1. THÂN THẾ
Ḥa thượng họ Đỗ, húy Châu Lân, sinh
năm Đinh Măo (1927), tại thôn Quan Quang, xă Nhơn Khánh,
huyện An Nhơn, tỉnh B́nh Định. Thân phụ là cụ
ông Đỗ Hoạch, thân mẫu là cụ bà Trần Thị
Tú. Gia đ́nh gồm có năm người con, hai trai, ba gái,
ḥa thượng Thích Đỗng Quán thứ ba, ngài thứ
tư.
Gia đ́nh ngài đời đời thuần tín
Tam bảo. Cha mất sớm, được mẹ chăm
lo dạy dỗ. Với bẩm tánh thông minh và hiếu học,
năm 11 tuổi ngài thi đậu bằng Yếu Lược,
việc này chưa từng xảy ra tại quê ngài, nên
đích thân Lư trưởng đến thăm và chúc mừng.
Đó là một vinh dự cho gia đ́nh và quê hương
ngài lúc bấy giờ.
2. XUẤT GIA HỌC ĐẠO
Vốn có sẵn hạt giống Bồ-đề,
túc duyên Phật pháp, năm 13 tuổi, ngài xuất gia với
đại sư Chơn Quang - vốn là chú ruột, tại
chùa Khánh Vân, thôn Văn Quang, xă Phước Quang, tỉnh B́nh
Định. Sau đó, ngài được Ḥa thượng
chùa Thiên Hưng đưa vào Phan Rang và trao cho ḥa thượng
Huyền Tân chùa Thiền Lâm làm đệ tử với pháp
danh Thị Khai, tự Hạnh Huệ, hiệu Đỗng
Minh, thuộc ḍng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42.
Năm Quư Mùi (1943), ngài thọ Sa-di giới tại
Đại giới đàn Thiên Đức - B́nh Định,
do Quốc sư Phước Huệ chứng minh.
Năm 19 tuổi (1946), Ḥa thượng được
Bổn sư cho thọ Đại giới tại Đại
giới đàn chùa Thiên B́nh - B́nh Định. Ngài Huệ Chiếu
chùa Thập Tháp làm Đàn đầu Ḥa thượng, với
tuổi 19 th́ chưa đủ tuổi theo Luật định
nhưng với thiên tư đĩnh đạc ngài
được Bổn sư đặc cách và Hội đồng
Thập sư hoan hỷ chấp thuận.
Sống trong cảnh nước mất nhà tan,
như bao thanh niên khác, ngài đă tham gia Hội Phật giáo cứu
quốc tỉnh Ninh Thuận với cương vị Chủ
tịch. Tuy lo việc nước nhưng ngài luôn giữ vững
sứ mệnh xuất gia học đạo của ḿnh.
Năm 23 tuổi (Canh Dần - 1950), ngài được
Bổn sư cho ra tu học tại Tăng học
đường Nha Trang, lúc ấy có danh xưng là Tăng học
hường
Năm 1954, ngài được Ban giám đốc
Tăng học đường cử vào Sài G̣n học các
nghề y tá, bào chế hóa chất… để bổ sung cho
y phương minh, công xảo minh… làm tư lương hành
đạo sau này.
Năm 1955, ngài xin ra Huế tham học với các
ngài Thích Đôn Hậu, Thích Thiện Siêu, Thích Trí Quang để
hoàn tất chương tŕnh Đại học Phật giáo.
Trong thời gian này, ngài lưu trú tại chùa Từ Quang.
3. THỜI HÓA ĐẠO
Năm Kỷ Sửu (1949), ngài được Ḥa
thượng Bổn sư cử giữ chức Thủ tọa
(trụ tŕ) chùa Thiền Lâm - Ninh Thuận.
Năm Canh Dần (1950), khi vào tu
học tại Tăng học đường Nha Trang, ngài
được Ban giám đốc và đại chúng đề
cử giữ chức Thủ chúng để điều
hành mọi sinh hoạt của chúng Tăng. V́ thế,
Tăng Ni và Phật tử lúc ấy đều gọi ngài
là “Thầy Thủ”.
