KINH TỨ THẬP NHỊ
CHƯƠNG
CÓ PHẢI LÀ CUỐN
KINH ĐẦU TIÊN
ĐƯỢC DỊCH
tại TRUNG QUỐC KHÔNG?
Tứ Thập Nhị Chương là tựa đề
của một cuốn kinh gồm có 42 chương, ghi vắn
tắt các giáo nghĩa cơ bản của đạo Phật,
được dịch từ Phạn ngữ ra Hán ngữ
rất sớm, có thể từ thế kỉ đầu
Tây lịch. Nội dung toàn cuốn kinh gồm những lời
giáo huấn dành cho người xuất gia, nhưng không theo
một chủ đề tổng quát nào; mà mỗi
chương đều nói về một đề tài khác
biệt, chú trọng vào các yếu nghĩa như: các nghiệp
lành dữ, mạng sống vô thường, xa ĺa tham dục,
v.v... Các chương dài ngắn không đồng đều;
dài nhất là hai chương 1 và 34, gồm 124 chữ (Hán),
ngắn nhất là chương 9, chỉ gồm 18 chữ(1).
Nội dung và h́nh thức của kinh này không giống với
bao nhiêu kinh điển khác. Kinh có 42 chương, nhưng
chương 1 không phải là chương mở đầu,
mà chương 42 cũng không phải là chương kết
thúc. V́ vậy có thể nói, đây là một cuốn kinh
đă được trích dịch từ nhiều cuốn
kinh tiếng Phạn khác nhau;(2) từ đó suy ra, tựa
đề kinh – “Tứ Thập
Nhị Chương” – đă được dịch giả
đặt ra sau khi tuyển dịch xong; và trong Phạn
điển đă không hề có một cuốn kinh nào có tên
như vậy.
Trải qua thời gian, kinh này đă được
in đi in lại nhiều lần. Và cứ mỗi lần
in là mỗi lần có sự thêm bớt, sửa đổi
từ văn từ cho đến nội dung; kết quả,
bản dịch gốc tuy chỉ có một, nhưng đă
có nhiều dị bản. Chủ yếu có ba dị bản:
1) Bản được giữ trong Tống Tạng, Nguyên
Tạng và Cao-li Tạng, mang h́nh thức xưa nhất của
kinh bản; 2) Bản do Chân Tông (đời Tống) chú
thích, được giữ trong Nam Tạng của nhà Minh;
3) Bản do Thủ Toại (đời Tống) chú thích, là
một trong bộ Phật Tổ
Tam Kinh của Thiền tông, được lưu hành rộng
răi hơn cả, các nhà chú sớ ở các triều Minh,
Thanh, như Ngẫu Ích, Liễu Đồng, Đạo
Phái, Tục Pháp, v.v... đều dùng bản này làm lam bản.
Bản sau cùng này cũng là bản được lưu
hành rất phổ biến ngày nay, văn từ đẹp
đẽ, thêm nhiều tư tưởng cao siêu của
giáo pháp đại thừa, khác nhiều so với bản
kinh nguyên thỉ, lúc mới được tuyển dịch.(3)
Bản kinh này hiện nay cũng đă được dịch
ra nhiều thứ tiếng để lưu hành trên thế
giới, như Việt, Nhật, Hàn, Pháp, Anh, v.v...
Về nội dung th́ kinh Tứ Thập Nhị Chương cũng không khác
ǵ với bao nhiêu kinh điển khác, nhưng về
phương diện lịch sử
th́ thật là quan trọng; v́ đó là cuốn kinh duy nhất
(trong số mấy cuốn kinh) được dịch từ
Phạn văn ra Hán văn đầu
tiên, c̣n lưu hành cho đến ngày nay. Vậy, một
câu hỏi được đặt ra: “Kinh này đă được
dịch vào lúc nào? Tại đâu?”
Để trả lời câu hỏi này, từ
trước đến nay, các sách sử của Phật
giáo Trung-quốc đều khẳng định rằng,
kinh Tứ Thập Nhị
Chương đă được dịch tại Lạc-dương
(kinh đô nhà Hán), Trung-quốc, vào đời Hiếu Minh
hoàng đế (58-75 TL), nhà Hậu Hán (25-220). Sự khẳng
định này là do y cứ vào một truyền thuyết:
Vua Hán Minh Đế,
vào măm thứ 3 niên hiệu Vĩnh-b́nh (tức năm 60
TL), một đêm kia nằm mộng thấy một người
vàng, đầu có ánh sáng như mặt trời, bay đến
trước điện. Sáng dậy, vua đem việc ấy
hỏi quần thần. Quan thái sử Phó Nghị(4) tâu: “Thần nghe nói ở Tây-vức có vị thần,
gọi là Phật. Người vàng mà bệ hạ thấy
trong mộng, chắc là vị thần ấy.” [......] Niên hiệu
Vĩnh-b́nh thứ 7 (tức năm 64 TL), vua Minh Đế
bèn sai lang trung Thái Âm(5), trung
lang tướng Tần Cảnh, bác sĩ Vương Tuân,
v.v..., cả thảy 18 người, đi về hướng
Tây t́m cầu Phật pháp. Tới Ấn-độ, họ
thỉnh được Ca Diếp Ma Đằng
(Kasyapamatanga) và Trúc Pháp Lan (Dharmaraksa), dùng ngựa trắng chở
kinh, đem cả xá lợi và họa tượng Phật.
Phái đoàn về đến Lạc-dương vào năm
thứ 10 niên hiệu Vĩnh-b́nh (năm 67 TL). Vua rất mừng,
xây chùa Bạch-mă, dịch kinh Tứ Thập Nhị
Chương. [......] Phật pháp khởi thỉ được
truyền vào Trung-quốc từ thuở đó...(6)
Truyền thuyết này thấy xuất hiện
đầu tiên trong sách Lí Hoặc
Luận của Mâu Tử (160?-230?). Mâu Tử là người
Hán, tinh thông cả Lăo và Khổng học. V́ đất Hán
nhiều loạn lạc nên đă phải bỏ quê nhà là
Thương-ngô, đem mẹ xuống Giao-châu (Việt-nam)
lánh nạn. Tại đây, ông được đọc
kinh điển Phật giáo, v́ nghiệm thấy giáo lí ấy
cao sâu và thực tiễn, vượt hẳn Khổng, Lăo,
nên quyết chí theo Phật, trở thành một Phật tử
tinh thông cả ba giáo. Ông viết sách Lí Hoặc Luận để giải tỏa những
điều nghi hoặc về Phật giáo của những
người Hán theo Khổng giáo và Đạo giáo, cũng
đang sống tị nạn ở Giao-châu vào thời
đó. Truyền thuyết về kinh Tứ Thập Nhị Chương như trên,
đă được nói tới trong chương 21 của
sách Lí Hoặc Luận.(7)
Trong sách Tổng Tập
Văn Học Phật Giáo Việt Nam 1, bằng những
luận cứ xác đáng, giáo sư Lê Mạnh Thát khẳng
định rằng, Mâu Tử đă viết Lí Hoặc Luận vào khoảng
năm 198, tức cuối thế kỉ thứ 2 TL. Vậy
chắc chắn là kinh Tứ Thập
Nhị Chương đă được lưu hành ở
thế kỉ thứ 2, hoặc sớm hơn, là từ thế
kỉ đầu TL.
Nhưng kinh ấy đă được phát xuất
từ đâu? Theo truyền thuyết trên, kinh ấy đă do
Ma Đằng và Pháp Lan dịch tại Lạc-dương
(kinh đô nhà Hán) vào năm 67 TL. Điều này không có ǵ là
chắc chắn để chúng ta tin tưởng. Nhưng
trải qua gần 20 thế kỉ, nó đă được
coi như là thuyết chính thức cho sự du nhập Phật
giáo vào Trung-quốc, cũng như cho sự xuất hiện
của dịch bản kinh Tứ
Thập Nhị Chương. Nhưng gần đây, với
sự khám phá của hai vị giáo sư thạc học của
Phật giáo Việt-nam là Nguyễn Lang và Lê Mạnh Thát,
chúng ta thấy sự thực trở nên khác hẳn.
Trước hết, về hai vị được
cho là “dịch giả” của Kinh
Tứ Thập Nhị Chương: Truyền thuyết về
vua Hán Minh Đế mộng thấy người vàng vừa
nêu trên, được thấy xuất hiện trong tài liệu
chữ Hán xưa nhất viết về Phật giáo là sách Lí Hoặc Luận của Mâu Tử
(được viết vào cuối thế kỉ thứ 2
TL tại Giao-châu), nhưng trong sách này đă không hề nói tới
danh tánh của hai “nhân vật dịch giả” là Ca Diếp
Ma Đằng và Trúc Pháp Lan. Chương 21 của sách Lí Hoặc Luận chép:
“... Do thế vua hiểu,
sai trung lang Thái Hâm, vũ lâm lang trung Tần Cảnh, bác
sĩ đệ tử Vương Tuân, tất cả 18
người đến xứ Đại Nguyệt Chi(8) chép kinh Phật 42 chương, cất tại gian 14
nhà đá Lan Đài...”(9)
Điều này chứng tỏ, hai vị cao
tăng Thiên-trúc là Ma Đằng và Pháp Lan, chưa chắc
đă có mặt tại Lạc-dương trong thời vua
Hán Minh Đế. Đời Lương (thời Nam-triều),
ngài Tăng Hựu (445-518) soạn Xuất Tam Tạng Kí Tập, có nói tới kinh Tứ Thập Nhị
Chương do sa môn Trúc Ma Đằng dịch, nhưng
cũng không nói ǵ về tiểu sử của Trúc Ma Đằng.
Điều đó chứng tỏ, lúc soạn sách, tuy
Tăng Hựu có “nghe nói” về truyền thuyết kia,
nhưng không có ǵ chắc chắn về sự có mặt của
nhân vật “Trúc Ma Đằng”, nên đă không đề cập
tới nhân vật này.
Thứ đến, về dịch phẩm Kinh Tứ Thập Nhị
Chương: Đời Đông Tấn, ngài Đạo
An (314-385) soạn sách Tông(10) Lí Chúng Kinh Mục Lục, là
cuốn sách mục lục về Phật điển đầu
tiên của Phật giáo Trung-quốc, đă không ghi tên kinh Tứ Thập Nhị
Chương. Cuốn sách kinh lục ấy đă thất
truyền, nhưng dấu tích của nó c̣n t́m thấy trong
sách Xuất Tam Tạng Kí Tập
của ngài Tăng Hựu (445-518), ra đời hơn một
trăm năm sau đó:
“Tứ Thập Nhị
Chương Kinh, 1 quyển, Cựu Lục nói Hiếu Minh
Hoàng Đế Tứ Thập Nhị Chương. Bản mục
lục do An pháp sư soạn thiếu kinh này...” (11)
Sự việc trên chứng tỏ rằng, khi
soạn sách Tông Lí Chúng Kinh Mục
Lục, ngài Đạo An đă không biết tới kinh Tứ Thập Nhị
Chương này. Theo giáo sư Nguyễn Lang:
“Không những Đạo
An bỏ sót kinh Tứ Thập Nhị Chương, ông lại
bỏ sót luôn Lư Hoặc Luận của Mâu Tử nữa.
Theo Đạo An, những kinh sách đầu tiên bằng
Hán tự được dịch tại Lạc-dương.
Đạo An người miền Bắc, đă từng ở
Lạc Dương, biết nhiều về t́nh h́nh lưu
truyền của Phật kinh miền Bắc, thế mà
đă không nghe nói tới kinh Tứ Thập Nhị
Chương: điều này làm ta tin rằng miền Bắc
không phải là nơi xuất phát kinh này. Paul Pelliot (Meou Tseu
ou les Doutes Levès) nói rằng có
thể kinh này phát xuất ở miền hạ lưu sông
Dương Tử, bởi di tích đầu tiên về kinh
đă thấy ở tờ biểu của Tương Giai,
mà Tương Giai là người ở gần miền này.
Như vậy Đạo An có lẽ chưa từng đặt
chân tới những miền có lưu hành kinh Tứ Thập
Nhị Chương, tức miền Giang Tả và Giao Chỉ
ở miền
Về “tờ biểu của Tương Giai”
được nhắc tới trong đoạn văn trích
trên đây, đó là tờ biểu mà Tương Giai tâu lên
vua Hán Hoàn Đế (147-167) vào năm 166(13) để can
gián về lối sống xa xỉ của nhà vua. Tờ biểu
này được ghi lại trong sách Hậu Hán Thư của Phạm Việp (398-445),
có đoạn như sau:
“Lại nghe trong cung
dựng miếu thờ Hoàng Lăo, Phù Đồ(14). Đạo đó thanh hư quí chuộng vô vi, hiếu
sinh ghét giết, bớt dục bỏ xa xỉ. Nay bệ hạ
ham muốn không bỏ, giết phạt quá lẽ, đă trái
với đạo ấy, há nhận được phước
ư? Phù Đồ không nghỉ ba đêm dưới cây dâu,
v́ không muốn lâu sinh ra t́nh ân ái. Thiên thần đem gái
đẹp gửi đến, Phù Đồ nói: Đó là túi
da đầy máu. Bèn không thèm nh́n. Phù Đồ thủ nhất
như vậy, mới có thể thành đạo. Nay bệ hạ,
gái dâm, bà đẹp, vượt hết vẻ đẹp của
thiên hạ, đồ ngon thức ngọt, chót hết mùi của
thiên hạ, th́ làm sao mà muốn như Hoàng Lăo ư?”(15)
Trong đoạn văn trên đây có nhắc
đến hai sự việc lấy ra từ kinh Tứ Thập Nhị
Chương: “Phù Đồ không nghỉ ba đêm dưới
cây dâu, v́ không muốn lâu sinh ra t́nh ân ái.”(16), và: “Thiên thần
đem gái đẹp gửi đến, Phù Đồ nói:
Đó là túi dơ đầy máu. Bèn không thèm nh́n.”(17).
Như vậy, từ thời vua Hán Hoàn Đế,
đạo Phật mới thực sự có ảnh hưởng
mạnh mẽ ở Lạc-dương. Vào thời ấy,
năm 148 (tức sau khi Hoàn Đế tức vị một
năm) có vị cao tăng nước An-tức (Parthia -
nước Iran ngày nay) là An Thế Cao (Arsakes, ?-170), đến
Lạc-dương, trong suốt hai mươi năm,
đă dịch tổng cộng khoảng 40 bộ kinh từ
Phạn văn ra Hán văn; rồi Chi Lâu Ca Sấm (Locasema,
147-?) cùng nhiều vị khác từ Thiên-trúc và các nước
Tây-vực cũng tiếp tục đến Lạc-dương,
cùng tham gia vào việc dịch kinh, làm cho Lạc-dương
trở thành một trung tâm Phật giáo quan trọng ở
Trung-quốc vào cuối thế kỉ thứ hai.
Trở lại truyền thuyết cho rằng
“kinh Tứ Thập Nhị Chương là cuốn kinh
được dịch từ Phạn văn ra Hán văn
đầu tiên tại Trung-quốc do hai ngài Ma Đằng
và Pháp Lan dịch vào thời vua Hán Minh Đế”, theo giáo
sư Nguyễn Lang, đó là một câu chuyện “không có giá
trị lịch sử”. Ông nói:
“Cuối cùng, người
ta nghĩ thật khó mà tin rằng chỉ v́ một giấc
mộng mà một phái đoàn quan trọng thế kia đă
được gửi đi một chuyến hành tŕnh quá
gian khổ như thế. Truyền thuyết giấc mộng
Hán Minh Đế v́ vậy không có căn bản vững chắc.
Ông Henri Maspéro năm 1910 đă đem nhiều chứng liệu
để chứng minh rằng chuyện Giấc Mộng
Hán Minh Đế chỉ là một sự ăn gian v́
đạo (fraude pieuse) bịa đặt vào hậu bán
thế kỷ thứ hai (Le Songe et l'Ambassade de l'Empereur Ming,
étude critique des sources - BEFEO X). Nhưng tại sao người
ta đă bịa đặt ra câu chuyện giấc mộng?
Rất có thể v́ trong đời nhà Hán, ngoài trung tâm Phật
giáo Lạc Dương c̣n có trung tâm Bành Thành và trung tâm Luy
Lâu. Những người theo Phật giáo ở kinh đô Lạc
Dương trong giữa khoảng thế kỷ thứ hai
có thể đă tạo dựng nên câu chuyện kia để
chứng tỏ rằng Phật giáo Lạc Dương có sớm
nhất, trong mục đích tạo uy tín cho trung tâm này. Nếu
câu chuyện thấy có chép trong tác phẩm Lư Hoặc Luận,
chắc hẳn đó là một sự thêm bớt sau này
[......] sớm nhất là vào giữa thế kỷ thứ
ba. Trong Lư Hoặc Luận, ta có thể t́m ra một số từ
ngữ và cách hành văn có mầu sắc thế kỷ thứ
ba và thứ năm; những yếu tố này cho ta biết
một vài điều sửa chữa và thêm thắt đă xảy
ra cho tác phẩm trong các thế kỷ đó.”(18)
Những luận cứ trên làm cho ta tin rằng:
Kinh Tứ Thập Nhị
Chương không phải là cuốn kinh đầu tiên của
Phật giáo Trung-quốc, được dịch từ Phạn
ra Hán tại kinh đô Lạc-dương dưới triều
Hán Minh Đế; mà nó đă được dịch và
lưu hành tại Việt-nam trong khoảng từ thế kỉ
đầu Tây lịch sang đầu thế kỉ thứ
hai; đến giữa thế kỉ thứ hai th́
được lưu truyền đến các địa
phương phía Nam sông Dương-tử. Nếu xét nội
dung của Lí Hoặc Luận
và của kinh Tứ Thập Nhị
Chương, lời khẳng định trên càng
được sáng tỏ thêm. Câu hỏi ở chương
16 của Lí Hoặc Luận
rằng:
“Đạo Phật
trọng vô vi, ưa bố thí, giữ giới đau đáu
như kẻ đi ven vực sâu. Nay sa môn đam mê rượu
ngon, có kẻ nuôi vợ con, mua rẻ bán đắt, chuyên
làm dối trá. Đấy là việc xấu lớn ở
đời, mà đạo Phật gọi đó là vô vi sao?”(19)
Câu hỏi này được đặt ra
để vấn nạn Mâu Tử, tác giả của sách Lí Hoặc Luận. Nội dung
của câu hỏi ấy đă cho ta nh́n thấy cái tệ trạng
của tăng đoàn Giao-châu (Việt-nam) thời bấy
giờ. Câu hỏi đó cũng chứng tỏ, Việt-nam
vào thế kỉ thứ hai đă có một tăng đoàn
đông đảo. Thật vậy, trong sách Thiền Uyển Tập Anh (tác phẩm đời
Trần, ghi tiểu sử các thiền sư Việt-nam từ
cuối thế kỉ thứ 6 tới đầu thế kỉ
13) có ghi lại lời của pháp sư Đàm Thiên (Trung-quốc)
tâu lên vua Văn Đế (581-604) nhà Tùy (581-619) rằng:
“Một
phương Giao Châu, đường thông Thiên Trúc, Phật
pháp lúc mới tới, th́ Giang Đông chưa có, mà Luy Lâu lại
dựng chùa hơn hai mươi ngôi, độ tăng
hơn 500 người, dịch kinh 15 quyển, v́ nó có
trước vậy.”(20)
Lời này cho ta thấy, trong khi ở Trung-quốc chưa có
tăng sĩ người bản xứ (v́ nhà Hán, rồi
nhà Ngụy, đều không cho người Hán xuất gia(21)), th́ ở Việt-nam vào thời
đó đă có đông đảo tăng chúng người bản
xứ; mà càng đông đảo th́ càng hỗn tạp, rất
dễ sinh tệ trạng, đó là điều không tránh khỏi.
Và đó có thể là lí do chính đáng để kinh Tứ Thập Nhị
Chương ra đời. Nội dung kinh này nêu lên một
số hạnh tu căn bản dành cho giới xuất gia,
hàm ư răn dạy người xuất gia hơn là nhằm
vào giới cư sĩ; trong đó, vấn đề diệt
trừ ái dục được đặc biệt chú trọng.
Trong cái bối cảnh mà tăng chúng Giao-châu phần
đông lơ là giới luật như thế, kinh Tứ Thập Nhị
Chương đă ra đời kịp lúc như những
lời cảnh tỉnh, hầu chấn chỉnh đạo
phong của giới xuất gia, đem nếp sống phạm
hạnh mà làm gương mẫu cho đời, củng cố
niềm tin để cho nền mống đạo pháp
được vững chắc. Ví dụ như lời Phật
dạy ở Chương 1:
“Từ bỏ
người thân để đi xuất gia, biết rơ tâm
ḿnh, thấu suốt bản tánh của ḿnh, hiểu rơ pháp
vô vi, đó gọi là sa môn; luôn hành tŕ 250 giới, đi
đứng đều thanh tịnh, thực hành bốn
đạo hạnh chân chính, th́ chứng quả A-la-hán.
[......] Người đoạn trừ ái dục, phải giống
như chặt đứt chân tay, quyết không dùng lại nữa.”
Hoặc
như Chương 16:
“Phật dạy:
Người ôm tâm ái dục th́ không thể thấy đạo;
ví như nước đang lắng yên mà lấy tay khuấy
lên, mọi người đến soi th́ chẳng ai thấy
được ảnh ḿnh. Người thường dính
dáng tới sắc dục th́ tâm bị vẩn đục,
cho nên không thể thấy được đạo. Các thầy
sa môn! Hăy dứt bỏ ái dục! Chừng nào những cáu bẩn
của ái dục tuyệt sạch, chừng đó quí thầy
mới thấy được đạo.” (22)
Như vậy, khi pháp sư Đàm Thiên nói,
nước ta vào thời đó đă có 15 quyển kinh Phật
được lưu hành, th́ chắc chắn, kinh Tứ Thập Nhị
Chương là một trong số 15 quyển kinh đó. Sự
việc nó được nói tới trong sách Lí Hoặc Luận của Mâu Tử,
lại là một chứng cớ vững chắc nữa
để xác định rằng, kinh này đă được
tuyển dịch tại Việt-nam vào thượng bán thế
kỉ thứ hai trở về trước. Pháp sư
Đàm Thiên chỉ nói tới con số 15 quyển kinh đă
được lưu hành ở nước ta vào thời
đó, mà không nói rơ tên của 15 quyển kinh ấy. Nhưng
theo những khám phá đầy tính khoa học gần đây
của giáo sư Lê Mạnh Thát, trong số 15 quyển kinh
kia, không những có kinh Tứ
Thập Nhị Chương, mà ít ra, c̣n 3 quyển kinh nữa
đă được t́m ra dấu tích và tên tuổi, đó
là Lục Độ Tập
Kinh, Cựu Tạp Thí Dụ Kinh và Tạp Thí Dụ Kinh. Ông nói:
“Như thế, một
hệ thống kinh điển đă tồn tại ở
nước ta vào thế kỷ thứ hai, mà quyển số
theo Đàm Thiên có thể lên tới '15 bộ'. Điểm
đáng tiếc là '15 bộ' này gồm những kinh ǵ, th́
Đàm Thiên, rồi sau đó Thông Biện đă không kể
ra. Điều may mắn là hiện nay ta có thể truy ra
được ít nhất ba bộ kinh đă lưu hành vào
thời đó, tức là Cựu Tạp Thí Dụ Kinh, Tạp
Thí Dụ Kinh và Lục Độ Tập Kinh...”(23)
Hay
ở một đoạn khác:
“Nói tóm lại, qua những
phân tích sơ bộ trên, tối thiểu cho đến ngày
nay ta có thể truy t́m lại được bốn bộ
kinh đă tồn tại trong hệ thống kinh điển
Phật giáo tại nước ta. Trong bốn bộ kinh
đó, ngoại trừ Tứ Thập Nhị Chương
Kinh, ba bộ c̣n lại đều thuộc loại kinh thí
dụ...”(24)
Trong khi đó, theo giáo sư Nguyễn Lang, trong
số 15 quyển kinh kia, ngoài Tứ
Thập Nhị Chương c̣n có các kinh Bản Sinh (nói về các chuyện tiền thân của
Phật), Bản Sự (nói
về cuộc đời đức Phật), và có thể
c̣n có cả kinh Di Lan Đà Vấn
Đạo.(25)
Một nhận xét nữa của giáo sư Nguyễn
Lang cũng đáng để chúng ta chú ư:
“Điều ta cần
lưu ư ở đây là so với các trung tâm Lạc
Dương và Bành Thành, trung tâm Luy Lâu ngoài việc dịch
thuật kinh điển như các trung tâm khác, đă cống
hiến những sáng tác sớm nhất. An Thế Cao, An Huyền,
Nghiêm Phù Điều, Trúc Sóc Phật và Chi Lưu Ca Sấm ở
Lạc Dương chỉ chú trọng nhiều về việc
dịch thuật...”(26)
Lời nhận xét này đă cho thêm một chứng
cứ để khẳng định rằng, kinh Tứ Thập Nhị
Chương đă được tuyển dịch tại
Giao-châu trong thời gian sớm sủa đó, chứ không phải
tại Lạc-dương. Xét nội dung cũng như
văn phong của kinh này, chúng ta thấy nó không phải là một
bản dịch thuần túy, mà có vẻ như một bản
kinh “phỏng dịch”, tức là, dịch là phần chính,
nhưng cũng có thêm phần sáng tác. Xin thử so sánh một
đoạn sau đây:
Kinh Tạp A Hàm
có đoạn:
“Có một vị tôn
giả tên là Nhị Thập Ức Nhĩ, dù tinh cần tu tập,
nhưng vẫn không dứt hết phiền năo; ḷng buồn
bực, muốn hồi tục. Phật hỏi ông: Thầy
gảy đàn, nếu dây đàn căng quá, tiếng đàn
có êm dịu không? Ông thưa: Bạch Thế Tôn, không! Nếu
dây đàn dùn quá, tiếng đàn có êm dịu không? Bạch Thế
Tôn, không! Nếu dây đàn vừa phải, không căng quá mà
cũng không dùn quá, th́ thế nào, tiếng đàn có êm dịu
không? Bạch Thế Tôn, tiếng đàn sẽ nghe rất
hay! Phật dạy: Sự tu hành cũng giống như vậy.
Sự tinh tấn mà khẩn trương quá th́ sẽ sinh thất
vọng; sự tinh tấn mà lơi lỏng quá th́ sẽ
sinh giải đăi. V́ vậy, thầy hăy tu tập với
tâm b́nh đẳng. Đối với các pháp đă tiếp
thọ, không nên chấp trước, cũng không nên buông thả,
càng không nên dính mắc vào h́nh tướng. Tôn giả nghe
xong, y theo lời dạy mà tư duy, tu tập, cho đến
khi mọi phiền năo đều dứt hết, tâm hoàn toàn
giải thoát, chứng đắc quả vị A-la-hán.”(27)
Chương 34 của kinh Tứ Thập Nhị
Chương đă “phỏng dịch” – thậm chí có thể
nói là “phóng tác” – đoạn kinh trên như sau:
“Một vị sa
môn, một đêm nọ tụng kinh Di Giáo của đức
Phật Ca Diếp, tiếng nghe buồn bă, khẩn
trương, có vẻ như ân hận, muốn thối chí.
Đức Phật hỏi vị sa môn ấy: Ngày trước
ở nhà thầy từng làm nghề ǵ? Sa môn thưa: Con rất
thích đàn cầm. Phật hỏi: Dây đàn dùn th́ thế
nào? Sa môn thưa: Không ra tiếng. Dây đàn căng th́ thế
nào? Sa môn thưa: Mất tiếng. Vừa phải, không
căng không dùn th́ thế nào? Sa môn thưa: Các âm đều
phát rơ. Phật dạy: Sa môn học đạo cũng vậy.
Nếu tâm điều ḥa thư thái th́ có thể đạt
đạo. Đối với đạo, nếu gắng
quá sức th́ thân mỏi mệt; thân mỏi mệt th́ ư sinh
bực bội; ư bực bội th́ hành sẽ thối lui;
hành đă thối lui th́ tội lỗi thêm nhiều. Chỉ
có thanh tịnh an vui th́ đạo mới không mất.”(28)
Lại nữa, về t́nh h́nh hành đạo ở
nước ta trong mấy thế kỉ đầu Tây lịch,
quả thật, tăng đoàn Giao-châu đă gặp phải
nhiều trở lực, v́ sự bài xích của những
người Hán theo Khổng và Lăo giáo. Chính bản thân sách Lí Hoặc Luận của Mâu Tử
đă cho ta thấy rơ t́nh h́nh đó. Bởi vậy, kinh Tứ Thập Nhị
Chương đă cung cấp cho tăng đoàn những
cung cách hành xử khôn khéo, đúng chánh pháp, để đối
trị những trở lực kia.
Người
hành đạo chân chính, trước hết cần tự
biết lỗi và biết sửa lỗi ḿnh; làm cho ḿnh thanh
tịnh để không ai có lí do ǵ đả kích ḿnh; như
Chương 5 của Kinh
nói:
“...... Nếu người
có lỗi, và tự biết ḿnh có lỗi, cải ác làm lành,
th́ tội lỗi tự tiêu mất; như đang bệnh
mà được ra mồ hôi, từ từ sẽ khỏi
bệnh.”
Đối với người phỉ báng ḿnh
th́ sao? Chương 6 dạy:
“Người ác nghe
ta hành thiện, liền đến quấy nhiễu. Ta hăy
giữ tâm b́nh thản, không giận dữ trách móc. Người
kia đến gây ác th́ tự họ sẽ gánh chịu hậu
quả ác.”
Chương 7 tiếp:
“Có người nghe
Phật giữ đạo, thực hành hạnh nhân từ,
liền đến mắng Phật. Phật yên lặng,
không phản ứng. Người ấy mắng xong, Phật
hỏi: Ông đem lễ vật tặng người, nếu
người kia không nhận, có phải lễ vật ấy
lại thuộc về ông không? Người ấy trả lời:
Vâng, thuộc về tôi. Phật dạy: Nay ông mắng tôi,
tôi không nhận những lời mắng ấy; ông hăy giữ
họa đem về cho chính bản thân ông, như vang theo tiếng,
bóng theo h́nh, không bao giờ tránh khỏi. Vậy ông nên cẩn
thận, đừng làm điều ác!”
Chương 8 c̣n đưa ra những
thí dụ hết sức thâm trầm:
“Phật dạy: Kẻ
ác hại người hiền th́ cũng như ngửa mặt
lên trời mà phun nước miếng. Nước miếng
không đến trời, mà trở lại rớt xuống mặt
ḿnh! Như tung bụi ngược gió, bụi không tới
người mà trở lại dính dơ thân ḿnh. Người
hiền không thể nào bị hại, mà mọi tai họa
đều phải bị tiêu diệt.”
Chương 10 ghi lời dạy của
Phật về phước đức của những
người tán trợ người hành đạo. Phước
đức ấy như một bó đuốc lớn, dù có
trăm ngàn người đến mồi lửa, lửa của
bó đuốc cũng không bao giờ hết. Chương 33 ghi lời Phật
dạy về ư chí dũng mănh của người hành đạo:
“Phật dạy:
Người hành đạo ví như một người phải
chiến đấu với muôn người. Khi đă mặc
giáp ra khỏi cửa, ḷng hoặc là khiếp nhược,
hoặc nửa đường thối lui, hoặc chiến
đấu mà chết, hoặc chiến thắng trở về.
Sa môn học đạo, tâm phải kiên tŕ, tinh tấn
dũng mănh, không sợ cảnh trước mặt, phá diệt
các ma chướng, chứng đạt đạo quả.”(29)
Tất cả những chứng cớ trên
đều cho ta thấy, kinh Tứ Thập Nhị
Chương không phải là cuốn kinh đă
được dịch từ Phạn ngữ ra Hán ngữ sớm nhất của
Phật giáo Trung-quốc, như các sách sử của Phật
giáo Trung-quốc đă khẳng định từ trước
đến nay; mà hai vị đại sư Ấn-độ
là Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan cũng không phải
là dịch giả của kinh này. Dù sau tựa đề kinh
có ghi câu “Hậu Hán Ca Diếp Ma
Đằng Trúc Pháp Lan đồng dịch”, th́ đó
cũng chỉ là một sự gán ghép không hợp lí mà thôi.
Sự thực là ngày nay chúng ta chỉ thấy có danh tánh hai
vị cao tăng này, mà không thấy có tác phẩm nào của
hai ngài ấy. Lai lịch của hai vị cao tăng này
đă không thấy nói tới trong luận văn Phật
giáo viết bằng Hán ngữ xưa nhất hiện c̣n tồn
tại là Lí Hoặc Luận
của Mâu Tử. Bản Tứ
Thập Nhị Chương Kinh in trong Đại Chánh Đại Tạng Kinh, sau tựa
đề kinh có ghi hàng chữ “Hậu
Hán Tây-vức sa môn Ca Diếp Ma Đằng cộng Pháp Lan dịch”,
nhưng trong bài tựa th́ không thấy ghi tên hai vị cao
tăng này như trong chú giải của đại sư Ngẫu
Ích ghi trên. Khi Tăng Hựu (445-518) viết Xuất Tam Tạng Kí Tập vào đời
Lương (502-558), có nói kinh Tứ
Thập Nhị Chương do Trúc Ma Đằng dịch,
nhưng không chép ǵ về tiểu sử của Trúc Ma Đằng.
Mấy mươi năm sau, khi Tuệ Hạo (497-554) viết
sách Cao Tăng Truyện th́
tiểu sử của ngài Ca Diếp Ma Đằng mới
được nói tới rơ ràng, kèm theo truyền thuyết
về giấc mộng người vàng của vua Hán Minh
Đế. Trong tiểu sử ấy có đoạn rằng:
“...... Đằng thệ
nguyện hoằng pháp không sợ khó nhọc, mạo vượt
lưu sa, th́ đến Lạc Ấp. Minh Đế khen
thưởng tiếp đăi rất hậu, ở ngoài cửa
thành Tây dựng tinh xá cho Đằng ở. Đất Hán mới
bắt đầu có sa môn. Nhưng đại pháp mới
truyền, chưa có qui tín, nên Đằng giấu sự hiểu
sâu của ḿnh, mà không tuyên thuật điều ǵ. Ít lâu sau mất
ở Lạc Dương. Có Kư nói: Đằng dịch Tứ
Thập Nhị Chương Kinh một quyển xưa cất
trong gian 14 nhà đá Lan Đài.”(30)
Như vậy là ngài Trúc Ma Đằng không có
tác phẩm nào cả; c̣n chuyện ngài dịch kinh Tứ Thập Nhị
Chương cũng không chắc chắn ǵ, Tuệ Hạo
chỉ “nghe đồn” mà thôi. Tiếp đó, Tuệ Hạo
cũng có ghi truyện của ngài Trúc Pháp Lan:
“Trúc Pháp Lan cũng
được mời đến một lượt với
Đằng, và đă phiên dịch năm bộ Thập
Địa Đoạn Kết, Phật Bản Sinh, Pháp Hải
Tạng, Phật Bản Hạnh và Tứ Thập Nhị
Chương. Nhưng bốn bộ thất bản không truyền
ở Giang Tả, chỉ Tứ Thập Nhị
Chương này c̣n thấy, c̣n hơn hai ngàn lời. Đất
Hán hiện c̣n các kinh, chỉ kinh này là đầu.”(31)
Về bốn dịch phẩm thất truyền
này, tuy là có tên nhưng vẫn không có căn cứ chắc
chắn, coi như không có. Về Kinh
Tứ Thập Nhị Chương, được biết
là Trúc Pháp Lan dịch chung với Ca Diếp Ma Đằng;
mà Ma Đằng đă không có ǵ chắc chắn, th́ Pháp Lan
cũng vậy thôi.
Tới đây chúng ta có thể kết luận,
Tứ
Thập Nhị Chương là một trong những bộ
kinh Phật đă được tăng đoàn Việt-nam
dịch từ Phạn ngữ ra Hán ngữ tại Việt-nam
sớm nhất (trong khoảng từ thế kỉ đầu
cho đến nửa đầu thế kỉ thứ 2 Tây
lịch - không biết đích xác dịch giả là ai), c̣n
lưu truyền cho đến ngày nay. Kinh này đă
được truyền bá đến miền Giang-tả
vào giữa thế kỉ thứ 2 TL, và sau đó lan rộng
đến Lạc-dương, kinh đô của nhà Hán. Với
những khám phá quan trọng gần đây của hai vị
giáo sư Nguyễn Lang và Lê Mạnh Thát, sự thực, một
Tạng Kinh Việt-nam
đă được h́nh thành từ mấy thế kỉ
đầu Tây lịch, chắc chắn là chưa đầy
đủ như ngày nay, nhưng cũng đă khá đồ
sộ, như sách Lí Hoặc Luận
nói: “Nay kinh Phật, quyển số
kể đến vạn, lời đếm tới triệu,
không phải sức một người có thể kham nổi...”(32),
thật quá đủ để làm nền tảng vững
chắc để xây dựng cho dân tộc Việt một
nếp sống tinh thần văn minh, tiến bộ về
mọi lĩnh vực như văn hóa, tư tưởng,
giáo dục, chính trị, đạo đức v.v...; không những
thế, nó c̣n là cơ sở chắc chắn để từ
đó Phật giáo được truyền bá vào Trung-quốc,
trước khi các vị Phạm tăng đến
được đất Hán! Rất tiếc, v́ nước
nhỏ dân ít, nước ta đă bị người Trung-quốc
xâm lăng mấy lượt, đô hộ cả ngh́n
năm. Với mưu đồ đồng hóa, họ
đă tận diệt tất cả cái gia tài văn hóa của
Việt-nam. Mỗi lần xâm lăng là mỗi lần thu
vét sách vở, thứ ǵ thích th́ mang về cất giữ làm
của ḿnh, thứ ǵ không thích th́ đốt cháy sạch; cố
làm cho mất hết vết tích. Chỉ cần t́m hiểu
một bản kinh Tứ Thập
Nhị Chương này thôi, đă hiển lộ cả một
t́nh cảnh bi thương của đất nước Việt-nam
như thế đó!
CHÚ THÍCH
(1) Theo bản “Phật Thuyết
Tứ Thập Nhị Chương Kinh Giải” của đại sư Ngẫu
Ích (1599-1655), cuối đời Minh, trong sách Di Giáo Tam
Kinh Chú Giải. Hương-cảng:
Hương Cảng Phật Kinh Lưu Thông Xứ, 1988.
(2) Ví dụ: Chương
29 đă được trích dịch
từ kinh Đại Bát Niết Bàn (bản Nam truyền); Chương 34 đă được trích dịch
từ kinh Tạp A Hàm; v.v...
(3) Giáo sư Nguyễn Lang có đưa ra nhiều
điểm dị biệt khi đối chiếu các bản
in khác nhau của kinh này. Xin xem sách Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, quyển
1, Chương 2, để biết
rơ chi tiết.
(4) Giáo sư Nguyễn Lang, trong Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I, đă viết nhầm là “Truyền Nghị”. – Trong chữ
Hán, tự dạng của hai chữ “phó”(傅) và “truyền” (傳) trông giống
nhau.
(5) Không biết do dâu, các sách tiếng Việt
đều viết là “Thái Hâm”.
– Trong chữ Hán, tự dạng của hai chữ “âm” (愔) và “hâm” (歆) trông giống nhau.
(6) Lời chú giải của đại
sư Ngẫu Ích, trong sách Phật
Thuyết Tứ Thập Nhị Chương Kinh Giải.
(7) Xin xem “Bản Dịch
Lư Hoặc Luận”, trang 173,
sách Tổng Tập Văn Học Phật Giáo Việt
(8) Đúng ra là “Đại Nhục Chi”. – Trong
các kinh luận chữ Hán, khi viết tên nước Đại-nhục-chi,
chữ “nhục” được viết y như chữ
“nguyệt”; chữ “chi” được viết y như chữ
“thị”; cho nên có người đọc là “nguyệt thị”,
hoặc “nguyệt chi”.
(9) Lê Mạnh Thát, sđd, tr. 195.
(10) Các sách tiếng Việt đều viết
nhầm là “Tổng”.
(11) Lê Mạnh Thát, sđd, tr. 77.
(12) Nguyễn Lang, sđd, tr. 57-58.
(13) Gs Lê Mạnh Thát, trong sách TTVHPGVN 1, viết
nhầm là năm 167.
(14) Phù Đồ là tiếng dịch âm khác của
Phật Đà, tức là “Phật”.
(15) Lê Mạnh Thát, sđd, tr. 148.
(16) Kinh Tứ Thập
Nhị Chương,
chương 3: “Phật dạy: Người đă cạo bỏ
râu tóc, làm vị sa môn, thọ nhận đạo pháp, hăy từ
bỏ của cải thế tục, chỉ xin ăn đủ
sống; mỗi ngày chỉ ăn một bữa trưa, chỉ
ngủ mỗi đêm nơi một gốc cây, không
được nhiều hơn. Chính ái và dục làm cho con
người bị ngăn che, ngu tối vậy.”
(17) Kinh Tứ Thập
Nhị Chương,
chương 26: “Thiên thần dâng ngọc nữ cho Phật,
muốn phá hoại ư chí của Phật. Phật dạy: Cái
đăy da đựng đủ thứ đồ dơ bẩn,
ông đem đến đây làm ǵ! Đem đi, tôi không dùng!
Thiên thần rất kính phục, bèn hỏi ư đạo, Phật
giảng nói cho. Nghe xong liền chứng quả
Tu-đà-hoàn.”
(18) Nguyễn Lang, sđd, tr. 20-21.
(19) Lê Mạnh Thát, sđd, tr. 190.
(20) Lê Mạnh Thát, Lịch
Sử Phật Giáo Việt
(21) Sách Cao Tăng
Truyện trích lời sớ của
Vương Độ đời Tấn: “Từ khi Phật
giáo được du nhập, chỉ nghe nói đến các
sư Tây Vực được phép lập chùa thờ Phật,
người Hán không được phép xuất gia. Nhà Ngụy
theo pháp chế của nhà Hán, cũng chưa cho dân bản xứ
xuất gia.” (Nguyễn Lang, sđd, tr. 23.)
(22) Trích dịch từ sách Tứ Thập Nhị Chương Kinh Chú Giải
của đại sư Ngẫu
Ích.
(23) Lê Mạnh Thát, TTVHPGVN
1, tr.76.
(24) Lê Mạnh Thát, sđd, tr. 82.
(25) Nguyễn Lang, sđd, tr. 35.
(26) Nguyễn Lang, sđd, tr.36-37.
(27) Trích trong sách Giáo
Khoa Phật Học cấp hai
(Bài 8), của Hạnh Cơ (dịch và chú thích bổ túc),
Ban Bảo Trợ Phiên Dịch Pháp Tạng Việt
(28) Trích dịch từ sách Tứ Thập Nhị Chương Kinh Chú Giải
của đại sư Ngẫu
Ích.
(29) Các đoạn kinh văn trên đều
được trích dịch từ sách Tứ Thập Nhị Chương Kinh Chú Giải
của đại sư Ngẫu
Ích.
(30) Lê Mạnh Thát, sđd, tr. 79.
(31) Như trên.
(32) Lê Mạnh Thát, sđd, tr. 179.
NGUỒN GỐC và TIẾN TR̀NH H̀NH THÀNH
KINH ĐẠI BÁT NHĂ
A) DẪN NHẬP
“Bát Nhă” là tiếng phiên âm của
chữ Phạn “Prajna”, có
nghĩa là trí tuệ, là trí sáng suốt có thể thông hiểu
mọi việc ở đời. Nhưng, trong Phật học,
khi nói đến “trí tuệ”,
chúng ta phải phân biệt có bốn loại, khác nhau rất
xa:
1. Trí tuệ của
phàm phu:
Mọi người ở thế gian đều có trí hiểu biết b́nh thường.
Khi cái trí hiểu biết ấy quá thấp kém, không biết
suy nghĩ , không biết ǵ nhiều ngoài những hoạt
động b́nh thường, người ta gọi đó
là hạng người ngu si, hay tệ hơn nữa là
“đần độn”. Đối với người có
cái trí hiểu biết trên mức b́nh thường, nghe một
hiểu mười, tự ḿnh biết suy nghĩ một
cách chín chắn, thấy rơ những việc phải trái, tốt
xấu, v.v…, người ta gọi đó là hạng người
khôn ngoan, lanh lợi, thông minh. Trên nữa là hạng người
thông thái vượt trội hơn tất cả, có khả
năng t́m hiểu, khám phá, sáng tạo, phát minh; được
gọi là hạng người có trí tuệ. Một mưu chước hay, một
hành động tốt của hạng người này có thể
đem lại lợi ích, an vui cho nhân quần xă hội, và họ
trở thành những bậc anh hùng, vĩ nhân; nhưng một
mưu mô thâm độc, một hành động bạo ác của
họ lại sẽ đem khổ đau, tang thương
đến cho cả nhân loại, và họ trở thành những
hung thần, ác quỉ. Như vậy, trí tuệ của người thế gian thật
giống như con dao hai lưỡi, có thể giúp đời
mà cũng có thể hại người. Và theo như kinh
nghiệm mà mọi người trong chúng ta đều có
được, ai cũng thấy rơ, cái trí tuệ của thế gian, giúp ích th́ ít, mà phá
hoại th́ nhiều không thể kể xiết! Bởi vậy,
trong giáo lí đạo Phật, “thế
trí” đuợc coi là một trong tám tai nạn lớn
(bát nạn) của con người. – Và “thế trí” chính là
loại trí tuệ của hạng người “phàm phu”, tức là hạng
người không tu học theo thánh đạo, không tỏ
ngộ chân lí, không tin nhân quả, tội phước báo ứng…
2. Trí tuệ của
Nhân và Thiên thừa: Cũng thuộc trong ṿng thế gian, nhưng có
những người có trí sáng suốt, nhận rơ những
hoàn cảnh khổ đau trong thế gian là do chính ḿnh gây
ra, và do chính con người gây ra cho nhau. Họ phát tâm quay về
nương tựa nơi Ba Ngôi Báu, tu học theo chánh pháp,
hành tŕ năm giới cấm
trong đời sống hằng ngày; cốt tu tập, rèn
kuyện bản thân trở thành một con người
đúng với phẩm giá một con người chân chính. Họ
tin nhân quả nên quyết định không tạo nghiệp
ác, không gây đau khổ cho người khác để khỏi
phải chịu những quả báo đau khổ về
sau; đồng thời quyết tâm tạo nghiệp lành
để hưởng được phước báo an vui
măi măi. Đó là những người có trí tuệ của
hàng Nhân thừa, tức là hạng
người có trí sáng suốt hơn hạng phàm phu, biết
vượt lên trên cái tư cách phàm phu, sống xứng
đáng với phẩm cách của một con người
chân chính, toàn thiện, cao thượng. Nếu phát tâm mạnh
mẽ hơn một bậc, những người này có thể
tu tập trọn vẹn mười nghiệp lành, hoàn toàn
không gây bất cứ một nỗi khổ đau (hoặc
do thân thể hành đnộg, hoặc do miệng lưỡi
nói năng, hoặc do tâm ư suy nghĩ) nào cho chính ḿnh và cho
người khác, biết tu tạo phước đức
trong mọi cơ hội, không từ bỏ một việc
thiện nhỏ nào mà không làm. Đó là họ tạo nghiệp
lành để hưởng được phước báo của
chư thiên, không đau khổ như loài người, sung
sướng và sống lâu hơn loài người rất nhiều.
Được như vậy là v́ hạng người này
có được loại trí tuệ của hàng Thiên thừa, và biết tu tập
những pháp môn của hàng Thiên thừa. – Tuy cũng thuộc
trong phạm vi thế gian, nhưng những người ở
hàng Nhân thừa và Thiên thừa không coi trọng loại “thế
trrí” của hạng phàm phu; v́ họ thấy rơ rằng, “thế
trí” chỉ mang lại t́nh cảnh đau khổ triền
miên cho chúng sinh mà thôi.
3. Trí tuệ của
hàng Nhị thừa: Nhị thừa là hai thừa Thanh-văn và
Guyên-giác. Con người thế gian, dù có hay không có “thế
trí”, đối với giáo lí đạo Phật, họ vẫn
là phàm phu, vẫn phải đau khổ triền miên, v́
đời sống luôn luôn tạo nghiệp bất thiện,
mà không thấy biết có một con đường chánh
để đi theo. Nhưng nếu có những người
nào đó, nhờ duyên lành gặp được Phật
pháp, phát tâm tu học theo chánh đạo, th́ biết rằng
những người này đă có trí tuệ – loại trí tuệ
cao hơn, sáng suốt hơn, đúng đắn hơn loại
“thế trí” của phàm phu; đó là trí tuệ của hàng Nhân
và Thiên thừa. Dù vậy, Nhân và Thiên thừa cũng vẫn
c̣n thuộc trong ṿng thế gian, vẫn c̣n chịu đau khổ
trong biển sinh tử luân hồi. Nếu có duyên lành lớn
hơn, trí tuệ cao trội hơn, họ sẽ phát tâm mạnh
mẽ hơn, nguyện từng bước thoát ḍng phàm phu
để từng bước nhập vào ḍng thánh – dưới
thấp là thừa Thanh-văn, lên trên là thừa Duyên-giác. Những
hành giả tu tập ở hai thừa này đều có trí tuệ
cao hơn, sáng suốt hơn, thanh tịnh hơn các loại
trí tuệ của thế gian. Bằng trí tuệ ấy, họ
quán sát thấy rơ thế gian là biển khổ đau; và khổ
đau là kết quả của bao nhiêu phiền năo, vô minh
độc hại. Họ quán sát thấy rơ mọi sự vật
trong thế gian đều do nhân duyên giả hợp mà thành,
chúng luôn luôn biến đổi, không có ǵ trường tồn
chắc thật, không có tự ngă tồn tại độc
lập, không có niềm vui chân thật; chúng sinh do nghiệp
báo mà cứ lẩn quẩn ch́m đắm trong ṿng sinh tử
luân hồi… Do đó, họ sinh tâm nhàm chán, xa lánh thế
gian, phát tâm tu tập theo chánh đạo để dứt
trừ phiền năo vô minh, giải thoát khỏi chốn thế
gian khổ đau, cắt đứt ṿng sinh tử luân hồi,
an trú trong cảnh giới niết bàn tịch tĩnh. Và do
thành quả này, trí tuệ của hàng Nhị thừa
cũng được gọi là “trí tuệ xuất thế gian”.
4. Trí tuệ lớn
của Bồ-tát thừa: Tuy trí tuệ của hàng Nhị thừa
đă được liệt vào loại trí tuệ xuất
thế gian, nhưng vẫn chưa phải là loại trí tuệ
cao tột. Các bậc A-la-hán hay Bích-chi Phật, tuy đă dứt
sinh tử luân hồi, chứng đắc niết bàn tịch
tĩnh, nhưng đó chỉ là thành quả của công phu dứt
trừ hết kiến tư hoặc, c̣n đối với
bản thể hay thật tướng của vạn pháp
th́ vẫn chưa thấu rơ trọn vẹn; quí ngài tuy
đă giác ngộ, nhưng thành quả giác ngộ chưa rốt
ráo – chứng tỏ, ở hàng Nhị thừa vẫn c̣n tồn
tại phần vô minh vi tế. Chỉ khi nào đạt
đến quả vị Phật-đà th́ thành quả giác
ngộ mới rốt ráo trọn vẹn, vô minh hoàn toàn dứt
tuyệt, được gọi là bậc “Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác”. Nhưng, muốn tiến đến
quả vị Phật, hành giả phải tu tập hạnh
Bồ-tát; đó là điều tất yếu, không có cách nào
khác. Vậy nên, hành giả tu tập Bồ-tát hạnh là cốt
để làm Phật; và họ được liệt vào
hàng Bồ-tát thừa. Trí tuệ của những hành giả
Bồ-tát ở buổi ban sơ mới phát tâm tu tập,
dĩ nhiên là c̣n rất cạn cợt, nhưng sau khi đă
trải qua thời gian dài tu tập tinh chuyên, khi bước
lên hàng Thập-địa, với tâm nguyện rộng lớn,
th́ trí tuệ của họ cũng rộng lớn vô cùng.
Trí tuệ của hàng Bồ-tát thấy rơ được thật
tướng của vạn pháp, cho nên Bồ-tát không c̣n chấp
trước, điên đảo; hoàn toàn tự tại vô ngại,
phát nguyện độ sinh, tự lợi lợi tha, cho
đến khi “giác hạnh viên măn”. “Bát nhă” chính thực là loại trí tuệ này; hay nói
cách khác, trí tuệ của hàng Bồ-tát mới thực sự
được gọi là “Bát
Nhă” (hoặc cũng gọi là Trí
Bát Nhă, hay Trí Tuệ Bát Nhă).
Trí tuệ của Bồ-tát rất rộng lớn, cho nên
cũng gọi là “đại bát nhă”. Trong rất nhiều
pháp hội, đức Phật đă từng dạy nhiều
pháp môn vi diệu để giúp cho hàng Bồ-tát phát huy loại
trí tuệ rộng lớn này. Những lời dạy ấy,
về sau đă được các bậc thánh tăng kết
tập, làm thành kinh Đại
Bát Nhă – hoặc gọi đầy đủ là kinh Ma Ha
(Đại)
Bát Nhă Ba La Mật Đa (Maha-prajnaparamita-sutra). Chữ “ba-la-mật-đa” có nghĩa
là đến bờ giải thoát, ư nói, nhờ có trí tuệ
rộng lớn mà Bồ-tát vượt thoát sông mê, đạt
được quả vị Phật-đà. V́ vậy, toàn
thể tên kinh, Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật
Đa, có thể được dịch ngắn gọn
là Đại Trí Độ,
hay Tuệ Giác Siêu Việt.
B) NGUỒN GỐC KINH BÁT NHĂ
Kinh Đại Bát
Nhă đă được chính đức Phật Thích Ca
Mâu Ni giảng nói, trải qua nhiều pháp hội, tại bốn
đạo tràng lớn: núi Linh-thứu, tu viện Ḱ-viên,
cung trời Tha-hóa-tự-tại, và tu viện Trúc-lâm. Đại
sư Trí Khải của tông Thiên Thai (Trung-quốc) đă y cứ
vào nội dung kinh điển mà phân loại và hệ thống
hóa các thời giảng pháp của đức Phật. Ngài
đă phân chia thời gian bố giáo của đức Phật
(theo thuyết cũ là 49 hay 50
năm) làm năm giai đoạn, trong đó, kinh hệ Bát Nhă thuộc giai đoạn
thứ tư – gọi là “Bát Nhă Thời” – chiếm một
thời gian dài đến 22 năm.
Nhưng, v́ nguyên do ǵ mà đức Phật nói
kinh này? Trong bộ luận Đại
Trí Độ, Bồ-tát Long Thọ đă đưa ra những
nguyên do sau đây:
- V́ muốn chỉ dạy đầy đủ
về Bồ-tát hạnh mà đức Phật nói kinh Đại Bát Nhă.
- V́ muốn giúp cho các vị Bồ-tát
được tăng thêm lợi ích trong công phu tu tập
pháp môn “Niệm Phật Tam Muội”, mà đức Phật
nói kinh Đại Bát Nhă.
- Sau khi thành đạo dưới gốc cây bồ
đề, v́ chuẩn hứa sự ân cần khuyến thỉnh
của chư thiên, và cũng v́ nhớ đến tâm nguyện
đại từ đại bi của ḿnh, nên đức Phật
đă quay bánh xe pháp; và chính v́ “Bát nhă ba la mật” là pháp sâu xa
nhất trong các pháp, cho nên đức Phật đă nói kinh Đại Bát Nhă.
- V́ trong thế gian có kẻ hoài nghi, cho rằng
Phật đă không chứng được “nhất thiết
trí”, để hóa giải mối nghi ngờ này, đức
Phật đă nói kinh Đại
Bát Nhă.
- Có nhiều chúng sinh bị tà sư mê hoặc,
tâm đắm ch́m trong tà pháp, không vào được chánh
đạo; đức Phật muốn chỉ bày thật
tướng của vạn pháp để đoạn trừ
tất cả mọi nghi kết của chúng sinh, cho nên
đă nói kinh Đại Bát Nhă.
- Có nhiều người tâm đầy tà ác, tật
đố, phỉ báng đức Phật là người có
trí tuệ không ra khỏi trí tuệ của loài người,
chỉ khéo dùng huyễn thuật để mê hoặc
người đời. Để hóa giải những lời
phỉ báng ấy, và đồng thời để giúp mọi
người tin nhận chánh pháp, vượt thoát lưới
tà kiến, diệt trừ kiết sử, được
an vui tự tại, cho nên đức Phật đă nói kinh Đại Bát Nhă.
- Cũng có người nghĩ rằng, Phật
cũng như mọi người, cũng có sinh tử,
cũng có lúc chịu đói khát, cũng bị lạnh bị
nóng, cũng phải già bệnh, v.v… Để dứt trừ
những ư nghĩ đó, đức Phật đă nói kinh Đại Bát Nhă.
- Có rất nhiều người mang kiến chấp
cực đoan, hoặc chuyên cầu khoái lạc, hoặc
chuyên khổ hạnh hành xác; Phật v́ hóa độ cho những
hạng người này, đưa họ vào Trung Đạo,
nên đă nói kinh Đại Bát
Nhă.
- Để phân biệt quả báo cúng dường
sinh thân và pháp thân, mà đức Phật đă nói kinh Đại Bát Nhă.
- V́ muốn giảng thuyết về những
pháp như “bất thối chuyển, ma huyễn, ma ngụy,
ma sự”; lại muốn thọ kí cho hàng Tam thừa, nên
đức Phật đă nói kinh Đại
Bát Nhă.
- V́ muốn giảng thuyết về “đệ
nhất nghĩa tất đàn” (tất đàn trong ư
nghĩa tuyệt đối), nên đức Phật đă
nói kinh Đại Bát Nhă.
- V́ muốn hàng phục các nhà đại nghị
luận (như trường hợp phạm chí Trường
Trảo), mà đức Phật đă nói kinh Đại Bát Nhă.
- V́ muốn chỉ rơ thật tướng của
các pháp, nên đức Phật đă nói kinh Đại Bát Nhă.
- V́ muốn nói những pháp không có chỗ tranh
căi, cũng như những pháp môn gồm hai phần
tương đối như: có tướng - không tướng;
có vật -không vật; có y cứ - không y cứ; có trên -
không trên; thế giới - chẳng phải thế giới,
v.v…, nên đức Phật đă nói kinh Đại Bát Nhă.
- V́ muốn chỉ rơ tướng các pháp không
phải thiện, không phải bất thiện, không phải
vô kí; cũng như các pháp môn có ba phần như: pháp học
- pháp vô học - pháp phi học phi vô học; pháp do kiến
đế đoạn - pháp do tư duy đoạn - pháp
không đoạn; pháp thượng - trung - hạ; pháp tiểu
- đại - vô lượng, v.v…, nên đức Phật
đă nói kinh Đại Bát Nhă.
- V́ muốn phá bỏ các pháp phương tiện
đă nói ở các kinh khác như: Bốn Niệm Xứ, Bốn
Chánh Cần, Bốn Thiền, Bốn Đế, Năm Uẩn,
v.v…, nên đức Phật đă nói kinh Đại Bát Nhă.
C) TIẾN
TR̀NH H̀NH THÀNH KINH ĐẠI BÁT NHĂ
Sau khi đức Phật nhập diệt, toàn
bộ những lời dạy của đức Phật
đă được chư vị thánh tăng cử tụng
lại, kết tập nhiều lần, h́nh thành tạng kinh điển Phật
giáo hoàn chỉnh. Song song với công tŕnh kết tập
này, một sự việc không may cũng đă xảy ra,
đó là t́nh trạng phân phái trong giáo đoàn Phật giáo. Kể
từ ḱ kết tập kinh điển lần thứ nh́ tại
thành phố T́-xá-li, một trăm năm sau ngày Phật nhập
diệt, do sự bất đồng ư kiến giữa
chư tăng về một số điểm trong giới
luật, mà giáo đoàn đă bị phân rẽ thành hai bộ
phái lớn là Theravada –tức Thượng
Tọa Bộ (phái bảo thủ), và Mahasanghika –tức Đại Chúng Bộ (phái cấp tiến). Tiếp
theo đó, trong suốt mấy trăm năm, từ hai bộ
phái lớn kia lại tiếp tục phân rẽ thêm đến
18 hay 20 bộ phái nhỏ nữa. Sở dĩ xảy ra t́nh
trạng phân phái là v́ chư tăng có những kiến giải
khác nhau về kinh luật, rồi nảy sinh những quan
điểm, chủ trương khác nhau trong cái nh́n đối
với vũ trụ vạn hữu. Nói chung, chủ
trương của Thượng Tọa Bộ theo
đường hướng bảo thủ, bám giữ truyền
thống, chú trọng đời sống kinh viện, tách rời
quần chúng xă hội; trong khi đó, lập trường của
Đại Chúng Bộ rất tự do phóng khoáng, chú trọng
việc hành đạo trong quần chúng, nhấn mạnh
tư tưởng Bồ-tát –hành giả không những thực
hành giáo pháp để tăng ích cho bản thân ḿnh, mà c̣n v́ lợi
ích cho mọi người.– Do đó, việc tích cực truyền
bá giáo pháp trong quần chúng là điều vô cùng quan trọng
đối với chư tăng Đại Chúng Bộ.
Chính lập trường này của Đại Chúng Bộ
đă là khởi nguyên dẫn đến sự biến chuyển
lớn lao là cuộc vận động để h́nh thành
nền Phật Giáo Đại Thừa.
Dưới thời đại vua A Dục (thế
kỉ thứ 3 tr. TL), Đại Chúng Bộ đặt
căn cứ hành đạo tại hai nuước Ma-kiệt-đà
(Magadha) và Ương-già (Anga) ở vùng Trung Ấn; về
sau tiến dần xuống miền Nam Ấn, đặt cứ
điểm tại Án-đạt-la (Andhara). Án-đạt-la
là một vùng lănh thổ rộng lớn ở Đông
Sự phân phái và tranh căi nhau quyết liệt giữa
các bộ phái thời bấy giờ, đă làm cho t́nh h́nh Phật
giáo rối bời; đó là chưa nói đến sự việc
Phật giáo đang bị tấn công dồn dập bởi
Bà-la-môn giáo (đang thời ḱ phục hưng mạnh mẽ)
và các giáo phái khác, cũng như các thế lực chính trị
do ngoại giáo lănh đạo. Trong t́nh h́nh đó, Án Đạt
La Phái đă dũng mănh tự lănh trách nhiệm, bên ngoài th́
chống lại sự tấn công của các thế lực
ngoại giáo; bên trong th́ hóa giải cái không khí căng thẳng
nặng nề do t́nh trạng phân phái gây nên, khiến cho tinh
thần của Phật giáo Nguyên Thỉ được phục
hưng, cuộc vận động
cho nền Phật giáo Đại thừa dần dần
được thực hiện. Địa phương
Án-đạt-la đă được phần đông các nhà
nghiên cứu sử Phật giáo công nhận là trung tâm h́nh
thành và phát triển của Phật giáo Đại thừa.
Chính tại đây, trong khoảng vài thế kỉ đầu
TL, các kinh điển Đại thừa đă trước
sau xuất hiện, trong đó, kinh Bát Nhă đă được kết tập sớm
nhất – chủ yếu của giáo lí Bát Nhă là tư tưởng
KHÔNG, vốn là một trong những tư tưởng chính
yếu về thế giới quan của Đại Chúng Bộ.
Chính trong kinh Tiểu Phẩm
Bát Nhă đă xác nhận: “Kinh
Bát Nhă Ba La Mật Đa này bắt đầu ở
phương Nam; từ phương Nam truyền qua
phương Tây; từ phương Tây truyền tới
phương Bắc; rồi từ đó mà lan rộng ra khắp
bốn phương.”
Bộ kinh Đại
Bát Nhă không phải đă được kết tập một
lần, mà đă được h́nh thành trải qua nhiều
đợt kết tập khác nhau. Về thời điểm
kết tập, cho đến nay vẫn chưa có tài liệu
nào xác định niên đại chính xác, mà chỉ biết
rằng, trong số các kinh làm thành hệ Đại Bát Nhă, kinh Đạo Hạnh Bát Nhă (tức
Tiểu Phẩm Bát Nhă) đă xuất hiện sớm
nhất; tiếp đến là kinh Đại Phẩm Bát Nhă; rồi sau nữa là các
kinh khác trong hệ Bát Nhă.
- Đạo Hạnh
Bát Nhă
là tên bản kinh Hán dịch của ngài Chi Lâu Ca Sấm, dịch
từ bản Phạn văn là kinh Astasahasrika-prajnaparamita (Bát
Thiên Tụng Bát Nhă). Kinh này đă xuất hiện vào
khoảng đầu thế kỉ thứ 2 TL, được
ngài Trúc Phật Sóc (?-?), người Ấn-độ, mang
đến Lạc-dương (Trung-quốc) vào cuối
đời vua Hán Hoàn Đế (147-167), và được
ngài Chi Lâu Ca Sấm (Locasema, 147-?, người nước
Đại-nhục-chi, đến Trung-quốc năm 167) dịch
ra Hán văn vào năm 179. Đây là bản Hán dịch xưa
nhất của kinh Bát Thiên Tụng
Bát Nhă, mà cũng là bản kinh đầu tiên trong hệ
thống Đại Bát Nhă tại
Trung-quốc. Năm 257, kinh Đạo
Hạnh Bát Nhă này đă được ngài Chu Sĩ Hành
(203-282 – người Hán đầu tiên được xuất
gia làm tăng, và cũng là vị tăng Trung-quốc đầu
tiên sang Tây-vực cầu pháp) giảng thuyết lần
đầu tiên tại Lạc-dương. Đến đời
Tam-quốc (220-280), cư sĩ Chi Khiêm (?-?, người
nước Nhục-chi, đến Trung-quốc năm 220),
hành đạo tại nước Đông Ngô (222-280), lại
dịch kinh này với tên mới là Đại Minh Độ Vô Cực Kinh. Đến
đời Tiền Tần (351-394), kinh này lại được
hai ngài Đàm Ma B́ (Dharma-priya - người nước Kế-tân),
và Trúc Phật Niệm (người Cam-túc, Trung-quốc) cùng
dịch với tên mới là Ma
Ha Bát Nhă Ba La Mật Đa Sao Kinh. Đến đời
Hậu Tần (384-417), ngài Cưu Ma La Thập (Kumarajiva,
334-413 - người nước Qui-tư) lại dịch
kinh này với tên mới là Tiểu
Phẩm Bát Nhă Ba La Mật Kinh. Sang đời Đường
(618-907), ngài Huyền Trang, khi dịch toàn bộ kinh Đại
Bát Nhă Ba La Mật Đa (gồm cả thảy 16 hội,
600 quyển), đă dịch lại cả kinh Bát Thiên Tụng Bát Nhă này, và
đặt thành “Hội (hay Phần)
Thứ Bốn” (Đệ Tứ Hội, hay Đệ Tứ
Phần), gồm từ quyển 538 đến quyển
555. Đến đời Bắc Tống (960-1279), kinh này lại
được ngài Pháp Hiền (?-1001, người Trung Ấn,
đến Trung-quốc năm 973) dịch với tên mới
là Phật Mẫu Bảo Đức
Tạng Bát Nhă Ba La Mật Kinh; kế đó, ngài Thi Hộ
(?-?, người Bắc Ấn, đến Trung-quốc
năm 980) lại dịch với tên mới là Phật Mẫu Xuất Sinh Tam
Pháp Tạng Bát Nhă Ba La Mật Đa Kinh. Lại nữa,
khi viết về sự nghiệp hành đạo của
ngài Khương Tăng Hội
(một vị cao tăng của Phật giáo Việt-nam sống
vào thế kỉ thứ 3 TL), ḥa thượng Nhất Hạnh
cho biết: “Theo Khai Nguyên Thích
Giáo Lục, ông cũng đă dịch Ngô Phẩm (tức Bát
Thiên Tụng Bát Nhă hay Đạo Hành Bát Nhă) là kinh bản xuất
hiện sớm nhất trong số các kinh Bát Nhă. Như thế,
Phật Giáo Việt Nam vào đầu thế kỉ thứ
ba đă hoàn toàn là Phật Giáo đại thừa, ……” Theo
sách Cao Tăng Truyện (của
Phật giáo Trung-quốc) th́ ngài Khương Tăng Hội
đă từ Giao-châu (tên nước Việt-nam thời
xưa) sang Đông Ngô vào năm Xích-ô thứ 10 (tức
năm 247, hay giữa thế kỉ thứ ba). Vậy, ngài
đă dịch kinh Bát Thiên Tụng
Bát Nhă ra Hán văn (với tên là Ngô Phẩm) vào
đầu thế kỉ 3 tại Giao-châu, trước khi
sang Đông Ngô hành đạo; rất tiếc là bản kinh Ngô Phẩm này ngày nay đă thất
truyền.
- Đại Phẩm
Bát Nhă
là tên bản kinh Hán dịch của nguyên bản tiếng Phạn
Pancavimsati-sahasrika-prajnaparamita
(Nhị Vạn Ngũ Thiên Tụng Bát Nhă), do ngài
Cưu Ma La Thập dịch; cũng gọi là Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật Kinh. Xét
về lai lịch kinh này, thật có điều lí thú. Nguyên
là, khoảng thập kỉ thứ ba của thế kỉ
3 TL, sau khi bản kinh Hán dịch Đại
Minh Độ (tức tên khác của kinh Đạo Hành Bát Nhă nói trên) của cư sĩ Chi
Khiêm xuất hiện ở Đông Ngô, th́ phong trào nghiên cứu
Bát Nhă Học nở rộ ở
Trung-quốc (lúc đó là thời đại Tam-quốc, gồm
ba nước Tây Thục, Bắc Ngụy và Đông Ngô).
Năm 260, ngài Chu Sĩ Hành (203-282, người ở Bắc
Ngụy), đă khởi chí sang Tây-vực để t́m cầu
các bản kinh Phạn ngữ. Ngài đến và ở tại
nước Vu-điền (Ku-stana, nay là đất Ḥa-điền,
nằm ở Tây bộ xứ Tân-cương),
đương thời là nơi lưu hành rất nhiều
kinh điển tiếng Phạn. Tại đây, ngài sao lại
được bản kinh Pancavimsati-sahasrika-prajnaparamita
(Nhị Vạn Ngũ Thiên Tụng Bát Nhă). Năm 282,
trước khi viên tịch, ngài đă sai đệ tử
là Phất Như Đàn mang bản kinh ấy về Lạc-dương.
Năm 291, đời Tây Tấn
(265-316), ngài Vô La Xoa (người nước Vu-điền)
và cư sĩ Trúc Thúc Lan (người gốc Thiên-trúc, sinh tại
Trung-quốc) đă đem bản kinh Phạn ngữ (do Chu
Sĩ Hành sao chép và do Phất Như Đàn mang về) này dịch
ra Hán văn, gọi tên là Phóng
Quang Bát Nhă Ba La Mật Kinh; đến năm 303, Trúc Thúc
Lan cùng với Trúc Thúc Tịch hiệu khám lại, kinh này mới
được hoàn chỉnh và lưu hành. Sau Phất Như
Đàn, năm 286, ngài Ḱ Đa Mật, cũng người
Vu-điền, lại mang vào Trung-quốc Phạn bản của
kinh Nhị Vạn Ngũ Thiên Tụng
Bát Nhă; gặp cơ duyên, ngài Trúc Pháp Hộ (Dharmaraksa -
người gốc Nhục-chi, sinh ở Đôn-hoàng, đến
Trường-an năm 265) đă dịch bản kinh Phạn
ngữ này ra Hán văn ngay năm đó (286), với tên là Quang
Tán Bát Nhă Ba La Mật Kinh. V́ vậy, bản Phạn ngữ
của Chu Sĩ Hành vào Trung-quốc trước mà bản
Hán dịch (Phóng Quang Bát Nhă)
lại ra đời sau; c̣n bản Phạn ngữ của
Ḱ Đa Mật tới Trung-quốc sau mà bản Hán dịch
(Quang Tán Bát Nhă) lại ra
đời trước. Đại
Phẩm Bát Nhă (hay Ma Ha Bát Nhă
Ba La Mật Kinh) của ngài La Thập là bản Hán dịch
thứ ba (vào đời Hậu Tần, 384-417) của kinh
này. Đến đời Đường (618-907), ngài Huyền
Trang lại dịch kinh này, và đặt thành “Hội Thứ Hai” (Đệ Nhị
Hội) trong toàn bộ kinh Đại
Bát Nhă Ba La Mật Đa.
- Kinh Thắng Thiên Vương Bát Nhă Ba
La Mật (Pravara-deva-raja-pariprccha) đă được
ngài Cầu Na Bạt Đà (người Vu-điền) mang
vào Trung-quốc năm 548, và đến năm 565 th́
được ngài Nguyệt Bà Thủ Na (Upasunya - người
Trung Thiên-trúc, hoàng tử của vua nước Ưu-thiền-ni)
dịch ra Hán văn với tên như trên. Đến đời
Đường, ngài Huyền Trang đă dịch lại kinh
này, và đặt thành “Hội
Thứ Sáu” (Đệ Lục Hội) trong toàn bộ kinh
Đại Bát Nhă Ba La Mật
Đa.
- Bản kinh Phạn ngữ Saptasatika-prajnaparamita (tức Thất
Bách Tụng Bát Nhă) được ngài Mạn Đà La
Tiên (Mandra -- người nước Phù-nam, tức nước
Cao-miên ngày nay) mang đến Trung-quốc năm 502 đời
Lương Vơ Đế (502-549), và qua năm sau (503) th́ dịch
ra Hán văn với tên là Văn
Thù Sư Lợi Sở Thuyết Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật Kinh.
Ngài Tăng Già Bà La (Sanghapala, 460-524), cũng người
nước Phù-nam, đến Trung-quốc trước
đó vào thời Nam Tề (479-502), khi ngài Mạn Đà La
Tiên sang th́ hai vị cùng cộng tác để dịch kinh.
Trong lúc ngài Mạn Đà La Tiên dịch kinh Văn Thù Sư Lợi Sở Thuyết Ma Ha Bát Nhă Ba
La Mật Kinh (2 quyển), th́ ngài Tăng Già Bà La cũng dịch
kinh này với tên Văn Thù
Sư Lợi Sở Thuyết Bát Nhă Ba La Mật Kinh (1 quyển).
Đến đời Đường, kinh này lại
được ngài Huyền Trang dịch lại, đặt
thành “Hội Thứ Bảy”
(Đệ Thất Hội), gọi là “Mạn Thù Thất Lợi
Phần”, trong toàn bộ kinh Đại Bát Nhă Ba La Mật Đa.
- Đời Lưu Tống (420-4479), ngài Tường
Công ở quận Nam-hải (Quảng-châu) dịch kinh Nhu Thủ Bồ Tát Vô Thượng
Thanh Tịnh Phần Vệ (Phạn ngữ có 400 bài tụng);
đến đời Đường, ngài Huyền Trang dịch
lại, đặt thành “Hội
Thứ Tám” (Đệ Bát Hội), gọi là “Na
Già Thất Lợi Phần”, trong toàn bộ kinh Đại Bát Nhă Ba La Mật
Đa.
- Bản Phạn ngữ kinh Vajracchedika-prajna- paramita
(Kim Cang Năng Đoạn Bát Nhă Ba La Mật Đa),
không biết được mang vào Trung-quốc từ
năm nào, chỉ biết bản Hán dịch xuất hiện
đầu tiên vào đầu thế kỉ 5, với tên Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật Kinh,
là của ngài Cưu Ma La Thập (334-413). Bản dịch thứ
hai, cũng cùng tên Kim Cang Bát Nhă
Ba La Mật Kinh, là của ngài Bồ Đề Lưu Chi
(Bodhiruci, người Bắc Thiên-trúc, đến Lạc-dương
năm 508), đời Nguyên Ngụy (471-550). Bản dịch
thứ ba cũng cùng tên, được dịch vào đời
Trần (557-589), do ngài Chân Đế (Paramartha, 449-569, người
Bắc Thiên-trúc, đến Trung-quốc năm 546). Bản
dịch thứ tư có tên Kim
Cang Năng Đoạn Bát Nhă Ba La Mật Kinh, do ngài Đạt
Ma Cấp Đa (Dharmagupta, ?-619, người
- Bản kinh Phạn ngữ Prajnaparamita-naya-satapancasatika
(Nhất Bách Ngũ Thập Tụng Bát Nhă) đă
được ngài Huyền Trang (đời Đường)
dịch và đặt thành “Hội
Thứ Mười” (Đệ Thập Hội), gọi
là “Bát
Nhă Lí Thú Phần”, trong toàn bộ kinh Đại Bát Nhă Ba La mật Đa. Sau đó,
cũng vào đời Đường, ngài Bồ Đề
Lưu Chí (Bodhiruci, 562-727,
người Nam Ấn, đến Trường-an năm 693)
cũng dịch kinh này với tên Thật
Tướng Bát Nhă Ba La Mật Kinh. Kế đó, kinh này lại
được ngài Kim Cang Trí (Vajrabodhi, 671?-741, người
Nam Ấn, đến Trung-quốc năm 719) dịch với
tên Kim Cang Đảnh Du Già Lí
Thú Bát Nhă Kinh; rồi ngài Bất Không (Amoghavajra, 705-774,
người Nam Ấn, theo thầy là Kim Cang Trí đến
Trung-quốc năm 719) cũng dịch kinh này với tên Đại Lạc Kim Cang Bất
Không Chân Thật Tam Ma Da Kinh. Sang đời Bắc Tống
(960-1279), ngài Pháp Hiền cũng dịch kinh này với tên Tối Thượng Căn Bản
Kim Cang Bất Không Tam Muội Đại Giáo Vương
Kinh; rồi ngài Thi Hộ lại dịch kinh này với
tên Biến Chiếu Bát Nhă Ba La
Mật Kinh.
Nguyên bản tiếng Phạn của tất cả
7 bản kinh vừa nêu trên, ngoại trừ bản kinh sau
cùng, 6 bản kinh trước đều đă được
đưa vào Trung-quốc và được dịch ra Hán
văn trước thời đại ngài Huyền Trang. Bản
chữ Phạn của bản kinh sau cùng vừa nêu trên (tức
“Hội Thứ Mười”
trong toàn bộ kinh Đại
Bát Nhă Ba La Mật Đa), có thể đoán chắc rằng,
nó đă được chính ngài Huyền Trang mang từ Ấn-độ
về. Cũng vậy, nguyên bản tiếng Phạn của
những kinh c̣n lại mà ngài Huyền Trang đă dịch
để h́nh thành toàn bộ kinh Đại
Bát Nhă Ba La Mật Đa (tức các kinh được xếp
vào các Hội 1, 3, 5, 11, 12, 13,
14, 15, và 16), cũng đă được chính ngài mang về
từ đất Ấn. Có thể nghĩ rằng, sau khi từ
Ấn-độ về nước, có bao nhiêu loại kinh
thuộc hệ Bát Nhă hiện
có mặt ở Trung-quốc, ngài Huyền Trang đều
thu thập lại, những kinh nào ngài mới mang về th́
dịch mới, những kinh nào đă được các vị
tiền bối dịch từ trước th́ dịch lại,
rồi sắp xếp làm thành bộ kinh Đại Bát Nhă Ba La Mật
Đa, gồm 16 hội, 600 quyển. Như vậy, bộ
kinh này của ngài Huyền Trang dịch là một tập
đại thành của Bát Nhă căn bản và Bát Nhă tạp
bộ – căn bản là kinh Đại
Phẩm Bát Nhă; tạp bộ là các kinh c̣n lại.
Tuy nhiên, thuộc kinh hệ Bát Nhă trong Hán Tạng,
có kinh Phật Thuyết Nhân
Vương Bát Nhă Ba La Mật, do ngài La Thập dịch từ
trước vào đời Hậu Tần, nhưng không thấy
ngài Huyền Trang nhắc tới. Kinh này, sang thế kỉ
8, ngài Bất Không dịch lại với tên Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhă Ba La Mật
Đa Kinh.
Bản kinh Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm
Kinh (Prajnaparamita-hrdaya-sutra) do chính ngài Huyền Trang dịch
cũng không thấy đưa vào bộ kinh Đại Bát Nhă. Có lẽ, v́ đó là bản kinh
toát yếu của toàn bộ tư tưởng Bát Nhă, không
thuộc riêng một Hội hay một Phẩm nào, nên ngài
Huyền Trang đă để nó đứng riêng một
ḿnh. Kinh này, trước đó đă được ngài La
Thập dịch (thế kỉ 4) với tên Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh; ngài Bồ
Đề Lưu Chi dịch (thế kỉ 6) với tên Bát Nhă Ba La Mật Đa Na Đề
Kinh. Sau ngài Huyền Trang, cũng thuộc đời
Đường, kinh này lại được ngài Pháp Nguyệt
dịch với tên Phổ Biến
Trí Tạng Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh; hai ngài Bát Nhă
và Lợi Ngôn dịch chung với tên Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh; ngài Trí Tuệ Luân dịch
với tên Bát Nhă Ba La Mật
Đa Tâm Kinh; ngài Thi Hộ (đời Tống) dịch
với tên Thánh Phật Mẫu
Bát Nhă Ba La Mật Đa Kinh.
Do t́nh h́nh dịch kinh Đại Bát Nhă như vừa tŕnh bày trên, chúng ta
có thể thấy, bộ kinh Đại Bát Nhă do ngài Huyền
Trang dịch và được thu vào Hán Tạng, nguyên thỉ
đă không phải là một bộ kinh thuần nhất với
thuận tự mạch lạc xuyên suốt từ đầu
đến đuôi, mà là một tập đại thành của
nhiều bản kinh rời rạc nhưng cùng chứa
đựng tư tưởng Bát Nhă. Những bản kinh
này không phải đă được kết tập tại
một nơi nhất định nào, do một tập thể
chư tăng nhất định nào, mà chúng đă
được kết tập rải rác, trải qua thời
gian lâu dài từ đầu thế kỉ 2 TL; không những
ở vùng Nam Ấn, mà c̣n ở khắp mọi địa
phương, nhất là Bắc Ấn. Và cũng nhờ
cơ duyên tốt lành, các kinh ấy, sau khi được kết
tập và lưu hành ở Ấn-độ, th́ chúng cũng
liền được truyền sang Đông độ; nhờ
vậy mà chúng được bảo tồn, tránh khỏi
thảm họa bị tiêu diệt bởi quân Hồi giáo khi
họ xâm lăng Ấn-độ từ cuối thế kỉ
10 TL. Các kinh bản Phạn ngữ ấy đă được
mang đến Trung-quốc bằng hai đường:
đường bộ từ Bắc Ấn-độ qua ngả
Tây-tạng, Vu-điền, Tân-cương; đường
thủy từ miền duyên hải Đông Nam Ấn-độ
qua Ấn-độ dương, xuyên qua Java, Mă-lai, Phù-nam,
Giao-châu; và cũng không phải đă do chỉ một vài
người mà do rất nhiều vị cao tăng đem
vào, trong số đó, nhiều nhất, đáng kể nhất,
chắc hẳn là số lượng kinh bản do ngài Huyền
Trang đích thân mang về sau 17 năm (629-646) tu học ở
Ấn-độ. – Như ta biết, qua tác phẩm Đại Đường Tây Vực
Kí, khi sang Ấn-độ, ngài đă có thuận duyên, hầu
như được đi khắp xứ Ấn-độ,
nhất là những địa phương có cộng đồng
Phật giáo th́ ngài đều không bỏ sót. Đến
đâu ngài cũng được đón tiếp nồng hậu,
và chắc chắn là ngài đă có được cơ duyên
thu thập kinh điển tại mỗi nơi ngài đă
đặt chân tới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Đại Chánh Đại Tạng
Kinh (các quyển 5, 6, 7, 8).
- Phật Quang Đại Từ
Điển.
- Bát Nhă Cương Yếu. T́
kheo ni Hồng Ẩn.
- Đại Thừa Phật Giáo
Tư Tưởng Luận. Thích Quảng Độ (dịch).
- Đại Trí Độ Luận
(tập 1). Thích Thiện Siêu (dịch). Saigon: Viện
Nghiên Cứu Phật Học Việt
- Giáo Khoa Phật Học Cấp Hai.
Hạnh Cơ (dịch và soạn). Sắp xuất bản.
- Những Kỷ Nguyên Đầu Của
Đạo Phật. Nguyên Hảo (dịch).
- Phật Giáo Đại Tạng
Kinh Tường Tế Mục Lục. Thích Chánh Lạc
(biên dịch). Phú Lâu Na xuất bản, 2002.
- Thiền Sư Tăng Hội.
Nhất Hạnh. Lá Bối xuất bản, 1998.
- Tinh Hoa và Sự Phát Triển Của
Đạo Phật. Chân Pháp (dịch).