HẠNH CƠ TIỂU PHẨM 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHONG KIỀU DẠ BẠC

Trương Kế

 

 

 

 

Nguyệt lạc ô đề sương măn thiên

Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

Cô-tô thành ngoại Hàn-sơn tự

                              Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

 

 

 

Diễn dịch ra Việt văn:

 

 

THUYỀN ĐÊM GHÉ BẾN PHONG KIỀU

                                   

 

Bến Phong-kiều hàng cây tăm tắp

Trời Cô-tô ăm ắp sương mờ

Thuyền nan một lá hững hờ

Đêm nay ghé bến đợi chờ bâng khuâng

 

Mới nửa đêm sao trăng đă lặn!

Quạ kêu buồn như nhắn nhủ ai

Mù sương trải kín sông dài

Đèn câu, hay cánh sao cài trên sông?

 

Khách một ḿnh nằm trong khoang lạnh

Nghe hơi sương đượm mảnh chăn đơn

Buồn ru giấc ngủ chập chờn

Bao h́nh ảnh cũ chờn vờn như mơ

 

Bỗng chuông chùa ngoài xa vọng lại

Trong phút giây thư thái ḷng trần

Khách đây, chùa đó, xa gần?

Tỉnh trong đêm tối nên vần thơ duyên

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CÚC HOA *

Huyền Quang

 

 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


            Hoa tại trung đ́nh nhân tại lâu

          Phần hương độc tọa tự vong âu (ưu)

          Chủ nhân dữ vật hồn vô cạnh

          Hoa hướng quần phương xuất nhất đầu

 

* Đây là đoạn 5 trong bài thơ “Cúc Hoa” – gồm có 6 đoạn, của Tổ Huyền Quang (1254-1334), đời Trần, thế kỉ 13-14.

 

 

Diễn dịch:

 

 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


KỆ BỐN NÚI

(Nguyên tác Hán văn của vua Trần Thái-tông)

 

 

 

A. DUYÊN KHỞI (lời người

dịch)

 

Mùa mưa năm đó, đức Phật an cư cùng với đông đảo chư Tăng Ni tại tu viện Ḱ-viên (Jatevana), ở kinh thành Xá-vệ (Savatthi) của vương quốc Kiều-tát-la (Kosala). Một buổi chiều nọ, vua của nước Kiều-tát-la là Ba Tư Nặc (Pasenadi), đến tu viện hầu Phật. Vua tỏ ư rất hối hận, lâu nay v́ công việc triều chính quá bận rộn, nên đă không tinh tấn lắm trong việc tu tập. Vua hứa với Phật là từ nay phải để thêm nhiều th́ giờ cho việc tu học. Phật dạy:

“Đúng vậy, thưa đại vương! Bây giờ tuổi đại vương đă cao, – năm đó vua đă 70 tuổi – nếu không lo tu tập th́ đại vương không c̣n nhiều th́ giờ nữa đâu! Đại vương! Ví dụ, một vệ sĩ thân tín của đại vương từ hướng Đông chạy về báo với đại vương là có một quả núi vĩ đại đang từ phương Đông tiến dần tới đây; quả núi ấy đă nghiền nát tất cả người, sinh vật và cây cỏ trên đường nó đi qua. Tiếp đó, một người khác từ hướng Tây chạy về cũng báo với đại vương là có một quả núi vĩ đại đang từ phương Tây tiến dần tới đây. Rồi các người khác từ các hướng Nam và Bắc cũng chạy về báo với đại vương là có các quả núi vĩ đại đang từ các phương Nam và Bắc tiến dần tới đây; các quả núi ấy đều đă nghiền nát tất cả người, sinh vật và cây cỏ trên đường chúng đi qua. Đại vương biết rơ là bốn quả núi vĩ đại kia từ bốn phương sắp ập tới ḿnh, và mạng sống của đại vương sẽ không c̣n kéo dài bao lâu nữa. Đại vương không c̣n nhiều th́ giờ! Vậy đại vương sẽ làm ǵ trong t́nh huống ấy?”

Vua Ba Tư Nặc suy nghĩ rất nhanh, rồi bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Theo con nghĩ, trong t́nh huống ấy th́ con chỉ có một việc đáng làm mà thôi: Đó là, con phải sống thời gian c̣n lại thật xứng đáng; nghĩa là con phải sống thật trầm tĩnh và đúng theo chánh pháp.”

Phật dạy: “Đúng lắm, đại vương! Như Lai sẽ nói rơ để đại vương biết: Bốn quả núi vĩ đại đó chính là bốn tướng trạng Sinh, Già,

Bệnh, Chết của đời người. Chính cái già và cái chết là những quả núi hiện đang tiến tới và vây hăm chúng ta.”

Nhà vua bạch Phật: “Bạch Thế Tôn!  Biết được cái già và cái chết đang tiến tới, con nghĩ chỉ c̣n một cách là con phải sống đúng theo chánh pháp, dùng những ngày tháng c̣n lại để làm những việc lành nào có thể làm, và xây dựng cho những thế hệ tương lai.”

Nhà vua lạy Phật và trở về hoàng cung.

*

Sinh, Già, Bệnh, Chết là bốn tướng trạng đau khổ, hằng vây phủ và hành hạ tất cả mọi người, không ai có thể chống lại hay vượt thoát nổi. Chỉ có tu tập theo Phật pháp để đạt được trí tuệ giác ngộ cao tột, th́ mới giải thoát khỏi ṿng vây của bốn quả núi to lớn

kia mà thôi.

