SƠ LƯỢC QUÁ
TR̀NH PHIÊN DỊCH,
SOẠN THUẬT và H̀NH
THÀNH
ĐẠI TẠNG KINH
HÁN VĂN
I. DẪN NHẬP
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ
vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm
đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đă tồn tại
liên tục, phát triển không ngừng trên toàn cơi Ấn-độ
suốt một thời gian dài 18 thế kỉ. Suốt
trong thời gian đó, Phật giáo đă từng đóng vai
tṛ chủ đạo của tư tưởng Ấn-độ,
làm lu mờ hẳn địa vị độc tôn của
Bà-la-môn giáo vốn đă xuất hiện từ mấy ngàn
năm trước. Vào thế kỉ thứ 3 tr.TL (dưới
triều đại vua A Dục) và thế kỉ thứ 2
s.TL, Phật giáo cực ḱ phồn thịnh, đă lan tỏa
ra khỏi biên giới Ấn-độ, phát triển thành một
tôn giáo lớn của thế giới. Ở những thế
kỉ kế tiếp, với sự hưng thịnh của
Phật giáo đại thừa, nền giáo học của
Phật giáo Ấn-độ lại càng được tổ
chức qui mô, hoàn bị, làm cho trí tuệ con người
được phát huy rực rỡ. Nhưng rồi, cái hào
quang sáng chói đó đă đột ngột bị tắt lịm!
Vào đầu thế kỉ thứ 12, quân Hồi giáo từ
vùng Trung-Á đă tràn vào xâm chiếm Ấn-độ. Đó
là một đội quân tàn bạo, hung ác, chỉ biết
chém giết một cách dă man, khốc liệt để bành
trướng đế quốc; chỉ biết cướp
của, tước đoạt tài sản của người
để làm giàu cho các ông vua Hồi; chỉ biết giết
sạch, phá sạch, hủy sạch những người
và những ǵ không phải Hồi giáo để phát triển
đế quốc Hồi giáo! Bởi vậy mà Phật giáo
ở Ấn-độ, ở các nước vùng Trung-Á
đă bị tận diệt! Sau cơn sóng dữ đó của
quân Hồi giáo, Phật giáo ở Ấn-độ không c̣n vết
tích ǵ để lại cả – như thể trước đó chưa
từng có Phật giáo. Chùa tháp thành những đống gạch
vụn, kinh sách đều thành tro bụi, bảo vật về
cung vua Hồi, tăng ni bị giết sạch, có số chạy
thoát trốn vào rừng hoặc sang Tây-tạng và các nước
khác lánh nạn.
Nhưng cũng thật may mắn làm sao, khi Phật
giáo bị tuyệt tích ở chính quê hương ḿnh, th́ nó lại
đă có mặt ở các nơi khác từ lâu rồi! Từ
thế kỉ thứ 3 trước Tây lịch, Phật giáo
đă truyền tới Tích-lan, Miến-điện và các
nước vùng Tây-vực. Từ những thế kỉ cuối
trước và đầu kỉ nguyên Tây lịch, Phật
giáo lại truyền tới Việt-nam, Trung-quốc,
Phù-nam, Nam-dương v.v… Có thể nói, trước khi quân Hồi
giáo tràn vào càn quét xứ Ấn-độ, th́ hầu như
toàn bộ điển tịch Phật giáo, cả Nguyên-thỉ,
Bộ-phái và Phát-triển – nói chung là tiểu và đại
thừa, đều đă được mang hết ra ngoại
quốc, mà cái kho chứa quan trọng và đồ sộ nhất
là nước Trung-hoa. Cũng c̣n hai cái kho quan trọng khác
là Tích-lan và Tây-tạng, nhưng ở Tích-lan th́ chỉ có tạng
Nam-truyền Thượng Tọa bộ, thuần túy
Nguyên-thỉ; c̣n ở Tây-tạng th́ chỉ thuần kinh
điển Mật giáo; trong khi đó, ở Trung-quốc th́
đầy đủ cả thánh điển Nguyên-thỉ, Bộ-phái
(tiểu thừa) và Phát-triển (đại thừa – kể
cả Mật giáo, tuy điển tịch Mật giáo không
đầy đủ như ở Tây-tạng). Như thế,
cái kho Phật điển ở Trung-quốc quả thật
vô cùng đồ sộ và quan trọng.
Cái kho thánh điển Phật giáo vĩ đại
này không phải chỉ được xây dựng trong một
sớm một chiều, mà đó là cả một công tŕnh
đă được bồi đắp liên tục, bằng
phiên dịch và soạn thuật, trải dài hơn ngh́n
năm, của hàng ngàn nhân vật vĩ đại, gồm
chư vị cao tăng và cư sĩ của các nước
Thiên-trúc, Tây-vực, Trung-hoa, Việt-nam, Phù-nam, Triều-tiên,
và Nhật-bản. Để giúp chư quí độc giả
có một cái nh́n xuyên suốt về công tŕnh lịch sử
này, chúng tôi xin ghi tóm lược quá tŕnh h́nh thành kho thánh
điển của Phật giáo Trung-quốc trải qua các
thời đại như sau:
II. CÔNG TR̀NH PHIÊN DỊCH
và TRƯỚC THUẬT
ở TRUNG HOA QUA CÁC
THỜI ĐẠI
1. Thời Đại
Đông-Hán (25-220). Vương triều Đông-Hán (tức Hậu-Hán)
do Lưu Tú (Quang-vũ đế, 25-57) khai sáng, đóng
đô ở Lạc-dương (tỉnh Hà-nam ngày nay), truyền
nối được 13 đời vua; và công việc phiên dịch
Phật điển, theo truyền thuyết, đă
được bắt đầu dưới triều vua
Minh đế (58-75), là vị vua thứ nh́ của
vương triều này.
Theo truyền thuyết phổ biến của
Phật giáo Trung-quốc, vào năm thứ 10 niên hiệu
Vĩnh-b́nh (tức năm 67 TL) đời vua Minh đế,
một đoàn sứ giả của vua đă sang Tây-vực,
thỉnh được hai vị cao tăng người
Thiên-trúc là Nhiếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan, mang kinh chữ
Phạn và tượng Phật đến Trung-quốc. Phật
giáo đă được truyền vào Trung-quốc từ
lúc đó (tức hậu bán thế kỉ thứ 1 sau kỉ
nguyên TL). Cũng theo truyền thuyết này, sau khi đến
Trung-quốc, hai ngài Nhiếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan
đă cùng dịch chung kinh Tứ
Thập Nhị Chương. Đó là quyển kinh
được dịch từ Phạn văn ra Hán văn
đầu tiên tại Trung-quốc. Ngoài ra, ngài Trúc Pháp Lan
c̣n dịch được năm bộ kinh khác là: Thập Địa Đoạn Kết
(8 quyển), Pháp Hải Tạng
(1 quyển), Phật Bản Hạnh
(5 quyển), Phật Bản
Sinh (1 quyển), và Nhị
Bách Lục Thập Giới Hợp Dị (2 quyển). Cả
5 dịch phẩm này sau đó đă bị mất. Chỉ
có quyển kinh Tứ Thập
Nhị Chương là c̣n lưu truyền cho đến
ngày nay.
Truyền thuyết của Trung-quốc là
như vậy, nhưng theo những nghiên cứu gần
đây th́ kinh Tứ Thập Nhị Chương đă
được dịch ra Hán văn tại Giao-chỉ (tên
xưa của nước Việt-nam), chứ không phải
tại Trung-quốc (xin xem phần
“Phụ Lục 1”, sách Giáo Khoa Phật Học Cấp Hai, quyển
thượng, Hạnh Cơ dịch, Ban Bảo Trợ Phiên
Dịch Pháp Tạng Việt Nam ấn hành tại California,
năm 2005); c̣n 5 bộ kinh được nói là dịch
phẩm của ngài Trúc Pháp Lan th́ đă thất truyền.
Điều này cho thấy, lịch sử Phật giáo
Trung-quốc trong giai đoạn khởi đầu này thật
mù mờ, và truyền thuyết kể trên đă không có
cơ sở vững chắc đáng tin tưởng; như
Phật Quang Đại Từ
Điển (mục “Trung Quốc
Phật Giáo”) có nói: “Phật
giáo từ Ấn-độ truyền vào Trung-quốc trong
khoảng niên hiệu Vĩnh-b́nh (58-75) đời vua Hán Minh
đế, nhưng chỉ lưu hành hạn hẹp, sự
tích truyền hóa rất mập mờ, khó biết được
rơ ràng. Các vị Phạn tăng sang Đông-độ hoằng
hóa, có sự tích rơ ràng, bắt đầu từ năm
đầu vua Hán Hoàn đế, với ngài An Thế
Cao......”
Thật vậy, măi đến bốn đời
vua cuối cùng của vương triều Đông-Hán là Hoàn
đế (147-167), Linh đế (168-189), Thiếu đế
(189), và Hiến đế (189-220), tức từ giữa thế
kỉ thứ 2 Tây lịch, mới có các vị Phạn
tăng tiếp tục đến Trung-quốc, và công tác dịch
kinh mới được chính thức ghi chép rơ ràng; đó
là các ngài:
- Sa môn An Thế Cao, người nước
An-tức, đến Trung-quốc năm 148, đă dịch
các bộ kinh Tứ Đế,
Chuyển Pháp Luân, Bát Chính Đạo, An Ban Thủ Ư, v.v…
cả thảy 176 bộ, gồm 197 quyển (theo sách Lịch Đại Tam Bảo Kỉ
do Phí Trưởng Pḥng soạn vào đời Tùy), hầu hết
là kinh điển tiểu thừa;
- Sa môn Chi Lâu Ca Sấm, người nước
Đại Nhục-chi, đến Trung-quốc khoảng cuối
đời vua Hán Hoàn đế, đă dịch các bộ kinh
Bát Chu Tam Muội, Thủ
Lăng Nghiêm, Đạo Hạnh Bát Nhă, Vô Lượng Thọ
Thanh Tịnh B́nh Đẳng Giác, v.v… cả thảy 21 bộ,
gồm 63 quyển; đó là những kinh điển đại
thừa đầu tiên được phiên dịch ở
Trung-quốc.
Và các ngài:
- Sa môn Trúc Phật Sóc (người Thiên-trúc), dịch
2 bộ, gồm 3 quyển;
- Sa môn Chi Diệu (người nước Nhục-chi),
dịch 11 bộ, gồm 12 quyển;
- Sa môn Khương Cự (người nước
Khương-cư), dịch 1 bộ, 1 quyển;
- Sa môn Đàm Quả (người Tây-vực),
dịch 1 bộ, gồm 2 quyển;
- Sa môn Khương Mạnh Tường
(người Khương-cư), dịch 6 bộ, gồm 9
quyển;
- Sa môn Trúc Đại Lực (người Tây-vực),
dịch 1 bộ, gồm 2 quyển;
- Cư sĩ An Huyền (người An-tức),
dịch 2 bộ, gồm 3 quyển;
- Và đặc biệt có một người
Hán là cư sĩ Nghiêm Phù Điều (người đất
Lâm-hoài, tỉnh An-huy), dịch 7 bộ, gồm 10 quyển.
- Ngoài ra, sách Lịch
Đại Tam Bảo Kỉ c̣n ghi tên 125 bộ kinh (gồm148
quyển) thất dịch (không có tên dịch giả).
2. Thời Đại
Tam-Quốc (220-280). Tiếp theo thời Đông-Hán là thời Tam-quốc,
nước Trung-hoa chia thành ba nước nhỏ là Ngụy
(220-265), Thục (221-263) và Ngô (222-280). Năm 220, thừa
tướng của vua Hiến đế nhà Hậu-Hán là
Tào Tháo (155-220) chết, con là Tào Phi (187-226) bèn chiếm ngôi của
vua Hiến đế, tự xưng đế, lập nên
nước Ngụy (cũng gọi là Tào-Ngụy), vẫn
đóng đô tại Lạc-dương, thống trị
vùng Giang-bắc (phía Bắc sông Dương-tử). Năm
221, một người thuộc ḍng dơi nhà Hán là Lưu Bị
(162-223), chống lại nhà Ngụy, quyết khôi phục
nhà Hán, bèn xưng đế ở vùng đất phía Tây
Trung-quốc, lập nên nước Thục (cũng gọi
là Tây-Thục, hay Thục-Hán), đóng đô ở Thành-đô
(tỉnh Tứ-xuyên ngày nay). Năm 222, Tôn Quyền (182-252)
chống lại nước Ngụy, bèn chiếm lĩnh
vùng Giang-nam (phía
Trong thời Tam-quốc này, Phật giáo đă bắt
đầu phát triển, nhưng chỉ ở hai nước
Ngụy và Ngô mà thôi, chứ chưa phổ cập đến
nước Thục. Sinh hoạt Phật giáo chủ yếu
trong thời đại này vẫn là phiên dịch kinh điển.
Các vị cao tăng dịch kinh ở nước Ngụy có:
- Sa môn Đàm Ma Ca La, tức Pháp Thời,
người Trung- Ấn, đến kinh đô Lạc-dương
của nước Ngụy năm 222, dịch bộ luật
Tăng Ḱ Giới Bản (1
quyển);
- Sa môn Khương Tăng Khải, tức
Tăng Già Bạt Ma, người nước
Khương-cư, đến kinh đô Lạc-dương
năm 252, đă dịch 2 bộ
kinh Úc Già Trưởng Giả Sở
Vấn (2 quyển) và Vô
Lượng Thọ (2 quyển);
- Sa môn Đàm Đế (người An-tức)
dịch bộ luật Đàm
Vô Đức Yết Ma (1 quyển);
- Sa môn Bạch Diên (người nước
Qui-tư) dịch 6 bộ kinh, gồm 8 quyển;
- Sa môn An Pháp Hiền (người An-tức) dịch
2 bộ, gồm 5 quyển.
Các vị cao tăng và cư sĩ dịch kinh ở
nước Ngô có:
- Cư sĩ Chi Khiêm, người Nhục-chi,
đến Kiến-nghiệp vào cuối thời Đông-Hán,
đă dịch các kinh Đại
Minh Độ, Duy Ma Cật Sở Thuyết Bất Tư
Nghị Pháp Môn, Đại Bát Nê Hoàn, v.v… cả thảy
129 bộ, gồm 152 quyển;
- Sa môn Khương Tăng Hội, người
Giao-châu (tức Việt-nam), đến kinh đô Kiến-nghiệp
của nước Ngô vào năm 247, đă dịch các bộ
kinh Ngô Phẩm (5 quyển), Bồ Tát Tịnh Hạnh (2
quyển), A Nan Niệm Di Đà
(2 quyển), v.v…; trước đó, khi c̣n ở Giao-châu, ngài cũng đă dịch
các kinh Lục Độ Tập
(9 quyẩn), Tạp Thí Dụ Tập
(2 quyển), v.v…
- Sa môn Duy Ḱ Nan, người Thiên-trúc, đă dịch
2 bộ kinh A Sai Mạt Bồ
Tát (4 quyển) và Pháp Cú (2
quyển);
- Sa môn Trúc Luật Viêm (người Thiên-trúc) dịch
3 bộ kinh, gồm 3 quyển;
- Sa môn Chi Cương Lương Tiếp
(người Tây-vức, ở Giao-châu), đă dịch (tại
Giao-châu) bộ kinh Pháp Hoa Tam Muội
(6 quyển).
Ngoài ra, sách Lịch
Đại Tam Bảo Kỉ c̣n ghi tên của 110 bộ
kinh (gồm 291 quyển) thất dịch thuộc thời
ḱ này.
3. Thời Đại
Tây-Tấn (265-316). Kế tiếp thời Tam-quốc là thời
Tây-Tấn. Năm 263, nước Ngụy tiêu diệt và chiếm
lấy nước Thục; bấy giờ chỉ c̣n lại
hai nước là Ngụy và Ngô. Năm 265, tướng của
nhà Ngụy là Tư-mă Viêm (236-290) đă giết vua cuối của
nhà Ngụy, tự lên ngôi hoàng đế, lập nên
vương triều mới, đó là nhà Tấn, vẫn
đóng đô tại Lạc-dương. Năm 280, nhà Tấn
diệt Đông-Ngô, thống nhất đất nước,
sử gọi đây là vương triều Tây-Tấn.
Phật giáo trong thời đại này đă
phát triển mạnh, và sinh hoạt chủ yếu vẫn
là dịch kinh; c̣n về tư tưởng th́ chưa có ǵ
khởi sắc. Các vị dịch kinh trong thời đại
này gồm có:
- Sa môn Trúc Đàm Ma La Sát (người nước
Nhục-chi, sinh ở Đôn-hoàng) đă dịch các kinh Quang Tán Bát Nhă, Nhân Vương Bát
Nhă Ba La Mật, A Duy Việt Trí, Đại Bát Nê Hoàn, Vô
Lượng Thọ, v.v… cả thảy 210 bộ, gồm
394 quyển;
- Sa môn Cương Lương Lâu Chí (người
Tây-vực) dịch 1 bộ kinh, 1 quyển;
- Sa môn An Pháp Khâm (người nước An-tức)
dịch 5 bộ kinh, gồm 12 quyển;
- Sa môn Vô La Xoa (người nước
Vu-điền) dịch bộ kinh Phóng Quang Bát Nhă (20 quyển);
- Sa môn Chi Pháp Độ (người nước
Nhục-chi) dịch 4 bộ kinh , gồm 5 quyển;
- Sa môn Pháp Tổ (người Hán) dịch 23 bộ
kinh, gồm 29 quyển;
- Sa môn Pháp Lập (người Hán) và sa môn Pháp
Cự (người Hán) dịch chung 4 bộ kinh, gồm 13
quyển; sau khi ngài Pháp Lập viên tịch, ngài Pháp Cự dịch
tiếp 132 bộ, gồm 142 quyển;
- Sa môn Chi Mẫn Độ (người Nhục-chi)
dịch 2 bộ kinh, gồm 13 quyển;
- Cư sĩ Vệ Sĩ Độ (người
Hán) dịch 1 bộ kinh, gồm 2 quyển;
- Cư sĩ Nhiếp Thừa Viễn (người
Hán) dịch 3 bộ kinh, gồm 4 quyển;
- Cư sĩ Nhiếp Đạo Chân (người
Hán) dịch 54 bộ kinh, gồm 66 quyển;
- Cư sĩ Trúc Thúc Lan (người Hán) dịch
2 bộ kinh, gồm 5 quyển.