Năm Đinh Dậu (1957), sau khi hoàn tất
chương tŕnh Đại học Phật giáo, từ Huế
trở về Nha Trang, ngài được Tổng hội Phật
giáo Trung phần lúc ấy phân công nghiên cứu, tổ chức
thành lập hăng vị trai Lá Bồ-đề để làm
kinh tế tự túc cho việc đào tạo Tăng tài. Sau
đó hăng này phát triển thêm hai chi nhánh, một tại Sài
G̣n, một tại Huế. Nguồn thu nhập tài chánh của
ba cơ sở kinh tế này đă giữ một vai tṛ quan
trọng trong việc đào tạo Tăng tài lúc bấy giờ.
Ngài đă đảm nhiệm chức vụ Giám đốc
cơ sở sản xuất này từ lúc thành lập cho
đến lúc chuyển thể.
Cũng trong năm này, Tăng học đường
Nha Trang và Phật học đường Báo Quốc - Huế
hợp lại thành Phật học viện Trung phần
đặt tại chùa Hải Đức - Nha Trang (thường
gọi là Phật học viện Hải Đức Nha
Trang), do ḥa thượng Thích Giác Nhiên làm Viện trưởng,
ḥa thượng Thích Trí Thủ làm Giám viện và ḥa thượng
Thích Thiện Siêu làm Giáo thọ trưởng, ngài được
mời giữ chức “Trưởng ban kinh tế tự
túc” và làm Giáo thọ giảng dạy thường xuyên tại
Viện và các Phật học viện phụ cận trong những
năm sau đó.
Năm Quư Măo (1963), ngài là thành viên
Ủy ban bảo vệ Phật giáo tại Nha Trang - Khánh
Ḥa, cùng với Tăng, Ni và Phật tử vận động
tranh đấu, chống lại chính sách kỳ thị và
đàn áp tôn giáo của chính quyền Ngô Đ́nh Diệm.
Năm Đinh Mùi (1967), Giáo hội Phật giáo Việt
Nam Thống nhất mời ngài giữ chức đại
diện miền Khuông Việt, gồm các tỉnh Cao nguyên
Trung phần.
Năm Mậu Thân (1968), ngài giữ chức Vụ
trưởng Phật học vụ thuộc Tổng vụ
Giáo dục Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất,
điều phối và chăm sóc các Phật học viện
toàn miền Nam lúc bấy giờ, cũng trong năm này Phật
học viện Hải Đức Nha Trang khai Đại giới
đàn lần thứ hai, ngài được cử làm Chánh
chủ khảo.
Năm Canh Tuất (1970), Phật học viện Hải
Đức - Nha Trang mở lớp chuyên khoa Phật học,
ngài được mời giữ chức Giám học, lo
đôn đốc việc tu học của Tăng Ni sinh.
Ngày 19 tháng 9 năm Quư Sửu (1973), ngài cùng với
Trưởng lăo ḥa thượng Thích Trí Thủ mở Đại
giới đàn Phước Huệ cho Tăng Ni từ Quảng
Trị trở vào Nam thọ giới - đây là giới
đàn lớn nhất. Hội đồng Thập sư
được cung thỉnh từ Trung vô
Năm Giáp Dần (1974), Viện Cao đẳng Phật
học Hải Đức - Nha Trang thành lập, do ḥa thượng
Thích Thiện Siêu làm Viện trưởng, ngài giữ chức
Phó viện trưởng điều hành, theo dơi chăm sóc mọi
sinh hoạt của Viện.
Từ ngày thành lập Phật học viện
đến Viện Cao đẳng, ngài và Ḥa thượng
Thích Trừng San là hai trợ lư đắc lực cho ḥa
thượng Giám viện Thích Trí Thủ.