Lời dạy của đức Thế Tôn về “Bốn Núi” trên đây đă được ghi lại trong các kinh Tương Ưng Bộ (thuộc tạng Pali) và Tạp A Hàm (thuộc tạng Hán). Trên bước đường tu học Phật pháp, vua Trần Thái Tông (1218-1277) của nước ta đă rất lấy làm tâm đắc về đoạn kinh “Bốn Núi” này, và đă lấy cảm hứng từ đó mà viết nên bài văn “Tứ Sơn” (四山bốn núi), nêu lên các đề tài thiền quán quan trọng trong thiền môn. Bài văn viết bằng Hán văn, được in chung với những bài văn khác của nhà vua, trong tác phẩm thiền học nổi tiếng của Phật giáo Việt-nam: KHÓA HƯ LỤC (tức Trần Thái Tông Ngự Chế Khóa Hư).

Bài văn “Tứ Sơn” này gồm có năm đoạn văn viết bằng thể biền ngẫu, diễn giải ư nghĩa của bốn quả núi: Đoạn đầu nói một cách tổng quát về thực trạng rằng, bởi v́ vô minh mà chúng sinh phải trôi lăn măi trong ḍng sinh tử; bốn đoạn sau, mỗi đoạn nói về tướng trạng của một quả núi: SINH, LĂO, BỆNH, TỬ, nêu rơ ư thức về tính chất vô thường của đời người. Mỗi đoạn văn trên đều được kết thúc bằng một bài kệ thơ; bài kệ đầu viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt, bốn bài sau theo thể thất ngôn bát cú. Ở đây chúng tôi chỉ xin dịch năm bài kệ thơ ấy mà thôi.

 

 

B. KỆ BỐN NÚI

 

1) TỨ SƠN KỆ

 

四山偈

四山峭壁萬青叢

悟了都無萬物空

喜得驢兒三腳在

驀騎打趁上高峰

 

 

Tứ sơn tiễu bích vạn thanh ṭng

Ngộ liễu đô vô vạn vật không

Hỉ đắc lư nhi tam cước tại

Mạch ki đả sấn thướng cao phong

 

Dịch:

BÀI KỆ BỐN NÚI

 

Bốn núi cao chót vót

Sum sê muôn cây rừng

Tuệ giác nh́n vạn vật

Tất cả thảy đều không

Hăy cưỡi lừa ba cẳng

Lên thẳng đỉnh tột cùng

 

 

 

2) NHẤT SƠN (Sinh)

一山

真宰薰陶萬象成

本來非兆又非萌

只差有念忘無念

卻背無生受有生

鼻著諸香舌貪味

眼肓眾色耳聞聲

永為浪蕩風塵客

日遠家鄉萬里程

 

Chân tể huân đào vạn tượng thành

Bản lai phi triệu hựu phi manh

Chỉ sai hữu niệm vong vô niệm

Khước bội vô sinh thọ hữu sinh

Tị trước chư hương thiệt tham vị

Nhăn manh chúng sắc nhĩ văn thanh

Vĩnh vi lăng đăng phong trần khách

Nhật viễn gia hương vạn lí tŕnh

 

Dịch:

 

NÚI THỨ NHẤT (Sinh)

 

Do nhân duyên hun đúc

Vạn pháp được sinh thành

Vốn không phải điềm báo

Cũng không thuần mầm xanh

V́ bỏ quên vô niệm

Hữu niệm liền phát sinh

Kiếp vô sinh đă trái

Hữu sinh phải nhận h́nh

Mũi lưỡi tham hương vị

Mắt tai đắm sắc thanh

Quê nhà ngày xa măi

Kiếp phong trần lênh đênh

 

 

3) NHỊ SƠN (Lăo)

二山

人生在世若浮漚

壽夭因天莫妄求

景逼桑榆將向晚

身如蒲柳暫經秋

青雕昔日潘郎鬢

白遍當年呂望頭

世事滔滔渾不顧

夕陽西去水東流

 

 

Nhân sinh tại thế nhược phù âu

Thọ yểu nhân thiên mạc vọng cầu

Cảnh bức tang du tương hướng văn

Thân như bồ liễu tạm kinh thu

Thanh điêu tích nhật Phan Lang mấn

Bạch biến đương niên Lă Vọng đầu

Thế sự thao thao hồn bất cố

Tịch dương Tây khứ thủy Đông lưu

 

Dịch:

 

NÚI THỨ HAI (Già)

 

Đời người như bọt nước

Thọ yểu chớ vọng cầu

Mặt trời đà xế bóng

Bồ liễu dần sang thu

Mới ngày nào trẻ đẹp

Giờ đây đă bạc đầu

Việc đời trôi cuồn cuộn

Ngoảnh lại ích ǵ đâu

Hướng Tây mặt trời lặn

Về Đông nước chảy mau

 

 

 

4) TAM SƠN (Bệnh)

三山

陰陽愆德本相因

變作災屯及世人

大抵有身方有病

若還無病亦無身

靈丹謾詫長生術

良藥難令不死春

早願遠離魔境界

回心向道養天真

 

Âm dương khiên đức bản tương nhân

Biến tác tai truân cập thế nhân

Đại để hữu thân phương hữu bệnh

Nhược hoàn vô bệnh diệc vô thân

Linh đan mạn sá trường sinh thuật

Lương dược nan linh bất tử xuân

Tảo nguyện viễn li ma cảnh giới

Hồi tâm hướng đạo dưỡng thiên chân

 

 

Dịch:

 

NÚI THỨ BA (Bệnh)

 

Âm dương không ḥa hợp

Gây họa đến thế nhân

Có thân th́ có bệnh

Không bệnh hẳn không thân

Trường sinh cùng bất tử

Chỉ dối kẻ ngu đần

Gấp xa ĺa ma cảnh

Quay về với thiên chân

 

 

 

 

5) TỨ SƠN (Tử)

四山

擺蕩狂風括地生

魚翁醉裡釣舟橫

四垂雲合陰霾色

一派波翻鼓動聲

雨腳陣催飄歷歷

雷車輪轉怒轟轟

暫時塵斂天邊淨

月落長江夜幾更

 

Băi đăng cuồng phong quát địa sinh

Ngư ông túy lí điếu chu hoành

Tứ thùy vân hiệp âm mai sắc

Nhất phái ba phiên cổ động thanh

Vũ cước trận thôi phiêu lịch lịch

Lôi xa luân chuyển nộ oanh oanh

Tạm thời trần liễm thiên biên tịnh

Nguyệt lạc trường giang dạ kỉ canh

 

Dịch:

 

NÚI THỨ TƯ (Chết)

 

Một trận cuồng phong thổi

Mịt mù cát bụi bay

Ngư ông say túy lúy

Mặc cho chiếc thuyền quay

Bốn phương trời u ám

Vần vũ lớp lớp mây

Sầm sập mưa xối xả

Lô xô sóng bủa vây

Ầm ầm tiếng sét nổ

Xe sấm tít mù xoay

Phút giây trời quang tạnh

Bụi lắng gió ngừng lay

Trong ḷng sông vắng lặng

C̣n lại mặt trăng đầy

 

 

 

 

 

 

 

 

CƯ TRẦN LẠC ĐẠO

Trúc Lâm*

 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


                        Cư trần lạc đạo thả tùy duyên

                   Cơ tắc xan hề khốn tắc miên

                   Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch

                   Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền

 

* Trúc Lâm tức Trúc Lâm Đầu Đà, pháp hiệu của vua Trần Nhân-tông (1258-1308) sau khi xuất gia. Bài thơ trên tức là bài kệ ở cuối bài phú “Cư Trần Lạc Đạo” của ngài.

 

 

Dịch:

 

Ở ĐỜI VUI ĐẠO

 

Ở đời vui đạo tùy duyên

Đói ăn mệt ngủ tự nhiên dễ dàng

Ngọc châu nhà có sẵn sàng

Đâu cần t́m kiếm ngoài đường luống công

Đối người đối vật dung thông

Tâm không vướng mắc là tông chỉ thiền

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

KỆ NGỒI THIỀN

(phỏng dịch)

 

- BUỔI SÁNG

 

Pháp thân tỏa sáng buổi ban mai

Tĩnh tọa ḷng an miệng mỉm cười

Ngày mới nguyện đi trong tỉnh thức

Mặt trời trí tuệ rạng muôn nơi

Ngưỡng mong đại chúng tinh tấn nhiếp tâm thiền tập

Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)

 

 

- BUỔI TỐI

 

Vững thân ngồi dưới cội bồ đề

Ba nghiệp lắng rồi hết thị phi

Thu nhiếp thân tâm vào chánh niệm

Rơ soi diện mục thoát bờ mê

Ngưỡng mong đại chúng tinh tấn nhiếp tâm thiền tập

Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CÁC BÀI K TÁN
Thích Nguyên Tạng (sưu tầm)
Hạnh Cơ (dịch)

  

 

 

 

Hương vân nhi bố

Thánh đức chiêu chương

Bồ đề tâm quảng mạc năng lường

Xúc xứ phóng hào quang

Vi thoại vi tường

Ngưỡng khởi pháp trung vương

Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát (3 lần). 

 

Mây hương thơm bủa khắp

Thánh đức tỏa sáng ngời

Tâm bồ đề rộng lớn

Hào quang chiếu nơi nơi

Điềm lành hiện trước mắt

Kính ngưỡng đấng Pháp Vương

Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát

 

 

 

Tâm nhiên ngũ phận

Phổ biến thập phương

Hương yên đồng tử ngộ chơn thường

Tỉ quán diệu nan lương

Thoại ái tường quang

Kham hiến pháp trung vương

Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát (3 lần).

 

Tâm thắp năm phần hương

Biến khắp cả mười phương

Trong khói hương nghi ngút

Đồng tử ngộ chân thường

Mùi vi diệu khó lường

Mây lành sáng an tường

Dâng cúng đấng Pháp Vương

Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát 

 

 

 

 

 

 

 

Lư hương sạ nhiệt

Pháp giới mông huân

Chư Phật hải hội tất diêu văn

Tùy xứ kiết tường vân

Thành ư phương ân

Chư Phật hiện toàn thân

Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát (3 lần).

 

Ḷ hương vừa đốt lên

Xông khắp cùng pháp giới

Chư Phật các pháp hội

Gần xa thảy đều nghe

Chốn chốn kết mây lành

Tâm chí thành dâng cúng

Chư Phật hiện toàn thân

Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát

 

 

 

 

 

 

 

Chiên đàn hải ngạn

Lư nhiệt danh hương

Da Du tử mẫu lưỡng vô ương

Hỏa nội đắc thanh lương

Chí tâm kim tương

Nhất chú biến thập phương

Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát (3 lần).