Ngoài ra, sách Lịch
Đại Tam Bảo Kỉ c̣n ghi tên của 8 bộ kinh
(gồm 15 quyển) thất dịch thuộc thời ḱ này.
4. Thời Đại
Đông-Tấn (317-420). Tiếp theo thời Tây-Tấn là thời
Đông-Tấn. Cuối thời Tây-Tấn, vào năm 316, tộc
Hung-nô đă từ phương Bắc tràn xuống đánh
phá và tiêu diệt nhà Tây-Tấn, chiếm hết lănh thổ
vùng Giang-bắc (tức phía Bắc sông Trường-giang),
thành lập một quốc gia cho Hung-nô, đặt quốc
hiệu là Triệu (sử gọi là Tiền-Triệu). Bấy
giờ, một người trong hoàng tộc Tây-Tấn là
Tư-mă Duệ, lui xuống vùng Giang-nam (tức phía
Trong thời đại Đông-Tấn-liệt-quốc
này, ở cả hai vùng Giang-nam và Giang-bắc, Phật giáo
phát triển cực mạnh cả về tín ngưỡng lẫn
tư tưởng giáo dục. Rất nhiều cao tăng
đă đến từ Ấn-độ và Tây-vực, mà các
vị cao tăng người Trung-hoa cũng xuất hiện
đông đảo. Và công tác dịch kinh lại càng trở
nên quan trọng.
4.1. Các vị dịch
kinh, soạn luận và viết truyện kí ở vùng Giang-nam (lănh thổ của
vương triều Đông-Tấn) gồm có:
- Sa môn Phật Đà Bạt Đà La (tức
Giác Hiền, người Thiên-trúc) đă dịch vừa kinh
vừa luật cả thảy được 15 bộ, gồm115
quyển;
- Sa môn Thi Lê Mật Đa La (người
Qui-tư) dịch 3 bộ kinh Mật giáo, gồm 11 quyển;
- Sa môn Chi Đạo Căn (người Nhục-chi)
dịch 2 bộ kinh, gồm 7 quyển;
- Sa môn Khang Pháp Thúy (người
Khương-cư), dịch 1 bộ kinh, gồm 10 quyển;
- Sa môn Trúc Đàm Vô Lan (người Tây-vức)
dịch 110 bộ kinh, gồm 112 quyển;
- Sa môn Khang Đạo Ḥa (người
Khương-cư) dịch 1 bộ kinh, gồm 3 quyển;
- Sa môn Ca Lưu Đà Già (người Tây-vực)
dịch 1 bộ kinh, 1 quyển;
- Sa môn Cù Đàm Tăng Già Đề Bà (người
Kế-tân, ban đầu đến Trường-an, kinh
đô nước Hậu-Tần ở Giang-bắc, sau dời
xuống Lô-sơn, rồi kinh đô Kiến-khang ở vùng
Giang-nam của nhà Đông-Tấn) dịch 5 bộ kinh, luận,
gồm 117 quyển;
- Sa môn luật sư Ti Ma La Xoa (người Kế-tân,
ban đầu đến Trường-an, sau dời xuống
Kiến-khang) dịch 2 bộ luật, gồm 5 quyển;
- Sa môn luật sư Đàm Ma dịch 1 bộ
luật yếu, gồm 2 quyển;
- Thiền sư Phật Đà Bạt Đà La
(người Thiên-trúc, ban đầu tới Trường-an,
sau dời xuống Lô-sơn, rồi Kiến-khang) dịch
15 bộ kinh, luật, luận, gồm 115 quyển;
- Sa môn Pháp Hiển (người Hán), dịch 5
bộ kinh, giới, luận và soạn 1 bộ truyện kí,
cả thảy 24 quyển;
- Sa môn Ḱ Đa Mật (người Tây-vực)
dịch 25 bộ, gồm 46 quyển;
- Cư sĩ Trúc Nan Đề (người
Thiên-trúc) dịch 3 bộ, gồm 4 quyển;
- Sa môn Trúc Pháp Lực (người Thiên-trúc) dịch
1 bộ, 1 quyển;
- Sa môn Tung Công (người Hán) dịch 3 bộ,
3 quyển;
- Sa môn Thối Công (người Hán) dịch 1 bộ,
1 quyển;
- Sa môn Pháp Dũng (người Hán) dịch 1 bộ,
1 quyển;
- Sa môn Tuệ Viễn (người Hán) soạn
luận và viết tựa, cả thảy 14 bộ, gồm
35 quyển;
- Sa môn Trúc Tăng Phu (người Hán) soạn
luận, 1 quyển;
- Sa môn Đàm Săn (người Hán) soạn 2
bộ luận, gồm 6 quyển;
- Sa môn Chi Độn (người Hán) soạn
6 bộ luận, 6 quyển;
- Sa môn Trúc Tăng Độ (người Hán)
soạn luận, 1 quyển;
- Sa môn Đạo Lưu và sa môn Đạo Tổ
(đều người Hán) soạn lục kinh mục, 4
quyển;
- Sa môn Chi Mẫn Độ (người Hán) soạn
lục, 1 quyển;
- Sa môn Khang Pháp Sướng (người Hán) soạn
luận, 1 quyển;
- Sa môn Trúc Pháp Tế (người Hán) soạn
truyện, 1 quyển;
- Sa môn Đàm Vi (người Hán) soạn luận,
2 quyển;
Ngoài ra c̣n có 52 bộ kinh (gồm 57 quyển)
được ghi là “thất dịch”.
4.2. Ở Giang-bắc, tức lănh thổ
của 16 nước Ngũ-Hồ, Phật giáo ở các
nước Hậu-Triệu, Tiền-Tần, Hậu-Tần,
Tây-Tần, và Bắc-Lương là thịnh đạt
hơn cả; nhưng công việc phiên dịch kinh điển
th́ chỉ được sách sử ghi lại ở 3
nước Tần và nước Bắc-Lương.
4.2.1. Nhà Tiền-Tần (351-394). Năm 351, Phù Kiện
(thuộc dân tộc Chi) chiếm thành Trường-an, tự
xưng đế, kiến lập nước Tần, sử
gọi đó là Tiền-Tần, truyền nối được
6 đời vua, kéo dài được 44 năm th́ bị Hậu-Tần
tiêu diệt. Các vị cao tăng dịch kinh dưới triều
đại nhà Tiền-Tần gồm có:
- Sa môn luật sư Đàm Ma Tŕ (người
Tây-vực) dịch 2 bộ luật, 2 quyển;
- Sa môn luật sư Tuệ Thường
(người Hán) dịch luật, 1 quyển;
- Sa môn Đàm Ma B́ (người Thiên-trúc) dịch
1 bộ kinh, gồm 5 quyển;
- Sa môn Cưu Ma La Phật Đề (người
Tây-vức) dịch 1 bộ kinh, gồm 2 quyển;
- Sa môn Đàm Ma Nan Đề (người
nước Đâu-khê-lặc, Bắc Ấn-độ) dịch
5 bộ kinh, gồm 114 quyển;
- Sa môn Tăng Già Bạt Trừng (người
nước Kế-tân) dịch 3 bộ, gồm 27 quyển;
- Sa môn Tăng Già Đề Bà (người Kế-tân)
dịch 3 bộ, gồm 60 quyển;
- Sa môn Đạo An (người Hán) chú giải,
biên soạn 24 bộ, gồm 28 quyển.
Nói chung, trong thời Tiền-Tần, các kinh, luật
và luận thuộc tiểu thừa hầu hết đă
được dịch ra Hán văn.
4.2.2. Nhà Hậu-Tần (384-417). Năm 384, một vị
tướng quân của nhà Tiền-Tần là Diêu Trành
(330-393, thuộc dân tộc Khương) làm phản, chiếm
đất Vị-bắc, tự xưng là Tần
vương, lập nên nhà Hậu-Tần. Sau đó, Diêu Trành
diệt nhà Tiền-Tần, Trường-an trở thành kinh
đô của Hậu-Tần. Phật giáo ở thời Hậu-Tần
c̣n thịnh hành hơn ở thời Tiền-Tần, mà ngôi
sao sáng chói nhất trong thời đại này là pháp sư
Cưu Ma La Thập (344-413). Các vị cao tăng dịch và
soạn thuật kinh luận trong thời này gồm có:
- Sa môn Trúc Phật Niệm (người Hán) dịch
13 bộ kinh, luận, gồm 86 quyển;
- Sa môn Cưu Ma La Thập (người
Qui-tư) dịch 98 bộ kinh, luận, gồm 425 quyển;
- Sa môn Phật Đà Da Xá (người Kế-tân)
dịch 4 bộ kinh, luật, gồm 69 quyển;
- Sa môn Phất Nhă Đa La (người Kế-tân)
dịch 1 bộ luật, gồm 58 quyển;
- Sa môn Đàm Ma Da Xá (người Kế-tân) dịch
2 bộ luận, gồm 21 quyển;
- Sa môn Đàm Ma Quật Đa (người
Thiên-trúc) dịch 1 bộ luận, gồm 22 quyển;
- Sa môn Tăng Triệu (người Hán) soạn
4 bộ luận, gồm 4 quyển;
- Sa môn Tăng Duệ (người Hán) soạn
kinh lục, 1 quyển;
- Sa môn Đạo Hằng (người Hán) soạn
luận, 1 quyển.
4.2.3. Nhà Tây-Tần
(385-400). Năm 385, một vị
tướng quân của nhà Tiền-Tần là Khuất-phục
Quốc Nhân (thuộc dân tộc Tiên-ti), tự xưng đế
ở đất Lũng-tây, lập nước Tây-Tần,
đóng đô ở Uyển-xuyên (thuộc tỉnh Cam-túc ngày
nay). Ông rất tin Phật, thờ kính sa môn. Lúc ấy có ngài
Thánh Kiên (người Tây-vức) hành hóa đến đó,
ông rất sùng kính, dùng trọng lễ tiếp đăi, thỉnh
cầu ở lại đó để dịch kinh. Ngài ứng
lời mời, đă dịch được các kinh Phương Đẳng
Vương Hư Không Tạng, Thái Tử Tu Đại Noa,
A Nan Vấn Sự Phật Cát Hung, v.v… cả thảy 14 bộ,
gồm 21 quyển. Ngoài ra, sách Lịch
Đại Tam Bảo Kỉ c̣n ghi có 8 bộ kinh (gồm
11 quyển) thất dịch thuộc thời ḱ này.
4.2.4. Nhà Bắc-Lương
(397-439). Năm 397, một
viên tướng của nhà Hậu-Lương (386-403) là
Thư-cừ Mông Tốn (người tộc Hung-nô) dấy
quân làm phản, tôn một vị thượng thư của
Hậu-Lương là Đoàn Nghiệp làm Lương
vương, đóng đô ở đất Trương-dịch
(thuộc tỉnh Cam-túc), sử gọi là nhà Bắc-Lương.
Năm 401 Mông Tốn lại giết Đoàn Nghiệp và tự
lập làm vua Bắc-Lương, dời đô sang Cô-tàng.
Đó là một trong vài nước cuối cùng của thời
đại Ngũ-Hồ-thập-lục-quốc; sau bị
nhà Bắc-ngụy tiêu diệt. Mông Tốn cũng là người
tôn sùng Phật pháp, cho nên công việc dịch kinh ở triều
đại này cũng rất quan trọng. Các vị dịch
giả ở Bắc-Lương gồm có:
- Sa môn Đạo Cung (người Hán) dịch
2 bộ kinh, gồm 12 quyển;
- Sa môn Pháp Chúng (người Hán) dịch 1 bộ
kinh, gồm 4 quyển;
- Sa môn Đàm Vô Sấm (người Thiên-trúc) dịch
24 bộ kinh, gồm 151 quyển;
- Sa môn Phù Đà Bạt Ma (người Tây-vức)
dịch 1 bộ luận, gồm 60 quyển;
- Cư sĩ
Thư-cừ Kinh Thanh (người Hung-nô) dịch một
bộ thiền kinh, gồm 2 quyển;
- Sa môn Trí Mănh (người Hán) dịch 1 bộ
kinh, gồm 20 quyển;
- Sa môn Đàm Giác (người Hán) dịch 1 bộ
kinh, gồm 15 quyển;
- Thất dịch: 5 bộ kinh, gồm 17 quyển.
Một điều đáng chú ư trong quá tŕnh
phiên dịch thánh điển thuộc thời đại
Đông-Tấn-thập-lục-quốc này, là bốn bộ kinh trọng yếu
của giáo pháp đại thừa đă được dịch
ra Hán văn; đó là: Bát Nhă, Pháp Hoa, Niết Bàn, và Hoa
Nghiêm. Truy nhiên, ngay trong thời đại ấy, những
bộ kinh này chưa được dịch trọn vẹn,
phải đến các đời sau mới đầy
đủ.
5. Thời Đại
Nam-Bắc-Triều (420-589). Đây là giai đoạn lịch sử
kế tiếp thời đại Đông-Tấn. Trong giai
đoạn lịch sử này, Trung-quốc vẫn bị
chia thành hai phần Nam, Bắc (lấy sông Trường-giang
làm ranh giới), nhưng các vương triều thống trị
ở hai vùng lănh thổ này đều được sách sử
công nhận là chính thống, cho nên giai đoạn đó
đă được sử gọi là thời đại
Nam-Bắc-triều. Vương triều Đông-Tấn ở
Giang-nam, vào giữa năm 420, đă bị quyền thần
là Lưu Dụ nổi lên cướp ngôi, kiến lập
nên nhà Tống, sử gọi là Lưu-Tống. Nối tiếp
vương triều Lưu-Tống c̣n có ba vương triều
Nam-Tề, Tiêu-Lương và Trần. Cả bốn
vương triều này đều đóng đô ở thành
Kiến-khang, kế tiếp nhau thống trị miền
Hoa-nam (tức Giang-nam), đối lập với các
vương triều ở Hoa-bắc, nên sử gọi là
Nam-triều. Trong khi đó ở Hoa-bắc (tức Giang-bắc),
các vương triều Bắc-Ngụy, Đông-Ngụy,
Tây-Ngụy, Bắc-Tề, và Bắc-Chu kế tiếp nhau
thống trị, sử gọi đó là Bắc-triều.
Phật giáo ở thời đại Nam-Bắc-triều,
tuy có hai lần bị pháp nạn, nhưng nói chung, các vua
chúa trải qua các đời đều tôn sùng Phật pháp,
hết ḷng ủng hộ các Phật sự, nên công việc
dịch kinh, trước thuật cũng rất thịnh
đạt.
5.1. Nam-triều. Công việc dịch
kinh và trước thuật ở các triều đại thuộc
Nam-triều ở Giang-nam được tóm lược
như sau:
5.1.1. Nhà Lưu-Tống (420-479). Năm 420, Lưu Dụ
diệt nhà Đông-Tấn, lên ngôi xưng đế, lập
vương triều Tống, sử gọi đó là
Lưu-Tống. Trong mấy năm đầu tiên của thời
đại này, Lưu Dụ, tức vua Tống Vũ đế
(420-422) đă ban lệnh sa thải tăng ni, nhưng từ
đời vua Văn đế (424-453) trở đi th́ Phật
giáo rất được ủng hộ; bởi vậy,
đă có nhiều bậc cao tăng từ phương Tây tới
dịch kinh và hành đạo, chẳng những thế, các
bậc danh tăng người Hán cũng xuất hiện
nhiều:
- Sa môn luật sư Phật Đà Thập
(người nước Kế-tân) dịch 3 bộ luật,
gồm 36 quyển;
- Sa môn Cương Lương Da Xá (người
Tây-vức) dịch 2 bộ kinh, gồm 2 quyển;
- Sa môn Cầu Na Bạt Ma (người Kế-tân)
dịch 7 bộ kinh, luận, gồm 38 quyển;
- Sa môn Cầu Na Bạt Đà La (người
Thiên-trúc) dịch 78 bộ kinh, gồm 161 quyển;
- Sa môn Tăng Già Bạt Ma (người
Thiên-trúc) dịch 5 bộ luận, gồm 27 quyển;
- Sa môn Đàm Ma Mật Đa (người Kế-tân)
dịch 11 bộ kinh, gồm 12 quyển;
- Sa môn Công Đức Trực (người
Tây-vức) dịch 2 bộ kinh, gồm 7 quyển;
- Sa môn Y Diệp Ba La (người Tây-vức) dịch
1 bộ luận, gồm 10 quyển;
- Sa môn Đàm Vô Kiệt (người nước
Hoàng-long) dịch kinh, 1 quyển, và viết truyện kí, 1
quyển;
- Sa môn Trúc Pháp Quyến (người Thiên-trúc) dịch
6 bộ kinh, gồm 29 quyển;
- Cư sĩ Thư-cừ Kinh Thanh (nguyên ở
Bắc-Lương, sau khi Bắc-Lương bị Bắc-Ngụy
tiêu diệt, đă chạy xuống Kiến-khang cư ngụ,
tiếp tục sự nghiệp phiên dịch) dịch 35 bộ
kinh, gồm 36 quyển;
- Sa môn Trí Nghiêm (người Hán) dịch 14 bộ
kinh, gồm 36 quyển;
- Sa môn Bảo Vân (người Hán) dịch 4 bộ
kinh, gồm 15 quyển;
- Sa môn Tuệ Nghiêm (người Hán) dịch 1
bộ kinh, gồm 36 quyển;
- Sa môn Tuệ Giản (người Hán) dịch
25 bộ kinh, gồm 25 quyển;
- Sa môn luật sư Tăng Cừ (người
Hán) soạn 1 bộ yết ma, gồm 2 quyển;
- Sa môn luật sư Pháp Dĩnh (người
Hán) soạn 3 bộ luật, gồm 3 quyển;
- Sa môn Tường Công (người Hán) dịch
1 bộ kinh, gồm 2 quyển;
- Sa môn Đạo Nghiêm (người Hán) dịch
2 bộ kinh, gồm 3 quyển;
- Sa môn Dũng Công (người Hán) dịch 4 bộ
kinh, gồm 4 quyển;
- Sa môn Pháp Hải (người Hán) dịch 2 bộ
kinh, gồm 2 quyển;
- Sa môn Tiên Công (người Hán) dịch kinh, 1
quyển;
- Sa môn Đạo Nghiễm (người Hán) soạn
1 bộ luận, gồm 2 quyển.
