
Phật, chỉ chuyên nhất nhớ niệm Phật
Bồ-tát mà lạy Phật. Phải thực hành
điều này ngay. Thế là, từ ngày hôm sau trở đi
tôi đều sử dụng phương pháp “nhớ
nghĩ vô tướng” mà lạy Phật. Lâu ngày chầy
tháng, phương pháp nhỏ bé ấy tạm thành. Thế
nhưng, ai thực tập phương pháp “niệm
Phật vô tướng” này, đều tràn đầy
niềm vui đạo pháp, hoàn toàn không c̣n biết tới
những bận rộn phiền lụy của sinh hoạt
thế tục. Về sau, việc lạy Phật như
thế đă đạt được trọn niềm
hoan hỉ, tôi liền dứt khoát bỏ thời khóa
tụng buổi tối, mà chuyên nhất lạy Phật
với tâm niệm vô tướng. Trong sinh hoạt hằng
ngày cũng chuyên tâm niệm Phật vô tướng.
Cuối
năm 1988, ngẫu nhiên tôi nghĩ đến chuyện nên
chia sẻ với đại chúng niềm pháp hỉ này, bèn
một mặt th́ suy xét, nhớ lại, đem quá tŕnh tu
tập vừa qua ghi chép xuống; mặt khác th́ đọc
trong kinh luận để t́m chỗ y cứ. Tôi liền
đem bản thảo vừa viết xong để
trước mặt, rồi dở kinh Lăng Nghiêm ra,
đọc chương “Đại Thế Chí Bồ Tát
Niệm Phật Viên Thông”; khi
đọc đến bốn chữ “ức Phật niệm Phật”, tôi vô cùng hoan hỉ. Sau đó lại đọc
đến chỗ “đô nhiếp lục căn,
tịnh niệm tương kế, nhập tam ma
địa”, tôi bỗng
thấy được rằng, cái pháp môn mà tôi thực hành
lâu nay tức là pháp môn Niệm Phật Viên Thông của
Bồ-tát Đại Thế Chí!
Tiếp
đó, vào tháng 4 năm 1989, tôi sửa chữa hoàn chỉnh
các điều đă ghi chép, viết thành một
đoản văn với tựa đề “Đàm Vô
Tướng Bái Phật dữ Vô Tướng Niệm
Phật” (Đàm luận về pháp môn lạy Phật vô
tướng và niệm Phật vô tướng). Sau khi hoàn tất bản
thảo, lại nhân đọc tập sách ghi các lời khai
thị của đại lăo ḥa thượng Hư Vân, tôi
mới thực sự hiểu rơ cái lí lẽ của
việc “khán thoại đầu”[6]. Lúc đó tôi mới biết,
điều mà trước kia tôi từng cho là “tham thoại
đầu”[7], ḱ thật đều là
đọc lời nói, xem đuôi lời nói, rơ ràng chỉ là
sự đối đáp với các bạn đồng tu
một cách đại ngôn, không biết thẹn, mà vẫn
nói là ḿnh “tham thoại đầu”!
V́ sao lúc
trước không thể tham thoại đầu mà về
sau lại làm được? Nguyên nhân tại v́ lúc mới
tu học không có cái “công phu trong động”, về sau,
từ khi tu tập thành thục công phu niệm Phật vô
tướng, mới có năng lực tham thoại
đầu.
Buổi
chiều ngày 6 tháng 8 năm 1989, khi cùng tu với các bạn
đồng tham[8], tôi đă hai lần tiến vào cảnh
giới “Thấy núi không phải là núi”; đó là buổi
đầu tôi nếm được mùi vị của cái
“thùng sơn đen”[9]. Sau đó lại thường nổi lên
trăm mối ngờ vực. Đầu tháng 11 năm 1989,
sau chuyến đi hành hương Ấn-độ và Nepal
trở về, tôi quyết định nghỉ việc,
chuyên ở nhà để tham thiền. Cho đến
khoảng 4 giờ chiều ngày 2 tháng 11 năm 1990, cái thùng
sơn đen vừa bị bể nát, cái quá tŕnh tham
thiền mới kết thúc.
Kiểm
điểm lại giai đoạn vừa qua, tôi phát giác ra
rằng, sở dĩ người ta tu tập Phật pháp
mà không đạt được hiệu quả, cái nguyên
do căn bản là tại v́ thiếu cái công phu trong
động. Do đó, tôi viết sách này, hi vọng giúp
người niệm Phật mau chóng thành tựu công phu
niệm Phật nhất tâm bất loạn; đồng
thời cũng giúp cho người tu thiền sớm có
được cái năng lực tham thoại đầu,
tham công án[10].
Đáp
ứng lời yêu cầu của các bạn đồng tham,
bắt đầu từ ngày 3 tháng 9 năm 1991, tại
đạo tràng tu thiền nọ của Kim Dung Cơ
Cấu Phật Học Xă ở Đài-bắc và thiền
đường Cộng-tu của hai ông bà Trần cư
sĩ ở Thạch-bài, kẻ hậu học này đă tŕnh
bày về phương pháp tu tŕ “niệm Phật vô
tướng” (tức phương tiện để
nhập môn pháp môn Niệm Phật Viên Thông của Bồ-tát
Đại Thế Chí), liên tục ba buổi trong ba tuần
th́ xong.
Các vị
đồng tu trong hai đạo tràng ấy ước
chừng có 30 người, đa số là theo phương
pháp “tŕ danh niệm Phật”. Họ một mặt chú ư nghe,
một mặt thực tập, và sáu tuần sau th́ có hai
vị đạt được hiệu quả. Hiện
vẫn có người lần lượt gia nhập, và
tiến bộ nhanh chóng, tỉ lệ cao, tốc độ
nhanh, khiến cho mọi người rất phấn
khởi. Số người không thấy tiến bộ,
ngoại trừ kẻ v́ nhân duyên không thể lạy
Phật, số c̣n lại chủ yếu là v́ không hoan
hỉ với việc nhớ Phật lạy Phật vô
tướng; và những người đă quen tŕ danh
niệm Phật, th́ đối với pháp môn phương
tiện ở buổi đầu đă không chịu
luyện tập cho đến nơi đến chốn.
Cho đến khi thấy có nhiều người lần
lượt tu tập thành công, có thể tham thiền, khán
thoại đầu, số người này mới lại
gấp rút đuổi theo, nhưng cũng đă trễ hết
ba bốn tháng.
Kết
quả thực tế trên đă làm cho kẻ hậu học
này vô cùng phấn khởi, chứng tỏ rằng,
đối với pháp môn này, người ta chỉ cần
có sự giúp đỡ khéo léo, và luyện tập tinh
cần, chắc chắn sẽ tu tập có hiệu quả.
Bởi vậy, lại khởi bi nguyện, không nỡ thấy
thánh giáo suy vi, không muốn chúng sinh bị khổ, cho nên ngay
trong ḱ nghỉ mùa đông, mạnh dạn cầm bút,
gấp rút soạn sách, văn bút chắc chắn không
được tao nhă, chỉ cầu đạt
được ḷng tin. Đă tŕnh bày b́nh dị, lại c̣n
giải thuyết. Cố gắng sử dụng lối văn
bạch thoại, cốt cho dễ hiểu. Ḱ nguyện
tất cả những người đệ tử
Phật có duyên, đều có thể tu tập thành tựu
pháp môn “niệm Phật vô tướng”, khắp
được thấm nhuần niềm vui đạo pháp,
lần lữa lưu truyền, làm lợi ích vô
lượng chúng sinh, tất cả đồng thể
nhập vào biển pháp tánh.
Kính cẩn,
Cư sĩ TIÊU B̀NH THẬT
Ngày 28 tháng 2 năm 1992
NIỆM PHẬT VÔ
TƯỚNG
Chương Một
DẪN NHẬP
Pháp môn Niệm Phật Viên Thông
của Bồ Tát Đại Thế Chí bắt nguồn
từ chương “Đại
Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông” trong Kinh Đại Phật
Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu
Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng
Nghiêm, gọi tắt là Kinh
Lăng Nghiêm. Đây là quyển kinh mà các hành giả
học thiền tu định cần phải đọc.
Trong kinh, 25 vị Bồ-tát đều tự tŕnh bày
phương pháp tu hành của ḿnh, sau đó là lời b́nh
luận của đức Bồ-tát Văn Thù Sư Lị,
cho rằng, đối với chúng sinh ở thế
giới này th́ pháp môn Nhĩ
Căn Viên Thông của Bồ-tát Quán Thế Âm là thù
thắng hơn hết.
Cho đến ngày nay, cách cái
thời gian của thánh nhân[11]
đă xa, mà h́nh thái xă hội cũng dần dà thay
đổi, cách thức sinh hoạt lắm sự phiền
toái; muốn t́m lại nếp sinh hoạt an nhàn thanh
tĩnh của xă hội nông nghiệp ngày xưa thật khó
có thể được. V́ vậy, con người trong
thời đại này, nếu muốn tu tập pháp môn
Nhĩ Căn Viên Thông, mỗi ngày nhiều lắm cũng
chỉ được một, hai giờ mà thôi. Ngoại
trừ người khéo tu tĩnh quán, có thể t́m kiếm
nhiều pháp môn phương tiện thiện xảo
để giúp sức, nếu không th́ không dễ thành công.
Theo những nhận xét về
pháp môn Niệm Phật Viên Thông
của Bồ-tát Đại Thế Chí trong kinh Lăng Nghiêm, th́ đó là pháp
môn chỉ đứng sau pháp môn Nhĩ Căn Viên Thông
của Bồ-tát Quán Thế Âm. Kẻ hậu học này cho
rằng, đó là pháp môn thích hợp nhất cho con
người bận rộn thời nay; mà pháp môn Niệm
Phật này, gần đây cũng đă được
nhiều người quảng bá, rất nhiều vị
đại đức trong giáo giới viết bài tŕnh bày,
hoặc phát hành băng ghi âm.
Kẻ hậu học này lấy
thiền làm tông chỉ, buổi đầu ḍ dẫm
nhiều năm mà không vào được. Bởi v́ phải
chấp hành nghiệp vụ quá bận rộn, mà tâm
thức bị tán loạn. Tuy nhiên, mỗi ngày cũng
bỏ ra chút ít th́ giờ để ngồi thiền,
tối đa là một tiếng đồng hồ. Hơi
có chút sở đắc, nhưng cũng chỉ là công phu
trong tĩnh, vừa mới rời khỏi bồ đoàn là
liền thất niệm; cho nên, ở bên mé cảnh giới
thiền cũng không đụng tới được, nói
ǵ đến chuyện tham thiền! Cho đến cuối
năm 1988, sau khi tu tập được pháp môn Niệm
Phật Vô Tướng này, tôi mới t́m thấy
được cái mà trong thiền môn gọi là “cánh cửa vô môn”. Từ tháng
5 năm 1989, tôi bắt đầu tham thiền dựa vào
công phu niệm Phật viên thông này, mài miệt không nghỉ,
ngủ không ngon giấc, ăn chẳng biết vị; sau
18 tháng ṛng ră như thế, mới vào được
cửa thiền!
Người ta gần đây tham
thiền mà không đạt được hiệu quả,
đa phần là v́ định lực không đủ,
hơn nữa là thiếu công phu trong động. Hăy xin nêu
câu thoại đầu thiền làm ví dụ:
Trong sách Hư Vân Ḥa Thượng Khai Thị Lục có chép:
“Thế nào gọi là thoại
đầu? Đầu tức là trước khi chưa nói.
Như niệm câu ‘A Di Đà Phật’, th́ trước khi
chưa niệm, gọi là ‘thoại đầu’. Gọi là
thoại đầu, đó là khoảng thời gian một
niệm chưa sinh khởi. Một niệm vừa sinh
khởi th́ đă là ‘thoại vĩ’. Cái khoảng thời
gian một niệm chưa sinh khởi ấy, th́ gọi là
‘bất sinh’; không trạo cử, không hôn trầm, không
đắm vào tĩnh, không rơi vào trống không, th́
gọi là ‘bất diệt’. Thời thời, khắc
khắc, chỉ có vậy, thật rơ ràng, một niệm
bừng sáng chiếu soi trở lại cảnh giới
bất sinh bất diệt ấy, gọi là ‘khán thoại
đầu’ hoặc gọi là ‘chiếu cố thoại
đầu’.”
Nói cách khác, cần phải có cái
năng lực an trụ trong khoảng thời gian một
niệm chưa sinh khởi th́ mới có khả năng khán
thoại đầu. Cũng có thể nói, cần phải có
năng lực nh́n thấy đầu trước của
câu nói mà ḿnh đă tham cứu, mới gọi là khán thoại
đầu. Nếu niệm miệng hoặc mặc
niệm trong tâm, hoặc dùng tâm thức cân nhắc “Niệm Phật là ai”, đó
là “khán thoại vĩ”; tại v́ câu nói “Niệm Phật là ai” đă trở thành quá khứ
rồi. Cho nên ḥa thượng Hư Vân[12]
c̣n nói: “V́ sao người ta
trong thời hiện đại, khán thoại đầu th́
nhiều mà ngộ đạo th́ chẳng có mấy ai?
Đó là bởi v́ người thời hiện đại
căn khí không bằng người xưa, lại nữa,
các vị học giả đă không hiểu biết
tường tận đối với cái lí lẽ tham
thiền khán thoại đầu. Có người cứ
hỏi Đông hỏi Tây, chạy Nam chạy Bắc, kết
quả chỉ là ồn ào cho tới già, mà một câu
thoại đầu cũng không minh bạch, chẳng
biết thoại đầu là cái ǵ, thế th́ làm sao mà
gọi là khán thoại đầu? Một đời
chỉ là chấp trước ngôn từ danh tướng,
để tâm vào thoại vĩ mà thôi.”
Hành giả nếu có khả
năng khán thoại đầu th́ tức là có khả
năng tham thiền; nếu chưa có khả năng th́ hăy
nhanh chóng tăng cường định lực, tu học
công phu trong động, khiến cho tự ḿnh có đầy
đủ năng lực khán thoại đầu trong sinh
hoạt thường ngày, rồi đến tham thiền;
như thế là đạo nghiệp có thể tăng
tiến nhanh chóng.
Công án và thoại đầu là
hai mà một, cần có công phu “một niệm không sinh”
mới đạt được. Cho nên ḥa thượng
Hư Vân lại nói: “Tổ
sư Đạt Ma và Lục Tổ khai thị học chúng,
câu nói khẩn yếu nhất là ‘Ngăn chận các duyên,
một niệm không sinh’. Ngăn chận các duyên cũng
tức là buông bỏ vạn duyên; cho nên hai câu ‘Vạn duyên
buông bỏ, một niệm không sinh’, đích thực là
điều kiện tiên quyết của người tham
thiền. Nếu không thực tập được hai câu
nói đó th́ việc tham thiền không những là không thành
công, mà c̣n có thể nói là việc nhập môn cũng không có
khả năng.”
Ngài c̣n nói tiếp: “
Ngài lại nói: “Công án của cổ nhân nhiều lắm,
người sau chuyên nói là khán thoại đầu; ḱ
thật, đó chỉ là một. Thoại (lời nói)
từ tâm sinh khởi, tâm là đầu của thoại; niệm
là từ tâm sinh khởi, tâm là đầu của niệm.
Vạn pháp đều từ tâm sinh khởi, tâm là
đầu của vạn pháp. Sự thật, thoại
đầu tức là niệm đầu; đầu
trước của niệm tức là tâm. Nói rơ ra,
trước khi một niệm chưa sinh tức là
thoại đầu.”
Do những lời khai thị
của ḥa thượng Hư Vân vừa nêu trên, chúng ta
biết rằng, tham thoại đầu, hay tham công án,
cần phải có đầy đủ cái công phu một niệm không sinh th́
mới gọi được là tham thiền. Nhưng cái
một niệm không sinh này là đối với chung mọi
người mà nói, c̣n đối với người
thực sự có loại công phu đó, th́ nên hiểu là “một niệm nối nhau không
dứt”.
Cửa thiền là cửa vô môn,
chủ trương dứt tuyệt ngôn ngữ, diệt
hết tâm hành[14].
Nếu trong mỗi niệm mỗi niệm mà không xa rời
ngôn ngữ văn tự, cùng những suy nghĩ tính toán
của tâm thức, th́ làm sao có thể liễu ngộ? Cho dù
có may mắn được sự chỉ dạy tận
t́nh của bậc tôn sư chứng ngộ mà
được khai ngộ, th́ cũng rất ít
người giữ được lâu dài, chẳng qua
chỉ được mươi phút, vài giờ, hay cùng
lắm là vài ngày, là đâu lại hoàn đó. Do đâu nên nỗi?
Là do định lực thiếu kém, mà cũng do không có
đủ cái công phu trong động.
Đối với người
tu Tịnh Độ mà nói, th́ cái công phu trong động
cũng trọng yếu như vậy. Hiện nay,
người tu pháp môn Tịnh Độ rất nhiều.
Bất luận là tŕ chú, tŕ danh, hay tu mười sáu phép quán[15],
nếu thiếu công phu trong động th́ sẽ không thành
tựu dễ dàng.
Một hôm t́nh cờ gặp
một vị Bồ-tát[16]
tu pháp môn niệm Phật tŕ danh đă mười mấy
năm, khi vị ấy hỏi: “Ông
có chắc chắn được văng sinh về tịnh
độ Cực-lạc hay không?” th́ mặt tôi x́u
xuống, không dám trả lời, tợ hồ mọi
người đều có hi vọng, nhưng tất cả
đều không nắm chắc. Số người chắc
chắn có ḷng tự tin, thử hỏi được bao
nhiêu? Trong kinh có ghi rơ: “Khi tôi
thành Phật, chúng sinh trong mười phương nghe
được danh hiệu của tôi, dốc ḷng tin vui, có
được căn lành một ḷng hồi hướng,
phát nguyện văng sinh về nước tôi, nếu cho
đến mười niệm mà không được văng sinh
th́ tôi không ở ngôi Chánh-giác – ngoại trừ những
người phạm tội ngũ nghịch, phỉ báng
chánh pháp.” Kinh lại nói: “Nếu
một ngày, hai ngày, ...... cho đến bảy ngày, thọ
tŕ thánh hiệu A Di Đà Phật, một ḷng không tán
loạn, th́ khi lâm chung tâm không bị điên đảo,
liền được văng sinh về tịnh độ
Cực-lạc của đức Phật A Di Đà.” Tôi
tự xét lại khi ḿnh niệm Phật, có thể chỉ
trong mười niệm mà đạt đến chỗ
dốc ḷng tin vui, có được căn lành một ḷng
hồi hướng, phát nguyện văng sinh, hoặc tu
tập được công phu nhất tâm bất loạn
chăng? Lúc b́nh thường c̣n không thể
được, huống chi là lúc lâm chung – là lúc bao đau
khổ dồn dập bức bách! Do đó mà ḷng tôi ngập
ngừng lo nghĩ, không muốn sống nữa!
Người niệm Phật
như thế, mà người tŕ chú, tu quán cũng như
thế, cái nguyên do căn bản là thiếu định
lực. Ba tạng mười hai bộ[17],
tất cả những lời Phật dạy là Kinh, chủ yếu là dạy
người tu định (Luật
là các giới điều Phật chế; Luận là các vị Bồ-tát
nói về tuệ). Những việc như thọ tŕ,
đọc tụng, biên chép, giảng thuyết, không việc
nào là không dạy người tu định. Thế mới
biết, định lực rất là trọng yếu.
Người có đầy đủ định lực,
muốn nhiếp phục sáu căn, liên tục tịnh
niệm, hoàn toàn không phải là việc khó, th́ sợ ǵ không
được văng sinh! Nhưng hai loại công phu trong
động và công phu trong tĩnh này phải tu như
thế nào? Theo kinh nghiệm của kẻ hậu học
này, pháp môn Niệm Phật Viên Thông của Bồ-tát
Đại Thế Chí là phương pháp tốt nhất.
Ngoài ra, niệm Phật phải
từ hữu tướng mà đến vô tướng, do
quyền nghi mà vào thật tướng[18].
Cho nên người niệm Phật cần nên biết
rằng, niệm Phật có ba loại:
1. Niệm hóa thân[19]
Phật: tức niệm Phật tŕ danh được ghi
trong kinh Phật Thuyết A Di
Đà. Nếu thành tựu được pháp tŕ danh niệm Phật tam
muội[20],
sẽ có cảm ứng được thấy hóa thân
của đức Phật A Di Đà.
2. Niệm báo thân[21]
Phật: tức pháp tu 16 phép
quán tưởng được ghi trong kinh Quán Vô Lượng Thọ
Phật. Nếu thành tựu được pháp quán tưởng niệm Phật
tam muội, liền được thấy báo thân
với tướng tốt trang nghiêm của đức
Phật A Di Đà.
3. Niệm pháp thân[22]
Phật: tức phép “nhớ
Phật niệm Phật”, là pháp môn niệm Phật vô
tướng được nói tới trong chương “Đại Thế Chí Bồ Tát
Niệm Phật Viên Thông”. Nếu do “nhớ Phật niệm Phật, không nhờ
phương tiện mà tâm tự sáng” mà tu tập thành
công pháp môn niệm Phật vô tướng, chỉ phát tâm chí
thành, tâm tin sâu sắc, tâm phát nguyện hồi hướng,
chắc chắn được sinh về cơi Thật-báo
trang-nghiêm độ, ở bậc Thượng-phẩm
thượng-sinh. Nếu người chưa thấy tánh,
chỉ mới hiểu được nghĩa lí kinh
điển đại thừa, mà đối với
đệ nhất nghĩa[23]
tâm không kinh động, hồi hướng văng sinh, sẽ
được sinh về cơi Thật-báo trang-nghiêm
độ, ở bậc Thượng-phẩm trung-sinh.
Người tuy chưa thấy tánh, cũng không hiểu giáo
pháp đệ nhất nghĩa, chỉ không hủy báng
đại thừa, tin sâu nhân quả, phát đạo tâm vô
thượng, cũng có thể được sinh về cơi
Thật-báo trang-nghiêm độ, ở bậc
Thượng-phẩm hạ- sinh. (Xin xem chú thích số 1 của tác
giả ở cuối sách.)
Nhưng thời gian tu hành
của người Thượng- phẩm hạ-sinh ở
thế giới Cực-lạc vô cùng lâu dài, mà cảnh
giới cư trú cũng rất xa xôi đối với
cảnh giới của người Thượng-phẩm
thượng-sinh và Thượng-phẩm trung-sinh, xin chư
vị hành giả hăy tự suy xét.
Cho nên người niệm
Phật cầu văng sinh về thế giới
Cực-lạc ở phương Tây, nếu không có
được pháp môn thù thắng nào, th́ nên chân thành
niệm Phật tŕ danh. Nếu may mắn được
nghe một phương pháp nào tốt hơn phương
pháp niệm Phật tŕ danh, th́ nên cầu phương pháp
thù thắng để được Thượng-phẩm
thượng-sinh; đừng lấy Thượng-phẩm
hạ-sinh hoặc Trung, Hạ-phẩm văng sinh mà cho là
đủ. Tâm rộng lớn th́ cái thấy cũng rộng
lớn. Điều gọi là “niệm
lớn thấy được Phật lớn”, hoàn toàn
không phải là niệm Phật to tiếng vậy.