 

Hương chiên đàn hải ngạn

Ḷ đốt ngát mùi thơm

Mẹ con bà Da Du

An toàn không bị nạn

Trong lửa cháy hừng hực

Nghe mát mẻ dị thường

Nay đem ḷng chí thành

Một nén thấu mười phương

Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát

 

 

 

 

 

 

 

Diêu thiên ngọc lộ

Giác hải kim ba

Đại thiên sa giới sái phân đà

Tam muội địch trần kha

Thiểu thủy thành đa

Nhất đích tịnh sơn hà

Nam mô Cam Lồ Vương Bồ Tát (3 lần).

 

Sương ngọc cơi trời xa

Sóng vàng biển tuệ giác

Từ ba ngàn thế giới

Rải hoa sen trắng ngời

Tam muội rửa trần cấu

Nước ít biến thành nhiều

Một giọt sạch thế gian

NamCam Lồ Vương Bồ Tát

 

 

 

 

 

 

Dương chi tịnh thủy

Biến sái tam thiên

Tánh không bát đức lợi nhân thiên

Pháp giới quảng tăng diên

Diệt tôi tiêu khiên

Hỏa diệm hóa hồng liên

Nam mô Thanh Lương Địa Bồ Tát (3 lần). 

 

Nước sạch đầu cành dương

Rưới khắp đại thiên giới

Nước tự tánh vốn không

Đầy đủ tám công đức

Lợi lạc cả trời người

Rộng vô cùng pháp giới

Tiêu trừ hết tội chướng

Hóa giải mọi oan khiên

Hầm lửa hóa ao sen

Nam mô Thanh Lương Địa Bồ Tát

 

 

 

 

 

 

 

Kiết tường hội khởi

Cam lồ môn khai

Cô hồn Phật tử giáng lâm lai

Văn pháp phú hương trai

Vĩnh thoát luân hồi

U ám nhất thời khai

Nam mô Vân Lai Tập Bồ tát (3 lần).

 

Hội cát tường đă lập

Rộng mở cửa cam lồ

Chư cô hồn Phật tử

Xin vân tập đàn tràng

Nghe pháp thọ hương trai

Xa ĺa nơi tăm tối

Vĩnh viễn thoát luân hồi

Nam mô Vân Lai Tập Bồ Tát

 

 

 

 

 

A Di Đà Phật

Vô thượng y vương

Nguy nguy kim tướng phóng hào quang

Khổ hải tác châu hàn

Cửu phẩm liên bang

Đồng nguyện văng Tây phương

Nam mô Tiếp dẫn Đạo sư A Di Đà Phật (3 lần).

 

Đức Phật A Di Đà

Bậc y vương vô thượng

Sừng sững thân sắc vàng

Phóng hào quang rực rỡ

Đưa người vượt biển khổ

Về chín phẩm hoa sen

Chúng con đồng phát nguyện

Văng sinh về Tây-phương

Nam mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật

 

 

 

 

 

  

 

 

Phật từ quảng đại
C
ảm ứng vô sai,
Tịch quang tam muội biến hà sa
Nguyện bất ly
Gda
G
iáng phước trai gia
Kim đại dơng liên ba
Nam mô Đăng Vân Lộ Bồ Tát (3 lần).
 

 

Phật ḷng từ rộng lớn
Cảm ứng tâm chân thành
Ánh sáng chiếu vô biên
Không rời cội bồ đề
Ban phước nhà thí chủ
Túi vàng nảy hoa sen

Nam mô Đăng Vân Lộ Bồ Tát

 

 

 

 

 

Liên tŕ hải hội
Di Đà Như Lai
Quan Âm Thế Chí tọa liên đài
Tiếp dẫn thượng kim giai
Đại thệ hoằng khai
Phổ nguyện ly trần ai
Nam mô Liên Tŕ Hải Hội Phật Bồ Tát

 

Nơi hải hội Liên-tŕ
Đức Phật A Di Đà
Cùng Quán Âm, Thế Chí
Ngự trên đài hoa sen
Phát thệ nguyện rộng lớn
Tiếp dẫn chúng hữu t́nh
Nguyện mọi loài chúng sinh
Đồ
ng văng sinh Cực-lạc
Nam mô Liên Tŕ Hải Hộ Phật Bồ Tát

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đoan nghiêm sanh tín
Tuyệt tướng siêu tôn
Đốn vong nhơn pháp giải chơn không
Bát nhă vị trùng trùng
Tứ cú dung thông
Phước đức thán vô cùng
Nam mô Bát nhă Hội thượng Phật Bồ Tát (3 lần). 

 

Đoan nghiêm ḷng tin kính

Tướng tốt xưng Thế Tôn

Ngă pháp thảy đều không

Trí bát nhă siêu việt

Bốn câu vẹn dung thông

Phước đức nói không cùng

Nam mô Bát Nhă Hội Thượng Phật Bồ Tát

 

 

 

 

 

Thập nhị dược xoa

Trợ Phật tuyên hoằng

Ngũ sắc thể lũ kết kỳ danh

Tùy nguyện tất viên thành

Oan nghiệp băng thanh

Phước thọ vĩnh khương ninh

Nam mô Dược Sư Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần)

 

Mười hai tướng Dược-xoa
Giúp Phật tuyên giáo pháp
Chỉ ngũ sắc gút tên
Mong cầu đều măn nguyện
Mọi oan nghiệp tiêu trừ
Hưởng phước thọ dài lâu
Nam mô Duọc Sư Hội Thượng Phật Bồ Tát

 

 

 

 

 

 

 

Trí huệ hoằng thâm đại biện tài,
Đoan cư ba thượng tuyệt trần ai.
Tường quang thước phá thiên sanh bệnh,
Cam lồ năng trừ vạn kiếp tai.
Túy liễu phất khai kim thế giới,
Hồng liên dơng xuất ngọc lâu dài.
Ngă kim khể thủ phần hương tán,
Nguyện hướng nhân gian ứng hiện lai.
Nam mô Đại bi Quan Thế Âm Bồ Tát (3 lần). 

