SÁM NGĂ NIỆM
Hạnh Cơ dịch
PHIÊN ÂM
Ngă niệm tự tùng vô thỉ kiếp
Thất viên minh tánh tác trần lao
Xuất sinh nhập tử thọ luân hồi
Dị trạng thù h́nh tao khổ sở
Túc tư thiểu thiện sinh nhân đạo
Hoạch ngộ vi phong đắc xuất gia
Phi truy tước phát loại sa môn
Hủy giới phá trai đa quá hoạn
Hoại sinh hại vật vô từ niệm
Đạm nhục xan huân dưỡng uế xu
Chúng nhân tài thực tứ xâm man
Tam Bảo tư duyên đa hỗ dụng
Tà mạng ác cầu vô yếm túc
Đam dâm thị tửu dũ hoang mê
Mạn Phật khinh Tăng báng đại thừa
Bội nghĩa cô thân hủy sư trưởng
Văn quá sức phi dương kỉ đức
Hạnh tai lạc họa yểm tha năng
Hư cuống khi vưu cạnh lợi danh
Đấu cấu thị phi tranh nhân ngă
Ác niệm tà tư vô tạm tức
Khinh phù trạo tán vị thường đ́nh
Truy phan nhân sự dũ tinh chuyên
Tŕ tụng Phật kinh duy khốn khổ
Ngoại hiện oai nghi tăng siểm trá
Nội hoài ngă mạn cánh sơ cuồng
Lại đọa huân tu tứ thụy miên
Xan tật tham lam vô quí sỉ
Dă điền uế bản tương hà dụng
Đại hải phù thi bất cửu đ́nh
Kí vô nhất niệm khả tư thân
Tất đọa tam đồ oanh chúng khổ
Ngưỡng nguyện Bổn Sư Vô Lượng
Thọ
Quán Âm Thế Chí Thánh Hiền Tăng
Đồng triển oai quang phủ chiếu lâm
Cộng tứ minh gia hàm cứu bạt
Vô thỉ kim sinh chư tội chướng
Lục căn tam nghiệp chúng khiên vưu
Nhất niệm viên quang tội tánh không
Đẳng đồng pháp giới hàm thanh tịnh
DỊCH
Kính lạy Phật!
Con từ vô thỉ kiếp,
Mây vô minh che lấp
tánh viên minh,
Tạo bao việc ác,
bỏ hết việc lành,
Quanh quẩn luân hồi,
vào ra sinh tử,
Đổi xác thay h́nh,
biết bao khổ sở!
Nhờ chút duyên lành
đời trước, nay được làm người;
May gặp ngọn gió
thanh lương, ĺa bỏ thói đời,
Cạo râu tóc, mặc
ca sa, vào ḍng Thích tử.
Nhưng lại buông
lung theo đường ác cũ,
Tạo nhiều tội
lỗi: phá giới phạm trai,
Sát sinh hại vật
không chút bi hoài,
Thịt cá tanh hôi nuôi
thân bẩn thỉu,
Lạm dụng của
Tam Bảo,
Tham lam lấy của
người,
Nghiện rượu,
đắm sắc, mê mải chơi bời,
Sống măi đường
tà ḷng không nhàm chán;
Bội nghĩa, vong
ân, coi thường sư trưởng,
Hủy báng Kinh Pháp,
khinh Phật, mạ Tăng;
Hay đố kị,
chèn ép kẻ tài năng,
Dùng lời ngoa, khoe
khoang ḿnh cao đức;
Giành giật lợi
danh, dối người chân thật,
Hơn thua nhân ngă, tranh
căi thị phi;
Bề ngoài giả dối
hiện tướng oai nghi,
Thật tế bên trong
ngông cuồng ngạo mạn;
Suy nghĩ lăng
nhăng tâm luôn tán loạn,
Ư tà niệm ác cứ
măi loay hoay,
Chuyện người
bàn tán phấn khởi hăng say,
Niệm Phật tụng
kinh dùng dằng uể oải,
Biếng nhác tu hành, chỉ
ham ngủ nghỉ,
Tham lam bỏn sẻn
không biết thẹn thùng;
Ruộng hoang mầm mục
chẳng có chỗ dùng,
Thây nổi đại
dương, trôi không dừng nghỉ.
Bản thân không mảy
may phước trí,
Chắc chắn phải
chịu khổ ba đường.
Con cúi xin nơi Cực-lạc
Tây-phương,
Phật Di Đà cùng
Quán Âm, Thế Chí,
Phóng quang uy nghi chiếu
soi trần thế,
Cứu con từ vô thỉ
kiếp đến nay,
Sáu căn nghiệp
chướng sâu dầy,
Sát na diệt hết tội
này sạch không;
Nguyện cùng pháp giới
đại đồng,
Viên quang thanh tịnh dứt
ṿng tử sinh.
ĐẠI LĂO H̉A THƯỢNG THÍCH
TRÍ QUANG TẤN TỤNG H̉A THƯỢNG
TÂN VIÊN TỊCH THÍCH ĐỖNG MINH

Phiên âm:
Đỗng Minh t́ kheo thiện
qui chân tế
Phụng cúng chúng trung tôn (1)
Thiện thuận giải thoát giới
(2)
Bịnh tử bất khổ thân (3)
Thị thắng dị thục tướng
(4)
Nhị ngũ
tứ cửu
TRÍ QUANG t́ kheo
tấn tụng
Dịch nghĩa:
T́ kheo Đỗng
Minh
an tường
về cơi Chân-tịnh
Kính cúng dường bậc
Chúng trung tôn (1)
Người đă trọn vẹn
tùy thuận
giới giải thoát (2)
Cả bệnh hoạn và sự
chết đều không
làm khổ được
thân tâm (3)
Đó là tướng dị thục
thù thắng (4)
Phật lịch 2549
T́ kheo TRÍ QUANG kính tiến
lời tụng
Giải thích:
(1) “Chúng trung tôn” là bậc có giới
đức cao tột, được tôn quí, kính trọng nhất
trong đại chúng. Ở đây có ư nói, Ḥa Thượng Đỗng Minh là bậc đạo
cao đức trọng hiếm có trên đời, được
tất cả mọi người đều tôn quí.
(2) Chữ “thiện” trong câu chữ Hán có
nghĩa là trọn vẹn, không có chút lỗi lầm, sơ
sót nào. Từ “thuận giải
thoát giới” trong câu chữ Hán là ư nghĩa của tiếng
Phạn “ba-la-đề-mộc-xoa”, tức giới luật.
Giới luật có công năng pḥng hộ thân tâm, diệt trừ
mọi phiền năo, làm cho người tu hành giải thoát ba
cơi. Chữ “thuận” tức
là tùy thuận. Giới luật thuận theo quả giải
thoát, cho nên nói là “tùy thuận giải
thoát giới”, hay “thuận
giải thoát giới”. Câu này nói lên cái thấy tinh tường
của tác giả về Ḥa
Thượng Đỗng Minh, và đó là lí do tại sao
trong câu đầu tác giả đă xưng tụng Ḥa
Thượng là bậc “Chúng
trung tôn”.
(3) Hai tháng
trước ngày viên tịch, Ḥa
Thượng Đỗng Minh lâm trọng bệnh. Tuy thân
bị bệnh (một chứng bệnh mà nếu là người
thường th́ đau đớn dằn vặt dữ dội)
nhưng tâm Ngài vẫn an nhiên tự tại, đi đứng
ngồi nằm thư thái, phong độ hoan hỉ thường
xuyên. Biết trước giờ phút lâm chung sẽ đến
nhanh chóng mà tâm không sợ sệt, không bị thế gian
thường t́nh làm cho chướng ngại tuệ giác; cứ
thế an tường, cho đến giây phút cuối cùng xả
bỏ báo thân. Câu này tác giả đă nói lên sự thật về
đạo phong cao cả của một bậc chứng
đạt.
(4) Cái nhân khi
đă chín muồi, kết trái, th́ gọi là “dị thục”. Chữ “thắng” nghĩa là tốt đẹp vượt
trội hơn hết. Trong thuật ngữ Phật học,
chữ “thắng” thường
được dùng để chỉ cho sự toàn thiện,
toàn bích, trang nghiêm tốt đẹp vượt trội thế
gian; ở đây được tác giả dùng để chỉ
cho đạo phong toàn bích, cao vợi của Ḥa Thượng Đỗng Minh.
Chữ “tướng” ở
đây có thể chỉ cho cái thân tướng hữu h́nh
(có thể trông thấy bằng nhục nhăn), mà cũng có thể
chỉ cho cái thân tướng vô h́nh (chỉ có thể trông
thấy bằng tuệ nhăn hay đạo nhăn) của một
người. Ḥa Thượng
Đỗng Minh đă gieo trồng thiện căn từ
bao đời trước để đến đời
này có được cái báo thân toàn thiện, kiêm đủ
các đức tính bi trí dũng, một đạo phong cao vợi
của bậc chân tu; đó quả thật là một “thắng dị thục tướng”
hiếm thấy trên đời.
Ḥa Thượng Thích Đỗng
Minh vốn là môn hạ
từng theo học kinh luận đại thừa với
Đại Lăo Ḥa Thượng Thích Trí Quang. Nay Ngài đă “thiện qui chân tế”, lại
được bậc Thầy của ḿnh đem cả chân
t́nh xưng tán, thật đáng coi là việc “vị tằng
hữu” trên đời. Cao quí thay, thượng trí thầy
tṛ! Thắng diệu thay, tấm gương tṛn đầy
trong sáng!
Vậy xin mạo
muội diễn dịch bài tụng trên ra mấy vần lục
bát như sau:
Cúng dường bậc Chúng trung
tôn
Giới nghi nghiêm mật sạch
không lỗi lầm
An nhiên bệnh tử tới
gần
Thường tịch quang
độ chân thân hiện bày
Miền Tây Gia-nă-đại,
ngày Đầu tháng Cuối năm 2005 (PL 2549)
Cư sĩ Hạnh Cơ
BẬC ĐẠO SƯ CAO CẢ
(Lược
truyện đức Phật Thích Ca Mâu Ni)
Cách nay hơn
26 thế kỉ, tại phía Nam chân núi Hi-mă-lạp (Himalaya)(1)
của miền cực Bắc bán đảo Ấ-độ
(India), có một vương quốc nhỏ tên là Thích-ca
(Sakya)(2), đương thời được trị v́ bởi
quốc vương Tịnh Phạn Cồ Đàm (Suddhodana
Gotama) và hoàng hậu Ma Ha Ma Da (Maha Maya)(3). Kinh đô của
vương quốc là thành Ca-t́-la-vệ (Kapilavatthu). Cả
quốc vương và hoàng hậu đều là những bậc
đức hạnh, nhân từ, nhưng về đường
con cái th́ thật là hiếm muộn.
Măi đến
khi ngoài bốn mươi tuổi, một buổi sáng trời
trong mát, sau giấc ngủ an lành, hoàng hậu đă thức
dậy trong niềm hân hoan khó tả. Rơ ràng là tiếng hát ca
chúc tụng và nhạc trời êm dịu vẫn c̣n đang
vang vọng trong tai bà. Với niềm vui đầy ắp
trong ḷng, hoàng hậu đến ngay tẩm điện của
đức vua để kể cho ngài nghe niềm vui ấy,
để ngài cùng chia sẻ với bà. Hoàng hậu kể rằng,
trong đêm qua, bà nằm mơ thấy một con voi trắng
sáu ngà, từ trên trời đi xuống, có tiếng hát chúc
tụng của chư thiên, có hương thơm ngào ngạt.
Con voi đến sát hông bên phải của bà, rồi chui mất
vào trong bụng bà. Bà không hề sợ hăi, mà cảm thấy
thanh thản vô cùng, và bà đă thức giấc trong niềm
vui thanh thản đó... Thật là một giấc mơ ḱ
diệu! Nghe giấc mộng của hoàng hậu, đức
vua cũng cảm thấy hân hoan vô hạn.
Ngay sáng hôm
đó, đức vua đă cho mời các vị đạo
sĩ Bà-la-môn (Brahaman) nổi tiếng trong kinh thành, vào hoàng
cung để đoán mộng. Họ đều tâu: Đây
là điềm hoàng hậu thọ thai và về sau sẽ sinh
một vị hoàng nam lỗi lạc. Vua và hoàng hậu đều
vui mừng khôn xiết, bèn truyền lệnh mở kho tổ
chức cứu tế cho những thần dân bệnh tật
và nghèo khó trong nước, làm cho ai ai cũng cảm thấy
ấm áp trong t́nh thương yêu đùm bọc của bậc
cha mẹ muôn dân.
Gần đến
ngày sinh, theo tục lệ của Ấn-độ thời
đó, hoàng hậu phải về quê hương ḿnh ở
kinh thành Lam-mạt (Ramagama)(4) của vương quốc
Câu-lị (Koliya) để sinh nở. Từ Ca-t́-la-vệ về
Lam-mạt chỉ mất chừng một ngày đường.
Đó là một
buổi sáng mùa xuân thật đẹp, hoàng hậu và
đoàn tùy tùng đă rời Ca-t́-la-vệ rất sớm
để về quê. Ra đến vùng ngoại ô kinh thành, bà
cảm thấy hơi mệt, nên ghé vào vườn Lâm-t́-ni
(Lumbini) nghỉ chân. Buổi sáng trời trong tươi mát,
muôn hoa đang lúc nở rộ đầy vườn, chim
hót rộn ră vang lừng, tất cả như đều lộ
vẻ tươi vui, hân hoan đón mừng bậc mẫu
nghi hiền đức. Hoàng hậu cũng cảm thấy
niềm vui dâng lên tràn ngập trước ảnh thiên nhiên
mầu nhiệm ấy. Bà bỗng chú ư tới cây Vô-ưu ở
giữa vườn, hoa đang nở rực rỡ đầy
cành, vẻ tươi đẹp nổi bật hẳn lên
giữa vườn hoa vốn đă tươi đẹp.
Bà khoan thai bước tới gần. Nhưng bỗng
dưng bà thấy người hơi lảo đảo. Bà
vội nắm chặt lấy một cành Vô-ưu để
đứng được vững hơn; liền lúc ấy
bà hạ sinh thái tử. Hôm đó là ngày trăng tṛn tháng thứ
hai (Vesaka) theo lịch Ấn-độ(5) (nhằm ngày
trăng tṛn tháng 5 dương lịch, tức ngày Rằm
tháng Tư lịch Việt-nam), năm 624(6) tr. TL.
Hoàng hậu
và thái tử liền được đưa ngay trở lại
Ca-t́-la-vệ để được săn sóc kịp thời.
Được tin cấp báo, vua Tịnh Phạn vui mừng
không xiết kể, lập tức vào thăm ngay. Thái tử
được đặt tên là Tất Đạt Đa Cồ
Đàm (Siddhattha Gotama)(7).
Sự ra
đời của thái tử đă là niềm vui lớn cho
cả vương triều và thần dân khắp
vương quốc. Vua Tịnh Phạn cho mời các đạo
sĩ Bà-la-môn thông thái nhất vào cung để xem tướng
cho thái tử. Họ đều đoán rằng, thái tử
sau này sẽ trở thành một vị hoàng đế vĩ
đại nhất thế gian, cai trị cả bốn
phương thiên hạ; nhưng một vị lỗi lạc
nhất trong số ấy đă quả quyết rằng,
thái tử sau này sẽ xuất gia và thành bậc chánh giác.
Bấy giờ
có một vị đạo sĩ bác học đa văn tên
là A Tư Đà (Asita)(8), từ một vùng núi xa xôi, nghe tin
thái tử giáng trần, cũng tức tốc t́m đến
kinh thành Ca-t́-la-vệ để xin được xem tướng
cho thái tử. Sau một lúc nh́n thái tử chăm chú, bỗng
nhiên ông bật khóc. Cử chỉ lạ lùng ấy của
đạo sĩ A Tư Đà đă làm cho đức vua sửng
sốt, không biết tai họa ǵ sẽ xảy đến
cho thái tử đây! Nhưng đạo sĩ đă kịp
thời trấn an đức vua. Ông lau nước mắt
tâu: “Tâu bệ hạ! Thần
khóc không phải v́ có điềm ǵ xấu, mà v́ tủi cho số
phận của thần! Thần biết rơ, thái tử sau
này sẽ không làm vua, mà sẽ đi tu và trở thành một
bậc đạo sư cao cả, trí tuệ vẹn toàn, thấu
suốt mọi lẽ huyền vi của vũ trụ. T́nh
thương của Ngài thật bao la, coi tất cả chúng
sinh là thân tộc, và lấy việc truyền bá chân lí làm sự
nghiệp cứu độ muôn loài. Thần khóc là v́ thần
sẽ không c̣n sống được bao lâu nữa để
được nghe lời dạy từ miệng bậc
trí tuệ siêu phàm. Quả là phúc lớn cho bệ hạ!