Đầu năm Mậu Ngọ
(1978), ngài vào Sài G̣n dự tang lễ đức Phó Tăng thống
GHPGVNTN, trên đường về th́ ngài mắc nạn, rồi
bị giam giữ tại Nha Trang gần hai năm. Đây là
một khổ duyên giúp cho ngài tăng trưởng nhẫn
nhục Ba-la-mật… Trong thời gian này, ngài đă chú tâm tu
niệm và dịch thuộc ḷng bộ Tỳ-ni nhật dụng
thiết yếu (gồm 4 quyển) ra văn vần.
Năm Tân Dậu (1981), Giáo hội Phật giáo Việt
Năm 1982 và năm 1983, ngài an cư và dạy Luật
tại tu viện Quảng Hương Già-lam và Trường
cao cấp Phật học Vạn Hạnh. Và ngài được
mời làm Thành viên Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương
trong suốt 4 nhiệm kỳ.
Năm 1990, trường Cơ bản Phật học
tỉnh Khánh Ḥa thành lập, ngài được cung thỉnh
giữ chức Giáo thọ trưởng và giảng dạy
cho trường.
Năm 1991, Phân viện Nghiên cứu
Phật học Hà Nội mời ngài vào Hội đồng
phiên dịch Luật tạng Phật giáo Việt Nam.
Từ năm 1993 đến 2001,
ngài được cung thỉnh làm Tuyên luật sư cho các
Đại giới đàn Trí Thủ I (1993), II (1997) và III
(2001) tại chùa Long Sơn, Nha Trang - Khánh Ḥa.
Năm Ất Hợi (1995), được sự
tài trợ của ḥa thượng Thích Tịnh Hạnh ở
Đài Loan, ngài tổ chức một lớp đào tạo
phiên dịch cho Tăng, Ni. Sau đó, tiếp tục hướng
dẫn Tăng Ni, Cư sĩ dịch được nhiều
bộ kinh trong tạng Đại Chánh Tân Tu, đồng thời
ngài chứng nghĩa tất cả các bản dịch.
Năm Bính Tư (1996), ngài được cung thỉnh
làm Tuyên luật sư cho Đại giới đàn Thiện
Ḥa tại Đại Tùng Lâm tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Năm Đinh Sửu (1997), ngài được Giáo
hội Phật giáo Việt
Năm Tân Tỵ (2001), trong Đại hội nhiệm
kỳ III, Ban trị sự Tỉnh hội Phật giáo Khánh
Ḥa cung thỉnh ngài làm Chứng minh và cố vấn cho Tỉnh
hội, đồng thời thỉnh ngài làm cố vấn
cho Ban Tăng sự và Ban giáo dục Tăng Ni của Tỉnh
hội.
Năm Nhâm Ngọ (2002),
được sự hỗ trợ của các pháp hữu ở
hải ngoại, ngài vận động thành lập Ban phiên
dịch Pháp tạng Phật giáo Việt
Năm Quư Mùi (2003), Viện Nghiên cứu Phật học
Việt Nam mời ngài giữ chức Phó Viện trưởng.
4. PHIÊN DỊCH
LUẬT TẠNG
V́ bản hoài sách tấn Tăng, Ni
nghiêm tŕ giới luật, thể hiện đạo phong
Trưởng tử Như Lai, phụng sự đạo
pháp nên từ lâu ngài đă dụng công nghiên cứu Luật
tạng và từ năm 1978 đến nay, ngài đă phiên dịch
những bộ quảng luật thuộc hệ thống Luật
tạng thuộc Đại Chánh Tân Tu - Đại Tạng
Kinh như:
1. Tứ
phần luật (60 quyển) Hán dịch: Diêu Tần -
Phật-đà-da-xá và Trúc Phật Niệm, Đại Chánh
22n1428.
2. Di-sa-tắc
bộ ḥa hê ngũ phần luật (30 quyển) Hán dịch:
Lưu Tống - Phật-đà-thập cùng Trúc Đạo
Sinh, Đại Chánh 22n1421.
3. Căn
bản thuyết nhất thiết hữu bộ tỳ-nại-da
(50 quyển) Hán dịch: Đường - Nghĩa Tịnh,
Đại Chánh 23n1442.
4. Căn
bản thuyết nhất thiết hữu bộ Bí-sô-ni tỳ-nại-da
(20 quyển) Hán dịch: Đường - Nghĩa Tịnh,
Đại Chánh 23n1443.
Ngoài ra, ngài c̣n dịch các bộ:
- Trùng
trị tỳ-ni sự nghĩa tập yếu (19 quyển,
bản Biệt hành), Sa-môn Trí Húc biên soạn.
- Tỳ-kheo
giới bổn sớ nghĩa (02 quyển, bản Biệt
hành), Sa-môn Truyền Nghiêm tập thuật.
Và biên soạn:
- Bộ Luật tiểu (04 quyển) ra văn vần.
- Nghi
thức truyền giới.
5. VIÊN TỊCH
Cuộc đời ngài với nhiều sóng gió,
đến lúc già mới có phần nhẹ nhàng. Nhưng với
nếp sống nghiêm túc, khắc kỷ và tuổi già sức
yếu do bao gian nan thời niên thiếu, ngài lâm trọng bệnh.
Thân tuy bệnh nhưng tâm ngài luôn an nhiên tự tại, biết
ngày về với Phật không c̣n lâu, ngài đă sắp xếp
việc phiên dịch, việc sử dụng tịnh tài dùng
trị bệnh của ngài c̣n lại, duy tŕ và phát huy giới
luật khuyên thị giả cố gắng nối tiếp
công việc này. Có lần thị giả hỏi: “Ôn c̣n ǵ dặn
ḍ?”, ngài đáp: “Những ǵ cần làm tôi đă làm, có ǵ nữa
để dặn ḍ”, từ đó ngài nhiếp tâm niệm
Phật.
Ngày 11 tháng 5 Ất Dậu (17-6-2005), ngài yếu dần,
bảo thị giả đưa lên giường nằm.
Đến 18 giờ 35 phút, ngài an nhiên xả báo thân trong
tư thế cát tường.
Trụ thế 79 năm, 60 hạ lạp, cả cuộc
đời ngài là một bài học về thân giáo, ngài luôn thể
hiện lối sống của một bậc chân tu, thiểu
dục tri túc, giới đức tinh nghiêm, gắn liền
đời sống của ḿnh với sự nghiệp giáo dục
đào tạo Tăng tài. Mặc dù về già, ngài chuyên về
dịch thuật nhưng vẫn luôn hướng dẫn và
khích lệ đàn hậu bối dịch thuật là cũng
nhằm mục đích tu học.
Hôm nay, ngài không c̣n nữa, nhưng tấm
gương nghiêm tŕ giới luật, tinh tấn tu hành, tiếp
dẫn hậu lai măi măi chiếu tỏa sáng ngời, để
đàn hậu tấn noi theo. Chúng con xin nguyện cố gắng
hết sức ḿnh để nối tiếp tâm nguyện của
ngài trong việc hoàn thành kho Pháp Tạng Phật Giáo Việt
Nam.
Nam Mô Tự Lâm Tế Chánh Tông, Tứ Thập Nhị
Thế, Ninh Thuận Thiền Lâm Phó Pháp, Khánh Ḥa Long Sơn
Hóa Đạo, Huư Thượng Thị Hạ Khai, Tự Hạnh
Huệ, Hiệu Đỗng Minh Ḥa Thượng Giác Linh.
1 Từ lúc Ḥa thượng
cát tường viên tịch, tiểu sử của Hoà
thượng được tập thành viết lại có
nhiều nhầm lẫn. Nhân dịp kỷ niệm “Đệ
ngũ chu niên”, Ban phiên dịch Pháp tạng Phật giáo Việt
Nam – 19 tháng 2 Đinh Hợi (2007), Ban biên tập quyết
định sửa lại cho hoàn chỉnh, để
người sau tiện việc nghiên tầm, tra cứu.