 

Trí tuệ rộng sâu đại biện tài
Đứng trên sóng nước tuyệt trần ai
Ánh sáng an tường trừ bệnh khổ
Nước cam lồ rửa sạch nạn tai
Sau rặng liễu cơi vàng rộng mở
Trên hoa sen sừng sững lâu đài
Con cuối đầu dâng hương tán thán
Xin Ngài ứng hiện độ muôn loài
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát

 

 

 

 

 

Địa Tạng thập vương khỉ ai lân

Kết án tiêu danh nạp thiện duyên

Hương linh tu trượng Như Lai giáo

Nguyện bằng Phật lực văng Tây phương

Nam mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát (3 lần) 

 

Mười vua Địa Tạng khởi ḷng thương
Bày án nêu tên kẻ duyên lành
Hương linh nương tựa lời kinh giáo
Nhờ Phật tiếp độ về Tây-phương
Nam mô Siêu Lạc Độ Bố Tát

 

 

 

 

 

Lục niên khổ hạnh Thích Ca tôn,
Ca Diếp A Nan vạn lư chơn.
Trung thử giang sơn đăng bỉ ngạn,
Nhứt chi ngũ diệp lợi nhơn thiên.
Nam mô Độ nhơn sư Bồ Tát (3 lần). 

 

Phật Thích Ca khổ hạnh sáu năm
Ca Diếp, A Nan truyền vạn dặm
Non nước này lên đến bờ kia
Một cành năm lá lợi trời người
Nam mô Độ Nhân Sư Bồ Tát

 

 

 

 

 

Trầm nhũ chiên đàn giá mạt luân
Hương yên tài nhiệt phúng tường vân
Nhơn ôn biến triệt tam thiên giới
Vi thoại vi tường đạt Thế Tôn
Nam mô Hương cúng dường Bồ Tát (3 lần). 

 

Bột trầm hương vừa đốt

Khói xông áng mây lành

Tỏa ba ngàn thế giới

Cúng dường đức Thế Tôn

Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát

 

 

 

Phật thân thanh tịnh tợ lưu ly,

Phật diện do như măn nguyệt huy.

Phật tại thế gian thường cứu khổ,

Phật tâm vô xứ bất từ bi.

Nam mô Thập phương thường trú Tam bảo (3 lần). 

 

Thân Phật trong sạch như lưu li
Mặt Phật tṛn đầy như trăng rằm
Phật trải ḷng từ khắp nơi chốn
Cứu khổ muôn loài ở thế gian
Nam mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo

 

 

 

 

 

Giới hương, định hương dữ huệ hương,
Giải thoát giải thoát tri kiến hương.
Quang minh vân đài biến pháp giới,
Cúng dường thập phương vô thượng tôn.
Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát (3 lần). 

 

Hương giới, hương định, cùng hương tuệ
Hương giải thoát, hương biết giải thoát
Đài mây sáng tỏa cùng pháp giới
Cúng dường Chư Phật khắp mười phương
Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát

 

 

 

 

 

Phật diện do như tịnh măn nguyệt,
Diệc như thiên nhựt phóng quang minh.
Viên quang phổ chiếu ư thập phương,
Hỷ xả từ bi giai cụ túc.
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần). 

 

Mặt Phật như trăng rằm
Như ánh sáng mặt trời
Chiếu soi khắp mười phương
Đủ từ bi hỉ xả
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

 

 

Phật nhiếp kim liên hạ thứu phong,
Thiện Tài tham lễ giác thành đông.
Liên Hoa Tạng giới phi vô lộ,
Đâu Suất Đà thiên biệt hữu cung.
Nam mô Thập phương thường trú Tam bảo (3 lần).

 

Phật ngự ṭa sen vàng
Hạ giáng đỉnh Linh-sơn
Thiện Tài lễ tham vấn
Thế giới Liên-hoa-tạng
Đường rộng mở thênh thang
Nơi cơi trời Đâu-suất
Bồ-tát ngự cung riêng
Nam mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo

 

 

 

 

 

 

 

Khể thủ Tây phương an lạc quốc,
Tiếp dẫn chúng sanh đại đạo sư.
Ngă kim phát nguyện nguyện văng sanh,
Duy nguyện từ bi ai nhiếp thọ.
Nam mô Liên Tŕ hội thượng Phật Bồ Tát (3 lần). 

 

Cúi đầu đảnh lễ
Đấng Đại Đạo Sư
Ở nước Cực-lạc
Tiếp dẫn chúng sinh
Con nay phát nguyện
Nguyện được văng sinh
Xin đức Từ Bi
Xót thương tiếp độ
Nam mô Liên Tŕ Hội Thượng Phật Bồ Tát

  

 

 

 

 

 

 

 

 

Phật nhiếp kim liên hạ thứu phong,
Pháp khai bảo tạng ly long cung.
Tăng tùng nội uyển biệt thuyền định,
Tam bảo lâm đàn pháp hội đồng.
Nam mô Thập phương thường trú Tam bảo (3 lần). 