5.1.2. Nhà Nam-Tề (479-502). Năm 479, Tiêu Đạo
Thành chiếm ngôi nhà Lưu-Tống, xưng đế, đặt
quốc hiệu là Tề, sử gọi là Nam-Tề. Các vua
nhà Nam-Tề không những ủng hộ Phật giáo nhiệt
t́nh, mà c̣n phát tâm học hỏi giáo lí với các vị cao
tăng. Các bậc cao tăng địa phương và từ
phương Tây tới tham gia công tác dịch kinh và trước
thuật gồm có:
- Sa môn Đàm Ma Già Đà Da Xá (người
Thiên-trúc) dịch kinh, 1 quyển;
- Sa môn Tăng Già Bạt Đà La (người
Thiên-trúc) dịch 1 bộ luật, gồm 18 quyển;
- Sa môn Cầu Na T́ Địa (người
Thiên-trúc) dịch 3 bộ kinh, gồm 12 quyển;
- Sa môn Đạt Ma Ma Đề (người
Tây-vức) dịch 2 quyển kinh;
- Sa môn Ma Ha Thừa (ngườiTây-vức) dịch
1 quyển kinh, 1 quyển luật;
- Sa môn Pháp Ư (người Hán) dịch 2 bộ
kinh, gồm 2 quyển;
- Sa môn Pháp Độ (người Hán) dịch
3 bộ kinh, luật, gồm 3 quyển;
- Sa môn Pháp Nguyện (người Hán) dịch 2
bộ kinh, gồm 2 quyển;
- Sa môn Pháp Ni (người Hán) dịch 1 bộ
kinh, gồm 2 quyển;
- Sa môn Vương Tông (người Hán) soạn
1 bộ danh số kinh gồm 5 quyển, và 1 bộ mục
lục gồm 2 quyển;
- Sa môn Đàm Cảnh (người Hán) dịch
2 bộ kinh, gồm 4 quyển;
- Sa môn Đạo Chính (người Hán) dịch
kinh, 1 quyển;
- Sa môn Đạo Bị (người Hán) dịch
5 bộ kinh, gồm 5 quyển;
- Sa môn Pháp Viện (người Hán) chú giải
1 bộ kinh, gồm 3 quyển;
- Sa môn Huệ Cơ
(người Hán) chú giải 1 quyển kinh;
- Cư sĩ Vương Cân (người Hán)
soạn 1 quyển tăng sử.
5.1.3. Nhà Tiêu-Lương (502-557). Năm 502, Tiêu Diễn
diệt nhà Nam-Tề, lên ngôi xưng đế, sáng lập
nhà Lương, sử gọi là Tiêu-Lương. Trong thời
đại Nam-triều th́ Phật giáo ở triều đại
nhà Lương là thịnh hành nhất. Các vị dịch
kinh và trước thuật trong thời này gồm có:
- Sa môn Tăng Già Bà La (người nước
Phù-nam) dịch 11 bộ kinh, luận, gồm 38 quyển;
- Sa môn Mạn Đa La Tiên (người nước
Phù-nam) dịch 3 bộ kinh, gồm 11 quyển;
- Sa môn Chân Đế (người nước
Ưu-thiền-ni, TrungThiên-trúc) dịch và soạn 16 bộ
kinh, luận sớ, kí, gồm 46 quyển;
- Sa môn ni Tăng Pháp (người Hán) dịch
21 bộ kinh, gồm 35 quyển;
- Sa môn Diệu Quang (người Hán) dịch
kinh, 1 quyển;
- Sa môn Tăng Oai (người Hán) soạn 1 quyển
về luật;
- Sa môn Tăng Hựu (người Hán) soạn
14 bộ tập, kí, truyện, gồm 67 quyển;
- Sa môn Đạo Hoan (người Hán) soạn
1 quyển kệ (21 bài);
- Sa môn Tăng Thiệu (người Hán) soạn
1 bộ kinh lục, gồm 4 quyển;
- Cư sĩ Mộc Đạo Hiền
(người Hán) dịch 1 quyển kinh;
- Vương tử Nguyệt Bà Thủ Na (nước
Ưu-thiền-ni, trước đến Bắc-Ngụy,
trải qua Đông-Ngụy [xem mục “Bắc-triều” ở dưới], sau đến
Lương) dịch 1 quyển kinh;
- Sa môn Tăng Mân (người Hán) tập soạn
1 bộ mục lục gồm 88 quyển;
- Sa môn Tăng Xướng (người Hán) soạn
8 bộ tạp lục, gồm 107 quyển;
- Sa môn Pháp Lang (hay Pháp Lăng, người Hán) chú 1
bộ kinh, gồm 72 quyển;
- Vũ đế Tiêu Diễn (hoàng đế
nhà Tiêu-Lương) chú 1 bộ kinh, gồm 50 quyển;
- Sa môn Tuệ Linh (người Hán) soạn 1 bộ
kinh sao, gồm 12 quyển;
- Sa môn Tuệ Kiểu (người Hán – có
người đọc là Tuệ Cảo) soạn 1 bộ
truyện, gồm 14 quyển;
- Cư sĩ Viên Đàm Doăn (người Hán) soạn
1 bộ luận sao, gồm 20 quyển;
- Giản-văn đế Tiêu Cương
(hoàng đế nhà Tiêu-Lương) cùng nhiều vị học
sĩ soạn 1 bộ tập, gồm 200 quyển;
- Sa môn Trí Tạng (người Hán) soạn 1 bộ
nghĩa lâm, gồm 80 quyển;
- Cư sĩ Ngu Hiếu Kính (người Hán)
soạn 1 bộ yếu sự, gồm 30 quyển.
5.1.4. Nhà Trần (557-589). Năm 557, Trần Bá
Tiên phế vua Kỉnh đế của nhà Tiêu-Lương,
lên ngôi xưng đế, đặt quốc hiệu là Trần.
Các vua trong thời đại này đều noi gương
vua Vũ đế nhà Lương lúc trước trong việc
bảo hộ Phật giáo. Công tác dịch kinh trong thời
đại này có:
- Sa môn Chân Đế (tiếp tục sự
nghiệp phiên dịch từ thời nhà Lương) dịch
48 bộ kinh, luận, sớ, truyện, gồm 232 quyển;
- Vương tử Nguyệt Bà Thủ Na (từ
thời nhà Lương) dịch 1 bộ kinh, gồm 7 quyển;
- Sa môn Tu Bồ Đề (người Phù-nam)
dịch 1 bộ kinh, gồm 8 quyển.
5.2. Bắc-triều
(386-581). Trong khi các vương triều Lưu-Tống,
Nam-Tề, Tiêu-Lương, và Trần kế tiếp nhau thống
trị miền Hoa-nam, th́ cũng trong khoảng thời gian
đó, các vương triều Bắc-Ngụy, Đông-Ngụy,
Tây-Ngụy, Bắc-Tề và Bắc-Chu thống trị miền
Hoa-bắc; sử gọi đó là Bắc-triều. Công việc
dịch kinh và trước thuật ở các triều đại
thuộc Bắc-triều được tóm lược
như sau:
5.2.1. Nhà Bắc-Ngụy (386-534). Bắc-Ngụy là
nước lớn nhất ở vùng Giang-bắc, được
kiến lập rất sớm, từ thời Đông-Tấn-thập-lục-quốc.
Năm 386, Thác-bạt Khuê xưng vương, kiến lập
nước Ngụy, đóng đô ở Thịnh-lạc
(thuộc tỉnh Nội-mông ngày nay), sử gọi đó là
nhà Bắc-Ngụy (cũng gọi là Hậu-Ngụy).
Năm 398, Khuê dời đô xuống B́nh-thành (huyện Đại-đồng,
tỉnh Sơn-tây ngày nay), rồi năm sau xưng đế,
tức Đạo-vũ đế (386-409). Năm 420, khi nhà
Lưu-Tống mở đầu thời đại Nam-triều
ở Giang-nam, th́ vùng Giang-bắc vẫn c̣n trong thời
đại Ngũ-Hồ-thập-lục-quốc. Năm 440
(dưới triều Ngụy Thái-vũ đế), Bắc-Ngụy
diệt Bắc-Lương (nước cuối cùng của
thời đại 16 nước Ngũ-Hồ), thống nhất
toàn vùng lănh thổ Hoa-bắc, trở thành vương triều
đầu tiên của thời đại Bắc-triều.
Trong thời Bắc-Ngụy này, ngoại trừ
vị vua thứ ba, là Thái-vũ đế (424-452), đă thực
hiện chính sách tiêu diệt Phật giáo, c̣n các vua khác đều
ủng hộ Phật giáo nhiệt thành, cho nên Phật giáo rất
hưng thịnh, chùa viện có cả mấy vạn ngôi,
giáo đoàn đông tới cả triệu.
- Sa môn Tuệ Giác (người Hán) dịch 1 bộ
kinh, gồm 13 quyển;
- Sa môn Đàm Diệu (người Hán) dịch
3 bộ kinh, luận, truyện, gồm 7 quyển;
- Sa môn Đàm Tĩnh (người Hán) soạn
1 bộ kinh, gồm 2 quyển;
- Sa môn Cát Ca Dạ (người Tây-vức) dịch
5 bộ kinh, luận, gồm 25 quyển;
- Sa môn Đàm Biện (người Hán) dịch
1 bộ kinh, 1 quyển;
- Sa môn Đàm Ma Lưu Chi (người
Thiên-trúc) dịch 3 bộ kinh, gồm 8 quyển;
- Sa môn Pháp Trường (người Hán) dịch
kinh, 1 quyển;
- Sa môn Bồ Đề Lưu Chi (người
Thiên-trúc) dịch 37 bộ kinh, luận, gồm 126 quyển,
và soạn 1 quyển mục lục;
- Bà la môn Cù Đàm Bát Nhă Lưu Chi (cũng gọi
Bát Nhă Lưu Chi, người Thiên-trúc) dịch 18 bộ kinh,
giới, luận, gồm 92 quyển;
- Sa môn Lặc Na Ma Đề (người
Thiên-trúc) dịch 6 bộ kinh, luận, gồm 24 quyển;
- Sa môn Phật Đà Phiến Đa (người
Thiên-trúc) dịch 10 bộ kinh, luận, gồm 11 quyển;
- Vương tử Nguyệt Bà Thủ Na
(nước Ưu-thiền-ni, Trung Thiên-trúc) dịch 3 bộ
kinh, gồm 7 quyển;
- Sa môn T́ Mục Trí Tiên (người nước
Ô-trành, Bắc Thiên-trúc) dịch 5 bộ luận, gồm 5
quyển;
- Sa môn Đạt Ma Bồ Đề (không rơ
người nước nào) dịch 1 quyển luận.
5.2.2. Nhà Đông-Ngụy (534-550) và nhà Tây-Ngụy (535-551). Năm 534, nước
Bắc-Ngụy bị phân liệt thành hai nước nhỏ:
Đông-Ngụy đóng đô ở Nghiệp-thành (tỉnh Hà-nam)
và Tây-Ngụy đóng đô ở Trường-an (tỉnh
Thiểm-tây). Phật giáo ở hai triều đại này
đều rất thịnh hành, nhưng chư vị cao
tăng chuyên việc dịch kinh th́ không có nhiều như ở
các triều đại khác. Dưới thời Đông-Ngụy
chỉ thấy ghi lại 3 vị là bà la môn Bát Nhă Lưu
Chi, sa môn Bồ Đề Lưu Chi và vương tử
Nguyệt Bà Thủ Na, đều đă có mặt từ thời
Bắc-Ngụy.
5.2.3. Nhà Bắc-Tề (550-577). Năm 550, Cao
Dương đoạt ngôi nhà Đông-Ngụy, kiến lập
nhà Bắc-Tề (cũng gọi là Cao-Tề), vẫn
đóng đô ở Nghiệp-thành. Các vua Bắc-Tề đều
sùng phụng Phật pháp, hết ḷng làm cho Phật giáo
hưng thịnh. Trong thời này, có hai vị dịch kinh mà
sử sách c̣n ghi lại:
- Sa môn Na Liên Đề Da Xá (người nước
Ô-trành, Bắc Thiên-trúc) dịch 7 bộ kinh, luận, gồm
52 quyển;
- Cư sĩ Vạn-sĩ Ư (cũng gọi là
Vạn Thiên Ư, người Hán) dịch 1 quyển kinh.
5.2.4. Nhà Bắc-Chu (557-581). Năm 557, nhà Tây-Ngụy
ở Trường-an bị Vũ-văn Giác đoạt
ngôi, kiến lập nhà Bắc-Chu. Năm 576, Bắc-Chu lại
tiêu diệt Bắc-Tề; thế là Bắc-triều, từ
bấy giờ chỉ c̣n một nước duy nhất là Bắc-Chu;
miền Hoa-bắc trở lại t́nh trạng thống nhất
như thời Bắc-Ngụy lúc trước. Đến
năm 581 th́ Bắc-Chu bị nhà Tùy tiêu diệt. Dưới
triều đại Bắc-Chu, tuy vua Vũ đế
(561-578, vua đời thứ ba của nhà Bắc-Chu) chủ
trương hủy diệt Phật giáo, nhưng các vị
vua khác của triều đại vẫn tôn phụng Phật
giáo; công việc dịch kinh và trước thuật vẫn
tiến triển, lược ghi các vị như sau:
- Sa môn Đàm Hiển (người Hán) soạn
kinh yếu, 2 bộ, gồm 23 quyển;
- Sa môn luật sư Nhương Na Bạt
Đà La (người nước Ba-đầu-ma) dịch 1
bộ luận, 1 quyển;
- Sa môn Đạt Ma Lưu Chi (người
nước Ma-lặc) dịch 1 bộ ngữ văn, gồm
20 quyển;
- Sa môn Xà Na Da Xá (người Thiên-trúc) dịch
6 bộ kinh, gồm 17 quyển;
- Sa môn Da Xá Quật Đa (người
Thiên-trúc) dịch 3 bộ kinh, gồm 8 quyển;
- Sa môn Xà Na Quật Đa (người
Thiên-trúc) dịch 4 bộ kinh, gồm 5 quyển;
- Sa môn Tăng Miễn (người Hán) soạn
2 bộ truyện, 2 quyển;
- Sa môn Tuệ Thiện (người Hán) soạn
1 bộ luận, gồm 8 quyển;
- Sa môn Vong Danh (người Hán) soạn 12 bộ
truyện, luận, 12 quyển;
- Sa môn Tịnh Ái (người Hán) soạn 1 bộ
tập, gồm 11 quyển;
- Sa môn Đạo An (người Hán) soạn
luận, 1 quyển.
6. Thời Đại
Nhà Tùy (581-619). Năm 581, vị tể tướng của
vương triều Bắc-Chu là Dương Kiên, đă soán
ngôi vua Bắc-Chu, tự xưng đế, kiến lập
vương triều Tùy, đóng đô ở Trường-an,
chấm dứt thời đại Bắc-triều. Đến
năm 589, nhà Tùy lại cử binh đánh xuống Hoa-nam,
tiêu diệt nước Trần, thống nhất Trung-quốc,
chấm dứt thời đại Nam-bắc-triều. Nhà
Tùy kéo dài được 38 năm th́ bị mất vào tay nhà
Đường. Tuy chỉ trong một thời gian ngắn
ngủi, nhưng Phật giáo trong thời đại nhà Tùy,
v́ được các bậc quân vương nhiệt thành ủng
hộ, cho nên, chẳng những đă được phục
hưng sau thời Chu Vũ đế diệt Phật, mà
c̣n phát triển thật rực rỡ. Riêng về công tác dịch
kinh, trước thuật, sách sử đă ghi lại các vị
c̣n để lại thành tích như sau:
- Sa môn Tăng Xán (người Hán) soạn luận,
1 quyển;
- Cư sĩ Đạt Ma Xà Na (tức Pháp Trí,
con trưởng của bà la môn Bát Nhă Lưu Chi, đời
Bắc-Ngụy) dịch 1 bộ kinh, 1 quyển;
- Sa môn T́ Ni Đa Lưu Chi (người
Thiên-trúc) dịch 1 quyển kinh ở Trung-quốc, rồi
sang Việt-nam cũng dịch 1 quyển kinh;
- Sa môn Na Liên Đề Da Xá (người
Thiên-trúc, tới Trung-quốc từ thời Bắc-Tề)
dịch 8 bộ kinh, gồm 28 quyển;
- Sa môn Trí Khải (người Hán) chú sớ
kinh, luật và soạn luận, cả thảy 22 bộ, gồm
87 quyển;
- Sa môn Tăng Tựu (người Hán) soạn
tập 1 bộ kinh, gồm 60 quyển;
- Sa môn Xà Na Quật Đa (người
Thiên-trúc, tới Trung-quốc từ thời Bắc-Chu) dịch 31 bộ kinh, gồm 165 quyển;
- Sa môn Đạt Ma Cấp Đa (người
Thiên-trúc) dịch 9 bộ kinh, luận, gồm 46 quyển;
- Sa môn Pháp Thượng (người Hán) soạn
3 bộ luận và kinh lục, gồm 43 quyển;
- Sa môn Linh Dụ (người Hán) soạn 8 bộ
luận, kí, gồm 30 quyển;
- Sa môn Tín Hạnh (người Hán) soạn 2 bộ
tạp lục, gồm 35 quyển;
- Sa môn Pháp Kinh (người Hán) soạn 2 bộ
kinh lục, gồm 12 quyển;
- Sa môn Bảo Quí (người Hán) tập hợp
1 bộ kinh, gồm 8 quyển;
- Sa môn Tăng Côn (người Hán), soạn 1 bộ
tạp kí, gồm 31 quyển;
- Sa môn Ngạn Tông (người Hán) soạn
truyện, luận, kí, 6 bộ, gồm 9 quyển;
- Sa môn Tuệ Ảnh (người Hán) soạn
và chú giải luận, 4 bộ, gồm 27 quyển;
- Sa môn Bồ Đề Đăng (người
ngoại quốc, không rơ nước nào) dịch 1 bộ
kinh, gồm 2 quyển;
- Cư sĩ Phí Trưởng Pḥng (người
Hán) soạn 1 bộ kinh lục, gồm 15 quyển;
- Cư sĩ Từ Đồng Khanh (người
Hán) soạn 1 bộ luận, gồm 2 quyển;
- Cư sĩ Hầu Quân Tố (người
Hán) soạn 1 bộ truyện, gồm 10 quyển;
- v.v...
7. Thời Đại
Nhà Đường (618-907). Đến đầu thế kỉ
thứ 7 th́ triều đ́nh nhà Tùy đă quá suy nhược,
quần hùng trong nước nổi lên khắp nơi để
tranh giành quyền lực. Năm 618, Đường công Lí
Uyên (566-635) đem quân tiến đánh Trường-an, tiêu diệt
nhà Tùy, lên ngôi hoàng đế, lập nên nhà Đường,
vẫn đóng đô ở Trường-an.
Trong thời đại nhà Đường, ngoại
trừ vua Vũ-tông (841-846) phá hủy Phật giáo, các vị
đế vương khác (kể cả nữ hoàng Vũ Tắc
Thiên, 684-705) đều tôn sùng và hết ḷng bảo hộ Phật
giáo; cho nên, dù bên cạnh luôn luôn có sự tranh giành ảnh
hưởng của Đạo giáo, Phật giáo vẫn phát
triển mạnh mẽ và hưng thịnh cùng cực - nhất
là ở hai thời ḱ Sơ Đường (618-713) và Thịnh
Đường (713-805). Ở thời đại này, đă
có rất nhiều vị danh tăng xuất hiện, các
tông phái nổi tiếng như Tịnh Độ, Luật,
Thiền, Mật, Hoa Nghiêm, Pháp Tướng, v.v... đều
phát triển rực rỡ, gây nên một phong trào trăm hoa
đua nở, đưa địa vị Phật giáo lên
hàng tuyệt đỉnh trong lịch sử tư tưởng
Trung-quốc; cho nên sách sử thường nói, đó là thời
đại hoàng kim của Phật giáo Trung-quốc.
Phật giáo ở thời đại nhà
Đường sở dĩ được khởi sắc
như vậy, thiết nghĩ, đó là do ảnh hưởng
của sự nghiệp phiên dịch kinh điển và
trước thuật các tác phẩm Phật học. Thật
vậy, trong thời đại này, sự nghiệp dịch
kinh đă chiếm một địa vị vô cùng quan trọng
trong lịch sử phát triển Phật giáo Trung-quốc. Với
sự xuất hiện của nhà đại phiên dịch
Huyền Trang, nhiều tư tưởng mới mẻ, cao
siêu của Phật giáo được phát huy ở Trung-quốc,
đă đưa Phật giáo Trung-quốc bước sang một
thời ḱ gồm rất nhiều biến chuyển mới,
làm cho nền Phật giáo đại thừa hưng thịnh
lạ thường. Góp công vào sự nghiệp phiên dịch
này, các vị danh tăng vừa bản xứ vừa ngoại
quốc như Nghĩa Tịnh, Bát Nhă (người Kế-tân),
Thiện Vô Úy (người Đông Ấn), Kim Cương
Trí (người Nam Ấn), Bất Không (người
Tích-lan), v.v... đều là những nhà đại phiên dịch
nổi tiếng, đă đóng góp rất lớn trong việc
h́nh thành kho tàng kinh luận Phật giáo Trung-quốc. Trong 5 vị
dịch kinh trứ danh của Phật giáo Trung-quốc th́
đời Đường đă chiếm hết 3 vị,
là Huyền Trang, Nghĩa Tịnh và Bất Không (2 vị kia
là Cưu Ma La Thập ở đời Hậu-Tần và Chân
Đế ở cuối đời Tiêu-Lương đầu
đời Trần). Ngoài ra, trong sự nghiệp dịch
kinh của thời đại này cũng c̣n phải kể
đến các vị dịch sư quan trọng như Thật
Xoa Nan Đà, Bồ Đề Lưu Chí, Địa Bà Ha La,
Đề Vân Bát Nhă. Sự nghiệp phiên dịch ấy
được lược thuật như sau:
- Sa môn Ba La Phả Ca La Mật Đa La (người
Thiên-trúc) dịch 3 bộ kinh, luận, gồm 38 quyển;
- Sa môn Pháp Lâm (người Hán) soạn 2 bộ
luận, gồm 10 quyển;
- Sa môn Huyền Trang (người Hán) dịch
và soạn 76 bộ kinh, luật, luận, kí, truyện, gồm
1.347 quyển;
- Sa môn Khuy Cơ (người Hán) chú sớ 17 bộ
kinh, luận, gồm 105 quyển;
- Sa môn luật sư Đạo Tuyên (người
Hán) soạn 11 bộ luật, lục, tập, truyện, kí,
gồm 86 quyển;
- Sa môn Huyền Ứng (người Hán) dịch
1 bộ âm nghĩa, gồm 25 quyển;
- Sa môn Tĩnh Mại (người Hán) soạn
1 bộ đồ kí, gồm 4 quyển;
- Sa môn Trí Thông (người Hán) dịch 4 bộ
kinh, gồm 5 quyển;
- Sa môn Già Phạm Đạt Ma (người
Thiên-trúc) dịch 1 quyển kinh;
- Sa môn A Địa Cù Đa (người
Thiên-trúc) dịch 1 bộ kinh, gồm 12 quyển;
- Sa môn Huyền Uẩn (người Hán) soạn
1 bộ yếu tập, gồm 20 quyển;
- Sa môn Ngạn Tông (người Hán) soạn 1 bộ
tập, gồm 6 quyển;
- Sa môn Na Đề (người Thiên-trúc) dịch
3 bộ kinh, 3 quyển;
- Sa môn Nhă Na Bạt Đà La (người
Nam-dương quần-đảo) dịch 1 bộ kinh, gồm
2 quyển;
- Sa môn Địa Bà Ha La (người Thiên-trúc)
dịch 18 bộ kinh, luận, gồm 34 quyển;
- Cư sĩ Đỗ Hạnh Nghị
(người Hán) dịch 1 quyển kinh;
- Sa môn Phục Lễ (người Hán) soạn
1 bộ luận, gồm 2 quyển;
- Sa môn Tuệ Lập (người Hán) soạn
1 bộ truyện, gồm 10 quyển;
- Sa môn Hoài Tố (người Hán) sao tập 4
bộ giới bản, yết ma, gồm 8 quyển;
- Sa môn Phật Đà Đa La (người
nước Kế-tân) dịch 1 quyển kinh;
- Sa môn Phật Đà Ba Lị (người Kế-tân)
dịch 1 quyển kinh;
- Sa môn Đề Vân Bát Nhă (người nước
Vu-điền) dịch 6 bộ kinh, luận, gồm 7 quyển;
- Sa môn Tuệ Trí (người Hán gốc
Thiên-trúc) dịch 1 quyển tán tụng;
- Sa môn Minh Thuyên (người Hán) soạn 1 bộ
mục lục, gồm 15 quyển;
- Sa môn Thật Xoa Nan Đà (người
Vu-điền) dịch 19 bộ kinh, gồm 107 quyển;
- Bà la môn Lí Vô Siểm (người nước
Lam-ba, phía Bắc Thiên-trúc) dịch 1 quyển kinh;
- Sa môn Di Đà Sơn (người nước
Đỗ-hóa-la, cổ quốc ở phía Tây Nam cao nguyên
Pamir) dịch 1 quyển kinh;
- Sa môn Huyền Nghi (người Hán) soạn 1
bộ luận, gồm 3 quyển;
- Sa môn A Nễ Chân Na (người nước
Ca-thấp-mật-la, phía Bắc Thiên-trúc) dịch 7 bộ
kinh, gồm 9 quyển;
- Sa môn Nghĩa Tịnh (người Hán) dịch
và soạn 61 bộ kinh, luật, luận, truyện, gồm
239 quyển;
- Sa môn Bồ Đề Lưu Chí (tức Đạt
Ma Lưu Chi, người Thiên-trúc) dịch 53 bộ kinh, luận,
gồm 111 quyển;
- Sa môn Ái Đồng (người Hán) dịch
1 quyển luật;
- Sa môn Tuệ Uyển (người Hán) soạn
1 bộ âm nghĩa, gồm 2 quyển;
- Sa môn Bát Thích Mật Đa (người
Thiên-trúc) dịch 1 bộ kinh, gồm 10 quyển
- Sa môn Trí Nghiêm (người Vu-điền) dịch
4 bộ kinh, gồm 6 quyển;
- Sa môn Kim Cương Trí (người Thiên-trúc)
dịch 25 bộ kinh, gồm 32 quyển;
- Sa môn Hoài Địch (người Hán) dịch
1 bộ kinh, gồm 10 quyển;
- Sa môn Thiện Vô Úy (người Thiên-trúc) dịch
4 bộ kinh, gồm 14 quyển;
- Sa môn Trí Thăng (người Hán) soạn 5 bộ
kinh lục, sám nghi, gồm 25 quyển;
- Sa môn Bất Không (người nước
Sư-tử, tức Tích-lan) dịch 110 bộ kinh, luận,
gồm 143 quyển;
- Sa môn A Chất Đạt Tiển (người
Thiên-trúc) dịch 3 bộ kinh, gồm 5 quyển;
- Sa môn Pháp Nguyệt (người Thiên-trúc) dịch
1 quyển kinh;
- Sa môn Bát Nhă (người Thiên-trúc) dịch 6 bộ
kinh, gồm 70 quyển;
- Sa môn Lương Phần (người Hán) chú
sớ 1 bộ kinh, gồm 3 quyển;
- Sa môn Tiềm Chân (người Hán) chú sớ 4
bộ kinh, tập, gồm 9 quyển;
- Sa môn Trí Thủ (người Hán) chú sớ 21
quyển luật;
- Sa môn Tuệ Măn (người Hán) chú sớ 20
quyển luật;
- Sa môn Như Tịnh (người Hán) chú sớ
1 bộ luật, gồm 10 quyển;
- Sa môn Lương Tú (người Hán) chú sớ
1 bộ kinh, gồm 10 quyển;
- Sa môn Siêu Ngộ (người Hán) chú sớ 1
bô kinh, gồm 10 quyển;
- Sa môn Viên Chiếu (người Hán) soạn 1
bộ kinh lục, gồm 3 quyển;
- Sa môn Thi La Đạt Ma (người Vu-điền)
dịch 2 bộ kinh, gồm 10 quyển;
- Sa môn Vật Đề Đề Tê Ngư
(ngưới Qui-tư) dịch 1 quyển kinh;
- Trưởng giả Thông Huyền (người
Hán) chú sớ 10 bộ kinh, luận, gồm 64 quyển;
- Sa môn Trừng Quán (người Hán) chú sớ
5 bộ kinh. luận, gồm 65 quyển;
- v.v…
8. Thời Đại
Ngũ-Đại Thập-Quốc (907-960). Đây là thời ḱ
tan ră của đế quốc Trung-hoa sau hơn 300 năm
thống nhất dưới hai triều đại Tùy và
Đường. Sau khi vương triều Đường
diệt vong, ở phương Bắc Trung-quốc liên tiếp
xuất hiện 5 vương triều kế tiếp nhau thống
trị; đó là: Hậu-Lương (907-923), Hậu-Đường
(923-936), Hậu-Tấn (936-946), Hậu-Hán (947-950), và Hậu-Chu
(951-960). Sử gọi đó là Ngũ-đại. Trong khi
đó, ở phương Nam và vùng Hà-đông, trước
sau có 10 nước chia nhau cùng làm chủ, sử gọi
đó là Thập-quốc; gồm có: Tiền-Thục (908-925,
Tứ-xuyên ngày nay), Ngô-Việt (908-932, Triết-giang ngày nay),
Nam-Hán (917-971, Quảng-đông), Ngô (919-937, An-huy), Mân (933-945,
Phúc-kiến), Hậu-Thục (934-965, Tứ-xuyên),
Nam-Đường (937-958, Giang-tô), và Bắc-Hán (951-979,
Sơn-tây). Gộp chung cả Bắc và Nam, sử gọi
đây là thời đại Ngũ-đại Thập-quốc.
Trong giai đoạn này, Phật giáo chỉ cố gắng giữ
nền nếp cũ, tuy cũng có một số đế
vương ủng hộ Phật giáo nhiệt t́nh, nhưng
không có ǵ đặc sắc; đó là chưa nói đến sự
phá hoại Phật giáo của nhà Hậu-Chu. Riêng về sự
nghiệp dịch kinh th́ càng không có ǵ để nói tới;
tuy nhiên, cũng có một số sách được trước
thuật do các ngài: Đế Quán (người Cao-li),
Vĩnh Minh Diên Thọ ở nước Ngô-Việt; và ngài Hằng
An ở nước Nam-Đường.
9. Thời Đại
Nhà Tống (960-1279). Cuối thời Ngũ-đại Thập-quốc,
năm 960, Triệu Khuông Dẫn (927-976) đă phế bỏ
vua Cung đế (959-960) của nhà Hậu-Chu (951-960) ở
phương Bắc, tự lên ngôi đế, đặt quốc
hiệu là Tống, đóng đô ở Khai-phong (tỉnh
Hà-nam), sử gọi là nhà Bắc-Tống. Cuối năm
1127, quân Kim đánh chiếm Khai-phong, bắt vua Khâm-tông
(1126-1127) đem về giam ở nước Kim, thống trị
toàn vùng Hoa-bắc, chấm dứt vương triều Bắc-Tống.
Lúc đó, một người hoàng tộc của nhà Tống
là Triệu Cấu, đă chạy xuống vùng Hoa-nam, tự
xưng đế, đóng đô ở Lâm-an (Hàng-châu), sử
gọi là nhà Nam-Tống. Cả Bắc và Nam-Tống kéo dài
320 năm. Phật giáo từ cuối đời Đường
qua đời Ngũ-đại Thập-quốc đă rất
suy yếu, nhưng sang đến đời Tống th́ lại
được phục hưng và phát triển rực rỡ,
dù không sánh được với hai triều đại Tùy
và Đường thuở trước.
Riêng về sự nghiệp phiên dịch kinh
điển, từ đời vua Đường Đức-tông
(780-805) về sau, trải gần 200 năm bị gián đoạn,
nay tới triều đại nhà Tống th́ công tác dịch
kinh được hưng khởi trở lại. Tuy nhiên,
các kinh điển được dịch trong thời ḱ
này đều là kinh điển phụ thuộc, c̣n các kinh
điển trọng yếu đều đă được
dịch hết từ đời Đường trở về
trước. Trong triều đại này, chư vị cao
tăng từ Thiên-trúc, Tây-vức đă tới rất
đông, mà các vị người bản xứ cũng có; nổi
tiếng nhất trong công tác dịch kinh có các ngài:
- Sa môn Pháp Thiên (người Thiên-trúc) dịch
36 bộ kinh, tán, gồm 52 quyển;
- Sa môn Pháp Hiền (người Thiên-trúc) dịch
64 bộ kinh, tán, gồm 75 quyển;
- Sa môn Thi Hộ (nước Ô-điền-nang)
dịch 115 bộ kinh, gồm 255 quyển;
- Sa môn Thiên Tức Tai (nước Ca-thấp-di-la)
dịch 22 bộ kinh, gồm 75 quyển;
- Sa môn Pháp Hộ (nước Ca-thấp-di-la) dịch
35 bộ kinh, gồm 270 quyển;
- Sa môn Nhật Xứng (người Thiên-trúc) dịch
7 bộ kinh, luận, kệ tụng, gồm 70 quyển;
- Sa môn Trí Cát Tường (người
Thiên-trúc) và sa môn Kim Tổng Tŕ (người Tây-hạ) cùng dịch
chung 2 bộ kinh, gồm 8 quyển;
- Sa môn Từ Hiền (người Thiên-trúc) dịch
13 bộ kinh, gồm 17 quyển (?);
- Sa môn Duy Tịnh (người Hán) cùng với
các sa môn Thi Hộ, Pháp Hộ, Hạ Tủng, Huệ
Phương v.v… dịch 27 bộ kinh gồm 172 quyển, và
biên soạn 3 bộ sách về ngữ học và mục lục
gồm 80 quyển;
- Sa môn Thiệu Đức (người Hán) và
sa môn Tuệ Tuân (người Hán) cùng dịch chung 2 bộ
kinh, luận, gồm 18 quyển;
- Sa môn Tường Công (người Hán) dịch
1 bộ kinh, gồm 2 quyển;
- Sa môn Tri Lễ (người Hán) chú sớ kinh
và soạn luận, 8 bộ, gồm 32 quyển
- v.v…
Để tăng thêm tiện nghi cho đạo
tràng dịch kinh, vua Tống Thái-tông (976-997) đă ban sắc
xây Dịch-kinh viện (năm 980) trong khuôn viên chùa
Thái-b́nh-hưng-quốc ở ngay kinh đô Khai-phong. Các vị
dịch kinh nổi tiếng đương thời như
Pháp Thiên, Thiên Tức Tai, Thi Hộ, v.v... được nhà
vua mời về cư trú tại đây để chuyên việc
phiên dịch kinh điển. Viện Dịch-kinh được
tổ chức rất qui mô, hoàn bị, có đầy đủ
9 vị trong hội đồng dịch kinh thường
được gọi là “Dịch trường cửu vị”.