Lại nữa, niệm pháp thân
Phật, không phải chỉ có một phương pháp
niệm Phật viên thông của Bồ-tát Đại
Thế Chí. C̣n có nhiều phương pháp cũng thuộc
về niệm pháp thân Phật, đều là pháp môn niệm
Phật vô tướng. V́ khuôn khổ hạn hẹp
của cuốn sách này, chỉ xin trích từ Kinh Tạng
Phật giáo, ghi ra đây một đoạn kinh văn
ngắn (Tạng Đại
Chánh, “Kinh Tập Bộ”, quyển 2) làm ví dụ,
để có thể thấy được phần nào:
“Này Xá
Lị Phất! Thế nào gọi là niệm Phật?
Thấy không có cái ǵ có, gọi là niệm Phật. Xá Lị
Phất! Chư Phật vô lượng, không thể nghĩ
bàn, không thể tính toán, do ư nghĩa đó, thấy không có
cái ǵ có, gọi là niệm Phật, gọi một cách chân
thật là không phân biệt. Chư Phật không có phân
biệt, cho nên nói ‘niệm không phân biệt tức là
niệm Phật’.
“Lại
nữa, thấy thật tướng của các pháp, gọi
là thấy Phật. Cái ǵ là thật tướng các pháp? Đó là các pháp đều không,
rốt ráo không có cái ǵ có. Đem cái pháp rốt ráo không, không
có cái ǵ có đó mà niệm Phật; ở trong cái pháp như
thế th́ một niệm mảy may cũng không thể
nắm bắt, cho nên gọi là niệm Phật.
“Xá Lị
Phất! Không thể lấy sắc mà niệm Phật, v́
sao? Tham sắc th́ giữ lấy tướng, tham vị là
thức. Không h́nh không sắc, không duyên không tánh, gọi là
niệm Phật. V́ vậy phải biết: không có phân
biệt, không giữ không bỏ, đó là chân thật
niệm Phật.
“Niệm
Phật là phá bỏ tất cả giác quán[24] về thiện và bất thiện, không giác
không quán, vắng lặng không tư tưởng, gọi là
niệm Phật. V́ sao? Không nên dùng giác quán để nhớ
nghĩ chư Phật. Không giác không quán gọi là thanh
tịnh niệm Phật.
“Khi ông
niệm Phật, đừng giữ một tư
tưởng mảy may nào, đừng có hí luận,
đừng khởi niệm phân biệt. V́ sao? V́ các pháp
đều không, không có thể tánh, không thể niệm
một tướng. Cái gọi là vô tướng, là chân
thật niệm Phật.”
Những điều trích lục
trên đều là cảnh giới niệm Phật thật
tướng. Nếu người Phật tử tỏ
ngộ tâm tánh, thấy Phật không có thân căn
tướng mạo, không có một tướng nào có
thể nắm bắt, mà tùy thuận chúng sinh tŕ danh niệm
Phật, th́ có thể nói câu: “Một
câu niệm Phật bao hàm tất cả sự lí.”
Nếu chưa thấy tánh mà cứ luôn luôn nói câu “Một câu niệm Phật bao hàm
tất cả sự lí”, th́ đó là vọng ngữ. V́
sao? V́ sự và lí của việc niệm Phật, cả hai
đều chưa hiểu biết rơ ràng. Pháp môn niệm
Phật vô tướng được đề cập
trong sách này chỉ là dùng pháp quyền nghi thiện xảo
để giúp hành giả đi từ hữu tướng
mà đến vô tướng; đến như một
số hành giả có căn lành, trí tuệ, lại gặp
được nhân duyên, mà một buổi sớm mai nào
đó chứng nhập được cảnh giới
niệm Phật thật tướng; sự kiện đó
cũng có thể xảy ra lắm!
Chương Hai
THIỀN TỊNH DUNG THÔNG,
THIỀN TỊNH SONG TU
I.
THIỀN TỊNH DUNG THÔNG
Ở thời ḱ mạt pháp,
thường có nhiều đệ tử Phật, nhân v́ tu
tập các pháp môn khác nhau mà sinh ra phê b́nh cao thấp, tranh
luận lẫn nhau; điển h́nh rơ nhất là các hành
giả tu Tịnh Độ và tu Thiền.
Một số người tu
thiền cho rằng, đại đa số những
người niệm Phật là tâm cầu hướng
ngoại, như cầu Phật, cầu Bồ-tát, chỉ
biết niệm Phật mà không biết nhiếp phục
ở trong tự thân, không biết khai mở Phật tánh
vốn có đầy đủ của ḿnh. Một số
người niệm Phật th́ cho rằng, người tu
thiền là tự cao, cuồng vọng, không biết pháp môn
niệm Phật có thể trùm khắp ba căn[25],
thu gồm cả lợi căn và độn căn.
Những người có thành kiến như vậy là
bởi v́ họ chưa từng vào sâu trong hai pháp môn
Thiền và Tịnh Độ, cho nên mới có sự
hiểu lầm; từ đó mà đưa đến
nội bộ gây chiến lẫn nhau, hoặc phê b́nh
lời qua tiếng lại, hoặc viết sách báo bút
chiến, vừa để cho người ngoài đàm
tiếu, vừa khiến cho những người mới
học Phật sinh thối tâm, quay sang đạo khác.
Đó là làm đứt mất huệ mạng của
người, tội rất lớn vậy. Đại sư Hoằng Nhất[26]
nói rất đúng: “Không thua
người xưa, gọi là người có chí; không
nhường người nay, gọi là người không có
độ lượng.” Kẻ hậu học này quan
niệm rằng, khi chưa hiểu rơ pháp môn tu tập
của người khác th́ không nên theo ư chủ quan của
ḿnh mà phê b́nh người ta. Chúng ta phải hiểu rơ,
hiểu sâu, và thực tế tu tŕ trong một thời gian,
chứng nhập chút ít vào cảnh giới rồi, mới
có thể với thành tâm thiện ư đem tŕnh bày kiến
giải của ḿnh cho người nghe.
Trong thời cận đại
có nhiều bậc cao tăng đại đức từng
cổ vũ cho thuyết “Thiền Tịnh song tu”,
nói rằng, Thiền và Tịnh Độ có thể dung thông
nhau. Rồi có một số người vừa nghe thế
liền sinh tâm nghi hoặc, bảo rằng, niệm
Phật phải chấp tŕ thánh hiệu, miệng
đọc tâm niệm; người tu quán th́ có h́nh
tượng của Phật. Nhưng thiền môn th́ lấy
cái không cửa làm cửa, tẩy trừ tất cả h́nh
tướng, chủ trương dứt tuyệt ngôn
ngữ, diệt hết tâm hành. Như thế th́ làm sao mà
dung thông nhau? Làm sao có thể song tu?
Thật ra, mối nghi hoặc
trên chỉ có trong tâm những người sơ cơ
mới bước vào cửa Phật. Nếu hành giả
đă có năng lực thâm nhập một môn, th́ sẽ phát
giác ra rằng, tất cả môn đều thông nhau, rốt
cuộc th́ tất cả đều không sai khác. Chúng ta có
thể nói như thế này: “Tất
cả các pháp môn tu hành đều chảy về thiền
định; tất cả kết quả tu hành đều
chảy về tịnh độ.” Phật pháp tuy có
đến tám vạn bốn ngàn pháp môn, nhưng mỗi
một pháp môn nào, đến chỗ tối hậu cũng
qui về định; nhân nơi định mà y vào bốn
thánh đế, tám chánh đạo, mười hai nhân duyên,
đệ nhất nghĩa đế v.v... để phát
huy, tự thấy Phật tánh, đoạn trừ phiền
năo.
Người niệm Phật
ở thế giới này, tu pháp môn niệm Phật mà
ngộ nhập Phật tánh là như thế; đới
nghiệp văng sinh[27]
về thế giới Cực-lạc, sau khi hoa sen nở
được thấy Phật nghe pháp mà chứng nhập
vô sinh nhẫn[28]
(xin xem
chú thích số 2 của tác giả ở cuối sách), cũng lại
như thế. Cho nên tất cả pháp môn tu hành đều
phải qui về thiền định.
Do đó, nói theo nghĩa rộng,
tám vạn bốn ngàn pháp môn, bao hàm cả các loại pháp môn
tịnh độ, đều thuộc trong phạm vi
thiền định, mà việc tu tŕ tám vạn bốn ngàn
pháp môn, chỉ cần có tu có chứng, th́ ít nhiều
cũng chứng được “duy tâm tịnh độ”.
Nếu đạt đến địa vị Vô-học (xin xem chú thích
số 3 của tác giả ở cuối sách) th́ an trú niết
bàn, là tịnh độ chân thật. Đến địa
vị đó rồi th́ tùy ư được sinh về ba
loại tịnh độ của chư Phật là Phàm-thánh
đồng-cư độ, Phương-tiện
hữu-dư độ, và Thật-báo trang- nghiêm độ.
Nếu chứng nhập quả vị Phật th́ tự an
trú nơi Thường-tịch-quang độ, là duy tâm
tịnh độ, là loại tịnh độ chân chính,
cứu cánh, không giống như ba loại tịnh
độ trước, là những tịnh độ do
chư Phật hóa hiện để hóa độ. Cho nên,
thiền định là phương pháp, mà tịnh
độ là kết quả. Đă hiểu rơ như thế
rồi th́ chẳng cần phải tranh chấp lẫn nhau
giữa Thiền và Tịnh Độ.
Đệ tử Phật tu
học thiền định ở thế giới này, đó
là con đường khó
đi, mà cũng là con đường chóng thành. Văng sinh
thế giới Cực-lạc là con đường dễ
đi, nếu người có đầy đủ công phu
niệm Phật vô tướng này, muốn văng sinh về
tịnh độ Cực-lạc, chỉ trong một
đời này có thể toại nguyện; nếu
đứng trên phương diện chứng đắc
cảnh giới giải thoát rốt ráo mà nói, người
văng sinh tịnh độ Cực-lạc phải cần
thời gian trội hơn mười, trăm, ngàn, vạn
lần đối với người tu hành ở thế
giới này. Nhưng vấn đề đó không thuộc
phạm vi của cuốn sách này, nên không đề cập
tới.
II.
NHỮNG VÍ DỤ ĐIỂN H̀NH
về
THIỀN TỊNH SONG TU
Thiền của đại
thừa đạt được cảnh giới giải
thoát rốt ráo là do khởi tâm ở chỗ vô trụ. V́
khởi tâm ở chỗ vô trụ cho nên sáu niệm
đều đầy đủ. – Sáu niệm là: niệm
Phật, niệm pháp, niệm tăng, niệm thí, niệm
giới, niệm thiên[29].
Trong sáu niệm này th́ Niệm Phật là đứng
đầu; và niệm Phật th́ thông với Tịnh
Độ, mà năm niệm kia cũng thông với Tịnh
Độ. Thiền của đại thừa đạt
được cảnh giới giải thoát rốt ráo,
tức là thấy rơ Phật tánh một cách trọn vẹn,
mới chứng nhập được tri kiến
Phật; nhân đó mà chứng được cảnh
giới “duy tâm tịnh độ”. V́ vậy cho nên Thiền
và Tịnh Độ có thể thông nhau.
Trong lịch sử Phật giáo
có rất nhiều vị thiền sư từng cổ xúy
pháp môn niệm Phật. Thực sự ra, người tham
thiền cũng nên lạy Phật và niệm Phật,
lấy đó làm phương tiện nhập môn; và cũng
không thiếu ǵ các tự viện của tông Tịnh
Độ từng đề xướng sinh hoạt tham
cứu niệm Phật. Như thiền sư Vĩnh Minh
Diên Thọ[30]
đề xướng tông chỉ “tông - giáo - thiền -
tịnh”. Lại như ngài Trường Lô Tông Trách[31]
đă do thiền mà ngộ nhập, liền chủ
trương Thiền Tịnh song tu, được
người đời xưng là Từ Giác đại
sư. Về Thiền tông, ngài trước tác bộ Thiền Uyển Thanh Qui,
gồm 10 quyển; về Tịnh Độ tông ngài cũng
có nhiều tác phẩm, như Tịnh
Độ Giản Yếu Lục, trong đó ngài chủ
trương “Niệm Phật
tham thiền, mỗi pháp đều cầu tông chỉ. Khe,
núi tuy khác; mây, trăng là đồng. Có thể nói, cây xanh
khắp nơi đều có thể buộc ngựa,
mọi người khắp chốn đều có thể
thấy rơ thành Trường-an.”
Nổi tiếng hơn hết là
thiền sư Vân Thê Châu Hoằng[32]
ở cuối đời Minh, từng được
những người tu niệm Phật tôn xưng là Liên Tŕ
đại sư. Trong bài “minh”[33]
ở tháp của đại sư Liên Tŕ có ghi: “Một bầu nước,
một cây gậy, ngài vân du các nơi, tham học chư
vị tri thức. Lên núi Ngũ-đài ở phía Bắc,
được đức Văn Thù cảm ứng phóng hào
quang. Đến núi Phục-ngưu theo chúng trị ma. Vào
kinh sư yết kiến thiền sư Tiếu Lănh
Đức Bảo[34]. Thiền sư Tiếu Lănh nói: ‘Quái!
Ngươi từ ngoài ba ngàn dặm đến cầu ta
khai thị. Ta có ǵ khai thị?’
Ngài bèn từ tạ và đi về hướng Đông,
giữa đường nghe tiếng trống phát ra từ
một căn nhà sàn của người tiều phu, hốt
nhiên đại ngộ! Ngài liền nói bài tụng rằng:
Hai mươi năm trước việc c̣n nghi
Ngàn dặm
gặp nhau thật lạ ḱ
Ném kích
đốt hương[35]
toàn giấc mộng
Phật
ma không luận thị cùng phi
Cả ư
niệm về giáo pháp và giác ngộ đều triệt
tiêu, qui về tâm vô sở đắc. Ban đầu ngài
khởi bước vân du, từ nơi công phu tham cứu
niệm Phật là có được năng lực;
đến đây bèn khai pháp môn Tịnh Độ, nhiếp
hóa cả ba loại căn tánh. Ngài trước tác bộ Di Đà Sớ Sao, gồm đến mười vạn lời,
để cực lực cổ xúy cho chủ trương
của ḿnh, là dung hội sự lí, chỉ qui về tâm. Ngài
lại nhớ ngày trước có xem tác phẩm Cao Phong
Ngữ Lục[36], thấy rằng, từ khi tham
cứu việc này cho đến nay, cái tinh nhuệ
nhất, không ǵ trội hơn sự đào luyện
thuần thục của thiền sư Cao Phong[37]; đó là hướng vào nội
tâm mà cầu đạo. Ư của ngài lúc đó là gom nhập
Khuông-sơn và Vĩnh-minh[38] làm một, lại sao lục những
lời nói khẩn yếu trong lúc gặp cơ duyên của
chư vị cổ đức, biên thành sách Thiền Quan
Sách Tấn, đồng
thời cho khắc lên đá, nêu những khẩu quyết
cho người tham cứu, nêu rơ chủ trương
Thiền Tịnh song tu, không ra ngoài một tâm.”
Từ những ghi chép trên, có
thể thấy đại sư Liên Tŕ, từ lúc ban
đầu do tham cứu niệm Phật mà có
được năng lực, rồi lại do tham
thiền mà chứng nhập lí tánh; nhân đó mà đề
xướng chủ trương “Thiền Tịnh song tu”,
soạn sách Di Đà Sớ Sao
gồm mười vạn lời, làm cho các hành giả
Tịnh Độ chan chứa niềm vui đạo
vị; một tác phẩm trọng yếu khác của ngài là
Thiền Quan Sách Tấn, th́ “Trong đời sống, đi
th́ mang đăy, ở th́ đặt án, một lần xem th́
tâm chí được khích lệ, thần thái tươi
tỉnh, ở cái thế bắt buộc phải tiến
tới trước.” Suốt một đời, ngài y
theo sách Thiền Quan Sách Tấn
ấy để tự thúc đẩy ḿnh tiến tới
cảnh giới giải thoát rốt ráo. Tác phẩm trứ
danh ấy cũng c̣n được chư vị thiền
giả đời sau rất mực tôn sùng.
Ngài Vân Thê Châu Hoằng đă
đem kiến giải của một vị thiền sư
mà đề xướng pháp môn “Thiền Tịnh song tu”,
không những cổ xúy phương pháp tŕ danh niệm
Phật – gọi là “sự tŕ”,
mà cũng c̣n đề xướng phương pháp tham
cứu niệm Phật – gọi là “lí tŕ”; như dạy người tham cứu câu “Niệm Phật là ai?”, đó
tức là Thiền Tịnh song tu. Những vị
được hành giả tu Tịnh Độ tôn làm
tổ sư trọng yếu của tông Tịnh Độ,
như thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ thuở
trước, cũng như vậy, tức là do kinh
nghiệm tu chứng của một thiền sư mà
thấy biết sâu xa cái đạo lí “tất cả các pháp
môn tu hành đều chảy về Thiền Định,
tất cả các kết quả của công phu tu hành
đều chảy về Tịnh Độ”; cho nên
biết rằng, Thiền Tịnh có thể thông nhau.
III. SƠ
LƯỢC về THIỀN TỊNH SONG TU
Nếu người niệm
Phật, từ chỗ lạy Phật và xưng niệm
danh hiệu Phật mà tiến vào cảnh giới vô
tướng niệm Phật, muốn tu Lăng-nghiêm
đại định[39],
cần phải có sẵn những kiến thức về tu
định, đồng thời phải đọc kĩ
kinh Lăng Nghiêm; trong
mọi hoạt động của đời sống
hằng ngày đều niệm Phật vô tướng, và
mỗi ngày cũng nên chọn một thời giờ cố
định để tĩnh tọa niệm Phật vô
tướng. Đợi đến khi hai chướng
sự và lí[40]
đều tiêu trừ th́ tự nhiên dần dần vào sâu
Lăng Nghiêm đại định, chứng đắc các
loại niệm Phật tam muội (xin xem chú thích số 4 của tác
giả ở cuối sách).
Có những người niệm
Phật hoặc tŕ chú khác, trong mọi sinh hoạt hằng
ngày, trong tâm chấp tŕ danh hiệu Phật hoặc một
thần chú cố định, niệm niệm không quên lăng,
đồng thời cũng chọn một thời gian
cố định trong ngày để tĩnh tọa, từ
một đến hai giờ đồng hồ, trong lúc
ngồi th́ chắp tay hoặc bắt ấn, chuyên tụng
danh hiệu Phật hoặc câu chú; lúc đầu th́
miệng tụng tai nghe, tâm ư theo sát danh hiệu Phật
hoặc câu chú, không gấp gáp, không chậm răi, chuyên chú
xưng niệm; tâm tán loạn dần dần tập trung,
an định, thư thái, tự tại, không bị cái ǵ
níu kéo, cũng không vướng mắc vào cái ǵ.
Người có trí tuệ, lúc bấy giờ trong miệng
vẫn an tường tụng niệm không ngừng, mà trong
tâm th́ không c̣n nhớ tới tiếng niệm Phật hay
tụng chú, dần dần tiến vào trong định (lúc
vào không biết vào, đến lúc ra mới biết là ḿnh
vừa vào định), mất hẳn cái ư niệm về
thời gian và không gian. Lúc bấy giờ tuy trong miệng
vẫn niệm Phật tụng chú, mà sự thật th́ tâm
đă vào định. Cũng có người niệm
Phật tŕ danh, vào lúc chỉ tịnh[41],
tâm niệm và tâm nghe tập trung làm một, danh hiệu
Phật không khởi, an trụ nơi một niệm
tương tục là nhớ Phật, cuối cùng th́
mất hết dấu vết mà vào định. Cảnh
giới này cũng là định lực đầy
đủ, mà chỉ có những người đă chuẩn
bị đầy đủ tri kiến về tu
định mới có thể thực tập
được. Đạt đến tŕnh độ này th́
Tịnh Độ đă thông với Thiền Định.
Những điều vừa tŕnh
bày trên, vẫn chỉ là “sự nhất tâm” và thứ
lớp của định; “lí nhất tâm” th́ tương
ưng với chân lí, cũng tức là chính ḿnh thấy rơ
Phật tánh (tự tánh) ḿnh vốn có đầy đủ.
Điều mà người ta gọi là “Di Đà tức là tự tánh, Tây-phương không
rời gang tấc”, cái cảnh giới “tự tánh Di
Đà, duy tâm Tịnh-độ” tự nhiên hiện bày
trước mắt; đó chính là cái cảnh giới
chứng ngộ của Thiền. Nếu không thực
tập pháp môn “Thiền Tịnh song tu” th́ không thể nào
đạt đến được. Hành giả, bất
luận là tham thoại đầu, công án, hay cơ phong[42],
hoặc do ở sự tham cứu niệm Phật mà
chứng nhập chân lí, th́ bản chất của tất
cả các loại công phu ấy vẫn là thiền. Tuy cách
thức phát khởi thiền của các loại công phu
ấy không giống nhau, nhưng cái cảnh giới
chứng nhập sau khi đă lên địa vị
Kiến-đạo, hoàn toàn không khác; mà cái quá tŕnh tham
cứu để chứng nhập chân lí cũng không sai
khác. Bởi vậy mà chủ trương Thiền và
Tịnh Độ bổ sung cho nhau, trợ giúp cho nhau, không
cần phải phân biệt cái kia với cái này.
Sau đây xin chép lại một
đoạn nguyên văn trong quyển 3 của bộ Di Đà Sớ Sao của
thiền sư Vân Thê Châu Hoằng (tức Liên Tŕ đại
sư), hành giả có thể do đây mà có một cái nh́n toàn
diện:
“Thể
cứu nghĩa là nghe danh hiệu Phật, không những
chỉ có nhớ nghĩ, mà c̣n phải quán sát ngược
lại chính ḿnh, xem xét kĩ càng, thấy rơ nguồn
cội. Xem xét đến chỗ cùng cực th́ tự nhiên
khế hợp với bản tâm ḿnh. Nếu bảo danh hiệu
Phật là có, th́ cái tâm
‘năng niệm’, bản thể vốn không, cho nên Phật
mà ḿnh niệm, hoàn toàn không thể nắm bắt
được. Nếu bảo là không, th́ cái tâm ‘năng niệm” sáng suốt, không
mơ hồ, cho nên Phật mà ḿnh niệm, hiển lộ rơ
ràng. Nếu bảo là cũng
có cũng không, th́ cả có niệm và không niệm
đều chấm dứt. Nếu bảo là chẳng phải có chẳng
phải không, th́ cả có niệm và không niệm
đều tồn tại. Chẳng phải có th́
thường vắng lặng; chẳng phải không th́
thường chiếu soi; không phải cũng có cũng không, không phải chẳng phải có chẳng phải không, th́ không
vắng lặng không chiếu soi, mà vừa chiếu soi
vừa vắng lặng. Dứt đường ngôn
thuyết, tuyệt đường tư duy; không làm sao
khởi được tên, hiện được
tướng, cho nên chỉ có ‘nhất
tâm’. Do thấy được chân lí mà gọi là ‘lí nhất tâm’ vậy.