 

Phật ngự ṭa sen vàng
Hạ giáng đỉnh Linh-sơn
Kho báu Long-cung mở
Pháp bảo được tuyên dương
Tăng-già tâm thường định
Ḍng pháp vận nối truyền
Ba Ngôi Báu hiện tiền
Đạo tràng thường nghiêm tịnh
Nam mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo

 

 

 

 

Ngă kim phụng hiến cam lồ vị,
Lương đẳng Tu Di vô quá thượng.
Sắc hương mỹ vị biến hư không,
Duy nguyện từ bi ai nạp thọ.
Nam mô Thuyền Duyệt Tạng Bồ Tát (3 lần). 

 

Con xin dâng cúng vị cam lồ
Dù núi Tu-di cũng không hơn
Mùi thơm, vị ngon khắp hư không
Xin đức Từ Bi thương nạp thọ
Nam mô Thiền Duyệt Tạng Bồ Tát
 

 

 

 

 

Bồ Tát liễu đầu cam lồ thủy,
Năng linh nhất đích biến thập phương.
Tinh chuyên cấu uế tận quyên trừ,
Phổ sái pháp diên tất thanh tịnh.
Nam mô Cam lồ vương Bồ Tát (3 lần) 

 

Nước cam lồ đầu nhành dương liễu
Một giọt biến khắp cả mười phương
Bao nhiêu cấu uế đều rửa sạch
Đạo tràng đây thanh tịnh trang nghiêm
Nam mô Cam Lồ Vương Bồ Tát

 

 

Lục tự Di Đà vô biệt niệm,
Bất lao đàn chỉ đáo Tây phương. 

 

Chỉ sáu chữ Di Đà
Không có niệm nào khác
Không phí công lao nhọc
Sát na đến Tây-phương

 

 

 

 

 

Bạch ngọc giai tiền văn diệu pháp,
Huỳnh kim điện thượng lễ Như Lai.

 

Ngồi trước thềm ngọc trắng
Nghe giáo pháp nhiệm mầu
Trong bảo điện hoàng kim
Con đảnh lễ Như Lai

 

 

 

 

 

Sơn trung tợ hữu thiên niên thọ,
Thế thượng nan lưu bách tuế nhơn. 

 

Ở sâu trong rừng núi
Có cổ thụ ngàn năm
Trong đời sống thế nhân
Khó có người trăm tuổi

 

 

 

 

 

Thiên giang hữu thủy thiên giang nguyệt,
Vạn lư vô vân vạn lư thiên. 

 

Sông dài ngàn dặm trăng ngàn dặm
Không mây che tức hiện trời xanh
 

 

 

 

 

Mật trúc bất pḥng lưu thủy quá,
Sơn cao vô ngại bạch vân phi. 

 

Trúc kín không ngăn ḍng nước chảy
Núi cao mây trắng vẫn bay qua

 

 

 

 

 

Đông phương A Súc Phật,
Nam phương Bảo Tướng Phật,
Tây phương Di Đà Phật,
Bắc phương Thành Tựu Phật,
Trung phương Tỳ Lô Giá Na Phật. 

 

Đức Phật A Súc ở phương Đông
Đức Phật Bảo Tướng ở phương Nam
Đức Phật Di Đà ở phương Tây
Đức Phật Thành Tựu ở phương Bắc
Đức Phật T́ Lô Giá Na ở trung ương

 

 

 

 

Viễn quan sơn hữu sắc,
Cận thính thủy vô thanh.
Xuân khứ hoa thường tại,
Nhơn lai điểu bất kinh. 

 

Nh́n xa núi có màu
Nghe gần nước không tiếng
Xuân đi hoa c̣n đó
Người đến chim không sợ

 

 

 

Ái hà thiên xích lăng,
Khổ hải vạn trùng ba.
Dục thoát luân hồi khổ,
Tảo cấp niệm Di Đà. 

 

Sông ái dài ngàn dặm
Biển khổ sóng muôn trùng
Muốn thoát ṿng sinh tử
Hăy gấp niệm Di Đà

 

 

Dương Tử giang tâm thủy,
Mông Sơn đảnh thượng trà.
Hương linh tam ẩm liễu,
Tảo sanh pháp vương gia. 

 

Nước giữa sông Dương-tử
Pha trà đỉnh Mông-sơn
Hương linh uống ba tuần
Sinh vào nhà Pháp vương

 

 

 

 

 

Cẩn y tam thừa giáo,
Xướng tụng thất Như Lai.
Hương linh thừa Phật lực,
Thoát hóa bảo liên đài.  

 

Nương giáo pháp ba thừa
Xưng tụng bảy đức Phật
Hương linh nhờ Phật lực
Hóa sinh lên đài sen

 

 

 

 

 

 

Kiến văn như huyễn uế,
Tam giới nhược không hoa.
Văn phục ế căn trừ,
Trần tiêu giác viên tịnh. 

 

Thấy nghe như huyễn mộng
Ba cơi như không hoa
Điều phục tâm tan mộng
Sạch bụi trời trong xanh

 

 

 

 

 

Hoa Nghiêm bảo diễn,
Lâu các môn khai.
Chung tiến Triệu Châu trà,
Hương linh quy khứ lai.

 

Cơi Hoa-nghiêm hiển lộ
Cửa lâu đài rộng mở
Hết tuần trà Triệu-châu
Hương linh về cơi Phật

 

 

 

 

 

Sơ chước Tào Khê thủy,
Tam huỳnh Triệu Châu trà.
Nguyện tiềm hinh pháp vị,
Quy khứ pháp vương gia. 