Phúc lớn cho vương quốc! Và phúc lớn cho nhân loại!”
Nói xong, ông cáo từ lui gót.
Sau khi sinh thái
tử được bảy ngày th́ hoàng hậu Ma Da
băng. Vua Tịnh Phạn bèn giao thái tử cho bà di mẫu
(mà cũng là kế mẫu) của thái tử là hoàng hậu
Ma Ha Ba Xà Ba Đề (Maha Pajapati – cũng gọi là Kiều
Đàm Di - Gotami) nuôi dưỡng và dạy dỗ thành
người.
Đức
vua hết sức lưu tâm đến việc giáo dục
cho thái tử. Các danh sư Bà-la-môn tiếng tăm lừng lẫy
đă được mời vào cung để dạy học.
Thái tử cực ḱ thông minh, các môn triết, văn, lí, số,
và cả vơ nghệ, môn nào cũng học mau chóng, xuất sắc,
trội hẳn các vị vương tử khác trong triều,
làm cho các vị giáo sư đều kinh ngạc và bái phục.
Năm chín tuổi,
thái tử được theo phụ vương đi dự
lễ cày ruộng đầu năm (tức lễ “hạ
điền”). Chính trong buổi lễ này, thái tử đă
chứng kiến thảm cảnh con người phải
đổ bao mồ hôi nước mắt để có miếng
ăn; trâu ḅ vừa phải kéo cày, vừa phải chịu
những lằn roi đau điếng trên lưng; những
con trùn bị lưỡi cày cắt đứt nhiều
đoạn, đau đớn quằn quại trên luống
cày; các loài chim thú ŕnh rập, cắn xé ăn thịt nhau...
Đây là lần đầu tiên thái tử thấy tận mắt,
và cảm nhận được nỗi đau khổ của
đời sống, và bắt đầu tư duy về cuộc
đời từ thuở ấy. Cái quang cảnh đó, sự
tư duy đó sẽ giúp thái tử thật nhiều sau này,
khi Người quyết tâm ra đi t́m đạo giải
thoát.
Cũng trong
năm ấy, một hôm thái tử đang thơ thẩn một
ḿnh trong vườn ngự, th́ có một con ngỗng trời
từ trên không rơi xuống trước mặt, với
một mũi tên ghim xuyên qua cánh. Nó nằm giăy giụa trên
đất có vẻ đau đớn lắm. Thái tử bèn
chạy đến ôm nó lên để cứu chữa. Th́nh
ĺnh, người em chú bác của thái tử là vương tử
Đề Bà Đạt Đa (Devadatta)(9) xuất hiện với
cung tên trong tay. Vương tử đ̣i thái tử phải
giao trả con chim lại cho chàng, nhưng thái tử từ
chối. Vương tử nói là chim do ḿnh bắn được;
thái tử th́ bảo chim do ḿnh cứu sống nên có quyền
giữ nó. Một bên viện dẫn hành vi ác độc của
ḿnh để giành quyền làm chủ; một bên th́ viện
dẫn t́nh thương yêu bảo bọc để giành quyền
làm chủ. Cuộc tranh chấp đó giữa hai người,
cuối cùng phải nhờ đến triều đ́nh phân
xử. Và thái tử được thắng cuộc,
được quyền giữ con ngỗng trời. Thái tử
vui lắm, v́ khỏi phải giao con chim cho Đề Bà
Đạt Đa. Thái tử biết chắc chắn, nếu
giao cho Đề Bà Đạt Đa th́ thế nào con chim
cũng sẽ bị giết chết. Mấy ngày sau, thấy
vết thương trên cánh chim đă lành, thái tử ôm nó ra
giữa vườn, nói mấy lời tŕu mến, rồi
thả nó bay trở về với trời xanh bao la.
Càng lớn
thái tử càng học giỏi. Ngoài những môn học
thường thức về văn học, thiên văn, vơ
nghệ, thái tử c̣n đặc biệt chăm chú đến
tư tưởng hàm chứa trong các kinh Vệ Đà (Veda), Phạm
Thư (Brahmana) và Áo Nghĩa
Thư (Upanisad) (10) – tất cả đều là sản
phẩm của đạo Bà-la-môn.
Thái tử quả
là một thiếu niên thông minh xuất chúng. Tuy c̣n nhỏ tuổi,
thái tử đă có những suy nghĩ chín chắn, sâu sắc
đối với giáo lí Bà-la-môn. Càng đi sâu vào nội dung
của các kinh điển trên, thái tử càng thấy rơ những
điều vô lí, bất công hàm chứa trong giáo lí ấy. Bởi
vậy, trong tâm tư thái tử đang có khuynh hướng
không chấp nhận ba giáo điều căn bản của
đạo Bà-la-môn(11). Thái tử cũng không thể chấp
nhận cái trật tự xă hội với bốn giai cấp
đầy bất công(12) đă được xây dựng bằng
luật Mă Nỗ (Manu) của Bà-la-môn. Từ những ư
tưởng ấy, cộng với những h́nh ảnh
đau thương đă mục kích trong ngày lễ hạ
điền năm xưa, thái tử đă ấp ủ trong
ḷng một hoài băo, làm thế nào để t́m ra một con
đường mới mẻ, có thể thay đổi cái
truyền thống ứng xử bất công trong xă hội
hiện tại, đồng thời giúp cho mọi người
và mọi loài thoát khỏi những nỗi khổ đau, bất
hạnh triền miên trong cuộc sống. Nỗi bận
tâm đó đă làm cho thái tử thường có dáng vẻ
trang nghiêm, nét mặt lúc nào cũng trầm ngâm tư lự.
Thấy thái
độ ấy của thái tử, vua Tịnh Phạn
cũng đoán biết được tâm ư thái tử
đang nghĩ ngợi ǵ, cho nên rất lấy làm lo lắng.
Đức vua nhớ tới lời tiên đoán năm
xưa của đạo sĩ A Tư Đà, th́ lại càng
sợ sệt. Để đánh tan những ư tưởng
“bất thường” trong tâm tư thái tử, đức
vua cho tổ chức thường xuyên các cuộc vui như
ḥa nhạc, vũ hội, du ngoạn v.v..., cho thái tử vui
chơi. Đức vua cũng khuyến khích thái tử và các
vương tử thuộc bộ tộc Thích Ca chuyên cần
luyên tập thể thao và vơ nghệ, cốt làm cho ư chí của
thái tử hăng say phấn chấn lên. Đồng thời,
thái tử cũng được phụ vương hướng
dẫn thực tập chính trị để sẵn sàng kế
vị sau này. Và một việc vô cùng quan trọng khác là chuẩn
bị cưới vợ cho thái tử. Với tất cả
những việc làm đó, nhà vua đều nhằm tạo
các mối dây ràng buộc quấn chặt thái tử, để
tránh việc thái tử “có thể bỏ nhà đi tu” –
như lời tiên đoán của đạo sĩ A Tư
Đà.
Từ lâu, vua
Tịnh Phạn và hoàng hậu Kiều Đàm Di đều
đă có ư cưới công chúa Da Du Đà La (Yasodhara)(13) làm
chánh phi cho thái tử. Nàng là một công chúa nhan sắc diễm
lệ, cốt cách đoan trang, dáng vẻ thùy mị, tính
t́nh lại ôn nhu, giản dị, không kiêu ḱ, có ḷng bao dung,
hay thương người nghèo khó, bệnh tật. Theo
hoàng hậu th́ nàng chính là người xứng đáng và
thích hợp nhất để làm vợ thái tử. Các vị
hoàng thúc của thái tử, cũng như song thân của công
chúa là vua Thiện Giác (Suppabuddha) và hoàng hậu Cam Lộ
(Pamita) của nước láng giềng Câu-lị, đều
rất tán thành cuộc hôn nhân này.
Thế là
đám cưới của thái tử Tất Đạt
Đa và công chúa Da Du Đà La đă được tổ chức
trọng thể trong niềm hân hoan vô bờ của cả
triều đ́nh và dân chúng khắp vương quốc
Thích-ca. Riêng vua Tịnh Phạn th́ rất lấy làm thỏa
măn, v́ tin tưởng rằng ḿnh đă dùng được
sợi dây t́nh ái để cột chân thái tử vĩnh viễn
nơi vương cung.
Để làm
cho niềm tin ấy càng thêm vững chắc, đức vua
đă cung cấp cho thái tử đủ mọi thứ dục
lạc của một đời sống đế
vương. Ngài truyền dựng cho hai vợ chồng thái
tử ba ṭa cung điện cao sang lộng lẫy: một
cung để ở vào mùa nóng, một cung cho mùa mưa, và một
cung cho mùa lạnh. Trong cung nào, kẻ hầu người hạ
cũng đông đúc. Những buổi đàn ca xướng
hát được tổ chức liên miên, bao nhiêu vũ nữ,
nhạc công tài giỏi trong nước đều
được tuyển dụng để thường trực
giúp vui cho hai vợ chồng thái tử. Và dĩ nhiên, đức
vua rất hài ḷng về cái công tŕnh tuyệt hảo ấy của
ḿnh!
Nhưng không
v́ thế mà thái tử bị đắm ch́m trong nếp sống
xa hoa nhung lụa và uy quyền địa vị. Thái tử
sống rất nhiều về nội tâm, lúc nào cũng
tư duy về cuộc thế. Thái tử nhận thấy,
cuộc sống hạnh phúc mà ḿnh đang có, chỉ là cái hạnh
phúc tạm bợ, giả dối. Có một động lực
nào đó, cứ thôi thúc thái tử phải đi t́m một
nếp sống hạnh phúc chân thật. Bên cạnh đó,
công nương Da Du Đà La quả là một người vợ
hoàn toàn tâm đầu ư hợp của thái tử. Nàng là một
người đầy nhân hậu và cực ḱ thông minh. Dù
thái tử chưa dám đường đột thổ lộ
điều ǵ, nhưng nh́n thấy dáng vẻ, cử chỉ
của thái tử, nàng cũng hiểu được tâm sự
ấy. Tuy không rơ rệt lắm, nhưng nàng cũng thấy
được những ưu tư đang dằn vặt
trong ḷng thái tử. Không những hiểu được tâm
ư chồng, công chúa c̣n tỏ ra ủng hộ ư chí của chồng.
Nàng tin tưởng rằng, một người như thái
tử, nếu quyết tâm t́m kiếm một con đường
sáng, th́ nhất định chàng sẽ thành công...
Thế rồi,
nhân những lần ra khỏi hoàng cung để du ngoạn
phố phường làng xóm đó đây, được trực
tiếp nh́n thấy nhiều hơn nữa những thực
trạng đau khổ của kiếp người như
già nua, bệnh tật, chết chóc, thái tử càng thấy
xót xa cho thân phận con người; và cái lực thôi thúc kia
cũng càng lúc càng mạnh mẽ hơn. Giữa lúc đó
th́ hoàng tôn La Hầu La (Rahula)(14) ra đời. Ái t́nh đă
là một sợi dây ràng buộc, vương vị là một
sợi dây ràng buộc khác, và bây giờ đây, với bé
thơ La Hầu La, th́ lại thêm một dây ràng buộc khác
nữa. Nhưng thái tử vẫn quyết tâm tháo gỡ những
ràng buộc này.
Một hôm,
khi vừa nh́n thấy h́nh bóng thanh thoát của một vị
sa môn, thái tử liền cảm thấy tâm hồn rúng động.
Trong phút chốc, chàng như thấy rơ con đường
đi chính đáng của ḿnh. Ư tưởng xuất gia t́m
đạo giải thoát vụt sáng trong ḷng thái tử.
Thái tử xin
phép phụ vương đi xuất gia học đạo.
Đức vua cương quyết chối từ, lại
c̣n t́m mọi cách để ngăn chận, cản trở,
không để cho thái tử ra đi. Nhưng ư chí đă quyết,
nhân một đêm khuya trăng sáng, mọi người trong
cung đều đă ngủ say, thái tử bảo người
đánh xe trung thành là Xa Nặc (Channa), thắng yên
cương cho con ngựa Kiền Trắc (Kanthaka), rồi
hai thầy tṛ cùng yên lặng ra khỏi hoàng thành, giục ngựa
thẳng về phương Nam. Thái tử đă
cương quyết xa ĺa vợ đẹp con yêu, cha mẹ
họ hàng, từ bỏ nếp sống vương giả
và cả một tương lai rực rỡ nơi cung vàng
điện ngọc, để đi xuất gia t́m đạo
giải thoát. Năm đó thái tử được 29 tuổi.
Thái tử phi
ngựa suốt đêm không nghỉ, đến tảng sáng
hôm sau th́ đă vượt khỏi ranh giới vương
quốc Thích-ca, tiến vào địa phận vương
quốc Mạt-la (Malla). Sau khi vượt qua sông A-nô-ma
(Anoma) th́ thái tử dừng lại, xuống ngựa, lấy
kiếm tự cắt tóc, rồi giao kiếm, áo bào và mớ
tóc cho Xa Nặc đem về hoàng cung báo tin thái tử xuất
gia cho mọi người biết. Xa Nặc đi rồi,
thái tử đổi chiếc áo quí giá đang mặc trên
ḿnh để lấy tấm vải màu chàm của người
thợ săn, khoác lên người, một ḿnh đi vào rừng
sâu... Từ đây, thái tử tự nguyện sống đời
tu sĩ, biến ḿnh thành sa môn Cồ Đàm, chấp nhận
nếp sống kham khổ về vật chất, không tiền
bạc, cửa nhà, đầu không đội nón, chân không dầy
dép, chỉ có một quyết tâm dũng mănh là t́m thầy học
đạo.
Trước
tiên sa môn Cồ Đàm theo học với các vị đạo
sĩ lừng danh đương thời như A La Lam
(Alara Kalama) ở gần kinh thành T́-xá-li (Vaisali) của
vương quốc Lê-xa (Licchavi), và Uất Đầu Lam Phất
(Uddaka Ramaputta) ở gần kinh thành Vương-xá (Rajagaha) của
vương quốc Ma-kiệt-đà (Magadha)(15). Không bao lâu,
Ngài đă thấu triệt giáo lí vi diệu nhất của
các vị này, và chứng đắc quả vị cao nhất
ngang bằng với họ, nhưng vẫn không thấy thỏa
măn, v́ đó chưa phải là quả vị giải thoát rốt
ráo, giác ngộ cùng tột, niết bàn tịch tịnh. V́ vậy,
Ngài đă từ tạ các vị này ra đi, không theo học
với vị đạo sư nào nữa, mà một ḿnh nỗ
lực để tự phát huy ánh sáng giác ngộ nơi
chính bản tâm ḿnh. Ngài dừng lại ở một khu rừng
bên bờ sông Ni-liên (Neranjara), cạnh thôn Ưu-lâu-tần-loa
(Uruvela), thuộc vương quốc Ma-kiệt-đà. Tại
đây, cùng với năm vị đạo sĩ bạn hữu,
Ngài đă thực hành phép tu khổ hạnh, tự khép ḿnh
trong nếp sống cực ḱ kham khổ, ṛng ră gần sáu
năm trường, h́nh vóc khô gầy, nhưng rồi vẫn
không có một tia hi vọng nh́n thấy chân lí. Một ngày
kia, Ngài suy nghĩ, lối tu khổ hạnh chắc chắn
không đem lại lợi ích ǵ, mà c̣n làm cho mỏi mệt
tinh thần, giảm suy trí tuệ. Ngài bèn dứt khoát từ
bỏ lối tu ấy, cũng như trước kia Ngài
đă từ bỏ nếp sống đế vương.
Ngài quyết định dùng vật thực tối thiểu
để giữ cho thân thể có sức khỏe th́ tinh thần
mới sáng suốt được. Ngài lần ra bờ
sông, thọ nhận bát sữa do một thôn nữ cúng
dường. Sức khỏe hồi phục nhanh chóng, Ngài
xuống sông tắm rửa rồi trở lại rừng,
t́m một gốc cây để bắt đầu cuộc
phấn đấu mới. Năm người bạn cùng
tu, thấy Ngài bỏ phương pháp khổ hạnh, bắt
đầu ăn uống, cho rằng Ngài đă thối chí,
trở lại con đường lợi dưỡng, bèn
cùng nhau bỏ Ngài mà đi sang vườn Lộc-dă
(Migadava), phía Bắc thành Ba-la-nại (Baranasi) thuộc
vương quốc Ca-thi (Kasi)(16). Biết là họ đă hiểu
lầm ḿnh, nhưng sa môn Cồ Đàm vẫn giữ im lặng.
C̣n lại một
ḿnh, Ngài quyết tâm tu tập thiền quán, v́, bằng những
kinh nghiệm đă có của chính ḿnh, Ngài nhận định
rằng, chỉ có thiền quán mới là con đường
dẫn đến giác ngộ. Với quyết tâm hạ thủ
công phu, Ngài chọn một cây tất-bát-la (pippala) to lớn,
cành lá sum sê ở gần bờ sông để thiền tọa.