Tuệ có năng lực soi vọng; kèm thêm định th́
soi vọng vốn không, vọng tự điều phục.
Lại nữa, chiếu soi có thể phá trừ vọng,
không phải chỉ điều phục mà thôi.”
Lại một đoạn khác: “Hai chữ tham và nghi, không cần
phải phân giải. ‘Nghi’ là tên khác của tham, đều
là cái ư xem xét kĩ càng. Nhưng, khán câu ‘Niệm Phật
là ai?’, th́ lấy sự
chứng ngộ làm chuẩn tắc mới thôi. Lại
nữa, cổ nhân nói rằng: Khán thoại đầu, không
nên đoán ṃ, bóp méo, cũng không được ném vào trong
cái vỏ vô sự[43]. Chỉ ‘nh́n như vậy’.
Đó là lời nói cốt yếu vậy.”
Những lời dạy của
đại sư Liên Tŕ về tham cứu niệm Phật
và thể cứu niệm Phật vừa được ghi
lại ở trên, từ lúc khởi đầu tham cứu
câu “Niệm Phật là ai?”,
cho đến khi cảnh giới giác ngộ hiện ra
trước mắt, th́ ở cái khoảng giữa Thiền
và Tịnh Độ hiển bày, là vô cùng mật thiết.
Bất luận là từ niệm Phật mà ngộ nhập,
hoặc do tham thiền mà ngộ nhập, bản chất
của chúng đều là Thiền. Bất luận là ở
nơi thế giới này niệm Phật mà ngộ
nhập, hoặc sau khi văng sinh về thế giới
Cực-lạc được nghe Phật và Bồ-tát
thuyết pháp mà ngộ nhập, th́ bản chất của
chúng vẫn không ǵ khác hơn là Thiền. Và cái cảnh
giới giác ngộ của hai con đường đó
cũng chỉ là một, không hai, không khác.
Chương Ba
TRI KIẾN PHẢI CÓ KHI TU TẬP PHÁP MÔN
NIỆM PHẬT VIÊN THÔNG của BỒ TÁT
ĐẠI THẾ CHÍ
I. PHÁP MÔN
NÀY LÀ PHÁP MÔN TU ĐỊNH,
KHÔNG
PHẢI LÀ PHÁP MÔN TR̀ DANH
Pháp môn Niệm Phật Viên Thông của Bồ-tát
Đại Thế Chí là một loại pháp môn tu định. Mượn
phương pháp tu định để tu tịnh
độ, làm cho pháp môn tịnh độ đă trực
tiếp lại hữu hiệu. (Xin xem chú thích số 5 của tác
giả ở cuối sách.)
Thông thường những
người tu pháp môn tịnh độ, đa phần là tu
“tŕ danh niệm Phật”, tức là phương pháp niệm
danh hiệu Phật ra tiếng hay mặc niệm.
Xướng niệm không ngừng, cho đến khi
đạt tới chỗ không c̣n vọng niệm, vọng
tưởng, mà chỉ c̣n có danh hiệu Phật, nhất
tâm nhớ tới danh hiệu Phật, gọi là “sự nhất tâm”. Phần
đông những người tŕ chú cũng vậy.
Vậy mà, 25 vị Bồ-tát
trong kinh Lăng Nghiêm, khi nói
về pháp môn tu hành viên thông của chính ḿnh, không có pháp môn
nào mà không phải là pháp môn tu định. Mỗi một
pháp môn của các ngài đều có thể giúp cho hành giả
tự ḿnh thấy được Phật tánh, chứng
được lí nhất tâm,
nhập được cảnh giới giải thoát
rốt ráo “năm uẩn đều không”; cho nên gọi là
“pháp môn viên thông”. Trong 25 pháp môn của 25 vị Bồ-tát
trên, th́ pháp môn thứ 24, cũng tức là “Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên
Thông Chương”, trong đó đức Bồ-tát
Đại Thế Chí tŕnh bày về pháp môn Niệm Phật Viên Thông, mà toàn văn của
chương này, không có chỗ nào nói đến việc “tŕ
danh niệm Phật”. Từ đầu đến cuối
đều nói đến “nhớ”,
nói đến “niệm”, mà
không nói đến “tŕ danh hiệu Phật”, hay “đọc danh hiệu Phật”. Ngay cả ở cuối
chương cũng chỉ nói đến cái cảnh
giới “thu nhiếp sáu căn,
tịnh niệm tiếp nối” để “nhập tam ma địa” mà
thôi.
V́ sao vậy? Nhớ là không tên tuổi, không h́nh tướng. Niệm là không danh hiệu,
không âm thanh. Nếu có danh hiệu và âm thanh th́ trở thành
đọc Phật hiệu, hay xướng Phật
hiệu. Bởi vậy mà toàn văn của chương “Niệm Phật Viên Thông”
đă không nói đến “tŕ danh niệm Phật”, mà chỉ
nói “nhớ Phật, niệm Phật”.
Ví dụ như khi niệm
Phật, miệng xướng tụng Phật hiệu th́
thiệt căn (lưỡi) phải chuyển động.
Lại nhân xướng tụng Phật hiệu mà ngực
và bụng phải điều khiển hơi thở ra vào,
đó là thân căn chuyển động; và tị căn
(mũi) cũng chịu tác động dây chuyền. Lại
nữa, miệng tụng đọc th́ tâm ngưng
đọng để lắng nghe, và như thế tức
là nhĩ căn (tai) chuyển động. Các căn đă
động th́ ư căn không thể không động. Như
thế th́ không thể bảo là “thu
nhiếp sáu căn”, lại cũng không thể nói
được là “tịnh
niệm tiếp nối”. Nếu mặc niệm Phật
hiệu ở trong tâm, đồng thời nhớ nghĩ
đến Phật, th́ năm căn mắt, tai, mũi,
lưỡi và thân tuy không động, nhưng ư căn th́
c̣n động. Ngay trong khi Phật hiệu ở trong tâm
được xướng niệm liên tục, th́ sự
thật, đó là lúc cái vọng niệm đơn giản
được lặp đi lặp lại ở trong tâm.
Nếu đọc “A Di Đà
Phật”, th́ một câu Phật hiệu ấy có bốn
niệm, bốn âm thanh. Đă có bốn niệm và bốn âm
thanh được lặp đi lặp lại không
ngừng ở trong tâm, th́ biết rằng, ư căn vẫn
chưa được thu nhiếp vào chỗ bất
động. Ư căn đă chưa được thu
nhiếp vào một niệm mà bảo tŕ không dứt, th́
không thể bảo là “thu
nhiếp sáu căn, tịnh niệm tiếp nối”.
Điều được
gọi là “tịnh niệm
tiếp nối”, là chỉ cho mỗi niệm ở trong
tâm đều là niệm thanh tịnh; nếu suy nghĩ
về chuyện thế tục th́ không phải là tịnh
niệm. Dù cho suy nghĩ đến việc thiện, pháp
thiện, thậm chí suy
nghĩ về Phật pháp, đều không thể gọi là
tịnh niệm. Từ những tri kiến của tu
định mà nói, phàm tất cả ngôn ngữ, văn
tự, h́nh tướng, đều là vọng niệm, không
gọi là tịnh niệm. Phải xa ĺa tất cả ngôn
ngữ, văn tự, h́nh tướng để nhớ
Phật, niệm Phật, th́ cái niệm đó mới gọi
được là tịnh niệm. Cái tịnh niệm
nhớ Phật niệm Phật như thế đó, cứ
được nối tiếp không gián đoạn, gọi
là “tịnh
niệm tiếp nối”. Nếu cái tịnh niệm
ấy có lúc bị gián đoạn, rồi lại
được tiếp tục, cũng không thể gọi
là “tịnh niệm tiếp
nối”, mà chỉ được gọi là “tịnh
niệm đứt nối”. Cho dù chỉ bị gián
đoạn trong một giây, hoặc nửa giây, cũng
chỉ có thể gọi là “tịnh
niệm đứt nối” mà thôi. Muốn
được nhập vào tam ma địa (định),
không những cần phải thu nhiếp sáu căn, mà c̣n
phải có được tịnh niệm tiếp nối,
mới thành công. Cho nên, thu nhiếp sáu căn, tịnh
niệm tiếp nối, chính thực là ĺa tướng, là “vô
tướng” vậy.
Ở đây lại xin dẫn
một câu khác ở trong kinh Đại
Bảo Tích để được sáng tỏ thêm: “Vô tướng nghĩa là không có
thân và hành động của thân, không có tên gọi, không có
câu nói, cũng không hiện bày.” Phàm tu tập pháp môn Niệm Phật Viên Thông
của Bồ-tát Đại Thế Chí, xin hăy đem cái tri
kiến này mà thâm nhập, lănh hội toàn diện pháp môn.
Cứ y nơi mặt chữ mà
giải thích, “vô tướng”
nghĩa là không có sắc thân, lại không có nhân nơi
sắc thân mà có tất cả những bày hiện của
tư duy, phép tắc, không có ngôn ngữ, văn tự, danh
cú, không có các biểu thị của ư tứ để cho
người ta có thể thấy biết.
Nói rơ hơn, chúng ta đang ở
trong thế gian vật chất này, có nhiều loài khác nhau,
như người, các loài bàng sinh, tất cả sinh
mạng vô t́nh và sinh mạng ở giữa hai loại chúng
sinh hữu t́nh và chúng sinh vô t́nh (tạm thời không bàn
tới bốn loài trời, a-tu-la, địa-ngục,
ngạ-quỉ); rồi giữa loài người với nhau
th́ tướng mạo bề ngoài mỗi mỗi
đều khác nhau; rồi các loài chúng sinh hữu t́nh cùng
chúng sinh vô t́nh, giữa các đồng loại của chúng,
tướng mạo h́nh thù đều khác nhau; tất
cả đều do nguyên nhân là có sắc thân vậy.
Nếu không có sắc thân th́ không có h́nh tướng biểu
hiện; đă không có h́nh tướng biểu hiện th́
tức là “vô tướng”.
Ở trong thế gian vật
chất này, tất cả những bày hiện của
biểu tướng, hành vi, phù hiệu, tư duy, phép
tắc, đều do nơi sắc thân mà có. Nếu không có
sắc thân tồn tại trong thế gian vật chất
này, th́ tất cả mọi biểu tướng
đều không tồn tại; đă không có sắc thân cùng
biểu tướng, th́ mọi hành vi, phù hiệu, ngôn
ngữ, tư duy, phép tắc, đều không tồn
tại ở thế gian. Các cơi trời Dục giới (xin xem chú thích
số 6 của tác giả ở cuối sách) – tức phần
nhiều ngoại giáo gọi là thiên đường, thiên
quốc v.v..., cũng vậy.
Trong thế gian vật chất
này, tất cả ngôn ngữ, bao quát cả các thứ âm
thanh, tín hiệu của các loài bàng sinh, đều nhân có
sắc thân tồn tại mà hiện bày, để tiện
cho đồng loại hoặc các loài khác biểu thị ư
tứ và thông hiểu nhau. Nhân có văn cú mà liền có tư
duy; nhân có tư duy mà có phép tắc; phát triển măi cho
đến về sau bèn có văn học, thần học,
khoa học, nghệ thuật, h́nh nhi thượng học[44],
v.v... tất cả các ngành học vấn ở thế gian
hiện bày. Nhân v́ có sắc thân mà có luyến ái, có tranh
chấp; từ đó, ở thế gian, v́ phải giải
quyết những tranh chấp do tham ái phát sinh, mà chế
định các phép tắc; những phép tắc này cứ
diễn tiến măi, dần dần trở thành pháp luật.
Bởi vậy, tất cả các
pháp tướng ở thế gian như ngôn ngữ, văn
cú, danh tướng, tư duy, phép tắc v.v..., sở dĩ
được sinh thành, tồn tại, biến hóa,
đều do cái nhân trồng nơi sắc thân mà hiện
bày ra. Tất cả những ngôn ngữ, văn cú, danh
tướng, tư duy, phép tắc ấy sở dĩ
tồn tại là v́ một mục đích: biểu thị ư tứ. Mà sự biểu thị
của ư tứ được tồn tại là nhân v́ có
sắc thân vậy. Thế gian vật chất là như
thế, sáu cơi trời Dục giới cũng là như
thế. Chư Phật phần nhiều ở tại nhân
gian mà thành Phật, lí do là như vậy. Nếu không thành
Phật ở tại nhân gian, mà thành Phật ở các cơi
trời Dục giới, th́ chỉ có thể hóa độ
cho chúng sinh ở các cơi trời Dục giới (gồm
chư vị thiên chúa, thiên thần và thiên chúng) mà thôi. Không hiển
thị ở nhân gian th́ rất khó hóa độ cho chúng sinh
ở nhân gian. Hơn nữa, chúng sinh ở các cơi trời
Dục giới tham đắm nặng nề thú vui ngũ
dục, hóa độ rất khó; nếu thành Phật ở
nhân gian th́ hóa độ cho chúng sinh ở nhân gian dễ dàng
hơn, v́ chúng sinh ở đây được trực
tiếp thấy nghe cung kính, mà chư thiên ở các cơi
trời Dục giới và Sắc giới, nếu có duyên
lành, cũng được hóa độ ngay tại nhân
gian. Bởi vậy, chư Phật đều thành Phật
ngay tại nhân gian, v́ nhân gian có sắc thân và các biểu
hiện của sắc thân như ngôn ngữ, văn cú, danh
tướng, tư duy, phép tắc.
Do sự giải thích sơ
lược đoạn kinh văn ở trên mà biết
được rằng: Nếu xa ĺa sắc thân cùng
những hiện bày của sắc thân, ngôn ngữ, văn
cú, và những biểu thị của ư tứ, th́ tức là “vô tướng”. Mà pháp môn Niệm Phật Viên Thông này,
cái cảnh giới được gọi là “nhớ Phật niệm Phật,
thu nhiếp sáu căn, tịnh niệm tiếp nối”,
không có sắc thân, ngôn ngữ, văn cú, phù hiệu, cùng
những biểu hiện của sắc thân v.v..., cũng
không có pháp ǵ thị hiện để cho người khác
thấy biết. Trừ phi người niệm Phật vô
tướng ấy mượn sắc thân và ngôn ngữ,
văn cú, cùng những biểu hiện của sắc thân
như tư duy và phép tắc, để chỉ bày cho
người khác cái cảnh giới cùng phương pháp
của cách niệm Phật này, nếu không th́ người
khác không biết nhờ đâu mà được hiểu
biết. Mà cảnh giới của loại niệm Phật
vô tướng ấy mới chính là cảnh giới chân
thực của pháp môn Niệm
Phật Viên Thông của đức Bồ-tát Đại
Thế Chí.
II.
MỘT CHÚT THANH MINH
và MỘT
VÀI KHÍCH LỆ
Để tu tập thành công pháp
môn này, hành giả phải cần thời gian dài hay
ngắn? Muốn biết chắc điều đó, hăy nên
xét kĩ xem, đối với nội dung sách này, hành
giả hiểu được sâu hay cạn, và có y như
cách thức mà tu tập hay không. Nếu hiểu rơ hoàn toàn
những lời nói trong sách này, và y theo đó mà tu tập,
đối với người b́nh thường mà nói,
ước chừng từ hai đến sáu tháng th́ có
thể lănh hội được pháp môn Niệm Phật Vô Tướng; nếu là hạng
người lợi căn, hoặc đă có sẵn công phu
trong động, th́ một khi nghe qua liền lănh hội.
Theo kinh nghiệm của kẻ
hậu học này, bắt đầu từ ngày 3.9.1991,
tại hai đạo tràng khác nhau –
một là đạo tràng tu thiền nọ của Kim
Dung Cơ Cấu Phật Học Xă tại Đài-bắc; một
là thiền đường do ông bà Trần cư sĩ xây
dựng ở Thạch-bài – tôi đă giảng thuật cho 30
đạo hữu cùng tu, kết quả, trong ṿng 6 tuần
lễ, có 2 vị tu tập thành công. Sau đó cũng
lần lượt có vị tu tập thành công. So ra th́ các
đạo hữu ở Thạch-bài thành công nhiều
hơn, nguyên do là v́ quí vị ở đó tu hành như
thật. Quí vị ấy tuy học Phật muộn màng,
thể hội chậm chạp, nhưng ḷng tin tràn
đầy, tu tŕ với tâm trong trắng, và sau 3 tháng th́ tu
tập thành công. Về sau lại có một vài đạo
hữu, nhân nghe băng ghi âm giảng giải về pháp môn
Niệm Phật Viên Thông, đồng thời đọc bài
văn “Đàm Vô Tướng
Bái Phật dữ Vô Tướng Niệm Phật” (Bàn
về pháp môn lạy Phật vô tướng và niệm
Phật vô tướng), rồi siêng năng hành tŕ, và
cũng trong 3 tháng th́ tu tập thành công. Trong ṿng 4 tháng
cuối năm (1991), có cả thảy 9 vị tu tập thành
công. Hỏi những vị từng đến nghe giảng
pháp môn này nhưng chưa tu tập thuần thục, th́
biết rằng, nhân v́ phần đông quí vị này vốn
không thích pháp môn phương tiện của buổi ban
đầu là lạy Phật và
tŕ danh niệm Phật, mà bây giờ th́ cũng chưa tu
tập một cách đúng mức, cho nên chưa có thể
thành thục.
Mùa hè năm 1989, tại một
tự viện nọ, kẻ hậu học này từng
tặng cho một số vị cư sĩ tu thiền bài
đoản văn “Đàm Vô
Tướng Bái Phật dữ Vô Tướng Niệm
Phật”. Một trong các vị đó, v́ không thích lạy
Phật, đă đem bỏ bài đoản văn ấy
nơi một góc nào đó trong chùa. Có một người
thiện căn sâu dầy, khi nhận tờ nguyệt san do
chùa đó phát hành, thấy trong tờ nguyệt san ấy có
cặp theo bài đoản văn kia, bèn đọc.
Đọc xong th́ vô cùng vui mừng, liền y theo bài văn
mà tu tŕ, chẳng bao lâu đă thành thục; tự ḿnh có
khả năng tham thoại đầu, thường trú
trong câu nghi vấn thiền. Đó là người
đầu tiên chỉ y cứ vào một bài đoản
văn mà tu tập thành công pháp môn Niệm Phật Vô
Tướng.
Đến như người
b́nh thường niệm Phật, chỉ xin cần hết
sức kiên nhẫn, đọc quyển sách này thật
kĩ càng. Chớ nên v́ cái cảnh giới niệm Phật
vô tướng vừa thuật ở trước khó
tưởng tượng, mà cho rằng rất khó tu tŕ,
rồi sinh nản ḷng. Nên biết rằng, những
người tu tập thành công pháp môn Niệm Phật Vô
Tướng đă được nói tới ở
trước, đa số là những người niệm
Phật. Do đó có thể thấy, người niệm
Phật có nhân duyên rất sâu với pháp môn Niệm Phật
Viên Thông của đức Bồ-tát Đại Thế Chí.
Nếu hành giả đă có công phu tŕ danh niệm Phật,
lại gặp đúng lúc được tu pháp môn này, càng
dễ thành tựu hơn so với những người
chưa từng niệm Phật. Một lúc nào đó tu
tập thành công, lại tiếp tục duy tŕ hộ
niệm, th́ đến giờ phút lâm chung, muốn sinh
về thế giới Cực-lạc, đó là điều
cầm chắc trong tay.
Viết đến đây,
gặp ngày 5.2.1992 (tức ngày Mồng 2 tháng Giêng âm
lịch), trong số 30 đạo hữu cùng tu, đă có 12
vị thành tựu công phu niệm Phật vô tướng; 6
vị trong số đó đă tiến vào giai đoạn “tham thoại đầu” (có 4
vị thường khởi nghi t́nh[45]).
Trong 6 vị tham thiền này th́ chỉ có một vị
nguyên gốc học thiền, c̣n 5 vị kia đều là
người tŕ danh niệm Phật.
Có 6 vị khác chưa đến
giai đoạn tham thiền, vẫn c̣n tiếp tục tu
niệm Phật vô tướng, mà nguyên gốc đều
là những người tŕ danh niệm Phật. Có vị
muốn trọn đời tu niệm Phật vô
tướng; sau khi thâm nhập pháp môn Niệm Phật Viên
Thông của Bồ-tát Đại Thế Chí, lúc xả
bỏ báo thân sẽ cầu sinh về tịnh độ
Cực-lạc. Có vị muốn tiếp tục dùng
phương pháp lạy Phật và niệm Phật vô
tướng để tăng cường cho công phu trong
động, rồi sau đó mới tham thiền. Có vị
lại chọn phương pháp tham cứu niệm
Phật. Hầu hết 6 vị ấy sẽ có lúc phát
khởi nghi t́nh, trở thành tham cứu niệm Phật,
rồi nhân đó mà có lúc sẽ tiến đến giai
đoạn thiền quán. Do đó có thể thấy, pháp môn niệm Phật vô tướng
là loại công phu trong động mà người tham
thiền và người niệm Phật đều cực
lực thọ dụng; chư vị hành giả nên có cái
nh́n chính đáng đối với nó. C̣n các vị khác tu
tập chưa thành công, về sau cũng nhân xây dựng
được ḷng tin mà bắt đầu luyện
tập, trước mắt lần lượt đă
thấy có tiến bộ.
Bởi vậy cho nên, bất luận là người tu thiền, hay tu tịnh độ niệm Phật, nếu chịu khó đọc kĩ quyển sách này, thể hội tri kiến và phương pháp tu tŕ, tinh tấn và bền chí luyện tập mỗi ngày, th́ có thể trong ṿng từ 2 đến 6 tháng là đạt được kết quả. Nếu như một ngày đánh cá, ba ngày phơi lưới, th́ có muốn thu hoạch cũng không có ǵ để thu hoạch.
III. TINH
NGHĨA của PHÁP MÔN
NIỆM
PHẬT VIÊN THÔNG
(BÀN TIẾP về TRI
KIẾN – 1)
V́ sao pháp môn Niệm Phật Viên
Thông của Bồ-tát Đại Thế Chí lại là pháp môn
niệm Phật vô tướng?
Kẻ hậu học này, sau khi
đă bàn về “tri kiến”, sẽ lại tŕnh bày như
thế nào là các loại phương tiện thiện
xảo dùng để tu tập pháp môn Niệm Phật Viên
Thông của Bồ-tát Đại Thế Chí, nhằm giúp hành
giả y như phương pháp để thể nhập
vào cảnh giới mà pháp môn này nói tới. Nhưng
trước hết, xin quí vị hành giả hăy bền chí,
hiểu rơ tường tận về “tri kiến”,
để khỏi dụng công lầm lẫn mà uổng phí
tinh thần và khí lực.
Phàm những người tu pháp
môn Niệm Phật Viên Thông của Bồ-tát Đại
Thế Chí, đều nên đem cái niệm “tưởng niệm” mà niệm Phật, chứ
không phải là miệng niệm ra lời. Trong pháp hội
Lăng- nghiêm, đức Bồ-tát Đại Thế Chí
đă vâng mệnh đức Thế Tôn, tŕnh bày pháp môn tu
tập viên thông của ngài như sau:
“Tôi
nhớ hằng hà sa kiếp xưa, có đức Phật ra
đời tên là Vô Lượng Quang. Mười hai
đức Phật nối tiếp nhau ra đời trong
một kiếp[46], mà đức Phật sau cùng tên là Siêu Nhật
Nguyệt Quang. Đức Phật ấy đă dạy tôi
pháp ‘niệm Phật tam muội’. Ví như có một
người chỉ chuyên nhớ, c̣n một người
chỉ chuyên quên, th́ hai người này tuy gặp nhau mà không
phải gặp nhau, tuy thấy nhau mà không phải thấy
nhau. Nếu hai người nhớ nhau, sự nhớ
nghĩ đến nhau ấy giữa hai người ngày
càng sâu sắc, cứ như thế từ đời này
sang đời khác, khắng khít như h́nh với bóng, không
ngang trái nhau. Chư Phật mười phương
thương nhớ chúng sinh như mẹ nhớ con,
nhưng nếu con cứ trốn tránh th́ mẹ tuy
thương nhớ mà có làm được ǵ! Nếu con
nhớ mẹ cũng giống như mẹ nhớ con, th́
mẹ con suốt đời không xa cách nhau. Nếu tâm chúng
sinh nhớ Phật tưởng Phật, th́ đời này
và đời sau nhất định được
thấy Phật, không cách xa Phật; không cần phải
nhờ phương tiện mà tâm tự sáng. Như
người ướp hương th́ thân tự có mùi
thơm, như thế gọi là ‘hương quang trang nghiêm’[47]. Từ khi tu hành, tôi dùng tâm niệm Phật mà
nhập vào pháp ‘vô sinh nhẫn’; nay ở thế giới này
để nhiếp hóa những người niệm
Phật, tiếp dẫn họ sinh về
Tịnh-độ. Phật hỏi về ‘viên thông’, tôi không
chọn lựa[48]; thu nhiếp hết sáu căn, tịnh
niệm tiếp nối, nhập vào chánh định, đó
là bậc nhất.”
Do đoạn kinh văn trên mà có
thể biết, đức Bồ-tát Đại Thế Chí,
từ vô số kiếp về trước, nhân
được đức Phật Siêu Nhật Nguyệt
Quang dạy cho pháp môn niệm
Phật tam muội, ngài bèn y theo chỉ một pháp môn
ấy mà tu tŕ cho đến ngày nay. Bây giờ ngài đang
thọ thân Bồ-tát sau cùng, rồi sẽ thành Phật, mà
ngài vẫn dùng pháp môn ấy để vừa tự tu,
vừa hóa độ, tiếp dẫn chúng sinh về cơi
Tịnh-độ. Đoạn kinh văn của
chương “Niệm Phật
Viên Thông” tuy không dài, nhưng từ đầu cho
đến cuối đều chỉ nói “ức” và “niệm”[49],
mà không hề nói tới “chấp tŕ danh hiệu”; cho nên không
phải là phép “tŕ danh niệm Phật”. Đó là điểm thứ nhất.
Đức Phật nói Kinh Lăng Nghiêm, mục
đích là dạy người tu Lăng-nghiêm đại
định mà chứng ngộ “năm uẩn đều
không”, được giải thoát rốt ráo; cho nên
trước tiên Ngài dạy cho có tri kiến rơ ràng rốt ráo
đối với tâm tánh, bảy lượt t́m tâm mà không
t́m thấy. Thứ đến Ngài bảo 25 vị
Bồ-tát tự tŕnh bày sự tu tŕ của ḿnh về pháp
môn viên thông Lăng-nghiêm đại định; rồi Ngài
lại bảo Bồ-tát Văn Thù b́nh luận. Sau cùng Ngài
lại thuyết minh về phạm vi năm uẩn và
cảnh giới chứng không. Nếu là tŕ danh niệm
Phật, th́ chỉ bằng vào sức tín nguyện hạnh[50]
nhất tâm bất loạn của người tu hành, là có
thể văng sinh Tịnh-độ, đâu cần phải
khởi đầu từ chỗ cứu xét rơ ràng tâm tánh,
rồi phải phiền phức đề cập tới
phạm vi của năm uẩn sắc thọ tưởng
hành thức và cảnh giới chứng không! Vậy mà
đức Thế Tôn không những đă thuyết minh
một cách ân cần, mà c̣n cẩn thận dặn ḍ các
vị Bồ-tát làm thế nào để nhận rơ các
cảnh giới ma. Do đó có thể thấy, đây là pháp
môn Tịnh Độ do Định mà nhập vào,
chứ không phải là pháp môn Tịnh Độ tŕ danh. Đó là điểm thứ hai.
Trong đoạn kinh văn trên
lại có nói: “Tôi dùng tâm
niệm Phật mà nhập pháp vô sinh nhẫn.” Câu nói này
cho thấy, trực tiếp dùng tâm niệm Phật
để chế ngự tâm ở yên một chỗ, cho
đến khi thu nhiếp hết sáu căn, tịnh
niệm tiếp nối, nhân đó mà vào sâu trong Lăng-nghiêm
đại định, chứng nhập cảnh giới vô
sinh pháp nhẫn. Như thế này th́ cách tŕ danh niệm
Phật không thể nào đạt tới được, –
trừ phi người tŕ danh niệm Phật biết
chuyển vào pháp môn niệm Phật vô tướng này. Đó là điểm thứ ba.
Vậy xin phân tích thuyết minh
như sau:
1. Đức Bồ-tát
Đại Thế Chí nói: “...... Chư
Phật mười phương thương nhớ chúng
sinh như mẹ nhớ con, nhưng nếu con cứ
trốn tránh th́ mẹ tuy thương nhớ mà có làm
được ǵ! Nếu con nhớ mẹ cũng giống
như mẹ nhớ con, th́ mẹ con suốt đời
không xa cách nhau. Nếu tâm chúng sinh nhớ Phật
tưởng Phật, th́ đời này và đời sau
nhất định được thấy Phật, không
cách xa Phật.....”[51] Đoạn kinh văn này hoàn
toàn chỉ dùng chữ “nhớ” (ức), lại
c̣n đem sự việc mẹ con nhớ tưởng nhau
để thuyết minh. Nếu vị hành giả nào
từng rời khỏi nhà từ thuở nhỏ, sống
xa mẹ trong mười mấy năm, luôn luôn nhớ
tưởng mẹ hiền, th́ cũng từng biết
rằng, trong lúc nhớ th́ không có tên họ, cũng không
phải từ sáng đến tối trong tâm lúc nào cũng
gọi mẹ mẹ, mà chỉ là giờ giờ phút phút
nhớ nghĩ tới mẹ hiền, chỉ có một
niềm áy náy không yên. Nếu có vị hành giả nào
từng là cha mẹ, có con đi du học hoặc di trú
nước ngoài, trong lúc nhớ con cũng vậy, chỉ
là luôn luôn một niệm nhớ nhung, mà trong tâm không hề
xướng niệm tên con. Nếu là trai gái ở tuổi
thanh niên, cái tuổi được gọi là “người thục nữ
yểu điệu, sánh đôi tốt đẹp với
người quân tử”[52],
đang say đắm trong t́nh yêu tha thiết, một ngày
không thấy nhau ví bằng xa cách ba năm; dù cho ngày đêm
cô cậu nhớ nghĩ đến nhau không phút nào quên,
nhưng trong tâm người
này cũng không hề xướng niệm tên của
người kia, mà chỉ là không ngừng nhớ
tưởng nhau mà thôi. Cho tới lúc nhớ tưởng
đến độ nhập thần, hoàn toàn quên mất
ḿnh, quên cả âm thanh cùng thế giới bên ngoài; th́ cái cách
nhớ tưởng như thế đó, chính là cái tinh
nghĩa chủ yếu của chương “Niệm Phật Viên Thông”.
Ngay khi chúng ta nhớ nghĩ
một đức Phật hay một vị Bồ-tát, trong
tâm không có h́nh tượng, âm thanh, danh hiệu; nhớ
một đức Phật, tưởng một đức
Phật, mà không có một niệm nào khác, đó là thu
nhiếp sáu căn, tịnh niệm tiếp nối.
Đơn giản mà lại thanh tịnh như thế, sao
lại không tu? Trái lại cứ phải lặp đi
lặp lại, phiền phức lôi thôi rằng, phải
cần chấp tŕ danh hiệu mới có thể nhớ Phật,
niệm Phật! Bởi vậy, trong chương “Niệm Phật Viên Thông”,
từ đầu tới cuối đă không nói tới
việc chấp tŕ danh hiệu Phật, mà cứ nói đi
nói lại hai chữ nhớ và niệm. Nếu là pháp môn tŕ
danh, th́ như kinh Phật
Thuyết A Di Đà chẳng hạn, xương minh
việc chấp tŕ danh hiệu, trong bao nhiêu ngày
được nhất tâm bất loạn liền
được văng sinh; hoặc trong giờ phút lâm chung, chấp
tŕ danh hiệu đến bao nhiêu niệm nhất tâm
bất loạn th́ được văng sinh
Tịnh-độ. Bởi vậy cho nên, hai chữ “ức
niệm” chính là mục đích căn bản của
chương “Niệm Phật
Viên Thông”. Nếu có vị thiện tri thức dùng pháp môn
tŕ danh niệm Phật để thuyết minh cho pháp môn
niệm Phật viên thông, tức là vị ấy đă dùng
phương tiện quyền xảo để tiếp
dẫn chúng sinh; rồi sau đó sẽ cân nhắc lúc nhân
duyên phù hợp mà nói tiếp về phương pháp niệm
Phật vô tướng, dẫn dắt chúng sinh tiến vào
mục đích căn bản của chương “Niệm Phật Viên Thông”.
Nếu người đă có cơ sở vững chắc
về tŕ danh niệm Phật, nay phát tâm tu tập pháp môn
này, th́ có thể điều phục sáu căn một cách
mau chóng, pháp hỉ tràn đầy, trở thành một
người vô cùng an vui trong pháp môn niệm Phật vô
tướng.
2. Kinh Lăng
Nghiêm đă dành một phần rất lớn để
thuật lại việc đức Thế Tôn v́ tôn giả
A Nan và đại chúng mà xét rơ tâm tánh, được
gọi là “t́m tâm ở bảy chỗ mà t́m không thấy”. Sau
khi giảng cho chúng đệ tử hiểu rơ “tự tánh
vốn không”, đức Thế Tôn lại bảo 25 vị
Vô-học[53] và
Bồ-tát, mỗi vị tự tŕnh bày sự tu tập
của ḿnh về pháp môn viên thông Lăng-nghiêm đại
định. Ngài cũng bảo Bồ-tát trí tuệ đệ nhất,
thầy của bảy đức Phật[54],
là Văn Thù Sư Lợi, b́nh luận xem, trong 25 pháp môn[55]
đó, pháp môn nào thích hợp nhất cho chúng sinh ở
thế giới này tu tập. Ngài Văn Thù Sư Lợi
nhận định rằng, pháp môn thích hợp nhất cho
chúng sinh ở thế giới này là pháp môn “Nhĩ căn viên thông” của Bồ-tát Quán
Thế Âm. Sau lời b́nh luận của Bồ-tát Văn
Thù, đức Phật nói tiếp bốn lời dạy
bảo rơ ràng thanh tịnh, rồi lại nói kĩ về
quá tŕnh tu tập định lực này, trong đó, phải
biết rơ tường tận như thế nào là phạm
vi của sắc uẩn, như thế nào là chứng nhập
tính không của sắc uẩn; cho đến như thế
nào là phạm vi của thọ, tưởng, hành, thức,
và như thế nào là chứng nhập tính không của
thọ, tưởng, hành, thức. Tiếp đến
đức Phật dạy về cách nhận rơ các ma
sự. Nếu nội dung kinh Lăng
Nghiêm chỉ là nói pháp môn tŕ danh để văng sinh về
tịnh độ của chư Phật, th́ đức
Thế Tôn chỉ cần tŕnh bày sự thù thắng của
tịnh độ ấy cùng cách phát nguyện tŕ danh
đến chỗ nhất tâm bất loạn để
cầu văng sinh về cơi ấy, thế là đủ,
chứ đâu cần phải khổ lao tâm huyết,
dạy bảo kĩ càng, dùng biết bao nhiêu th́ giờ
để nói biết bao nhiêu tri kiến! Như thế có
thể biết, 25 pháp môn nói đến trong kinh Lăng nghiêm, đều là
những pháp môn tu Lăng-nghiêm đại định; mà Niệm Phật Viên Thông chính
là pháp môn tu định phát thiền chỉ đứng hàng
thứ nh́ sau pháp môn Nhĩ Căn Viên Thông. Cho nên, Niệm
Phật Viên Thông là trực tiếp lấy phương pháp
tu Định để tu pháp môn Tịnh Độ một
cách rốt ráo, duy tâm.
Xă hội trước cuộc
cách mạng sản nghiệp là xă hội nông nghiệp,
mặt trời mọc th́ làm, mặt trời lặn th́
nghỉ, thời gian rảnh rang ngoài các việc
đồng áng th́ có nhiều, mà nhân khẩu lại ít. Ra
khỏi thành ba dặm là bặt tiếng các loài gia súc, âm
thanh huyên náo của chợ búa cũng không c̣n nghe
được. Bên mé nước, dưới bóng cây, khó
bị quấy rầy. Lúc đó, việc tu tập pháp môn
nhĩ căn viên thông quả là vô cùng thuận lợi. C̣n
như ngày nay, h́nh thái xă hội đă thay đổi quá
nhiều, ngày ngày mặt trời chưa kịp mọc
liền đă ra khỏi nhà, làm việc vội vàng bận
rộn suốt một ngày dài, mặt trời lặn đă
lâu mà vẫn chưa về nhà. Bây giờ th́ đừng nói
là ra khỏi thành ba dặm đă bặt tiếng các loài gia
súc, mà ngay như lánh ẩn nơi núi thẩm rừng sâu
cũng rất khó mong không bị quấy nhiễu! Nếu
muốn tu tập pháp môn nhĩ căn viên thông giống
người trong xă hội trước như vừa nói,
th́ cả hoàn cảnh và thời gian đều không c̣n thích
hợp nữa.
Nếu cứu xét sâu sắc
hơn, hai pháp môn này ḱ thật không có cao thấp, mà rốt
cuộc đều là một. Trái lại, theo cái nh́n của
kẻ hậu học này, thấy rằng, so với pháp môn
nhĩ căn viên thông, pháp môn niệm Phật viên thông có
phần trực tiếp hơn; nhất là đối
với con người thời hiện đại không c̣n
cơ hội được nghe tiếng nước
chảy róc rách, tiếng gió khua động lá rừng trong
khung cảnh thiên nhiên.
Pháp môn nhĩ căn viên thông là
dùng tai lắng nghe âm thanh để hạ thủ tu
tập. Trước tiên là ở trong tư thế tĩnh
tọa mà lắng nghe cho kĩ, nhiếp tâm an trú mà không duyên
theo một cảnh nào khác; sau đó là nghe đến đâu
th́ di chuyển theo đến đó, không lưu lại
điều ǵ trong tai cả. Tiếp theo đó, tâm và
cảnh đều vắng lặng, từ “nhập lưu”
đến “vong sở”[56],
cũng tức là nói rằng: tiếng từ đâu tới,
cùng ta đă không can hệ ǵ nhau; tiếng là tiếng, ta là
ta, an trú nơi cảnh giới tự tâm, bấy giờ
đă do từ nhĩ căn mà qui về ư căn vậy.
Mục đích của sự lắng nghe âm thanh chỉ là
dùng nó như một phương pháp trừ khử
trạng thái tán loạn; hay nói cách khác, tất cả các
phương pháp tu hành (chỉ cho môn học tu định
và các môn học trong Phật pháp) đều cần qui
kết về ư căn mà hạ thủ tu tập. Pháp môn
nhĩ căn rất thích hợp cho con người ở xă
hội nông nghiệp trước kia tu tŕ. Thời
đại ngày nay không giống như thế. Chúng ta
đang sống trong cái hoàn cảnh hỗn tạp, chen
lấn, ồn ào, khó có thể nghe được tiếng
nước róc rách, tiếng gió xào xạc. Đến ngày
nghỉ cuối tuần mới được rảnh
rang, ḷng vui mừng hớn hở, ra chơi nơi bờ
hồ hay công viên, không ngờ đâu cũng đầy
người! Người lớn kêu réo, trẻ con la hét,
không chỗ nào có thể ngồi nghỉ yên tâm.
Đường sá đầy xe, chen lấn vô trật
tự, vất vả lắm mới về được
đến nhà; th́ lại phải nghe nào tiếng chuông
điện gọi cửa, tiếng điện thoại
reo, tiếng chó sủa bên nhà hàng xóm, tiếng loa rao hàng
của người bán hàng rong, tiếng c̣i xe hơi,
tiếng đầu máy xe lửa x́nh xịch chạy qua;
rồi tiếng c̣i xe cứu hỏa, xe cứu thương
đau nhói tim người, tiếng c̣i báo động inh tai
nhức óc...... Hôm nay th́ ông A tới thăm; ngày mai lại
phải đi thăm ông B. Mới vừa ngồi xuống
trên chiếc bồ đoàn th́ chuông điện thoại
lại reo! Trong cái không khí sinh hoạt đầy khẩn
trương, bận rộn của khắp cả mọi
người, nếu mỗi ngày có thể có được
một khoảng thời gian chừng một giờ
đồng hồ để tĩnh tọa, thế là quí
quá rồi, đâu dám mong có bốn, năm giờ, cho
đến tám, chín giờ! Nếu không có được một
khoảng thời gian dài liên tục trong một hoàn cảnh
yên tĩnh, làm sao tu tập được pháp môn nhĩ
căn viên thông? Cho nên, nếu có một pháp môn nào đó cho
phép chúng ta, bất luận là trong lúc hoạt động hay
trong lúc tĩnh tọa đều có thể tu tŕ
được, th́ đó chính là cái pháp môn mà cả
người học thiền tu định lẫn
người tu tịnh độ trong thời hiện
đại, đều mong mỏi khao khát. Niệm Phật Vô
Tướng chính là loại pháp môn ấy! Vả
lại, Niệm Phật Vô
Tướng là pháp môn trực tiếp từ ư căn mà
hạ thủ tu tập, một khi thành công th́ bất
luận là ở t́nh huống nào, đều có thể
nhớ Phật niệm Phật. Dù cho hoạt động
không ngừng trong âm thanh và h́nh sắc, sự tịnh
niệm nhớ Phật vẫn giữ được liên
tục, không bị gián đoạn, không bị trở
ngại. Đó là điều mà các thiền sư
thường nói: “Cưỡi
lên âm thanh, che phủ h́nh sắc”. Đến bực này
th́ muốn tu tập Lăng-nghiêm đại định
cũng được, muốn phát nguyện cầu văng
sinh tịnh độ của chư Phật cũng được,
mà muốn tham thiền ngay trong sinh hoạt hằng ngày
cũng được; tại v́ đă có đầy
đủ cái công phu trong
động vậy.
3. Trong kinh văn của
chương “Niệm Phật
Viên Thông” ấy có nói dùng tâm nhớ Phật niệm
Phật; cuối đoạn kinh văn ấy th́ nói thu
nhiếp hết cả sáu căn, tịnh niệm tiếp
nối, nhập vào chánh định. Đó không phải là
“tŕ danh niệm Phật”; như câu: “Nếu tâm chúng sinh nhớ Phật niệm Phật,
th́ hiện tại và tương lai nhất định
thấy Phật, thân cận bên Phật.” Hoặc như
câu: “Tôi trong thời ḱ tu nhân,
đă dùng tâm niệm Phật mà chứng vô sinh nhẫn.”
Những câu ấy đều nói đến việc
trực tiếp dùng tâm niệm để bắt
đầu tu tập: Câu trên th́ nói dùng tâm mà nhớ Phật
niệm Phật, không phải xưng tụng danh hiệu;
câu dưới th́ đức Bồ-tát Đại Thế
Chí nói chính ḿnh đă do dùng tâm niệm Phật mà chứng
nhập vô sinh pháp nhẫn.
Nếu người tu mà danh
hiệu Phật cứ liên tục ở trong tâm, muốn
nhập vào chánh định, tương đối có khó
khăn; tại v́, mỗi một câu Phật hiệu là do
rất nhiều vọng niệm hoặc âm thanh kết
thành. Trong tâm mà cứ đeo dính danh hiệu Phật không
rời th́ không thể nhập định. Nếu
người ấy ít phiền năo, lại có tri kiến chân
chính, sẽ hiểu được rằng, ở phút chót,
khi vọng tưởng không c̣n sinh khởi nữa, th́
Phật hiệu cũng không c̣n xuất hiện trong tâm,
chỉ an trú trong một niệm nhớ Phật, tâm không
chấp trước vào Phật, bèn dần dần có
thể vào định. Nhưng xét cho cùng, đó cũng
chỉ là cách gián tiếp, so ra th́ đâu có bằng cách
trực tiếp dùng tâm nhớ Phật niệm Phật!
Lại như có người
ngồi chuyên tâm niệm ra tiếng danh hiệu Phật,
người này cũng rất khó vào định. Nếu
người ấy ít phiền năo, khi xướng niệm
Phật hiệu đă đến chỗ vọng
tưởng không c̣n sinh khởi nữa, tâm không c̣n chấp
trước ở Phật hiệu; miệng cứ tiếp
tục niệm Phật hiệu, không gấp không huỡn,
mà tâm không đeo dính Phật hiệu, một ḷng nhớ Phật
mà không chấp trước vào Phật, th́ có thể ở
trong trạng thái câu Phật hiệu không dứt nơi
miệng mà cũng vào được chánh định. Tuy
nhiên, ở trường hợp này, cần phải có công
phu thật mạnh mẽ, chứ muốn đến
được cảnh giới ấy hoàn toàn không dễ
dàng. Dù sao cũng không bằng trực tiếp đem tâm
niệm mà nhớ Phật niệm Phật, đă nhẹ
nhàng, không tổn hơi, lại dễ vào định, thành
tựu nhanh chóng.
Bởi v́ pháp môn này là trực
tiếp do ư căn – lấy tâm niệm để hạ
thủ tu tập, không phải do thiệt căn và nhĩ
căn mà chuyển vào ư căn, cho nên nói là “Thu nhiếp hết sáu căn, tịnh niệm
tiếp nối, nhập vào chánh định, đó là
đệ nhất.” Và như thế th́ có thể
biết, pháp môn niệm Phật này là vô tướng, là pháp
môn Tịnh Độ do tu định mà chứng nhập;
cũng tức là pháp môn khử trừ h́nh tượng, ngôn
ngữ, văn tự, danh hiệu, mà trực tiếp
đem tâm nhớ Phật để niệm Phật. Và
cũng cần phải dùng cái phương cách “tịnh niệm nối tiếp
nhau không dứt để nhớ Phật” này mới có
thể nói được là “thu
nhiếp hết sáu căn, tịnh niệm tiếp nối”;
nếu có một ư niệm nào khác, thậm chí một câu
Phật hiệu xuất hiện, đều không thể
gọi là “tịnh niệm tiếp nối”. Do sự
nhớ Phật bằng tịnh niệm tiếp nối không
gián đoạn này mà sau cùng có thể nhập vào chánh
định, như người có căn cơ
thượng thượng, cho đến chứng nhập
cảnh giới năm uẩn đều không, giải thoát
rốt ráo, đó là tịnh độ duy tâm, tịnh
độ rốt ráo; đó chính là pháp môn Niệm Phật Viên Thông mà đức Bồ-tát
Đại Thế Chí đă nói.
Nh́n tổng quát lại những
điều vừa tŕnh bày trên, có thể thấy, pháp môn này
là Niệm
Phật Vô Tướng, là pháp môn Tịnh Độ do
định mà chứng
nhập. Quí vị hành giả chớ nên v́ trong quá khứ
các vị thiện tri thức đă dùng việc tŕ danh
niệm Phật làm phương tiện hướng
dẫn mà chưa nói đến cảnh giới niệm
Phật vô tướng, bèn cho rằng đa số các
vị thiện tri thức đều công nhận pháp môn
niệm Phật viên thông do đức Bồ-tát Đại
Thế Chí nói đúng là tŕ danh niệm Phật, mà lấy
đó cho là quan niệm chủ yếu, rồi bài xích pháp môn
niệm Phật vô tướng. Kẻ hậu học này tin
tưởng sâu sắc rằng, chư vị thiện tri
thức khi quán sát thấy nhân duyên thành thục, tất sẽ
nói tiếp về cái lí lẽ thâm diệu của việc
nhớ Phật niệm Phật, niệm Phật vô
tướng, v.v... nói chung là pháp môn Niệm Phật Viên
Thông, để cho cái công đức rộng lớn của
việc hoằng dương pháp môn Niệm Phật Viên
Thông được hoàn toàn viên măn.
IV.
NGƯỜI HỌC PHẬT NÊN XA L̀A TÂM TAM ĐỘC,
TÂM PHAN
DUYÊN và TÂM GIÁC QUÁN
(BÀN
TIẾP về TRI KIẾN – 2)
Tổ thứ tư của
Thiền tông là thiền sư Đạo Tín nói: “Trừ bỏ tâm tam độc,
tâm phan duyên[57], tâm giác quán. Niệm Phật tâm
tâm tiếp nối, bỗng nhiên lắng trong, không c̣n
niệm sở duyên. Kinh Đại Phẩm nói: ‘Không có cái để
niệm, đó gọi là niệm Phật.’ Thế nào gọi là không có cái để niệm?
Tức là, niệm Phật bằng tâm th́ gọi là không có
cái để niệm...... V́ sao vậy? Thức không có h́nh,
Phật không có h́nh, Phật không có tướng mạo.”
Trên đây là trích lời của thiền sư Đạo
Tín[58],
mục đích là để hành giả khử trừ hay
giảm thấp tâm chấp trước đối với
sắc thân, danh hiệu, thanh âm, và vọng niệm.
Người thế gian phần
nhiều bị ba thứ phiền năo độc hại là
tham ái, sân hận và vô minh che lấp, đến nỗi không
thể tự ḿnh thấy được Phật tánh; do
đó mà tham đắm vào các dục vọng như h́nh
sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, xúc chạm,
hoặc tiền tài, sắc dục, danh vọng, ăn
uống, ngủ nghỉ; thường là không biết kính
trên nhường dưới. Một chút ǵ không bằng ḷng
liền nổi trận lôi đ́nh. Khi tiền của,
thế lực không đủ bằng người, liền
nghĩ cách ám hại báo thù; nếu tiền của dồi
dào, thế lực mạnh mẽ th́ công nhiên cưỡng
đoạt của người. Tất cả những hành
động tham lam, sân hận của thân, miệng, ư đều
nhân v́ vô minh mà gây nên. Do vô minh mà không thấy được
thật tướng của pháp giới chúng sinh, cho
rằng vật chất là thật có mà sinh tâm chấp
trước; không thấy cái bản chất chân không
diệu hữu của tự tánh, nên mới chấp cái thân
năm uẩn huyễn hữu này mà cho là “ngă”; từ đó tạo ra các nghiệp.
Người tốt th́ biết làm lành để cầu sinh
lên các cơi trời; người ở bậc trung b́nh th́
biết làm lành để cầu có được
phước báo, tiếng tốt trong đời này;
người xấu ác th́ làm lành giả dối, mượn
danh khi người, thậm chí dùng mánh khóe thủ
đoạn để cướp đoạt của
người; nhân đó mà tâm phan duyên không dứt, mỗi
niệm mỗi niệm đều chứa đầy tham
sân si.
Nếu tự ḿnh thấy
được tự tánh, cảnh giới chứng ngộ
không lùi, tất thấy cái bản chất chân không diệu
hữu của Phật tánh vốn có, cái cảm giác chân
thật về thân tâm và thế giới liền tiêu mất;
không c̣n khởi niệm chấp trước đối
với thân tâm thế giới, th́ tâm tam độc tự
nhiên dứt tuyệt, không c̣n tạo nghiệp xấu
nữa. Kẻ phàm phu chúng ta nên suy nghĩ thân tâm là vô
thường, thế giới là vô thường, tất
cả mọi vật đều do nhân duyên giả hợp,
chỉ có tạm thời, cuối cùng cũng tiêu hoại.
Nếu trong sinh hoạt hằng ngày, gặp việc ǵ
cũng suy nghĩ về sự vô thường, trong lúc
tĩnh tọa lại càng suy nghĩ sâu xa về tính
chất vô thường của thân tâm và thế giới, th́
tâm chấp trước của chúng ta đối với
thế giới, thân tâm, quyến thuộc, của cải,
danh lợi v.v..., sẽ giảm nhẹ đi nhiều
lắm, cái tác dụng của tâm tam độc cũng
yếu dần, và lúc đó th́ cái tâm phan duyên cũng hạ
xuống thật thấp, rất dễ dàng an trú trong chánh
niệm để niệm Phật.
Ở trong thế giới
đầy năm trược này, nếu có người tu
định, tham thiền, tu tịnh độ, cho
đến nhiều pháp môn khác, để cầu ra khỏi
ba cơi, giải thoát sinh tử, cũng như hồi
hướng đến việc cứu độ chúng sinh
ra khỏi ba cơi, giải thoát sinh tử, thật khó có ǵ
đáng quí hơn! Nhưng người tu th́ nhiều mà
người thành công th́ ít; bởi v́ phần nhiều
người ta thiếu chánh tri chánh kiến và mong cầu
cảm ứng, mà giác quán th́ không dứt. Chính cái tâm giác quán
này đă làm chướng ngại cho người niệm
Phật hoặc tu thiền tập định, khiến cho
họ khó đạt đến chỗ nhất tâm bất
loạn.
Sau đây xin lược bàn
về tâm giác quán, từ cạn đến sâu, giúp cho hành
giả xây dựng được tri kiến chính xác, trong
quá tŕnh tu học tự biết chọn lựa, quyết
định. Xin quí vị hành giả xem kĩ và suy nghĩ.
Người niệm Phật nhân
mong cầu cảm ứng, luôn luôn quán sát trong lúc niệm
Phật có trạng thái khác lạ hay không, tâm khởi giác
quán. Nếu thấy ánh sáng, nghe âm thanh, ngửi mùi
hương, thân tâm khinh an, bèn khởi tâm phan duyên, bồng
bềnh không định tĩnh. Muốn được
nhất tâm bất loạn thật là khó khăn. Họa
hoằn có người tŕ niệm danh hiệu Phật mà
đạt đến chỗ không c̣n khởi vọng
tưởng, người ấy lúc bấy giờ trong tâm
chỉ muốn định, chứ không muốn niệm
danh hiệu Phật; nhưng v́ không nghe được
những lời chỉ dạy về định, tri
kiến không đầy đủ, trong tâm dùng dằng, không
biết nên tŕ niệm Phật hiệu hay bỏ đi,
rồi sinh phiền năo, đến nỗi không
được nhất tâm bất loạn. Nếu có
đầy đủ tri kiến, thiện căn, th́ lúc
bấy giờ người ấy sẽ biết buông
bỏ Phật hiệu mà an trú trong cảnh giới niệm
Phật vô tướng. Nếu được Phật
cảm ứng, phóng ánh sáng, nghe mùi hương, thân tâm khinh
an, mà không lấy đó làm mừng, tâm không khởi
động, luyện tập lâu dài, ngày ngày tiếp nối
không gián đoạn; thậm chí trong sinh hoạt hằng
ngày, lúc động cũng như lúc tĩnh đều có
thể niệm Phật vô tướng, được
thấy một niệm ban sơ[59],
cho đến dần dần đạt được
chánh định niệm Phật, th́ có niềm vui nào sánh
bằng! Được như vậy là đều do
đă xa ĺa được tâm giác quán thô thiển.
Qua những điều vừa
tŕnh bày trên th́ biết rằng, tâm tam độc, tâm phan
duyên và tâm giác quán, đối với người niệm
Phật rất là đại kị, cần phải xa ĺa.
Đến như người tu
học thiền định, th́ cái hại của tâm
tam độc tham sân si như vừa nói trên, cũng
đại kị và cần phải xa ĺa như vậy.
Lại nữa, người tham thiền có lúc nào đó
bỗng thấy ḿnh là người lợi căn, rồi
sinh tâm khinh bỉ người niệm Phật, cho rằng
người niệm Phật căn khí yếu kém, cả tri
kiến và đức tin đều không đầy
đủ, cho nên mới niệm Phật để cầu
sinh về cơi tịnh độ do chư Phật hóa
hiện ra. Đâu biết rằng, trong số người
niệm Phật cũng không thiếu ǵ những
người thượng căn, từng đạt
đến chỗ tâm không có ǵ để niệm, không có
Phật để niệm, dường như tâm
định.
Cũng có một số ít
người tu thiền, không những khinh bỉ
người niệm Phật, mà đối với những
người cùng tu thiền, thậm chí đối với
những đạo tràng tu thiền khác, cũng sinh tâm kiêu
mạn, cho rằng ḿnh là giỏi hơn tất cả, không
chịu lắng nghe tiếng nói cùng những kinh nghiệm
của người khác. Như thế là ở trên cái tâm tam
độc lại có thêm cái tâm ngă mạn, rồi nhân cái tâm
ngă mạn ấy mà tâm sân hận càng trở nên mạnh
mẽ. Cho nên, tâm ngă mạn thật quả là mối nguy
hại to lớn cho người học thiền tu
định; nếu không dứt trừ th́ suốt ngày
chỉ lẩn quẩn trong cái ư niệm nhân ngă, phân biệt
hơn thua, muốn cầu tâm được định,
cho đến thấy được tánh, thật giống
như kẻ phàm phu mà muốn lên các cơi trời, khó khăn
vô cùng!
C̣n cái tâm phan duyên làm
chướng ngại cho thiền định, đối
với các hành giả mới phát tâm cũng như những
vị đă tu tập lâu năm, hầu như không khác nhau
mấy. Người mới học thiền định,
thường thường ở trong quá tŕnh tu hành, hễ
nghe âm thanh, thấy ngoại cảnh, liền khởi tâm
phan duyên; đó gọi là “tâm viên ư mă”[60],
đợi đến lúc tỉnh ra th́ có sớm cũng
đă mười tám ngàn dặm, muốn được tâm
định, ôi xa quá là xa! Đến như người tu
hành đă lâu năm th́ thường cố chấp nơi
Phật pháp và cảnh giới khinh an, niệm niệm không
trụ, phan duyên không dừng, muốn cầu
được tâm định, cũng quả thật là
khó! Muốn trừ khử cái tâm phan duyên này, trong lúc
động cũng như trong lúc tĩnh đều có cách
để tu. Cuốn sách này nhằm giới thiệu pháp
môn “NIỆM PHẬT VÔ
TƯỚNG”, động tĩnh đều thích nghi;
dùng cái tâm vô tướng nhớ Phật lạy Phật, và
cách tŕ danh niệm Phật làm phương tiện quyền
xảo cho bước khởi đầu, th́ có thể
nhập vào pháp môn đó.
Tâm giác quán không những là
phiền năo đối với người tu định,
mà c̣n là thứ đại kị đối với
người tham thiền; xin phân tích tŕnh bày như sau:
1. Người tu định
thường dùng phép đếm hơi thở, thu nhiếp
tâm ư vào một cảnh liên tục. Lúc đầu tâm c̣n thô
sơ nên tán loạn, phải mỗi hơi thở mỗi
đếm; đếm tới mười th́ trở
lại một. Cứ lặp đi lặp lại như
thế, cho đến khi tâm không c̣n phan duyên th́ chuyển
sang phép theo dơi hơi thở. Theo dơi hơi thở một
cách liên tục th́ tâm sẽ qui về một mối
thuần nhất. Lúc đó th́ cái tâm giác quán thô sơ cũng
không c̣n, người có trí sẽ khéo léo dùng tâm giác quán vi
tế, khi các thứ cảnh giới vi diệu khởi lên
từ tâm thuần nhất đó, biết khéo léo chọn
lựa quyết định, sẽ chọn lựa một
cảnh giới thiện diệu mà để tâm an trụ
vào đó. Nếu an trụ được lâu, tâm sẽ
lại chuyển thành vi tế hơn nữa, bấy
giờ phải dần dần xả bỏ luôn tâm giác quán
vi tế, mới có thể nhập vào “vị-đáo-địa
định”[61].
Nếu đă nhập được vào
vị-đáo-địa định, lại tập
luyện thuần thục, khi những chướng
ngại tâm tánh đều bị tiêu trừ hết,
liền ở nơi sự sáng tỏ hoàn toàn của giác
quán mà được nhập vào Sơ-thiền. Do công
đức Sơ-thiền mà có được
lạc-thọ, đó gọi là tâm thuần nhất với
giác quán hỉ lạc[62].
Nếu đến giai đoạn cuối cùng mà vẫn c̣n
chấp chặt nơi giác quán, không chịu buông bỏ, th́
không thể nhập vào vị-đáo-địa
định; không tu tập vị-đáo-địa
định th́ khó có thể nhập Sơ-thiền,
huống ǵ là Nhị, Tam hay Tứ-thiền! Cho nên
người tu định, trong thời ḱ đầu
phải buông bỏ tâm giác quán thô lậu, cột tâm vào
một pháp; sau đó sinh khởi tâm giác quán vi tế,
khiến tâm an trú nơi cảnh giới vi tế. Sau khi
sự an trú đă trở nên thuần thục, bấy
giờ lại phải buông bỏ luôn tâm giác quán vi tế,
mới có thể chứng nhập vị-đáo-địa
định và Sơ-thiền. Khi tu Nhị-thiền,
Tam-thiền, Tứ-thiền, và Tứ-không định,
cũng hoàn toàn giống như vậy. Hành giả do
biết rơ giác quán, có thể bỏ cái thô sơ lấy cái vi
tế, cuối cùng th́ bỏ luôn cái vi tế mới có
thể vào định, chứng được các
thiền. C̣n nữa, khi các cảnh giới huyễn hóa
của sáu thức hiện ra, phải khéo léo đối
trị, không để bị giao động. Nếu
chấp trước nơi tâm giác quán th́ liền bị mê
hoặc bởi các cảnh giới do sáu thức biến
hóa, tâm phát sinh tham ái, tạo cơ hội thuận lợi
cho ma vương dẫn dắt vào đường hiểm
ác; rồi đưa đến việc nói dối ḿnh
chứng đắc cảnh thiền này, cảnh thánh
nọ, đó là cầu đi lên nhưng trái lại là
đọa lạc. Cũng có lúc qua lại với quỉ
thần, bị quỉ thần quấy phá, tâm không định
được, tất không thể nhập vào cảnh
giới của chư Phật.
2. Người tham thiền
lại càng phải trừ bỏ giác quán. Nếu không
đoạn giác quán th́ công phu sẽ không thể kết
tụ thành một khối, nghi t́nh không khởi không sâu.
Muốn tiến vào được giai đoạn “thấy núi không phải là núi,
thấy sông không phải là sông” (xin xem chú thích số 7 của tác
giả ở cuối sách) cũng c̣n không thể
được, nói ǵ đến việc đánh phá khối
nghi, thấy tánh giác ngộ!
Bác Sơn Vô Dị Nguyên Lai
thiền sư[63]
là một vị thiền sư lớn ở cuối
triều đại nhà Minh[64],
cũng là vị cao tăng quán thông cả Tông-môn và
Giáo-hạ[65],
từng biên soạn sách Tông Giáo
Thông Thuyết (1 quyển). Ngài cũng có sách Bác Sơn Ḥa Thượng Tham
Thiền Kỉnh Ngữ lưu truyền ở
đời, trong đó ngài chỉ dạy người tham
thiền phải tu tập như thế nào. Nơi nào trong
sách ấy ngài cũng nêu rơ cái lỗi của tâm giác quán,
lại c̣n nhấn mạnh điều mà ngài bảo là “Không được đem tâm
chờ ngộ[66]!” Người tham thiền,
khi tâm sinh khởi nghi t́nh, nếu có tâm “chờ ngộ” th́ không thể tiến
được vào giai đoạn “thấy núi không phải là núi”. Nếu không có
đủ công phu để tiến vào cảnh giới này,
muốn cầu tự ḿnh minh tâm kiến tánh, quả
thật là khó khăn! Chỉ có nương nhờ một vị
thiện tri thức thông suốt cả Tông và Giáo
hướng dẫn và thúc đẩy mà thôi; nhưng
loại thiện tri thức như thế cũng thật
là hiếm có!
Bác Sơn thiền sư lại
nói: “Khi tu tập, chỉ
biết nghi t́nh không phá, ngoài ra không có niệm ǵ khác. Nếu
có một niệm tơ hào nào khác, tức th́ huệ
mạng bị tổn thương.” Thậm chí ngài c̣n
nói rằng: “Tôi nói ‘niệm
khác’, không phải chỉ có pháp
thế gian, mà tất cả những việc tốt trong
Phật pháp – ngoại trừ việc quán xét tâm, – tất
cả đều gọi là ‘niệm khác’. Mà cũng đâu phải chỉ
có những việc trong Phật pháp, mà ngay nơi tâm
thể, những niệm như lấy, bỏ, chấp,
buông, cũng đều gọi là ‘niệm khác’ vậy.” Tham thiền v́ sao
như thế? Nguyên nhân chính là tâm giác quán; đó là
đại kị. Giác quán không đoạn trừ th́
thoại đầu thường bị mất, nghi t́nh
không phát khởi, vội ǵ bàn đến việc tham
thiền!
Người niệm Phật
cũng vậy, cần phải diệt trừ tâm tam
độc, tâm phan duyên và tâm giác quán; cần phải
niệm Phật, niệm niệm tiếp nối. Niệm
cho đến khi nhất tâm bất loạn, lắng trong
vắng lặng, trong tâm không c̣n một niệm ǵ
để duyên; điều đó cũng có nghĩa là không
phan duyên cả đến h́nh tướng và danh hiệu
Phật, âm thanh của danh hiệu Phật, cho đến
một niệm nhớ tưởng cũng không phan duyên.
Thiền sư Đạo Tín c̣n nêu một đoạn trong Kinh Đại Phẩm[67],
rằng: “Không có cái để
niệm, gọi là niệm Phật. Thế nào là không có cái
để niệm? Tức là tâm niệm Phật, gọi là
không có cái để niệm.” Nói cách khác, bất luận
hành giả tu hành theo pháp môn nào, chỉ cần lấy
“đệ nhất nghĩa” làm căn bản, không chấp
trước vào “sắc ngă”, cho đến không chấp
trước vào “thọ tưởng hành thức ngă”, không
khởi các tâm tam độc, phan duyên và giác quán, không
chấp trước vào tất cả pháp thế gian
lẫn xuất thế gian, không một niệm nào duyên theo
cảnh, bám theo cảnh, gọi đó là “không có cái để niệm”. Cái tâm “lắng trong
vắng lặng không có một niệm phan duyên” này mới
thực sự là cái “tâm niệm Phật”; đó là cảnh
giới “lí nhất tâm”, là cảnh giới của “thật
tướng niệm Phật”. Cư sĩ Bành Nhị Lâm[68]
cũng đă viết trong tác phẩm Hoa Nghiêm Niệm Phật Tam Muội Luận của
ông: “Biết tất cả
Phật cho đến tâm ta, tất cả đều
như mộng. Biết tất cả Phật đều
như ảnh tượng, tâm ḿnh như nước. Biết
sắc tướng của tất cả Phật cho
đến tâm ḿnh, tất cả đều như
huyễn. Biết tất cả Phật cho đến tâm
ḿnh, tất cả đều như tiếng vang. Ta
biết như thế, ức niệm như thế, th́
tất cả chư Phật mà ta trông thấy, đều
do tự tâm.”
Niệm Phật đạt
đến cảnh giới “lí nhất tâm”, tất phải
nhờ tu tập cùng lúc cả Thiền và Tịnh, thể
cứu niệm Phật, tự ḿnh thấy rơ bản lai
diện mục “niệm
Phật là ai?”, cảnh giới giác ngộ không lùi
mất, từng giờ từng phút, lúc nào cũng đem con
mắt tâm quán chiếu, thấy rơ Phật tánh vốn có
sẵn nơi ḿnh, trải qua tháng năm, vĩnh viễn
không lùi mất. Cảnh giới ấy, không phải
người chuyên niệm Phật th́ không dễ thành
tựu, ngay cả người tham thiền cũng ít ai
đạt đến được. Thiền sư Hoàng
Bá Hi Vận[69]
thường lặp đi lặp lại câu nói: “Trong cửa này, ngàn người,
vạn người, chỉ được ba, năm
người.” Cho nên người tham thiền không nên
khinh chê người niệm Phật, cũng đừng nên
coi thường pháp môn Vô
Tướng Niệm Phật. Pháp môn này có sâu có cạn.
Cạn th́ được “sự nhất tâm”, nhưng
phần đông người tham thiền c̣n không nhất
định đạt được. Sâu th́ không những
được “lí nhất tâm”, mà c̣n có thể chứng
đắc Đẳng-giác, Diệu-giác[70],
giải thoát rốt ráo.
Câu mở đầu của
chương “Đại
Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông” nói
rằng: “Pháp vương
tử Đại Thế Chí và 52 vị Bồ-tát cùng tu
một pháp môn, từ chỗ ngồi đứng dậy,
đảnh lễ chân Phật, ......” Đă có vô
lượng vô số các vị Bồ-tát từng tu chung pháp
môn Niệm Phật Viên Thông với Bồ-tát Đại
Thế Chí, cùng lúc tham dự pháp hội Lăng-nghiêm, trong
đó, 52 vị làm đại biểu, đă cùng với
Bồ-tát Đại Thế Chí đảnh lễ chân
Phật; rồi do chính Bồ-tát Đại Thế Chí nói ra
pháp môn Niệm Phật Viên Thông này. V́ sao có 52 vị
Bồ-tát làm đại biểu, mà không phải là một
con số nào khác? Con số “52” đó hàm chứa một ư
nghĩa sâu xa rằng, pháp môn này có cạn có sâu, thu nhiếp
cả người lợi căn lẫn độn căn.
Từ hạng Bồ-tát phàm phu cạn cợt nhất (bắt đầu từ bậc
Tín đầu tiên đến bậc Tín thứ mười,
tức trọn vẹn cấp Thập-tín) và hạng
Bồ-tát ở địa vị Hiền (gồm 3 cấp Thập-trụ, Thập-hạnh và
Thập-hồi-hướng), lên trên đến
Bồ-tát ở địa vị Thánh (từ Địa
thứ nhất đến Địa thứ 10, tức
trọn vẹn cấp Thập-địa), cho đến
chư vị Bồ-tát sắp thành Phật ở hai địa
vị Đẳng-giác và Diệu-giác[71],
vô luợng vô số, đều đồng tu pháp môn
Niệm Phật Viên Thông này. Từ đó có thể thấy,
pháp môn Niệm Phật Viên Thông thù thắng đến
mức nào!
Phương pháp mà sách này tŕnh
bày, có thể giúp cho hành giả từ giai đoạn
niệm Phật hữu
tướng với tâm tán loạn, đạt
đến giai đoạn niệm Phật trong “sự nhất tâm” (tức
niệm Phật vô tướng).
Phương pháp này giúp cho hành giả, ngay trong nếp sinh hoạt
bận rộn của thời đại ngày nay, cũng có
thể có được tịnh niệm tiếp nối
(tức niệm Phật vô tướng); đó chính là
một loại “công phu trong
động”. Trong sinh hoạt thường ngày mà có
thể hành tŕ vô tướng niệm Phật nhất tâm
bất loạn, th́ trong lúc tĩnh tọa lại càng dễ
dàng đạt đến cảnh giới nhất tâm
bất loạn. Đến như có thể đạt
đến chỗ “lí nhất
tâm” hay không, th́ c̣n phải coi xem các kiếp trước
của hành giả, thiện căn, tuệ căn thế
nào; nhân duyên quả báo ra sao; cho đến có dứt bỏ
được sự chướng, tiêu trừ
được tánh chướng mà tinh tấn tu tŕ hay không.
Hành giả tu tập pháp môn
Niệm Phật Viên Thông này được thành công ở
bước đầu (tức niệm Phật vô
tướng trong sự nhất tâm), trong tương lai khi
xả bỏ báo thân, muốn văng sinh về cơi
Phương-tiện hữu-dư hoặc cơi Thật-báo trang-nghiêm
ở thế giới Cực-lạc, tùy ư mà cảm ứng,
chắc chắn được văng sinh (xin xem chú thích
số 1 của tác giả ở cuối sách); ngoại trừ
trường hợp vẫn c̣n quyến luyến thế
gian, không buông bỏ quyến thuộc, tiền của và
sự nghiệp, hoặc chưa tương ứng với
biệt nguyện của chư Phật (xin xem chú thích
số 8 của tác giả ở cuối sách). Nếu hành giả
có đầy đủ thiện căn phước
đức làm tư lương, và có phương tiện
thiện xảo, tu tập vào sâu đến lí nhất tâm và
cảnh giới thâm diệu hơn nữa, th́ muốn văng
sinh về tịnh độ của chư Phật cũng
đều được văng sinh. Nếu không muốn sinh
về tịnh độ chư Phật, cũng có thể
trụ nơi “duy tâm tịnh độ”. Người
đạt được sự nhất tâm (tức tu
tập thành công pháp môn Niệm Phật Vô Tướng),
cố nhiên có thể cầu văng sinh về thế giới
Cực-lạc ở phương Tây, cũng có thể sinh
liền vào cảnh giới thâm diệu để tu học
sâu xa hơn, nhờ đó mà tiến lên các phẩm hoa sen,
được sớm trở lại cơi Ta-bà, cứu
độ chúng sinh đau khổ.
Người tham thiền nếu
không muốn đi sâu vào pháp môn Niệm Phật Viên Thông, có
thể lấy nó làm phương tiện, dùng xong liền
bỏ đi – sự thật th́ pháp môn này c̣n quí hơn
cả vàng ngọc; cũng như qua sông th́ phải dùng
thuyền, khi đă đến bờ rồi th́ không cần
dùng thuyền nữa. Sau khi lấy pháp môn này tu tập thành
tựu công phu trong động, tức đă đầy
đủ năng lực khán thoại đầu, tham công
án. Lúc bấy giờ tham thiền th́ thật chắc
chắn, vững vàng, tuyệt đối không gặp
trở ngại. Cho nên người thật tâm tham thiền,
nếu chưa có đủ năng lực khán thoại
đầu, xin đừng nên v́ không vừa ḷng với
phương tiện thiện xảo trong thời ḱ
đầu của pháp môn này (tức lạy Phật và tŕ
danh niệm Phật), mà bỏ cái pháp môn tu tập công phu
trong động một cách tuyệt diệu này! Hành giả
tu tập pháp môn ấy, có thể thành tựu công phu trong
động; công phu đă có, bèn trở về thiền môn,
tu thiền càng có hiệu quả lớn lao, c̣n ǵ vui hơn,
sao lại không làm!? Lại c̣n có một điều lợi
nữa: Pháp môn này rất thích hợp cho việc tu tập
trong hoàn cảnh đầy chao động. Mỗi ngày
chỉ cần hai buổi sớm tối đều dành ra
từ 10 đến 20 phút để lạy Phật,
đối với người học Phật bận
rộn ngày nay, việc đó thích hợp không ǵ bằng!
Những điều vừa tŕnh
bày ở trên, xin quí vị hành giả nên lĩnh hội sâu
sắc, nắm vững tinh nghĩa, sau đó hăy y theo
phương pháp và thứ tự rất mực đơn
giản sẽ được tŕnh bày trong Chương
Bốn sau đây mà tinh tấn luyện tập, th́ chắc
chắn sẽ thành tựu pháp tu Niệm Phật Vô
Tướng; không những có hi vọng cầu văng sinh
Tịnh-độ, mà c̣n có thể tùy duyên tham thiền,
thể cứu niệm Phật, vui biết bao nhiêu!
(Xin chú ư: Tất cả
những chú thích ở cuối trang, như trang này,
đều là chú thích của người dịch. – Chú thích của tác giả
đặt ở cuối sách.)
[1] Tham cứu: là một thuật ngữ Thiền
học. Trong Thiền môn, người đệ tử
phải đến trước Thầy để tham
vấn, cầu khai thị về việc tham thiền
để thấy tánh giác ngộ, đó là việc quan
trọng trong đời tu hành của một thiền sinh.
[2] Bốn loại tịnh độ: Đại
sư Trí Khải của tông Thiên Thai phân biệt có bốn
loại tịnh độ:
1) Phàm-thánh
đồng-cư độ: tịnh độ của cả thánh
nhân (Thanh-văn, Duyên-giác) và phàm phu (người, trời)
cùng cư trú.
2)
Phương-tiện hữu-dư độ: tịnh độ
của chư vị A-la-hán, Bích-chi Phật và hàng Bồ-tát
Địa-tiền (trước khi tiến lên bậc
Sơ-địa) cùng cư trú.
3) Thật-báo
trang-nghiêm độ: tịnh độ của hàng Bồ-tát từ
bậc Sơ-địa cho đến bậc
Đẳng-giác cư trú.
4) Thường-tịch-quang
độ: tịnh độ của chư Phật.
[3] Kiến-đạo: là chặng đường
đầu tiên trong ba chặng đường dẫn
đến giải thoát niết bàn (Kiến-đạo,
Tu-đạo và Vô-học-đạo). Hành giả ở
địa vị phàm phu, sau một thời gian tu hành tinh
tấn, phát sinh trí tuệ vô lậu, thể hội lí tứ
đế, dứt trừ hết kiến hoặc trong ba
cơi, chứng quả Tu-đà-hoàn
(đối với Thanh-văn thừa), hoặc tiến lên
bậc Sơ-địa
Bồ-tát; đó là địa vị Kiến-đạo.
[4] Tu-đạo: Sau khi đă đạt
được địa vị Kiến-đạo th́
chặng đường kế tiếp là Tu-đạo.
Ở chặng đường này, hành giả tiếp
tục phát triển trí tuệ vô lậu, dùng trí tuệ
ấy để diệt trừ hết tư hoặc,
đó là công phu tu tập của hành giả ở
địa vị Tu-đạo. Đối với
Thanh-văn thừa th́ hai quả Tư-đà-hàm và A-na-hàm
thuộc địa vị này; khi đă diệt trừ
trọn vẹn mọi kiến tư hoặc trong ba cơi th́
chứng quả A-la-hán, đó là địa vị
Vô-học-đạo. Đối với Bồ-tát thừa
th́ Bồ-tát từ bậc Nhị-địa cho đến
Cửu-địa thuộc địa vị này; từ
bậc Thập-địa trở lên th́ thuộc Vô-học
đạo.
[5] Công phu trong động: “Công
phu” là một thuật ngữ Thiền học, dùng
để chỉ cho tŕnh độ hay thực lực tu
tập. Chữ “động”
là chỉ cho cảnh giới đầy dẫy ngũ
dục lục trần, lăng xăng loạn động;
trái lại là “tĩnh”, là
cảnh giới tĩnh lặng trong thiền định. “Công phu trong động”
tức là hành giả tập thiền trong một hoàn
cảnh không yên tĩnh, đầy vọng động,
cũng tức là tập thiền trong những lúc đi
đứng ngồi nằm, trong những lúc làm việc,
ăn uống, nói năng, v.v... nói chung là trong mọi sinh
hoạt hằng ngày. Thuật ngữ “công phu trong động”
cũng được dùng trong Tịnh Độ tông,
chỉ cho việc miệng niệm lớn tiếng danh
hiệu Phật của pháp môn tŕ danh niệm Phật.
[6] Khán thoại
đầu: Chữ “khán” là
một thuật ngữ Thiền học, có nghĩa là
chỉ nh́n đối tượng một cách chăm chú mà
không phát ra tiếng nói. Đối tượng nổi
hiện thường trực trên ư thức, và hành giả
dùng trí tuệ để chiếu soi nó, cho tới khi
thấy được chân tướng của nó tức là
được khai ngộ. “Thoại
đầu” cũng là một thuật ngữ Thiền
học, chỉ cho một câu nói được dùng làm
đề tài tham cứu cho hành giả trong lúc thực
tập thiền quán. Những lời dạy của
Phật trong kinh điển, những lời huấn
thị của các vị tổ sư ngộ đạo,
những lời đối đáp giữa các vị
thiền sư, đều là những pháp tắc, mô
phạm mà các hành giả trong thiền môn phải lấy
đó để chiêm nghiệm, tu tập, nhờ đó mà
được khai ngộ. “Khán
thoại đầu” tức là dùng trí tuệ để chiêm
nghiệm, quán chiếu một lời dạy của
Phật, một câu nói của bậc tổ sư ngộ
đạo, cho đến khi toàn vẹn yếu nghĩa
của nó bùng vỡ, đó là lúc hành giả được
khai ngộ.
[7] Tham thoại
đầu: cũng tức là “khán thoại đầu”.
[8] Đồng tham: tức là những người
bạn cùng nhau tu tập thiền quán.
[9] Thùng sơn đen (hắc tất thông): tức là
cái thùng đựng đầy sơn đen kịt, là
một thuật ngữ dùng trong chốn thiền lâm
để ví dụ cho vô minh dầy đặc, cứng
chắc, khó phá trừ.
[10] Tham công án: cũng tức là
tham thoại đầu.
[11] Thời gian của thánh nhân: tức là thời ḱ mà
người ta tu hành chứng quả thánh rất dễ
dàng, rất nhiều; có thể chỉ cho thời Phật
tại thế, hoặc vài trăm năm sau ngày Phật
nhập diệt.
[12] Hư Vân (1840-1959): Ngài họ Tiêu, tên
Trai, pháp danh Cổ Nham, tự Đức Thanh, quê ở
huyện Tương-lương, tỉnh Hồ-nam. Từ
sau thời ḱ Dân-quốc, ngài đă một ḿnh gánh vác
trọng nhiệm truyền thừa của cả 5 phái
Thiền tông: Tào Động, Lâm Tế, Vân Môn, Pháp Nhăn, Qui
Ngưỡng. Năm 19 tuổi ngài xuất gia với ḥa
thượng Thường Khai, chùa Dũng-tuyền, ở
núi Cổ-sơn, tỉnh Phúc-kiến; năm sau ngài thọ
giới cụ túc với ḥa thượng Diệu Liên,
cũng ở Cổ-sơn. Sau đó ngài trải
bước khắp các danh sơn để tham phỏng
học đạo. Hành tung của ngài biến khắp
đó đây, nào Tứ-xuyên, Tây-khương, rồi ra các
nước ngoài như Tây-tạng, Ấn-độ, Nam-dương,
Miến-điện, v.v... Năm 43 tuổi ngài phát tâm
triều bái (đi ba bước lạy một lạy) núi
Ngũ-đài để đền báo thâm ân cha mẹ.
Khởi hành từ am Pháp-hoa, núi Phổ-đà, ngài đi ṛng
ră 3 năm, chịu đủ điều đói lạnh, ba
lần bị bệnh nặng tưởng chết,
nhưng nhờ được đức Bồ-tát Văn
Thù cảm ứng cứu độ, cuối cùng ngài đă
tới được chùa Hiển-thông ở núi
Ngũ-đài. Năm 56 tuổi, trong thời gian tham dự
khóa tu nhập thiền thất tại chùa Cao-mân ở
Giang-tô, một hôm, v́ sơ ư làm rớt tách trà xuống
đất, vừa nghe tiếng tách nước bể, ngài
liền dứt hết căn nghi, triệt ngộ
tự tánh. Năm 61 tuổi
(1900) ngài về ẩn cư ở núi Chung-nam, đổi tên
lại là Hư Vân, và lấy hiệu là Huyễn Du. Sau
đó ngài lại lên đường du phương
giảng kinh hoằng hóa, trong thời gian này, năm 68
tuổi, ngài cũng từng sang giảng kinh ở Thái-lan,
Mă-lai. Từ năm 72 tuổi ngài đến giáo hóa ở
Vân-nam, suốt 18 năm, đến năm 90 tuổi ngài
mới trở về núi Cổ-sơn (Phúc-kiến), trụ
tŕ và trùng tu chùa Dũng-tuyền, lập Phật học
viện Cổ-sơn, đào tạo tăng tài. Năm 95
tuổi (1934) ngài xuống
Quảng-đông, tu sửa chùa Nam-hoa, di tích của Lục
tổ Tuệ Năng. Năm 105 tuổi (1944) ngài đi
Triết-giang trùng tu tổ đ́nh Vân-môn. Năm 110 tuổi
(1949) ngài sang hoằng pháp ở Hương-cảng, rồi
trở về lại Vân-môn; lúc đó đảng Cộng
sản Trung-quốc đă làm chủ Hoa-lục. Mùa xuân
năm 1951, lúc này ngài đă 112 tuổi, vẫn lănh
đạo tăng chúng cả ngàn người tu học
tại đạo tràng Vân-môn. Buổi sáng ngày 20 tháng 2,
hơn 100 công an cộng sản kéo lên núi bao vây chùa, rồi
tấn công lục soát, cướp phá chùa. Ngài bị họ
giam riêng một pḥng, các vị đệ tử của ngài
đều bị tra tấn, đánh đập tàn nhẫn;
đệ tử lớn của ngài là thiền sư
Diệu Vân đă bị đánh đến chết, một
số bị găy cả tay chân, một số bị bắt
đem đi mất tích. Họ phá phách như vậy
đến hơn 10 ngày, cuối cùng th́ đến
lượt ngài bị hành hung, tra tấn, bắt phải
chỉ chỗ giấu vàng bạc, tiền của quân nhu,
vũ khí. Họ chửi rủa tục tằn, đánh ngài
bằng cây gỗ, gậy sắt, đến nỗi bong gân
gẫy xương, mắt tai mũi miệng đều
tuôn máu; nhưng ở chùa th́ làm ǵ có vàng bạc, quân nhu,
vũ khí để chỉ! Cho nên ngài chỉ một mực
niệm Phật, cho đến khi bất tỉnh nhân
sự. Chẳng bao lâu bịnh phát, ngài bèn ngồi xếp
bằng, nhịn ăn đến 9 ngày, th́ thần trí phiêu
diêu cơi Đâu-suất, được nghe đức Di
Lặc giảng kinh. Cộng quân thấy sự việc
diệu ḱ, đâm ra khiếp sợ, bèn qui phục. Từ
đó không dám đến quấy phá ngài nữa. Mùa xuân
năm 1952, bệnh t́nh đă thuyên giảm, chính quyền
Bắc-kinh đă cử phái đoàn vào Vân-môn để mời
ngài ra Bắc-kinh. Tại đây, ngài đă yêu cầu chính
phủ ngưng các hành động đập phá chùa
chiền, hủy hoại tượng Phật và kinh
điển; hủy bỏ lệnh bắt tăng ni hoàn
tục; tài sản của tự viện phải để
cho tăng chúng tự túc. Ngài cũng phản đối
kịch liệt nhóm tăng sĩ cộng sản muốn
hủy phá giới luật cùng thanh qui thiền viện.
Giữa năm 1953, theo lệnh của chính quyền, ngài
về núi Lô-sơn để tịnh dưỡng. Ở
đây chỉ vài tháng, ngài lại đến núi Vân-cư
ở Giang-tây để tu sửa chùa Chân-như, và cư trú
luôn tại đây. Năm 1958, thấy ảnh hưởng
của ngài quá lớn đối với Phật giáo toàn
quốc, chính quyền cộng sản bèn bày tṛ đấu
tố ngài. Họ phát động phong trào học tập
cải tạo cho các đoàn thể tôn giáo. Họ kết
tội này tội nọ cho các sư trụ tŕ các chùa
Nam-hoa, Vân-môn, Vân-cư, để ép buộc các vị này
phải đấu tố ngài, nhưng quí thầy vẫn
bất khuất, không chịu thi hành mệnh lệnh
của họ. Nhóm tăng sĩ cộng sản th́ chính
thức vu cáo cho ngài các tội nghiêm trọng như tham ô,
phản động, đạo đức giả,
truyền giới pháp sai lầm v.v... Ngài lại bị
bắt giam ở một nơi kín đáo, mấy tháng
mới được thả về chùa. Các vị
đệ tử đắc lực của ngài đều
bị bắt giam ở các trại cải tạo, rồi
bị phân tán đi các nơi biệt tích. Năm 1959, lúc này
ngài đă 120 tuổi, bệnh t́nh trở nặng,
đến tháng 8 th́ thị tịch; tăng lạp 101
năm. Suốt một đời tu hành, ngài thực hành
đủ các hạnh, như hiếu, nhẫn, tịnh,
định, xả, bi, vô úy, bất phóng dật v.v...
Gặp thời tao loạn, tông phong xuống thấp,
đạo tràng bỏ phế, ngài đă phát nguyện
chấn hưng các ṭng lâm danh tiếng ở các nơi
như chùa Hoa-hanh ở Vân-nam, chùa Nam-hoa ở Tào-khê, chùa
Dũng-tuyền ở Phúc-kiến, chủa Vân-môn ở
Quảng-đông, v.v... cả thảy đến hơn 80
ṭng lâm. Ngài trước tác rất nhiều, nhưng
đều bị mất hết trong “sự biến
Vân-môn”. Người sau bèn góp nhặt những pháp ngữ,
khai thị v.v... của ngài mà làm thành tập sách Hư Vân Ḥa Thượng Pháp
Vựng.
[13] Chữ “thật pháp” ở đây có
nghĩa là những phương pháp hoặc nghi thức hành
tŕ cụ thể mà mọi người có thể trông
thấy rơ ràng, có qui định chung và thống nhất
chấp hành.
[14] Tâm hành: tức là ư thức suy nghĩ, tính toán, phân
biệt, so đo, phán đoán v.v...
[15] Mười sáu phép quán: tức 16 phép quán
tưởng dành cho hành giả tu pháp môn Tịnh Độ,
được nêu rơ trong kinh Quán
Vô Lượng Thọ: 1) Quán tưởng ánh sáng mặt
trời; 2) Quán tưởng nước; 3) Quán tưởng
đất; 4) Quán tưởng cây báu; 5) Quán tưởng ao
báu; 6) Quán tưởng lầu gác báu; 7) Quán tưởng ṭa
sen báu; 8) Quán tưởng h́nh tượng Phật,
Bồ-tát; 9) Quán tưởng chân thân Phật A Di Đà; 10)
Quán tưởng thân tướng Bồ-tát Quán Thế Âm; 11)
Quán tưởng thân tướng Bồ-tát Đại
Thế Chí; 12) Quán tưởng chính ḿnh được văng
sinh; 13) Quán tưởng chung chân thân Phật, hóa thân
Phật, thân lớn, thân nhỏ v.v...; 14) Quán tưởng
văng sinh bậc Thượng-phẩm; 15) Quán tưởng
văng sinh bậc Trung-phẩm; 16) Quán tưởng văng sinh
bậc Hạ-phẩm. (Xin xem
kinh Quán Vô Lượng Thọ để được rơ
ràng hơn.)
[16] Bồ-tát: Danh xưng Bồ-tát ở đây là
chỉ cho những người đă thọ giới
Bồ-tát; hoặc giả người Hoa cũng
thường xưng người đối diện
(tăng hay tục) là Bồ-tát để tỏ ư kính
trọng.
[17] Ba tạng là tạng Kinh, tạng Luật và
tạng Luận, là toàn bộ giáo điển của
Phật giáo. Mười hai
bộ tức mười hai bộ kinh, là 12 thể
loại của toàn bộ kinh điển Phật dạy: 1) Khế kinh (Trường hàng):
những lời dạy của đức Phật bằng
văn xuôi, thường được gọi tổng quát
là “KINH”. 2) Ứng tụng (Trùng tụng): những bài
kệ tụng dùng để tóm tắt ư nghĩa của
khế kinh, thường đặt ở sau và luôn luôn
tương ứng với phần khế kinh. 3) Kí biệt (Thọ kí):
lời Phật thọ kí cho các đệ tử sẽ thành
Phật trong đời vị lai. 4) Phúng tụng (Cô khởi): một bài kinh Phật
dạy toàn dùng kệ tụng để diễn
đạt; nhưng không phải là những bài kệ
tụng tóm tắt kinh văn “trường hàng” như
thể loại “Trùng tụng” (số 2 ở trên). 5) Tự thuyết: Phật
tự mở lời khai thị mà không đợi có
người thỉnh cầu chỉ dạy. 6) Nhân duyên: nêu lên cái nhân duyên
đưa đến trường hợp thuyết giáo
của Phật – thường
là phẩm “Tựa” ở
đầu mỗi bộ kinh. 7)
Thí dụ: những thí dụ Phật đưa ra trong
lúc giảng thuyết để giúp thính chúng hiểu ư kinh
dễ dàng hơn. 8) Bản
sinh: các kiếp tu hành đời trước của
Phật do chính Ngài thuật lại. 9) Bản sự: những hành vi cùng phẩm
hạnh của chư vị Bồ-tát và thánh chúng
đệ tử trong các kiếp trước do đức
Phật thuật lại. 10)
Phương quảng: kinh điển Phật nói có
văn từ phong phú, giáo nghĩa sâu xa rộng lớn;
đặc biệt chỉ cho kinh điển đại
thừa. 11) Hi pháp (Vị
tằng hữu): những sự việc ít có của
Phật và chư vị đệ tử được ghi
chép trong kinh. 12) Luận
nghị: những lời nghị luận rành mạch, rơ
ràng của đức Phật nhằm giúp thính chúng hiểu
rơ về thể tánh của vạn pháp.
[18] Quyền nghi và thật tướng: nói tắt là
quyền và thật, là hai thuật ngữ Phật học. “Quyền” nghĩa là
phương tiện chỉ dùng trong nhất thời, tùy
trường hợp, hoàn cảnh, đối tượng
mà nói năng, hành động, xử sự cho
được thích nghi, không cứ phải chấp nê theo
một khuôn thức cứng ngắc, nhất định
nào cả. “Thật” nghĩa
là chân thật, chắc chắn, rốt ráo cùng cực,
vĩnh viễn không thay đổi; đó là mục đích
thật sự phải đạt tới. Vậy, “quyền” đồng nghĩa
với “phương tiện”;
và “thật” đồng
nghĩa với “cứu cánh”.
Từ hai thuật ngữ này, trong Phật học đă phát
sinh nhiều thuật ngữ liên hệ, như: quyền giáo, thật giáo;
quyền trí, thật trí; v.v...
[19] Hóa thân: là một trong ba thân của Phật,
cũng gọi là ứng thân, hay ứng hóa thân. Đó là thân
tướng do Phật v́ cảm ứng độ sinh mà hóa
hiện ra.
[20] Tam muội: tức là định lực.
[21] Báo thân: là một trong ba thân của Phật. Đó
là hiện thân chúng sinh của Phật, như thân
người của đức Thích Ca Mâu Ni, có 32
tướng tốt, 80 vẻ đẹp, cũng chịu
luật vô thường biến hoại với đầy
đủ bốn tướng trạng sinh già bệnh
chết.
[22] Pháp thân: là một trong ba thân của Phật. Đó
là thân chân thật, thường trú, không sinh không diệt
của Phật.
[23] Đệ nhất nghĩa: chân lí thâm diệu
tuyệt đỉnh, không có ǵ hơn.
[24] Giác quán: “Giác” là suy
cứu sự lí một cách sơ lược – danh từ
Duy Thức Học gọi là “tầm”
(một trong bốn tâm sở bất định); “quán” là suy cứu sự lí
một cách tinh tường, sâu sắc – danh từ Duy
Thức Học gọi là “từ”
(một trong bốn tâm sở bất định). Nói chung,
“giác quán” là ư thức hay suy nghĩ, t́m hiểu, nghiên cứu
để làm cho dồi dào kiến thức. Giác và quán
nếu được duy tŕ liên tục, có thể làm
mất chánh niệm, thân tâm lao tổn, cho nên chúng có thể
làm chướng ngại cho thiền định.
[25] Ba căn: tức ba loại căn cơ hay căn
tánh: thượng căn (căn cơ cao), trung căn
(căn cơ trung b́nh) và hạ căn (căn cơ
thấp).
[26] Hoằng Nhất (1880-1942): là vị cao tăng
Trung-quốc đă có công trung hưng Luật học của
hệ phái Nam-sơn. Ngài họ Lí, tên Quảng Hầu,
hiệu Thúc Đồng, quê ở huyện B́nh-hồ,
tỉnh Triết-giang. Ngài tính t́nh hào phóng mà điềm
đạm, rất giỏi thi văn từ phú, kiêm cả
thư pháp, hội họa, khắc chữ. Năm 26
tuổi ngài sang Nhật-bản, học trường
Mĩ-thuật ở Thượng-dă, nghiên cứu cả âm
nhạc, thành lập ban kịch Xuân Liễu,
được coi là người đi đầu trong phong
trào vận động nền kịch mới ở
Trung-quốc. Sau khi về nước, ngài vào dạy ở
trường Công nghiệp Thiên-tân; sau đó lại đi
Thượng-hải làm chủ bút báo Thái B́nh Dương, mượn văn
chương chữ nghĩa cùng hội họa để
tuyên truyền cách mạng. Sau đó ngài được
trường Sư phạm Đệ nhất ở
Triết-giang mời chủ tŕ các khoa Hội họa và Âm
nhạc. Tại đây, ngài cũng là người
đầu tiên đem giới thiệu các môn kịch
nghệ, âm nhạc, hội họa của Tây phương,
mở ra một phong khí mới. Năm 1918, lúc đó ngài 39
tuổi, ngài bỗng đem tất cả các tác phẩm
của ngài như sách vở, tranh vẽ, thư pháp v.v...
tặng hết cho người, rồi đi xuất gia
ở chùa Đại-từ tại Hàng-châu. Chẳng bao lâu
ngài thọ đại giới tại chùa Linh-ẩn,
Hàng-châu, pháp danh là Diễn Âm, hiệu là Hoằng Nhất.
Ngài thường than rằng, sở dĩ tăng giới
thường bị người đời chê trách là v́
không tuân giữ giới luật, cho nên đă phát nguyện
đem hết khoảng đời c̣n lại để tinh
nghiên giới pháp. Ban đầu ngài học luật của
Hữu bộ, sau đó th́ chuyên hoằng dương Nam-sơn
Luật tông. Ngài chịu đựng khó nhọc,
thường đi chân trần hoặc dùng giày cỏ,
một ḿnh một gánh, vân du các xứ, giảng kinh
hoằng pháp. Năm 1942 ngài thị tịch, thọ thế
63 tuổi, tăng lạp 24 năm.
[27] Đới nghiệp văng sinh: là một thuật
ngữ chuyên dùng trong tông Tịnh Độ. Theo giáo nghĩa
của tông này, người tu hành pháp môn Niệm Phật,
nếu điều kiện nhân duyên đầy đủ,
dù chưa dứt hết các nghiệp đời
trước, khi mạng chung vẫn được văng sinh
về nước Cực-lạc. Văng sinh về đó
rồi th́ bao nhiêu nghiệp ác cũ không c̣n có cách nào
hiện hành được nữa, chỉ c̣n một cách
tiêu mất mà thôi. Như thế là hành giả cứ tinh
tấn tu tập, không bị thối chuyển, cho
đến ngày thành Phật.
[28] Vô sinh nhẫn: cũng gọi là “vô sinh pháp nhẫn”, hay “vô
sinh nhẫn pháp”. Chữ “nhẫn” ở đây có
nghĩa là an trú, tâm bất động. Hành giả tu
tập, quán chiếu thấy rơ thật tướng bất
sinh bất diệt của các pháp, tâm an trú nơi chân lí
ấy, không c̣n hoài nghi, không c̣n vọng động, không c̣n
thối lui, tự tại vô ngại, gọi là “vô sinh nhẫn”.
[29] Sáu niệm (lục niệm): tức là sáu
đối tượng mà người tu học luôn luôn
nhớ nghĩ tới:
1) Niệm Phật: nhớ nghĩ
tới Phật là bậc đại từ đại bi
đại trí đại lực, gồm đủ vô
lượng công đức.
2) Niệm pháp: nhớ nghĩ
tới Ba Tạng mười hai bộ kinh do Phật nói có
công năng đem lại lợi ích lớn lao cho chúng sinh.
3) Niệm tăng: nhớ nghĩ
tới chư tăng có đầy đủ giới
định tuệ, làm ruộng phước tốt cho chúng
sinh ở thế gian.
4) Niệm giới: nhớ nghĩ
tới giới hạnh có năng lực rất lớn, có
năng lực tiêu trừ mọi phiền năo xấu ác
của chúng sinh.
5) Niệm thí: nhớ nghĩ
tới hạnh bố thí có công đức rất lớn,
làm tiêu trừ tính xan tham của chúng sinh.
6) Niệm thiên: nhớ nghĩ
tới chư thiên trong ba cơi, do đời trước có
căn lành được nghe chánh pháp, tu tŕ tịnh
giới, thực hành bố thí v.v... mà hiện tại
hưởng được quả báo an lành, sung
sướng.
[30] Vĩnh Minh Diên Thọ (904-975): cũng gọi là
Vĩnh Minh, hay Diên Thọ, hoặc Vĩnh Minh Thọ
thiền sư, vừa là tổ thứ 3 của phái
thiền Pháp Nhăn, vừa là tổ thứ 6 của tông
Tịnh Độ Trung-quốc. Ngài họ Vương,
tự Trọng Huyền, vốn quê ở huyện Giang-ninh,
tỉnh Giang-tô, sau dời qua huyện Dư-hàng, tỉnh
Triết-giang. Lúc trẻ ngài làm quan trông coi về thuế
vụ dưới thời vua Tiền Lưu của
nước Ngô-Việt (một trong 10 nước thời
Ngũ-đại, 907-978, Trung-quốc). Năm 30 tuổi
ngài vào núi Tứ-ninh (Triết-giang), xin xuất gia với
thiền sư Thúy Nham ở chùa Long-sách. Sau đó ngài
đến núi Thiên-thai, xin tham yết quốc sư
Đức Thiều tu tập thiền quán, được
truyền pháp, trở thành người thừa kế
đời thứ 3 của tông Pháp Nhăn. Ngài lại
đến chùa Quốc-thanh, chuyên đọc tụng kinh Pháp Hoa, và hành tŕ Pháp Hoa Sám Pháp. Sau đó ngài
đến trú tại núi Tuyết-đậu ở Minh-châu.
Tại đây ngài ra công hoằng pháp, đồ chúng theo
học rất đông. Từ năm 961 (dưới vương
triều Tống) ngài trú tại chùa Vĩnh-minh (Tây-hồ,
Hàng-châu) cho đến cuối đời, nhiếp hóa
đồ chúng đông đúc, khiến nơi đây trở
thành một đạo tràng quan trọng của cả hai
tông phái Thiền và Tịnh Độ. Ngài mỗi ngày hành tŕ
108 điều – mà hai điều quan trọng nhất là
tụng một bộ kinh Pháp
Hoa và niệm Phật mười vạn biến.
Buổi tối lại ra một hang đá riêng để
niệm Phật. Tất cả công đức tu tŕ ngài
đều hồi hướng về cơi
Tịnh-độ. Ngài viên tịch năm 975, thọ
thế 72 tuổi, được vua ban thụy hiệu là
Trí Giác thiền sư. Ngài chủ xướng con
đường “Thiền Tịnh song tu”. Ngài có hai tác
phẩm quan trọng: Tông
Cảnh Lục (dung ḥa những dị đồng
giữa ba tông Hoa Nghiêm, Pháp Hoa và Duy Thức), Vạn Thiện Đồng Qui
(tŕnh bày yếu chỉ tông Tịnh Độ).
[31] Trường Lô Tông Trách (?-?): vị cao tăng
đời Tống, vừa thuộc thiền phái Vân Môn,
vừa thuộc tông Tịnh Độ. Ngài họ Tôn,
người huyện Tương-dương, tỉnh
Hồ-bắc, không rơ năm sinh và năm viên tịch. Ngài
mồ côi cha từ thuở nhỏ, được mẹ
đem về nhà người cậu nương náu, nuôi
nấng cho tới ngày lớn khôn. Lúc đầu ngài học
Nho, mọi kinh sách thế tục đều thông suốt.
Năm 29 tuổi ngài xin xuất gia với thiền sư
Viên Thông Pháp Tú ở chùa Trường-lô (tỉnh Giang-tô),
chẳng bao lâu th́ tỏ ngộ thiền cơ,
được thầy ấn khả. Khoảng năm 1086
ngài được kế thế trụ tŕ chùa
Trường-lô. Nghĩ đến công sinh thành dưỡng
dục của mẹ, ngài xây một căn nhà nhỏ ở
phía Đông phương trượng, mời bà về
ở, rồi vân tập đại chúng đến hộ
niệm để làm lễ xuống tóc cho bà. Từ đó
ngài khuyên bà chuyên tâm niệm Phật. Sau 7 năm, một hôm,
không đau ốm ǵ, bà an nhiên giă từ cơi thế. Năm
1089, ngài noi theo qui củ của Bạch Liên Xă ở
Lô-sơn, lập ra Liên Hoa Thắng Hội tại chùa
Trường-lô, khuyến khích tứ chúng tŕ danh niệm
Phật, cầu văng sinh Tịnh-độ. Trước tác
của ngài có: Thiền Uyển
Thanh Qui, Tịnh Độ giản Yếu Lục, Niệm
Phật Tham Thiền Cầu Tông Chỉ Thuyết, v.v...
[32] Vân Thê Châu Hoằng (1532-1612): tức đại
sư Liên Tŕ, người quê Hàng-châu, sống vào đời
Minh (1368-1661). Ngài họ Thẩm, pháp danh Châu Hoằng,
tự Phật Tuệ, hiệu Liên Tŕ. Lúc nhỏ ngài học
Nho, 17 tuổi đă nổi tiếng khắp trường
huyện về học lực lẫn hạnh kiểm;
nhưng v́ chịu ảnh hưởng của hàng xóm, nên tâm
đă sớm hướng về Phật pháp, bèn viết
bốn chữ “SINH TỬ
SỰ ĐẠI” đặt trên bàn học, để
tự cảnh giác ḿnh. Vào tuổi trung niên ngài quay hẳn
về Phật giáo. Sau khi song thân đều mất, ngài
đi xuất gia, lúc đó đă trên 30 tuổi. Sau khi thọ
giới cụ túc với đại sư Vô Trần, ngài
dốc chí vân du bốn phương để tham cầu
học đạo. Năm 1571 ngài vào núi Vân-thê ở Hàng-châu,
ẩn cư trong một ngôi chùa bỏ hoang. Từ đó
ngài chuyên tŕ pháp môn Niệm Phật tam muội, giáo hóa quanh
vùng, đồ chúng ngày càng đông, nơi đó bèn trở
thành một ngôi ṭng lâm. Tuy chuyên tu Tịnh Độ,
nhưng ngài cũng hô hào “Thiền Tịnh song tu”.
Đạo phong của ngài cao vọi, rất nhiều
sĩ phu quanh vùng được ngài giáo hóa. Năm 1612 ngài
thị tịch, thế thọ 81 tuổi. Người
đời xưng ngài là Vân Thê ḥa thượng, hoặc Liên
Tŕ đại sư, và là vị tổ thứ 8 của tông
Tịnh Độ. Trước tác của ngài có Văng Sinh Tập, A Di Đà Kinh
Sớ Sao, Thiền Quan Sách Tấn v.v...
[33] Minh: là một thể
văn (thường khắc trên bia) dùng để ca
tụng công đức người xưa, hoặc
để cảnh tỉnh người sau.
[34] Tiếu Lănh Đức Bảo (1512-1581): Ngài họ
Ngô, quê ở Kim-đài (Bắc-kinh), là thiền sư tông Lâm
Tế ở đời Minh. Ngài có hiệu là Tiếu Nham,
nên thường được người đời
xưng là Tiếu Nham Đức Bảo thiền sư. (“Tiếu Nham”, ở đây tác giả viết là Tiếu Lănh. hai chữ NHAM và LĂNH, ư
nghĩa giống nhau nhưng tự dạng và âm đọc
khác nhau. Như vậy là có sự nhầm lẫn, nhưng
chưa biết do đâu.) Ngài mồ côi cha mẹ từ
thuở nhỏ, đến năm 20 tuổi gặp duyên
lành được nghe giảng Hoa
Nghiêm Đại Sớ. Năm 22 tuổi ngài xuất gia
và thọ cụ túc giới với thiền sư
Đại Tịch ở chùa
Quảng-tuệ. Sau đó ngài vân du các nơi, tham
học với hơn ba mươi vị tri thức,
rồi lại tới chùa Long-tuyền tham học với
thiền sư Vô Văn Minh Thông. Một hôm ngài xuống mé
sông rửa rau, nhân vài cọng rau rớt xuống
nước, bị nước cuốn trôi đi, không
vớt lên được, mà ngài hốt nhiên khai ngộ,
được thiền sư Minh Thông ấn khả.
Về sau ngài vào núi Chung-nam, giáo hóa đồ chúng ở các
đạo tràng Cao-ṭa, Ngưu-thủ, Viên-thông v.v... Năm
1577 ngài về Yên-kinh (Bắc-kinh) cất am ẩn cư,
đến năm 1581 thị tịch, thế thọ 70
tuổi.
[35] Ném kích (trịch
kích) là
chỉ cho việc Đổng Trác (thời Tam-quốc) ném
cây kích muốn giết người con nuôi là Lữ Bố,
chỉ v́ hai cha con cùng giành nhau một người đàn bà
(Điêu Thuyền); ư nói là việc ác. Đốt hương (phần hương) là
chỉ cho việc thờ kính cúng dường; ư nói là việc
thiện.
[36] Cao Phong Ngữ Lục: tức Cao Phong Nguyên Diệu Thiền Sư Ngữ Lục,
cũng gọi là Cao Phong
Đại Sư Ngữ Lục, do thiền sư Nguyên
Diệu (1238-1295) soạn vào đời Tống.
[37] Thiền sư Cao Phong: tức thiền sư Nguyên
Diệu (1238-1295), cũng gọi là Cao Phong Nguyên Diệu,
hoặc Cao Phong Diệu, là vị thiền sư thuộc
tông Lâm Tế, sống vào thời đại nhà Tống.
Ngài họ Từ, hiệu là Cao Phong, quê ở huyện
Ngô-giang (tỉnh Giang-tô). Ngài xuất gia khi lên 17 tuổi, ban
đầu tu học theo tông Thiên Thai, sau chuyển qua tham
thiền, đắc pháp với thiền sư Tuyết Nhan
Tổ Khâm (?- 1287). Năm 29 tuổi ngài ẩn cư ở
chùa Long-tu tại Lâm-an. Vào năm 32 tuổi, một hôm, t́nh
cờ người bạn đồng tham đẩy cái
gối rớt xuống đất, nghe tiếng
động ấy mà hoát nhiên đại ngộ. Năm 45 tuổi ngài lên núi Thiên-mục
ở Hàng-châu, kiến tạo hai ngôi chùa Sư-tử và
Đại-giác, độ đệ tử vài trăm
người, c̣n số người xin thọ giới
với ngài có đến vài vạn. Năm 58 tuổi,
một hôm ngài thắp hương, nói kệ, rồi
ngồi ngay ngắn thị tịch; thụy hiệu là
Phổ Minh Quảng Tế thiền sư.
[38] Khuông-sơn tức là
núi Lô-sơn (tỉnh Giang-tây), nơi ngài Tuệ
Viễn thành lập Bạch Liên Xă, khởi đầu cho
pháp môn tu niệm Phật cầu văng sinh Tịnh-độ
ở Trung-quốc. Vĩnh-minh
là tên chùa (ở tỉnh Triết-giang), là đạo tràng tu
Tịnh Độ rất lớn dưới sự dẫn
dắt của thiền sư Diên Thọ.
[39] Lăng-nghiêm đại định: tức là “Thủ-lăng-nghiêm tam muội”,
dịch âm từ tiếng Phạn “Suramgamasamadhi”, có nghĩa là định lực
rốt ráo (thủ-lăng),
kiên cố (nghiêm), nhiếp
tŕ tất cả các pháp. Nó được gọi là “đại căn bản
định”, vốn có trong bản tánh của tất
cả chúng sinh, nhưng chỉ có Phật và hàng Bồ-tát
ở Địa thứ mười (Thập-địa)
trở lên mới chứng đắc được.
[40] Hai chướng sự và lí: tức hai thứ
chướng ngại (nhị chướng): - chướng
ngại về lí, gọi là “sở
tri chướng”; - chướng ngại về sự,
gọi là “phiền năo
chướng”.
[41] Chỉ tịnh (tĩnh): Chữ “chỉ” nghĩa là ngưng hết mọi hoạt
động; chữ “tịnh”
(tĩnh) nghĩa là hoàn toàn yên lặng. “Chỉ tịnh” là một thuật ngữ
được dùng trong thiền môn, chỉ cho lúc bắt
đầu giờ tọa thiền và lúc đi ngủ.
[42] Cơ phong: cũng gọi là “thiền cơ”, là một thuật ngữ
được dùng trong thiền môn, chỉ cho cái tác
dụng mẫn nhuệ của tâm để khế hợp
với chân lí, khi một thiền tăng thọ giáo với
một vị thiền sư. Do sự phát lộ của “cơ phong” này mà vị
thiền sư thấy được tŕnh độ tâm
linh của người đối diện.
[43] Vô sự: là một thuật ngữ Thiền
học, có nghĩa là không mong cầu ǵ cả. Có một phái
Thiền chủ trương xa ĺa tất cả tạo tác,
không dụng tâm cố sức tu tập để mong
cầu chứng ngộ. Tập thiền theo cách đó
gọi là “vô sự thiền”.
[44] H́nh nhi thượng học: cũng gọi là “huyền học”, tức là
phần triết học về siêu h́nh, trừu
tượng; trái lại là “h́nh
nhi hạ học”, tức là phần triết học
hữu h́nh, cụ thể.
[45] Nghi t́nh: là tâm trạng nghi hoặc, dụ dự,
không quyết định. “Nghi”
là lí trí suy xét nhưng không nhận rơ được lẽ
thật hư, là trạng thái tâm lí không biết chắc rơ
ràng, không thể xác quyết là phải hay quấy. Khi có
điều nghi ngờ, người ta thường có khuynh
hướng dùng triết lí để phân tích vấn
đề, hoặc quán sát trực tiếp vấn
đề, để mong thấy rơ cái lí lẽ chân
thật. Như vậy, đặc tính của “nghi”, khởi đầu là
nghi một hiện tượng ngoại giới, rồi
dần dần chuyển hướng vào nội giới,
h́nh thành một “khối nghi” -
tức là “nghi t́nh”, làm
điều kiện dễ dàng cho trí quán chiếu trực
tiếp phát sinh. Bởi vậy, Thiền tông thường
nhấn mạnh rằng, cái
nghi lớn (đại nghi) chính là cái tuyệt đối
cần thiết cho sự tham thiền ngộ đạo.
Ví như có vị sư làm mất chiếc áo cà sa duy
nhất, t́m không thấy, cứ nhớ măi trong ḷng, niệm
niệm không quên, để rồi lại đi t́m, cho
đến khi nào t́m thấy mới thôi. Cho nên, “nghi” là điều tối quan
trọng của hành giả tập thiền, có nghi mới
có chứng ngộ; và cái nghi đó được gọi là
“chân
nghi” (cái nghi chính đáng). Không có cái nghi t́nh (chân nghi) này
th́ sẽ không hi vọng có ngày chứng ngộ.
[46] Theo Kinh Đại A Di Đà (cư sĩ Chi Khiêm
dịch, nước Ngô, thời Tam-quốc), 12 đức Phật đó
là: Vô Lượng Quang, Vô Biên Quang, Vô Ngại Quang, Vô
Đối Quang, Viêm Vương Quang, Thanh Tịnh Quang, Hoan
Hỉ Quang, Trí Tuệ Quang, Bất Đoạn Quang, Nan
Tư Quang, Vô Xưng Quang, và Siêu Nhật Nguyệt Quang.
[47] Hương quang trang nghiêm: “Hương” tức là mùi hương pháp thân
Phật; “quang” tức là trí
tuệ; “trang nghiêm” tức
là trang sức cho đẹp đẽ. Niệm Phật
tức là đem mùi hương pháp thân Phật và ánh sáng trí
tuệ để trang sức cho bản tính giác ngộ
của chính ḿnh, gọi là “hương
quang trang nghiêm”.
[48] Đoạn kinh
văn này tác giả trích từ Kinh
Lăng Nghiêm (do sa môn Bát Lạt Mật Đế
dịch ra Hán văn vào đời Đường); đó
là đoạn chót của quyển 5, từng
được chư cổ đức đặt tựa
đề là “Đại
Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương”.
Ở phần đầu của quyển 5, đức
Phật có hỏi các vị Đại Bồ-tát và
Đại A-la-hán rằng: “Nay
tôi hỏi các ông: Lúc ban đầu mới phát tâm, trong
mười tám khu vực (thập bát giới), các ông
chứng ngộ viên thông ở khu vực nào? Và do
phương tiện ǵ mà nhập vào chánh định?” Có
tất cả 25 câu trả lời cho câu hỏi của
đức Phật; và đoạn kinh văn trên là câu
trả lời thứ 24 của Bồ-tát Đại
Thế Chí. Để trả lời câu hỏi của
đức Phật, có vị chọn thanh trần, nhăn
căn, thân thức, v.v... Riêng Bồ-tát Đại Thế
Chí th́ đă không chọn lựa một căn nào, mà thu
nhiếp cả sáu căn, nhất tâm niệm Phật,
từ đó mà nhập vào chánh định.
[49] Hai chữ “ức” và “niệm” có nghĩa gần giống như nhau. “Ức” nghĩa là ghi giữ
trong tâm, không để quên mất, tức là “nhớ”, trái
lại với “quên”; “niệm”
là nghĩ tới, không xa rời, cũng tức là nhớ.
[50] “Tín” là ḷng tin sâu sắc đối với
đức Phật A Di Đà và thế giới
Cực-lạc; “nguyện”
là tâm tha thiết nguyện cầu được văng sinh
về cơi Cực-lạc; “hạnh”
là hành tŕ pháp môn niệm Phật đến chỗ nhất
tâm bất loạn để được văng sinh về
Cực-lạc.
[51] Đoạn kinh
văn này nằm trong chương “Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên
Thông” vừa được trích ở bên trên.
[52] Đây là hai câu chót
trong bài ca dao “Quan Thư”, là
bài đầu tiên trong thiên “Quốc
Phong” của bộ Kinh Thi
(Trung-hoa). Bài ca dao ấy như sau:
Quan quan thư cưu
Tại hà chi châu
Yểu điệu thục nữ
Quân tử hảo cầu
(nghĩa
là: Ở băi sông có đôi chim thư cưu, cất tiếng
kêu “quan quan” tỏ ư cùng nhau thương yêu ḥa hợp. Có
người con gái xinh đẹp dịu dàng yểu
điệu, sánh đôi với người quân tử
thật là tốt đẹp.)
[53] Từ “Vô-học” ở đây
được dùng để chỉ các vị đệ
tử Phật đă chứng thánh quả A-la-hán. Các vị
này đă dứt hết phiền năo, tu tập thành công, thoát
ra ngoài ba cơi, chứng nhập niết bàn, không c̣n phải tu
học ǵ nữa, nên gọi là bậc “Vô-học”. Trái
lại, các vị hành giả từ quả A-na-hàm trở
xuống, c̣n phải tinh tấn tu học để
chứng quả A-la-hán, nên gọi là bậc
“Hữu-học”. Đó là Thanh-văn thừa. Giống
như quả vị A-la-hán của Thanh-văn thừa,
quả vị Bích-chi Phật của Duyên-giác thừa
cũng gọi là bậc Vô-học. Ở Bồ-tát thừa
th́ quả vị Diệu-giác (Phật) được
gọi là bậc Vô-học, c̣n từ địa vị
Đẳng-giác trở xuống đều thuộc hàng
“Hữu-học”.
[54] Bảy đức Phật: cũng nói là bảy
đức Phật quá khứ, tức đức Phật
Thích Ca Mâu Ni và sáu đức Phật ra đời
trước Ngài, đó là: Phật T́ Bà Thi, Phật Thi Khí,
Phật T́ Xá Phù, Phật Câu Lưu Tôn, Phật Câu Na Hàm Mâu
Ni, Phật Ca Diếp, và Phật Thích Ca Mâu Ni.
[55] 25 pháp môn viên thông của 25 vị Vô-học và
Bồ-tát:
1) Tôn giả Kiều Trần Như (viên thông
thanh trần)
2) Tôn giả Ưu Ba Ni Sa Đà (sắc
trần)
3) Tôn giả Hương Nghiêm (hương
trần)
4) Bồ-tát Dược Vương và
Dược Thượng (vị trần)
5) Bồ-tát Bạt Đà Bà La (xúc trần)
6) Tôn giả Đại Ca Diếp (pháp
trần)
7) Tôn giả A Na Luật (nhăn căn)
8) Tôn giả Chu Lị Bàn Đà Già (tị
căn)
9) Tôn giả Kiều Phạm Ba Đề
(thiệt căn)
10) Tôn giả Tất Lăng Già Bà Tha (thân
căn)
11) Tôn giả Tu Bồ Đề (ư căn)
12) Tôn giả Xá Lợi Phất (nhăn thức)
13) Bồ-tát Phổ Hiền (nhĩ thức)
14) Tôn giả Tôn Đà Lị Nan Đà (tị
thức)
15) Tôn giả Phú Lâu Na (thiệt thức)
16) Tôn giả Ưu Ba Li (thân thức)
17) Tôn giả Mục Kiền Liên (ư thức)
18) Tôn giả Ô Sô Sắt Ma (hỏa đại)
19) Bồ-tát Tŕ Địa (địa
đại)
20) Bồ-tát Nguyệt Quang (thủy
đại)
21) Bồ-tát Lưu Li Quang (phong đại)
22) Bồ-tát Hư Không Tạng (không
đại)
23) Bồ-tát Di Lặc (thức đại)
24) Bồ-tát Đại Thế Chí (căn
đại - nhiếp cả 6 căn)
25) Bồ-tát Quán Thế Âm (viên thông nhĩ
căn)
[56] Nhập lưu – vong sở: “Lưu” nghĩa là ḍng; có hai ḍng xuôi ngược:
một chiều là ḍng thánh (hay ḍng giải thoát, ḍng niết
bàn), một chiều là ḍng phàm phu (hay ḍng vọng nghiệp,
ḍng sinh tử). Khi nói “nhập lưu” th́ có
nghĩa là vào ḍng thánh; trái lại là “xuất lưu”, tức là xa ĺa ḍng thánh mà xuôi theo
ḍng sinh tử. “Nhập lưu”
cũng tức là “nghịch lưu”, nghĩa
là đi
ngược ḍng sinh tử để nhập vào ḍng
niết bàn; trái lại là “thuận
lưu”, tức là trôi xuôi theo ḍng sinh tử. Chữ “sở” ở đây là chỉ
tất cả những ǵ nghe được, tức là thanh
trần. “Vong sở” tức là quên đi cái
sở-văn, cũng tức là xa ĺa thanh trần. Trong kinh Lăng Nghiêm, khi đức
Bồ-tát Quán Thế Âm tŕnh bày về pháp môn Nhĩ Căn Viên Thông (tức pháp môn thứ 25
vừa nói trên) của ḿnh, có nói: “Sơ
ư văn trung, nhập
lưu vong sở, sở nhập kí tịch, liễu nhiên
bất sinh......” (Đầu tiên là ở trong tánh nghe, nhập vào ḍng, quên sở-văn,
sở
và nhập
đă vắng lặng th́ hai tướng động và
tĩnh tuyệt nhiên không phát sinh......) Vậy, hai từ “nhập
lưu” và “vong sở” ở đây,
đều là những dụng ngữ đặc biệt
của kinh Lăng Nghiêm, nói
lên một phần giáo nghĩa chủ yếu của kinh Lăng Nghiêm, nhất là trong
pháp tu Lăng-nghiêm đại định.
[57] Tâm phan duyên: tức tâm ư luôn luôn theo đuổi,
nắm bắt hết đối tượng này
đến đối tượng khác, hết trần
cảnh này đến trần cảnh kia, từ đó mà
khởi vọng niệm, sinh phiền năo, gây tội
nghiệp.
[58] Đạo Tín
(580-651):
là vị tổ thứ tư của Thiền tông
Trung-quốc, là đệ
tử đắc pháp của tổ thứ ba Tăng Xán
(?-?), và là thầy của tổ thứ năm Hoằng
Nhẫn (602-675). Ngài họ Tư-mă, quê ở huyện
Quảng-tế, tỉnh Hồ-bắc. Lúc nhỏ ngài nhân
hâm mộ Không tông mà xuất gia. Năm 13 tuổi ngài vào núi
Hoăn-công ở Thư-châu (nay là thành phố An-khánh, tỉnh
An-huy), tham yết thiền sư Tăng Xán, chỉ do
một lời nói mà đại ngộ; hầu cận 9
năm th́ được truyền y bát. Năm 38 tuổi
ngài dẫn đồ chúng đến thành Lư-lăng (nay
là huyện Cát-an, tỉnh Giang-tây), gặp lúc thành này bị
đạo tặc bao vây đến 7 tuần (một
tuần ngày xưa ở Trung-quốc là 10 ngày), giếng,
suối đều khô nước, dân chúng lo lắng sợ
sệt. Ngài bèn khuyên mọi người tăng tục trong
thành tụng tâm kinh Ma Ha Bát Nhă. Đạo tặc từ
ngoài nh́n vào thành, trông thấy như có binh thần canh
giữ bảo vệ, liền bảo nhau: “Trong thành tất
có dị nhân, không dễ ǵ tấn công.” Rồi chúng kéo nhau
bỏ đi. Sau đó ngài đến chùa Đại-lâm
ở Lô-sơn (tỉnh Giang-tây) mở đạo tràng
hoằng hóa. Năm 45 tuổi ngài về lại
Hồ-bắc, trú ở núi Phá-đầu đến hơn
30 năm, truyền pháp cho thiền sư Hoằng Nhẫn.
Một vị đệ tử khác của ngài là thiền
sư Pháp Dung (594-657) ở núi Ngưu-đầu (Nam-kinh)
biệt lập một phái thiền gọi là “Ngưu
Đầu Thiền”. Năm 64 tuổi ngài ba lần
được vua Đường Thái-tông (627-649) triệu
vào cung, ngài đều từ khước. Vua cho sứ
giả đến truyền lệnh: Nếu ngài không
chịu vào cung th́ sẽ bị chém đầu. Ngài lập
tức đưa cổ cho sứ giả chém. Sứ
giả kinh dị, về triều tâu lại, vua rất sùng
kính. Năm 72 tuổi ngài thị tịch. Trước tác
của ngài có Nhập
Đạo An Tâm Yếu Phương Tiện Pháp Môn, Bồ
Tát Giới Tác Pháp, v.v...
[59] Một niệm ban sơ: chỉ cho Bồ-tát lúc
mới phát tâm bồ đề tu hành Phật đạo.
[60] Tâm viên ư mă: là một thuật ngữ Phật
học, chỉ cho tâm ư con người luôn luôn rong ruổi,
đuổi theo ngoại cảnh, lăng xăng tán
loạn, không đứng yên một chỗ, giống như
ngựa phi nước đại, hoặc như
vượn khỉ lúc nào cũng leo trèo chuyền nhảy,
ít có lúc ngồi yên.
[61] Vị-đáo-địa định: cũng
gọi là “vị-chí
định”, tức là loại định ở giai
đoạn tu tập (sau khi đă dứt hết kiến
tư hoặc Dục giới) để chuẩn bị
tiến vào định Sơ-thiền của Sắc
giới. Sắc giới có bốn thiền định
(Sơ-thiền, Nhị-thiền, Tam-thiền và
Tứ-thiền), Vô-sắc giới có bốn vô-sắc
định (Không-vô-biên-xứ định,
Thức-vô-biên-xứ định, Vô-sở-hữu-xứ
định và Phi-tưởng-phi-phi-tưởng-xứ
định), cộng lại có tám thiền định.
Tự thể của mỗi thiền định này
được gọi là “căn
bản định” (tức là, cả Sắc giới và
Vô-sắc giới có tám căn bản định);
trước khi tiến vào mỗi căn bản
định th́ có một giai đoạn chuẩn bị,
được gọi là “cận
phần định” (tức là, cả Sắc giới và
Vô-sắc giới có tám cận phần định) – riêng
cận phần định để chuẩn bị
tiến vào căn bản định Sơ-thiền th́
được gọi đặc biệt là “vị-chí định”, hay “vị-đáo-địa
định”. – Hai chữ “vị
đáo” hay “vị chí”
ở đây có nghĩa là chưa đạt đến
căn bản định.
[62] Giác quán hỉ lạc: Người tu tập
thiền định, trước khi nhập
được vào Sơ-thiền, định lực c̣n non
kém, th́ tâm “giác quán”, cả thô lậu lẫn vi tế,
được coi như một thứ phiền năo, có
thể làm chướng ngại cho công phu tu tập;
phải buông bỏ tâm giác quán ấy mới có thể vào
được Sơ-thiền. Khi đă nhập
được vào Sơ-thiền, tâm giác quán ấy liền
trở nên trong sáng, thành tâm hỉ lạc của cảnh
giới Sơ-thiền, gọi là “giác quán hỉ lạc”.
[63] Bác Sơn Vô Dị Nguyên Lai thiền sư (1575-1630):
là vị thiền sư thuộc tông Tào Động
đời Minh, đệ tử truyền pháp của
thiền sư Vô Minh Tuệ Kinh (1548-1618). Ngài họ Sa, quê
ở huyện Thư-thành, tỉnh An-huy, húy là Nguyên Lai
(hoặc Đại Nghĩ), hiệu Vô Dị, người
đời thường xưng ngài là Bác Sơn thiền
sư. Năm 16 tuổi, ngài xuất gia tại núi
Ngũ-đài, tu học về tánh không suốt 5 năm. Sau
đó ngài đến chùa Bảo-phương tham học
với thiền sư Vô Minh Tuệ Kinh, và được
truyền pháp. Năm 28 tuổi ngài ẩn cư tại chùa
Năng-nhân ở Bác-sơn (tỉnh Giang-tây), hàng vạn
người ở các nơi khắp vùng Giang-nam nghe danh
tiếng, qui tụ về cầu giới với ngài,
khiến cho Bác-sơn trở thành một ngôi ṭng lâm phong
thạnh. Năm 56 tuổi ngài thị tịch, đệ
tử xây tháp thờ ngài tại Bác-sơn. Trước tác
của ngài có Vô Dị Nguyên Lai
Thiền Sư Quảng Lục (35 quyển), Vô Dị Đại Sư Ngữ
Lục Tập Yếu (6 quyển) v.v..., đều
tận lực đề xướng tông chỉ “Thiền Tịnh không hai”.
[64] Nhà Minh (1368-1644): là một vương triều
của Trung-quốc, do Chu Nguyên Chương (1328-1398)
kiến lập, truyền nối được 17
đời vua, kéo dài 273 năm.
[65] Tông-môn và Giáo-hạ: “Tông-môn”
là một thuật ngữ vốn được dùng
để chỉ chung cho các tông phái ở Trung-quốc,
nhưng từ đời Tống trở về sau th́
Thiền tông tự dùng từ này để chỉ riêng cho
tông phái của ḿnh; nhân đó, các tông phái khác đều
được gọi là “Giáo-môn”,
hay “Giáo-hạ”.
[66] Chờ ngộ (đăi ngộ): “Đăi ngộ” là một phép tắc tu thiền
rất được thịnh hành ở Trung-quốc vào
cuối thời đại nhà Tống, gọi là “đăi ngộ thiền”. Theo
pháp thiền này, người tu thiền lấy việc
được chứng ngộ làm mục đích, cho nên
đă coi việc tọa thiền chính là phương pháp
khai ngộ, chê bỏ ngôn ngữ văn tự.
[67] Kinh Đại Phẩm: tức Kinh Đại Phẩm Bát Nhă, cũng gọi là Kinh Nhị Vạn Ngũ Thiên
Tụng Bát Nhă, hay Kinh Ma Ha
Bát Nhă Ba La Mật, do ngài Cưu Ma La Thập dịch
từ Phạn văn ra Hán văn tại Trung-quốc,
từ năm 402 đến năm 412 (dưới thời
đại Hậu-Tần). Kinh này cũng có các bản
dịch khác, như: Quang Tán Bát
Nhă Ba La Mật Kinh (ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào thời
Tây-Tấn), Phóng Quang Bát Nhă Ba La
Mật Kinh (ngài Vô La Xoa dịch vào thời Tây-Tấn);
ngài Huyền Trang (đời Đường) cũng
dịch kinh này, và xếp thành “Hội
Thứ Hai” trong bộ Kinh
Đại Bát Nhă của ngài.
[68] Cư sĩ Bành Nhị Lâm (1740-1796): là một
học giả sống vào đời Thanh. Ông tên là Thiệu
Thăng, pháp danh Tế Thanh, quê ở Ngô-huyện, tỉnh
Giang-tô, tự là Doăn Sơ, hiệu Xích Mộc, lại có hiệu
là Nhị Lâm cư sĩ. Ông xuất thân trong gia đ́nh
sĩ tộc, được cử tiến sĩ
dưới triều vua Càn Long, nhưng ông từ quan, không
nhận. Ông thường đọc sách của các vị
tiên Nho, thông suốt lí học của các thời Tống,
Minh, giỏi cả cổ văn. Ông cũng theo học
với đạo sĩ Đạo giáo, từng tu luyện
3 năm nhưng không thành công. Một hôm, nhân đọc sách
Phật mà chuyển chí hướng tin Phật, tự
lấy hiệu là Tri Qui Tử; năm đó ông 29 tuổi.
Hằng ngày ông lấy việc tụng kinh lễ bái làm
chính, cùng đọc Đại
Tạng Kinh, thọ giới Bồ-tát, ăn chay, và
sống tịnh hạnh. Sau đó ông lại theo Văn
Học Định Công (1712-1788) thọ giáo về pháp môn
Tịnh Độ. Tại Văn-tinh các ở Tô-châu, ông
bế quan chuyên cần tu Nhất-hạnh tam muội
(tức Niệm-Phật tam muội). Từ đó ông nỗ
lực hoằng truyền pháp môn Tịnh Độ,
soạn thuật phong phú, như: Nhất
Thừa Quyết Nghi Luận, chủ trương
Phật Nho nhất trí; Hoa Nghiêm
Niệm Phật Tam Muội Luận, chủ trương
Thiền, Tịnh dung hợp; Tịnh
Độ Tam Kinh Tân Luận, phát huy giáo nghĩa Tịnh
Độ. Ngoài ra, tác phẩm của ông c̣n có: Cư Sĩ Truyện, Thiện
Nữ Nhân Truyện, Tịnh Độ Thánh Hiền Lục
v.v... Tông Tịnh Độ gần đây được
hưng thịnh là cũng nhờ ảnh hưởng
của ông rất nhiều. Rất tiếc, ông đă không
sống được lâu, thế thọ chỉ có 57
tuổi.
[69] Hoàng Bá Hi Vận (?-850): là một vị thiền
sư rất có danh tiếng ở thời đại nhà
Đường. Ngài là người Phúc-kiến, không rơ
họ là ǵ, thuở nhỏ xuất gia ở chùa
Kiến-đức trên núi Hoàng-bá, tỉnh Phúc-kiến, cho
nên thường được người đời
xưng là Hoàng Bá Hi Vận, hay Hoàng Bá. Ngài thông minh mẫn
nhuệ, học thông nội ngoại điển,
tướng mạo ḱ lạ, cao gần 3 mét, trên trán
nổi lên cục thịt giống như hạt châu, nên có
hiệu là Nhục Châu. Một hôm ngài đi dạo núi
Thiên-thai, gặp một dị tăng, nh́n ngài nói: “Ngươi quả là pháp khí
của đại thừa, ta thật chẳng sánh kịp!”
Sau đó ngài t́m đến yết kiến tổ Bách
Trượng (720-814), được truyền tâm ấn,
danh tiếng lừng lẫy từ đó. Về sau ngài
về lại núi Hoàng-bá, cổ xúy tâm yếu “truyền
thẳng từng người” (trực chỉ đơn
truyền), người từ bốn phương vân
tập về đông đúc. Từ đó núi Hoàng-bá
nghiễm nhiên trở thành một đạo tràng lớn
của phái Lâm Tế thuộc Thiền tông Trung-quốc; và
tên núi Hoàng-bá cũng trở thành tên thường gọi
của ngài. Ngài viên tịch năm 850, được ban
thụy hiệu là Đoạn Tế thiền sư. Pháp
ngữ của ngài, sau đó đă được
người bạn thân của ngài là tiết độ
sứ Bùi Hưu sưu tập, làm thành sách ngữ lục
tên là Hoàng Bá Sơn Đoạn
Tế Thiền Sư Truyền Tâm Pháp Yếu, vẫn c̣n
lưu truyền cho đến ngày nay. Trong số môn
đồ đông đúc của ngài, có Lâm Tế Nghĩa
Huyền (?-867) là vị cao đồ đắc pháp và
xuất sắc nhất, đă thừa kế và làm rạng
rỡ tông môn, thanh thế c̣n vượt trội hơn
cả ngài nữa.
[70] Đẳng-giác: Hàng Bồ-tát cấp
Thập-địa, sau khi đă chứng Địa thứ
mười (Pháp-vân địa) th́ tiến lên bậc
Đẳng-giác (tức bậc thứ 51 của 52 bậc
của Bồ-tát hạnh), gọi là Bồ-tát
Đẳng-giác. Diệu-giác là
địa vị cuối cùng (bậc thứ 52) của Bồ-tát
hạnh, cũng tức là quả vị Phật-đà,
quả vị Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác; nói
cách khác, đó là vị Bồ-tát đă thành Phật.
[71] Trong quá tŕnh tu tập hạnh
Bồ-tát, từ lúc mới phát tâm cho đến khi thành
Phật, hành giả phải tuần tự trải qua 52
bậc thang, gồm trong 7 cấp: Thập-tín (10 bậc),
Thập-trụ (10 bậc), Thập-hạnh (10 bậc),
Thập-hồi-hướng (10 bậc), Thập-địa
(10 bậc), Đẳng-giác (1 bậc), và Diệu-giác (1
bậc). Hành giả ở cấp Thập-tín
được gọi là Bồ-tát ở địa vị Phàm-phu;
ở 3 cấp Thập-trụ, Thập-hạnh và Thập-hồi-hướng
được gọi là Bồ-tát ở địa vị Hiền;
ở cấp Thập-địa được gọi là
Bồ-tát ở địa vị Thánh; trên nữa là
địa vị Đẳng-giác, rồi
địa vị Diệu-giác.