 

Trước rót nước Tào-khê

Sau châm ba tuần trà

Xin thấm nhuần pháp vị

Trở về nhà Pháp vương

 

 

 

 

 

Hương tài nhiệt,

Lư phần bảo đỉnh trung,

Chiên đàn trầm dụ chơn kham cúng,

Hương yên liêu nhiễu liên hoa động,

Chư Phật Bồ Tát hạ thiên cung,

Thiên Thai sơn La Hán,

Lai thọ nhơn gian cúng.

Thiên Thai sơn La Hán,

Nạp thọ nhơn gian cúng.

Nam mô Hương cúng dường Bồ Tát (3 lần). 

 

Lư báu trầm hương xông ngát

Cúng dường Chư Phật mười phương

Khói hương quyện động sen vàng

Cúi xin từ bi nạp thọ

Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát

 

 

 

Quang minh chính đại
Cảm ứng đạo giao.
Thần tư minh phước nghiệp băng tiêu
Phật nhật vĩnh chiêu chiêu
Lợi ích phong nhiêu
Tán thán quả cao siêu
 

Ngay thẳng rơ ràng
Cảm ứng suốt thông
Thần thái sáng tươi
Phước tỏ nghiệp tiêu
Mặt trời trí tuệ hằng sáng rỡ
Lợi ích dồi dào quả cao siêu

 

 

 

 

 

 

Tứ hoằng phổ bị
Vạn đức công viên
Cao siêu Thập địa việt Tam hiền
Quả hải nghịch lưu
Tuyền bi nguyện di kiên
Tiếp vật lợi nhơn thiên 

 

Bốn nguyện lớn đầy đủ
Muôn công đức trang nghiêm
Vượt Ba-hiền lên Mười-địa
Ngược ḍng đời qua bể khổ
Tâm từ bi kiên cố
Làm lợi ích trời người

  

 

 

       

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐẢNH L CHÚC TÁN THÙ ÂN
(thời kinh khuya)

Thích Nguyên Tạng (sưu tầm)
Hạnh Cơ (dịch)

 

 

Khể thủ nhất thiết xuất thế gian
Tam giới tối tôn công đức hải
Trí giả năng thiêu phiền năo cấu
Chánh giác ngă kim quy mạng lễ.
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới, vi trần sát độ trung, quá hiện vị lai, nhứt thiết chư Phật.

Chư Phật chí tôn trong ba cơi
Trí tuệ diệt tận gốc vô minh
Công đức rộng sâu như biển cả
Chúng con đảnh lễ xin qui y
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới, quá hiện vị lai nhất thiết Chư Phật.

 

 

Khể thủ năng bạt sanh tử hiểm
Phổ kiệt ưu năo tham si hải
Phá bỉ trần lao tội nghiệp sơn
Ngă kim quy lễ diệu Pháp bảo.
Chí tâm đảnh lễ: Nam Mô tận hư không biến pháp giới, vi trần sát độ trung, quá hiện vị lai, nhứt thiết tôn Pháp. 

Pháp bảo vi diệu diệt phiền năo
Phá trừ tội chướng như núi cao
Đưa chúng sinh thoát biển sinh tử
Chúng con đảnh lễ xin qui y
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới, quá hiện vị lai nhất thiết Tôn Pháp.

 

Khể thủ nhất thiết Phật xưng tán
Bát chánh vạn hạnh tác trang nghiêm
Vô vi định huệ tiệm viên minh
Ngă kim quy mạng Thánh chúng bảo.
Chí tâm đảnh lễ: Nam Mô tận hư không biến pháp giới, vi trần sát độ trung, quá hiện vị lai, nhứt thiết Hiền Thánh Tăng.

Tăng bảo trang nghiêm Phật ngợi khen
Hành tŕ bát chánh ĺa vọng tưởng
Định tuệ viên minh, kiêm muôn hạnh
Chúng con đảnh lễ xin qui y
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới,quá hiện lai nhất thiết Hiền Thánh Tăng.

 

 

 

Thế Tôn sắc tướng như kim sơn
Diệc như thiên nhựt chiếu thế gian
Năng bạt nhứt thiết chư khổ năo
Ngă kim khể thủ đại Pháp vương.
Chí tâm đảnh lễ: Nam Mô Ta Bà Giáo chủ Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Thế Tôn sắc tướng như núi vàng
Lại như mặt trời chiếu thế gian
Nhổ sạch gốc rễ mọi khổ năo
Chúng con đảnh lễ đấng Pháp Vương
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta-bà Giáo Chủ Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

 

 

Chúng đức nghiêm thân phi số lượng
Quang minh biến chiếu quá thập phương
Tam thế Như Lai vô dữ đẳng
Hằng thí chúng sanh đại từ hàng.
Chí tâm đảnh lễ: Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. 

Vô lượng công đức trang nghiêm thân
Ánh sáng chiếu soi khắp mười phương
Chư Phật ba đời không thể sánh
Thuyền từ hằng cứu vớt chúng sinh
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây-phương Cực-lạc thế giới  Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật.

 

 

Đại sĩ cửu thành đẳng Chánh giác
Thành thục hữu t́nh cư Đâu Suất
Trú dạ thường chuyển bất thối luân
Long Hoa tam hội độ vô cực
Chí tâm đảnh lễ: Nam Mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật 

Bồ Tát chứng Đẳng-giác đă lâu
Ngự cung Đâu-suất độ hữu t́nh
Ngày đêm chuyển bánh xe bất thối
Hội Long-hoa độ chúng hằng sa
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Đương Lai Hạ Sinh Di Lặc Tôn Phật.