Ngài lập lời thề mạnh mẽ, nếu không thấy
được đạo giác ngộ th́ nhất quyết sẽ
không rời khỏi cội cây này.
Thế rồi,
trải qua 49 ngày suy niệm chân lí, quán chiếu thực tại,
cuối cùng, buổi khuya hôm ấy, khi sao mai vừa xuất
hiện, th́ tâm trí Ngài cũng chợt bừng sáng, màn vô minh
che lấp tâm trí từ lâu đời, nay đă hoàn toàn bị
quét sạch. Ngài đă dứt sạch mọi tham ái, ô nhiễm,
chứng nhập thật tướng của vạn pháp.
Ngài biết rơ là ḿnh vừa t́m thấy được đạo
lớn, thành quả giải thoát giác ngộ trọn vẹn
từng ôm ấp bấy lâu, nay đă đạt được.
Ngài đă trở thành một bậc “tối chánh giác”, một
đấng toàn giác, một đức Phật, trong thế
gian không có ai sánh bằng, và cũng chưa có người thứ
hai. Cây tất-bát-la từ đó cũng được gọi
là cây bồ-đề. Năm đó Ngài được 35 tuổi
đời.
Sau khi thành
đạo, đức Phật đă lưu lại tại
cây bồ-đề 49 ngày nữa để an hưởng
sự tịnh lạc của hương vị giải
thoát, và chiêm nghiệm lại những chân lí vừa khám phá
được. Rồi Ngài quán sát căn tánh chúng sinh. Biết
rằng đă đến lúc phải trở lại với
xă hội loài người, phải cho bánh xe chánh pháp chuyển
động để gieo rắc hạt giống giải
thoát giác ngộ cho chúng sinh, Ngài bèn từ giă cây bồ-đề,
từ giă ḍng sông Ni-liên, từ giă thôn Ưu-lâu-tần-loa
để ra đi. Khi biết được năm người
bạn đồng tu với Ngài thuở trước, nay
đang tu tập tại khu vườn Nai (Lộc-dă), Ngài
bèn đi về hướng đó. Tại đây, Ngài đă
nói pháp Bốn Sự Thật để hóa độ cho
năm vị này đều chứng quả A-la-hán, giải
thoát khỏi ba cơi. Họ là những vị t́ kheo và cũng
là những thánh tăng đầu tiên trong giáo đoàn của
Phật; đó là các vị: Kiều Trần Như (Kondanna),
A Thuyết Thị (Át Bệ, A Xả Bà Thệ - Assaji), Bà Sa
Ba (Thập Lực Ca Diếp - Vappa), Ma Ha Nam (Ma Ha Nam Câu Li,
Ma Nam Câu Li - Mahanama) và Bạt Đề (Bhaddiya). Chính nơi
vườn Nai này, ngôi Tam Bảo đă xuất hiện lần
đầu tiên ở thế gian: đức Thích Ca Mâu Ni
(Sakyamuni) là Phật Bảo, giáo pháp Bốn Sự Thật là
Pháp Bảo, và năm vị t́ kheo là Tăng Bảo.
Cũng tại
vườn Nai này, sau đó đức Phật đă độ
cho vị công tử con nhà quyền quí ở thành Ba-la- nại
là Da Xá (Yasa), cùng 54 bạn hữu con nhà quyền quí khác của
Da Xá đều trở thành những vị t́ kheo chứng
quả A-la-hán. Như vậy, trong ṿng hai tháng đầu
tiên sau ngày thành đạo, đức Phật đă có tổng
cộng 60 vị đệ tử thánh tăng. Cha, mẹ và
vợ của Da Xá cũng qui y, và trở thành những vị
đệ tử tại gia đầu tiên của đức
Phật đă thọ lễ qui y với đầy đủ
Ba Ngôi Báu.
Với 60 vị
A-la-hán đầu tiên của thế gian, đức Phật
đă thành lập Giáo hội Tăng già - đó là giáo hội
của những tu sĩ độc thân xưa nhất của
lịch sử nhân loại, vẫn c̣n tồn tại cho
đến ngày hôm nay.
Nửa
năm sau đó, khi nhận thấy quí vị t́ kheo đă
đạt được trọn vẹn về cả trí
tuệ cũng như phạm hạnh, đủ tư cách
của một người hành đạo để truyền
bá chánh pháp, đức Phật đă quyết định gửi
họ đi các nơi, đến tận các làng quê hẻo
lánh, để truyền đạt giáo pháp mới mẻ ấy,
để gieo rắc hạt giống giải thoát giác ngộ
đến mọi người trong t́nh thương yêu bao
la và b́nh đẳng. Do sự tận tụy, cần mẫn
của các ngài, chẳng bao lâu, nhiều người trong hai
vương quốc Ca-thi và Ma-kiệt-đà đă nghe biết
về đức Phật và giáo pháp của Ngài. Họ kéo
nhau rất đông về vườn Nai để xin qui y
tu học.
Đức Phật
rất hoan hỉ đối với công việc hoằng
pháp rất thuận lợi và tốt đẹp của các
vị đệ tử. Sau đó, Ngài một ḿnh ôm b́nh bát
đi về thăm lại thôn Ưu-lâu-tần-loa ở
nước Ma-kiệt-đà. Tại đây, Ngài đă hóa
độ cho ba anh em đạo sĩ Ca Diếp (Ưu Lâu Tần
Loa Ca Diếp - Uruvela Kassapa, Na Đề Ca Diếp - Nandi
Kassapa, và Già Da Ca Diếp - Gaya Kassapa) cùng một ngh́n đệ
tử của họ, đều chứng quả A-la-hán và
trở thành t́ kheo. Rồi Phật tiến về kinh thành
Vương-xá. Vua Tần Bà Ta La (Bimbisara - trị v́ nước
Ma-kiệt-đà) đă xin qui y Tam Bảo, trở thành vị
đệ tử tại gia đầu tiên của Phật
trong hàng vua chúa. Nhà vua đă xây tu viện Trúc-lâm (Veluvana) gần
thành Vương-xá để cúng dường Phật và giáo
đoàn. Đây là ngôi đạo tràng to lớn và qui mô đầu
tiên được dâng cúng cho giáo đoàn làm nơi tu học
và hành đạo. Đó là năm thứ hai sau ngày Phật
thành đạo. Trong thời gian này, đức Phật
cũng đă thu nhận hai vị đệ tử lỗi
lạc là các tôn giả Xá Lợi Phất (Sariputta) và Mục
Kiền Liên (Moggallana). Mùa mưa năm đó, Phật và
chúng tăng tổ chức an cư tại Trúc-lâm.
Truyền thống
an cư của chúng tăng bắt đầu được
thiết lập từ đó. Sau mùa an cư, đức Phật
trở về thăm cố hương Ca-t́-la-vệ. Vua Tịnh
Phạn, hoàng hậu Kiều Đàm Di, công chúa Da Du Đà La,
hoàng tôn La Hầu La, các hoàng thân, vương tử, triều
thần và nhân dân trong thành đều được Phật
giáo hóa và thấm nhuần chánh pháp. Trong dịp này, người
thợ cạo Ưu Ba Li (Upali), hoàng tử Nan Đà (Nanda -
em cùng cha khác mẹ của Phật), hoàng tôn La Hầu La, và
các vương tử Đề Bà Đạt Đa, A Nan
Đà (Ananda), A Na Luật (Anuruddha), v.v... đều theo Phật
xuất gia. La Hầu La trở thành chú sa di đầu tiên
và nhỏ tuổi nhất của giáo đoàn.
Phật giáo
hóa ở vương quốc Thích-ca trong nửa năm, rồi
trở về lại tu viện Trúc-lâm. Trong mùa an cư tiếp
theo, đức Phật lại thu nhận một vị
đệ tử lỗi lạc khác nữa là tôn giả
Đại Ca Diếp (Mahakassapa), con một thương gia
giàu có vào bậc nhất của nước Ma-kiệt-đà.
Sau mùa an
cư này, đức Phật nhận lời thỉnh cầu
của trưởng giả Cấp Cô Độc
(Anathapindika, tức Tu Đạt - Sudatta) lên mở đạo
tràng hoằng hóa ở kinh thành Xá-vệ (Savatthi) của
vương quốc Kiều-tát-la (Kosala), tại đó,
trưởng giả dùng vàng mua khu vườn của thái tử
Ḱ-đà (Jeta, con vua Ba Tư Nặc - Pasenadi) để xây cất
tu viện Ḱ-viên (Jetavana, cũng gọi là tu viện Cấp-cô-độc,
hoặc Ḱ-thọ Cấp-cô-độc) dâng cúng cho Phật
và giáo đoàn. (Ḱ-viên và Trúc-lâm là hai đạo tràng to lớn,
qui mô và quan trọng nhất của giáo đoàn thời Phật
tại thế; và trưởng giả Tu Đạt đă
là vị thí chủ quan trọng nhất của giáo
đoàn.) Nhờ có đạo tràng Ḱ-viên này mà vua Ba Tư Nặc
và hoàng hậu Mạt Lị (Mallika) của nước Kiều-tát-la
đă trở thành những Phật tử thuần thành của
Phật.
Năm thứ
năm sau ngày thành đạo, đức phật về quê
hương Ca-t́-la-vệ lần thứ hai trước khi
vua Tịnh Phạn băng. Sau tang lễ của vua, đức
Phật thu nhận lệnh bà Kiều Đàm Di, cùng một
số đông mệnh phụ phu nhân trong ḍng Thích Ca, làm
đệ tử xuất gia phái nữ, thành lập giáo
đoàn t́ kheo ni. Quí bà đều chứng quả A-la-hán. Ni
sư Kiều Đàm Di được Phật ủy nhiệm
làm ni trưởng để coi sóc ni chúng. Công nương
Da Du Đà La cũng được Phật nhận cho xuất
gia sau đó, và cũng chứng quả A-la-hán. Đây là lần
đầu tiên trong lịch sử tôn giáo Ấn-độ
mà phái nữ được tham dự trực tiếp vào
các sinh hoạt tôn giáo, và cũng là đoàn thể nữ tu
sĩ độc thân đầu tiên của nhân loại mà
ngày nay vẫn c̣n tồn tại.
Đến
đây th́ tiếng tăm của Phật đă vô cùng lừng
lẫy, giáo đoàn của Ngài gồm đủ mọi
thành phần xă hội, đủ mọi lứa tuổi, cả
phái nam lẫn phái nữ, có mặt khắp mọi nơi, từ
hang núi, rừng sâu, đến thôn quê, thành thị, không chỗ
nào là không có chư tăng hành đạo. Trừ miền
Nam Ấn- độ ra, c̣n th́ các vương quốc từ
miền Trung đến miền Bắc, từ miền
Đông đến miền Tây, nơi nào cũng có đạo
tràng tu học và hành đạo của giáo đoàn. Cứ
như thế, bước chân của Phật trải khắp
mọi nẻo đường, không ngừng nghỉ, suốt
45 năm ṛng ră. Sức hoạt động của Phật,
từ trước tới nay chưa có vị đạo
sĩ nào sánh kịp. (Chỉ có một lần, v́ phải
đi gấp để về Ca-t́-la-vệ kịp trước
khi vua Tịnh Phạn băng, và do lời thỉnh cầu
tha thiết của sứ giả triều đ́nh, đức
Phât mới phải ngự chung xe với sứ giả, c̣n
ngoài ra, Ngài hoàn toàn đi bộ chân trần, cho đến
ngày nhập diệt.) Tăng đoàn của Phật đông
hàng vạn, mà số thánh chúng chứng quả cũng không
phải là ít. Đệ tử tại gia của Phật th́
nhiều không xiết kể.
Cho đến
một hôm, khi cảm thấy c̣n không bao lâu nữa ḿnh sẽ
nhập niết bàn, tại tu viện Trùng-các (Kutagarasala) ở
ngoại ô thành T́-xá-li, đức Thế Tôn đă thông báo
quyết định nhập niết bàn của Ngài cho
chư tăng ni biết. Rồi đó, có hai tôn giả A Na
Luật và A Nan Đà hầu cận, Ngài cùng với khoảng
300 vị t́ kheo, đă rời thành T́-xá-li đi về
phương Bắc. Phật vừa đi vừa nghỉ lại
tại nhiều thị trấn, nơi nào Ngài cũng thuyết
pháp và dặn ḍ những lời cuối cùng cho chư
tăng ni địa phương. Buổi chiều nọ,
Ngài và chư tăng đi đến thành Câu-thi-na (Kusinara, của
vương quốc Mạt-la - Malla) th́ dừng lại. Ngài
cảm thấy người đă yếu lắm, bèn dẫn
chư tăng vào trú trong khu rừng cây ta-la ở ngoại ô
kinh thành. Đêm ấy, sau khi đă dạy những lời
cuối cùng cho chư tăng, Ngài an nhiên vào thiền định,
rồi nhập niết bàn. Năm đó Ngài được
80 tuổi đời.
CHÚ
THÍCH
(01) Hi-mă-lạp (Himalaya): tức
là núi Tuyết, tên một rặng núi cao, quanh năm tuyết
phủ, ở miền Trung Á. Núi này từ Tây sang Đông trải
dài hơn 2.400 cây số, bắt đầu từ sông Ấn
(Indus - Phạn ngữ là Sindhu) ở phía Bắc Pakistan, qua
vùng Kashmir của Bắc Ấn-độ, tiếp đến,
một phần nằm vắt sang Tây-tạng, và phần lớn
c̣n lại th́ trải dọc theo Nepal, Sikkim, và Bhutan; chiếm
một diện tích rộng lớn khoảng 594.400 cây số
vuông. Đó là rặng núi đồ sộ, hùng vĩ nhất
thế giới, với hơn 30 ngọn cao tối thiểu
từ 7.620 thước trở lên, trong đó, ngọn
Everest được coi là cao nhất thế giới (8.848
thước).
(02) Thích-ca (Sakya): tên một bộ
tộc, có nghĩa là “có khả năng”. Lănh thổ Ấn-độ
thời bấy giờ gồm rất nhiều vương
quốc, mỗi vương quốc do một bộ tộc
cai trị. Bộ tộc Thích Ca chiếm cứ vùng đất
nằm giữa chân núi Hi-mă-lạp ở phía Bắc, các
vương quốc Câu-lị (Koliya) ở phía Đông, Mạt-la
(Malla) ở phía Nam, và Kiều-tát-la (Kosala) ở phía Tây. So với
một số vương quốc khác đương thời,
th́ vương quốc Thích-ca rất nhỏ, đất
đai cũng không ph́ nhiêu lắm. Hết phân nửa lănh thổ
về phía Bắc là vùng cao nguyên, toàn đồi núi; phân nửa
c̣n lại ở phía
(03) Tịnh Phạn Cồ Đàm
(Suddhodana Gotama) và Ma Ha Ma Da
(Maha Maya): tên của quốc vương và hoàng hậu trị
v́ vương quốc Thích-ca vào giữa thế kỉ thứ
7 trước Tây lịch. Các ngài là song thân của thái tử
Tất Đạt Đa Cồ Đàm (Siddhattha Gotama) mà về
sau trở thành Phật Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni). Vua Tịnh Phạn
thuộc bộ tộc Thích Ca, là con trưởng của
tiên vương Sư Tử Giáp (Simhahanu). Ngài có ba người
em trai là các hoàng đệ Bạch Phạn (Sukkodana), Cam Lộ
Phạn (Amitodana), Hộc Phạn (Dotodana), và một người
em gái là quận chúa
(04) Thành Lam-mạt (Ramagama)
cũng gọi là thành Thiên-tí (Devadaha). Hai vương quốc
Thích-ca và Câu-lị là láng giềng của nhau, ngăn cách bởi
con sông nhỏ Lô-hề-đa (Rohini). Hai quốc gia ấy vừa
là thông gia, vừa là họ hàng với nhau từ lâu đời.
Tuy nhiên, v́ cả hai đều lấy nông nghiệp làm nguồn
lợi chính, đều lấy nước từ sông Rohini
để làm ruộng, mà Rohini chỉ là một con sông nhỏ,
ít nước, cho nên các cuộc tranh chấp trầm trọng
về vấn đề thủy lợi giữa hai bộ tộc
cũng rất thường xảy ra; thậm chí có lần
đức Phật phải đích thân can thiệp ḥa giải.