10. Thời Đại
Nhà Nguyên (1260-1368). Vương triều Nguyên kế tiếp
vương triều Tống, do người Mông-cổ kiến
lập. Đó là thời ḱ nước Trung-hoa bị người
Mông-cổ xâm chiếm và thống trị. Từ đầu
thế kỉ 12, hơn một nửa lănh thổ phía Bắc
Trung-quốc đă bị nước Kim thống trị.
Sang đầu thế kỉ 13, người Mông-cổ lại
tiêu diệt nước Kim, rồi diệt luôn nhà Nam-Tống,
thống trị toàn cơi Trung-quốc. Về mặt tôn giáo,
triều đ́nh nhà Nguyên chủ trương tự do tín
ngưỡng, cho nên Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, kể
cả các tôn giáo mới du nhập như Hồi giáo, Ki-tô
giáo, đều được cùng lúc lưu hành. Riêng về
Phật giáo, v́ các vua Mông-cổ vốn thâm tín Lạt-ma giáo,
nên trong thời đại nhà Nguyên, Lạt-ma giáo được
triều đ́nh đặc biệt bảo hộ, coi là quốc
giáo của Trung-quốc.
Về sự nghiệp phiên dịch kinh điển,
v́ kho tàng kinh điển Phật giáo đă được dịch
hết ở các triều đại trước, nên trong
triều đại này hầu như không có dịch phẩm
nào xuất hiện, ngoại trừ một số kinh thuộc
về Mật giáo do ngài lạt-ma Sa La Ba (1259-1314) dịch
vào đời vua Nguyên Thế-tổ (1260-1294). Tuy nhiên,
cũng có một sự việc quan trọng liên quan đến
kinh tạng, đó là việc các kinh điển Tây-tạng
(Mật tạng) được truyền vào Trung-quốc
và được dịch ra Hán văn trong thời đại
này. Các kinh điển Tạng văn này được dịch
sang Hán văn, rồi được nghiên cứu, so sánh,
đối chiếu, và soạn thành bộ Chí Nguyên Pháp Bảo Khám Đồng Tổng Lục
(10 quyển, do ngài Khánh Cát Tường soạn năm 1289,
triều vua Nguyên Thế-tổ). Ngoài ra, triều đ́nh
cũng tuyển người để dịch các kinh
điển Tạng ngữ ấy ra chữ Mông-cổ do
ngài Phát Tư Ba (1239-1280) đă sáng chế (xin xem phụ chú
số 33, bài 24 ở trước).
11. Các Thời Đại
Minh (1368-1644), Thanh (1644-1911), và Dân-Quốc (1912-?). Vương triều
Minh nối tiếp vương triều Nguyên, do Chu Nguyên
Chương (1328-1398) kiến lập; kéo dài gần 3 thế
kỉ th́ bị người tộc Măn-châu tiêu diệt, chiếm
đóng và thống trị Trung-quốc, kiến lập
vương triều Thanh. Nhà Thanh kéo dài gần 300 năm,
nhưng từ sau loạn Thái-b́nh thiên-quốc (năm 1850)
th́ suy yếu hẳn; rồi cuộc cách mạng dân chủ
(do Tôn Văn lănh đạo) nổi lên, nhà Thanh bị lật
đổ ngày 25.12.1911, chấm dứt chế độ
Quân chủ của Trung-hoa trải đă mấy ngàn năm,
thay thế bằng chế độ Cộng ḥa, gọi là
Trung-hoa Dân-quốc, do những người Hán nối tiếp
nhau nắm chính quyền.
Cả hai vương triều Minh và Thanh đều
ủng hộ Phật giáo, nên Phật giáo vẫn thịnh
hành, nhưng cũng chỉ giữ ở mức phát triển
cũ từ trước; các chính quyền Dân-quốc, v́ chủ
trương tự do tín ngưỡng, nên không ủng hộ
cũng không cản trở, Phật giáo vẫn tự do phát
triển. Riêng về sự nghiệp phiên dịch kinh điển
th́ không có ǵ để nói, nhưng về phương diện
trước thuật th́ rất phong phú. Các vị cao
tăng Trung-quốc trong khoảng thời gian này đă nhiệt
tâm sớ giải kinh, luật, luận và viết nhiều
tác phẩm để nêu rơ tư tưởng giáo học Phật
giáo của thời đại, nhất là tư tưởng
dung hợp giáo nghĩa giữa các tông phái Phật giáo; đặc
biệt là xiển dương hai pháp môn tu tập Thiền
và Tịnh Độ; ngoài ra cũng có một số tác phẩm
viết về sử liệu Phật giáo. Các tác gia nổi
tiếng trong khoảng thời gian này có các ngài Sở Thạch
Phạm Ḱ, Đạo Diễn, Vân Thê Châu Hoành, Tử Bách
Chân Khả, Ham (Hám) Sơn Đức Thanh, Ngẫu Ích Trí
Húc, Đạo Hựu, Thiền Đăng, Vô Tận, Nhất
Niệm, Như Tỉnh, Tán Ninh, Huyễn Luân, v.v… và các vị
cư sĩ Viên Hoành Đạo, Chu Khắc Phục, v.v… ở
đời Minh; các ngài Kiến Nguyệt Độc Thể,
Văn Hải Phúc Tụ, Đạo Bái Vi Lâm, Tỉnh Am Thật
Hiền, v.v… và các vị cư sĩ Viên Minh (tức vua
Ung-chánh nhà Thanh), Bành Thiệu Thăng, Bành Hi Tốc,
Dương Nhân Sơn, v.v… ở đời Thanh; các ngài Ấn
Quang, Thái Hư, Đế Nhàn, Ấn Thuận, v.v… và các vị
cư sĩ Vương Nhất Đ́nh, Tưởng Duy Kiều,
Chương Bính Lân, Lương Khải Siêu, v.v… ở thời
cận đại (Dân-quốc).
III. Từ MỤC LỤC
KINH đến ĐẠI TẠNG KINH
1. 19 Bộ Kinh Lục
Hiện C̣n Lưu Hành. Các kinh điển đă được
phiên dịch, và các trước tác liên quan đến kinh luật
luận đều được sưu tập và ghi chép
vào danh sách có thứ tự, làm thành loại sách gọi là “chúng kinh mục lục” (cũng
gọi là kinh lục, tức
là thư mục Phật giáo); nhờ đó, dù nhiều dịch
phẩm hay tác phẩm bị thất truyền, người
sau vẫn biết được tên các dịch phẩm hay
tác phẩm ấy. Đó cũng là những tài liệu quí
giá để nghiên cứu về lịch sử phiên dịch
kinh điển và trước thuật luận, sớ ở
Trung-quốc; hơn nữa, đó cũng c̣n là nền tảng
để h́nh thành Đại Tạng Kinh Hán Văn.
Từ thời Hậu-Hán cho tới nhà Nguyên, trải
hơn một ngh́n năm, số kinh luật luận
được phiên dịch cũng như các sách biên soạn
về Phật học, con số đạt đến mấy
ngàn quyển. Buổi đầu, số kinh điển
được phiên dịch hăy c̣n ít ỏi, lại tản
mác ở các nơi, nên chưa có mục lục nhất
định. Từ đời Tiền-Tần (351-394) trở
về sau, các dịch phẩm mới dần dần
được sưu tập lại và biên thành danh mục;
rồi các đời sau lại lần lượt bổ
túc thêm vào, làm cho số sách về “kinh lục” ra đời nhiều đến vài
chục bộ.
Trong bộ Lịch
Đại Tam Bảo Kỉ, do Phí Trưởng Pḥng
(đời Tùy) soạn, có liệt kê 24 nhà soạn kinh lục
từ trước, nhưng tới đời nhà Tùy (581-619)
th́ đều đă bị mất hết. Ngay cả bộ
Tống Lí Chúng Kinh Mục Lục
của ngài Đạo An (312-385) soạn vào năm 374 thời
Đông-Tấn (317-419) cũng không c̣n; may mà những danh mục
trong bộ sách ấy đă được ngài Tăng Hựu
(445-518) chép lại trong bộ Xuất
Tam Tạng Kí Tập do chính ngài biên soạn (vào thời
nhà Lương thuộc thời đại Nam-Bắc-triều).
Sách Lịch Đại
Tam Bảo Kỉ cũng liệt kê một danh sách khác gồm
6 bộ kinh lục được soạn trong khoảng từ
thời Nam-Bắc-triều đến đời Tùy (Chúng Kinh Biệt Lục, đời
Tống; Xuất Tam Tạng Tập
Kí Lục, đời Tề [đúng ra là đời
Lương, chứ không phải đời Tề]; Tề Thế Chúng Kinh Mục Lục,
đời Tề; Ngụy Thế
Chúng Kinh Mục Lục, đời Bắc-Ngụy; Lương Thế Chúng Kinh Mục
Lục, đời Lương; Đại Tùy Chúng Kinh Mục Lục, đời
Tùy), nhưng chỉ có 2 bộ Xuất
Tam Tạng Kí Tập (tức Xuất
Tam Tạng Tập Kí Lục) và Đại Tùy Chúng Kinh Mục Lục là c̣n lưu
truyền cho đến ngày nay.
Lại nữa, sách Cao
Tăng Truyện (Tuệ Kiểu soạn năm 518,
đời Lương) có nêu tên bộ Kinh Mục của Đàm Tông soạn vào đời
Lưu-Tống, và sách Quảng
Hoằng Minh Tập (Đạo Tuyên soạn năm 644,
đời Đường) cũng nêu tên bộ Phật Pháp Lục của Nguyễn
Hiếu Tự soạn vào đời Lương, nhưng cả
hai bộ kinh lục này đều đă bị mất.
Như vậy, trong các bộ kinh lục c̣n
lưu hành cho đến ngày nay (lược kể sau
đây), th́ bộ Xuất Tam Tạng Kí Tập (15 quyển) của ngài Tăng Hựu soạn vào năm 510,
đời Lương (502-558), được coi là bộ
kinh lục xưa nhất, liệt kê số kinh luật luận
đă được phiên dịch từ thời Hậu-Hán
tới nhà Tiêu-Lương, tổng cộng có 2.211 bộ, gồm
4.251 quyển.
Tiếp đến, vào thời đại nhà
Tùy, năm 594, ngài Pháp Kinh đă soạn bộ Chúng
Kinh Mục Lục (cũng gọi là Pháp Kinh Lục, gồm 7 quyển), liệt kê số
dịch phẩm và soạn phẩm tổng cộng có 2.257 bộ,
gồm 5.310 quyển. Năm 597, cư sĩ Phí Trưởng
Pḥng (nguyên là một tăng sĩ, đă bị bắt buộc
phải hoàn tục trong ḱ pháp nạn dưới triều
vua Vũ đế nhà Bắc-Chu) soạn bộ Lịch
Đại Tam Bảo Kỉ (15 quyển), liệt kê 1.076 bộ, gồm 3.292
quyển. Năm 602, ngài Ngạn Tông soạn bộ Chúng
Kinh Mục Lục (cũng gọi là Nhân Thọ Lục, gồm 5 quyển), liệt kê
2.109 bộ, gồm 5.058 quyển.
Ở thời đại nhà Đường,
năm 664, ngài Đạo Tuyên đă soạn bộ Đại
Đường Nội Điển Lục (10 quyển),
liệt kê 800 bộ, gồm 3.361 quyển; cũng trong
năm đó, ngài lại soạn tiếp bộ Tục
Đại Đường Nội Điển Lục.
Trong khoảng hai năm 664-665, ngài Tĩnh Thái soạn bộ
Đại
Đường Đông Kinh Đại Kính Ái Tự Nhất
Thiết Kinh Luận Mục Lục (7 quyển), liệt
kê 2.219 bộ, gồm 6.694 quyển. Ngài Tĩnh Mại soạn
bộ Cổ Kim Dịch Kinh Đồ Kí (không rơ
năm nào). Năm 695 (dưới triều đại nữ
hoàng Vũ Tắc Thiên), ngài Minh Thuyên soạn bộ Đại
Châu San Định Chúng Kinh Mục Lục (15 quyển).
Năm 730, ngài Trí Thăng soạn 3 bộ Tục Cổ Kim Dịch
Kinh Đồ Kí (1 quyển), Khai Nguyên Thích Giáo Lục
(20 quyển) và Khai Nguyên Thích Giáo Lục Lược
Xuất (5 quyển). Năm 794, ngài Viên Chiếu soạn
bộ Đại Đường Trinh Nguyên Tục Khai Nguyên
Thích Giáo Lục (3 quyển). Năm 800, ngài Viên Chiếu
lại soạn bộ Trinh Nguyên Tân Định Thích Giáo
Mục Lục (30 quyển).
Trong thời Ngũ-đại Thập-quốc,
chỉ có bộ Đại Đường Bảo
Đại Ất Tị Tuế Tục Trinh Nguyên Thích Giáo Lục
được ngài Hằng An biên soạn vào năm 945.
Trong thời đại nhà Tống, năm 1013,
cư sĩ Dương Ức soạn bộ Đại
Trung Tường Phù Pháp Bảo Lục (22 quyển).
Năm 1027, ngài Duy Tịnh soạn bộ Thiên Thánh Thích Giáo Lục
(3 cuốn). Năm 1036, cư sĩ Lữ Di Giản soạn
bộ Cảnh Hựu Tân Tu Pháp Bảo Lục (21 quyển).
Vào thời nhà Nguyên, Đại Tạng Kinh của
Tây-tạng (Mật giáo) được truyền vào Trung-quốc,
và được phiên dịch ra Hán văn. Các kinh điển
này lại được đem đối chiếu, so sánh
với các kinh điển Hán văn đă có từ trước,
và được ngài Khánh Cát Tường soạn thành bộ
Chí
Nguyên Pháp Bảo Khám Đồng Tổng Lục (10 quyển)
vào năm 1289.
2. Các Bản Đại
Tạng Kinh Hán Văn. Từ “Đại
Tạng Kinh Hán Văn” được dùng để chỉ
cho bộ sách vĩ đại (tùng thư), tổng tập
tất cả thánh điển Phật giáo gồm ba tạng
Kinh, Luật, Luận (đă được dịch ra Hán
văn) là trung tâm, và xung quanh đó là những sách chú sớ
và những trước tác phẩm có tính cách luận giải,
kí sự, hệ thống hóa v.v… liên quan đến ba tạng trung tâm nói trên. Tất
cả các điển tịch này đều được
viết bằng Hán văn, do chính người Trung-quốc
hoặc người ngoại quốc cư trú tại
Trung-quốc và các nước lân cận trực tiếp chịu
ảnh hưởng văn hóa Trung-hoa (như Kim, Liêu, Triều-tiên,
và Nhật-bản).
Từ “Đại
Tạng Kinh” vốn không thấy nói đến ở Phật
giáo Ấn-độ; mà trong khoảng thời gian đầu
của Phật giáo Trung-quốc cũng chưa có. Tới thời
đại Nam-Bắc-triều th́ thấy có các từ “nhất thiết chúng tạng
kinh điển” và “nhất
thiết kinh tạng” xuất hiện. Từ các đời
Tùy, Đường trở về sau mới có danh xưng “Đại
Tạng Kinh” – dùng để chỉ cho tất cả
kinh điển do triều đ́nh ban lệnh sưu tập
và công nhận.
Từ nguyên điển Phạn ngữ và Pali
ngữ phiên dịch ra các ngôn ngữ khác trên thế giới,
th́ Đại Tạng Kinh Hán văn được phiên dịch
rất sớm, và rất đồ sộ. Buổi ban
sơ, sự nghiệp phiên dịch kinh điển ở
Trung-quốc được chính thức kể từ
năm 148 s. TL (tức năm thứ 2 niên hiệu Kiến-ḥa,
triều vua Hán Hoàn đế) – là năm ngài An Thế Cao (từ
nước An-tức) đến Lạc-dương; và các
dịch phẩm của ngài chủ yếu là các kinh điển
tiểu thừa. Từ năm 167, khi ngài Chi Lâu Ca Sấm
(người nước Nhục-chi) đến Lạc-dương,
th́ các kinh điển được phiên dịch chủ yếu
là đại thừa.
Trong buổi ban sơ ấy, các kinh điển
được phiên dịch đều do mỗi dịch giả
tự biên chép lấy và tự truyền tŕ. Đến
đời Tiền-Tần (thuộc thời đại
Đông-Tấn-thập-lục-quốc, 317-420), ngài Đạo
An (người Hán, 312-385) mới bắt đầu sưu
tập, phân loại các kinh điển đă được
phiên dịch từ trước, rồi biên thành danh mục,
đó là quyển Tống Lí
Chúng Kinh Mục Lục – nhưng rất tiếc, quyển
này đă bị thất truyền. Từ đó về sau,
công việc này đă được tiếp tục, nhiều
bộ kinh lục như thế đă được xuất
hiện (như vừa tŕnh bày ở trên). Song song với việc
lập danh sách để soạn thành các bộ kinh lục ấy,
toàn bộ các kinh điển đă được phiên dịch
cũng được sao chép và tập hợp lại để
chứa giữ trong cung thất hoặc ở các ngôi chùa lớn
của triều đ́nh. Đó là h́nh thức sơ khởi
trong tiến tŕnh h́nh thành Đại
Tạng Kinh Hán Văn. Phong trào sao chép và tập hợp
kinh điển này rất thịnh hành trong khoảng từ
Tề, Lương, cho đến Tùy, Đường;
nhưng phải đợi đến nhà Tống (thế kỉ
thứ 10) th́ việc ấn loát mới được bắt
đầu.
2.1. 5 Bộ Đại Tạng Đời Tống.
Kĩ thuật ấn loát của Trung-quốc có từ thời
đại nhà Đường. Vào lúc đó, kinh sách cũng
đă được khắc ván để in, nhưng chỉ
là những trường hợp lẻ tẻ, việc ấn
hành chưa được thịnh hành và phổ cập.
Đến thời đại nhà TỐNG, năm thứ 4 niên hiệu Khai-bảo (971), vua
Thái-tổ (960-976) sai Cao Phẩm và Trương Tùng Tín đến
Thành-đô (đất Thục, tức tỉnh Tứ-xuyên),
khắc ván toàn bộ kinh điển đă được
phiên dịch ra Hán văn từ lúc khởi thỉ cho đến
đương đại, tổng cộng được
13 vạn bản. Khắc xong, các bản khắc ấy
đă được mang về Ấn-kinh viện đặt
trong chùa Thái-b́nh-hưng-quốc (tại kinh đô Khai-phong, tỉnh
Hà-nam) để in. Công việc khởi sự từ năm
971 (triều vua Thái-tổ), cho đến năm 983 (triều
vua Thái-tông), cả thảy 13 năm th́ hoàn thành. Đó là bộ
Đại Tạng Kinh đầu
tiên của Phật giáo Trung-quốc, có danh xưng là KHAI
BẢO TẠNG, gồm 5.048 quyển, được
liệt vào sự nghiệp vĩ đại trong lịch sử
ấn loát của thế giới. Bộ Đại Tạng
này, sau khi ấn loát xong th́ ban phát đi các nơi (kể cả
các nước Nữ-chân, Tây-hạ, Triều-tiên, và Nhật-bản),
và thường được gọi là Thục Bản.
Tiếp đó, nhiều vị cao tăng
cũng noi theo sự nghiệp ấy, cho nên trong thời
đại nhà Tống đă có thêm bốn lần khắc
ván ấn hành Đại Tạng Kinh:
- Năm 1080 (đời vua Tống Thần-tông),
các ngài Tuệ Vinh, Trung Chân, Trí Hoa v.v… ở chùa Đông-thiền
tại Phúc-châu (tỉnh Phúc-kiến) khởi công khắc in
bộ Đại Tạng Kinh thứ nh́ trong triều đại
nhà Tống (sau bộ Thục Bản),
đó là bộ SÙNG NINH VẠN THỌ TẠNG, được
hoàn tất đợt một vào năm 1103. Tuy đây là công
tŕnh tư nhân, nhưng bộ Đại Tạng này sau khi
hoàn thành, đă được
triều đ́nh chuẩn nhận và ban sắc đặt
tên là Phúc Châu Đông Tiệm
Kinh Tạng Sùng Ninh Vạn Thọ Đại Tạng;
thông thường được gọi là Đông Thiền Tự Bản.
Công tŕnh này, sau đó lại được tiếp tục
nhiều đợt nữa, đến năm 1176 mới thực
sự hoàn tất.
- Năm 1112 (đời vua Tống Huy-tông), các
ngài Bản Minh, Bản Ngộ v.v… ở chùa Khai-nguyên,
Phúc-châu, khởi công khắc in bộ Đại Tạng thứ
ba trong triều đại nhà Tống, đó là bộ T̀
LƯ TẠNG, được hoàn tất đợt
đầu vào năm 1131; rồi công tŕnh được tiếp
tục, năm 1148 hoàn tất đợt hai; và đến
năm 1154 th́ thật sự hoàn thành. Bộ này thường
được gọi là Khai Nguyên Tự Bản.
- Năm 1132 (đời vua Tống Cao-tông), các
ngài Tịnh Phạm, Hoài Thâm v.v… ở chùa Viên-giác tại
Tư-khê, Hồ-châu (tỉnh Triết-giang), khởi sự
khắc in bộ Đại Tạng thứ tư trong triều
đại nhà Tống, đó là TƯ KHÊ TẠNG, gồm có
hai bản: Tư Khê Viên Giác Bản (cũng gọi là Hồ Châu Bản, hay Tiền Tư Khê Bản) và Tư
Khê Tư Phúc Bản (cũng gọi Hậu Tư Khê Bản). Sở dĩ có hai bản
như vậy là v́ bản trước được khắc
in tại thiền viện Viên-giác; sau đó th́ thiền viện
Viên-giác được đổi tên thành thiền viện
Tư-phúc, và bản sau lại được khắc in
để bổ túc cho bản trước. Hai bản ấy
hợp lại làm thành Tư Khê Tạng, và thường
được gọi là Tư Khê Bản.
- Năm 1231 (đời vua Tống Lí-tông), các
ngài Triệu An Quốc, Pháp Âm v.v… ở chùa Diên-khánh tại
Tích-sa, Ngô huyện (tỉnh Giang-tô), đă khắc in bộ
Đại Tạng Kinh thứ năm trong triều đại
nhà Tống, đó là TÍCH SA TẠNG. Công tŕnh này
đă kéo dài đến năm 1322 (triều đại nhà
Nguyên) mới hoàn thành, thường được gọi
là Tích
Sa Bản.
Trải qua nhiều thời ḱ binh hỏa, kinh
điển bị thất lạc hoặc bị thiêu hủy,
nên cả 5 bản Đại Tạng trên, ngày nay đều
không bản nào c̣n nguyên vẹn.
2.2. Đại Tạng
Kinh Nước Liêu. Năm 907, dân tộc Khiết-đan ở phía
Đông Bắc Trung-quốc đă khởi dậy, kiến lập
nước Liêu, đóng đô ở Lâm-hoàng (Măn-châu). Lănh thổ
nước này giáp ranh với Bắc-Tống, bao gồm cả
tỉnh Hà-bắc, Bắc bộ tỉnh Sơn-tây, và một
phần đất Mông-cổ.
Dân tộc Khiết-đan cũng chịu ảnh
hưởng của văn hóa Hán tộc, sùng tín Phật
giáo; v́ vậy, Phật giáo ở nước Liêu cũng rất
phát triển, không thua kém Phật giáo nhà Tống ở
phương Nam. Các kinh điển Hán dịch đều
được lưu hành tại nước này, cho nên, ở
các đời vua Thánh-tông, Hưng-tông và Đạo-tông (trong
khoảng từ năm 983-1100), đă có 4 bộ kinh lớn (Hoa Nghiêm, Bát Nhă, Bảo Tích, Niết
Bàn) được các vua cho khắc vào đá, để
ghi lại di tích Phật giáo của nước Liêu.
Về sự nghiệp khắc ván in kinh, sau khi
bộ Đại Tạng đầu tiên của Trung-quốc
là Khai Bảo Tạng (tức
Thục Bản) được
ấn hành, triều đ́nh nhà Tống cũng đă cho phổ
biến bản này sang nước Liêu. Sau khi tiếp nhận
bộ Đại Tạng này, vua Hưng-tông (1031-1055) đă
ban lệnh khởi công khắc ván ấn hành bộ Đại
Tạng riêng cho nước Liêu. Công việc này được
thực hiện tại Nam-kinh (tức thành phố Bắc-kinh
ngày nay), đến khoảng năm 1063 (đời vua Đạo-tông)
th́ hoàn thành, danh xưng là KHIẾT ĐAN TẠNG, và
thường được gọi là Liêu Bản. Bộ
này có đến 6.000 quyển, nhưng hiện nay không c̣n.
2.3. Đại Tạng
Kinh Nước Kim. Ở vùng đất Măn-châu của nước
Liêu có dân tộc Nữ-chân sinh sống. Khoảng năm
1115, thừa lúc triều đ́nh nước Liêu suy yếu,
họ bèn khởi dậy kiến lập nước Kim,
đóng đô ở Hội-ninh (tỉnh Cát-lâm ngày nay). Họ
lại kết hợp với nhà Tống để tiêu diệt
nước Liêu (năm 1125), nên toàn lănh thổ của nước
Liêu ngày trước bây giờ thuộc về nước
Kim. Sau đó, thừa lúc nhà Tống suy yếu, họ tiến
dần về phía Nam, lấy được kinh đô Biện-kinh
của nhà Tống, chiếm trọn vùng Hoa-bắc, đuổi
nhà Tống chạy về vùng Hoa-nam (lập ra nhà Nam-Tống),
lấy sông Hoài làm ranh giới giữa hai nước Kim và Tống.
Sau khi đă định phân ranh giới, nhà Kim đă dời
đô về Yên-kinh (tức Nam-kinh của nước Liêu,
cũng tức là Bắc-kinh ngày nay).
Người Kim cũng trực tiếp chịu
ảnh hưởng mạnh mẽ của người Hán,
nên tŕnh độ văn hóa, tư tưởng cũng rất
cao, giống như người Liêu thuở trước.
Triều đ́nh các vua Kim cũng hết ḷng tôn sùng và bảo
hộ Phật giáo, nên Phật giáo cũng rất hưng thịnh
như ở vương triều Liêu thuở trước.
Riêng về việc khắc ván in Đại Tạng
Kinh, đó cũng là một sự nghiệp vĩ đại
của nước Kim. Bộ Đại Tạng của
nước Kim có tên là KIM BẢN ĐẠI TẠNG KINH
(gọi tắt là KIM TẠNG). Bộ này do t́
kheo ni Thôi Pháp Trân ở tỉnh Sơn-tây chủ xướng,
căn cứ theo bộ Đại Tạng của Bắc-Tống
(Thục Bản) để
khắc thành; phí tổn do dân chúng địa phương
đóng góp cúng dường. Công tŕnh được khởi
sự khoảng năm 1148 (đời vua Hi-tông), đến
năm 1173 (đời vua Thế-tông) th́ hoàn thành. Năm
1178, ni sư Pháp Trân đem bộ Đại Tạng ấy
hiến tặng triều đ́nh nước Kim, được
vua Thế-tông (1161-1189) cho cất giữ tại chùa Hoằng-pháp
ở kinh đô Yên-kinh. Sau đó, vào đầu nhà Nguyên, bộ
này đă từng được bổ túc thêm, nhưng
đến cuối nhà Nguyên th́ bị thất lạc. Rồi
ngẫu nhiên, vào năm Dân-quốc thứ 23 (1934), một
hôm người ta bỗng phát hiện được bộ
Đại Tạng này ngay trong nội điện Di Lặc
của chùa Quảng-thắng ở huyện Triệu-thành, tỉnh
Sơn-tây; cho nên bộ Đại Tạng này cũng
được gọi là Triệu Thành Tàng Bản.
Năm 1935, hội Tích-sa-tạng Ảnh-ấn ở Thượng-hải
đă sưu tập những chương sớ, sử truyện,
kinh lục v.v… trong bộ Kim Tạng này mà trong Tống Bản không có, làm thành bộ Tống Tạng Di Trân, in thành
120 tập.
2.4. Đại Tạng
Kinh Nước Triều-Tiên. Nước Triều-tiên là một bán
đảo dính liền với lục địa Trung-hoa về
phía Đông Bắc, cũng từng trực tiếp chịu
ảnh hưởng văn hóa Trung-quốc, và Phật giáo từ
Trung-quốc đă truyền vào nước này rất sớm,
từ nửa sau thế kỉ thứ 4 (thời đại
Đông-Tấn), đến thế kỉ thứ 10 (dưới
vương triều Cao-li, 935-1392) th́ phát triển vô cùng xán
lạn.
Riêng về việc khắc in Đại Tạng
Kinh, đó cũng là một sự nghiệp vĩ đại
của Phật giáo Triều-tiên. Sau khi bộ Đại Tạng
Kinh đầu tiên của Trung-quốc (Thục Bản) được cho lưu hành, th́ ảnh
hưởng của nó lan rộng khắp nơi. Nhân đó,
vương triều Cao-li cũng sai người sang nước
Tống để thỉnh một bộ đem về
nước, với ư định sẽ khắc in một bộ
Đại Tạng như thế ở nước ḿnh.
Năm 1011, vua Hiển-tông phát nguyện khai bản Đại
Tạng, đă y cứ vào bộ Thục
Bản của nhà Tống mà cho khởi sự khắc
ván in bộ CAO LI TẠNG (cũng gọi là Cao Li Bản). Công
tŕnh này phải trải qua 3 lần thực hiện mới
hoàn thành:
- Lần đầu, từ khi khởi sự
là năm 1011, đến năm 1082 th́ hoàn tất, được
gọi là Sơ Điêu Bản.
- Lần thứ nh́, năm 1085, ngài Nghĩa
Thiên (nguyên là một vị hoàng tử, con vua Văn-tông của
vương triều Cao-li) sang nhà Tống cầu pháp;
năm 1090 trở về nước, đă mang theo
được rất nhiều chương sớ, kinh
điển của các tông phái, và kinh điển của Khiết-đan,
Nhật-bổn v.v… đem về nước, biên tập
thành bộ Tân Biên Chư Giáo Tạng
Tổng Mục; rồi đem khắc bản in, đó
là bộ Cao Li Tục Tạng Bản.
- Lần thứ ba, năm 1232 (đời vua
Cao-tông của vương triều Cao-li) nước Triều-tiên
bị quân Mông-cổ đánh phá, cả hai bản Đại
Tạng đă khắc in trong hai lần trước đều
bị thiêu hủy hầu hết trong cơn binh hỏa, chỉ
c̣n lại một ít mảnh rời rạc; cho nên năm
1236 (đời vua Cao-tông), nhà vua đă ban lệnh cho khắc
in lại Đại Tạng Kinh, đến năm 1251 mới
hoàn thành, được gọi là Tái Điêu Bản
(tức Bát Vạn Đại Tạng Kinh). Khi khắc
in bộ này, ban ấn loát đă y cứ vào các bộ Thục Bản, Khiết Đan Bản
và những mảnh rời rạc c̣n lại của Sơ Điêu Bản mà đối
chiếu, so sánh, kiểu chính, rồi c̣n ghi chú kĩ càng, nên
rất có giá trị trên phương diện kê cứu. Sau
khi hoàn thành, bộ Đại Tạng này được
tàng trữ tại chùa Hải-ấn ở Nam Triều-tiên,
nên cũng thường được gọi là Hải
Ấn Tự Bản. Đó là bộ Đại Tạng
nổi tiếng nhất của Triều-tiên c̣n lưu hành
đến ngày nay, thường được gọi là LI BẢN
TẠNG KINH. Chính hai bộ Súc
Loát Đại Tạng Kinh và Đại
Chính Đại Tạng Kinh của Nhật-bản
cũng đă lấy bộ Li Bản
Tạng Kinh này làm tài liệu căn bản để y cứ
và tham khảo.
Các bản Đại Tạng Kinh của các
nước Liêu, Kim và Triều-tiên vừa kể trên đều
trực tiếp chịu ảnh hưởng của Đại
Tạng Kinh đời Tống, và đều khởi sự
khắc in vào thời đại nhà Tống, nên đă
được sắp xếp liền sau các bản Đại
Tạng Kinh đời Tống, để thấy
được mối quan hệ mật thiết của nền
giáo học Phật giáo đương thời giữa các
nước Trung-hoa, Liêu, Kim và Triều-tiên.
2.5. Các Bản Đại Tạng Kinh Đời
Nguyên. T́nh h́nh Phật giáo ở thời đại nhà
Nguyên (1260-1368) vừa được tŕnh bày sơ lược
ở một đoạn trên. Ở đây chỉ xin nói thêm
về công tŕnh khắc in Đại Tạng Kinh. Trong đời
nhà Nguyên có 2 bộ Đại Tạng được khắc
in:
- Bộ PHỔ NINH TẠNG, cũng
gọi là NGUYÊN TẠNG, được khởi sự khắc
in vào năm 1277 (đời vua Nguyên Thế-tổ – có thuyết
nói vào năm 1269), đến năm 1290 th́ hoàn thành, tổng
cộng có 6.017 quyển. Đây là một công tŕnh của
tư nhân, do hai ngài Đạo An và Nhất Như ở chùa
Phổ-ninh tại huyện Dư-hàng (tỉnh Triết-giang)
đứng ra khắc in, cho nên bộ này cũng thường
được gọi là Phổ Ninh Tự Bản.
Vua Nguyên Thế Tổ đă cho in bộ Đại Tạng
này ra 36 bản để tặng cho các nước từng
qui phục hoặc giao hảo với nhà Nguyên. Bản này hiện
nay c̣n được cất giữ tại hai chùa
Tăng-thượng và Thiển-chương ở
Đông-kinh, Nhật-bản, và cũng đă giúp ích rất
nhiều trong việc h́nh thành hai bộ Súc Loát Tạng Kinh và Đại
Chánh Đại Tạng Kinh của Nhật-bản.
- Bộ HOẰNG PHÁP TẠNG, do vua
Nguyên Thế-tổ ban sắc lệnh khắc in. Công tŕnh khởi
sự từ năm 1277 tại chùa Hoằng-pháp ở Bắc-kinh,
đến năm 1294 th́ hoàn thành, tổng cộng có 7.182 quyển,
thường được gọi là Hoằng Pháp Tự Bản.
Mục lục của bộ Đại Tạng này chính là bộ
kinh lục có tên Chí Nguyên Pháp Bảo
Khám Đồng Tổng Lục vừa nói ở một
đoạn trên, nhưng cũng có thuyết nói rằng, bộ
Đại Tạng này cũng tức là bộ Kim Tạng được cải
biên. Toàn bộ tạng kinh này đă bị mất từ
lâu.
2.6. Các Bản Đại
Tạng Kinh Đời Minh. Trong thời đại nhà Minh, Đại
Tạng Kinh đă 5 lần được khai bản:
- Lần thứ nhất, năm 1372 (năm thứ
5 niên hiệu Hồng-vũ đời vua Minh Thái-tổ),
nhà vua ban sắc lệnh san khắc Đại Tạng tại
chùa Tưởng-sơn ở Kim-lăng (Nam-kinh), đến
năm 1403 th́ hoàn thành, thu gồm 1.612 bộ, gọi là HỒNG
VŨ NAM TẠNG, được cất giữ tại
chùa Báo-ân ở Kim-lăng.
- Lần thứ nh́, năm 1412 (năm thứ
10 niên hiệu Vĩnh-lạc đời vua Thành-tổ),
cũng tại Nam-kinh, bản Hồng
Vũ Nam Tạng trên lại được đem sửa
chữa cho hoàn chỉnh hơn, phân loại rơ ràng hơn, và
được khắc in lại, đến năm 1417 th́
hoàn thành, tổng cộng có 6.331 quyển, gọi là VĨNH
LẠC NAM TẠNG; – thông thường gọi Nam Tạng
Bản, tức chỉ
cho bản này.
- Lần thứ ba, nguyên từ năm 1410, vua
Thành-tổ đă ban sắc lệnh khắc in Đại Tạng
tại Bắc-kinh; tuy nhiên, măi đến năm 1420 th́ công tŕnh mới thực
sự được bắt đầu, và đến
năm 1440 (đời vua Anh-tông) th́ hoàn thành, thu gồm 6.361
quyển, gọi là VĨNH LẠC BẮC TẠNG,
thông thường gọi là Bắc Tạng Bản.
- Lần thứ tư, trong khoảng niên hiệu
Gia-tĩnh (1522-1566) đời vua Thế-tông, một bộ
Đại Tạng được khắc in tại chùa
Chiêu-khánh ở Vũ-lâm (nay là Hàng-châu, tỉnh Triết-giang),
gọi là VŨ LÂM TẠNG (cũng gọi là CHIÊU KHÁNH TẠNG).
Đặc điểm của bản này là lần đầu
tiên nó được san khắc theo h́nh thức
“phương sách” (giống như sách ngày nay), rất tiện
lợi để đọc tụng; nhưng chẳng may
nó đă bị thất lạc từ lâu, nay chưa t́m ra vết
tích.
- Lần thứ năm, năm 1586 (đời
vua Thần-tông), ngài Đạo Khai ở chùa Lăng-nghiêm
(huyện Gia-hưng, tỉnh Triết-giang) đă phát nguyện
đứng ra khắc in một bộ Đại Tạng
Kinh. Công tŕnh được khởi sự tại am Diệu-đức
ở núi Ngũ-đài, với sự phụ giúp của các
ngài Huyễn Dư, Chân Khả và Đức Thanh; các vị
cư sĩ th́ hỗ trợ về tài chánh. Không bao lâu th́
ngài Đạo Khai viên tịch, ngài Huyễn Dư thay thế
để chỉ đạo công tŕnh. Rồi không bao lâu sau
đó, ngài Huyễn Dư cũng lại viên tịch, những
vị c̣n lại luân phiên kế tiếp nhau gánh vác trách nhiệm,
và công việc khắc ván được dời về
Kính-sơn (huyện Dư-hàng, tỉnh Triết-giang). Cuối
cùng, tất cả số ván đă khắc đều
được tập trung về chùa Lăng-nghiêm để
in, đến năm 1620 th́ bộ Đại Tạng này
được hoàn tất, theo h́nh thức “phương
sách” (như Vũ Lâm Bản
ở trên), được gọi là Lăng Nghiêm Tự Bản
(cũng gọi là Gia Hưng Bản, hay KÍNH
SƠN TẠNG). Tuy đây là một công tŕnh tư nhân,
nhưng so trong các bộ Đại Tạng đời Minh
th́ bộ này được lưu hành rộng răi hơn cả,
nên thông thường nó c̣n được gọi là MINH
TẠNG, hay Minh Bản. Sang đời
vua Khang-hi (1662-1722) nhà Thanh, bộ Minh Tạng này lại được khắc in bổ
túc mấy lần nữa, đến năm 1676 mới thực
sự được cáo thành, thâu gồm 1.618 bộ, cả
thảy 7.334 quyển.
2.7. Đại Tạng Kinh Đời Nhà Thanh. Trong
thời đại nhà Thanh cũng đă có 5 bộ Đại
Tạng được xuất bản:
- TỤC TẠNG KINH: Bộ này bắt đầu
khắc ván vào năm 1666, dưới đời vua Khang-Hi
(Thanh Thánh-tổ, 1662-1722), gồm 1.833 quyển để
thêm vào bộ Minh Bản
đời Minh; sau lại khắc thêm bộ HỰU
TỤC TẠNG KINH nữa,
gồm 1.246 quyển để tăng bổ cho bộ Tục Tạng Kinh trước;
và như vậy, bộ Tục
Tạng Kinh được gọi là Minh Tục Tạng Bản,
và bộ Hựu Tục Tạng Kinh được
gọi là Tục Minh Tục Tạng Bản.
- LONG TẠNG: Bộ này được khởi
công khắc ván tại Bắc-kinh vào năm 1735 đời
vua Ung-chính (Thanh Thế-tông, 1723-1735), đến năm 1738
đời vua Càn-long (Thanh Cao-tông, 1736-1795) th́ hoàn thành, thu gồm
1.662 bộ, 7.168 quyển. Bộ này đă lấy bộ Bắc Tạng Bản đời
Minh làm căn bản y cứ. Đó cũng là bộ Đại
Tạng lớn nhất trong các bộ Đại Tạng do
triều đ́nh khâm định từ trước đến
nay. Vào cuối đời Thanh, Từ Hi thái hậu đă tặng
bộ Đại Tạng này cho Nhật-bản, hiện c̣n
được cất giữ tại Long-cốc đại-học
đồ-thư-quán ở Đông-kinh.
- BÁ NẠP TẠNG: Năm 1866 (đời vua
Đồng-trị, 1862-1874), ở Kim-lăng có cư sĩ
Dương Nhân Sơn phát nguyện đứng ra khai bản,
đă hợp cùng với các chùa ở các nơi như Bắc-b́nh
(Bắc-kinh), Thiên-tân, Kim-lăng, Giang-bắc, Dương-châu,
T́-lăng, Tô-châu, Hàng-châu, chia nhau khắc in một bộ
Đại Tạng. V́ do nhiều chùa cùng thực hiện,
nên khi bộ Đại Tạng này hoàn tất, được
gọi là Bá Nạp Tạng. Tuy làm sau, nhưng so ra, bộ
này vẫn không đầy đủ bằng bộ Long Tạng ở trên.
- TẦN GIÀ TẠNG: Bộ này được in
từ năm 1911 (năm cuối cùng của triều đại
nhà Thanh) tại tinh xá Tần-già ở Thượng-hải,
đến năm 1920 (thời đại Dân-quốc) th́
hoàn thành, thu gồm 1.916 bộ, 8.416 quyển. Đây là bộ
Đại Tạng đầu tiên của Trung-quốc áp dụng
kĩ thuật in bằng cách xếp chữ rời (hoạt
tự bản), không phải khắc ván. Bộ này đă lấy
bộ Súc Loát Tạng của
Nhật-bản làm căn cứ, nhưng thêm bớt ít nhiều,
loại bỏ những hàng chữ chú thích, hiệu đính
v.v..., làm giảm đi giá trị nghiên cứu.
2.8. Đại Tạng
Kinh ở Thời Đại Dân-Quốc: Giặc loạn
Thái-b́nh thiên-quốc ở cuối đời nhà Thanh vừa
chống lại triều đ́nh mà cũng nhằm đánh
phá Phật giáo, làm cho Phật giáo cũng bị suy yếu
đi. Sang đầu thời Dân-quốc (từ năm
1912), Phật giáo lại bị phong trào cách mạng bài xích
(chung với những tư tưởng Khổng, Mạnh
cũ xưa); cho nên chư vị cao tăng và cư sĩ
ṇng cốt đă cùng nhau phát khởi phong trào vận động
chấn hưng Phật giáo, làm cho Phật giáo trở thành
là một nền giáo học chân chính, ích nước lợi
dân, chứ không phải vô ích như những người
đương quyền quan niệm. Công cuộc chấn
hưng Phật giáo được thực hiện ở
nhiều lănh vực, trong đó, sự nghiệp xuất bản
phát hành Đại Tạng Kinh cũng rất được
chú trọng.
- Trước hết, như trên đă nói, công
việc biên ấn bộ TẦN GIÀ TẠNG
được khởi sự vào năm cuối cùng triều
đại nhà Thanh (năm 1911), nay vẫn được tiếp
tục, và đến năm 1920 (năm Dân-quốc thứ
9) th́ hoàn thành. Tiếp đó, thư cục Thương-vụ
ấn-thư-quán cũng in lại bộ TỤC TẠNG KINH
của Nhật-bản.
- Năm 1934, đại sư Phạm Thành phát
tâm ảnh ấn lại bộ Tích
Sa Tạng đời Tống. V́ bộ này (cũng
như những bộ Đại Tạng khác của đời
Tống) đă bị mất mát nhiều phần, không c̣n
nguyên vẹn như xưa, nên ngài phải đi các nơi
để mong t́m lại những phần đă bị thiếu
mất. Do chuyến đi t́m này mà ngài t́nh cờ phát hiện
được bộ Kim Tạng
(vốn đă bị mất từ cuối đời nhà
Nguyên) gồm 4.950 quyển, được cất giấu
trong nội điện Di Lặc của chùa Quảng-thắng
ở huyện Triệu-thành, tỉnh Sơn-tây. Sang năm
sau (1935), Ngài cùng với quí vị Diệp Cung Xước,
Tưởng Duy Kiều v.v… trong hội Tích-sa-tạng Ảnh-ấn
ở Thượng-hải, đă sưu tập những
chương sớ, sử truyện, kinh lục v.v… trong bộ
Kim Tạng mà trong Tống Bản không có, in thành
bộ TỐNG TẠNG DI TRÂN, gồm 120 tập.
- Năm 1944, chùa Pháp-tạng ở Thượng-hải
thành lập hội Phổ-tuệ Đại-tạng-kinh
san-hành, chủ sự là các vị cư sĩ Tưởng
Duy Kiều, Hoàng Sĩ Phục v.v…, đă biên ấn bộ PHỔ
TUỆ TẠNG (cũng gọi là Dân Quốc Tăng Tu
Đại Tạng Kinh), đến năm 1955 th́ xong.
Bộ này ít thấy phổ biến.
- Năm 1956, quí vị Khuất Ánh Quang, Triệu
Hằng Thích v.v… của hội Tu-đính Trung-hoa Đại-tạng-kinh
ở Đài-loan đă khởi xướng biên tập bộ
TRUNG
HOA ĐẠI TẠNG KINH (cũng gọi là Trung
Hoa Tạng), chia làm 4 phần: Tuyển Tạng, Tục
Tạng, Dịch Tạng, và Tổng Mục Lục. Phần
“Tuyển
Tạng” (phần chính) thu gồm nội dung của tất
cả các bộ Đại Tạng đă có từ trước
(như Tích Sa Tạng, Tống
Tạng Di Trân, Lăng Nghiêm Tự Bản, Vạn Tự Tạng
v.v…), bỏ đi những chỗ trùng lặp; phần “Tục
Tạng” thu tập tất cả Phật điển
từ trước đến giờ chưa được
nhập tạng; phần “Dịch Tạng” thu tập
các Phật điển từng được dịch ra
các ngôn ngữ Tây-phương đang tản mác ở trong
và ngoài nước. Có thể nói, đó là bản Đại
Tạng đồ sộ nhất, hơn cả Đại Chánh Tạng của
Nhật-bản; nhưng giới học giả Phật học
vẫn thích dùng bộ Đại
Chánh Tạng hơn, v́ nó hiệu khám kĩ càng, tiện lợi
cho việc nghiên cứu; hơn nữa, nó cũng không quá cồng
kềnh, di chuyển dễ dàng hơn.
- Năm 1977, sa môn Quảng Định, giám
đốc nhà xuất bản Đài-loan Phật-giáo Xuất-bản-xă
ở tại Đài-bắc, đă phát nguyện biên tập
và ấn hành bộ PHẬT GIÁO ĐẠI TẠNG
KINH, đến năm 1983 th́ công tŕnh hoàn thành, thu tập
2.643 bộ, gồm 11.052 quyển. Bộ này được
chia làm 2 phần là Chánh Tạng
và Tục Tạng. Chánh
Tạng th́ lấy bộ Tần
Già Tạng làm căn bản y cứ, rồi dùng các bộ
Đại Tạng khác như Đại
Chánh, Tích Sa, Minh Bản, v.v… để bổ túc thêm; Tục
Tạng th́ lấy bộ Phổ
Tuệ Tạng làm căn bản y cứ.
- Năm 1977, hội Phật-giáo Phật-quang-sơn
ở Đài-loan do pháp sư Tinh Vân chủ tŕ, đă khởi
sự biên tập và ấn hành bộ PHẬT QUANG ĐẠI TẠNG
KINH. Theo kế hoạch trù liệu, bộ này
được phân làm 16 tạng như A Hàm Tạng, Bát Nhă Tạng, Thiền Tạng, Tịnh
Độ Tạng, Pháp Hoa Tạng v.v…, cuối cùng là Tạp Tạng. Đến
năm 1987 th́ hoàn tất được phần đầu
tiên của công tŕnh là A Hàm Tạng, và đă cho xuất
bản.
2.9. Đại Tạng Kinh Nhật-Bản: Nhật-bản
là một quần đảo nằm ở phía Đông châu Á,
trong vùng Bắc Thái-b́nh dương. Nước Nhật có 4
ḥn đảo chính nằm trải dài từ Bắc xuống
Nam theo h́nh cánh cung, mà đảo lớn nhất là Bản-châu
(Honshu) có vùng bờ biển cực Tây Nam rất gần với
bán đảo Triều-tiên (chỉ cách 180 km qua eo biển
Đối-mă - Tsushima); cho nên nước này đă tiếp
nhận được Phật giáo rất sớm từ
Triều-tiên truyền sang. Theo sử sách Nhật-bản, Phật
giáo đă từ Triều-tiên truyền sang Nhật-bản
vào giữa thế kỉ thứ 6, dưới triều
đại thiên hoàng (tức hoàng đế) Khâm Minh (Kimmei) –
vị thiên hoàng thứ 29 của Nhật-bản. Tín ngưỡng
nguyên thỉ của toàn thể người Nhật là Thần-đạo
(Shinto), nhưng chỉ trong ṿng gần nửa thế kỉ
từ ngày du nhập, vào cuối thế kỉ thứ 6, với
sự tận lực hoằng dương của thái tử
Thánh Đức (Shotoku, nhiếp chính 593-622) dưới triều
đại của nữ hoàng Suy Cổ (Suiko, 593-627), Phật
giáo đă trở thành một nền tín ngưỡng có
cơ sở vững chắc, được quảng bá
trong khắp các tầng lớp xă hội, từ triều
đ́nh cho đến dân chúng, vượt lên trên địa
vị của Thần-đạo. Tới thế kỉ thứ
8, dưới triều đại Nại-lương (Nara,
710-794), mối quan hệ giữa Nhật-bản và Trung-quốc
ngày càng tăng cao và mật thiết. Nhật-bản không những
đă tiếp thu văn hóa, tư tưởng Trung-quốc,
mà c̣n dùng cả chữ Hán để làm thành văn tự
cho nước ḿnh; và trong bối cảnh đó, Phật
giáo tại Nhật-bản cũng đă phát triển cực
ḱ xán lạn, và đă trở thành quốc giáo của xứ
sở này. Từ đó, Phật giáo ở Nhật-bản
càng ngày càng phát triển lên măi, cho đến thế kỉ
thứ 13 th́ tất cả các tông phái Phật giáo ở
Trung-quốc đều có mặt đầy đủ ở
nước này; đó là chưa nói đến một số
tông phái đă được sáng lập riêng biệt tại
nước Nhật (không phải do trung-quốc truyền
sang), như Nhật Liên tông chẳng hạn. Nhưng đến
thời đại của thiên hoàng Minh Trị (Meiji, từ
năm 1868 trở đi) th́ Phật giáo bị chèn ép, có lúc
c̣n bị đàn áp, phá hoại, cho nên thế lực giảm
dần, không c̣n ở địa vị độc tôn
như xưa nữa.
Theo thống kê gần đây, tại Nhật-bản,
mặc dù ngày nay có thêm một số tôn giáo khác từ
Tây-phương truyền tới, nhưng tín đồ Phật
giáo vẫn chiếm đa số (đến 70% dân số);
chùa viện có 80.000 ngôi; tăng sĩ có 200.000 vị. Nhật-bản
cũng có hơn 20 trường đại học, trung học
và viện nghiên cứu Phật giáo; việc tu học vẫn
được duy tŕ, tuy phẩm lượng có sút kém
hơn thời xưa. Nhiều tổ chức Phật giáo
được thành lập từ sau thế chiến thứ
II, trong đó, giới cư sĩ tại gia đă đóng một
vai tṛ quan trọng, với việc mở rộng nhiều
chương tŕnh hướng dẫn quần chúng tu học
Phật pháp. Công việc phiên dịch kinh luận, biên soạn
và ấn hành sách báo để quảng bá giáo lí đạo
Phật từ trong nước ra đến ngoài nước,
đă và đang được phát huy rầm rộ do hàng
trăm học giả Phật giáo Nhật-bản thực
hiện. Toàn bộ kinh sách của Phật giáo Tây-tạng
đă được chuyển ngữ và cho xuất bản
tại Nhật; tất cả những bài nghiên cứu về
giáo lí đạo Phật được in từ nhiều
quốc gia khác nhau, cũng được sưu tập
để chuyển ngữ và ấn hành. Phật giáo Nhật-bản
cũng từng giúp cho các học giả và sinh viên ngoại
quốc đến Nhật-bản để học Phật.
Riêng về công tŕnh xuất bản Đại Tạng Kinh,
đó thật là một sự nghiệp to lớn của Phật
giáo Nhật-bản. Không những thế, Đại Tạng
Kinh do Phật giáo Nhật-bản thực hiện, như bộ
Đại Chánh Tân Tu Đại
Tạng Kinh chẳng hạn, từng được các
học giả Phật giáo coi là hoàn bị nhất trong các bộ
Đại Tạng Kinh Hán văn từ trước đến
nay. Quá tŕnh biên tập Đại Tạng Kinh của Phật
giáo Nhật-bản được tŕnh bày sơ lược
như sau:
- Bộ Đại Tạng Kinh đầu tiên
của Nhật-bản là bộ THIÊN HẢI TẠNG
(cũng được gọi là Khoan Vĩnh Tự Bản,
hay
Oa Tạng), được ấn hành vào buổi
sơ ḱ của thời đại Đức-xuyên (Tokugawa,
1603-1868), do ngài Thiên Hải (1536-1643) ở chùa Khoan-vĩnh tại
Giang-hộ (Edo, tức Tokyo ngày nay) phát nguyện thực hiện.
Bộ này đă lấy bộ Đại Tạng Tư Khê Bản của nhà Tống
(Trung-quốc) làm bản gốc, và lấy bộ Phổ Ninh Tự Bản của
nhà Nguyên (Trung-quốc) để bổ sung, đă được
thực hiện bằng kĩ thuật in chữ rời bằng
gỗ, bắt đầu từ năm 1637, đến
năm 1648 th́ hoàn thành; thu gồm 1.453 bộ, 6.323 quyển. Ấn
bản của bộ này chỉ có một số lượng
nhỏ, nên không được phát hành rộng răi; ngày nay chỉ
c̣n t́m thấy ở một số chùa cổ nơi các danh
sơn mà thôi.
- Thứ đến là bộ HOÀNG BÁ BẢN TẠNG
KINH (cũng gọi là Thiết Nhăn Bản) do ngài
Thiết Nhăn (1630-1682) thực hiện tại chùa Vạn-phúc
ở núi Hoàng-bá. Bộ này đă cứ theo bộ Minh Bản (tức Lăng Nghiêm Tự Bản, hay
Minh Tạng) của nhà Minh
(Trung-quốc) mà khắc in lại, theo phương pháp khắc
ván theo từng trang trong nguyên bản, từ năm 1669 đến
năm 1681 th́ hoàn thành; thu gồm 1.618 bộ, 7.334 quyển.
- Bộ Đại Tạng thứ ba của Nhật-bản
là SÚC
LOÁT TẠNG KINH (cũng gọi là Súc Khắc Tạng,
hay Hoằng
Giáo Tạng, tên gọi đủ là Đại Nhật Bản
Hiệu Đính Súc Khắc Đại Tạng Kinh), do
các vị cư sĩ Đảo Điền Phiên Căn,
Phúc Điền Hành Giới v.v… biên tập, và do Đông-kinh
chi-công-viên-địa Hoằng-giáo thư-viện xuất bản.
Công tŕnh được khởi đầu vào năm 1880 (thời
thiên hoàng Minh Trị, 1868-1912), đến năm 1885 th́ hoàn tất;
thu gồm 1.918 bộ, 8.539 quyển. Đây là bộ Đại Tạng Kinh đầu
tiên của Nhật-bản được in bằng kĩ
thuật sắp chữ rời của Tây-phương. Bộ
này đă lấy bộ Cao Li Tạng
làm căn bản y cứ, và dùng các bộ Đại Tạng
các đời Tống (Tư
Khê Viên Giác Bản), Nguyên và Minh để tham khảo,
đối chiếu. Ngoài ra bộ này cũng c̣n được
bổ sung thêm các kinh điển Mật giáo đă được
ấn hành tại Nhật, cùng các trước tác của
chư vị khai tổ của các tông phái Nhật-bản.
- Tiếp đến là bộ VẠN TỰ ĐẠI
TẠNG KINH (cũng gọi là Đại Nhật Bản
Hiệu Đính Huấn Điểm Đại Tạng Kinh)
do đại sư Nhẫn Trừng biên tập, và
Kinh-đô tàng-kinh thư- viện xuất bản. Bộ này
lấy bộ Hoàng Bá Bản Tạng
Kinh làm căn bản để hiệu đính, có đối
chiếu với bộ Cao Li Bản,
được khởi sự vào năm 1902, đến
năm 1905 th́ hoàn tất, thu tập 1.625 bộ, 7.082 quyển.
- Năm 1905, sau khi bộ Vạn Tự Đại Tạng Kinh được
xuất bản, Kinh-đô tàng-kinh thư-viện lại cho
xuất bản bộ VẠN TỰ TỤC TẠNG KINH
(cũng gọi Đại Nhật Bản Tục
Tạng Kinh), do ngài Trung Dă Đạt Tuệ biên tập.
Như vậy, bộ Vạn Tự
Đại Tạng Kinh ở trên đă trở thành “chánh tạng”, và được
gọi là Vạn Tự Chánh Tạng. Công tŕnh biên ấn bộ
Vạn Tự Tục Tạng
Kinh này được khởi sự từ năm 1905,
đến năm 1912 th́ hoàn tất. Bộ này không y cứ
vào bộ Đại Tạng nào cả, mà đă thu tập hết
sức rộng răi, bất cứ trước tác Phật học
nào chưa có trong bộ “chánh tạng”
ở trên, đều được thu vào bộ “tục tạng” này. Cho nên, rất
nhiều dịch phẩm và trước tác phẩm của
các vị cao tăng Trung-quốc thời xưa (kể cả
một số tác phẩm đă bị mất) đều thấy
xuất hiện trong bộ Vạn Tự Tục Tạng
này. Bởi vậy, nó đă thu tập các trước tác của
hơn 950 nhân vật, gồm 1.756 bộ, 7,144 quyển. Thời
gian gần đây, để phân biệt với bộ Vạn Tự Chánh Tạng, các
nhà xuất bản thường ấn hành bộ này với
tên TỤC
TẠNG KINH.
- Bộ Đại Tạng thứ sáu của
Nhật-bản là NHẬT BẢN ĐẠI TẠNG
KINH, do Trung Dă Đạt Tuệ biên tập, và do hội
Nhật-bản Đại-tạng-kinh biên-toản ấn
hành. Bộ này đă được thực hiện trong thời
gian gần 4 năm (1919-1922), thu tập những sách chú thích
Kinh Luật Luận và các điển tịch của các tông
phái Phật giáo, do người Nhật (cũng có một số
do người Trung-quốc) biên soạn; tất cả có
753 bộ, được in thành 48 tập.
- ĐẠI CHÁNH TÂN TU ĐẠI TẠNG KINH
(cũng gọi là Đại Chánh Tạng hay Đại
Chánh Bản) là bản Đại Tạng Kinh Hán
văn được coi là hoàn chỉnh nhất, được
quảng bá rộng răi nhất, và được nhiều
người sử dụng nhất từ trước
đến nay. Bộ này do quí vị học giả Cao Nam
Thuận Thứ Lang, Độ Biên Hải Húc, Tiểu Dă Huyền
Diệu v.v… cùng biên tập từ năm 1924, đến
năm 1934 th́ hoàn thành, và do hội Đông-kinh Đại-chánh
Nhất-thiết-kinh san-hành (cũng do quí vị học giả
trên thành lập) xuất bản; thu gồm 13.520 quyển.
Toàn tạng được in thành 100 tập, phân ra làm 4 phần:
Chánh Biên (55 tập); Tục Biên (30 tập); Đồ Tượng (12 tập);
và Chiêu Ḥa Pháp Bảo Tổng Mục
Lục (3 tập). Nếu không kể bộ Trung Hoa Đại Tạng Kinh
th́ đây là bộ Đại Tạng Kinh Hán văn thu tập
nhiều tác phẩm nhất xưa nay. Phần “Chánh Biên” thu tập tất cả
các dịch phẩm Kinh Luật Luận và các trước
thuật của Trung-quốc là chủ yếu, cộng thêm
các soạn phẩm của Nhật-bản và Triều-tiên; cả
thảy là 2.184 bộ. Phần “Tục
Biên” thu tập các trước thuật của Nhật-bản
là chủ yếu, cộng thêm các tư liệu cổ vừa
mới phát hiện được ở Đôn-hoàng (Trung-quốc),
và những tác phẩm bị nghi ngờ là ngụy tạo;
cả thảy là 736 bộ. Phần “Đồ Tượng” lấy Mật giáo làm chủ,
do các pháp sư Nhật-bản học từ các pháp sư
Trung-hoa, và tự ḿnh phát huy thêm, gồm 33 bộ.
- Bộ Đại Tạng thứ bảy của
Nhật-bản là CHIÊU H̉A TÁI ĐÍNH SÚC LOÁT TẠNG.
Bộ này nguyên được đề tên là Chiêu
Ḥa Tái Đính Đại Nhật Bản Đại Tạng
Kinh, do hội Súc-loát Đại-tạng-kinh san-hành xuất
bản năm 1935. Đây chỉ là bản ảnh ấn của
bộ Súc Loát Tạng Kinh (tức
Hoằng Giáo Tạng) đă
nói ở trên, nhưng có thêm phần đính chính.
Ngoài ra, Nhật-bản c̣n có hai bộ là THÁNH
NGỮ TẠNG và CUNG BẢN, tuy không thấy
lưu hành, nhưng khi Cao Nam Thuận Thứ Lang biên tập
bộ Đại Chánh Tạng
th́ có tham khảo hai bản này để đối chiếu,
hiệu khám.
Trên đây chúng tôi lược ghi hơn 30 bản
Đại Tạng Kinh Hán
Văn, theo thứ tự thời gian trong phạm vi mỗi
quốc gia. Nếu không để ư tới ranh giới quốc
gia, các bộ Đại Tạng ấy đă nối tiếp
nhau ra đời từ khởi thỉ cho đến hiện
nay như sau:
- Khai Bảo Tạng (Thục Bản, xưa nhất, xuất bản
năm 983);
- Khiết Đan Tạng (Liêu Bản, xuất bản năm1063);
- Sùng Ninh Vạn Thọ Tạng (Đông Thiền Tự Bản, xuất bản
năm 1103);
- T́ Lư Tạng (Khai
Nguyên Tự Bản, xuất bản năm 1154);
- Kim Tạng (Triệu
Thành Tàng Bản, xuất bản năm 1173);
- Tư Khê Tạng (Tư
Khê Bản, xuất bản năm 1176[?]);
- Cao Li Tạng (Li Bản
Tạng Kinh, xuất bản năm 1251);
- Phổ Ninh Tạng (Nguyên Tạng, xuất bản năm 1290);
- Hoằng Pháp Tạng (Hoằng Pháp Tự Bản, xuất bản năm
1294);
- Tích Sa Tạng (Tích
Sa Bản, xuất bản năm 1322);
- Hồng Vũ Nam Tạng (xuất bản
năm 1403);
- Nam Tạng (Vĩnh
Lạc Nam Tạng, xuất bản năm 1417);
- Bắc Tạng (Vĩnh
Lạc Bắc Tạng, xuất bản năm 1440);
- Vũ Lâm Tạng (Chiêu
Khánh Tạng, xuất bản năm 1566);
- Minh Tạng (Lăng
Nghiêm Tự Bản, hay Minh Bản,
Kính Sơn Tạng, 1620);
- Thiên Hải Tạng (Oa Tạng, hay Khoan
Vĩnh Tự Bản, xuất bản năm 1648);
- Minh Tục Tạng Kinh và Hựu Tục Tạng
Kinh (xuất bản năm 1676);
- Hoàng Bá Bản Tạng Kinh (Thiết Nhăn Bản, xuất bản năm 1681)
- Càn Long Đại Tạng Kinh (xuất bản
năm 1738);
- Bá Nạp Tạng (Bá Nạp Bản, khởi sự khắc in năm
1866);
- Súc Loát Tạng Kinh (Hoằng Giáo Tạng, xuất bản năm 1885);
- Vạn Tự Đại Tạng Kinh (xuất bản
năm 1905);
- Tục Tạng Kinh (Vạn Tự Tục Tạng Kinh, xuất bản
năm 1912)
- Tần Già Tạng (Tần Già Bản Đại Tạng Kinh, xuất
bản năm 1920);
- Nhật Bản Đại Tạng Kinh (xuất bản
năm 1922);
- Thánh Ngữ Tạng (xuất bản
năm ?);
- Cung Bản (xuất bản năm ?);
- Đại Chánh Tạng (Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, xuất
bản năm 1934);
- Tống Tạng Di Trân (xuất bản
năm 1935);
- Chiêu Ḥa Tái Đính Súc Loát Tạng (xuất bản
năm 1935);
- Phổ Tuệ Tạng (Dân Quốc Tăng Tu Đại Tạng Kinh, xuất
bản năm 1955);
- Trung Hoa Đại Tạng Kinh (khởi sự
biên ấn năm 1956)
- Phật Giáo Đại Tạng Kinh (xuất bản
năm 1983);
- Phật Quang Đại Tạng Kinh (xuất bản phần
đầu A Hàm Tạng, năm 1988).
Trong số 34 bản Đại Tạng Kinh Hán
Văn trên đây, th́ các bản được lưu hành
nhiều nhất trong giới Phật học ngày nay là Càn
Long Tạng, Vạn Tự Tạng, Tục Tạng,
và nhất là Đại Chánh Tạng.
IV. LỜI
KẾT
Nh́n xuyên suốt lại những công tŕnh của
các bậc tiền bối qua các thời đại, từ
lúc chư vị cao tăng ở Thiên-trúc, Tây-vức, vượt
núi trèo non, băng qua bao sa mạc hiểm nguy, hoặc ngồi
thuyền vượt đại dương trong những
lúc sóng to băo lớn, để đem thánh điển truyền
đến Trung-hoa; rồi chư vị cao tăng Trung-quốc
cũng không quản ngại gian lao nguy hiểm như vậy,
đă sang Tây-vức và Thiên-trúc cầu pháp, và mang kinh, tượng,
pháp khí đem về nước; rồi tại Trung-quốc,
các ngài đă tự giam ḿnh trong các chùa viện, gác bỏ mọi
chuyện trần thế, để chỉ chuyên chú vào việc
phiên dịch thánh điển, tụng kinh bái sám, và giảng
dạy đồ chúng, đào tạo tăng tài. Nhưng
như thế cũng đâu phải là các ngài được
yên ổn để thực hiện Phật sự một
cách suông sẻ! Mà nhiều khi các ngài cũng phải gánh chịu
những khổ nạn của sự ḱ thị, chèn ép,
đàn áp, thậm chí c̣n bị bức tử, do ḷng ganh ghét
và thái độ thù nghịch của các thế lực vô
minh cầm quyền! Nhưng các ngài vẫn nhẫn nại
chịu đựng, vẫn hùng dũng xả thân v́ Đạo;
làm việc công khai ngoài ánh sáng được th́ càng tốt,
không được như vậy th́ vẫn làm việc âm
thầm trong bóng tối nơi núi sâu rừng rậm. Ôi, tâm
huyết của các ngài cao rộng bao la, giấy mực nào
tả xiết! Thật là đại hùng, đại lực,
đại từ bi! Tất cả tâm huyết và nỗ lực
của các ngài chỉ v́ một mục đích duy nhất là
để đền đáp
thâm ân của đức Thế Tôn, phụng sự Đạo Pháp, phục vụ chúng
sinh, bằng cách hoằng truyền Phật Pháp, làm cho Chánh
Pháp cửu trụ ở thế gian. Nhờ vào tâm lực
đó của các ngài mà cho đến nay, gần 26 thế kỉ
từ ngày Đức Thế Tôn nhập diệt, Ba Tạng
Thánh Điển vẫn c̣n được tŕnh hiện ở
thế gian, đem lại lợi lạc cho chúng sinh khắp
chốn.
Ngày nay, cứ mỗi lần mở một quyển
kinh ra đọc tụng, không những chúng ta thấy ngay
có Đức Thế Tôn và chư vị Thánh Chúng đang ở
trước mặt, mà chúng ta c̣n thấy cả chư vị
Bồ-tát Tổ-sư tiền bối cũng đang có mặt
trong từng chữ, từng câu kinh ấy. Chúng ta phải
làm ǵ đây? Chỉ có một việc thôi: Chuyên cần tu tập
và tiếp tục công việc hoằng dương Phật
Pháp của các ngài để phụng sự chúng sinh. Đó
là cách chúng ta báo đáp hồng ân của Phật và chư vị
Bồ-tát Tổ-sư qua các thời đại.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Cao
Tăng Truyện, Tuệ Kiểu soạn (đời
Lương)
- Đại
Đường Trinh Nguyên Tục Khai Nguyên Thích Giáo Lục,
Viên Chiếu (đời Đường)
- Khai
Nguyên Thích Giáo Lục, Trí Thăng (đời Đường)
- Lịch
Đại Tam Bảo Kỉ, Phí Trưởng Pḥng (đời
Tùy)
- Lịch
Sử Phật Giáo Trung Quốc, Thích Thanh Kiểm, nhà xuất
bản Phú Lâu Na, Hoa-ḱ, 1991
- Phật
Quang Đại Từ Điển, Tinh Vân chủ
trương, Đài-bắc, ấn bản năm 1997
- Phật
Tổ Thống Kỉ, Chí Bàn (đời Tống)
- Thích
Thị Kê Cổ Lược, Giác Ngạn (đời
Minh)
- Tục
Trinh Nguyên Thích Giáo Lục, Hằng An (Nam-Đường)
- Xuất
Tam Tạng Kí Tập, Tăng Hựu (đời
Lương)