KÍCH THƯỚC TƯỢNG PHẬT

 (Toát yếu từ Kinh Tạo Tượng Lượng Độ do cư sĩ Công Bố Tra Bố dịch vào đời nhà Thanh – Bài văn toát yếu bằng chữ NÔM,

cư sĩ Hạnh Cơ phiên âm ra chữ Quốc-ngữ)

 

 

Hễ phàm phép tô Phật tượng, thì chẳng cứ tượng lớn tượng nhỏ, cũng phải kể từ đỉnh đầu xuống đến bàn chân, chia làm 120 phần, mỗi một phần gọi là “1 ngón”.

 

Trên đỉnh nhục kế 4 ngón.

Từ chân tóc đến ấn đường 4 ngón.

Từ ấn đường đến đầu mũi 4 ngón rưỡi.

Từ mũi đến cằm 4 ngón.

Từ cằm đến vai 4 ngón.

Từ vai đến vú 12 ngón.

Từ vú đến rốn 12 ngón.

Từ rốn đến âm nang 12 ngón.

Từ âm nang đến bẹn 4 ngón.

Từ bẹn đến bánh chè đầu gối 24 ngón.

Bánh chè 4 ngón.

Từ bánh chè đến mắt cá 24 ngón.

Từ mắt cá đển bàn chân 4 ngón.

 

Ấy là kể từ đỉnh nhục kế

đến bàn chân, 120 ngón.

Từ đầu vai đến khuỷu cánh tay 20 ngón.

Từ khuỷu đến cổ tay 16 ngón.

Từ cổ tay đến đầu ngón tay giữa 12 ngón.

 

 

Kể từ vai đến đầu ngón tay giữa, cả thảy 48 ngón.

 

Ấy là chiều tượng đứng đo đủ.

 

 

Lại nói các phép đo trên đỉnh, kế quanh tròn 15 ngón, đen kịt, mỡ bóng mà có cát.

 

 

Tóc xanh đen quanh về bên tay phải, không cái nào rối với cái nào.

 

 

Tai chiều ngang rộng 2 ngón. Tai rủ xuống 4 ngón rưỡi. Thùy châu 2 ngón. Đầu tai ngang bằng lông mày. Cửa lỗ tai rộng 1 ngón, ở trong sâu nửa ngón. Lá nhĩ ngoài biên lỗ tai cao nửa ngón, rộng 1 ngón, mỏng chia tư một phần ngón. Lỗ tai kể vòng ngoài sâu 2 ngón rưỡi. Trong tai trên dưới trong chia tư một phần ngón.

 

 

Lông mày dài 4 ngón, như mặt trăng mới mọc. Hai đầu lông mày ở giữa có bạch hào tròn 1 ngón rưỡi, có lông trắng, nhỏ, thưa.

        

 

 

Mí mắt lớn 3 ngón, dáng như cánh hoa sen.

 

 

Mắt dài 4 ngón, lòng đen 1 ngón, lòng trắng mỗi bên 1 ngón, giữa lòng mâu tử nửa ngón. Mắt mở chia tư một phần ngón.

Đầu mắt bên này qua mũi đến đầu mắt bên kia 2 ngón.

 

 

Mũi rộng hơn 2 ngón. Từ nhân trung cao

đến đầu mũi 1 ngón rưỡi, giữa cột mũi nửa ngón.

Hai lỗ mũi mỗi bên nửa ngón, vào trong rộng hơn.

 

 

Nhân trung chia ba một phần ngón. Từ mũi đến môi trên 1 ngón rưỡi.

 

 

Hai môi dầy 1 ngón. Hai góc môi 1 ngón.

Miệng rộng 4 ngón.

 

 

Từ môi dưới đến cằm 1 ngón rưỡi. Cằm rộng 4 ngón.

Từ cằm đến cổ sâu 4 ngón.

Mặt vòng quanh qua mũi qua gáy 36 ngón. Từ tai bên này qua mũi sang tai bên kia 38 ngón. Từ sau tai bên này qua gáy đến tai bên kia 14 ngón. Từ chân lá nhĩ trước đến chân tai sau 2 ngón.

 

 

Cổ to 8 ngón, quanh tròn 24 ngón. Cổ từ giáp cằm xuống, chia ba một phần ngón, làm một ngấn; dưới hơn 1 ngón làm một ngấn nữa; lại dưới 2 ngón làm một ngấn nữa.

 

 

Từ cổ ra vai mỗi bên 12 ngón.

 

 

 

Cánh tay gần nách tròn quanh 16 ngón. Đoạn dưới gần khuỷu tròn quanh 12 ngón. Lòng bàn tay dọc 7 ngón, ngang 5 ngón. Ngón giữa dài 5 ngón; ngón trỏ kém nửa ngón; ngón vô danh cũng thế; ngón út 4 ngón; ngón cái 4 ngón. Các móng tay già nửa ngón. Gốc ngón cái đến gốc ngón trỏ xa 3 ngón. Từ gốc ngón út đến ngấn cổ tay 4 ngón rưỡi. Lòng bàn tay bằng phẳng. ngón cái 2 đốt; các ngón đều 3 đốt.

 

 

Ngực táp tròn 56 ngón.

 

 

Rốn sâu rộng 1 ngón. Quanh rốn 48 ngón.

 

 

Đùi trên gần bẹn quanh tròn 32 ngón; gần bánh chè 28 ngọn. Đùi dưới khoảng giữa 21 ngón.

Quanh tròn mắt cá 14 ngón, bên cạnh rộng 2 ngón.

Gót tròn dài 3 ngón.

Dưới bàn chân 12 ngón. Bên ngón cái bề nghiêng dầy 2 ngón; bên ngón út bề nghiêng dầy 1 ngón.

Dưới bàn chân có nghìn vòng, nhỏ nông như ngấn bàn tay.

Bốn ngón đều 3 đốt. Móng chân già nửa ngón. Ngón cái vòng quanh 5 ngón, dài 3 ngón; ngón trỏ 3 ngón; ngón giữa, ngón út,ngón bên thấp lẹm, cùng dầy 1 ngón.

 

 

Ấy là trong kinh Luợng Độ, phép tô tượng Phật là thế. Dẫu như tranh vẽ cũng theo phép thế mà làm, thì người ở chùa, cùng dân làng, mấy chủ hưng công, đến con cháu cùng được hưởng phước lâu dài, nhân quả rồi nên đến vô thượng bồ đề. Hễ làm sai dối, chẳng cứ phép kinh, thì mang tội khổ lâu dài, con cháu sau nhiều tai họa, như kinh Vọng Tạo đã nói rõ ràng, nên xem cho kĩ.

 

Phép thước đo, tượng đứng chia làm 120 ngón; tượng ngồi chia làm 68 ngón, không kể từ bẹn xuống đến bàn chân.

 

 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


(Cư sĩ Hạnh Cơ phiên âm bài văn chữ Nôm ở cuối quyển

Phật Thuyết Tạo Tượng Lượng Độ Kinh Giải,

bản được cất giữ tại chùa Xiển-pháp, thôn An-trạch, cạnh Văn-miếu tỉnh Hà-nội.)