(05) Tháng Vesaka (hay Vaisakha) là tháng thứ
hai của lịch Ấn-độ. Lịch Ấn-độ
cũng tính theo tuần trăng, chia một năm làm 12
tháng, mỗi tháng có 29 hoặc 30 ngày. 12 tháng lần lượt
có tên tiếng Phạn như sau: Caitra (tháng đầu),
Vaisakha (tháng thứ hai), Jyaistha (tháng thứ ba), Asadha (tháng thứ
tư), Sravana (tháng thứ năm), Bhadrapada (tháng thứ sáu),
Asvayuja (tháng thứ bảy), Karttika (tháng thứ tám),
Margasirsa (tháng thứ chín), Pausa (tháng thứ mười),
Magha (tháng thứ mười một), Phalguna (tháng thứ
mười hai). Về thời tiết th́ có ba mùa: mùa Nóng
(Grisma), tương đương với mùa Xuân, gồm bốn
tháng, bắt đầu từ ngày 16 tháng Caitra đến
ngày 15 tháng ravana; mùa Mưa (Varsakala), tương
đương với mùa Hạ, gồm bốn tháng, bắt
đầu từ ngày 16 tháng Sravana đến ngày 15 tháng
Margasirsa; và mùa Lạnh (Hemanta), tương đương với
mùa Đông, gồm bốn tháng, bắt đầu từ
ngày 16 tháng Margasirsa đến ngày 15 tháng Caitra.
(06) Các nước
theo Phật giáo trên thế giới đă thống nhất lấy
năm Phật nhập niết
bàn làm năm thứ nhất Phật lịch. Theo đó,
các niên đại quan trọng trong cuộc đời đức
Phật được công nhận như sau: Đức Phật
nhập niết bàn năm -544 (Phật 80 tuổi); thành
đạo năm -589 (35 tuổi); xuất gia năm -595 (29
tuổi); và đản sinh năm -624.
(07) Thích Ca
(Sakya) là tên chủng tộc, c̣n Cồ Đàm (Gotama) là họ
(thị tộc) của thái tử Tất Đạt Đa.
Về sau, trong thời gian xuất gia, người ta
thường gọi Ngài là sa môn (hay đạo sĩ) Cồ
Đàm. Lại nhân Ngài xuất gia sống đời tu
sĩ, cho nên người ta đă tôn xưng Ngài là Mâu Ni
(Muni), nghĩa là bậc ẩn sĩ, bậc cao thượng,
bậc thánh - “Thích Ca Mâu Ni”
nghĩa là bậc ẩn sĩ của bộ tộc Thích Ca.
08) A Tư Đà (Asita), quê quán ở
vương quốc A-bàn-đề (Avanti), thuộc miền
Tây Ấn-độ, là một trong mười sáu nước
lớn ở Ấn-độ thời Phật tại thế.
Ông là một vị đạo sĩ Bà-la-môn, vừa có học
lực uyên bác, vừa chứng đắc thần thông. Ông
lại là cậu ruột của tôn giả Ca Chiên Diên
(Katyayana), một trong mười vị đệ tử lớn
của đức Phật.
(09) Đề Bà Đạt Đa
(Devadatta): một vị vương tử thuộc ḍng Thích
Ca, con trưởng của hoàng thân Bạch Phạn, anh ruột
của vương tử A Nan Đà (Ananda), và là em chú bác của
thái tử Tất Đạt Đa. (Xin xem thêm chú thích số
3 ở trên.)
(10) Vệ Đà (hay Phệ Đà
- Veda): kinh điển căn bản của đạo
Bà-la-môn. Khoảng 1.500 năm trước TL, giống dân du
mục Arya từ miền Trung Á tràn vào vùng Tây Bắc Ấn-độ.
Họ đă chiến thắng dân bản xứ (Dravida), chiếm
cứ vùng đất rộng lớn từ Punjab xuống
đến lưu vực sông Hằng. Họ tự đặt
ḿnh ở địa vị chủ nhân ông, và biến người
dân bản xứ thành hàng nô lệ. Sau khi mọi việc
đă được b́nh định, giai cấp lănh đạo
tinh thần của giống Arya là các giáo sĩ Bà-la-môn,
đă sưu tập lại tất cả những bài ca tán
tụng thần thánh đă có từ trước và trong suốt
thời ḱ chinh phục Ấn-độ, làm thành bộ thánh
thư xưa nhất của Ấn-độ là Vệ
Đà, gồm có bốn tập:1) Lê Câu Vệ Đà (Rigveda): gồm
những bài ca nói về sự sáng tạo vũ trụ, giải
thích về số mạng dài ngắn của con người,
cùng các cách tu dưỡng để bảo tồn tính lành. 2) Sa Ma Vệ
Đà (Samaveda): gồm những bài ca dùng trong việc
tế tự, cầu đảo chư thần linh. 3) Dạ Nhu Vệ
Đà (Yajurveda): gồm những bài kệ dùng trong các việc
như cưới gả, chôn cất, tiệc tùng v.v..., cùng
đề cập đến các cách bói toán, binh pháp, quân trận.
4) A
Thát Bà Vệ Đà (Artharvaveda): gồm những thần chú dùng
để giải trừ tai nạn.Trong bốn tập trên
th́ Rigveda được thành h́nh sớm nhất, khoảng
từ thế kỉ 14 đến thế kỉ 11 trước
TL, được coi là cuốn thánh thư tối cổ của
nhân loại; ba tập sau xuất hiện trong mấy thế
kỉ kế tiếp. Bốn tập Vệ Đà này đă
là nền tư tưởng và học thuật căn bản
và dành riêng cho giới thượng lưu (Bà-la-môn, vua chúa,
công hầu khanh tướng) của Ấn-độ
trước khi Phật giáo xuất hiện; và theo truyền
thống, chỉ có các giáo sĩ Bà-la-môn mới có quyền
giảng giải các thánh thư ấy mà thôi. Sau đó, trong
khoảng từ thế kỉ thứ 7 đến thế kỉ
thứ 4 tr. TL (tức trong khoảng thời gian Phật
giáo xuất hiện), lại có thêm Phạm Thư (Brahmana)
và Áo Nghĩa Thư (Upanisad)
ra đời. Nội dung của Phạm Thư gồm
những bản “anh hùng ca”, được xem là phần nối
dài của bộ Vệ Đà. Trong khi đó th́ nội dung của
Áo Nghĩa Thư hàm chứa những giáo lí cực
ḱ uyên áo của đạo bà-la-môn, mà các triết thuyết
về “tự ngă”, “không hai”, “nghiệp báo luân hồi” và “giải
thoát” là những đặc điểm vô cùng quan trọng, ảnh
hưởng không ít đến tư tưởng của Phật.
(11) Ba giáo điều căn bản
của đạo Bà-la-môn: 1. Phạm Thiên là đấng
tối cao sáng tạo và ngự trị muôn loài; 2. Kinh Vệ
Đà là do chính thiên chúa Phạm Thiên (Brahma) mặc khải
riêng cho ḍng giống Bà-la-môn; 3. Tế lễ có công hiệu vạn
năng.
(12) Bốn giai cấp: 1. Giai cấp Bà-la-môn (Brahmana - cũng gọi là giai cấp Tăng-lữ).
Các giáo sĩ Bà-la-môn bảo rằng, khi Phạm Thiên sinh ra
loài người th́ ḍng giống của họ đă được
sinh từ miệng ngài. Chỉ có họ mới có thể tiếp
xúc trực tiếp với thần linh; v́ vậy, chỉ có
họ mới thông hiểu được các kinh Vệ
Đà, và cũng chỉ có họ mới có quyền cúng tế,
xướng tụng và giảng dạy các kinh điển ấy.
Để củng cố địa vị và áp chế các
giai cấp khác, họ đă tạo ra bộ luật Mă Nỗ
(Manu), tự cho ḿnh là giai cấp trên hết và tôn quí nhất
trong xă hội, phải nắm độc quyền về
tôn giáo, tư tưởng, học thuật và giáo dục, bắt
buộc ba giai cấp dưới phải tuân phục. 2.
Thứ đến là giai cấp Sát-đế-lị (Ksatriya), đă được
sinh ra từ hai tay của Phạm Thiên. Họ là lớp
người thuộc các ḍng họ vua chúa, quí tộc, tướng
quân, được nắm các quyền hành về chính trị
và quân sự, nói chung là quyền cai trị. Họ có toàn quyền
sinh sát đối với nhân dân và xem lănh thổ cai trị
như vật tư hữu của ḍng giống họ. 3.
Đứng hàng thứ ba là giai cấp Phệ-xá (Vaisya), đă được sinh
ra từ bắp đùi của Phạm Thiên, gồm những
thành phần giàu có thuộc lớp thượng lưu và
trung lưu trong xă hội. Họ thường được
gọi là trưởng giả, là những thương gia,
địa chủ, hương chủ, hoặc là chủ
nhân các xưởng tiểu công nghệ. 4. Giai cấp thấp nhất là Thủ-đà-la
(Sudra), đă được sinh ra từ bàn chân của Phạm
Thiên. Đây là giai cấp của thợ thuyền, lao động,
nông dân, binh lính. Giới này chiếm đại đa số
dân chúng, nhưng cũng là giới nghèo khổ nhất trong
bốn giai cấp. Họ phải làm mọi công việc nặng
nhọc và nguy hiểm mà ba giai cấp trên không bao giờ phải
đụng tay tới. Ngoài ra, dưới bốn giai cấp
trên c̣n có giới “ngoại cấp”, được gọi
là Ba-lị-a (Pariah) hay Chiên-đà-la (Candala). Thủ-đà-la đă là giai cấp thấp
nhất rồi, nhưng vẫn c̣n có “cấp”; đàng này,
Chiên-đà-la không được thuộc cấp nào cả.
Họ gồm những bộ lạc thổ dân đă từng
bị thua trận trong các cuộc xâm lăng của giống
người Arya thuở trước. Họ là lớp
người nghèo hèn nhất, có số phận bi đát nhất,
bị áp bức tàn nhẫn nhất. Luật Mă Nỗ nói rằng, Chiên-đà-la là loại
người sinh ra chỉ để làm nô lệ. Bởi vậy,
họ phải làm tất cả mọi công việc cực
nhọc, dơ dáy như chăn trâu, nuôi và giết súc vật,
thợ cạo, hốt phân, tôi tớ, ăn mày v.v... Cũng
theo luật ấy, giới này bị coi là giống ti tiện,
ô trược, cho nên họ không được vô t́nh hay cố
ư đụng vào người hoặc nói năng đụng
chạm đến những người ở các giai cấp
trên, nhất là Bà-la-môn và Sát-đế-lị. Nếu lỡ
phạm phải, họ có thể bị đánh đập
tàn nhẫn, thậm chí có thể bị giết chết mà
không ai bênh vực cả. Tất cả các giai cấp đều
có tính cách “cha truyền con nối”; ai sinh ra ở giai cấp
nào th́ phải chấp nhận và ở yên trong giai cấp
đó, không thể thay đổi t́nh trạng được!
(13) Da Du Đà La (Yasodhara): là công
chúa con vua Thiện Giác và hoàng hậu
(14) “Rahula” có nghĩa là sợi dây
trói buộc, là chướng ngại, là nguyệt thực,
là nhật thực. Kinh chép rằng, La Hầu La đă ra
đời nhằm vào lúc có nhật thực toàn phần.
(15) Ma-kiệt-đà (
(16) Ba-la-nại (Baranasi) là kinh
đô của vương quốc Ca-thi (Kasi), một trong các
vương uốc vùng lưu vực sông Hằng mà sự
phú cường bắt đầu phát triển mạnh mẽ
từ thế kỉ thứ 7 tr. TL. Sáu đô thị nổi
tiếng phồn thịnh nhất của các vương quốc
thời Phật tại thế là: Xá-vệ (Savatthi) của
Kiều-tát-la, Vương-xá (Rajagaha) của Ma-kiệt-đà,
Kiều-thưởng-di (Kosambi) của Bạt-sa, T́-xá-li
(Vesali) của Lê-xa, Chiêm-ba (Campa) của Ương-già, và
Ba-la-nại (Baranasi) của Ca-thi. Ca-thi là vương quốc
nổi tiếng có nhiều loại tơ lụa và trầm
hương tốt nhất.
Đại sư
KHƯƠNG TĂNG HỘI (?-280)
Hạnh Cơ
Đạo Phật
từ Ấn-độ đă truyền đến Việt-nam
vào khoảng giữa thế kỉ thứ 3 trước tây
lịch. Đến thế kỉ thứ 2 sau tây lịch, ở
nước ta, theo sử sách ghi chép, ngoài sự có mặt
hành đạo của các tăng sĩ người Ấn-độ,
c̣n có một tăng đoàn người Việt đông
đến 500 vị. Nhưng rất tiếc, v́ sách vở
bị mất mát mà trong suốt thời gian đó, lịch
sử Phật giáo Việt-nam đă không ghi lại cho chúng
ta biết một vị cao tăng người Việt nào
với tên tuổi và hành trạng rơ ràng. Mặc dù vào cuối
thế kỉ thứ 2 stl, PGVN có xuất hiện một vị
cư sĩ tên là Mâu Tử (có thể đă xuất gia vào cuối
đời), tác giả của sách Lí Hoặc Luận rất nổi tiếng,
nhưng ông vốn là người Hán, sinh ra và lớn lên ở
đất Hán, sang Việt-nam v́ tránh cảnh loạn lạc
ở đất Hán, rồi ở luôn tại đây, nghiên học
Phật pháp, và trở thành một Phật tử Việt-nam.
Phải đến thế kỉ thứ 3 stl, chúng ta mới
thực sự thấy tên tuổi cùng hành trạng rơ ràng của
của một vị tăng sĩ Việt-nam được
ghi lại trong sử sách, đó là đại sư
KHƯƠNG TĂNG HỘI, vị cao tăng người
Việt sớm nhất của lịch sử PGVN mà ngày nay
chúng ta biết được.
Tổ tiên của
ngài vốn ở nước Khương-cư (Sogdiana),
nhưng đă mấy đời sống ở Thiên-trúc. Thân
phụ ngài, nhân làm nghề buôn bán mà theo thuyền buôn sang
Giao-chỉ (tên cũ của nước Việt-nam vào thời
lệ thuộc nhà Hán) sinh sống. Tại đây ông đă
cưới vợ Việt-nam và sinh ra Tăng Hội. Không
rơ ngài sinh năm nào, chỉ có thể ước đoán là
vào khoảng năm 200 (tức đầu thế kỉ thứ
3 stl). Khi Tăng Hội được hơn 10 tuổi th́
song thân đều lần lượt qua đời. Chịu
tang cha mẹ xong, Tăng Hội vào chùa xuất gia, tu học
rất mực chuyên cần. Đến tuổi trưởng
thành ngài thọ giới cụ túc. Ngài là người có trí
tuệ vượt chúng, giỏi cả Phạn văn lẫn
Hán văn; không những tinh thông Ba Tạng Phật giáo, mà
c̣n uyên bác cả Nho học và Lăo học, lại giỏi cả
thiên văn, đồ vĩ, kiêm tài ăn nói, viết
văn. Lúc bấy giờ nước ta đang bị nhà Hán
đô hộ, gọi là quận Giao-chỉ, thủ phủ
là thành Luy-lâu (trong địa phận tỉnh Bắc-ninh
ngày nay). Hồi đó bên Trung-quốc chưa có tăng
sĩ bản xứ, nhưng ở Luy-lâu th́ đă có tăng
đoàn đông đảo người bản xứ. Ngài
Tăng Hội đă xuất thân từ tăng đoàn ấy,
và về sau lại trở thành một trong những vị
lănh đạo và hướng dẫn của tăng đoàn
ấy.
Tại đạo
tràng ở trung tâm Phật giáo Luy-lâu, lúc đó có ba vị
cư sĩ đồ đệ của ngài An Thế Cao (ở
Trung-quốc) là Trần Tuệ (quê ở Cối-kê), Hàn Lâm
(quê Nam-dương) và B́ Nghiệp (quê Dĩnh-xuyên), từ
kinh đô Lạc-dương chạy xuống lánh nạn,
ngài đă mời các vị này tham gia vào công việc phiên dịch,
nghiên cứu và chú giải kinh điển. Tại đây,
ngài đă viết bài tựa
cho kinh An Ban Thủ Ư và kinh Pháp Cảnh (do ngài An Thế
Cao dịch ở Lạc-dương, được Trần
Tuệ mang theo). Ngài cũng đă chú thích cho ba kinh An Ban Thủ Ư, Pháp Cảnh và Đạo Thọ (do ngài An Thế
Cao dịch), nhưng hai tác phẩm sau (Pháp Cảnh và Đạo Thọ) ngày nay không c̣n.
Nói chung, các tác phẩm của ngài đều nhằm xiển
dương thiền học trong tinh thần đại thừa.
Những dịch phẩm hay biên soạn của ngài sau này ở
đất Ngô cũng gồm toàn những giáo điển
đại thừa. Bởi vậy, trong giới học giả
Phật học Việt-nam ngày nay, có vị đă có khuynh
hướng tôn xưng ngài là vị Tổ sư của Thiền
học Việt-nam.
Năm 222 (thời
đại Tam-quốc), Tôn Quyền chiếm cứ miền
Giang-tả (tức Giang-nam), tự xưng đế và thành
lập nước Đông-Ngô (đóng đô tại thành Kiến-nghiệp),
th́ nước ta lại bị lệ thuộc vào nước
Ngô, v́ lúc này nhà Hậu-Hán đă mất (năm 220). Với sự
có mặt của cư sĩ Chi Khiêm, lúc đó ở Kiến-nghiệp
đă có sinh hoạt của Phật giáo, nhưng chưa có tự
viện, mà tăng sĩ cũng chưa có ai. Năm 247 (Tôn
Quyền làm vua được 25 năm), ngài Tăng Hội
đă từ Luy-lâu sang Kiến-nghiệp hoằng hóa. Lúc
đầu mới đến Kiến-nghiệp, ngài dựng
am tranh để thờ Phật và hành đạo. Các quan chức
nhà Ngô trông thấy có người lạ nhập cảnh, cả
diện mạo, phong thái, cách ăn mặc đều lạ,
liền tŕnh báo cho vua Tôn Quyền biết. Nhà vua cho người
mời ngài vào cung diện kiến. Nhà vua hỏi: “Ngài có ǵ linh nghiệm?” Ngài trả
lời: “Đức Phật nhập
diệt đă lâu, nhưng xá-lợi vẫn c̣n, thần diệu
không có ǵ sánh được!” Nhà vua nói: “Nếu quả có được xá-lợi, trẫm sẽ
xây tháp thờ.” Ngài biết đây là bước đầu
vô cùng quan trọng cho công cuộc hoằng pháp, bèn ở luôn
trong am tranh, suốt ngày đêm đốt hương chí
thành cầu nguyện. Trải qua 3 tuần, đến canh
năm ngày thứ 21, ngài cầu được xá-lợi Phật!
Ngay sáng hôm đó ngài đem b́nh xá-lợi tŕnh lên vua Tôn Quyền.
Nhà vua cho thử nghiệm, quả thật lửa đốt
không cháy, chày kim cương đập không bể. Nhà vua hết
sức kính phục và tin tưởng, bèn cho xây tháp thờ
xá-lợi ngay nơi am tranh của ngài, và đặt tên là
chùa Kiến-sơ; vùng đất chung quanh chùa gọi là xóm
Phật. Được cảm hóa bởi tài cao đức
trọng của ngài, vua Tôn Quyền, sau đó đă xin qui y
và thọ giới ưu-bà-tắc với ngài. Cho tới lúc
đó, miền Giang-nam mới có h́nh bóng vị tăng sĩ
Phật giáo đầu tiên là ngài Tăng Hội (đến
từ Việt-nam), và ngôi chùa Phật giáo đầu tiên là
chùa Kiến-sơ (do triều đ́nh Đông-Ngô xây cất).
Từ đó trở đi, nhờ sự nhiệt tâm hoằng
pháp của ngài, đạo Phật được truyền
bá rộng răi tại Đông-Ngô, người bản xứ
được phép xuất gia làm tăng sĩ, tự viện
được xây cất rải rác nhiều nơi.
Nhưng đến đời vua Tôn Hạo (264-280) th́ Phật
giáo bị đàn áp. Do sự gièm siểm của các cố vấn
Nho, Lăo, Tôn Hạo đă ban lệnh phá hủy chùa chiền,
tuy vậy, chùa Kiến-sơ của ngài Tăng Hội vẫn
không bị ai đụng tới, v́ ảnh hưởng của
nó quá lớn. Nhưng không phải v́ vậy mà ngài được
yên thân. Nhà vua đă sai Trương Dực, một trí thức
thông hiểu cả Nho và Lăo, đến chùa để cật
vấn ngài, cố dồn ngài vào thế bí. Nhưng v́ đă
nắm vững tư tưởng Nho, Lăo, ngài đă hoàn toàn
không nao núng; sau một ngày dài đối luận,
Trương Dực không bẻ gẫy ngài được bất
cứ một lời nào. Cuối cùng, do sự tŕnh tâu chân
thật của Trương Dực về ngài, vua Tôn Hạo
phải cho sứ giả đến chùa thỉnh ngài vào
cung. Sau khi nghe ngài thuyết pháp, nhà vua đă cảm phục,
tỏ ḷng thành xin sám hối tội lỗi cũ, rồi
xin qui y và thọ năm giới với ngài. Nhà vua lại
ban lệnh tu sửa lại các chùa đă bị đập
phá, và trùng tu mở rộng chùa Kiến-sơ. Trong thời
gian ở chùa Kiến-sơ, ngài đă dịch ra chữ Hán
các kinh Lục Độ Tập,
Cựu Tạp Thí Dụ, Tạp Thí Dụ; soạn sách Lục Độ Yếu Mục.
Ngài cũng dịch Ngô Phẩm
(tức kinh Đạo Hạnh
Bát Nhă) và biên tập Nê Hoàn Phạm
Bối, nhưng cả hai tác phẩm này đều thất
truyền. Đầu năm 280, vua Tôn Hạo đầu
hàng nhà Tấn, chấm dứt nhà Đông-Ngô; cuối năm
ấy ngài viên tịch. – Sự
tích ngài Khương Tăng Hội đă được sử
sách ghi chép rơ ràng, nhưng đại đa số các nhà Phật
học Trung-quốc (kể cả tăng sĩ) vẫn
không muốn thừa nhận sự thật như thế,
mà luôn luôn cố ư nói khác đi, rằng: “Sa môn Tăng Hội
ở nước Khương-cư, đến Đông-Ngô
lập chùa Kiến-sơ......”
Đại Sư ĐẠO AN
(314-385)
Nguyên tác Hán văn của
cư sĩ Hồng
Tu B́nh
cư sĩ Hạnh Cơ dịch
Năm thứ
ba niên hiệu Thái-nguyên (378) đời vua Hiếu-vũ
đế thời Đông-Tấn, vua nước Tiền-Tần
là Phù Kiên, đă kéo binh tấn công thành
Tương-dương; năm sau, khi vừa chiếm
được thành này, ông liền tuyên bố với mọi
người: “Trẫm đem
mười vạn quân đánh chiếm
Tương-dương, chỉ lấy được một
người rưỡi!” Chữ “một người” ở trong câu nói ấy là chỉ
cho người mà Phù Kiên rất mực tôn sùng, là vị danh
tăng từng có ảnh hưởng sâu rộng một thời
trong lịch sử Phật giáo Trung-quốc: đó là đại
sư THÍCH ĐẠO AN.
1.
XUẤT GIA TU ĐẠO, TÀI NĂNG VƯỢT BẬC
Đại sư Đạo An họ
Vệ, sinh vào năm thứ 3 niên hiệu Kiến-hưng
(314)1 đời vua
Mẫn đế thời Tây-Tấn, tại huyện Phù-liễu,
quận Thường-sơn (nay là vùng Tây-Bắc huyện
Kí, tỉnh Hà-bắc), trong một gia đ́nh có truyền thống
Nho học nhiều đời.
Tuổi
thơ ấu của cậu bé Đạo An gặp đúng
vào thời ḱ chiến loạn ở cuối thời Tây-Tấn,
song thân đều mất sớm, phải nhờ người
anh bên ngoại họ Khổng nuôi nấng. Cậu bé thiên
tư thông minh dĩnh ngộ, 7 tuổi bắt đầu học
các kinh sách Nho gia, sách nào cậu cũng đọc qua hai lần
là thuộc ḷng, khắp làng xóm đều khen ngợi.
Năm lên 12
tuổi, cậu vào chùa xuất gia làm chú tiểu, nhưng v́
“h́nh mạo quá xấu” nên bị sư phụ coi thường,
cho đi làm ruộng suốt 3 năm. Trong thời gian ấy,
chú chỉ biết làm lụng vất vả, không hề
được học hành kinh kệ. Tính chú thận trọng
từng li từng tí, chịu đựng lao khổ, không một
lời than oán; chẳng những thế, chú c̣n giữ ǵn
thanh qui cửa Phật một cách nghiêm chỉnh, và nỗ lực
tu hành. Làm ruộng được vài năm, chú mới
đến trước sư phụ xin cho học kinh Phật.
Sư phụ bèn trao cho chú quyển kinh Trưởng Giả Biện Ư, dài khoảng 5.000 chữ.
Đó là một quyển kinh tiểu thừa, chủ yếu
nêu lên giáo nghĩa nhân quả thiện ác báo ứng của
Phật giáo, và dạy người đời phải hết
ḷng hiếu thuận trung trinh. Chú mang quyển kinh ra ruộng,
lúc nghỉ ngơi th́ đem ra đọc; và đến chiều
tối th́ chú mang quyển kinh về chùa trả lại cho
sư phụ, để xin mượn một quyển kinh
khác. Sư phụ liền quở: “Quyển kinh thầy đă đưa cho, chưa học
mà lại mượn quyển khác, là sao?” Đạo An thưa: “Bạch Thầy! Quyển kinh Thầy
đưa cho, con học hết rồi! Con có thể đọc
thuộc ḷng được.” Sư phụ nghe lời ấy
th́ có chút kinh dị, nhưng không tin ǵ lắm; tuy vậy,
ngài vẫn đưa cho chú một quyển kinh khác, đó
là kinh Thành Cụ Quang Minh Định
Ư, dài ngót một vạn chữ,
thuộc về thiền đại thừa. Đại ư
kinh ấy nói, có một pháp định ư gọi là “thành cụ
quang minh”, nếu người nào nghe được mà kiên
tŕ tu tập, từ một đến bảy ngày, sẽ
được công đức phước lành vô lượng.
Cũng giống như hôm qua, sáng sớm hôm nay chú Đạo
An ra ruộng, mang theo quyển kinh; tối về chùa, lại
trả quyển kinh cho sư phụ. Chú đọc thuộc
ḷng quyển kinh cho sư phụ nghe. Ngài vừa nghe vừa
ḍ theo kinh văn, hoàn toàn không sai, không sót một chữ nào!
Tài trí và đức cần mẫn của chú đă làm kinh
động ḷng người. Cuối cùng chú đă được
sư phụ quí trọng; và từ đó, đối với
chú, ngài đă có cái nh́n khác hẳn. Năm chú 20 tuổi,
sư phụ truyền giới cụ túc2 cho chú; và cho phép chú được tự
do rời chùa để du phương cầu học. Từ
đó, thầy Đạo An mới bắt đầu
bước vào nếp sống chính thức của cuộc
đời tăng lữ.
Lúc bấy giờ,
phương Bắc đang do chính quyền nhà Hậu-Triệu
cai trị, và đang hồi cường thạnh. –Nhà Hậu-Triệu
do Thạch Lặc của dân tộc Yết, một trong
nhóm năm dân tộc Hồ (Ngũ Hồ), kiến lập.–
Sau khi vua Thạch Lặc chết, con là Thạch Hoằng
đă bị Thạch Hổ phế bỏ để tự
lập làm vua, rồi dời đô sang đất Nghiệp
(nay là vùng đất ở phía Tây-Nam huyện
Lâm-chương, tỉnh Hà-bắc). Không lâu sau đó, khoảng
năm 335, thầy Đạo An du học tới kinh thành
Nghiệp, và chính tại nơi đây, thầy đă
được gặp vị cao tăng trứ danh đang
lănh đạo tinh thần cho chính quyền Hậu-Triệu,
đó là ngài Phật Đồ Trừng.
Đại
sư Phật Đồ Trừng (232-348) vốn họ Bạch,
người Tây-vực (có thuyết nói họ Thấp,
người Thiên-trúc), xuất gia từ thuở nhỏ, tụng
kinh đến vài trăm vạn lời, hiểu rơ nghĩa
kinh. Ngài có kiến thức uyên bác, lại có chút ít tài ảo
thuật (gần như làm tṛ xiệc ngày nay). Năm thứ
4 niên hiệu Vĩnh-gia (năm 310) đời vua Hoài đế
thời Tây-Tấn, ngài đến Lạc-dương, sau nhờ
dùng đạo thuật thần chú mà được Thạch
Lặc, Thạch Hổ sùng tín, thường tham gia nghị
bàn việc quân chính đại sự, được tôn
xưng là “đại ḥa thượng”. Mỗi khi có việc
trọng đại, Thạch Lặc đều đến
thỉnh giáo ngài trước tiên. Thạch Hổ sau khi lên
ngôi, lại càng kính trọng, xưng ngài là “quốc chi đại
bảo” (món báu lớn của quốc gia), bất cứ việc
ǵ cũng thỉnh ư ngài trước rồi sau mới thi
hành. Trong lúc đem hết ḷng phục vụ cho chính quyền
Thạch Lặc, đại sư Phật Đồ Trừng
cũng đồng thời đem tâm từ bi của Phật
giáo, đem giáo lí răn cấm giết hại để cảm
hóa, khuyên can cái tánh tàn bạo của Thạch Lặc và Thạch
Hổ, không giết hại bừa băi dân lành vô tội. Khi
Thạch Hổ cầm quyền, có lúc đến thỉnh
giáo đại sư “thế
nào là Phật pháp”, ngài trả lời: “Phật pháp không giết hại.”, và khuyên ông ta “không làm chuyện bạo ngược,
không giết người vô tội”. Thạch Hổ vốn
là kẻ khát máu, tuy nhiên, dù không thể sửa đổi
tánh nết hoàn toàn, cũng nhờ nghe lời dạy của
ngài mà làm được nhiều việc ích lợi. Có thuyết
nói, phàm các tàn binh bại trận đáng bị giết hết,
nhưng nhờ ông ta thay đổi tánh t́nh mà mười phần
cũng giảm bớt được tới tám, chín phần.
Cùng lúc ấy, đại sư Phật Đồ Trừng
cũng nương vào ḷng sùng tín và sự giúp đỡ của
họ Thạch mà ra sức truyền bá Phật giáo trên phần
lớn địa khu do nhà Hậu-Triệu chiếm lănh, làm
cho Phật giáo lan rộng nhanh chóng ở phương Bắc.
Thạch Hổ đă hết sức dùng Phật giáo để
thực hiện mục đích chính trị của ông. Ông từng
nói rơ với mọi người: “Ta sinh ra ở vùng biên địa, thuận ư trời,
ứng ḷng người mà vào làm vua đất Hoa-hạ. Về
phương diện tế tự th́ phải tuân theo tập
tục truyền thống, nhưng Phật đă là bậc
thần thánh của Nhung tộc th́ ta phải dốc ḷng tin
tưởng phụng thờ.” V́ lẽ đó, ông đă hạ
chiếu thơ cho phép dân chúng của tất cả mọi
sắc tộc đều được xuất gia làm
tăng, phá bỏ các qui định đă có trước
đó từ các thời Hán, Ngụy, là “người Hán không
được xuất gia”. Người ta cho rằng,
đó là lần đầu tiên
trong lịch sử Trung-quốc, phía chính quyền đă
chính thức ban hành quyết định chấp thuận
cho người Hán được phép xuất gia. Do sự
đề xướng và ủng hộ của nhà cầm
quyền, Phật Đồ Trừng và các đệ tử
của ngài, trước sau đă kiến tạo 893 ngôi
chùa, đạt đến con số cao nhất kể từ
khi Phật giáo được truyền vào Trung-quốc
đến giờ. Đệ tử của đại
sư Phật Đồ Trừng rất đông, trước
sau có hơn vạn người, số thường thân cận
bên ḿnh cũng có đến vài trăm. Trong số đệ
tử ấy, nhiều người đă có công thúc đẩy
làm cho Phật giáo được truyền bá và phát triển
rộng lớn ở Trung-quốc về sau này, ngài ĐẠO
AN là một trong số các vị ấy.
Thầy Đạo An đi du phương cầu học đến đất Nghiệp, gặp được ngài Phật Đồ Trừng. Lúc đó Đạo An mới hơn 20 tuổi, mà ngài Phật Đồ Trừng th́ đă hơn 100 tuổi! Hai người gặp nhau, tuy tuổi tác quá chênh lệch, nhưng đàm luận th́ mười phần hợp ư. Hai vị đàm đạo trọn cả một ngày, và ngài Phật Đồ Trừng đă hoàn toàn quí trọng cái tinh thần cầu học cũng như trí thông minh cùng tài hoa của thầy Đạo An. Đương thời, rất nhiều người trông thấy thầy da dẻ nám đen, tướng mạo khó coi, th́ tỏ vẻ khinh thị. Ngài Phật Đồ Trừng liền khuyên những người ấy rằng: “Quí thầy không nên coi thường thầy ấy. Tŕnh độ của quí thầy ở đây, không ai sánh bằng thầy ấy đâu!” Từ đó, thầy Đạo An thờ ngài Phật Đồ Trừng làm thầy, trọn đời chân thành cung kính. Năm 348 ngài Phật Đồ Trừng viên tịch; trong suốt thời gian hơn 10 năm đó, thầy luôn ở sát bên ngài để tu học, kinh điển tiểu thừa là chủ yếu, ngoài ra c̣n học các kinh Bát Nhă của đại thừa. Về phương diện lí luận Phật giáo, so ra, thầy đă đặt được một nền tảng vững chắc, vượt trội hẳn mọi người. Mỗi lần ngài Phật Đồ Trừng giảng kinh, thầy đều được phép thay ngài giảng lại lần thứ hai. Nhiều người đối với sự việc này rất lấy làm bất măn, đều bảo nhau, đợi lần sau có cơ hội, nhất định phải gây khó để cho anh chàng nhóc con đen đúa này phải bẽ mặt mới được. Thế là, lần tới, khi thầy vâng lời ngài Phật Đồ Trừng giảng bài lại, họ bèn đua nhau đưa ra nhiều nghi vấn khó khăn, nhưng thầy không cần phải phí nhiều khí lực, đă giải đáp thỏa đáng mọi nghi vấn, giải quyết hết các vấn đề khó khăn, hoàn toàn bẻ gẫy nhuệ khí của họ, làm cho họ phải thán phục, lại bảo nhau rằng: “Ông đạo đen làm cho cả chúng đều kinh sợ!” Ḥa thượng đen Đạo An tướng mạo không giống ai, mà đă làm cho mọi người đều qui phục.
2. DẬP VÙI TRÔI DẠT, HOẰNG
PHÁP KHÔNG NGỪNG
Năm thứ
5 niên hiệu Vĩnh-ḥa (349) thời Đông-Tấn (tức
2 năm sau ngày ngài Phật Đồ Trừng viên tịch),
Thạch Hổ chết; và chẳng bao lâu th́ nội loạn
xảy ra trong ḍng họ Thạch, đám quí tộc của
các dân tộc thiểu số trong nước Hậu-Triệu
hưng binh tự lập, rồi chém giết thôn tính nhau. Thầy
Đạo An thấy rơ là “vận nước sắp nguy”,
bèn rời đất Nghiệp đi đến vùng núi Hoạch-trạch
(nay là huyện Dương-thành, tỉnh Sơn-tây) để
tránh loạn. Từ đó thầy bắt đầu cuộc
sống trôi dạt đến hơn 10 năm.
Ban đầu,
Đạo An xa hẳn mọi người, sống một
ḿnh trong chốn thâm u của vùng núi Hoạch-trạch, kiên
tŕ tham cứu Phật điển, đối với Phật
giáo vẫn một dạ chí thành. Nhưng v́ luôn luôn sống
trong hoàn cảnh vắng thầy thiếu bạn để
cùng nghiên cứu Phật lí, nên thỉnh thoảng thầy
cũng phát lời cảm thán. Về sau có quí thầy Trúc
Pháp Tế, Chi Đàm Giảng v.v... từ xa t́m đến,
khiến cho trên đường tu học, Đạo An có
được thầy giỏi bạn tốt. Được
quí vị ấy giúp đỡ và cổ lệ, thầy
Đạo An đă đem các thiền kinh tiểu thừa
do ngài An Thế Cao dịch vào cuối thời nhà Hán, như
Ấm Tŕ Nhập, Đại
Thập Nhị Môn và Tu Hành
Đạo Địa, nghiên cứu học tập kĩ
càng, rồi đem hết tâm lực mà viết tựa, chú
thích cẩn thận.
Vào khoảng
năm thứ 7 niên hiệu Vĩnh-ḥa (351) thời Đông-Tấn,
thầy Đạo An đă cùng với bạn đồng học
là thầy Trúc Pháp Thải, đi lên miền Bắc, đến
núi Phi-long thuộc quận Nhạn-môn (nay là vùng đất
Tây-Nam huyện Hồn-nguyên, tỉnh Sơn-tây). Tại
đây thầy gặp lại thầy Thích Tăng Quang, vốn
là bạn cũ từ thời hai người c̣n là sa di. Hai
người cùng nhau đọc sách, suy tư, nghiên cứu
Phật điển, rất lấy làm tương đắc.
Vào thời ḱ đó, trong việc thâm cứu Phật lí, thầy
Đạo An đă có kiến giải mới, khác với
chư vị tiền bối. Từ thời Hán, Ngụy,
chư tăng Trung-quốc đọc và giảng Phật
điển, thường dùng phương pháp “cách
nghĩa”, tức là sử dụng những từ ngữ,
khái niệm nguyên có của Trung-quốc, đặc biệt
là những thuật ngữ Lăo
Trang, để gượng gạo giải thích
nghĩa lí trong Phật pháp, cốt ư là giúp cho các nhân sĩ
Trung-hoa lí giải và tiếp nhận Phật giáo một cách
dễ dàng. Đến nay, thầy Đạo An và bạn
đồng học là Trúc Pháp Nhă, cũng như người
cùng thời là Khang Pháp Lăng v.v..., trong nhóm những vị ấy,
phương pháp “cách nghĩa” này dần dần được
san định để cho cách thức được thống
nhất. Nguyên lai, thầy Đạo An cũng chuyên dùng phương
pháp “cách nghĩa” này để giải thích Phật pháp,
nhưng trong quá tŕnh nghiên cứu nghĩa lí Phật pháp cùng
với thầy Tăng Quang, thầy dần dần có
được kiến giải mới. Theo nhận thức
mới của thầy, dùng phương pháp “cách nghĩa”
để lí giải Phật pháp, sẽ có tính hạn cuộc
nhất định, rất dễ phát sinh hiểu lầm.
Thầy đă nói với thầy Tăng Quang: “Lối cách nghĩa cũ của
người trước, đối với lí lẽ có nhiều
sai trái.” Như thế là thầy đă không đồng ư
với phương pháp cách nghĩa. Nhưng thầy
Tăng Quang th́ vẫn chủ trương giữ phép
cũ, v́ cho rằng, cách nghĩa là phương pháp mà các bậc
tiền bối đă đạt và sáng lập, không thể
bảo là sai trái. Điều đó cho thấy, tinh thần
của thầy Đạo An không giống với người
đương thời. Đương nhiên, sự xuất
hiện của phép cách nghĩa, cũng như sự vận
dụng nó, đă có tính lịch sử nhất định
và tất nhiên của nó. Phật giáo khi mới truyền vào
Trung-quốc, đối với mọi người, so ra nó
c̣n quá mới mẻ; không những thế, giáo nghĩa của
nó lại vô cùng cao sâu khó hiểu. Cho nên, việc dùng sách Nho,
sách Đạo, và các sách vở thông tục khác mà người
Trung-hoa đă từng quen thuộc, đem so sánh và phối hợp
với sách Phật, đă trở thành cái nhu cầu bức
thiết cho sự phát triển Phật giáo ở buổi
ban đầu đó. Chính v́ vậy mà dù cho trên chủ quan
Đạo An có phản đối phép cách nghĩa, nhưng
trên thực tế thầy cũng vẫn chưa thể
thoát khỏi hẳn phương pháp ấy. Không những thỉnh
thoảng tự thân thầy vẫn sử dụng huyền
học của Lăo Trang để thuyết giảng Phật
pháp, mà thầy có lúc c̣n đặc biệt cho phép vị cao
đồ của thầy là sư Thích Tuệ Viễn, khi
giảng giải kinh Phật, có thể dẫn dụng
nghĩa lí trong sách Trang Tử
để gợi ư thính chúng. Nhưng, thầy Đạo
An, thông qua việc tự ḿnh để toàn tâm lực nghiên
cứu kĩ càng mà t́m thấy được chỗ khiếm
khuyết của phép “cách nghĩa”, hết sức muốn
án chiếu ngay bản nghĩa của Phật giáo để
lí giải Phật giáo, điều đó đă biểu hiện
rơ ràng thầy là một Phật giáo đồ có học
phong nghiêm cẩn, tín ngưỡng kiền thành. Tư tưởng
đó của thầy cũng đă thúc đẩy Phật
giáo dần dần thoát li sự y phụ vào các tư tưởng
truyền thống để đi trên con đường
phát triển tương đối độc lập
hơn.
Khoảng
trước sau năm thứ 10 niện hiệu Vĩnh-ḥa
(354) thời Đông-Tấn, thầy Đạo An lại rời
Sơn-tây, đi đến vùng núi Thái-hành, Hằng-sơn
thuộc tỉnh Hà-bắc, xây dựng chùa tháp, truyền bá
Phật giáo. Người ta nói rằng, tại nơi
đó, số người xin xuất gia theo thầy Đạo
An, và số người được thầy giáo hóa,
đông bằng nửa dân số tỉnh Hà-bắc. Sự
kiện này, về một phương diện, nó phản ảnh
cái sự thật của xă hội đương thời,
là trong hoàn cảnh loạn lạc khổ đau, người
ta đă tấp nập đến với tôn giáo để
t́m một nơi nương tựa cho tâm hồn, mong có
được chút an ủi cho tinh thần; về một
phương diện khác, nó cũng chứng tỏ rằng,
thầy Đạo An đương thời đă có thanh
danh rất lớn, có ảnh hưởng rất mạnh
đối với xă hội. Vào lúc đó, đại bộ
phận đất Hà-bắc đang do nhà Tiền-Yên thống
trị. Thái thú Lư của huyện Vũ-ấp hâm mộ
thanh danh của thầy Đạo An, đă nhiều lần
sai sứ đi thỉnh thầy đến dinh để
truyền pháp; thầy từ chối không được,
phải đáp ứng lời mời, đến dinh phủ
giảng pháp. Quả là “Danh
và thật đă phù hợp, cả đạo tục đều
hân hoan ngưỡng mộ!”
Năm 45 tuổi
(357), thầy Đạo An lại trở về đô thành
Nghiệp, trú tại chùa Thọ-đô. Bấy giờ thầy
đă trở thành một vị lănh tụ Phật giáo, số
đồ chúng thường xuyên thân cận bên ḿnh có đến
mấy trăm người. Bất cứ đến chỗ
nào thầy cũng luôn luôn tuyên dương Phật pháp để
giáo hóa người. Vài năm sau đó thầy lại di
chuyển về hướng Tây, đến núi Khiên-khẩu
(phía Tây-Bắc đô thành Nghiệp). Lúc bấy giờ, chiến
loạn ở phương Bắc chưa chấm dứt, lại
bị thiên tai, nước khô, nạn châu chấu liên tiếp
mấy năm. Dân đen trăm họ ở trong vùng nước
sôi lửa bỏng đó, đă hô hào nhau cùng nổi dậy
để t́m sinh lộ. V́ mục đích bảo hộ và
hoằng hóa giáo pháp, thầy Đạo An đă dẫn
đồ chúng sang địa phận tỉnh Hà-nam, vào chốn
rừng núi ẩn cư, ăn rau cỏ đỡ đói,
tu học không gián đoạn, và thầy vẫn giảng dạy
không ngừng nghỉ. Khoảng trước sau năm thứ
ba niên hiệu Hưng-ninh (365) thời Đông-Tấn, v́ lánh
vùng chiến loạn, thầy Đạo An lại dẫn
đồ chúng xuôi Nam, ư muốn đến thành
Tương-dương, thuộc vùng thống trị của
nhà Đông-Tấn.
Trên đường
xuôi
Từ khoảng
năm thứ 5 niên hiệu Vĩnh-ḥa (349) thời Đông-Tấn
rời đất Nghiệp ra đi, đến năm thứ
3 niên hiệu Hưng-ninh (365) thời Đông-Tấn đến
được thành Tương-dương, trong khoảng
thời gian mười mấy năm đó, v́ t́nh h́nh chiến
loạn, thầy Đạo An phải đi lánh nạn từ
Hà-bắc, sang Sơn-tây, đến Hà-nam. Hồi ở tại
Hà-bắc, trước sau thầy cũng đă dời chỗ
ở đến 9 lần, phiêu bạc trôi nổi, cực
khổ biết chừng nào! Nhưng không v́ thế mà thầy
ẩn tích giữ ḿnh, trái lại, tuy ở trong hoàn cảnh
gian nan, thỉ chung thầy vẫn giữ nếp tu học,
vẫn hoạt động truyền giáo không gián đoạn.
Thầy lấy việc hoằng pháp làm nhiệm vụ của
ḿnh; và trong gian khổ đă nỗ lực tiến hành nhiệm
vụ ấy một cách trác tuyệt. Thầy đă biết
lợi dụng t́nh thế để chỉ đạo cho
các đệ tử chia nhau đi các nơi hoằng hóa, làm
lợi ích cho đời, khiến cho Phật giáo ngày càng trải
rộng. Tinh thần đó của thầy đă tác động
mạnh mẽ trên công tác truyền bá Phật giáo ở Trung-quốc.
Phật giáo truyền vào Trung-quốc từ thời Hán,
đến thời Ngụy, thời Tấn th́ hưng thịnh,
ngoại trừ nhiều nguyên nhân đến từ điều
kiện xă hội và phong thái học thuật, có thể nói,
sự hưng thịnh ấy đă không tách rời cái nỗ
lực không mỏi mệt của chư vị thầy tṛ
đại sư Đạo An.
Do những hoạt
động chủ yếu của ngài Đạo An trong thời
ḱ c̣n trú ở phương Bắc này, chúng ta thấy, v́ chịu
ảnh hưởng sâu đậm cái phong cách coi trọng
thiền định của Phật giáo phương Bắc,
đối với thiền học tiểu thừa do đại
sư An Thế Cao truyền vào, ngài Đạo An đă có dụng
tâm đặc biệt, không những chú thích kinh và viết tựa,
mà c̣n hết mực tôn sùng, lại nỗ lực hành tŕ, tu
tập thiền quán; chỉ v́ sách vở ngày nay thiếu thốn,
nên đối riêng về phương diện thiền quán
của ngài Đạo An, không có cách nào khảo sát tường
tận. Cùng lúc với việc nghiên tập thiền quán,
ngài Đạo An cũng bắt đầu lưu tâm đến
Bát Nhă học của đại thừa. Con đường
học thuật của ngài là từ Thiền học mà dần
dần chuyển sang Bát Nhă học, hoạch định
được cái đặc điểm cơ bản cho
toàn thể tư tưởng Phật học của ngài.
3. CHỈNH LÍ KINH ĐIỂN, XIỂN
DƯƠNG GIÁO NGHĨA,
CHẾ ĐỊNH TĂNG QUI,
SÁNG LẬP TÔNG PHÁI
Ngài Đạo
An ở tại Tương-dương 15 năm. Đây là
thời ḱ trọng yếu nhất trong hoạt động
phụng sự Phật pháp của ngài. Lợi dụng giai
đoạn có cuộc sống tương đối ổn
định này, ngài tập trung tinh thần và sức lực
để hoằng truyền giáo pháp; trong công cuộc phát
triển Phật giáo Trung-quốc, ngài đă cống hiến
những thành quả lớn lao ở các phương diện
như chỉnh lí kinh điển, xiển dương giáo
pháp, xác lập qui chế tăng đoàn, v.v...
Tương-dương
thuộc Kinh-châu, là một thị trấn trọng yếu
của nhà Đông-Tấn, là yếu lộ giao thông giữa
các vùng Nam, Bắc; và cũng là nơi qui tụ của
đông đảo văn nhân học sĩ cùng nhân sĩ danh
tiếng. Tại đây, ngài Đạo An giảng kinh thuyết
pháp, đă được khắp đạo tục hoan
nghinh, ủng hộ. Các nhân vật quyền quí như thứ
sử Kinh-châu Hoàn Hoát và trấn thủ
Tương-dương Chu Tự, đều thường
xuyên tới lui với ngài. Đúng như người ta nói:
“Học sĩ bốn
phương đều đến với ngài.” Các nhà hào
phú ở địa phương th́ đem tiền của
cúng dường ngài để xây chùa, dựng tháp, đúc
tượng. Vua nước Tiền-Tần là Phù Kiên
cũng sai sứ đem tượng Phật thếp vàng cao
7 thước, tượng Phật ngồi bằng vàng,
tượng Phật Di Lặc kết bằng châu ngọc,
và các tượng thêu bằng những sợi tơ vàng,
sang cúng dường ngài. Mỗi lần giảng kinh thuyết
pháp, hay cử hành pháp hội, ngài chưng bày tượng Phật
la liệt, bài trí tràng phan, “châu
ngọc sáng ngời, hương hoa ngào ngạt”, tín
đồ không ai là không tỏ ḷng kính ngưỡng.
Lúc bấy giờ
ở trong thành Tương-dương có vị danh sĩ
tên Tập Tạc Xỉ, vốn thuộc một ḍng họ
giàu có, nhiều đời là hương hào. Ông lúc thiếu
thời đă có chí khí, học rộng nghe nhiều, lấy
văn bút để xưng danh với đời, lại
biện luận sắc bén trội hơn mọi người,
tài năng phủ trùm thiên hạ đương thời.
Ông nghe danh ngài Đạo An đă lâu, nên trước khi ngài
dẫn đồ chúng đến Tương-dương,
ông đă từng gửi thư giao thiệp với ngài.
Trong bức thư đó, ông đă hết lời tán thán
đạo đức và học vấn của ngài, cùng biểu
lộ tấm ḷng kính ngưỡng của riêng ông và của
chung các giới đạo tục thành
Tương-dương đối với ngài, rất mong mỏi
chờ đợi ngài đến. Khi ngài Đạo An đến
Tương-dương, Tập Tạc Xỉ đến xin tham kiến ngay. Vừa
ngồi xong, ông tự báo danh tánh: “Bốn biển Tập Tạc Xỉ”; ngài cũng
đáp lại ngay: “Đầy
trời Thích Đạo An”. Câu đối đáp ấy
đă nổi danh đương thời. Có tài liệu c̣n
ghi chép rằng: Khi ông Tập Tạc Xỉ đến tham
kiến ngài Đạo An, gặp lúc ngài đang cùng tăng
chúng bưng bát dùng cơm. Thấy ông, toàn chúng đều
để bát xuống, chỉnh lại y áo để biểu
thị sự cung kính; chỉ riêng ngài Đạo An vẫn
tiếp tục ăn cơm. Tập Tạc Xỉ giận
lắm, nói lớn: “Bốn biển
Tập Tạc Xỉ, có việc nên đến gặp ngài.”
Ngài Đạo An liền ứng lời đáp: “Đầy trời Thích Đạo
An, không rảnh nên chưa tiếp kiến.” Tập Tạc
Xỉ càng giận hơn, nói: “Cái
đầu có màu của cái bát; cái bát không có tóc của cái
đầu.” Ngài đáp lại: “Cái mặt có màu của cái muỗng; cái muỗng không
có núng đồng tiền của cái mặt.” Tập Tạc
Xỉ lại nói: “Chim đại-bàng
từ
Lúc bấy giờ,
trong vùng Giang-đông có vị danh sĩ tên Sí Siêu, nghe danh tiếng
ngài Đạo An, bèn cho người đem ngàn hộc gạo
đến cúng dường, lại viết thư từng
xấp, thăm hỏi rất ân cần. Vua Hiếu-vũ
đế của nhà Đông-Tấn cũng phái người
đến vấn an, đồng thời hạ chiếu chỉ:
“Cấp bổng lộc đồng
với các vương công.” Từ đó có thể thấy,
ngài Đạo An trong thời gian ở
Tương-dương, hoàn cảnh sống rất
được an định, có nhiều điều kiện
thuận lợi cho các hoạt động hoằng hóa Phật
pháp.
Về
phương diện nghiên cứu Phật học và xiển
dương Phật lí, ngài Đạo An, do chịu ảnh
hưởng trọng nghĩa
lí của Phật giáo Nam-phương, đồng thời
tiếp hợp cái phong thái ưa
chuộng huyền học từ trong triều đ́nh cho
đến ngoài dân giă của nhà Đông-Tấn, mà trọng
tâm tư tưởng của ngài bắt đầu chuyển
hướng từ Thiền học sang Bát Nhă học.
Trong 15 năm ở Tương-dương, mỗi năm
ngài giảng hai lần kinh Phóng
Quang Bát Nhă, không năm nào thiếu. Để nắm vững
ư nghĩa về tánh không của
Bát Nhă một cách chuẩn xác, ngài đă cố gắng thu thập
tất cả các bản dịch khác nhau một cách cẩn
thậ n, đối chiếu và nghiên cứu; sau đó th́
theo văn mà giảng giải sơ lược, từng soạn
thành tác phẩm Hiệp Phóng
Quang Quang Tán Tùy Lược Giải, nhưng rất tiếc
đă bị thất truyền, nay chỉ c̣n lại một
bài “Tựa”, trong đó cho thấy
rơ cái tâm đắc của ngài trong phương diện
nghiên cứu này. Ngài cũng đă sáng lập một chủ
thuyết được gọi là “bản vô tông” của
Bát Nhă học, – trên thực tế nó là một học phái –
đă h́nh thành một học phái sớm nhất, hơn hẳn
các học phái trong lịch sử Phật giáo Trung-quốc.
Đồng
thời với việc nghiên cứu, diễn giảng
tư tưởng Bát Nhă, ngài Đạo An c̣n đem hết
tâm lực để thu góp, tập hợp, và chỉnh lí
điển tịch Phật giáo, cùng biên tập mục lục
kinh điển. Phật giáo truyền vào Trung-quốc từ
đời Hán, đến thời ngài Đạo An, các kinh
điển được dịch đă đạt một
số lượng lớn; lại c̣n một số kinh có
nhiều bản dịch khác nhau, trong đó, các bản dịch
không đề tên dịch giả, không ghi năm dịch,
cũng không phải là ít; rồi lại c̣n có những bản
được gọi là “ngụy
kinh”, do người Trung-hoa biên soạn. Trước ngài
Đạo An cũng đă có người từng chỉnh
lí các kinh điển lưu hành đương thời, biên
soạn mục lục, nhưng chưa được hoàn
bị lắm; như, có người th́ chỉ soạn mục
lục dịch phẩm của một đời hay của
một người, có người th́ chỉ liệt kê tên
kinh mà không ghi chú niên đại. Ngài Đạo An, trên cơ
sở thu thập rộng răi, duyệt xét các kinh điển
lưu hành đương thời, là người đầu
tiên đă hệ thống và chỉnh lí toàn diện, tổng
tập danh mục, nêu lên những người
đương thời, cùng nghiêm cẩn biện biệt
chân ngụy, phê b́nh phân định mới cũ. Những
kinh điển nào, trước khi được thu vào
danh mục, nhất định phải được tự
thân ngài duyệt đọc; điều đó đă đủ
cho thấy sức cần lao và tính nghiêm cẩn trong quá tŕnh
nghiên cứu của ngài. Nguyên bản bộ Kinh Lục của
ngài Đạo An tuy đă bị mất rất sớm,
nhưng nội dung của nó vẫn c̣n được giữ
nguyên trong bộ Xuất Tam Tạng
Kí Tập (là bộ Kinh Lục xưa nhất hiện c̣n ngày
nay) do ngài Tăng Hựu biên tập vào đời
Lương.
Theo bước
phát triển của Phật giáo, đất Hán tăng ni
càng ngày càng đông, dần dần bèn h́nh thành những
đoàn thể tăng sĩ, hoặc dựa vào một vị
sư dịch kinh nào đó làm trung tâm, hay lấy một tự
viện nào đó làm cơ sở hoằng pháp. Như thế,
cần phải căn cứ vào t́nh h́nh thực tế của
xă hội Trung-quốc mà chế định giới qui cho
phù hợp với trạng huống phát triển của Phật
giáo Trung-quốc, để ước thúc tăng đoàn,
làm cho các sinh hoạt của tăng ni từng bước
được qui củ hóa. Vào thời ngài Đạo An,
đất Hán tuy đă có giới luật, nhưng thật
không hoàn bị; ngài đă từng cảm thán về sự bất
toàn của giới luật truyền vào. Lúc ngài Đạo
An ở Tương-dương, tăng ni có đến mấy
trăm vị. Để cho sinh hoạt có điều độ,
ngài đă tham chiếu giới luật hiện có lúc ấy,
chế định “qui phạm”
(các phép tắc chuẩn mực) cho tăng ni, chủ yếu
có 3 điều: 1) Nghi thức và phương pháp giảng
kinh thuyết pháp; 2) Các qui định về giờ giấc
ăn ngủ và thời khóa tu tập trong sáu thời (sáng sớm,
giữa trưa, buổi chiều, đầu hôm, nửa
đêm, buổi khuya) mỗi ngày; 3) Cử hành nghi thức
thuyết giới sám hối mỗi nửa tháng một lần,
và các qui định liên quan đến lễ bố tát sám hối
cử hành vào ngày măn hạ an cư. Các qui củ cho tăng
ni do ngài Đạo An chế định, đă có ảnh
hưởng lớn lao, các tự viện trong thiên hạ
vào thời đó đều theo đó mà thi hành. V́ vậy,
ngài được coi là người thứ nhất trong lịch
sử Phật giáo Trung-quốc đă định lập
thanh qui tự viện.
Vào những
năm cuối đời của ngài Đạo An, các loại
giới bản tấp nập truyền vào Trung-quốc; cho
đến khi ngài Cưu Ma La Thập sang, quảng bá Luật
tạng, th́ từ đó tăng ni đă có nghi phạm để
tuân thủ, không cần phải thi hành những điều
do ngài Đạo An chế định nữa. Qui phạm
tăng ni do ngài Đạo An định lập được
thi hành cho đến lúc nào th́ sử sách không ghi chép,
nhưng việc ngài đặt một cái HỌ chung cho
tăng ni, th́ từ hơn ngàn năm nay, trước sau vẫn
được Phật giáo Trung-quốc chấp hành. Từ
ngài Đạo An trở về trước, các sa môn ở
Trung-quốc đều lấy họ theo vị thầy của
ḿnh. Các sư từ Thiên-trúc sang th́ lấy họ “Trúc”; từ nước Nhục-chi
sang th́ lấy họ “Chi”; từ
nước An-tức sang th́ lấy họ “An”; và đệ tử của ngài nào th́ theo họ
của ngài ấy. Do đó, họ của các sa môn lúc bấy
giờ không đồng nhất. Ngài Đạo An đề
xướng: “Cái gốc của
đại sư, không ai tôn quí bằng đức Thích Ca,
cho nên hăy lấy họ THÍCH làm họ ḿnh.” Về sau, khi
có được kinh Tăng Nhất
A Hàm, trong kinh có nói: “Sông ở
bốn phương khi đă chảy vào biển cả th́
không con sông nào c̣n giữ tên của ḿnh; trăm họ khi
đă làm sa môn th́ đều xưng ḿnh là ḍng giống Phật.”,
th́ từ đó, Phật giáo đồ lấy chữ “THÍCH”
làm họ, đă vĩnh viễn trở thành định
thức, tới nay vẫn không thay đổi.
Khi ở tại
Tương-dương, ngài Đạo An c̣n có một hoạt
động trọng yếu khác nữa, đó là ngài cùng với
các đệ tử như Pháp Ngộ v.v..., thường
đứng trước tượng đức Di Lặc lập
thệ nguyện sinh về cung trời Đâu-suất. Theo
giáo lí đạo Phật, Di Lặc là vị Bồ-tát từng
được đức Phật thọ kí sẽ thành Phật
ở nhân gian kế tiếp sau đức Phật Thích Ca
Mâu Ni; cho nên cũng được gọi là “đức Phật vị lai”.
Ngài nguyên là đệ tử Phật, trước khi Phật
nhập diệt, sinh lên nội viện cơi trời Đâu-suất,
trải qua 4.000 tuổi (một ngày đêm ở cơi trời
Đâu-suất tương đương với 400 năm
ở nhân gian), sẽ hạ sinh ở nhân gian, rộng truyền
Phật pháp. Chúng sinh nếu được sinh lên cơi trời
Đâu-suất, đă hưởng thọ mọi điều
vui sướng ở cơi trời, mà trong tương lai lại
c̣n có thể được theo dức Di Lặc, hạ
sinh vào nhân gian để tu học Phật pháp, cuối cùng
đạt đến chỗ giải thoát. Theo kinh Phật
nói, quốc độ trong tương lai khi đức Di Lặc
thành Phật, thật là tốt đẹp, không thể dùng
lời để nói, con người sống lâu đến
84.000 tuổi, vàng bạc châu báu trải khắp mặt
đất, trên cây tự nhiên sinh ra y phục mềm mại,
trong đất tự nhiên sinh ra gạo thơm; thậm
chí, “bất luận nam nữ, khi ư muốn đại tiện
tiểu tiện, th́ đất tự nhiên nứt ra, sau khi
việc xong th́ đất khép lại như cũ”. Ngài
Đạo An thệ nguyện văng sinh lên cơi trời
Đâu-suất, đă phản ảnh cái lí tưởng tôn
giáo của một Phật giáo đồ, mà cũng phản
ảnh một cách khúc chiết ḷng khao khát một đời
sống tốt đẹp, của dân chúng trăm họ
đang sống một cuộc sống đầy khổ nạn
trong cái xă hội loạn động bất an của thời
đại Nam-Bắc-triều. Từ sau thời Đông-Tấn,
tín ngưỡng “văng sinh về
tịnh độ Đâu-suất của đức Di Lặc”,
đă truyền bá mau lẹ tại Trung-quốc. Từ các
đời Tùy, Đường về sau, nhiều phong trào
“nông dân khởi nghĩa” thường lấy câu “Di Lặc Xuất Thế” để
hiệu triệu dân chúng. Sự kiện đó nói lên sự
thịnh hành của loại tín ngưỡng này vào lúc
đó. Có điều đáng nói, là tín ngưỡng “tịnh độ
Tây-phương” lại càng ảnh hưởng lớn
lao hơn nữa trong lịch sử Phật giáo Trung-quốc;
nó có sức hấp dẫn lớn, khiến cho rất nhiều
người thệ nguyện văng sinh về
Tây-phương, nơi đó viễn li thế gian, chứ
không phải vẫn ở trong ṿng ba cơi3, sáu đường4 như tịnh độ Đâu-suất.
Người muốn văng sinh về tịnh độ
Tây-phương, tất yếu phải nhàm chán và muốn xa
ĺa cái khổ sinh tử của thế gian, nhưng văng sinh
về tịnh độ Đâu-suất th́ không nhàm chán sinh
tử mà vui thích sinh lên cơi trời. Nh́n từ khía cạnh
này, nó cho thấy ngài Đạo An không phải là một
người tiêu cực, yếm thế một cách cực
đoan. Ngoài ra, Phật giáo nói tới việc đức Di
Lặc được Phật thọ kí, lưu trú v́ thế
gian để giải quyết mọi nghi nan, có thể
cũng đă ảnh hưởng đến ngài Đạo
An; do đó có thể thấy được niềm tin tôn
giáo của ngài là phải hoằng pháp độ người.
4. DỊCH KINH TRUYỀN GIÁO,
ĐẾN CHẾT MỚI THÔI
Trong thời
gian ngài Đạo An ở tại Tương-dương,
th́ ở phương Bắc, các nước Tần, Yên lo
đánh nhau, không rảnh để mưu đồ tiến
xuống phương
Ở tại
kinh thành Trường-an, ngài Đạo An được mời
trú tại chùa Ngũ-trùng, tăng chúng có đến mấy
ngàn người. Ngài được vua Phù Kiên, tất cả
quan viên và văn nhân trong nước Tiền-Tần sùng
kính, đăi ngộ trọng hậu. Có một lần nọ,
nhà vua đi du ngoạn ở Đông-uyển, mời ngài
cùng ngồi chung một xe. Quan thượng thư tả bộc
xạ Quyền Dực cho rằng, nhà vua sắp xếp
như thế là không thỏa đáng, liền tâu rằng: “Thiên tử ngồi xe đi du ngoạn
th́ nên cho quan thị trung theo xe hầu hạ. Đạo An
là kẻ thấp hèn, h́nh mạo xấu xa, sao có thể
để cho ông ấy ngồi chung xa giá thần thánh của
bệ hạ?” Vua Phù Kiên tức th́ nổi giận, bảo
Quyền Dực: “Đạo
đức của pháp sư Đạo An khiến cho
người ta tôn kính không ai bằng. Dù trẫm có đem cả
thiên hạ mà so sánh với ngài, cũng không có ǵ đáng kể.
Ngài ngồi chung xe với trẫm, hoàn toàn không phải là trẫm
ban cho ngài sự vinh diệu, mà trái lại, ngài đă làm cho
trẫm được hiển hách!” Nói xong, nhà vua đă
ban lệnh bảo Quyền Dực đích thân đỡ
ngài Đạo An lên xe ngồi chung với ông. Qua sự việc
này có thể thấy rơ ḷng kính trọng của vua Phù Kiên
đối với ngài Đạo An. Đương nhiên,
Phù Kiên xử sự như thế là có mục đích chính
trị. Ông muốn nhờ vào ngài Đạo An, dùng Phật
giáo để bảo vệ và củng cố quyền thống
trị của ḿnh.
Ngài Đạo
An không những tinh thục Phật điển, mà c̣n bác
thông ngoại điển, rất giỏi văn
chương, các quan liêu quí tộc tử đệ ở
Trường-an, mỗi khi làm thơ phú, đều đến
nhờ ngài phẩm b́nh mới cảm thấy vinh diệu.
Lúc bấy giờ tại huyện Lam-điền có một
cái đỉnh lớn, dung tích chứa được đến
27 hộc lúa, một mặt bên của cái đỉnh có bài
minh viết theo lối chữ “triện”,
không ai đọc được. Ngài Đạo An
được mời đến xem. Xem xong, ngài bảo mọi
người, đó là loại chữ triện cổ, ư nói
là cái đỉnh này do vua Lỗ Tương công đúc. Ngài
bèn chép lại bài minh ấy theo lối chữ “lệ”. Lại một lần
khác, có một người mang một cái hộc bằng
đồng, h́nh dáng ḱ dị, đem ra chợ bán. Vua Phù Kiên
hỏi ngài Đạo An về cái hộc ấy, ngài nói,
đó là cái hộc được chế tạo vào thời
đại nhà Hán, lúc Vương Măng xưng đế, kiến
lập triều đại mới. Trong một thời
gian, những câu chuyện về nghe nhiều biết rộng
của ngài Đạo An được đồn đăi
khắp cả kinh thành. Vua Phù Kiên ban sắc lệnh cho tất
cả học sĩ trong triều ngoài nội, ai có điều
ǵ nghi nan, đều nên đến xin ngài Đạo An chỉ
dạy. Dân chúng trong thành Trường-an lúc đó từng
lưu truyền câu nói rằng: “Học
mà không nhờ sư Đạo An chỉ dạy, th́
nghĩa lí khó khăn không rơ được.”
Ngài Đạo
An, thân tuy ở tại Trường-an, nhưng tâm vẫn
hướng về triều đ́nh Đông-Tấn. Vua Phù
Kiên, vào năm cuối đời, đă chuẩn bị binh
mă, có ư Nam tiến để đánh Đông-Tấn. Lúc ấy
t́nh thế nhà Đông-Tấn đă đến lúc nguy cấp,
ngài Đạo An bèn uyển chuyển lựa lời can gián
Phù Kiên, khuyên nhà vua hăy bỏ ư định hoặc tạm
hoăn lại mưu đồ diệt nhà Tấn. Trong tâm khảm
ngài Đạo An, từ trước đến giờ ngài
vẫn có cái nh́n không được cởi mở lắm
đối với việc các giống người Hồ
xâm nhập chiếm cứ, kiến lập chính quyền,
làm chủ Hoa-hạ; đó là điểm ngài không giống với
sư phụ ngài là đại sư Phật Đồ Trừng.
Hoạt động
Phật sự chủ yếu của ngài Đạo An tại
Trường-an là tổ chức đạo tràng dịch kinh cho chư tăng
Trung-quốc cũng như ngoại quốc. Theo sử liệu
ghi chép, ngài từng thỉnh các vị sa môn ngoại quốc
như Tăng Già Đề Bà, Đàm Ma Nan Đề, và
Tăng Già Bạt Trừng, cùng dịch kinh trên trăm quyển,
hơn trăm vạn chữ. Các kinh đă dịch, tuy bộ
phận bao quát là kinh điển đại thừa,
nhưng vẫn lấy kinh điển tiểu thừa của
Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ làm chủ yếu.
Phụ giúp ngài Đạo An để tổ chức và
cũng trực tiếp tham dự công tác dịch kinh, có các
sư Triệu Chính, Trúc Phật Niệm và Pháp Ḥa. Ngài Đạo
An c̣n cùng với sư Pháp Ḥa, đối với việc dịch
kinh, rất cẩn thận trong việc xét định âm tự,
khảo sát rơ ràng ư nghĩa câu văn, để bảo
đảm cho bản dịch có đầy đủ chất
lượng.
Trong quá tŕnh chủ tŕ đạo
tràng phiên dịch, ngài Đạo An c̣n đem những kinh
nghiệm cũng như những khó khăn từng gặp
trong việc dịch kinh, cẩn thận đúc kết lại;
từ đó ngài đă đề ra hai thuyết nổi tiếng,
đó là thuyết “5 điều
không theo sát nguyên bản” và thuyết “3 điều không dễ dàng”. “5 điều không theo sát
nguyên bản” là chỉ cho trong lúc dịch kinh có 5
trường hợp cần phải cải biến cách thức
diễn đạt của kinh văn nguyên bản. 5 trường
hợp đó là: 1) Dùng cách đảo
trang để dịch câu nguyên văn, cho phù hợp với
tập quán ngữ pháp Hán văn; 2) Dùng cách tu sức thích
đáng để dịch câu nguyên văn chất phác, cho phù
hợp với cái học phong hiếu văn chương của
người Trung-quốc; 3) Tỉnh lược một cách
thích đáng đối với nguyên văn trùng phức rắc
rối; 4) Cắt bỏ những câu tụng văn ở
trong nguyên bản có tính cách đúc kết mà lại lặp
đi lặp lại; 5) Không dịch toàn cả đoạn
văn lặp đi lặp lại đoạn văn
trước ở trong nguyên bản. “3 điều không dễ
dàng” là chỉ cho 3 trường hợp không dễ dàng
phiên dịch, đó là: 1) Không dễ
ǵ đem đồ vật thời cổ đại phiên dịch
cho thích hợp với thời hiện kim; 2) Không dễ ǵ
đem lời của thánh nhân dịch ra cho kẻ phàm phu ngu
muội đủ sức tiếp nhận am hiểu; 3)
Người dịch b́nh thường hiện thời không
dễ ǵ am hiểu tường tận thâm ư của Phật
trước đây cả ngàn năm. Những điều
do ngài Đạo An đúc kết trên đây đă có ảnh
hưởng lớn đối với công việc phiên dịch
kinh điển về sau này.
Đồng
thời với việc tổ chức dịch kinh, ngài
Đạo An cũng tận lực nghiên cứu và tuyên
dương Kinh Bát Nhă. Cũng
giống như hồi c̣n ở Tương-dương, từ
khi đến Trường-an, ngài vẫn giữ lệ mỗi
năm giảng Kinh Phóng Quang Bát
Nhă hai lần. Thuyết “5
điều không theo sát nguyên bản và 3 điều không dễ
dàng” do ngài đề xuất, chính là do ngài đă đúc kết
được qua quá tŕnh phiên dịch và nghiên cứu kinh Bát Nhă.
Ở Trường-an, trên thực
tế, ngài Đạo An đứng ở cương vị
lănh tụ của giới Phật giáo, cho nên, việc ngài chủ
tŕ công tác phiên dịch Phật điển, so với việc
dịch kinh tản mác trong dân gian trước đó, có chỗ
bất đồng. Ở một cấp độ nhất
định, ngài được triều đ́nh bảo hộ
và đài thọ, cho nên, đem so sánh cả về qui mô lẫn
chất lượng của công tŕnh dịch kinh, trong thời
ngài đă tiến bộ và phát triển hơn trong quá khứ
rất nhiều. Bản thân ngài Đạo An cũng đă
đổ rất nhiều tâm huyết vào trong sự nghiệp
dịch kinh ấy. Vào năm cuối đời ngài, vua Phù
Kiên không nghe lời ngài can gián, đă kéo trọng binh
5. TÔNG SƯ MỘT ĐỜI, ẢNH
HƯỞNG SÂU XA
Đại
sư Đạo An là nhà Phật học uyên bác nhất của
Trung-quốc trong thời đại Đông-Tấn, cũng
là nhà truyền giáo và tổ chức có ảnh hưởng
nhất, đồng thời là nhân vật lănh tụ của
giới Phật giáo đương thời. Một đời
ngài hoạt động phụng sự Phật giáo, xiển
dương giáo nghĩa của Phật pháp, đă gây nên tầm
ảnh hưởng to lớn và sâu xa trong tiến tŕnh phát
triển của Phật giáo Trung-quốc.
Trước
hết, trên phương diện tổ chức dịch
kinh, chỉnh lí và giới thiệu kinh điển Phật
giáo, ngài Đạo An đă có những cống hiến trọng
yếu. Trong giai đoạn cuối đời ở tại
Trường-an, ngài chủ tŕ công việc dịch kinh, và
đă dịch cả thảy chừng 14 bộ kinh, gồm
183 quyển, hơn trăm vạn chữ; và trên cơ sở
khảo cứu, phẩm b́nh ưu khuyết trong các dịch
phẩm của tiền nhân, kết hợp với sự thể
hội của riêng ḿnh, ngài đă có những đúc kết
đối với công tŕnh phiên dịch Phật điển.
Ngài cũng cần mẫn trong việc chú thích kinh điển,
viết các bài tựa; trong phần hành này, trước sau
ngài đă trước tác hơn 60 chủng loại, ngày nay
hiện c̣n hơn 20 chủng loại, nội dung bao hàm rộng
răi các lănh vực như lí luận Phật giáo đại tiểu
thừa, tu thiền, luật nghi v.v... Phật Kinh Mục Lục do ngài biên soạn, không
những đă khơi nguồn cho môn học về mục
lục kinh điển, là bộ sách đă cung cấp những
sử liệu về dịch kinh đáng tin cậy nhất
để nghiên cứu lịch sử dịch kinh của Phật
giáo Trung-quốc; mà nó c̣n mang lại sự thuận tiện
to lớn cho người sau qua việc cung cấp những
kinh nghiệm hữu ích để kế tục sự nghiệp
chỉnh lí điển tịch Phật giáo.
Thứ nữa,
ngài Đạo An tận lực hoằng dương Phật
pháp, tích cực bồi dưỡng đệ tử, đă
gây nên cái tác dụng thúc đẩy mănh liệt đối với
tiến tŕnh phát triển của Phật giáo Trung-quốc.
Khác với một số các vị cao tăng
đương thời chỉ thích an nhàn tự tại, ẩn
ḿnh trong chốn núi rừng, tự vui với triết lí
nhân sinh vũ trụ, ngài Đạo An trước sau cứ
một mực chú mục đến việc truyền bá Phật
pháp và giáo hóa đồ chúng. Tại Hà-bắc,
Tương-dương và Trường-an, nơi nào ngài
cũng có hàng trăm hàng ngàn đệ tử, h́nh thành một
tăng đoàn Phật giáo lớn nhất tại Trung-quốc
đương thời. Những vị đệ tử trứ
danh nhất của ngài có Tuệ Viễn, Đàm Dực,
Đạo Lập, Pháp Ngộ, Tăng Duệ, v.v... Trong số
các vị đệ tử này, sư Tuệ Viễn về
sau sẽ thừa kế ngài trong cương vị lănh tụ
của giới Phật giáo. Ngài Đạo An trước
sau đă hai lần phân tán đồ chúng với mục
đích mở rộng ảnh hưởng cùng khu vực
truyền bá. Ở cả hai vùng
Sau cùng, đối
với nền giáo học Phật giáo, ngài Đạo An
đă tập đại thành môn lí luận Phật giáo ở
Trung-quốc đương thời, cũng như đă
sáng lập học phái Bản Vô (hoặc gọi là tông Bản
Vô), đă tác động đến tiến tŕnh Trung-quốc-hóa
môn Lí Luận Phật Giáo. Phật
giáo truyền vào Trung-quốc từ đời Hán, chủ yếu
có đại sư An Thế Cao dịch và giới thiệu
Thiền học tiểu thừa,
và đại sư Chi Lâu Ca Sấm dịch và giới thiệu
Bát Nhă học đại thừa;
đó là hai hệ thống lớn. Thiền học tiểu
thừa so ra rất chú trọng việc tu tập thiền
định, trong đó, nhiều phương pháp có chỗ
tương tợ như cách hít vào thở ra do các
phương sĩ Đạo gia đương thời
đề xướng. Nhân đó, loại thiền tập
này đă dựa vào các phương thuật thần tiên của
đạo Hoàng Lăo đang thịnh hành trong xă hội ở
khoảng Hán - Ngụy mà được lưu hành. Trong thời
ḱ Ngụy - Tấn, Lăo Trang thịnh hành, phong khí huyền hoặc
hưng phát. Trọng tâm của Bát Nhă học là “tất cả
đều không”. Môn học này đă thông qua giáo nghĩa “giả có vốn không” (tánh không)
để thuyết minh lí “không”, cùng với cách luận
không nói có của môn huyền học Lăo Trang, có vẻ
như tương đồng, cho nên “thuận gió dễ
đi”, hưng khởi phồn thịnh. Ngài Đạo An
đối với các loại lí luận học Phật giáo
do Ấn-độ truyền nhập, đều gồm
thu, dung nạp hết. Nhưng một đời ngài đối
với Bát Nhă học, đă nghiên cứu tận lực, tinh
cần nhất, thông hiểu sâu xa nhất, và cũng đạt
thành quả lớn lao nhất; thứ đến, trên
phương diện nghiên tập Thiền học, ngài
cũng có sự thể hội đặc biệt độc
đáo của riêng ḿnh. Ngài đă dung hợp hai hệ tư
tưởng lớn Thiền và Bát Nhă, làm nên một tập
đại thành của hai hệ tư tưởng ấy
vào thời bấy giờ. Bát Nhă học trong thời Ngụy
- Tấn đă chịu ảnh hưởng của huyền
học Lăo Trang, mà h́nh thành cái gọi là “6 nhà
7 tông”5; và “Bản Vô
tông” của ngài Đạo An đă là một phái có tầm
ảnh hưởng lớn nhất ở trong đó. “Bản
vô” là một khái niệm về giáo nghĩa “tánh không” mà giới Phật học
thời Hán - Ngụy thường dùng để biểu thị
cho Bát Nhă học. Bản Vô tông của ngài Đạo An là
dùng chữ “bản vô” để
xiển dương giáo nghĩa “không”
của Kinh Bát Nhă, cho rằng,
“Trước khi tạo hóa
đă không có ǵ, rỗng không chính là khởi thỉ của mọi
h́nh thái, cho nên nói là bản vô.” Bản vô được
coi là bản nguyên cuối cùng của vũ trụ nhân sinh.
Đồng thời cũng cho rằng, người nếu
thông qua tu tập thiền pháp mà “giữ
tâm ở bản vô”, th́ có thể tiêu diệt tất cả
vọng tưởng tạp niệm, chân thật thể nhập
được trí tuệ bát nhă, từ đó mà đạt
đến cảnh giới lí tưởng của Phật
giáo, hoàn toàn tịch tĩnh, vô dục, vô ngôn, vô vi. Do điểm
này có thể thấy cái đặc điểm tư tưởng
của ngài Đạo An, là đă từ Thiền quán để
đạt đến Bát Nhă, và lấy Bát Nhă để liễu
giải Thiền quán. Sự quán thông của ngài Đạo
An đối với hai hệ tư tưởng lớn Bát
Nhă và Thiền Học, không những biểu hiện cái học
thức uyên bác, cái tầm nh́n mở rộng của ngài, mà
nó c̣n nói lên cái óc suy cứu độc lập, cái tinh thần
dám làm mới của ngài. Bản Vô tông của ngài xuất
hiện, báo hiệu rằng cái giai đoạn mà Phật
giáo Trung-quốc bị Phật giáo ngoại lai “ăn sống nuốt
tươi, gán ghép gượng gạo” đă thực sự
kết thúc, để bắt đầu cho một thời
ḱ mới của tiếp thu, tiêu hóa, dung hợp, quán thông, và
phát huy sáng tạo.
Ảnh hưởng
của học thức, đạo phong, đức độ,
công tích và địa vị của bậc tông sư một
đời đại Thích Đạo An, xưa nay vẫn
được các giới Phật giáo và học thuật
b́nh phẩm cao độ. Trước khi đến Trung-quốc,
pháp sư Cưu Ma La Thập đă từng nghe danh Đạo
An, và gọi ngài là vị “thánh
nhân ở phương Đông”. Sau khi ngài Đạo An
viên tịch, người đương thời từng
truy tán ngài rằng: “Đại
sư Đạo An, kiến thức sâu rộng, thực chất
dồi dào, giỏi nhiều lĩnh vực, khả năng
chuyên môn, lại càng vượt trội; tiếng trùm
Khiên-lũng, danh vang Hoài-hà, thân tuy hóa cỏ, người vẫn
c̣n đây.” Quả thật như vậy đó!
1. Có
thuyết nói ngài sinh vào năm thứ 6 niên hiệu
Vĩnh-gia (312) đời vua Hoài đế thời Tây-Tấn.
2. Về
con số giới điều của giới cụ túc, có
nhiều chỗ nói khác nhau. Theo bộ Tứ Phần Luật mà Phật giáo Trung-quốc thường y cứ, giới
T́ kheo có 250 điều; giới T́ kheo ni có 348 điều.
Người xuất gia y theo các qui định của giới
pháp mà thọ tŕ giới cụ túc này, mới chính thức
có được cái tư cách của một vị
tăng. Lệ chung trong Phật giáo nói rằng: Người
chưa đủ 20 tuổi th́ không được thọ
tŕ giới cụ túc.
3. Ba
cơi là cơi Dục, cơi Sắc và cơi Vô-sắc; đó là sự
phân loại của Phật giáo đối với thế giới
thế tục.
4. Sáu
đường là Trời, Người, A-tu-la, Súc-sinh, Ngạ-quỉ,
và Địa-ngục. Phật giáo cho rằng, tất cả
chúng sinh trước khi được “giải thoát”, đều
căn cứ vào các hành vi thiện ác của đời
trước mà luân hồi trong 6 đường đó.
5. Sáu
nhà bảy tông: là từ gọi chung cho học phái Bát Nhă Phật
giáo ở thời đại Đông-Tấn.