 

 

 

Tam thế Như Lai chi đạo sư,
Trí nguyện quảng đại nan tư ngh́,
Vô biên sát hải vi quốc độ,
Đương lai Phổ Kiến Thiện Thệ Tôn.
Nam mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha Tát. 


Thầy của chư Phật khắp ba đời,
Trí nguyện rộng lớn khó dùng lời,
Thế giới mười phương là quốc độ,
Sẽ thành Phổ Kiến Phật tương lai.
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha Tát.
 

 

 

Lục nha bạch tượng vi bảo ṭa,
Chư độ vạn hạnh tác tần thân,
Hoa Tạng thế giới xưng trưởng tử,
Thập phương sát độ hiện toàn thân.
Nam mô Đại Hạnh Phổ Hiền Nguyện Vương Bồ Tát Ma Ha Tát. 
 
Voi trắng sáu ngà làm bảo tọa,
Muôn hạnh giải thoát làm phân thân,
Thế giới Hoa-tạng xưng trưởng tử,
Ứng hiện độ sinh khắp mười phương.
Nam mô Đại Hạnh Phổ Hiền Nguyện Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
 

 

 

Phổ-đà-lạc-già thường nhập định 
Tùy duyên phó cảm mị bất châu 
Tầm thanh cứu khổ độ quần mê
Thị tắc danh vi Quán Tự Tại 
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát

Trong núi Phổ-đà thường nhập định
Tùy duyên cứu độ khắp hằng sa
Nghe tiếng kêu cầu liền ứng hiện
Sáng cả hồng danh Quán Thế Âm
Chí tâm đảnh lễ: Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát
   

Bảo quan đảnh Phật nhân đới quả
Quá khứ Chánh Minh thiên nhơn sư
Bi nguyện vận vi thiên thủ nhăn
Chiếu hộ quần sanh bất thất thời
Chí tâm đảnh lễ: Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát

 

Phật trên măo báu nhân mang quả

Là Phật Chánh Minh trong quá khứ

Bi nguyện dùng ngàn mắt ngàn tay

Tiếp độ quần sinh không chậm trễ

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát

 

 

Đảnh thượng bảo b́nh hiện Phật sự
Nhất mao khổng trung kiến thập phương
Cử túc chấn kinh chư quốc độ
Phổ nhiếp tịnh nhơn quy Lạc bang
Chí tâm đảnh lễ: Nam Mô Đại Hùng Đại Lực Đại Thế Chí Bồ Tát 

B́nh báu trên đầu hiện Phật sự
Trong một sợi lông thấy mười phương
Cất bước chấn động các quốc độ
Tiếp người tu Tịnh về Lạc-bang
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Đại Hùng Đại Lực Đại Thế Chí Bồ Tát

 

Bi nguyện sơ tùng cứu thân khởi
Phân thân biến độ thục nan lương
Địa ngục vị không bất thành Phật
Ngả kim khể thủ đại thệ vương.
Chí tâm đảnh lễ: Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát 

Bi nguyện khởi từ cứu mẫu thân
Phân thân độ khắp khó ai lường
Địa ngục chưa trống không thành Phật
Cúi đầu đảnh lễ Đại Nguyện Vương
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát

 

Đức tướng đoan nghiêm như kim tụ
Đầu đà khổ hạnh tự chung thân
Thân truyền Như Lai chánh pháp nhăn
Kê túc sơn trung đăi Từ Tôn.
Chí tâm đảnh lễ: Nam Mô Đại Đức Ma Ha Ca Diếp Tôn Giả 

Đức tướng đoan nghiêm sáng như vàng
Suốt một đời khổ hạnh đầu đà
Thế Tôn thân truyền chánh pháp nhăn
Trong núi Kê-túc đợi Từ Tôn
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ma Ha Ca Diếp tôn giả 
 

 

Đắc độ thân tiên thất vương tử
Lăng Nghiêm hội thượng chứng viên thông
Hoằng dương luật giáo Tỳ Ni Tạng
Phật pháp do tư trụ thế long.
Chí tâm đảnh lễ: Nam Mô Đại Đức Ưu Ba Li Tôn Giả

Được độ trước bảy vị vương tử
Pháp hội Lăng Nghiêm chứng viên thông
Chuyên hành tŕ hoằng dương Giới Luật
Khiến cho Phật pháp trụ ở đời
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ưu Ba Li Tôn Giả

 

Đa văn chúng trung xưng đệ nhất
Chứng đạo thân ly tứ oai nghi
Kiết tập Như Lai chánh pháp tạng
Vĩnh tác nhơn thiên độ thế sư.
Chí tâm đảnh lễ: Nam Mô Khải Giáo A Nan Đà Tôn Giả.

Nghe nhiều nhớ kĩ nhất tăng đoàn
Chứng đạo tự như bốn oai nghi
Kết tập Tạng Kinh không thiếu sót
Vĩnh viễn làm Thầy độ nhân thiên
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Khải Giáo A Nan Đà Tôn Giả
 

 

Ngă hối nhứt thiết quá
Khuyến trợ chúng đạo đức
Quy mạng lễ chư Phật
Linh đắc vô thượng huệ
Chí tâm đảnh lễ: Nam Mô Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Bao nhiêu lỗi lầm đều sám hối
Tán dương ủng hộ bậc cao đức
Qui mạng lễ mười phương chư Phật
Nguyện đạt được trí tuệ vô thượng
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát