VU LAN TÔN KÍNH MẸ
Hôm nay là ngày Rằm Tháng Bảy, ngày tự tứ
của mười phương tăng chúng, ngày hoan hỉ
của chư Phật, ngày hội Vu Lan để mọi
người con Phật làm lễ Tôn kính và Tưởng nhớ
công ơn Cha Mẹ.
Đức Phật dạy: “Công ơn Cha Mẹ sâu dầy vô tận. Dù vai phải
cơng Cha, vai trái cơng Mẹ mà đi hàng trăm ngh́n kiếp,
người con vẫn không thể nào đền đáp nổi
công ơn ấy!”
C̣n công ơn nào to lớn hơn công ơn Cha Mạ!
Bởi thế cho nên, dù Phật có dạy rằng: “Được sinh làm người
là điều rất khó, nhưng đă sinh làm người
mà được gặp Phật Pháp lại c̣n khó hơn!”,
thế mà Ngài vẫn bảo rằng: “Nếu sinh nhằm đời khnôg có Phật,
nhưng người con biết thờ Cha Mẹ cho trọn
đạo hiếu, th́ công đức cũng lớn như
thờ Phật vậy!”
Ơn đức sâu dầy của Cha Maẹ
được gói trọn trong bốn chữ SINH, THÀNH,
DƯỠNG, DỤC. Bốn chữ thật giản dị,
nhưng đă nói lên cái công tŕnh vĩ đại, lâu dài,
được thực hiện bằng t́nh thương yêu
bao la của Cha Mẹ đối với con cái. Cho nên đă
là người th́ không ai là không mang nặng công ơn sinh
thành dưỡng dục ấy; v́ không ai là không có Cha Mẹ.
Cách đây hơn 25 thế kỉ, tôn giả Mục
Kiền Liên, tuy bấy giờ đă trrưởng thành,
đă xuất gia và tu chứng thánh quả A-la-hán, có thần
thông siêu việt, nhưng vẫn không quên Mẹ, dù Bà đă
quá văng từ lâu. Nhờ có thần thông, tôn giả đă t́m
thấy Mẹ đang chịu đau khổ cùng cực
nơi chốn Ngạ-quỉ. Một bên là thánh tăng, một
bên là ngạ quỉ, nhưng không v́ thế mà có sự xa
cách; v́ ngạ quỉ ấy vẫn là Mẹ của con, và
thánh tăng kia vẫn là con của Mẹ. Kiếp ngạ
quỉ đă là quả báo đau khổ do nghiệp chướng
quá nặng nề mà Bà đă tạo ra bởi tham sân si trong
lúc c̣n sinh tiền, nhưng không v́ thế mà tôn giả lẩn
tránh Bà; bởi v́ tôn giả trước sau vẫn là con của
Bà. Mẹ th́ bao giờ cũng thương yêu con, cho nên con
bao giờ cũng thương yêu Mẹ; giản dị chỉ
có thế. Cho nên nhân ngày tự tứ của chúng tăng vào
Rằm tháng Bảy, tôn giả đă thiết lễ Vu Lan
để cứu Mẹ giải thoát khỏi kiếp ngạ
quỉ. Và kể từ đó, ngày Rằm tháng Bảy hằng
năm đă trở thành NGÀY CỦA MẸ.
*
Thưa Mẹ kính yêu!
Hôm nay là NGÀY CỦA MẸ. Noi gương đức
Mục Kiền Liên, con làm lễ Tôn Kính Mẹ, tưởng
nhớ Mẹ, và báo hiếu Mẹ bằng cách cúng dường
chư tăng nhân ngày tự tứ của các ngài. Nhờ
tâm ư hoàn toàn thanh tịnh sau giờ phút tự tứ, sự
chú nguyện của các ngài sẽ tỏa ra oai lực vô biên
để mang phúc báo đến cho Mẹ.
Nhưng không phải chỉ có ngày hôm nay con mới
tôn kính Mẹ, tưởng nhớ Mẹ, và báo hiếu Mẹ;
mà ngày ngày con đều làm như vậy. Trong tâm niệm
con lúc nào cũng có Mẹ. Làm sao con quên được Mẹ
trong khi con vẫn đang ăn, đang ngủ, đang làm
việc, đang sống trọn vẹn trong t́nh
thương yêu dịu ngọt của Mẹ! T́nh
thương yêu của Mẹ bao phủ khắp cuộc
đời con. Mẹ đă che chở, đùm bọc con ngay
từ những ngày đầu tiên con được tượng
h́nh trong bụng Mẹ. Mẹ đă giữ ǵn từng
bước đi, cẩn thận từng miến ăn, dè
dặt từng lời nói...; thậm chí Mẹ đă nhẫn
nhịn trước tất cả các lời sỉ nhục,
v́ Mẹ sợ cơn nóng giận râấ có thể gây ảnh
hưởng xấu cho cái bào thai yếu đuối ở
trong bụnh ḿnh! Không lúc nào là Mẹ không nghĩ tới con
và v́ con. Chín tháng mang thai con là cả một thời gian dài
đằng đẵng chịu đựng khó nhọc của
Mẹ!
Rồi c̣n đau đớn nào bằng cái
đau đớn của Mẹ trong giờ phút sinh ra con. Nỗi
đau đớn của Mẹ như cắt da xẻ thịt,
và sự nguy hiểm mà Mẹ phải trải qua c̣n rùng rợn
hơn sự nguy hiểm của người vưọt
đại dương trong cơn giông tố băo bùng. Vậy
mà, vừa nghe được tiếng khóc chào đời của
con, trên môi Mẹ đă nở ngay nụ cười sung
sướng. Hạnh phúc tuyệt vời của Mẹ
đấy.T́nh thương vô biên của Mẹ đă biểu
lộ hồn nhiên trong nụ cười thiêng liêng ấy.
Và từ đó, ơn đức của Mẹ, công lao của
Mẹ cứ chồng chất măi trên người con, đến
suốt cả cuộc đời; không phải tính bằng
năm tháng ngày giờ, mà phải tính bằng sát na giây phút.
Con có thể quên đi mọi lời ca,
nhưng câu hát “Ḷng Mẹ bao la như biển Thái-b́nh rạt
rào ......” th́ không bao giờ con quên được. Tai con lúc
nào cũng như văng vẳng tiếng ru của Mẹ
ngày nào:
“À ơi,
“Công Cha như núi
Thái-sơn,
Nghĩa Mẹ
như nước trong nguồn chảy ra...”
Nước
nguồn th́ không bao giờ hết được; v́ nếu
nư1ơc nguồn mà hết, th́ sông biển sẽ cạn
khô. T́nh thương của Mẹ cũng bất tuyệt
như nước nguồn.
Thưa Mẹ kính yếu! Con là con của Mẹ.
Từ lúc c̣n là bào thai, con đă là con của Mẹ; mà măi cho
tới lúc tuổi già sức yếu, đầu bạc
răng long, con cũng vẫn là con của Mẹ. Đă là
con của Mẹ th́ bao giờ con cũng được gội
nhuần ơn đức của Mẹ. Dù Mẹ là bậc
toàn thiện, hay do nghiệp lực chúng sinh mà trong đời
Mẹ đă có phút nào gây nên lầm lỗi, th́ Mẹ vẫn
là Mẹ của con. Dù Mẹ đang sống bên con, hay
đang chia cách, hoặc mai sau Mẹ có măn phần, th́ Mẹ
vẫn là Mẹ của con. Ơn đức sinh thành dưỡng
dục của Mẹ như trời cao biển rộng,
không có thước nào để đo, không có cân nào để
lường, không có lời nào để diễn tả cho
cùng. Bởi vậy mà bao giờ con cũng tôn kính Mẹ,
tưởng nhớ Mẹ, báo hiếu Mẹ.
Nhân Ngày Của Mẹ, kính lạy mười
phương Chư Phật chứng giám, con luôn tự nhắc
nhở, con đang hưởng hạnh phúc có Mẹ hiện
tiền, con luôn hiếu dưỡng và thương kính Mẹ
để khỏi ân hận về sau lúc Mẹ qua đời; c̣n Mẹ đă qua
đời th́ con luôn luôn cầu nguyện cho Mẹ, phải
noi gương Mẹ mà sống ở đời, phải
tu thiện tích đức để hồi hướng
công đức ấy cho Mẹ được hưởng
phước báo nơi cảnh giới an lạc.
Con kính yêu Mẹ đời đời.
HIẾU TÂM của
ĐỨC PHẬT
Bấy giờ
là năm thứ 5 sau ngày thành đạo, đức Phật
về an cư tại tu viện Trùng-các trong rừng Đại-lâm,
ngoại ô thành T́-xá-li.
Một ngày nọ
sau mùa an cư, khi đức Phật đang an trụ trong
cảnh giới niết bàn tịch tĩnh, th́ bỗng nhiên
ḷng phát sinh một nỗi niềm bi thương ḱ lạ.
“Chắc là phụ vương đang lâm trọng bệnh,
sắp thăng hà!” Ngài nghĩ thế.
Quả
đúng như vậy. Chẳng bao lâu, có sứ giả của
vua Tịnh Phạn là hoàng thân Ma Ha Nam, từ kinh thành
Ca-t́-la-vệ đến tu viện, xin yết kiến đức
Phật, thưa rằng, đức vua bệnh t́nh nghiêm trọng,
sắp từ trần, đang rất mong được
trông thấy đức Thế Tôn lần chót!
Được
tin khẩn cấp ấy, không dám chậm trễ, Ngài liền
dẫn theo
Vua Tịnh Phạn
đang nằm trên giường ngự trong tẩm điện.
Hoàng hậu Ma Ha Ba Xà Ba Đề, công chúa Da Du Đà La, các quan
đại thần văn vơ, tất cả cung nữ đều
có mặt đông đủ. Mặc dù bệnh t́nh đă rất
trầm trọng, nhưng tinh thần đức vua vẫn
c̣n tỉnh táo. Thấy đức Phật về đến,
ngài liền nở nụ cười hoan hỉ, nét mặt
tươi tỉnh hẳn lên. Ngài từ từ đưa
tay ra, đức Phật ôm lấy cánh tay của ngài và ngồi
xuống bên giường ngự. Sau một khoảnh khắc
yên lặng, đức Phật đă nói bài pháp để
khai thị cho đức vua về sự kết hợp rồi
lại tan ră, rồi lại kết hợp, rồi lại
tan ră... của tứ đại. Ẩn sâu trong đôi mắt
đức Phật, người ta thấy được
niềm thương cảm vô biên của Người đối
với bậc sinh thành. Nan Đà th́ đă nấc lên thành tiếng,
A Nan và La Hầu La đều đă đầm đ́a nước
mắt, các quan và cung nữ th́ khóc lóc vô cùng thảm thiết.
Nhưng đức
vua mỉm cười bảo: “Các ngươi không
được khóc lóc thảm thiết như thế! Đức
Thế Tôn đă từng dạy, tất cả sự vật
là vô thường. Hiện tại ta cảm thấy đă
đạt được hạnh phúc chân thật. Thái tử
yêu quí của ta ngày trước, nay đă thành tựu
được quả vị Phật-đà tối tôn quí
trong khắp các cơi Trời, Người. Người đă
đạt được bản nguyện rộng lớn
trải từ muôn ngàn kiếp trước. Ta không những
rất được vinh diệu, mà c̣n hưởng
được trạng thái vô cùng an lạc do thực tập
lời dạy của Người. Trong giờ phút cuối
cùng của cuộc đời hôm nay, ta vẫn c̣n được
diễm phúc trông thấy đức Thế Tôn, khác nào
như ta được trông thấy ánh đại quang minh
trước khi nhắm mắt!”
Mọi
người đều im lặng lắng nghe, v́ ai cũng
hiểu rằng, đây là những lời nói vô cùng chân
thành, sáng suốt, và thật quan trọng của một
người trước phút ĺa đời. Không khí trong tẩm
điện trở nên tĩnh lặng, trang nghiêm dị
thường. Đức vua nói xong, từ từ chắp
hai tay lên ngực, nhờ Phật cử người kế
vị ḿnh. Đức Phật đă tiến cử hoàng thân
Ma Ha
Đức Phật
đứng dậy, đặt hai tay của đức vua
xuôi thuận ngay ngắn trở lại, ra hiệu cho mọi
người nín khóc để chú tâm hộ niệm cho đức
vua.
Di thể của
vua được tắm rửa bằng dầu thơm, và
liệm bằng các loại gấm vóc sang quí nhất. Kim quan
của đức vua được gắn lên các loại
ngọc thạch quí giá, đặt ngay chính giữa đại
điện, có các tấm trướng trân châu treo chung quanh.
Hoa tươi đủ màu được rải khắp
nơi. Đức Phật và đại đức
Đêm cuối
cùng trước ngày động quan, đại đức
“Bạch
đức Thế Tôn! sáng mai động quan, kính xin Thế
Tôn cho phép con được khiêng kim quan của phụ
vương.”
Hai đại
đức A Nan và La Hầu La nghe vậy, cũng đồng
xin đức Phật được cùng khiêng kim quan. Đức
Phật hứa khả:
“Tốt lắm!
Như Lai cũng sẽ khiêng kim quan cùng với quí thầy
và
Nhân dân toàn quốc
nghe tin vua Tịnh Phạn băng, đều vô cùng cảm
xúc, thương tiếc bùi ngùi. Dân chúng trong thành Ca-t́-la-vệ,
nghe nói chính đức Phật sẽ cùng với quí vị
đại đức vương tử vương tôn
khiêng kim quan đức vua từ hoàng cung đi đến
nơi trà t́, th́ lại càng cảm động. Mới sáng
tinh sương, họ đă lũ lượt kéo nhau đến
cửa hoàng cung, tự động sắp xếp nhau đứng
thành hàng dài hai bên đường, từ hoàng cung ra đến
hỏa đàn; khi kim quan di chuyển tới trước mặt
là họ qú xuống khóc lạy. Sau đó, họ tháp tùng
theo sau kim quan, ra đứng quanh hỏa đàn để dự
lễ trà t́.
Khi kim quan
đă ra đến địa điểm trà t́, nhiều vị
hoàng thân và các quan cùng phụ với đức Phật và
chư vị đại đức, đỡ kim quan đặt
trên hỏa đàn. Đức Phật đi nhiễu ba ṿng
quanh hỏa đàn, rồi nói một bài pháp về bốn cảnh
khổ sinh già bệnh chết, khuyên mọi người
phát tâm tu tỉnh, không ch́m đắm trong sự đam mê
ngũ dục. Sau khi nói bài pháp ngắn gọn, đức
Phật đă tự tay châm lửa cho hỏa đàn. Ngọn
lửa bùng cháy phừng phực, có tiếng chiêng tiếng
trống ḥa lẫn với tiếng tụng kinh hộ niệm
của chư tăng; tất cả thần dân đều
qú lạy, vừa thương tiếc một bậc quân
vương đức độ, vừa kính mộ đấng
Đạo Sư của cả trời người mà vẫn
giữ trọn đạo hiếu với đấng sinh
thành.
Tang lễ của vua Tịnh Phạn
đă được tổ chức vô cùng trang nghiêm trọng
thể. Nhân dịp này, theo lời dạy của đức
Phật, hoàng gia đă tổ chức một cuộc phát chẩn
thật qui mô để cứu tế những người
nghèo khó.
NGƯỜI ĐĂ
LƯỢM TÔI VỀ
Câu chuyện
xảy ra đă lâu lắm rồi, cũng phải gần 60
năm về trước.
Buổi sáng
hôm ấy, tận trong b́a Bắc của làng Ma-nương
(thuộc tỉnh Ninh-thuận, nằm trên quốc lộ
11, cách thị xă Phan-rang 10 cây số về hướng Tây),
một bọn trẻ con đang tụ tập chơi
đùa trước cổng một ngôi nhà tường gạch
mái ngói. Chủ nhân ngôi nhà này thuộc hạng giàu có nhất
nh́ trong làng. Hôm đó, chủ nhà có thỉnh Quí Thầy trên
chùa xuống tụng kinh tại nhà, nên lũ trẻ con rủ
nhau đến đó, vừa chơi đùa, vừa “coi thầy
chùa tụng kinh”. – Làng Ma-nương vào thời
đó, ngoại trừ một số vị lớn tuổi
có học chữ Hán, theo đạo Nho, và một ông “thầy
pháp”, c̣n th́ tất cả đều theo đạo Phật,
coi chùa như nhà thờ chung của cả làng, coi Quí Thầy
như cha, như bác chú, như anh em. Quí Thầy và dân làng (chỉ
trừ một hai ông nhà Nho cố chấp) đối xử
với nhau thật chân thành, thân thiết, như trong một
đại gia đ́nh. Dân làng có việc ǵ cũng lên chùa nhờ
Thầy; chùa có việc ǵ cũng nhờ dân làng (bất cứ
ai, tùy công việc và khả năng) lên giúp.
Bọn trẻ
hôm ấy có sáu bảy đứa, tuổi từ 6 đến
9, toàn con nhà nghèo, quần áo rách rưới, bẩn thỉu;
trong đó có tôi.
Vào khoảng
xế chiều, trong khi chúng tôi đang đùa giỡn ở
trước cổng ngôi nhà đó, bỗng một “ông Thầy”
từ trong ngôi nhà ấy đi ra, tiến tới chỗ tôi
đang ngồi, ngó thẳng mặt tôi, hỏi:
“Em tên ǵ?”
Ông Thầy ấy
lớn hơn tôi nhiều lắm, dám bằng các anh lớn ở
trong làng. Tôi vừa sợ, lại vừa cảm thấy
như thân thiện, bèn lí nhí trả lời:
“Thưa Thầy, em tên Côi.”
Ông Thầy lại
hỏi:
“Em có muốn ở chùa không?”
Thật là một
việc “th́nh ĺnh”! Lúc đó, trước cặp mắt trẻ
con và trong ư nghĩ non nớt của tôi, mấy “ông thầy
chùa” đang ụng kinh ở trong nhà kia thật là sung sướng!
Nào chuối nào xôi, nào kẻ bưng nước, nào người
cuối đầu, nào gơ mơ đánh chuông, nào tán tụng ê a…;
ở ngoài “thá”(*) có ai được sung sướng
như thế đâu! Cho nên nghe câu hỏi ấy th́ mừng
lắm, tôi rả lời liền, không sợ sệt ǵ hết:
“Dạ thưa Thầy, em muốn!”
“Nhà em ở đâu?”
Tôi liền dẫn
ông Thầy đi về túp lều tranh nhỏ bé. Tôi kêu: “Mẹ!” Mẹ tôi từ túp lều
tranh bước ra: “
Mấy ngày
sau, một buổi sáng, mẹ tôi cho tôi mặc bộ đồ
bà ba đen, “mới toanh!” – Quả là một chuyện lạ
chưa từng có! Dẫn tôi lên chùa, giao tôi cho ông Thầy
đă gặp tôi hôm trước. Ông thầy lại dẫn
tôi lên nhà Tổ lạy “Ông Thầy Cả” 3 lạy. “Ông Thầy
Cả” gật đầu mỉm cười. Ông Thầy lại
dẫn tôi ra bờ giếng, dội nước lên đầu
tôi cho ướt tóc, rồi cạo tóc cho tôi; cạo sạch
hết, chỉ chừa một cái “vá” ở mỏ-ác. Ông Thầy
bảo: “Bắt đầu từ
hôm nay em được ở chùa!” Tôi không c̣n nhớ
được cái cảm giác của tôi lúc đó thế
nào; có lẽ là mừng lắm. Tôi thấy hôm đó người
ta tới chùa đông đúc, hoa trái dâng đầy khắp
các bàn thờ, ai ai cũng vui vẻ, dù rất bận rộn.
Người lớn cho tôi biết, hôm ấy là ngày “Phật
Đản”…
Nghiệp lực
lâu đời đă xô tôi xuống ḍng sông mê, trôi lăn các nẻo,
bơ vơ giữa cảnh đời tối tăm. Hôm
đó ông Thầy đă “nh́n thấy” tôi, và đă lượm
tôi về. “Ông Thầy” hồi đó chính là Ḥa Thượng
Thích Đỗng Minh ngày hôm nay, chính NGƯỜI ĐĂ LƯỢM
TÔI VỀ, đă lượm tôi ở giữa chợ đời
tối tăm để đem về đất Phật,
chỉ bảo cho tôi cách nh́n lại diện mục của
ḿnh. Nhưng thật uổng công Người, v́ tôi chẳng
chuyển được nghiệp ḿnh, lại lặn hụp
trong bùn lầy thế tục, cũng chẳng làm nên công trạng
ǵ gọi là xứng đáng với t́nh thương và ḷng
trông cậy của Người.
Kính lạy Giác Linh Thầy,
Con thật là kẻ bất tiếu,
Cả đời phóng dật,
tùy nghiệp trôi lăn.
Hôm nay Thầy đă về Tây,
Sực nh́n lại ḿnh,
Con vẫn nghiệp chướng
sâu dầy;
Lại bỗng giật ḿnh,
Con chưa đáp đền công
ơn cứu độ.
Giờ đây trước Giác
Linh Thầy,
Con xin tâm thành sám hối,
Nguyện sửa đổi thân
tâm,
Chuyên cần Phật sự.
Kính mong Thầy từ bi chứng
giám.
Kính lạy Giác Linh Thầy,
Pháp đệ, cư sĩ Hạnh
Cơ
Miền Tây Gia-nă-đại, mùa
Phật Đản PL 2550
(*) Ở làng
tôi, vào thời đó, dân làng gọi “ngoài đời” là
“NGOÀI THÁ” ; trái lại là “trong chùa”.
AN CƯ
AN CƯ là một
trong các pháp chế trọng yếu trong đời sống
tu hành của Tăng Đoàn Phật giáo. Chữ “cư” nghĩa là ở; chữ “an” nghĩa là yên,
tức là, thân th́ không đi ra khỏi chùa, tâm th́ chuyên cần
tu học, luôn giữ chánh niệm, không chạy theo trần
cảnh bên ngoài, không để ư đến các chuyện thế
sự. Vậy, “an cư” là ở yên một
chỗ, chuyên cần tu tập, giữ cho thân tâm tĩnh lặng,
thanh tịnh.
Sự “ở
yên một chỗ” này bao hàm những ư nghĩa rất
quan trọng đối với người xuất gia.
Nguyên v́ ở xứ Ấn-độ, mùa hè trời mưa
nhiều, cỏ xanh mọc rậm, côn trùng sinh sôi nẩy nở
ḅ khắp các nẻo đường, cho nên, chư tăng
an cư là để tránh dẫm đạp làm chết côn
trùng, thương tổn ḷng từ bi của người
tu hành. An cư là để xây dựng và củng cố nếp
sống ḥa hợp của tăng đoàn. Tăng đoàn có
ḥa hợp th́ mọi người được an lạc
thanh tịnh, không khí tu học trang nghiêm tinh tấn, trưởng
dưỡng tâm bồ đề bền vững. Chư
tăng an cư cũng là dịp thuận tiện để
cho quần chúng gieo trồng duyên lành trong ruộng phước
Tam Bảo, là hoàn cảnh tốt cho chư Phật tử tu
tạo phước đức qua tâm hạnh cúng dường
bốn thứ nhu yếu (cơm
nước, y phục, thuốc thang, giường mền),
cũng như phát huy trí tuệ qua việc gần gũi,
nương dựa chư tăng để học tập
kinh điển, luận bàn giáo pháp.
Chế độ
An Cư vốn đă được các đạo sĩ
Bà-la-môn Ấn-độ áp dụng từ thời cổ
đại, trước khi giáo đoàn Phật giáo xuất
hiện. Về sau, v́ thấy sự lợi ích của hạnh
tu này, đức Phật đă cho áp dụng nó trong nếp
sống Tăng đoàn. Sau khi thành đạo, đức Thế
Tôn đến vườn Lộc-giă độ cho 5 vị
sa môn nhóm Kiều Trần Như, kế tiếp Ngài độ
cho công tử Da Xá cùng 54 người bạn của chàng. Bấy
giờ đức Phật đă có tất cả 60 vị
đệ tử t́ kheo đều chứng quả A-la-hán;
đó là Tăng đoàn khởi thỉ của Phật giáo.
Vừa kịp đến mùa mưa, đức Phật
đă hướng dẫn họ thực tập sinh hoạt
an cư ngay tại vườn Lộc-giă. Đây là mùa an
cư đầu tiên của đức Thế Tôn cũng
như của giáo đoàn Phật giáo, nhưng phải đến
năm sau, tại tinh xá Trúc-lâm, truyền thống An Cư của
Phật giáo mới được đức Thế Tôn
chính thức thiết lập. Công viên Trúc-lâm ở gần
kinh thành Vương-xá của nước Ma-kiệt-đà,
đă được vua Tần Bà Sa La hiến cúng lên đức
Phật để xây cất tinh xá làm nơi cư trú và hành
đạo cho Phật và giáo đoàn. Tinh xá xây cất xong th́
vừa kịp đến mùa mưa, nhân đó mà đức
Phật thiết lập pháp chế An Cư một cách chính
thức vào năm đó. Đức Phật dạy: Mùa
mưa không tiện lợi cho việc du hành đây đó.
Cho nên mỗi năm vào đầu mùa mưa, các thầy t́
kheo cần tụ về một nơi thuận tiện
để an cư trong ba tháng, vừa để cùng nhau tu học,
vừa tránh được sự ướt át và dẫm
đạp lên các loài côn trùng thường ḅ ra đầy dẫy
trên đường đi. Trong suốt ba tháng an cư, các
thiện nam tín nữ có thể mang thực phẩm tới
các trung tâm an cư để cúng dường chư tăng
và nghe chư tăng giảng dạy giáo pháp.
Dù đức
Phật đă dạy như thế, nhưng v́ sinh hoạt
An Cư lúc ấy c̣n quá mới mẻ, Phật tử
chưa quen lắm với việc đem thực phẩm
đến tinh xá cúng dường chư tăng – mà chư
tăng đông đến cả ngàn vị, – ngày có ngày
không, chưa được đều đặn, cho nên vẫn
có những ngày chư tăng phải đi vào thành hoặc
các làng xóm để khất thực. Đó là việc bất
đắc dĩ, nhưng giáo đoàn đă bị quần
chúng ngoại đạo đàm tiếu. Họ nói: Các đạo
sĩ khác vẫn có những tháng ở yên trong mùa mưa, c̣n
các sa môn Thích tử sao không có thời gian ở yên, vẫn cứ
đi lại đó đây, cứ dẫm đạp lên cỏ
non và các loài côn trùng mà không biết thương xót... Đức
Phật biết được điều này, mấy
năm sau, khi sinh hoạt An Cư đă trở nên thuần
thục, hàng Phật tử đă quen thuộc với pháp hạnh
cúng dường, tại tinh xá Ḱ-viên (gần kinh thành Xá-vệ, nước Kiều-tát-la –
do trưởng giả Cấp Cô Độc xây cất vào
năm thứ 4 sau ngày Phật thành đạo), đức
Phật đă thực sự ban hành lệnh “cấm túc an cư”
cho toàn thể tăng đoàn, bất cứ trung tâm an cư
nào của giáo đoàn Phật giáo, đều phải thi
hành nghiêm cẩn.
Dưới
triều đại vua A Dục (thế
kỉ thứ 3 trước Tây lịch), với nhiệt
tâm hộ tŕ Phật pháp của nhà vua, Phật giáo đă
được truyền bá ra khỏi biên thùy Ấn-độ,
lan rộng đến các nước vùng Tây-vực, Miến-điện,
Tích-lan v.v... Phật giáo có mặt ở đâu th́ pháp chế
An Cư vẫn được thực hành như là một
nếp sinh hoạt quan yếu trong đời sống
tăng đoàn.
Phật giáo
Việt-nam cũng y theo giới luật mà tuân hành pháp chế
An Cư như các nước khác trên thế giới. Việc
An Cư được tổ chức thường xuyên
hàng năm, và kéo dài trọn 3 tháng mùa hạ (từ ngày 16
tháng 4 đến ngày Rằm tháng 7 âm lịch). Trong thời
gian 3 tháng này, người xuất gia không được
đi ra ngoài làng xóm phố phường, mà phải vân tập
tại một chốn già lam (chùa,
tu viện, ṭng lâm – thường được gọi là
“Trường Hạ”), chuyên tâm tu tập giới định
tuệ, luận bàn Phật pháp, trao đổi với nhau
những kinh nghiệm hành đạo, giảng dạy giáo
lí và hướng dẫn tu tập cho quần chúng Phật tử;
c̣n các điều nhu yếu cho đời sống hằng
ngày như cơm nước, thuốc thang v.v..., chư
tăng không phải bận tâm lo lắng, v́ đă có chư
Phật tử hộ tŕ. Ngoài chế độ An Cư mùa
hạ, một số chùa c̣n tổ chức thêm khóa An Cư
vào 3 tháng mùa đông (từ ngày 16 tháng 9 đến ngày Rằm
tháng Chạp âm lịch), cũng v́ mục đích “tấn tu
đạo nghiệp”. Đó là hoàn cảnh ở Việt-nam.
Từ sau năm 1975, chư tăng ni Việt-nam vượt
biên ra các nước ngoài sống đời tị nạn,
v́ hoàn cảnh, tập quán, văn hóa, nếp sống v.v... ở
xứ người đều đổi khác, việc an
cư hàng năm đă phải bị gián đoạn đến
cả thập niên, đến khi tổ chức lại
được th́ cũng không dễ dàng kéo dài 3 tháng như
ở Việt-nam, mà thường th́ chỉ trung b́nh 2 tuần
lễ (có nơi 1 tuần, có nơi 1 tháng). Đến mùa an
cư, chư tăng ni khắp nơi phải thu xếp mọi
công việc ở chùa ḿnh, cùng vân tập về địa
điểm qui định để nhập chúng an cư.
Dù chỉ 10 ngày hoặc 2 tuần lễ, nhưng vẫn có
vài vị, v́ hoàn cảnh bất khả kháng, không thể tụ
về “Trường Hạ” nhập chúng an cư, đành phải
xin phép Đại Tăng cho được thọ tŕ pháp “tâm niệm an cư” ngay tại
trú xứ của ḿnh. Đó là điều “đáng tiếc”,
nhưng lại là t́nh h́nh thực tế trong đời sống
hiện tại, cho nên đứng trên tinh thần giới
luật, đại chúng đều hoan hỉ.
Pháp chế An
Cư tu học, nếu được đại chúng thực
hành chí thành, đúng mức, th́ đó thật là nguồn
năng lực lớn lao để củng cố tinh thần
ḥa hợp thanh tịnh của Tăng già; trưởng
dưỡng tâm bồ đề ngày càng lớn mạnh, bền
chắc; giúp cho sự nghiệp nhiếp hóa chúng sinh thành tựu
viên măn. Chư vị thiện nam tín nữ cũng
nương nhờ uy đức rộng lớn như biển
của Đại Tăng mà tâm linh thăng tiến; nhờ
tu học Phật pháp mà trí tuệ phát triển; nhờ thành
tâm tu hạnh bố thí cúng dường mà phước đức
sâu dầy, duyên lành đối với Phật pháp sẽ kết
chặt vững bền măi măi về sau.
Công đức
Chư Tăng thật vô lượng!
Công đức
chư Phật tử thật vô lượng!
Chư Phật
mười phương đều hoan hỉ!
NHỚ TÔN SƯ
(Thành tâm nhớ tưởng bậc Tôn Sư,
cố Đại Lăo Ḥa Thượng THÍCH HUYỀN
QUANG,
Đệ Tứ Tăng Thống GHPGVNTN)
Kính
bạch Giác Linh Ôn,
Từ khi nghe tin Ôn trở bệnh nặng, phải
vào nằm bệnh viện Qui-nhơn, chúng con, những
đứa học tṛ cũ của Ôn từ giữa thập
niên 50 của thế kỉ trước, ở Nha-trang, hiện
đang sống lưu lạc ở hải ngoại (đa số là thành viên của
Ban Bảo Trợ Phiên Dịch Pháp Tạng Việt Nam),
đă bàn bạc xôn xao, bồn chồn lo lắng cho một
sự mất mát to lớn chẳng biết sẽ xảy
ra cho ḿnh vào lúc nào! Chúng con phải chuẩn bị tinh thần
để chịu đựng cái biến cố trọng
đại này. Tuy vẫn biết rằng, thuận thế
vô thường là việc đương nhiên của bậc
Đại-sĩ, thế mà, sáng sớm ngày 5 tháng 7 năm
nay, 2008, ở đạo tràng An Cư của Chư Tăng
Canada và Hoa-ḱ, tại chùa Bát-nhă, Calgary - Alberta - Canada, khi vừa
nghe Chư Tăng Trường Hạ cho biết, Ôn mới vừa viên tịch tại
Tu Viện Nguyên Thiều, con bàng hoàng sửng sốt, nghẹn
ngào thầm khóc trước Chư Tăng, tinh thần trở
nên yếu đuối, nỗi đau buồn cứ dâng cao,
không có sức ǵ kềm chế được!
Bây giờ là cuối tuần thứ ba từ
hôm Ôn viên tịch. Trong những ngày qua, con vẫn ngồi
đây, trong pḥng dịch kinh, vừa dịch kinh vừa cố
ôn lại những kỉ niệm thân thương mà Ôn và
chúng con từng trải qua trong đời. Hồi đó,
con chỉ là một đứa học tṛ rất nhỏ của
Ôn, tuổi chừng 14, 15 ǵ đó, mà bây giờ con cũng
đă vói tới tuổi 70 rồi. Thời gian đă thật
xa, cuộc đời nhiều lo toan cực nhọc, đến
hôm nay th́ tâm tư mỏi ṃn, trí nhớ c̣m cơi, chuyện
xưa con chắc chẳng c̣n nhớ được bao
nhiêu! Thôi th́ cứ nhớ được chuyện ǵ, con
xin nhắc lại chuyện đó, để... nhớ Ôn!
Kính bạch Giác Linh Ôn! Con c̣n nhớ, lúc đó
là năm 1954, sau hiệp định Genève mấy tháng, Ôn
đă từ B́nh-định vào Phật Học Đường
Nha Trang, và được thỉnh cử làm Giám-đốc
để điều hành Phật-học-đường
này. Ngôi trường Phật học này đặt tại
chùa Long-sơn, trụ sở Hội Phật Học Khánh-ḥa
(Ôn Thiện Minh làm Hội-trưởng), đă được
mở từ năm 1952 (do ngài Thích Định Tuệ làm
Giám-đốc), nằm trong chương tŕnh chấn
hưng Phật giáo và đào tạo tăng tài do Giáo Hội
Tăng Già Trung Việt (lúc đó) chủ trương. Với
trách nhiệm đào tạo tăng tài cho Giáo Hội, Ôn cùng
với Ôn Trí Thủ, Ôn Thiện Minh, đă từng du hành qua
các tỉnh Trung-phần Việt-nam, đến các chùa, kể
cả những ngôi chùa ở tận các làng xă hẻo lánh, vận
động quí thầy Trụ Tŕ cho các đệ tử “về”
ở Phật Học Đường Nha Trang tu học. Tâm
chân thành của Quí Ôn đă được phần đông
các chùa hưởng ứng, cho nên, điệu chúng từ
Đà-lạt, Phan-rang, Phan-thiết, Phan-rí, Nha-trang, Phú-yên,
B́nh-định..., trước sau lần lượt qui tụ
về Phật-học-đường, con số học
chúng đến gần trăm vị, chia ra có “lớp lớn”
và “lớp nhỏ”.
“Lớp Nhỏ” chúng con hồi đó có Thắng,
Vinh, Khánh, Tâm, Dần, Kư, Đích, B́nh, Ḥa, Sanh, Thiên, Ngộ,
Lạc, Chút, Ninh, Chánh, Đài, Xây, Lợi, Trí, Đường,
Kính, Thành, Dự, v.v... ba, bốn chục điệu. Chúng
con được cho học đầy đủ song song
hai chương tŕnh nội điển và ngoại điển.
Ban ngày th́ học ngoại điển ở trường Bồ-đề;
tối đến th́ học nội điển. Hồi
đó Ôn vừa làm giám đốc, vừa làm giáo thọ. Con
nhớ Ôn đă dạy chúng con môn Duy Thức, bằng tác phẩm
Duy Thức Tam Thập Tụng.
Một hôm, nhân dạy đến câu “Hằng chuyển như bộc lưu”, sau khi giảng
giải, Ôn đă gọi con lên đứng trước bảng
đen, hỏi: “Con có hiểu
không?” Con thưa: “Dạ
thưa Thầy, con hiểu.” Ôn bảo: “Con hiểu thế nào, nói cho chúng nghe!” Con vâng lời,
nói về ḍng thác, mới nh́n th́ thấy như một tấm
vải trắng dài lớn, nhưng sự thật là do vô số
giọt nước nối tiếp nhau chảy xiết làm
thành. Để thấy rơ bằng sự vật trước
mắt, con đă chạy đi thắp một cây nhang, cầm
cây nhang ấy quay nhanh thành ṿng tṛn th́ thấy rơ ràng là một
ṿng lửa, như thể do một sợi dây lửa đỏ
làm thành; mà sự thật, cái “ṿng dây lửa đỏ” ấy
là do từng đốm lửa nối tiếp nhau làm thành.
Tâm thức trong đời sống hằng ngày cũng vậy,
là do niệm niệm nối tiếp nhau trôi chảy, thay
đổi vô thường, chỉ có chân tâm mới là không
sinh diệt. Ôn khen: “Giỏi!”
Đối với quí thầy ở “Lớp Lớn”,
ngoài chương tŕnh tu học ở học đường,
Ôn cùng Ôn Thiện Minh c̣n huấn luyện cho quí thầy trở
thành những vị giảng sư của Giáo Hội. Vào
các dịp lễ lớn của Phật giáo, Quí Ôn đă phân
phái quí thầy về từng chi hội, khuôn hội, từ
tỉnh thành cho đến quận huyện, làng xă nơi
thôn quê hẻo lánh, để diễn giảng và hướng
dẫn tu học cho Phật tử. Quí thầy Đỗng
Quán, Đỗng Minh, Trừng San, Đồng Thiện,
Như Bửu, Nguyên Trạch, Đồng Từ, Liễu
Không, Từ Hạnh, Tâm Lâm, Nguyên Hồng, Như Cầu, Từ
Mẫn, Thiện Nhơn, Thiện Duyên, Như Huệ, v.v...
cũng đến hai, ba chục thầy, đều là những
tăng sĩ xuất sắc của Giáo Hội được
đào tạo trong thời gian đó.
Không những Ôn rất quan tâm đến vấn
đề học tập và hạnh kiểm của tăng
ni sinh, mà đối với sự tu học của hàng
cư sĩ phật tử Ôn cũng hết ḷng chú trọng.
Con c̣n nhớ, hồi đó Ôn có soạn từng bài giáo lí ngắn,
làm thành từng tập sách nhỏ, gọi là “Tài Liệu Học Tập Phật
Pháp”; rồi thỉnh thoảng Ôn tổ chức một
khóa học Phật pháp cho Phật tử tại các Niệm
Phật Đường của các khuôn hội trong thành phố
Nha-trang và các vùng phụ cận. Lớp học được
mở mỗi buổi tối, hoặc cách một tối,
kéo dài đến vài ba tuần, Ôn phân nhiệm quí thầy
đi dạy, mỗi Niệm Phật Đường là một
thầy. Nhờ sự giáo dục ân cần này mà quần
chúng Phật tử đều thấm nhuần Phật
pháp, tinh thần phấn chấn, ḷng tin Tam Bảo sâu đậm,
tâm đạo kiên cố, hàng ngũ ngày càng đông đảo,
oai nghi chỉnh tề; khiến cho vào thời đó, Phật
giáo Việt-nam tuy đang bị chính quyền ḱ thị, vẫn
nghiễm nhiên trở thành một tôn giáo có thế lực quần
chúng mạnh mẽ nhất!
Kính bạch Giác Linh Ôn! Đến năm 1957 th́
có sự thay đổi quan trọng: Theo quyết định
của Giáo Hội Tăng Già Trung Việt, hai Phật-học-đường
Báo-quốc (Huế) và Nha-trang được đem sáp nhập
lại, lập thành Phật Học Viện Trung Phần,
đặt tại chùa Hải-đức, Nha-trang. Phật-học-viện
này do Ôn Trí Thủ làm Giám-viện, Ông Thiện Siêu làm Đốc-giáo,
c̣n Ôn th́ được thỉnh cử làm Tổng-thư-kí.
Sang năm sau th́ Ôn về lại B́nh-định để
kiến lập Tu Viện Nguyên Thiều, từ đó, con
không được sống gần Ôn nữa. Cho măi đến
năm 1963...
Mùa Phật Đản năm 1963, trong khi chúng
con đang thi hành công tác Phật sự tại các tỉnh miền
Trung, th́ được nghe phong thanh có lệnh của chính
quyền không cho phép Phật giáo được treo giáo ḱ
trong ngày lễ Phật Đản. Các chùa hay trụ sở
hội Phật học nào đă lỡ treo cờ Phật
giáo đều phải hạ xuống hết. Chúng con thật
hoang mang. Khi công tác vừa hoàn măn, chúng con về lại các
chùa Tỉnh Hội của các tỉnh địa
phương, mới biết được tin tức rơ
ràng, xác thật là như vậy, nh́n trụ sở Tỉnh
Hội, không có lá giáo ḱ nào được treo, khác với
mùa Phật Đản các năm trước, cờ xí khắp
nơi, rợp trời! Tức tốc, từ các tỉnh xa
xôi (như Pleiku, Kontum, Ban-mê-thuột, Đà-lạt, Lâm-đồng,
Phan-thiết), không hẹn mà chúng con, hoặc bằng xe lửa,
hoặc bằng xe đ̣, đều cùng trở về
Sài-g̣n. Khoảng sau giờ ngọ ngày 15.5.1963, chúng con lục
tục về tới chùa Già-lam (được xây cất
năm 1960 tại Gia-định). Chúng con liền điểm
mặt nhau: Đích (Nguyên Phương), Dần (Thiện
Thông), Ḥa (Nguyên Thuận), Lợi (Hạnh Cơ), Kư (Đức
Hạnh), Trí (Nguyên Lượng)..., rồi đâu có kịp
ăn uống ǵ, chúng con dùng xe đạp, kéo nhau hết lên
chùa Ấn-quang để xem sự t́nh ra sao. Lên đến
nơi, chúng con vào ngay trong giảng đường, th́ thấy
Ôn và Ôn Quảng Độ đă ngồi ở đó từ
lúc nào rồi! Hai Ôn đang làm ǵ mà thấy rất bận rộn,
giấy tờ cả đống, soạn tới soạn
lui... Chúng con vào cúi đầu xá hai Ôn, rồi cùng thưa:
“Thưa Thầy, có việc ǵ cho chúng con làm ngay bây giờ
không?” Chúng con thấy Ôn vui hẳn ra, bảo: “Nếu các chú
rảnh, th́ ngay bây giờ, Thầy nhờ các chú chia nhau
đến tất cả các chùa tăng, chùa ni trong đô
thành, mời tất cả tăng ni, 3 giờ chiều ngày
mai qui tụ về giảng đường chùa Ấn-quang
để nghe Quí Thầy nói chuyện về t́nh h́nh Phật
giáo.” Chúng con vâng lệnh thi hành tức khắc; và như thế
là cuộc tranh đấu của Phật giáo chống lại
chính sách ḱ thị và đàn áp Phật giáo của chính quyền
Ngô Đ́nh Diệm bắt đầu... Sau đó th́ Ủy
Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo được thành lập
để chính thức tiến hành cuộc đấu tranh
trên toàn lănh thổ VNCH, trụ sở hoạt động
được đặt tại chùa Xá-lợi, Sài-g̣n, Ôn Tâm
Châu làm Chủ-tịch, và chính Ôn đảm nhận chức
vụ Tổng-thư-kí. Với chức vụ này, ngoài việc
điều hành mọi công tác hành chánh, soạn thảo mọi
thông bạch, thông cáo, công văn giao dịch với chính quyền
v.v..., Ôn c̣n tự tay soạn các tài liệu (kể cả
truyền đơn) dùng vào công cuộc tranh đấu. Công
việc thật nhiều, Ôn làm việc ngày đêm, cho nên
trong thời gian ấy Ôn đă cư ngụ luôn tại chùa
Xá-lợi. Trong lúc đó th́ con làm thư kí riêng cho Ôn Thiện
Minh, cho nên cũng phải ở luôn tại chùa Xá-lợi; do
đó mà con lại được dịp gần gũi và
liên lạc công việc thường xuyên với Ôn trong suốt
thời gian đó. Cho đến giữa khuya ngày 20.8 năm
ấy...
Kính bạch Giác Linh Ôn! Ôn biết rơ về những
vấn đề cốt lơi trong cuộc tranh đấu của
Phật giáo Việt-nam với chính quyền độc tài
Ngô Đ́nh Diệm, v́ Ôn là một trong những “chiến
lược gia” tham mưu của phong trào tranh đấu.
Phật giáo th́ thuần túy bất bạo động, c̣n
chính quyền th́ có trong tay thật dồi dào các
phương tiện đàn áp. Trong thời gian đó đă
có nhiều cuộc bàn thảo giữa hai bên để mong
phía chính quyền giải quyết ổn thỏa các yêu sách
chính đáng của Phật giáo, nhưng thay v́ thành tâm giải
quyết sự việc, đem lại an vui cho dân chúng, th́
chính quyền cứ hứa hươu hứa cuội, dằng
dai kéo dài thời gian để t́m cách triệt hạ Phật
giáo cho bằng được. Ngày 11 tháng 6, Bồ Tát Quảng
Đức tự thiêu để cầu nguyện cho pháp nạn
Phật giáo. Hôm Ôn bưng quả tim kim cương của Bồ
Tát Quảng Đức (c̣n lại sau khi tự thiêu) đứng
trong chánh điện chùa Xá-lợi, h́nh ảnh Ôn lúc đó thật
trang nghiêm, mọi người đă sụp lạy; h́nh ảnh
ấy con c̣n nhớ măi... Ngọn lửa tự thiêu đă
làm chấn động cả thế giới, đă làm cho cả
loài người bàng hoàng sửng sốt. Rồi vào giữa
tháng 6, do áp lực từ nhiều phía, chính phủ phải
chấp nhận ngồi họp với Phật giáo để
giải quyết những yêu sách của Phật giáo
đưa ra. Cuộc họp quan trọng ấy đă diễn
ra tại hội trường Diên-hồng, giữa một
bên là Ủy Ban Liên Bộ, đại diện chính phủ
Ngô Đ́nh Diệm, và một bên là Phái Đoàn đại diện
Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo. Phái đoàn Phật
giáo do Ôn Thiện Minh làm trưởng phái đoàn, thành viên có
Ôn Tâm Châu và Ôn Thiện Hoa; Ôn là thư kí của phái đoàn,
và thầy Đức Nghiệp là phó thư kí. Hôm đó con
cũng may mắn được ôm cặp theo hầu Ôn Thiện
Minh, được ngồi trong một góc để quan
sát cuộc họp. Trong cuộc họp đó, Quí Ôn, tuy ngôn
từ khiêm cung từ tốn, nhưng luôn luôn tràn đầy
uy lực, lúc nào cũng ở thế thuyết phục
đối với bất cứ vấn đề ǵ. Đối
với những chuyện ḱ thị đối xử và
đàn áp Phật giáo của chính quyền, do Ôn Thiện Minh
đưa ra, bên chính phủ đều chối bỏ;
nhưng đâu có chối được, v́ Ôn ngồi ngay
bên cạnh đó, với nhiệm vụ thư kí, Ôn có
trước mặt tập hồ sơ dầy cộm, cả
trăm trang đánh máy, chứng cớ rành rành, đầy
đủ đây mà! Sau cùng, cuộc họp kết thúc với
bản Thông Cáo Chung 5 điểm,
đều có lợi cho Phật giáo. Nếu bản Thông Cáo Chung này được
chính quyền thực tâm thi hành th́ xă hội đă thái b́nh,
nhân dân an lạc. Nhưng không, họ vẫn một mực
muốn tiêu diệt Phật giáo, việc kí bản Thông Cáo Chung chỉ là bước
nhượng bộ nhằm xoa dịu t́nh h́nh trong nhất
thời, để rồi t́m kế sách hữu hiệu mới
cho việc đàn áp Phật giáo. Bởi vậy, sau đó, bản
Thông Cáo Chung đă không
được chính phủ thi hành, mà sự đàn áp của
chính quyền lại ngày càng gia tăng mạnh mẽ trên
toàn quốc, mánh khóe trấn áp cũng ngày càng tinh vi hơn.
Và theo đó, cuộc đấu tranh của Phật giáo, tuy
vẫn thuần túy bất bạo động, cũng
đă ngày càng quyết liệt hơn. Kết quả, việc
phải tới đă tới, đêm 20 rạng ngày 21 tháng 8,
chính quyền đă sử dụng các lực lượng
tinh nhuệ nhất của chế độ, đồng
loạt tấn công vào các chùa viện trên toàn quốc, bắt
hết chư tăng ni và Phật tử đem bỏ tù!
Riêng tại chùa Xá-lợi, như được
người thân tín mật báo trước, buổi chiều
hôm ấy, Ôn bảo nhỏ cho tất cả Phật tử
hăy về nhà trước khi trời tối, chỉ có
tăng ni là vẫn ở lại tiếp tục làm phận
sự của ḿnh. Ôn và Ôn Tâm Châu ngầm chỉ thị cho
quí thầy Ban Trật Tự tăng cường nhân sự,
chuẩn bị pḥng thủ nghiêm mật. Từ giờ phút
đó, cổng chùa đóng chặt, chỉ có Phật tử
trong chùa ra về, c̣n ở ngoài th́ không ai được vào
chùa, kể cả tu sĩ; ngoại trừ các tăng ni vốn
làm việc trong chùa, ra ngoài đi công tác về trễ. Tối
đó, khóa lễ Tịnh Độ vẫn cử hành
như thường; mọi công việc (đánh máy, quay
ronéo tài liệu, sắp xếp truyền đơn, vẽ
bích chương v.v...) vẫn làm theo giờ giấc. Rất
nhiều bao ni-lông và chanh cắt từng miếng sẵn
sàng (để “chống” lựu đạn cay!). Sau 10 giờ
th́ đèn đuốc tắt hết, chỉ để lại
vài ngọn đèn lù mù trong các pḥng và chánh điện, một
không khí chờ đợi nặng nề bao phủ khắp
chùa; tất cả chư tăng ni hiện trú, từ bậc
lănh đạo tối cao là Ôn Pháp Chủ Tịnh Khiết,
xuống đến các chú sa di làm việc vặt, đều
chuẩn bị tinh thần cho một cuộc tấn công của
chính quyền vào chùa trong đêm nay, chưa biết chắc
là vào giờ nào, và tấn công như thế nào!
Cuối cùng rồi tai nạn cũng đă
đến với chư tăng ni. Hơn 1 giờ khuya th́
cuộc tấn công bắt đầu. Từng bóng người
nhảy từ hàng rào vô sân chùa. Cổng chùa bị bẻ khóa, mở toang.
Lựu đạn cay, lựu đạn khói được
ném tới tấp vào các pḥng ở tầng dưới, tầng
trên, chánh điện, tháp chuông, khói cay mù mịt khắp
nơi. Tuy trong tay không có tấc sắt, nhưng cuộc chống
đỡ, kháng cự của quí thầy Ban Trật Tự
cũng mạnh mẽ, kiên cường lắm. Nhưng dù
có chống đỡ th́ cũng chỉ như trứng chọi
đá mà thôi, cho nên sau hơn một tiếng đồng hồ
dằng co, nhiều thầy và cô bị ói mửa, ngạt
thở, nhiều thầy đă bị thương, có thầy
c̣n bị thương rất nặng; tất cả
tăng ni trong chùa, lần lượt bị họ lôi hết
ra để ngồi trên sân chùa. Lúc đó con để ư
nh́n, nhưng không biết Quí Ôn ở đâu. Sau khi họ lục
lọi khắp các nơi xó xỉnh trong chùa để biết
chắc là không c̣n sót ai núp ở đâu, họ “lùa” hết
chư tăng ni ra đường. Một đoàn xe “bít
bùng” đă đậu chờ sẵn, từng toán tăng ni
bị “lùa” lên xe, rồi đoàn xe chuyển bánh, chạy
đi trong đêm khuya. Những chiếc xe “nhà binh”
được phủ che kín mít, người ngồi bên
trong không có cách ǵ nh́n thấy phố sá ở hai bên
đường. Họ chẳng cần bịt mắt ai cả,
nhưng chẳng ai biết được họ chở
ḿnh đi đâu, chỉ có cảm giác rằng, lúc này xe chạy
thẳng, bây giờ xe quẹo phải, bây giờ xe quẹo
trái, lúc này xe chạy thẳng..., thế thôi; dù vậy, con
cũng mường tượng được là xe đang
chạy hướng về Chợ-lớn. Xe chạy loanh
quanh cũng khá lâu, chắc mất khoảng gần tiếng
đồng hồ, rồi dừng lại. Có lệnh bảo
xuống xe. Họ rọi đèn sáng choang, mới thấy
ḿnh đang đứng trong sân của một đồn cảnh
sát, có hàng rào dây kẽm gai thật cao, bao bọc chung quanh,
có hàng trăm cảnh sát dă chiến canh giữ. Chư
tăng ni xuống xe hết rồi, đoàn xe ra khỏi
đồn cảnh sát, cánh cổng sắt to lớn
được đóng lại. Có lệnh tất cả vào
bên trong đồn, và thủ tục ghi danh “nhập trại”
bắt đầu. Thật là bất ngờ, v́ đây là
chuyện con không hề nghĩ tới: trong khi mọi
người sắp hàng vào ghi danh, con nh́n thấy người
đứng trước con ba bốn thầy, chính là Ôn! Và
người đứng cách trước Ôn hai ba thầy, lại
là Ôn Trí Quang! Ôi, con vui mừng biết bao nhiêu, đâu có niềm
vui nào to lớn hơn, trong cảnh hoạn nạn mà
được có Quí Ôn bên cạnh như thế này! Bạch
Ôn, con không hề nghĩ tới chuyện này là tại v́,
theo chúng con biết, tất cả hàng lănh đạo cao cấp
của phong trào tranh đấu Phật giáo (như Ôn Pháp Chủ,
Ôn Tâm Châu, Ôn Thiện Minh, Ôn Quảng Độ v.v...) đều
bị chính quyền giam giữ biệt lập; cho nên chúng
con, ai cũng yên chí là không có Ôn nào được đưa
vào đồn cảnh sát này cả; chỗ này toàn là đám
cấp dưới mà thôi. C̣n một điều nữa
cũng khá lạ lùng: không ai bảo ai, mà trong lúc khai tên cho cảnh
sát làm danh sách, tất cả đại chúng đều tự
động chỉ khai tên tục, không khai pháp danh, cả
hai Ôn cũng vậy. Mà họ cũng không bắt phải
tŕnh căn cước, không đ̣i phải khai pháp danh. Có lẽ
nhờ đó mà hai Ôn không bị lộ ở trại giam
này. Lúc đó họ mở loa phóng thanh để cho mọi
người đều nghe tin tức “sốt dẻo” từ
đài phát thanh Sài-g̣n. Tin tức loan rằng, chính phủ vừa
bắt được trọn ổ bọn sư Việt
cộng làm loạn để đem lại an ninh trật tự
cho dân chúng. Rồi họ kể tiểu sử của từng
Ôn: Thích Tịnh Khiết, Thích Tâm Châu, Thích Thiện Minh
v.v..., Ôn nào cũng là Việt cộng nằm vùng, hoặc
thân cộng cả. Họ c̣n nói rơ: “Các tên đầu sỏ
đă bị bắt hết, chỉ có hai tên Trí Quang và Huyền
Quang c̣n đang tại đào, nhưng chắc chắn sẽ
không thoát khỏi lưới pháp luật.” Nghe được
điều này, chúng con mới thực sự yên tâm, v́ biết
chắc họ đă không nhận diện được
hai Ôn ở đây.
Ghi danh xong, họ chỉ định chỗ ở,
toàn thể chư tăng ở một dăy nhà phía Đông,
toàn thể chư ni ở một dăy nhà phía Tây. Thủ tục
ban đầu như thế là tạm xong, lúc đó th́ trời
vừa hừng sáng. Chúng con ra sân đồn, thấy tấm
bảng đề: “Bót Cảnh
Sát Rạch Cát”. Vậy ra, đây là quận 8 của
đô thành Sài-g̣n. Mặt trời đă mọc, ánh sáng đă
tỏ rơ, con thấy đồn cảnh sát này có một
khuôn viên quá rộng, ba bên có lạch nước bao bọc,
lại có hàng rào dây kẽm gai rất cao bao khắp bốn
mặt, tù nhân khó mà trốn ra khỏi được. Nh́n
khắp một lượt, ước lượng con số
chư tăng ni bị nhốt ở đây khoảng gần
800 vị, được chở tới từ các chùa Xá-lợi,
Ấn-quang, Giác-minh, Dược-sư, Từ-nghiêm, Huê-lâm
v.v... Đă thấy rơ có hai Ôn ở đây, chúng con, chín
mười người đă từng thân cận bên hai Ôn hằng
ngày, lúc đó đă rỉ tai nhau, đừng tỏ vẻ
kính cẩn trước mặt hai Ôn như hồi ở
chùa, mà cứ giữ cử chỉ b́nh thường, như
thể không có vị thầy cao cấp nào ở đây cả.
Từ lúc đó trở đi, trong suốt thời gian bị
nhốt ở bót cảnh sát này, chín, mười đứa
chúng con lúc nào cũng chùm nhum bao quanh hai Ôn. Hai Ôn đứng
th́ cùng đứng, hai Ôn ngồi th́ cùng ngồi, lúc ăn
lúc ngủ, lúc giải trí, luôn luôn như vậy; mục
đích là để che hai Ôn, làm cho “người ta” không thể
nh́n thấy mặt hai Ôn. Hai Ôn ngầm cho lệnh, tất cả
tăng ni cứ giữ thời khóa tu học hằng ngày,
không bàn tán xôn xao, không tỏ cử chỉ náo động
nào. Họ thấy nếp sống của chư tăng ni
hàng ngày nghiêm trang, thanh tịnh, không có một hành động
hay lời nói nào chống đối họ, th́ họ
cũng yên tâm, không ḍm ngó soi mói, không hoạnh họe khắt
khe, cứ để cho chư tăng ni tự do thực hiện
thời khóa của ḿnh.
Vào bót cảnh sát Rạch-cát là rạng sáng ngày
21.8, nhằm ngày Mồng 3 tháng Bảy âm lịch, đến
ngày Rằm tháng 7 âm lịch (tức ngày 2.9 dương lịch)
th́ toàn thể tăng ni ở đây được thả
về hết, tổng cộng thời gian ở tù là 13
ngày. Con c̣n nhớ, sau đêm 20 tháng 8, khi đă bắt giam hết
chư tăng ni tranh đấu vào các trại giam, khai tử
Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo, chính quyền
bèn cho ra đời một tổ chức Phật giáo thân
chính quyền, được đặt tên là Ủy Ban Liên
Hiệp Phật Giáo Thuần Túy, và thỉnh cầu Ôn Thiện
Ḥa làm chủ tịch của tổ chức mới này. Theo
con nghĩ, có lẽ Ôn Thiện Ḥa đă v́ muốn cứu
chư tăng ni ra khỏi cảnh tù tội mà phải nhận
lời chính quyền làm chủ tịch Ủy Ban Liên Hiệp
Phật Giáo Thuần Túy; rồi dùng cái “thế” của Ủy
Ban này mà can thiệp với chính quyền để trả
tự do cho chư Quí Ôn và chư tăng ni; và bước
đầu tiên là thả chư tăng ni cấp dưới
ở bót Rạch-cát này đây. Sáng hôm ấy, một đoàn
xe “nhà binh” lại sắp hàng đậu dọc theo con lộ
ở trước bót cảnh sát. Đám tù nhân tăng ni
được lệnh tập trung ở sân đồn cảnh
sát, hai Ôn vẫn được chúng con bao quanh khéo léo
như những ngày qua. Rồi vài thầy đại diện
cho Ủy Ban Liên Hiệp Phật Giáo Thuần Túy xuất hiện
trước tù nhân, nhắn nhủ vài lời trước
khi thông báo cho tù nhân biết, hôm nay ngày Rằm tháng Bảy âm
lịch, chính phủ ân xá, thả hết tăng ni trở về
chùa lo thuần túy tu học, đừng nghe theo lời xúi
giục mà phá rối trị an nữa. Tiếp đó, mọi
người về chỗ ngủ lấy tư trang của
ḿnh, rồi ra khỏi cổng, leo lên xe. Ôn Trí Quang leo lên một
xe, có năm, sáu chú hầu chung quanh; Ôn lên một xe khác, có
con và năm, sáu chú khác hầu chung quanh. Sau khi chư tăng
ni lên xe hết, đoàn xe chuyển bánh, có bốn, năm xe
cảnh sát dẫn đầu và chận đuôi. Lần
đi về này mọi người được nh́n ngó
phố phường thoải mái, chứ không giống
như lần trước đi vô trại tù. Đoàn xe chạy
về tới chùa Ấn-quang th́ dừng lại. Chư
tăng ni được lệnh xuống xe, nhưng phải
vô chùa lănh giấy “phóng thích” để trở về chùa
ḿnh cho được an toàn. Khi Ôn và chúng con vừa xuống
xe, thừa lúc chộn rộn không ai để ư, chúng con gọi
ngay một chiếc xe xích-lô đạp, Ôn lên ngồi thật
lẹ, chúng con bảo xe chở Ôn chạy ngay. Thế là
chúng con đành xa Ôn từ phút đó. Rồi chúng con chạy
tới chiếc xe đàng kia, vừa kịp lúc Ôn Trí Quang
bước xuống, th́ lập tức, không biết thầy
Nhật Thiện chực chờ sẵn ở đâu từ
hồi nào, chạy tới nắm tay Ôn Trí Quang kéo đi thật
lẹ, tới một chiếc xe taxi (hay xích-lô ǵ đó, con
quên mất rồi) chờ sẵn; Ôn cũng leo lên xe thật
lẹ cùng với thầy Nhật Thiện, và chiếc xe chạy
vù đi... (Sau này con nghe nói, thầy Nhật Thiện hôm ấy
đă đưa Ôn Trí Quang thẳng tới ṭa đại sứ
Hoa-ḱ để xin tị nạn. Và Ôn Trí Quang đă ở
đó luôn cho tới ngày Quân Đội đảo chánh,
1.11.1963; sang ngày 2.11, ngài đă được đưa về
chùa Ấn-quang.)
Kính bạch Giác Linh Ôn! Cái phút xa Ôn đó, nó vội
vàng quá, và cũng nguy hiểm quá! Ôn không kịp bảo
được một lời là Ôn sẽ về đâu; mà
con cũng không thưa được lời nào với Ôn về
chuyện sắp tới sẽ ra sao. Chiếc xe xích-lô chở
Ôn đă chạy vội vàng; như thế cũng yên tâm, con
chỉ cầu Phật gia hộ, trên đường
đi, Ôn không gặp điều ǵ trục trặc. Ôn Trí
Quang cũng biến mất hút rồi, con cũng chỉ biết
cầu Phật gia hộ. Con lững thững bước
vào sân chùa Ấn-quang, sắp hàng lănh cái giấy “phóng thích”
do Ôn Thiền Tâm trao, với lời nhắn nhủ: “Chính phủ
khoan hồng cho rồi, trở về lo tu học thuần
túy nghe, đừng có lộn xộn nữa!”
Con ra khỏi chùa Ấn-quang, kêu một chiếc
xích-lô đi về Già-lam. Bước vào sân chùa thấy vắng
hoe, chạy về căn pḥng ḿnh th́ thấy cửa không c̣n
ổ khóa, mở banh cửa ra th́... ôi thật là ảm
đạm, bao nhiêu tài liệu sách vở của con bị mất
sạch, chiếc bàn trống trơn! Bỗng một chú từ
đâu chạy đến bên con, nói thật lẹ: “Tất cả đồ đạc
của chú, mật vụ Gia-định lấy hết rồi. Họ vào đây t́m bắt chú mấy
lần, nhưng không có chú. Chú hăy chạy mau đi, không chừng
họ sẽ trở lại nữa!” Thế là con tức
tốc rời Già-lam ngay sau đó. Con sang chùa Phổ-đà,
định xin thầy Từ Hạnh cho ở nhờ ít hôm,
th́, quả thật không ngờ, con lại được gặp
Ôn ở đó! Con mừng quá đỗi! Con xá chào Ôn. Ôn
cũng mừng được gặp lại con. Con không biết
Ôn ở luôn tại đó hay chỉ ở chơi tạm,
nhưng hoàn cảnh của con hiện đang trong cơn khẩn
cấp, thầy Từ Hạnh không cho ở nhờ, con
không ở đó lâu được, đành nóivài lời cám
ơn thầy Từ Hạnh, rồi con chào Ôn đi ra. Con
đi thẳng ra ga xe lửa, lấy vé tàu suốt đi ra
Nha-trang ngay chiều hôm ấy. Con nghĩ rằng, con thực
sự xa Ôn từ hôm ấy!...
Nhưng không, kính bạch Giác Linh Ôn! Duyên lành của
con vẫn c̣n dài...
Con chỉ ẩn náu ở Nha-trang một thời
gian th́ biến cố 1.11.1963 xảy ra, quân đội đảo
chánh lật đổ chế độ độc tài Ngô
Đ́nh Diệm. Qua đài phát thanh, con nghe được tiếng
reo ḥ của quần chúng ở Sài-g̣n, của hàng ngàn Phật
tử, thanh niên sinh viên học sinh Phật tử và đoàn
sinh Gia Đ́nh Phật Tử được giải thoát khỏi
ngục tù từng bị chế độ độc tài
giam cầm trong thời gian tranh đấu vừa qua. Con
nghe được tiếng Quí Ôn, Quí Thầy trả lời
những câu hỏi của báo chí sau khi được thoát
khỏi nơi giam cầm. Ḷng con cũng nô nức vô cùng. Chờ
một tuần cho t́nh h́nh ổn định, con trở vào
lại Sài-g̣n. Con lên chùa Ấn-quang chào Ôn. Con vô cùng xúc động
được gặp lại Quí Ôn. Con biết Quí Ôn
đang bận rộn chuẩn bị cho một đại
hội sắp tới vào cuối tháng 12 dương lịch,
tại chùa Xá-lợi, để thành lập một “Giáo hội
thống nhất” cho Phật giáo Việt-nam. Như một
nhân viên hành chánh chuyên nghiệp, Ôn lại bận rộn về
công việc “hành chánh” cho đại hội này; và sau khi Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được
thành lập vào tháng 1 năm 1964, Ôn lại được
tôn cử vào chức vụ Tổng-thư-kí Viện Hóa
Đạo của Giáo Hội. C̣n con và các chú khác th́ lúc ấy
được hoàn toàn rảnh rang, bèn trở lại các
trường để tiếp tục việc học tập;
thỉnh thoảng lại lên chùa Ấn-quang (trụ sở
của Viện Hóa Đạo) hầu thăm Quí Ôn.
Những tưởng như thế là con đă
được yên ổn học hành, nhưng không, vài tháng
sau khi nhân sự Viện Hóa Đạo được công cử
hoàn măn, Ôn Thiện Minh, Tổng-vụ-trưởng Tổng
Vụ Thanh Niên Phật Tử, đă lập một cơ sở
riêng cho Tổng Vụ ở đường Hiền-vương,
Sài-g̣n; và con đă được ngài gọi, giao cho nhiệm
vụ Tổng-thư-kí để điều hành văn
pḥng Tổng Vụ. Ngài đă tin tưởng th́ con phải
vâng lời; thế là, trong thời gian ấy, con phải vừa
làm việc vừa đi học. Và cũng v́ công việc,
trong thời gian ấy con lại thường được
hầu Ôn qua các Phật sự liên hệ.
Mùa hè năm 1965, v́ không có giấy tờ hợp
lệ quân dịch, con phải chấp hành lệnh gọi
nhập ngũ, và được Ôn Tâm Giác (Giám-đốc
Nha TUPG/QLVNCH) đưa vào phục vụ trong ngành TUPG/QLVNCH.
Từ đó, tuy vẫn là Phật sự, nhưng con đă
chuyển qua một công tác mới, một thân phận mới,
một môi trường mới, một đối tượng
làm việc mới; con không c̣n dịp gặp Ôn thường
xuyên nữa, mà thỉnh thoảng sáu tháng, một năm, con
mới lên chùa chào Quí Ôn một lần.
Sau biến cố lớn của đất
nước – 30 tháng 4 năm 1975, con lên chùa Ấn-quang
thăm Quí Ôn, thấy Ôn vẫn b́nh an; tuy vậy, con vẫn
hiểu được nỗi lo âu cho vận mệnh Giáo Hội
đang đè nặng trong tâm Ôn. Từ sau ngày 30.4 đó, Phật
giáo bị đàn áp khắp nơi, bao nhiêu cơ sở của
Giáo Hội trên khắp nước, dần dần bị
nhà nước mới chiếm đoạt; biết bao nhiêu
văn thư của Giáo Hội do Ôn (lúc này Ôn đă là Đệ Nhất Phó Viện trưởng
Viện Hóa Đạo) và Ôn Quảng Độ (lúc này đă là Tổng Thư Kí
Viện Hóa Đạo, cùng được tôn cử trong ḱ
Đại Hội Đồng của Giáo Hội năm
1974) gửi cho nhà nước mới để khiếu
nại, phản đối về những trường hợp
như thế. V́ vậy, trong những năm 76, 77, chúng con
thấy Ôn lúc nào cũng đeo cái túi xách vải lam bên ḿnh. Hỏi
Ôn đựng thứ ǵ trong đó, th́ Ôn bảo chỉ có bộ
quần áo, kem và bàn chải đánh răng, cùng vài thứ lặt
vặt tùy thân cần yếu, cứ đeo sẵn đó, nhỡ
có bị bắt th́nh ĺnh th́ có cái mà dùng. Ôn đă nh́n thấy
con đường trước mặt, và luôn luôn tự
đặt ḿnh trong t́nh trạng sẵn sàng..., sẵn sàng
đi ở tù bất cứ lúc nào! Quả nhiên, giữa
năm 1977 th́ Ôn bị bắt! Cuối năm sau Ôn
được thả ra nhưng vẫn bị quản chế.
Và từ đó, nếu không bị chính thức ở tù th́
cũng bị quản thúc tại chùa, thời gian trải
dài cho đến ngày Ôn viên tịch, ngày 5 tháng 7 năm 2008 –
ṛng ră hơn 30 năm!
Nhưng hăy trở về lại năm 1977. Tháng
4 năm đó, Ôn bị bắt cùng với Ôn Quảng Độ, Ôn Thuyền
Ấn v.v... Vào khoảng mùa thu năm sau, 1978, th́ Ôn Thiện
Minh bị bắt và bị tra tấn đánh đập dă
man, chỉ một thời gian ngắn th́ Ngài đă tử
đạo ngay trong đồn công an; nhục thân ngài bị
họ đem chôn vùi tận trại cải tạo Hàm-tân. Việc
này tức khắc được đưa lên đài BBC,
và bị dư luận thế giới lên án. Nhà nước
muốn xoa dịu dư luận, bèn cho lập phiên ṭa xử
Quí Ôn vào cuối năm, dựng cái cớ để thả
Quí Ôn về chùa. Về đến chùa, Ôn và Ôn Quảng Độ
lại tiếp tục công việc Giáo Hội.
Mùa xuân năm 1979, nhà nước mới đă
huy động các đoàn thể dân chúng, các tôn giáo, tập
trung đi “công tác lao động xă hội chủ nghĩa”.
Về các đoàn thể và tôn giáo khác thế nào th́ con không
được biết, riêng Phật giáo ḿnh th́ lấy chùa Ấn-quang
làm địa điểm xuất phát. Buổi sáng hôm đó
con lên chùa Ấn-quang để xin theo chư tăng đi
lao động. Hơn ba trăm tăng ni (từ các chùa Ấn-quang,
Huệ-nghiêm, Dược-sư, Từ-nghiêm, Huê-lâm) và mấy
chục Phật tử đă tề tựu trước
chùa. Con thấy Ôn đang điều động đại
chúng, chia thành từng toán, lên các chiếc xe đ̣ chờ sẵn;
rồi đoàn xe khởi hành theo sự hướng dẫn
của các “cán bộ Mặt Trận Tổ Quốc”. Đến
trưa th́ đoàn xe dừng lại nơi “công trường”
Nhị-xuân rộng lớn ở Hốc-môn, là địa
điểm công tác trong mười hai ngày sắp tới. Cả
đại chúng được tạm trú trong một ngôi
chùa gần đó, có thể hằng ngày đi bộ ra công
trường làm việc rồi trở về chùa. Theo cán bộ
cho biết, nhiệm vụ của đợt công tác này là “đắp các ụ đất
cao để bộ đội đặt súng pḥng không chống
máy bay Trung-quốc”! Trong suốt thời gian lao động
ấy, Ôn luôn luôn sát cánh với đại chúng, cùng chia sẻ
ngọt bùi cực nhọc, làm cho mọi người lúc nào
cũng cảm thấy an tâm, trong khó khăn mà t́nh thầy
tṛ luôn luôn ấm áp. Trong suốt những ngày đó, dưới
sự chỉ đạo của Ôn, đại chúng luôn luôn
sống trong niềm vui ḥa thuận, đội ngũ chỉnh
tề, làm việc siêng năng, nhất là giờ giấc tu
niệm khuya tối của tăng ni vẫn được
duy tŕ đúng mức. Con c̣n nhớ, giữa thời gian lao
động ấy gặp vào ngày Rằm âm lịch, Ôn
cũng đă cho cử hành các lễ Sám-hối, Bố-tát, Tụng-giới,
không khí trang nghiêm như đang ở một đạo
tràng tu học. Nhờ sự hành tŕ ấy mà đại
chúng, tuy vẫn làm việc, vẫn vui vẻ, nhưng phong
thái luôn luôn nghiêm túc, không có điều ǵ khiếm khuyết
trong oai nghi tế hạnh, khiến cho người ngoài
không “ḍm ngó” vào đâu được. Chúng con được
biết, có nhóm “Phật Giáo Yêu Nước” cũng đang
lao động ở một địa điểm lân cận,
nhưng nghe nói, họ ăn uống thật là thiếu thốn,
h́nh như không có ai tiếp tế cả; trong khi đó, bên
này th́ rau trái gạo tương được Phật tử
tiếp tế dư thừa, cho nên Ôn thường cho Phật
tử đem thực phẩm sang chia sớt cho họ. Chúng
con thấy rất rơ, những người “yêu nước”
lúc nào cũng dựa thế “cách mạng”, dương
dương tự đắc, đầu đội mũ
cối, mặt khó đăm đăm; nhưng Ôn th́ luôn
luôn đáp lại bằng từ bi độ lượng,
thậm chí đến dụng cụ làm việc, Ôn cũng
giúp đỡ cho họ. Rồi thời gian lao động
cũng kết thúc, công tác hoàn măn, thành quả được
“đánh giá tốt”. Thầy tṛ hoan hỉ ra về... Buổi
tối của ngày cuối cùng, Ôn cho nghỉ thời Tịnh
Độ thường lệ, thay vào đó là buổi
văn nghệ “bế mạc”. Đây là buổi văn nghệ
hoàn toàn “tự phát”, mọi người đều có thể
góp vui; các cán bộ cũng tham dự. Mặc dù vậy, Ôn vẫn
nhắc nhở đại chúng một điều: Hăy tự
tỉnh giác, không đi ra ngoài tinh thần đạo pháp!
Con c̣n nhớ, buổi tối hôm ấy, con có tŕnh Ôn nghe
trước bài “kệ” của con, được Ôn cho phép
đọc bài “kệ” ấy ở màn cuối để kết
thúc chương tŕnh văn nghệ. Bài kệ ấy như
sau:
Đại từ
đại bi chẳng muốn leo,
Đại hỉ
đại xả té gần chết,
Mặt mũi lấm
lem tự trang nghiêm,
Ụ đă lên cao
qui mạng lễ!
Chương tŕnh văn nghệ chấm dứt,
quí sư cô cho đại chúng ăn một bữa chè đậu
đỏ thật ngon. Đêm đó mọi người
đều ngủ thật ngon, khuya dậy công phu, rồi
ăn sáng, những chiếc xe đ̣ đă chờ sẵn
sàng, đại chúng lên xe trở về Ấn-quang; rồi
giải tán, ai về trú xứ nấy... Kính bạch Ôn, ở
nơi này con gặp lại được hai vị
cũng từng tham gia 12 ngày “lao động XHCN” khi xưa:
thầy Minh Đạt và thầy Hạnh Cần. Thầy
Minh Đạt lúc đó ở chung pḥng với con, nay thầy
đă là một vị Ḥa-thượng thuộc hàng trưởng
lăo. Nhắc lại chuyện cũ lúc đó, ḷng chúng con thật
bùi ngùi nhớ Ôn!
Kính bạch Giác Linh Ôn! Mùa thu năm 1979, con có lần
lên chùa Ấn-quang vào buổi chiều, leo lên tận sân
thượng, được gặp Ôn cùng Ôn Trí Quang
đang hóng mát trên đó. Con hỏi thăm Quí Ôn, thấy Quí
Ôn vẫn phong thái an nhiên tự tại, đàm luận việc
dịch Đại Tạng Kinh, lo cho tiền đồ của
Phật giáo Việt-nam. Quí Ôn dạy con phải cố gắng
giữ ḿnh, không quên tâm đạo. Và đó là lần cuối
cùng con gặp Ôn; v́ sang năm sau th́ con vượt biên, cho
đến nay, trên một phần tư thế kỉ, con
chưa một lần trở về thăm quê nhà...
Kính bạch Giác Linh Ôn! Đă ngót 30 năm, con
chưa một lần gặp Ôn trở lại, nhưng
trong suốt thời gian ở hải ngoại này, con vẫn
theo dơi tất cả những tin tức về Ôn, ḷng con vô
cùng kính ngưỡng Ôn, một bậc tôn sư hùng vĩ, một
vị Đại-sĩ của Phật giáo Việt-nam hiện
đại!
Bao nhiêu năm tháng
thân Ôn bị tù đày quản thúc, nhưng tâm Ôn vẫn tự
tại an nhiên. Ôn đă biến nơi tù đày thành thiền
duyệt thất, thành pḥng tụng đọc Đại Tạng
Kinh, soạn Khoa Nghi.
Ở trong ṿng vây
đầy chông gai chướng ngại mà Ôn vẫn mạnh
mẽ bước ra để đến tận cố
đô Huế đảnh lễ kim quan đức Đệ
Tam Tăng Thống, và uy dũng nhận lănh ấn tín kế
thừa.
Ở trong rừng
nanh vuốt dạ xoa mà Ôn vẫn dơng dạc hét to tiếng
gầm sư tử, nào “yêu sách
9 điểm”, nào “phục
hoạt Giáo Hội”, nào “tự do tôn giáo”, nào “đảng phải sám hối với toàn dân”, nào “hủy bỏ điều 4 hiến
pháp”, nào “tự do dân chủ
cho dân tộc”, v.v...
Ôn quả thật là bậc Đại-sĩ vô
úy!
Ôn làm được những việc khó làm!
Ôn an nhẫn những điều khó nhẫn!
Ôn là tấm gương sáng tṛn đầy!
Vậy mà, kính thưa Ôn! Ôn và Quí Ôn, Quí Thầy
nhẫn nhục, từ bi cao cả như thế đó, mà
thời ông Diệm th́ họ bảo là Quí Ôn Quí Thầy theo
cộng sản, họ bắt bỏ tù; sang thời cộng
sản th́ họ lại bảo Quí Ôn Quí Thầy là phản
động, là CIA, họ cũng bắt bỏ tù! Cuộc
đời sao mà oái oăm ngang trái quá lắm thế! Vô minh
dầy đặc quá lắm thế!
Quí Ôn Quí Thầy là những vị Bồ-tát
sinh ra đời này để chịu khổ thay cho chúng
sinh, gánh hoạn nạn thay cho chúng sinh.
Con xin ngừng ở đây một phút để
tưởng nhớ ân đức Quí Ôn Quí Thầy, dù đă
viên tịch hay c̣n đang tại thế.
Con kính lạy Ôn, bậc Tôn Sư cao quí!
Kính lạy Giác Linh
Ôn
Hải ngoại,
đầu mùa Vu Lan năm 2008
Đứa học
tṛ bé nhỏ của Ôn,
Cư sĩ HẠNH
CƠ
(thành viên Ban Phiên Dịch Pháp Tạng Phật
Giáo Việt Nam)
(thành viên Ban Bảo Trợ Phiên Dịch Pháp Tạng
Việt Nam)
CHÙA MỘT CỘT
với TINH THẦN PHẬT GIÁO VIỆT NAM
THỜI NHÀ LÍ
Cũng
như triều đại nhà Đinh (968-980) trước
đó, triều đại Lê Đại Hành (980-1005)(1) là
một triều đại vẻ vang trong lịch sử
dựng nước của nước ta. Nhưng sự
nghiệp ấy quá ngắn ngủi v́ sự phá nát của
vua Lê Long Đĩnh (1005-1009)(2), cho nên bắt buộc
phải có một sự đổi thay. Phú cường và
an cư lạc nghiệp là những nhu cầu thiết
yếu của quốc gia dân tộc, và đó đă là
động cơ thúc đẩy Lí Công Uẩn(3) lên nắm
chính quyền (1010-1028) để phục hưng quốc
gia, bảo vệ tinh thần đạo đức của
dân tộc. Và sự lên ngôi của Lí Công Uẩn để
khai sáng ra nhà Lí đă là một công tŕnh, một sắp
xếp chính trị rất khéo léo của thiền sư
Vạn Hạnh(4). Đó là một kết quả của “tinh thần Vạn Hạnh”,
và Lí Công Uẩn lên ngôi, cũng như các vua Lí kế
tiếp, là thực hiện cái sứ mệnh “đem ĐẠO vào ĐỜI”
của Tổ Vạn Hạnh. Nói cách khác, tư
tưởng của Vạn Hạnh đă ảnh
hưởng sâu xa và quyết định phần lớn cho
tinh thần giới lănh đạo suốt triều
đại nhà Lí; đó là tinh thần tập thành Thiền
và Mật, có kiến thức cao siêu thần toán, thấu
suốt và nối liền quá khứ, hiện tại,
vị lai, sử dụng các thuật phong thủy và sấm
vĩ, làm lợi khí cho những hành động ích quốc
lợi dân, phụng sự quốc gia và bảo vệ
chủ quyền dân tộc. Nhà Lí đă xây dựng một
quốc gia tiến bộ khác hẳn Đinh, Lê
trước đó, và chùa Một-cột đă xuất
hiện một cách độc đáo trong cái tinh thần
tiến bộ toàn diện đó.
Chùa MỘT-CỘT
được h́nh thành là do một giấc mộng của
vua Lí Thái-tông (1028-1054)(5). Đại
Việt Sử Kí Toàn Thư chép: “Tháng hai, mùa xuân năm Kỉ-Sửu (1049) đổi
niên hiệu là Sùng-hưng-đại-bảo (1049-1054)(6)
năm đầu. Trước đó vua mộng thấy
Phật Quán Âm ngồi trên đài hoa sen, dẫn vua lên
đài. Khi tỉnh dậy, vua nói lại với triều
thần. Có người cho là điềm gở, nhưng nhà
sư Thiền Tuệ th́ khuyên vua nên xây chùa, dựng cột
đá giữa hồ, xây đài hoa sen có tượng
Phật Quán Âm ở trên, đúng như h́nh ảnh đă
thấy trong mộng. Các nhà sư chạy đàn chung quanh, tụng
kinh cầu sống lâu, nhân đó đặt tên chùa là
Diên-hựu.”(7)
Theo đó th́ chùa Một-cột đă lấy nguồn cảm hứng từ giấc mộng đài sen với Phật Bà Quán Âm. Cảm hứng từ mộng là một thứ tâm lí nghệ thuật của các dân tộc Đông- phương, và h́nh dáng chùa đă bao hàm nhiều ư nghĩa nghệ thuật
tôn
giáo.
Theo giáo sư Nguyễn Đăng Thục (trong sách
Lịch Sử Tư
Tưởng Việt Nam) th́ từ thời nhà Đinh đă dựng
cột bia đá “Đà-la-ni”, gọi là cột
“nhất-trụ”, để cầu tuổi thọ, cầu
cho vận nước dài lâu bên cạnh cái không khí luôn luôn
đe dọa nặng nề của Trung-quốc.
Đến nhà Lí th́ cây cột “nhất-trụ” ấy
lại bao hàm nhiều ư nghĩa hơn nữa, khi vua Lí
Thái-tông đă biến h́nh “nhất-trụ” thành h́nh hoa sen
(bằng cách cho xây trên đỉnh cột một cái
điện nhỏ bằng gỗ lợp ngói, mái cong),
để trở thành chùa Diên-hựu (tức
Một-cột). Chùa có h́nh dáng một hoa sen, và nếu nh́n
từ xa th́ quả đó một hoa sen lớn mọc lên
từ hồ nước, – dĩ nhiên, cây cột đă
trở thành cọng sen.
Vẫn theo giáo sư Nguyễn
Đăng Thục th́ h́nh ảnh hoa sen cũng đă có
những ấn tượng rơ nét trong tinh thần dân
tộc ta từ thời nhà Đinh: Đinh Bộ Lĩnh
(tức vua Đinh Tiên-hoàng-đế, 968-979) ở cạnh
đền Sơn-thần, ngoài cửa có đám sen núi có
dấu chữ “thiên tử”; mẹ Lê Hoàn (tức mẹ vua
Lê Đại Hành) có mang nằm mộng thấy trong
bụng sinh hoa sen; tháng sáu, niên hiệu Long-thụy-thái-b́nh
(1054-1058)(8) thứ 5 (1058), vua Lí Thánh-tông (1054-1072)(9) cho xây
điện Linh-quang, bên trái dựng điện
Kiến-lễ, bên phải dựng điện Sùng-nghi; phía
trước điện dựng lầu chuông một
cột sáu cạnh h́nh hoa sen.(10)
Vậy th́, hoa sen luôn luôn mang một ư nghĩa tốt đẹp, tượng trưng cho những ǵ cao quí nhất trên đời. Nơi nào có hoa sen là nơi đó có Phật, Bồ-tát ngự trị; nơi nào có dấu sen là nơi đó có dấu vết hiền nhân; nơi nào có hồ sen nhất định phải là nơi thanh tịnh; và chính hoa sen đă được người b́nh dân tôn quí để ví với những người có tâm hồn thanh cao, sống nơi bụi trần đầy danh lợi
mà không bị những thứ ô uế
cám
dỗ, ràng buộc:
Trong
đầm ǵ đẹp bằng sen,
Lá
xanh bông trắng lại chen nhụy vàng;
Nhụy
vàng bông trắng lá xanh,
Gần
bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
(Ca Dao)
Cuối cùng,
hoa sen có một ư nghĩa vô cùng quan trọng, đến
nỗi nó đă được dùng làm tựa đề cho
một bộ kinh cao thâm của Phật giáo đại
thừa: Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Do đó có thể thấy, tín ngưỡng HOA
SEN là tín ngưỡng PHẬT THỪA vậy.
Cũng v́ hoa
sen mang những ư nghĩa như thế, nên hễ người ta
nói đến hoa sen là nói đến Phật.
Sen là chỗ Phật ngự. Ṭa sen là ṭa
Phật. Vàbộ
ba “Tam Thánh”: Di Đà – Quán Âm - Thế Chí đă
dính liền mật thiết với hoa sen
trong tín ngưỡng Tịnh Độ tông.
Cơi Cực-lạc là cả một thế giới hoa sen. V́ vậy, vua Lí Thái-tông đă mộng thấy hoa sen với Phật Bà Quán Âm đứng trên đài sen, và giấc mộng ấy đă được hiện thực bằng ngôi chùa Một-cột có h́nh dáng hoa sen với tượng Bồ Tát Quán Thế Âm
được
thờ trong đó.
Tín ngưỡng Phật Bà Quán Âm
trong tâm thức dân tộc Việt cũng là một tín
ngưỡng đặc biệt, nó biểu hiện cho ḷng
yêu thương vô bờ của MẸ, ḥa đồng
với tín ngưỡng sùng bái Nữ Thần cố hữu
trong tư tưởng b́nh dân Việt-nam. Người b́nh
dân Việt-nam với tâm hồn chất phác, chân thật,
luôn luôn có khuynh hướng nguyện cầu một “tha
lực” từ bi cứu khổ cứu nạn như
Bồ Tát Quán Thế Âm, hay là Nữ Thần của họ.
Họ nương tựa vào đó như một nơi an
lành, như đứa bé cảm thấy được yên
ổn trong ḷng mẹ. Họ luôn luôn yên tâmkhi
tin tưởng có Bồ Tát Quán Thế Âm ở
bên cạnh để che chở, độ tŕ.
Xem thế,
chùa Một-cột quả là một tác phẩm nghệ
thuật tân ḱ, thể hiện trọn vẹn cái tâm linh
độc đáo của dân tộc. Với cây cột
độc nhất dựng sừng sững giữa hồ,
nó biểu hiện cho tín ngưỡng về nguồn
sống vũ trụ, về âm dương ḥa hợp
của tư tưởng Bà-la-môn giáo và Chiêm-thành – vốn
cũng đă ảnh hưởng ngấm ngầm vào tinh
thần dân Việt từ lâu. Với cái điện h́nh hoa
sen mọc lên từ hồ nước, nó nói lên cái tinh
thần phấn đấu âm thầm với dục
vọng để tự kiến tánh thành Phật của
các thiền sư, tức là giới trí thức bác học.
Và với tượng Phật Bà Quán Âm, nó bộc lộ cái
t́nh Mẹ, tượng trưng cho Nữ Thần, một
tha lực từ bi luôn luôn cứu độ chúng sinh, đó
là tín ngưỡng của giới b́nh dân chơn chất. V́
vậy, chùa Một-cột quả đă gói ghém hoàn toàn tinh
thần tín ngưỡng đặc
biệt của Việt-nam thời đó.
Tinh thần chùa
Một-cột là một tinh thần tổng hợp của
Phật giáo Việt-nam thời Lí. Tinh thần đó đă dung ḥa các tư
tưởng vừa Thiền, vừa Mật, vừa Nho,
vừa Lăo, vừa trí thức, vừa b́nh dân, nhất là nó
thể hiện một tinh thần hợp sáng nhưng
độc lập của quốc gia; và chínhcái
tinh thần đó đă là nguyên nhân
sâu xa của việc thành lập thiền phái
Thảo Đường, một phái thiền Việt-nam
độc đáo thời nhà Lí.
Thời
đại nhà Lí là thời đại toàn thịnh của
Phật giáo Việt-nam, mà cũng là thời đại có ư
thức dân tộc cao nhất, tinh thần quốc gia hùng
mạnh nhất trong lịch sử độc lập
của Việt-nam. Về điểm này, giáo sư Hoàng Xuân
Hăn có nói: “Lí Thánh-tông là vua ta
đầu tiên có óc lập một đế quốc có danh
ngang với một nước thiên tử. Vua đặt
quốc hiệu là Đại-việt (1054), tôn các vua trước
là Thái-tổ, Thái-tông, coi các nước nhỏ là chư
hầu, và muốn ngăn cấm Chiêm-thành thần phục
Tống.”(11) Và chính ở trong cái ư thức dân tộc và
tinh thần độc lập, tự cường cao
độ đó mà phái thiền Thảo Đường đă xuất
hiện, như học giả Trần Văn Giáp đă nói: “Đến thế kỉ XI,
đạo Phật rất thịnh vượng ở
Việt-nam. Những người nhiệt thành với
đạo này không phải chỉ là quần chúng mà cả
những quan lớn ở triều đ́nh, và cả
những vua chúa nữa. Những ông vua ấy muốn thiết
lập một phái mới. Nhưng thay v́ trực thuộc
với Bồ Đề Đạt Ma, họ lại
chọn một thiền sư Trung-hoa tên là Thảo
Đường đă đến Chiêm-thành và ngụ một
thời gian ở đó. Chắc chắn họ đă theo
giáo huấn của vị sư trưởng này và thực
hành giáo pháp của ông. Thời ḱ thứ tư này quả là
thời ḱ Thiền học Việt-nam.”(12)
Từ Lí
Thái-tông, ta thấy nhà vua đă có khuynh hướng xây
dựng một nền Phật giáo riêng biệt, đặc
thù cho Đại-cồ-việt(13) qua việc xây cất
chùa Một-cột. Đến vua Lí Thánh-tông th́ cái khuynh
hướng ấy lại càng mạnh mẽ hơn
nữa, đến nỗi đă đưa đến
việc sáng lập một phái thiền mới lấy tên
của thiền sư Thảo Đường.
Về sự tích Tổ Thảo Đường,
sách An Nam Chí Lược chép: “Thảo Đường
đi theo sư phụ sang ở
đất Chiêm-thành. Khi vua Lí Thánh-tông đánh Chiêm-thành,
bắt được làm tù binh, giao cho quan tăng lục
làm gia nô. Quan tăng lục viết sách Ngữ Lục, để ngỏ trên bàn và đi khỏi. Nhà sư Thảo
Đường xem trộm, có sửa chữa đi. Quan
tăng lục về thấy thế lấy làm kinh ngạc
về anh gia nô, bèn tâu lên vua. Vua bái Thảo Đường
làm quốc-sư.”(14)
Tinh thần
của tài liệu này cho ta thấy ǵ? Đọc lại
lời của giáo sư Hoàng Xuân Hăn ở trên th́ triều
đại Lí Thánh-tông quả là một triều đại
oanh liệt, có tinh thần dân tộc cao sáng nhất. Vua Lí
Thánh-tông nuôi mộng xây dựng quốc gia thành một
đế quốc hùng cường, xứng danh
“Đại-việt”; trong đó bao gồm ư tưởng sáng lập một
tông phái Phật giáo Đại-việt đặc thù, hoàn
toàn mang màu sắc dân tộc, mặc dù trước đó
đă có hai phái thiền T́ Ni Đa Lưu
Chi và Vô Ngôn Thông
từ ngoại quốc truyền vào. Và mộng ước
ấy đă được thành tựu do một thiện
duyên hăn hữu, đó là việc nhà vua đi đánh
Chiêm-thành, bắt nhiều tù binh, và trong đám
tù binh ấy có thiền sư Thảo Đường.
Thảo
Đường là một tù binh được cắt
đặt làm thị giả cho vị tăng lục
(vị tăng sĩ cao cấp trông coi về tăng
sự). Lại do sự khám phá của chính vị tăng
lục mà Thảo Đường được nhà vua tôn
làm quốc sư. Ấy là vua đă nhặt được
viên ngọc vô giá từ trong bùn lầy! Ư vua đă mong
ước thành lập một tông phái đặc biệt
Việt-nam, nhưng nhà vua là cư sĩ, không thể
đứng làm tổ khai sơn cho một môn phái, lại
không muốn chọn các vị thiền sư đă sẵn
có môn phái đương thời, nhân cơ hội khám phá
được viên ngọc vô giá là thiền sư Thảo
Đường (dù vốn có nguồn gốc từ
Trung-hoa), bèn lập tức tôn lập ngài làm Tổ, lấy
tên ngài làm tên môn phái, rồi chính nhà vua làm đồ
đệ đầu tiên đời thứ nhất.
Thật là một cơ hội ngh́n vàng để vua
thực hiện giấc mộng. Quan tăng lục là
một vị cao tăng, mà viết “ngữ lục” c̣n
bị Thảo Đường sửa chữa, th́ Thảo
Đường quả xứng đáng với sự trông
đợi và kính ngưỡng của vua Lí Thánh-tông.
Vậy th́ cái tinh thần đặc biệt của Tổ Thảo Đường là ǵ? Đó là một tinh thần tổng hợp Thiền và Tịnh. Theo tinh thần bài “Kỉnh Sách” của Tổ th́ con đường tu hành không phải chỉ có một, mà phải gồm cả ba phương diện: tham thiền, quán chiếu và niệm Phật. Tham thiền và quán chiếu tức là tập trung tinh thần nhắm vào một điểm, ngưng đọng tất cả mọi vọng niệm trong tâm, để
cho
tâm ư thanh tĩnh, không c̣n vọng động.
Lúc đó
cả năng tri và sở tri đều mất, trí tuệ
phát sinh, kiến tánh giác ngộ. Đó là con đường
tự lực đốn ngộ, có thể giải thoát ngay
ở đời này, được áp dụng chung cho
cả tăng lẫn tục. Nhưng đó là con
đường trí thức, chỉ thích hợp cho những
bậc thượng nhân; c̣n đối với kẻ
độn căn mà đa số là quần chúng nông dân th́
không thích hợp. Do vậy mà Tổ đă đưa ra con
đường niệm Phật để dẫn dắt
đám quần chúng nông dân đông đảo ấy. Tổ
nói: “Thiền vốn không có
cửa vào nhất định, nếu không đủ
căn bản tâm linh th́ phần nhiều rơi vào lầm
lạc, trọn đời trôi nổi, khó mà giác ngộ.
Pháp quán tâm th́ rất tế nhị, tinh vi, nếu không có trí
tuệ bát nhă th́ ít có thể tiến bộ trên
đường chứng nghiệm. Chỉ c̣n có lối
niệm Phật là rất mau lẹ, tiện lợi. Từ
xưa đến nay, người thông minh hay ngu độn
đều tu, đàn ông hay đàn bà đều chuộng,
muôn người không một sai lầm như bốn
lời dạy của phái Lâm Tế đă tỏ rơ. Chỉ
cần tự phân tích lấy tâm ḿnh, chớ nghi ngờ ḿnh
làm không được.”(15)
Người
nông dân vốn dồi dào t́nh cảm và giàu tưởng
tượng. Hơn nữa, trải qua bao cảnh bạo
tàn, đau thương của giặc giă, chiến tranh
từ các đời trước, họ chỉ mong
được một đời sống thanh b́nh, an cư
lạc nghiệp với sự độ tŕ của
thần linh, cho nên sự tin tưởng vào Phật Bà Quán
Âm với ḷng từ bi của Mẹ Hiền cứu khổ
cứu nạn đă phổ biến mau lẹ và sâu rộng
trong quần chúng b́nh dân. Tín ngưỡng vào Bồ Tát Quán
Thế Âm cứu khổ độ tŕ là một ḷng tin vào
tha lực. Bởi thế, con đường niệm
Phật dành cho người b́nh dân đă được
đề cao bên cạnh con đường tham thiền và
quán chiếu dành cho bậc đại trí tin tưởng vào
tự lực; đó là cái chủ tâm của vua Lí Thánh-tông
trong việc thành lập thiền học Thảo
Đường, nhằm tổng hợp tín ngưỡng
của toàn dân, làm thành một sức mạnh vô
địch để thực hiện cái mộng
“Đại-việt” trong tinh thần dân tộc
cao sáng của ḿnh.
Như vậy, đứng về phương diện lịch sử, chúng ta phải công nhận người sáng lập ra phái thiền Thảo Đường là vua Lí Thánh-tông. Tinh thần Thảo Đường chính là tinh thần Lí Thánh-tông trong ư hướng sáng lập một môn phái đặc biệt dân tộc. Tinh thần Lí Thánh-tông là một tinh thần cởi mở, sẵn sàng thâu hóa nhiều tín ngưỡng khác nhau. Vua rất sùng thượng Phật pháp nên đă xây cất và tu bổ rất nhiều chùa tháp. Tinh thần từ bi của Phật giáo đă ảnh hưởng sâu đậm nên nhà vua có tiếng là một ông vua nhân từ. Vua đă từng ban chăn chiếu cho tù nhân, cho họ ăn cơm đầy đủ v́ nghĩ thương cái hoàn cảnh đói lạnh của họ trong ngục xá; và đối với dân chúng th́: “Ḷng trẫm yêu dân như yêu con trẫm vậy; hiềm v́ trăm họ ngu dại làm càn phải tội, trẫm lấy làm thương lắm; vậy từ nay về sau, tội ǵ cũng giảm nhẹ bớt đi.”(16) Đối với Khổng giáo nhà vua cũng rất chú trọng. Vua là người đầu tiên ở nước ta dựng lập văn miếu, tạc tượng Chu Công, Khổng Tử và tứ-phối để thờ phượng (1070). Vua cũng rất hâm mộ âm nhạc Chiêm-thành và tin Thần đạo, xây chùa Nhị-thiên-vương thờ Nhật Thiên (Civa Deva) và Nguyệt Thiên (Visnu Deva)
thuộc
tín ngưỡng Ấn-độ giáo.
V́ vậy, khi nhận xét về
Lí Thánh-tông, giáo
sư Nguyễn Đăng Thục đă viết: “Xem thế th́ biết rằng
khuynh hướng tín ngưỡng của nhà vua cũng
như của toàn quốc thời bấy giờ không có tính
cách giáo điều, hết sức cởi mở để
thỏa hiệp nhiều tín ngưỡng khác nhau.”(17)
Nói đến Lí Thánh-tông, chúng ta c̣n phải đề cập đến một điểm đặc biệt khác nữa, đó là sự liên quan gần như mật thiết giữa
nhà vua với h́nh ảnh Bồ Tát Quán Thế Âm. Sử chép: “Nhà vua 40 tuổi, chưa có con trai, thường đi các đền chùa để cầu tự. Ngự giá đến đâu, người xem chật đường. Khi đến làng Thổ-lỗi, có người con gái hái dâu đứng dựa vào khóm cỏ lau, nhà vua lấy làm lạ, cho
vào cung, lập nàng làm Ỷ Lan
phu nhân. Đến khi có mang, sinh hoàng tử Càn Đức,
nhà vua mừng lắm. Ngày hôm sau lập làm thái tử,
đổi niên hiệu, đại xá, phong Ỷ Lan phu nhân làm
thần phi, lại gọi là nguyên phi, đổi làng
Thổ-lỗi làm làng Siêu-loại, v́ là nguyên quán của
nguyên phi.”(18)
Và: “Vua
thân đi đánh Chiêm-thành, lâu không thắng, trở về
đến châu Cư-liên, nghe tin nguyên phi điều
khiển nội trị được ḷng dân ḥa hợp,
trong nước yên ổn, tôn sùng Phật giáo, tục
gọi là Quán Âm Nữ. Vua tự bảo, kẻ kia là
một nữ nhi mà c̣n có thể được thế, ta
là trai c̣n dùng làm chi! Bèn quay lại đánh mới thắng
được.”(19)
Trong chế độ quân
chủ xưa, việc vua sinh được hoàng nam là
một điều vui mừng trọng đại không
những cho nhà vua, cho triều đ́nh, mà cho cả nhân dân
trong nước. Vua Lí Thánh-tông đă 40 tuổi mà chưa có
con trai, nay gặp được Ỷ Lan phu nhân th́ sinh
hoàng nam, đó chẳng là điều đại phúc cho
triều đ́nh và cho cả thiên hạ ư? V́ vậy, từ
một cô thôn nữ, Ỷ Lan đă được
bước lên địa vị một nguyên phi, và
đối với nhân dân th́ được tôn kính là Quán Âm
Nữ (con gái của Phật Bà Quán Âm), nàng quả đă
được mọi người, mọi tầng lớp
trong toàn quốc coi là một cứu tinh của dân tộc.
Nàng là cứu tinh của dân tộc không những sinh
được vị thái tử anh minh, mà c̣n v́ ở tư
cách lănh đạo nhân dân, làm cho họ được
sống thanh b́nh trong cảnh an cư lạc nghiệp.
Người dân vốn đă sẵn ḷng sùng bái Phật Bà
Quán Âm, nay họ có dịp hiện thực hóa Phật Bà Quán
Âm vào đối tượng Ỷ Lan phu nhân, chứng
tỏ đă có một ư thức cảm thông, một sợi
dây nối kết giữa tự lực và tha lực,
giữa trí thức bác học và nông dân quê mùa, giữa
giới thống trị và giới bị trị; và sợi
dây đó chính là nàng thôn nữ Ỷ Lan. Ỷ Lan đối
với nhà vua là h́nh ảnh Quán Âm Nữ, không những đă
đem đến cho nhà vua hiếm hoi một vị thái
tử anh minh nối nghiệp, mà c̣n là một động
lực phấn khởi nhiệm mầu khiến cho nhà vua
thắng trận khải hoàn; c̣n đối với nhân dân
th́ Ỷ Lan cũng là h́nh ảnh Quán Âm Nữ v́ đă
đem lại cho họ một xă hội an cư lạc
nghiệp. V́ vậy, sau khi thắng giặc Chiêm-thành
trở về, vua Lí Thánh-tông đă sáng lập tại kinh
đô Thăng-long thiền phái Thảo Đường,
cũng với ư chí thống nhất tín ngưỡng sùng bái
của b́nh dân với tín ngưỡng trí thức của bác
học để lấy sức mạnh toàn dân mà thực
hiện mộng “Đại-việt” nói
về phương diện quốc gia, và thực hiện
một môn phái Thiền “Đại-việt” nói
về phương diện Phật giáo.
*
Nh́n một cách tổng quát, chúng
ta thấy Phật giáo thời Lí quả đă chứng
tỏ cái năng lực phi thường trong việc giáo
hóa con người về cả hai phương diện,
xuất thế cũng như nhập thế. Từ Lí
Thái-tổ đến Lí Chiêu Hoàng (1224-1225), trải qua chín
đời vua, trị v́ suốt một thời gian 215
năm (1010-1225), Phật giáo luôn luôn nắm vai tṛ chủ
động. Mọi phương diện hệ trọng
của quốc gia, từ chính trị, quân sự,
đến giáo dục, văn học, nghệ thuật
v.v... đều mang tinh thần Phật giáo.
Ba phái thiền T́ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thôngvà
Thảo Đường cùng nhau hợp tác,
truyền bá song hành, và cùng chung qui
vào một chí hướng phục vụ quốc
gia dân tộc.
Về phương diện
xuất thế, các thiền sư cũng như các vua chúa
sùng đạo đều căn cứ vào thiền học
để khai phóng tâm linh, tự ḿnh phát triển trí tuệ
mà ngộ đạo. Về phương diện nhập
thế, sau khi ngộ đạo, họ đă ḥa ḿnh vào
đời sống xă hội, từ cung vua, kinh thành, cho
đến làng mạc, thôn quê, họ đă mở bao nhiêu
đạo tràng, trường học để mở mang
văn hóa, giải phóng tâm hồn mông muội cho
người đời; ở đâu có người
sống là ở đó có ánh sáng đạo lí lan tràn tới.
Bao nhiêu tinh hoa của dân tộc
được khai triển triệt để, làm
cho nền văn minh nước ta vào thời
đó thật rực rỡ, sánh ngang
hàng với Trung-quốc, khiến cho nước láng
giềng to lớn này phải nể sợ.
Tinh thần Phật giáo thời
Lí, nhất là từ khi h́nh ảnh hoa sen với
tượng Phật Bà Quán Âm xuất hiện, không phải
là một tinh thần Phật giáo Thiền tông thuần túy,
mà là cả một tinh thần dung hóa sáng tạo. Từ
thiền sư Vạn Hạnh (tịch năm 1018) với
triết lí “dung tam tế”
đến các thiền sư Từ Đạo Hạnh
(tịch năm 1112), Minh Không (tịch năm 1141) với khuynh hướng tổng hợp
Thiền-Mật, sử dụng quyền năng thần
thông để giúp đời; rồi các thiền sư Viên
Chiếu (tịch năm 1090), Cứu Chỉ (tịch
năm 1067), Ngộ Ấn (tịch năm 1088), Thông Biện
(tịch năm 1134), Viên Thông (tịch năm 1151) v.v...,
đều khai triển cái
học TAM GIÁO (Phật - Lăo - Nho) để phụng
sự quốc gia dân tộc, khiến cho cái tinh thần “Bi,
Trí, Dũng” của Phật giáo, hay “Nhân, Trí, Dũng” của
Nho giáo được các cấp lănh đạo thực hành
triệt để, xây dựng một nước
Đại-việt hùng cường, thịnh vượng
và nhân ái.
Tinh thần “Bi-Trí-Dũng” ấy
lại là một tinh thần toàn dân thống nhất, do công
tŕnh nối kết từ tín ngưỡng trí thức quí
tộc đến tín ngưỡng sùng bái b́nh dân qua các h́nh
ảnh chùa
Một-cột, Quán Âm Nữ, nhất là
sự sáng lập thiền phái Thảo Đường, đă
làm cho Phật giáo Việt-nam thờinhà
Lí có một tinh thần tín ngưỡng hợp
sáng thật đặc biệt.
Tất cả những sự
kiện trên đă làm cho nước ta dưới thời
đại
nhà Lí thật xứng đáng với danh xưng
“Đại-việt”.
CHÚ THÍCH
(1) Lê Đại Hành: Tên là Lê Hoàn, người làng Bảo-thái, huyện Thanh-liêm, tỉnh Hà-nam; là một vị tướng tài của vua Đinh Tiên-hoàng. Năm 968 được phong chức Thập-đạo tướng quân; năm 979 làm nhiếp chính cho Vệ vương Đinh Tuệ (con út của vua Đinh Tiên-hoàng, lên ngôi năm 979, lúc đó mới 6 tuổi). Năm 980, quân Tống xâm lăng, Lê Hoàn cử Phạm Cự Lượng làm đại tướng cầm quân nghênh địch. Trước khi ra quân, Phạm Cự Lượng cùng ba quân đều đồng thanh tôn Lê Hoàn lên ngôi vua (lấy cớ vua Đinh Tuệ c̣n quá nhỏ dại, chư tướng sĩ đánh giặc không thể biết thưởng phạt công minh). Liền đó, Lê Hoàn lên ngôi, xưng là Đại Hành hoàng đế, phế Đinh Tuệ làm Vệ vương, mở ra nhà Tiền-Lê (980-1009), rồi đích thân cầm quân chống giặc, thắng được cả thủy, lục quân Tống, giết chủ tướng Tống là Hầu Nhân Bảo (981), nhà Tống phải
cầu ḥa. Ông ở ngôi được
25 năm
(980-1005), thọ 65 tuổi.
(2) Lê Long Đĩnh: Ông là con út
của vua Lê Đại Hành (em của Long Ngân, Long Kính, Long
Việt). Vua Lê Đại Hành mất (1005), Long Việt lên
ngôi (là vua Lê Trung-tông), nhưng chỉ được 3 ngày
th́ bị Long Đĩnh cho người ám sát để
đoạt ngôi, trở thành vua đời thứ ba của
nhà Tiền-Lê. Lê Long Đĩnh là ông vua nổi tiếng
về độc ác, bạo ngược, hiếu sát trong lịch
sử nước ta. Ông lại là người hoang dâm quá
độ, đến nỗi mắc bệnh không ngồi
được, phải nằm mà thính triều, cho nên
được người đương thời gọi
là “Ngọa-triều hoàng đế”. Ông ở ngôi
được 4 năm (1005-1009), thọ 20 tuổi.
(3) Lí Công Uẩn: Vua khai sáng nhà Lí (1010-1225). – Để phân biệt, có người gọi đây là nhà Hậu-Lí, khác với nhà Tiền-Lí (544-602) do Lí Nam-Đế (544-548) sáng lập. – Công Uẩn người làng Cổ-pháp, huyện Đông-ngạn, phủ Từ-sơn, tỉnh Bắc-ninh, không biết cha là ai, được mẹ là bà họ Phạm đem cho thiền sư trú tŕ chùa Cổ-Pháp là Lí Khánh Vân làm con nuôi, cho nên lấy họ Lí. Tuổi thơ ông đă sống kham khổ trong chốn thiền môn, nhưng lại được sự dạy dỗ tận t́nh của thiền sư Vạn Hạnh, nên lớn lên ông đă trở thành một người tài đức kiêm toàn, được vào triều phụng sự nhà Tiền-Lê, làm quan đến chức tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ. Ông được toàn thể đ́nh thần tin yêu và kính trọng, nên sau khi vua Lê Long Đĩnh băng (1009), ông đă được họ tôn lên ngôi vua (tức vua Lí Thái-tổ), khai sáng một triều đại nhà Lí huy hoàng, áp dụng tinh thần BI-TRÍ-DŨNG của Phật giáo trong việc trị dân, chấm dứt một giai đoạn tai ách khổ đau cho dân tộc. Sau khi lên ngôi, nhà vua cho dời kinh đô từ Hoa-lư (Ninh-b́nh) ra La-thành, đặt tên lại là Thăng-long (tức thành phố Hà-nội ngày nay), vẫn giữ quốc hiệu là Đại-cồ-việt (xin xem chú thích số 13 ở sau). Ông ở ngôi được 18 năm (1010-1028),
thọ 55
tuổi.
(4) Vạn Hạnh: Vị cao
tăng đời thứ 12 thiền phái T́ Ni Đa Lưu
Chi. Thiền sư họ Nguyễn, người làng
Cổ-pháp, huyện Đông-ngạn, phủ Từ-sơn,
tỉnh Bắc-ninh. Từ thuở nhỏ đă thông minh
khác thường, tinh thông cả Nho, Lăo, Phật, nghiên
cứu hàng trăm bộ kinh luận Phật giáo, không ham
danh lợi, không trọng giàu sang. Năm 21 tuổi xuất
gia, học với thiền sư Thiền Ông chùa
Lục-tổ, chuyên cần tinh tấn, đạo hạnh
cao dày, lại rất giỏi về sấm vĩ và phong
thủy, được thiên hạ tin tưởng là
bậc tiên tri. Thiền sư là thầy dạy học cho
cả vua Lê Đại Hành và Lí Thái-tổ, đă giúp
đỡ rất nhiều cho vua Lê Đại Hành trong các
việc cai trị cũng như quân quốc đại
sự. Khi đoán biết vận số nhà Tiền-Lê đă
hết, thiền sư đă khéo léo vận động
đưa Lí Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, chấm
dứt thời ḱ tối tăm đầy đau khổ
của dân tộc dưới triều vua Lê Long Đĩnh
tàn ác, dâm loạn, đồng thời ngăn chận
được những biến loạn nguy hiểm sau khi
vua Lê Long Đĩnh băng. Vua Lí Thái-tổ lên ngôi, mở
ra triều đại nhà Lí, phong cho thiền sư làm
quốc sư. Nhân cơ hội này, thiền sư đă
đem hết khả năng và tinh thần “dung hợp
Nho-Lăo-Phật” của ḿnh để giúp vua trị quốc
an dân, đúng với tư cách của một vị lănh
đạo không những về tâm linh, mà c̣n về hành
động giúp dân an cư
lạc nghiệp. Thiền sư tịch vào năm 1018.
(5) Lí Thái-tông: Con trưởng vua Lí Thái-Tổ, tên Phật Mă, nối ngôi năm 1028, là vua đời thứ hai nhà Lí. Ông là một vị quân vương thông minh, giỏi cả về chính trị cũng như quân sự. Ông cũng thấm nhuần đức độ của vua cha, thâm tín Phật pháp, nên rất thương dân và thường quan tâm đến đời sống của dân. Ông ở ngôi được 26 năm (1028-1054), thọ 55 tuổi.
(6) Trong
suốt thời gian ở ngôi, vua Lí Thái-tông đă
đặt 6 niên hiệu:
Thiên-thành (1028-1033); Thông-thụy (1034-1038);
Càn-phù-hữu-đạo (1039-1041); Minh-đạo (1042-1043);
Thiên-cảm-thánh-vũ (1044-1048);
Sùng-hưng-đại-bảo (1049-1054).
(7) Trích từ
sách Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam, tập II (Sài-g̣n: Phủ Quốc Vụ
Khanh Đặc Trách Văn Hóa, 1969)
của Nguyễn Đăng Thục.
(8) Trong
suốt thời gian trị v́, vua Lí Thánh-tông đă
đặt 5 niên hiệu:
Long-thụy-thái-b́nh (1054-1058); Chương-thánh-gia-khánh
(1059-1065); Long-chương-thiên-tự(1066-1067);
Thiên-huống-bảo-tượng (1068); Thần-vơ (1069-1072).
(9) Lí Thánh-tông: Vua Thái-tông băng (1054),
thái tử Nhật Tông lên nối ngôi làm vua đời
thứ ba nhà Lí, tức Lí Thánh-tông, đổi quốc
hiệu là Đại-việt. Ông cũng là một vị
quân vương tài trí, nhân từ và đức độ,
đă tạo một sự nghiệp hiển hách c̣n hơn
cả các đời trước. Ông ở ngôi
được 18 năm (1054-1072), thọ 50 tuổi.
(10) Theo giáo
sư Nguyễn Đăng Thục, Sđd.
(11) Hoàng Xuân
Hăn, Lí Thường Kiệt (Sài-g̣n: Ban Tu Thư Đại
Học Vạn
Hạnh, 1967).
(12) Trần
Văn Giáp, Phật Giáo Việt
Nam, Tuệ Sĩ dịch
(Sài-g̣n: Ban Tu Thư
Đại Học Vạn Hạnh, 1968).
(13) Năm 968,
Đinh Bộ Lĩnh dẹp yên 12 sứ quân, lên ngôi vua,
xưng là Tiên-hoàng-đế, đặt quốc hiệu là
Đại-cồ-việt (nước Việt lớn),
đóng đô tại Hoa-lư (tỉnh Ninh-b́nh).
(14) Nguyễn
Đăng Thục, Sđd.
(15) Nguyễn
Đăng Thục, Sđd.
(16)
Thượng-tọa Mật-Thể, Việt Nam Phật Giáo Sử Lược (Nha-trang: Phật Học Viện
Trung Phần, 1960).
(17) Nguyễn
Đăng Thục, Sđd.
(18) Nguyễn
Đăng Thục, Sđd.
(19) Nguyễn Đăng Thục, Sđd.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
-
Hoàng Xuân Hăn. Lí Thường Kiệt. Sài-g̣n: Ban Tu Thư Đại
Học Vạn
Hạnh, 1967.
-
Nguyễn Đăng Thục. Lịch
Sử Tư Tưởng Việt Nam, tập
I, II. Sài-g̣n: Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc
Trách Văn Hóa,
1969.
-
Nguyễn Đăng Thục. Thiền
Học Việt Nam. Sài-g̣n: Lá Bối, 1967.
-
Nguyễn Lang. Việt Nam
Phật Giáo Sử Luận I. Paris: Lá Bối, 1977.
-
Thượng tọa Mật Thể. Việt Nam Phật Giáo Sử
Lược.
Nha-trang: Phật Học Viện Trung Phần, 1960.
-
Trần Trọng Kim. Việt
Nam Sử Lược. Sài-g̣n: Tân Việt, in lần
thứ sáu.
-
Trần Văn Giáp. Phật Giáo
Việt Nam (Tuệ-Sĩ dịch). Sài-g̣n: Ban Tu Thư Viện
Đại Học Vạn Hạnh, 1968.
VIỆC DỊCH KINH
ở TRUNG QUỐC THỜI XƯA
Người Trung-quốc dùng từ “DỊCH KINH” để chỉ
chung cho công việc phiên dịch Tam Tạng giáo điển
(Kinh Luật Luận) từ Phạn văn (đôi khi
cũng có Tạng văn) ra Hán văn.
Các công tŕnh dịch kinh ở Trung-quốc thời
xưa, hầu hết là do chiếu chỉ của vua, cho
nên, sau tên dịch giả, thường có thêm ba chữ “phụng chiếu dịch” (vâng
chiếu chỉ của vua mà dịch), như: “Diêu Tần Tam Tạng Pháp Sư
Cưu Ma La Thập phụng chiếu dịch”. (Hiện
nay, khi in lại các bản kinh này, hai chữ “phụng chiếu” thường
bị bỏ đi, như: “Diêu
Tần Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập dịch”.)
Và như vậy, công tác dịch kinh cũng được
triều đ́nh bảo trợ. Triều đ́nh đă cho
xây cất những cơ sở rộng lớn, qui mô, để
chuyên dùng cho công việc này. Nói chung, nơi phiên dịch kinh
điển, gọi là “dịch
trường”.
Thường th́ việc dịch kinh không phải
chỉ do một người, cho nên, trong một viện dịch
kinh, triều đ́nh đă cho thành lập một hội
đồng phiên dịch, gồm toàn các vị cao tăng
ưu tú. Một vị pháp sư tinh thông cả Tam Tạng,
giỏi cả Phạn văn lẫn Hán văn, được
cử làm chủ tịch của hội đồng phiên dịch,
và được xưng là “Tam
Tạng Pháp Sư”. Trong hội đồng phiên dịch,
vị này được gọi là “Dịch chủ”; dưới vị này c̣n có tám vị
pháp sư phụ tá, chuyên trách tám phần vụ khác nhau. Cả
chín vị cao tăng trong hội đồng phiên dịch ấy
được gọi là “dịch
trường cửu vị”. Tên gọi và nhiệm vụ
của chín vị này như sau: 1)
Dịch chủ: vị Tam Tạng Pháp Sư đứng
đầu hội đồng phiên dịch, ngồi ở
ghế chủ tọa, tuyên đọc Phạn văn của
bộ kinh được phiên dịch; 2) Chứng nghĩa: vị pháp sư ngồi bên
trái vị Dịch chủ, có nhiệm vụ thẩm tra,
đánh giá Phạn văn, hoặc xét đoán văn dịch
có chính xác hay không; 3) Chứng
văn: vị pháp sư ngồi bên phải vị Dịch
chủ, có nhiệm vụ thẩm xét Phạn văn mà vị
Dịch chủ tuyên đọc là đúng, hay có chỗ nào
sai sót; 4) Thơ tự:
cũng gọi là “Thơ tự Phạn học tăng”, là vị
pháp sư có nhiệm vụ nghe đọc Phạn văn, rồi
theo âm tiếng Phạn mà viết thật đúng ra chữ
Hán; 5) Bút thọ: vị pháp
sư giữ nhiệm vụ dịch âm Phạn ra Hán
văn; 6) Chuyết văn:
vị pháp sư giữ nhiệm vụ nối kết
văn tự làm thành câu; 7) Tham
dịch: cũng gọi là “Chứng Phạn ngữ”, là vị
pháp sư giữ nhiệm vụ đối chiếu giữa
Phạn văn và Hán văn, coi chỗ nào đúng, chỗ nào
sai; 8) San định: là vị
pháp sư giữ việc cắt bỏ những lời
rườm rà để ổn định ư nghĩa; 9) Nhuận văn: vị pháp
sư giữ việc tu sức văn từ cho sáng sủa,
đẹp đẽ. Xem thế th́ tất cả chín vị
pháp sư trong hội đồng phiên dịch, đều
thông hiểu tường tận cả hai ngôn ngữ Phạn
và Hán. Họ đều được triều đ́nh kính
trọng và bảo hộ, cúng dường mọi thứ tiện
nghi cần thiết, được coi như quan chức của
triều đ́nh, cho nên đều được gọi là
“dịch quan”.
Dù hội đồng phiên dịch gồm có
chín vị, nhưng thường th́ chỉ có vị dịch
chủ đứng tên dịch giả của bộ kinh
được phiên dịch. Lịch sử Phật giáo
Trung-quốc từng nêu lên quí vị sau đây, được
coi là những vị dịch chủ trọng yếu ở
Trung-quốc: Đời Hậu-Hán (25-220) có An Thế Cao
(người nước An-tức); đời Tam-quốc
(220-280) có Chi Khiêm (người nước Nguyệt-thị);
đời Tây-Tấn (265-316) có Trúc Pháp Hộ (người
huyện Đôn-hoàng); đời Đông-Tấn (317-419) có
Đạo An (người Trung-quốc); đời Hậu-Tần
(384-417) có Cưu Ma La Thập (người nước
Qui-tư); đời Lưu-Tống (420-479) có Cầu Na Bạt
Đà La (người Trung Ấn-độ); đời
Lương-Trần (502-589) có Chân Đế (người
Tây Bắc Ấn-độ); đời Bắc-Ngụy
(386-534) có Bồ Đề Lưu Chi (người Bắc Ấn-độ);
đời Bắc-Chu (559-581) có Xà Na Quật Đa (người
Bắc Ấn-độ); đời Đường
(618-907) có Huyền Trang (người Trung-quốc), Địa
Bà Ha La (người Trung Ấn-độ), Thật Xoa Nan
Đà (người nước Vu-điền), Nghĩa Tịnh
(người Trung-quốc), Kim Cang Trí (người Nam Ấn-độ),
Thiện Vô Úy (người Trung Ấn-độ), Bất
Không (người Bắc Ấn-độ); đời Tống
(960- 1279) có Pháp Thiên (người Trung Ấn-độ), Pháp
Hiền (người nước Ca-thấp-di-la), Thi Hộ
(người nước Ô-điền-nẵng); v.v... Lại
trong quí vị Tam Tạng Pháp Sư dịch chủ trên
đây, bốn vị được chọn là trứ danh
nhất (được sử gọi là “tứ đại dịch kinh gia”): Cưu Ma La Thập,
Chân Đế, Huyền Trang, và Bất Không (có thuyết thay
Bất Không bằng Nghĩa Tịnh).
Các kinh luận chỉ được dịch
một lần th́ gọi là “đơn
dịch”; được dịch nhiều lần (nhiều
người dịch trùng một nguyên bản) th́ gọi là “trùng dịch, dị dịch, hay
đồng bản dị dịch”. Những bản dịch
không đề tên dịch giả, gọi là “thất dịch”.
Những dịch phẩm từ ngài Huyền
Trang (thế kỉ thứ 7)
trở về sau, gọi là “tân
dịch”; trước đó th́ gọi là “cựu dịch”; – đôi khi, những dịch phẩm
có trước ngài Cưu Ma La Thập (thế kỉ thứ
4), được gọi là “cổ
dịch”.
Liên quan đến việc dịch kinh từ
Phạn văn ra Hán văn, ngài Đạo An (312-385) đời
Đông-Tấn (317-419) có đề ra “năm sự kiện dễ làm mất nguyên ư” (ngũ
thất, hay ngũ thất bản) trong khi dịch kinh: 1) Do
văn pháp khác nhau nên văn từ giữa nguyên ngữ (tức
Phạn ngữ) và Hán ngữ đảo ngược. 2)
Văn thể của nguyên điển (tức Phạn
điển) chất phác, rất ít tu sức ngữ; trong
khi đó, Hán ngữ th́ chuộng nhiều tu sức ngữ.
3) Nguyên điển thường có nhiều câu nói lặp
đi lặp lại nhiều lần, rất là phiền
toái; khi dịch ra Hán ngữ phải bỏ bớt những
câu trùng lặp đó. 4) Trong kinh văn nguyên điển
thường xen lẫn những lời chú giải; trong
văn Hán dịch th́ lược bỏ những lời chú
giải này. 5) Nguyên điển nói xong một sự việc,
khi nói sự việc kế tiếp, thường lặp
đi lặp lại văn từ đă nói trong sự việc
trước; trong văn Hán dịch, những phần trùng lặp
như thế, thường được lược bỏ
đi. Đó là năm sự trạng dễ làm mất nguyên
ư trong khi dịch kinh. Ngài cũng lại đưa ra “ba sự kiện khó khăn” (tam
bất dị) trong khi dịch kinh: 1) Thánh điển
được thành lập dựa trên ngữ ngôn và phong tục
của người đương thời, nhưng rồi
vật đổi sao dời, thời tục biến đổi,
nếu muốn thích hợp với thời đại th́ sự
phiên dịch quả thật là khó! 2) Không luận khoảng
cách giữa thánh nhân và phàm phu nhiều hay ít, mà muốn cho
pháp âm vi diệu của thánh nhân từ ngàn xưa, thích hợp
với phong tục của chúng phàm ngu hậu thế, th́ sự
phiên dịch quả thật là khó! 3) Khi tôn giả A Nan đọc
tụng lại kinh điển (trong ḱ kết tập lần
thứ nhất), thời gian cách Phật tại thế
không lâu, rồi sau đó, trải qua vô số sự hiệu
đính, ghi chép của các bậc thánh tăng, từ đó
mà thánh giáo mới được lưu truyền; người
đời sau nếu đem cái kiến thức thiển cận
mà dịch kinh, dù có muôn phần cẩn thận, cũng không
thể nào tránh khỏi sai lầm; cho nên biết, sự dịch
kinh quả thật là khó! Năm sự kiện dễ làm mất
nguyên ư và ba sự kiện khó khăn trong khi dịch kinh do
ngài Đạo An đưa ra trên đây, được gọi
chung là “ngũ thất tam bất
dị” (năm mất ba không dễ).
Ngài Huyền Trang (602?-664) đời Đường
(618-907) lại đưa ra “năm
trường hợp không phiên dịch” (tức là không dịch
nghĩa, chỉ phiên âm từ Phạn ngữ ra Hán ngữ):
1) Những lời nói bí mật, như “đà-la-ni”, không phiên dịch. 2) Những từ
hàm nhiều ư nghĩa, như “bà-già-phạm”, không phiên dịch.
3) Những vật ǵ không thấy có ở Trung-quốc,
như cây “diêm-phù”, không phiên dịch. 4) Những từ đă
được dịch âm ở thời “cổ dịch”
trước kia, mọi người đă dùng quen, như “a-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề”,
không phiên dịch. 5) Những từ mà người vừa
nghe liền phát thiện tâm, như “bát-nhă”, vừa nghe liền sinh ḷng tin tưởng,
nếu dịch ra thành “trí tuệ” th́ sợ người ta
xem nhẹ; v́ tôn trọng cho nên không phiên dịch.
Đạo tràng dịch kinh (dịch trường)
được gọi là “dịch
kinh viện”. Nhưng cũng phải trải qua một
thời gian dài, Trung-quốc mới lập được
các dịch kinh viện qui mô hoàn bị. Tương truyền,
công việc dịch kinh ở Trung-quốc bắt đầu
từ khoảng niên hiệu Vĩnh-b́nh (58-75), thời vua
Linh đế, nhà Đông-Hán (25-220). Đó là thời ḱ
sơ khai, dịch kinh viện chưa được thành lập.
Việc dịch kinh lúc đó được thực hiện
tại chùa Bạch-mă, trong thành Lạc-dương. Thời
Tam-quốc (220-280), vua Tôn Quyền (222-252) của nước
Ngô đă xây chùa Kiến-sơ (năm 247) tại kinh đô
Kiến-nghiệp (Nam-kinh), thỉnh thiền sư
Khương Tăng Hội (?-280) từ Giao-châu sang trụ
tŕ và dịch kinh. Đời Tấn (255-419), các ngài Đạo
An (312?-385), Cưu Ma La Thập (344?-413?), v.v... dịch kinh tại
chùa Ngũ-trùng ở Trường-an. Thời Nam-triều
(420-589), các chùa Ḱ-hoàn ở Kiến-khang (Nam-kinh), Vĩnh-ninh
ở Lạc-dương, Tứ-thiên-vương ở
Trường-an, v.v... được dùng làm đạo tràng
dịch kinh. Năm 606, vua Dạng đế (605-618) nhà Tùy
(581-619) cho xây cất Phiên-kinh-viện trong vườn
Thượng-lâm ở Lạc-dương; đó là đạo
tràng dịch kinh riêng biệt đầu tiên được
thiết lập. Năm 648, vua Thái-tông (627-649) nhà Đường
lại cho xây Phiên-kinh-viện ở phía Tây Bắc chùa Đại-từ-ân
ở Trường-an để chuyên dùng cho việc dịch
kinh. Đến đời Tống (960-1279), vua Thái-tông
(976-997) đă cho xây Dịch-kinh-viện; sau đó lại
đổi thành Truyền-pháp-viện; và lập Ấn-kinh-viện
ngay bên cạnh để in kinh sách.
Đó là đại lược về công việc
phiên dịch Tam Tạng giáo điển ở Trung-quốc.