Thành kính đảnh lễ Đức Thế
Tôn
Ngài là bậc ỨNG CÚNG
Đấng CHÁNH BIẾN TRI
TRÙNG TRỊ
TỲ-NI
SỰ
NGHĨA TẬP YẾU
QUYỂN THỨ BA
THỨ HAI: GIỚI TRỘM
Đây là tánh tội. Đại thừa đồng
chế.
Trường hợp được phép làm, như
trong Giới bổn của Bồ-tát đă nói đầy
đủ.
Hỏi: - Đại
thừa gặp trường hợp được phép
làm, th́ vấn đề sát sanh, ăn trộm, dâm
dục, nói láo, đối với giới Bồ-tát,
không những không trái phạm mà c̣n được nhiều
công đức, đối với giới Tỳ-kheo có
trái phạm không?
Đáp: - Xuất gia
đối với giới dâm th́ Đại thừa, Tiểu
thừa đều cấm; ba giới sát, trộm
và vọng th́ Đại thừa khai mở cho, Tiểu thừa
th́ ngăn cấm. Nếu quả thật v́ ḷng từ
bi, cứu vật th́ đối với giới Bồ-tát
tuy không trái phạm, nhưng đối với pháp của
Tỳ-kheo vẫn phải y luật kiết tội. Luận
rằng: Nơi thâm tâm của Bồ-tát c̣n muốn thay
thế cho tất cả chúng sanh, nhận lấy cái khổ
nơi địa ngục, đâu không thể nhận lấy
cái khổ do sự trị phạt của Tăng? Thảng
như tự xưng là Đại sĩ, mà không tuân hành
quy chế của Tăng th́ đă chẳng phải là Tỳ-kheo
mà cũng chẳng phải là Bồ-tát.
GIỚI BỔN:
Tỳ-kheo nào, nơi làng xóm, hoặc nơi rừng
vắng, lấy vật không cho với tâm trộm cắp;
tùy theo sự lấy vật không cho ấy mà vua hay Đại
thần của vua, hoặc bắt, hoặc giết, hoặc
trói, hoặc đuổi khỏi nước, hoặc khiển
trách: “Ngươi là kẻ trộm, ngươi là kẻ
ngu, ngươi là kẻ không biết ǵ.” Tỳ-kheo
ấy là kẻ Ba-la-di không được sống chung.
NGUYÊN DO
[1]
:
Đức Phật du hóa nơi thành La-duyệt,
trong núi Kỳ-xà-quật. Lúc bấy giờ, trong thành có
một vị Tỳ-kheo, con của người thợ
đồ sứ, tên là Đàn-ni-ca, cất một thảo
am nơi chỗ rừng vắng. Vị Tỳ-kheo ấy
đi vào trong thôn khất thực, trẻ nhỏ quơ củi
dỡ thảo am ấy đem về chụm. Sau đó, vị
Tỳ-kheo kia trộn đất làm thành một ngôi nhà bằng
đất, lấy củi và phân ḅ nung chín. Ngôi nhà
ấy sắc đỏ như lửa. Phật cấm không
cho làm nhà hoàn toàn bằng gạch màu sắc đỏ.
Nếu làm, phạm tội Đột-kiết-la. Đức
Phật ra lệnh cho các Tỳ-kheo đến đập
phá ngôi nhà ấy. Tỳ-kheo Đàn-ni-ca lại lừa dối
nói với người giữ cây gỗ của nước
Ma-kiệt-đà để lấy gỗ quư lưu trữ
của vua B́nh-sa. Đại thần tâu với vua, vua nghĩ:
Không nên v́ một ít tài vật mà dứt mạng sống
của người xuất gia, chỉ quở trách rồi
đuổi đi. Các quan th́ không bằng ḷng, cư
sĩ th́ cơ hiềm. Hàng Tỳ-kheo thiểu dục,
nhân đây bạch Phật, Phật quở trách rồi
kiết giới.
GIẢI THÍCH:
Tùy bất dữ thủ pháp (tùy theo pháp không cho
mà lấy), tức là tùy theo pháp tắc của nhà vua quy
định lấy vật không cho, xử trị như thế
nào. Pháp của nhà vua lúc bấy giờ là: Nếu lấy
năm tiền, hay lấy vật trị giá đủ
năm tiền th́ bị tội tử h́nh.
Luật Thập tụng nói:
Một đồng trị giá bằng một phần
mười sáu của đồng tiền.
Luật nhiếp nói:
Năm ma-sái, một ma-sái có 80 bối xỉ
[2]
.
TƯỚNG TRẠNG
CỦA TỘI
Lấy rời khỏi chỗ th́ phạm tội
Ba-la-di. Chuẩn bị để lấy mà chưa
được, phạm tội Thâu-lan-giá, lấy gần
năm tiền phạm Thâu-lan-giá, lấy không được
phạm Đột-kiết-la. Dạy người lấy,
dạy người t́m, đồng như trước.
Phương tiện dạy người t́m năm tiền
trở lên, nhưng người được dạy, lấy
vật khác, hay lấy chỗ khác, người lấy phạm
Ba-la-di, c̣n người dạy phạm Thâu-lan-giá. Nếu
người được dạy không có tâm trộm cắp
mà lấy được trên năm tiền th́ người
lấy không có tội, người dạy phạm
Ba-la-di. Nếu người được dạy với
tâm ăn trộm, lấy được năm tiền trở
lên th́ phạm Ba-la-di, c̣n người dạy không phạm
bổn tội.
Vật có chủ hay tưởng là có chủ,
không cho mà lấy năm
tiền trở lên, phạm Ba-la-di. Gần năm tiền
trở xuống, phạm Thâu-lan-giá. Nghi là có chủ, lấy
năm tiền trở lên th́ phạm Thâu-lan-giá. (Nếu
theo bộ Căn bản th́ cũng phạm tội
Ba-la-di). Gần năm tiền trở xuống phạm
Đột-kiết-la (dựa vào bộ Căn bản th́
cũng phạm Thâu-lan-giá). Không có chủ, tưởng là
có chủ và nghi là có chủ mà lấy năm tiền trở
lên th́ phạm Thâu-lan-giá, gần năm tiền trở
xuống phạm Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni phạm
Ba-la-di. Ba chúng nhỏ phạm Đột-kiết-la, diệt
tẫn. Trường hợp không phạm là: tưởng
là cho, tưởng của ḿnh, tưởng là phấn tảo
(vất bỏ), nghĩ rằng tạm lấy, ư tưởng
là của người thân hữu, và lúc đầu
chưa chế giới v.v.... th́ không phạm.
(Phần thứ ba
[3]
nói: Ư tưởng thân hậu ‘bạn thân’ có
bảy yếu tố để tạo thành người bạn thân
đem lại lợi ích và ḷng từ mẫn. Bảy
pháp là:
- Vật khó cho có thể
cho.
- Việc khó làm có thể
làm.
- Việc khó nhẫn có thể
nhẫn.
- Việc bí mật nói cho nhau.
- Không bươi móc nhau.
- Gặp khổ không bỏ
nhau.
- Nghèo nàn không khinh dể.)
Căn bản tạp
sự nói:
Phàm là người thân hữu,
là người có thể giao phó đời ḿnh cho họ.
Người ấy có 5 yếu tố:
- Có ḷng
thương yêu nhau.
- Càng gần
càng vừa ḷng.
- Tôn trọng
lẫn nhau
- Xa lâu nhớ
nhau.
- Bạn
dùng vật của ḿnh, ḷng sanh vui mừng.
Phần thứ tư
[4]
nói:
Với tâm trộm
cắp, v́ người, đem vật phải chịu thuế
của họ qua khỏi cửa ải quan thuế, trị
giá đủ năm tiền, phạm Ba-la-di. Nhiều Tỳ-kheo
bảo một người lấy vật của kẻ khác,
lấy được năm tiền, nhưng tất cả
mỗi người đều phạm tội Ba-la-di. (V́
dùng tâm trộm cắp lấy vật của người
đủ 5 tiền, ĺa khỏi chỗ cũ). Đối
với địa phương kia, vật được
trị giá là 5 tiền, nhưng đến địa
phương này trị giá dưới 5 tiền vẫn phạm
tội Ba-la-di. Đối với địa phương
kia vật được trị giá dưới 5 tiền,
nhưng đến địa phương này trị giá
trên 5 tiền, phạm Thâu-lan-giá. Biết người
đó với tâm trộm cắp, sai ḿnh lấy vật của
người, trước đó th́ chấp thuận, nhưng
sau ăn năn không thực hiện, th́ phạm Đột-kiết-la.
Muốn ăn trộm áo của người, nhưng nhầm
lấy áo của ḿnh, th́ phạm Thâu-lan-giá. Kẻ trộm
kia lấy vật, ḿnh cưỡng đoạt lấy vật
của kẻ trộm đó, phạm Ba-la-di. Lấy lần
trước, lấy lần sau khác nhau cộng lại
đủ 5 tiền, phạm Ba-la-di. Ăn trộm đất,
nước, trái cây, rau cải v.v... tính đủ 5 tiền,
hoặc ḿnh tự thọ dụng, hoặc khiến cho nó
bị tổn giảm, tất cả đều phạm
Ba-la-di.
Trường hợp, người
Đàn-việt có hai đứa bé
[5]
khôn ngoan dạn dĩ, một hôm, ngài Tất-lăng-già-bà-ta
đến, đứa bé liền đến ôm chân, chạy
quanh mừng giỡn. Sau đó, kẻ trộm bắt
đem đi, cha mẹ nó đến nơi Tôn giả
khóc kể, nghĩ rằng Tôn giả bắt con họ.
Tôn giả dùng Thiên nhăn thấy em bé trong thuyền của
bọn giặc. Tôn giả liền dùng thần thông bắt
đem về cho cha mẹ nó. Các Tỳ-kheo cơ hiềm
Tôn giả về vấn đề này. Phật hỏi
Tôn giả dùng tâm ǵ để bắt em bé. Tôn giả
trả lời: Dùng ḷng từ bi chứ không có tâm trộm
cắp. Phật dạy: Không phạm tội.
Luật Tăng kỳ
nói:
Trường hợp Tỳ-kheo
trên đường đi, bị bọn cướp
cướp đoạt, hoặc bọn cướp ít, Tỳ-kheo
nhiều, hoặc bọn giặc giấu vật vừa cướp
được đến chỗ khác. Vị Tỳ-kheo
này nếu chưa nghĩ là vật của ḿnh đă mất,
rồi đoạt lấy lại, th́ không tội. Nếu
đă nghĩ vật của ḿnh đă mất rồi
đoạt lấy lại, th́ thành bọn giặc, cướp
của bọn giặc. Lại nữa, hoặc bọn giặc
thuận đường đi, gần đến xóm
làng, sắp sửa đem vật ra chia, Tỳ-kheo theo xin
lại được th́ không tội. Hoặc dùng thế
lực khủng bố khiến cho giặc trả lại
cũng không tội. Hoặc báo cáo cho người chủ
tụ lạc, dùng phương tiện dụ dỗ, khiến
cho giặc trả lại, không tội. Nếu biết
làm như vậy họ sẽ giết, sẽ trói th́
không nên báo cáo. Trường hợp Tỳ-kheo làm vị
Ma-ma-đề (tức chủ chùa). Tháp (chùa) không có tài
sản, chúng Tăng có tài sản, bèn nghĩ rằng: Sở
dĩ trời, người cúng dường chúng Tăng
đều nhờ ơn của Phật, cúng dường
Phật tức là cúng dường chúng Tăng, bèn
đem của Tăng tu bổ Tháp. Vị Ma-ma-đề này
mắc tội Ba-la-di.
Trường hợp
Tháp có tài vật, chúng Tăng không có tài vật, bèn nghĩ
rằng: Cúng dường Tăng, Phật cũng có trong
đó, liền đem vật của Tháp cúng dường
cho Tăng. Vị Ma-ma-đề sử dụng như vậy
mắc tội Ba-la-di.
Trường hợp Tháp không
có tài vật, Tăng có tài vật, được
như pháp tạm mượn để dùng, nhưng cần
phải ghi chép phân minh rằng: “Khi nào mượn dùng,
khi nào sẽ trả lại”. Nếu Tăng không có tài
vật, Tháp có tài vật cũng như vậy. Khi giao nhận
để mượn dùng, phải tuyên đọc văn
kiện rơ ràng trước chúng, giao nhận phân minh. Nếu
không tuyên đọc văn kiện th́ phạm tội Việt
tỳ-ni.
Trường hợp hai Tỳ-kheo có chung tài vật
cần chia, một trong hai Tỳ-kheo đó có tâm trộm
cắp lấy hết về cho ḿnh, trừ phân nửa của
họ ra, c̣n phân nửa của vị kia, nếu đủ
5 tiền th́ phạm Ba-la-di. Nếu người kia đồng
ư cho lấy th́ không tội. Nếu cùng nhau hứa hẹn
được vật cùng chia, khi được vật
lại nói: Mỗi người đều có lộc
riêng, th́ phân nửa phần trong đó, đủ 5 tiền
phạm Ba-la-di. khi nghĩ như vậy nhưng vật c̣n
để nơi nhà thí chủ th́ phạm Thâu-lan-giá, biết
có thí chủ mà nghĩ như vậy, mắt tội Việt
tỳ-ni. Hai Tỳ-kheo phấn tảo
[6]
ước hẹn với nhau cũng vậy.
Tỳ-kheo coi ngó vật của
Tăng, cần biết có vật nên cho, có vật không
nên cho. Thế nào là nên cho? Vật có thể làm tổn
giảm, vật có lợi ích th́ nên cho. Sao gọi là tổn
giảm? Như có giặc đến chùa, đ̣i hỏi
thức ăn, thức uống nếu không cho th́ có thể
bị đốt chùa, cướp của, không cho sợ
bị tổn hại, nên tùy theo đó ít nhiều cần
phải cho. Tại sao gọi là có lợi ích? – Đối
với thợ nề, thợ đào đất, thợ vẽ
họa đồ và những người coi sóc công việc
sửa chữa pḥng ốc của Tăng th́ nên cho bữa
ăn trước, bữa ăn sau, dầu thoa ḿnh và nước
uống phi thời v.v... Nếu vua và các người có
thế lực lớn nên cho vật thực, thức
ăn, thức uống gọi là có ích th́ nên cho.
Có Tỳ-kheo y bát bị mất,
nếu chưa nghĩ rằng ḿnh đă mất, sau biết
chỗ, nên đến đó t́m cách lấy lại, nếu
đă nghĩ rằng ḿnh mất, sau biết chỗ,
đến t́m cách lấy lại mắc tội Việt tỳ-ni,
nếu trước đă nghĩ rằng: Sau đó nếu
biết chỗ sẽ đến t́m cách lấy lại,
sau đó t́m cách lấy lại được, như vậy
th́ không tội.
Có hai Tỳ-kheo hứa hẹn
nhau: Sẽ cùng nhau thọ kinh, sẽ cùng nhau tụng kinh,
sau đó không thọ kinh, không tụng kinh, mắc tội
Việt tỳ-ni.
Luật Căn bản nói:
Khởi tâm trộm cắp, chuẩn bị phương
tiện, mắc tội ác tác (tức Đột-kiết-la),
đụng đến vật đó phạm tội Tốt-thổ-la-để-dă
(tức Thâu-lan-giá), đem khỏi chỗ cũ, đủ
5 tiền, phạm Ba-la-thị-ca (Ba-la-di), không đủ 5
tiền, mắc thô tội (cũng là Thâu-lan-giá). Nếu
là vật thuộc về vật của súc sanh, chạm
đến vật đó, phạm ác tác, rời khỏi
chỗ, đủ 5 tiền, mắc thô tội, không đủ
5 tiền, mắc tội ác tác.
Luật nhiếp nói:
Người thợ săn, đuổi con vật
chạy vào chùa, dù bị thương hay không bị thương,
không trả con vật ấy lại cho thợ săn, không
phạm. Nếu con vật bị bắn, chạy vào chùa
chết liền, nên trả lại cho họ.
Nếu đồng tâm cùng với giặc, chỉ
nơi chỗ cho họ, sau đó nhận phần chia, tùy
theo số lượng nhận được mà mắc tội.
Hỏi: - Đây
cùng với dạy người lấy, có ǵ sai khác. Thảng
như không nhận phần, có phạm tội chăng?
Đáp: - Dạy người
v́ ḿnh lấy, khi vật ấy ĺa khỏi chỗ, liền
thành tội đối với ḿnh.
C̣n chỉ nơi chốn cho giặc, khi giặc cướp
được vật ấy, chưa chắc họ đă
cho ḿnh, cho nên phải tùy theo khi nhận phần mà kết
tội. Song tuy không nhận phần cũng mắc tội
(phương tiện Thâu-lan-giá).
Nếu sau sanh ḷng hối hận, đến nhà người
chủ có vật, báo cho họ giữ ǵn, đừng
để vật bị mất, dù bọn giặc kia lấy
được, đều mắc tội phương tiện;
sau tuy có nhận phần cũng mắc tội Tốt-thổ-la.
Cùng với giặc đồng đi, muốn làm việc
trộm cắp, nhưng nửa đường thối
lui, chỉ mắc tội ác tác.
Đồng tâm làm giặc, v́ giặc canh chừng,
khi chia vật, nhận phần th́ thành tội. V́ sợ
sệt nên làm bạn chứ không có tâm cùng họ trộm
cắp, tuy giặc lấy được nhưng Bí-sô
không phạm tội.
Nếu mang vật của ḿnh hoặc là vật của
người khác mà nói với thuế quan là tôi muốn
khỏi thuế th́ mắc tội Việt pháp. Dạy người
bị thâu thuế đi đường khác, mắc tội
ác tác. Nếu khởi ác tâm, chỉ họ đi
đường khác, mong được khỏi đóng
thuế, mắc tội Tốt-thổ-la. Nếu mang vật
của kẻ khác đi qua chỗ đóng thuế, không
có tâm thủ lợi th́ mắc thô tội. Chưa đến
chỗ đóng thuế, hoặc lấy phân nửa, hay lấy
toàn phần mà chưa qua khỏi, mắc tội Tốt-thổ-la.
Nếu qua khỏi chỗ đóng thuế, đủ số,
mắc bổn tội. Nếu mang vật của ḿnh,
đến chỗ đóng thuế, bảo kẻ khác vượt
qua, cũng mắc bổn tội. Thật là tài vật của
ḿnh, quyết tâm hiến tặng cha mẹ, anh v.v... báo với
người thâu thuế rằng: Đây không phải vật
của tôi, xin ông miễn thuế, hoặc nương trên
hư không mà đi qua, hoặc ngậm trong miệng, hay gói
trong áo, hoặc tránh đường mà đi, đều
mắc thô tội.
(Hỏi:
- Đây cũng đồng với
trường hợp v́ người vượt qua, tại sao không
phạm bổn tội?
Đáp: -
V́ người đem vật vượt
qua, lợi ắt về ḿnh, nên kiết bổn tội.
Nay quyết tâm
hiến dâng nên không có cái tội thủ lợi, chỉ
có cái lỗi trái phạm thuế, nên chỉ mắc thô
tội).
Nếu v́ cha mẹ hay việc Tam bảo, mang vật
qua chỗ quan thuế, nên v́ người thu thuế, nói
các pháp lành, khen ngợi Tam bảo, tŕnh bày ân đức
của cha mẹ, họ không đánh thuế th́ không phạm.
Nếu họ vẫn đ̣i th́ nên đưa.
Ăn trộm đại lược có 5 loại:
1) Đối diện
cuỡng lấy.
2) Chùng lén lấy.
3) Điều lộng
lấy.
4) Nhân họ gởi
mà lấy.
5) Cho rồi, đoạt
lấy lại.
Năm loại này đều thuộc về ăn
trộm.
Có người đem vật
đến cúng, biết rằng không có phần mà nói
trong đó có phần của tôi, mắc tội Tốt-thổ-la.
Nếu nhận phần ấy, chuẩn theo số lượng
nhận được mà thành tội. Không được
mời mà đến ăn, mắc tội ác tác.
V́ Bổn sư đến chỗ
khác nhận tài vật, không phạm. Nếu khi lấy phần
của người, phải báo cho người biết,
không nên không báo mà nhận phần của người
khác.
Nếu v́ người bệnh,
định đem tài vật đến giúp, nghe người
đó qua đời, vật ấy trở lại người
chủ. Nếu đem đến mà người ấy c̣n
sống, sau đó mới qua đời, th́ thành vật của
người chết.
Nếu giặc trộm của
người v́ bị khủng bố nên đem vật
ấy cho Bí-sô, không nên nhận. Nếu nghĩ rằng sẽ
trả lại cho chủ của vật th́ nhận không
phạm. Nếu biết đó là thủ lănh của giặc,
th́ tùy ư nên nhận. Nhận rồi cắt rọc, nhuộm
cho hoại sắc mới có thể chứa cất. Chủ
của vật đến đ̣i, nên trả lại.
Nếu móng ư muốn trộm
tài vật của người, sau khi xúc chạm vật
ấy, bèn đến chủ xin, họ thuận cho, khi nhận
được, th́ tính từ đó về trước,
mắc thô tội. Ban đầu mượn dùng, sau muốn
không trả, kể từ khi quyết định không trả,
bèn mắc bổn tội.
Nếu người khác gởi
vật, khi khởi tâm trộm cắp, mắc tội Tốt-thổ-la,
sau đó dời khỏi chỗ cũ, mắc bổn tội
(trộm). Nếu trước dời khỏi chỗ
cũ, sau khởi tâm lấy luôn, cũng mắc bổn tội.
Lừa gạt bắt con của người, mê hoặc
lấy vật của người, căn cứ theo số
lượng thành tội. Những ǵ thuộc về vật
của cờ bạc mà lấy, đều mắc tội
ác tác. Ư định muốn trộm lấy vật kia, mà
lầm lấy vật này đă trái với ư muốn nên
chỉ mắc thô tội.
Nếu bị mất vật, đă nghĩ là mất
rồi, tức là thuộc về của người khác,
cướp đoạt lại vật ấy, căn cứ
theo số lượng mà thành tội. Cho nên, không nên vội
nghĩ là đă mất rồi.
Nếu thấy giặc đến, la hét khiến
cho nó đi. Nếu bắt được giặc, không
nên đem nạp cho quan. Trước hết phải v́ họ
nói pháp, theo họ xin lại những vật họ đă
lấy, nếu họ không chịu cho th́ nên trả phân
nửa tiền hay là trả đủ số cho họ.
Người đóng cửa chùa có 5 việc cần
lưu ư: khóa trên, khóa dưới, hai khóa phụ và chốt
cửa phải cẩn thận. Nếu không đóng cửa,
giặc lẻn vào lấy đồ, dựa theo sự việc
đó mà trị giá bồi thường. Nếu sơ suất
một bộ phận th́ bồi hoàn một phần, nếu
sơ suất hết th́ bồi hoàn hết.
Nếu thí chủ có ḷng tốt muốn cúng dường
cho trú xứ này để tạo lập Tăng pḥng,
Bí-sô dùng ngân khoản ấy vào vấn đề vật
thực th́ nên tính theo giá hoàn trả lại cho đủ.
Nếu v́ người bệnh muốn chạy chữa
thuốc thang, nên hỏi người bệnh cần dùng
thuốc ǵ ở đâu, theo lời của bệnh nhân
mà chạy chữa.
Căn bản mục-đắc-ca nói:
Người chủ thấy khách đến,
trước hết nên hỏi họ, ở đây có ai
là bạn của ông không? Có cần dùng y bát không? Nếu
họ nói không cần mà c̣n đem đưa cho họ th́
phải bồi lại đúng như giá của vật
ấy. Nếu nói cần th́ có mất khỏi bồi thường.
Khách Tỳ-kheo đến nơi pḥng của Tỳ-kheo
khác, Nên hỏi người chủ, nếu có người
đến, cần dùng y bát, có cung cấp hay không; nếu
người chủ nói không cung cấp mà tự lấy
cung cấp th́ tính theo giá cả bồi hoàn. Nếu họ
nói cần cung cấp, th́ có mất, khỏi phải bồi
thường.
Người qua đường mượn áo
để thay, cho đến khi chưa thọ không nên
không đ̣i lại. Nếu cố ư không đ̣i lại
th́ phải bồi lại đúng giá.
Luật Ngũ phần
nói:
Người ta chưa đồng
ư mà vội nghĩ rằng họ đă đồng ư, lấy
y thực cho họ, phạm Đột-kiết-la.
Luật Thập tụng
nói:
Nếu vật bị nước
trôi đến Tỳ-kheo có tâm trộm cắp lấy,
khi lựa chọn để lấy, phạm Thâu-lan-giá. Nếu
nắm vật ấy lại không cho trôi, hoặc để
ch́m dưới đáy nước, hoặc lấy lên khỏi
nơi, trị giá 5 tiền trở lên th́ phạm Ba-la-di.
Nếu giúp lời
để đoạt đất đai của người,
đoạt được th́ phạm Ba-la-di, không đoạt
được phạm Thâu-lan-giá.
Trộm Xá-lợi của Phật,
phạm Thâu-lan-giá. Nếu lấy với tâm tôn kính thanh
tịnh th́ không có tội. Trộm kinh sách, tính theo giá
mà phạm. Trộm tư cụ cúng dường trong Chùa,
Tháp, Tinh xá, nếu có người bảo vệ, tính theo
giá mà phạm tội.
Lấy vật của người nơi Tây
câu-da-ny
[7]
tùy theo giá trị nơi đó mà phạm. Nơi Phất-vu-đăi
[8]
cũng như vậy. Lấy vật nơi Uất-đơn-việt
[9]
không phạm.
Đàn-việt thỉnh Tăng, chưa đến
phiên ḿnh, tự nói, tôi cần đi dự, phạm Ba-dật-đề.
Khi nhận được thức ăn, tùy theo đó
tính giá thành phạm tội.
Phá tổ chim, lấy tổ chim, đều phạm
Đột-kiết-la.
V́ ḷng lân mẫn giải phóng súc sanh của người
nuôi, phạm Đột-kiết-la. Đoạt vật của
thần tượng phạm Thâu-lan-giá. Phá hoại tất
cả vật săn bắt với tâm vui thích, phạm
Thâu-lan-giá, với tâm lân mẫn, phạm Đột-kiết-la.
Luật Thiện kiến nói:
Nếu nhận vật của người gởi,
người chủ vật đến lấy, mà nói rằng:
Tôi không nhận vật của ông gởi, phạm Đột-kiết-la;
khiến cho người chủ hồ nghi, phạm Thâu-lan-giá.
Người chủ nói: Thế là vật của tôi bị
mất rồi, phạm Ba-la-di.
Nếu kẻ trộm lấy vật, Tỳ-kheo
dùng tâm trộm, đoạt lấy vật ấy, vật
ấy ĺa khỏi thân kẻ trộm, nếu người
ấy mạnh, đoạt vật ấy lại mang
đi, Tỳ-kheo tuy không được vật vẫn phạm
Ba-la-di, v́ do tâm trộm, đoạt lấy vật và vật
đă ĺa khỏi chỗ cũ.
Nếu Đàn-việt
cúng dường cây ăn trái cho chúng Tăng mà đem dùng
vào việc y phục hay thuốc thang, chúng Tăng không nhận
được phần ăn ấy, hoặc dùng cây
ăn trái làm tứ sự để bố thí, Tỳ-kheo
dùng tâm trộm cắp nhận quá phần ăn của ḿnh,
tùy theo giá trị nhiều hay ít mà kết tội. Nếu
họ làm pḥng xá để bố thí, chúng Tăng
đem làm vật thực, phạm Thâu-lan-giá, nên trả
lại đúng giá trị. Nếu họ cúng y th́ nên
dùng cho vấn đề y, nếu gặp lúc đói kém,
chúng Tăng Yết-ma ḥa hợp dùng vào việc ăn uống,
không phạm. Dùng của thí may y làm pḥng xá, dùng của
thí làm pḥng xá để sắm vật thực cũng
như vậy. Trong chùa pḥng xá nhiều, hư nát, không
có người tu bổ, nên để lại những cái
tốt, bao nhiêu cái xấu hư được dỡ bán
mua vật thực, để bảo vệ trú xứ.
THỨ BA: SÁT SANH
Đây là tánh tội,
Đại thừa đồng cấm.
Thanh văn giết
súc sanh phạm Ba-dật-đề, Đại sĩ th́
phạm trọng. Thanh văn đối với cha mẹ,
A-la-hán thành tội nghịch. Đại sĩ đối
với hai thầy (Ḥa thượng, A-xà-lê) cũng thành
tội nghịch. Tội nghịch th́ không cho phép sám hối.
Trọng tội tuy cho phép sám hối, nhưng cốt yếu
là phải thấy được tướng hảo.
Hỏi: - Bậc Đại
sĩ giết súc sanh, Nghĩa sớ kết tội có hai
cách, tại sao nơi đây chỉ áp dụng một
cách? Hơn nữa hai thầy, ân đức với pháp
đồng nhau, tại sao Đại sĩ thành nghịch
mà Tỳ-kheo không gọi là nghịch?
Đáp: - Thọ giới Bồ-tát,
chắc chắn là có phát tâm Bồ-đề, tự ḿnh
hiểu rơ chúng sanh đồng có Phật tánh, từ bi
ái mẫn như thân ḿnh, như con ḿnh, đâu có thể
khinh thị súc sanh, lại giết hại, cho nên chỉ
áp dụng một trong hai cách mà thôi. Ân đối với
pháp hai thầy, thật không có sai khác, song Tỳ-kheo phạm
giới sát, đă thành biên tội, không có cách nào
được cho thọ giới lại; Bồ-tát phạm
giới sát, cần phải thấy được tướng
hảo, mới cho thọ giới lại. Nếu giết
hai thầy, chắc chắn trở ngại giới phẩm,
do đó gọi là nghịch vậy.
GIỚI BỔN:
Tỳ-kheo nào, cố ư tự tay ḿnh làm dứt
sanh mạng người, hoặc cầm dao đưa
người khác dứt, hoặc khen ngợi sự chết,
hoặc khích lệ cho chết, nói rằng: “Ôi, này bạn,
ích ǵ đời sống xấu xa đó. bạn nên chết
đi tốt hơn”. Hoặc với tâm ư như vậy,
tư duy như vậy, bằng mọi phương tiện,
khen ngợi sự chết, khích lệ cho chết. Người
kia nếu do thế mà chết, Tỳ-kheo ấy là kẻ
Ba-la-di, không được sống chung.
NGUYÊN DO
[10]
:
Đức Phật
du hóa nơi Tỳ-xá-ly, bên bờ sông Di hầu, trong giảng
đường, nói pháp quán bất tịnh, khen ngợi
pháp quán bất tịnh, khen ngợi người tư duy
pháp quán bất tịnh. Các Tỳ-kheo nghe rồi, tu tập
theo pháp quán bất tịnh, lo ngại, nhàm chán thân mạng,
t́m dao muốn tự sát.
Khi ấy, có Tỳ-kheo, tự là Vật-lực-già
Nan-đề, cầm con dao bén vào trong vườn Bà-cầu.
Có một Tỳ-kheo nói với Vật-lực rằng: “Đại
đức đoạn mạng tôi, tôi trả công bằng
y bát của tôi”. Vật-lực nhận lời và đoạn
mạng Tỳ-kheo ấy. Hành động xong, đến
nơi sông, rửa dao, ḷng sanh hối hận. Khi ấy,
Thiên ma đứng nơi sông, lại khen ngợi hành
động ấy. Hối tâm của Vật-lực liền
biến mất, lại vào trong vườn, giết các Tỳ-kheo,
cho đến 60 người. Thây chết bỏ bừa
băi trong vườn, cư sĩ kinh hoàng cơ hiềm.
Khi ấy, đức Phật thấy chúng bị
giảm thiểu, Ngài biết mà cố hỏi. Tôn giả
A-nan tŕnh bày đầy đủ mọi việc lên
đức Phật. Phật bèn họp chúng, nói pháp tam-muội
A-na-ban-na, rồi kiết giới này.
Luật Thiện kiến nói:
Đức Như Lai dùng Thiên nhăn thấy rơ xa xưa
có 500 người thợ săn, cùng nhau vào chỗ trống
vắng giết một bầy nai. Do hành động đó,
đọa vào ba đường ác, chịu các khổ
năo, trải qua nhiều kiếp mới ra khỏi. Nhờ
trước đó có chút phước lành, được
sanh trong nhân gian, xuất gia làm đạo. Quả báo chưa
hết nên trong nửa tháng lại cùng giết nhau, chư
Phật không thể cứu được. Trong 500 người
này, có những vị đă chứng các Thánh quả,
sanh tử có chừng mức, ngoài ra người phàm phu
th́ luân chuyển không ngằn mé, cho nên đức
Như Lai nói pháp quán bất tịnh cho họ nghe, khiến
ĺa ái dục, được sanh lên cơi trời, vốn
không phải dạy họ chết. Chỉ v́ biết trước
không thể dùng thần lực cứu hộ, cho nên sau
khi nói pháp quán bất tịnh, đức Như Lai vào tịnh
thất nửa tháng, và chỉ cho phép một vị thị
giả đem thức ăn đến mà thôi. Do vậy,
đừng để ai nói rằng: Đức Phật là
bậc Nhất thiết trí mà không thể chấm dứt
việc các đệ tử chém giết lẫn nhau. Bởi
v́ sau khi nói bài pháp này, đức Thế Tôn nhập
định, không một ai được phép đến.
Luận
Tát-bà-đa tỳ-bà-sa đặt vấn đề rằng:
Đức
Phật là bậc Nhất thiết trí, tại sao dạy
các Tỳ-kheo, khiến cho họ phải bị suy năo như
vậy? Nếu nói rằng Phật không biết, th́ không
thể gọi là bậc Nhất thiết trí được!
Đáp: - Đức
Phật b́nh đẳng dạy cho tất cả. Lúc bấy
giờ không phải chỉ có 60 người thọ pháp
quán bất tịnh. Giáo pháp của đức Phật dạy
không hề có sự thiên lệch, nhưng chỉ có người
lănh thọ, được lợi nhiều, ít có khác
nhau. Đức Phật thật thấu rơ, biết căn
nghiệp của chúng sanh, trước sau ắt phải dùng
nhân duyên pháp này, sau sẽ được đại lợi.
Sáu chục Tỳ-kheo kia, có mặt lúc Phật Ca-diếp,
thọ pháp quán bất tịnh, mà không thể chuyên tâm
tu hành, phần nhiều phạm các ác hạnh, mạng
chung đọa vào địa ngục. Nay Phật ra đời,
tội họ hết, được sanh trong nhân gian, sanh
vào nhà hạ tiện, xuất gia vào đạo, do duyên
trước kia, nên thọ pháp này. Sau khi mạng chung,
được sanh lên cơi trời. Từ cơi trời
giáng xuống, theo Phật nghe pháp thu hoạch được
đạo quả. Do nhân duyên như vậy nên biết
Phật không hề thiên lệch.
GIẢI THÍCH:
A-na-ban-na, Hoa dịch là khiển lai khiển khứ,
tức là 16 pháp môn đắc thắng. Bộ Pháp
giới thứ đệ Sơ Môn
[11]
nói
rằng:
1. Biết hơi thở
vào.
2. Biết hơi thở
ra.
3. Biết hơi thở
dài ngắn.
4. Biết hơi thở
khắp cả thân.
5. Trừ các thân
hành. Đều thuộc về Thân niệm xứ quán.
6. Thọ hỷ.
7. Thọ lạc.
8. Thọ các tâm
hành. Ba pháp này thuộc về Thọ niệm xứ quán.
9. Tâm tác hỷ.
10. Tâm tác nhiếp.
11. Tâm tác giải
thoát. Ba pháp này thuộc về Tâm niệm xứ quán.
12. Quán vô thường.
13. Quán xuất tán.
14. Quán ly dục.
15. Quán diệt.
16. Quán khí xả
(buông xả). Năm pháp này thuộc về Pháp niệm xứ
quán.
Hơn nữa, biết hơi thở vào, hơi thở
ra, chính là nương nơi hơi thở làm pháp môn,
được trụ nơi thô tế và định của
dục giới, th́ biết hơi thở dài, hơi thở
ngắn. Nhập vào Vị đáo địa (Vị đáo
định) th́ biết khắp cả thân. Được
Sơ thiền th́ trừ thân hành, thọ hỷ, thọ
lạc, thọ các tâm hành. Đắc Nhị thiền th́
tâm tác hỷ, tác nhiếp. Đắc Tam thiền th́ tâm
tác giải thoát. Đắc Tứ thiền th́ quán vô thường.
Đắc Không xứ th́ quán xuất tán. Đắc Thức
xứ th́ quán ly dục. Khi đắc Vô sở hữu
th́ có thể quán diệt. Khi đắc Phi hữu tưởng,
phi vô tưởng th́ quán khí xả. Đây cùng với căn
bản Tứ thiền, Tứ định h́nh như là
đồng, nhưng quán hạnh có khác. Người tu hành
nếu ở trong mỗi địa tu quán chiếu rơ th́
trong mỗi địa, điên đảo không khởi,
tâm không nhiễm trước. Tùy theo nhân duyên kia hội
đủ liền ở nơi đó phát chơn Vô lậu,
chứng Tam thừa đạo.
TƯỚNG
TRẠNG CỦA TỘI
Trong đây tự ḿnh giết, dạy người
giết, sai kẻ khác giết, khuyên giết, phương
tiện giết, tất cả đều phạm Ba-la-di tội.
Đối tượng không chết phạm Thâu-lan-giá.
Đối với tám bộ chúng, súc sanh, hiểu rơ tiếng
nói, biến h́nh, t́m cách giết, giết được
phạm Thâu-lan-giá, không chết phạm Đột-kiết-la.
Thật 1à người, tưởng là thật người,
giết, phạm Ba-la-di. Nghi là người, phạm Thâu-lan-giá
(Y theo luật Căn bản cũng phạm Ba-la-di). Người
mà tưởng không phải người, không phải người
mà tưởng là người, không
phải người, nghi, tưởng không phải
là người, tất cả đều phạm Thâu-lan-giá.
Tỳ-kheo-ni phạm Ba-la-di, ba chúng dưới phạm
Đột-kiết-la, diệt tẫn. Không phạm: Ngộ
sát, không có tâm sát hại, trước khi chưa chế
giới v.v...
Phần thứ tư
[12]
nói:
Dùng phương tiện làm đọa thai của
kẻ khác phạm Ba-la-di. Mẹ chết, con sống, mẹ
chết không phạm, chỉ mắc tội Thâu-lan-giá.
Số đông Tỳ-kheo sai một người dứt
mạng kẻ khác, tất cả Tỳ-kheo đều phạm
Ba-la-di. Phương tiện muốn tự sát Thâu-lan-giá.
Luật Tăng kỳ nói:
Khi dùng phương tiện muốn tự sát mắc
tội Thâu-lan-giá, nếu tự sát rồi th́ phạm tội
Ba-la-di. Dùng dao kê chỗ ái, phạm Thâu-lan-giá. Chỗ
ái là cách cốc đạo mỗi bên bốn ngón tay (cốc
đạo là hậu môn).
Bộ Căn bản ni-đà-na nói:
Không nên cắt cục trĩ (bệnh ḷi trê).
Luật Ngũ phần nói:
Sau khi vào thai mẹ đến ngày 49 gọi là tợ
nhơn, quá thời gian đó đều gọi là nhơn.
Hoặc nhơn hay tợ nhơn mà giết mạng ấy
đều phạm Ba-la-di.
Nếu viết thư khiến kẻ khác giết,
mỗi chữ phạm một Thâu-lan-giá. Thư ấy
đến nơi, người ấy do đó mà chết,
phạm Ba-la-di. Nếu dùng lời nói tương tợ,
dạy người kia giết người đó nhân
đây mà chết, phạm Ba-la-di.
Độc tưởng là độc phạm Đột-kiết-la.
Không độc tưởng là độc, độc
tưởng là không độc, đều phạm Thâu-lan-giá.
Khi khởi tâm giết hại phạm Đột-kiết-la.
Khi khởi phương tiện giết hại phạm Thâu-lan-giá,
đối tượng chết, phạm Ba-la-di.
Có hai Tỳ-kheo giận nhau, sau đó cùng đi một
đường, trên đường đánh nhau, một
người chết. Phật nói: Không có tâm sát th́ không
phạm. V́ giận trở lại đánh Tỳ-kheo phạm
Ba-dật-đề. Từ nay không cho phép giận nhau, chưa
có sự ăn năn tạ tội, cùng đi một
đường, nếu phạm, mắc tội Đột-kiết-la.
Muốn giết người kia, mà nhầm giết
người này th́ phạm Thâu-lan-giá.
Luật Thập tụng nói:
Nếu v́ giết người mà đào hầm,
làm cùm, làm cung, bủa lưới v.v... Người
ấy nhân đây mà chết phạm Ba-la-di. Nếu không
chết liền, sau đó nhân vậy mà chết, cũng
phạm Ba-la-di. Sau đó, không nhân đây mà chết, phạm
Thâu-lan-giá. Nếu v́ phi nhơn mà làm, phi nhơn chết
phạm Thâu-lan-giá, người chết, súc sanh chết
đều phạm Đột-kiết-la. (Nên
nói: Người, súc sanh chết, không có tội, vốn
không có tâm ác vậy, chỉ đối với bên phi nhơn,
nên mắc tội phuơng tiện). Nếu v́ súc sanh mà
làm, súc sanh chết phạm Ba-dật-đề, nhơn,
phi nhơn chết th́ phạm Đột-kiết-la
(cũng chỉ theo bên súc sanh, kiết tội phương
tiện). Nếu không nhất định v́
một loài nào làm, mà loài nào đến, cũng
đều bị chết, nếu người chết th́
phạm Ba-la-di, phi nhơn chết th́ phạm Thâu-lan-giá,
súc sanh chết th́ phạm Ba-dật-đề, tất cả
không chết th́ phạm một Thâu-lan-giá, và hai Đột-kiết-la.
Tự đoạn
âm phạm Thâu-lan-giá. Tự đoạn ngón tay phạm
Đột-kiết-la.
Giết người
biến hóa phạm Thâu-lan-giá. Có tâm sát, nhưng đánh
người không chết phạm Thâu-lan-giá. Chăm sóc bệnh
lâu ngày, sanh tâm nhàm chán, để tạo cho
bệnh nhơn chết, phạm Thâu-lan-giá. Xúi giục
đi đến nơi thức ăn có chất độc,
kẻ ăn bị chết, phạm Thâu-lan-giá. Phá mụt
nhọt chưa chín, cho người chết, phạm Thâu-lan-giá.
Phá mụt nhọt đă chín th́ không tội.
Luận
Tát-bà-đa tỳ-bà-sa nói:
Nếu dùng ảnh
hưởng lời nói của Tỳ-kheo, mà chinh phục
thống trị một nước khác để thu tài bảo
đều mắc hai tội Ba-la-di là sát và đạo.
Ma-đắc-lặc-già nói:
Muốn giết phàm nhơn, nhầm giết La-hán;
muốn giết La-hán nhầm giết phàm nhơn; muốn
giết cha, nhầm giết mẹ, muốn giết mẹ,
nhầm giết cha, đều phạm Thâu-lan-giá, không xếp
vào nghịch tội.
BIỆN MINH:
Hỏi: -
Thánh nhơn xuất thế, cha mẹ sanh thân này, tuy là
nhầm sát, nhưng đâu thoát khỏi báo khổ trong
ba đường, làm sao thoát khỏi sự cơ hiềm
của người đời. Tuy đối với giới
thân không hề ǵ, nhưng có thể an tâm tấn đạo
chăng?
Đáp: - Hai
giới sát và đạo, dựa vào tâm để luận
tội, chứ không dựa vào sự tướng, nay
đối với đối tượng muốn giết,
sự việc c̣n chưa toại nguyện, cho nên chỉ
kết tội phương tiện, giết nhầm chứ
không cố tâm để giết, nên không mắc tội.
Bốn duyên đă không hội đủ th́ giới thể
vẫn c̣n. Đến như đối với khổ báo
trong ba đường. Sự cơ hiềm của người
đời, tất cả đều thuộc về giá tội,
dĩ nhiên là có, đâu có thể dựa vào đó mà gọi
là mất giới được.
GIỚI
THỨ TƯ: ĐẠI VỌNG NGỮ
Đây là tánh tội, Đại thừa đồng
cấm.
GIỚI
BỔN:
Tỳ-kheo nào, thật sự không chứng ngộ,
mà tự ḿnh tuyên bố rằng: “Tôi đă chứng
đắc pháp của bậc Thượng nhơn; tôi
đă chứng nhập pháp thù thắng của Thánh trí.
Tôi biết như vậy. Tôi thấy như vậy”. Vị
ấy vào một lúc khác, bị người cật vấn,
hay không cật vấn, muốn cho ḿnh được
thanh tịnh, nói như vầy: “Tôi thật sự không
biết, không thấy, nhưng đă nói là có biết,
có thấy. Đó là lời nói hư dối”. Ngoại
trừ Tăng thượng mạn, Tỳ-kheo ấy là
Ba-la-di, không được sống chung.
NGUYÊN
DO
[13]
:
Đức Phật du hóa nơi thành Tỳ-xá-ly,
bên bờ sông Di hầu, bấy giờ gặp lúc mất
mùa, khất thực rất khó
khăn. Bên sông Bà-cầu, có các Tỳ-kheo đến
người Cư sĩ, tự nói ḿnh được pháp
của bậc Thượng nhơn v.v... Các Cư sĩ
tin ưa cúng dường nên không bị khổ sở về
vấn đề ăn uống. An cư xong các Tỳ-kheo
đến yết kiến đức Thế Tôn. Ngài hỏi
thăm và đề cập đến vấn đề
ấy, họ tŕnh bày đầy đủ. Đức Phật
nói: “Các ông là người ngu si. Có chứng quả thật
c̣n không nên đến người nói, huống là không
thật có. Ở đời có hai kẻ giặc: Một
là thật chẳng phải tịnh hạnh mà tự xưng
là tịnh hạnh. Hai là v́ bụng và miệng nên không
chơn thật, chẳng phải ḿnh có, mà ở trong
đại chúng, cố ư vọng ngữ nói ḿnh chứng
đặng pháp của bậc Thượng nhơn. Trong
hai kẻ giặc này, hạng người v́ bụng và
miệng là kẻ giặc đại tối thượng
(nguy hiểm tai họa nhất) v́ trộm nhận thức
ăn, thức uống của người”.
Câu “trừ Tăng thượng mạn”
trong luật Tăng kỳ nói:
Có hai vị Tỳ-kheo tu nơi A-luyện-nhă, một
trong hai vị, tạm thời thành tựu căn, lực,
giác, đạo, tham sân không phát khởi, nói với vị
Tỳ-kheo thứ hai rằng: “Trưởng lăo, tôi chứng
đắc A-la-hán”. Sau đó, đi đến trong xóm
làng, buông lung các căn, lơ là tu tập nói với
người bạn rằng: “Không chứng”. Người
bạn nói: “Trưởng lăo vọng xưng chứng
đắc pháp của bậc hơn người, phạm
tội Ba-la-di”. Vị Tỳ-kheo ấy nói: “Tôi không phải
biết mà dối nói, mà tôi tưởng là thật vậy”.
Do nhân duyên ấy bạch Phật, Phật bảo:
“Đây là Tăng thượng mạn. Tại
sao ở trong Chánh pháp, bỏ nhà, ra khỏi nhà, lại
khởi Tăng thượng mạn? Ông nên trừ Tăng
thượng mạn, có thể chứng được quả
A-la-hán”.
Lúc ấy, vị Tỳ-kheo đó quá xấu hổ,
liền tinh tấn phương tiện, tu tập chỉ
quán, trừ Tăng thượng mạn, đắc quả
A-la-hán.
BIỆN MINH:
Hỏi: -
Người Tăng thượng mạn chưa được
nói được, chưa chứng nói chứng, như
thiền thứ tư, Tỳ-kheo vô văn, tội cũng
nặng vậy. Tại sao không kiết tội?
Đáp: - Trừ
Tăng thượng mạn, nghĩa là người đó
không rơ pháp tướng, cảm nhận lầm đặng
một ít nhẹ nhàng, tự gọi là cứu cánh, đó
là đúng như ḷng mà nói, nên không kết tội vọng
ngữ (tâm khẩu nhất như). Bởi lẽ sau tỉnh
biết, ăn năn tội lỗi, tinh cần tu
tập, c̣n có thể vào đạo. Nếu bướng
bỉnh cố ư tự phụ, không hề cải hối,
mới bị cái lỗi vô văn. Không phải như hạng
người đại vọng ngữ, tức th́ mất
giới, quyết định trầm luân.
GIẢI
THÍCH:
Nhân pháp tức là nhân ấm, nhân giới, nhân nhập.
Thượng nhân pháp, tức là các pháp có khả năng
thành tựu, yếu tố xuất ly sanh tử. Tự
ngôn, tức là chính nơi ḿnh. Cho đến có đắc,
có quả. Thánh trí tức là pháp trí, tỷ trí v.v... Kiến,
tức là kiến khổ, kiến tập... Cho đến
tùy theo nghiệp báo của chúng sanh, biết đúng như
sự thật vậy.
TƯỚNG TRẠNG CỦA TỘI
Hư dối không thật, chính ḿnh đến
người nói, hoặc sai người nói, hoặc viết
thư, hoặc ra dấu người kia biết, phạm
Ba-la-di, không biết, phạm Thâu-lan-giá.
Yên tịnh, khởi tưởng không yên tịnh;
không yên tịnh khởi tưởng yên tịnh, miệng
ḿnh nói
[14]
,
phạm Thâu-lan-giá. Đến quỷ, súc sanh v.v... nói, nếu
nó biết, phạm Thâu-lan-giá, không biết, phạm
Đột-kiết-la. Người, khởi tưởng là
người... Sáu câu, chuẩn theo đó mà biết
[15]
(theo bộ Căn bản th́ có hai nặng bốn nhẹ).
Tỳ-kheo-ni phạm Ba-la-di. Ba chúng dưới, phạm
Đột-kiết-la, diệt tẫn.
Không phạm là đến người nói: Căn,
lực, giác, ư, giải thoát, tam-muội chánh thọ các
pháp, không nói ḿnh chứng được, cho đến
nói một ḿnh, nói trong mộng, nói nhầm, trước
khi chưa chế giới v.v...
Luật Ngũ phần nói:
Thà nuốt ḥn đá đốt nóng, uống nước
đồng sôi, chứ không dùng lời nói hư vọng
mà ăn đồ ăn của tín thí.
Trong thế gian có 5 hạng đại tặc:
1)
Hạng người làm chủ trăm người, ngàn
người, phá thành, phá làng xóm, hại người lấy
của.
2)
Hạng ác Tỳ-kheo, dẫn các Tỳ-kheo du hành trong nhơn
gian, nói pháp tà mạng.
3)
Hạng ác Tỳ-kheo, đối với pháp do đức
Phật nói; mà xưng là do ḿnh nói.
4)
Hạng ác Tỳ-kheo, không tu phạm hạnh, tự nói
là tôi tu phạm hạnh.
5)
Hạng ác Tỳ-kheo v́ lợi dưỡng, không hề
có pháp hơn người mà tự xưng là chứng
đắc pháp ấy.
Hạng giặc thứ 5 đây là hạng đại
tặc lớn nhất của tất cả thế gian,
nhơn, thiên, ma, phạm, Sa-môn, Bà-la-môn.
Luật ấy lại nói: V́ lợi dưỡng,
nhiều cách khen ngợi giới, định, tuệ, giải
thoát, giải thoát tri kiến của
kẻ khác thành tựu, với ư đồ làm đẹp
cho chính ḿnh, phạm Thâu-lan-giá. V́ lợi dưỡng,
đi, đứng, nằm, ngồi, nói năng an tường,
tỏ ra rằng ḿnh có tướng mạo đă chứng
được đạo, muốn cho người khác biết,
phạm Thâu-lan-giá.
Luật Thập tụng nói:
Nếu nói tôi là A-la-hán, cho đến chứng
được niệm A-na-ban-na mà không thật, phạm
Ba-la-di. Nếu nói tôi khéo tŕ giới, dâm dục không khởi,
mà không thật, phạm Thâu-lan-giá. Nếu nói trời
đến, cho đến quỷ La-sát đến, cùng
nhau vấn đáp, mà không thật, phạm Ba-la-di. Nếu
nói gió lốc, thổ quỷ
[16]
đi đến chỗ tôi, mà không thật, phạm
Thâu-lan-giá.
Có người hỏi Tỳ-kheo rằng: Ngài là bậc
A-la-hán phải không? Nếu nín thinh, phạm Thâu-lan-giá.
Trường hợp đó nên nói: Tôi không phải là
A-la-hán.
Tát-bà-đa tỳ-bà-sa nói:
Không có thọ tŕ đọc tụng mà nói là
tôi có thọ tŕ đọc tụng, đều phạm
Thâu-lan-giá.
Ma-đắc-lặc-già nói:
Nếu nói tôi không đọa tam đồ, phạm
Thâu-lan-giá. Nói tôi đă ĺa kiết sử phiền năo
phạm Ba-la-di. Đến người điếc, người
câm, người điếc và câm hay là người nhập
định mà nói, phạm Thâu-lan-giá.
Nếu hỏi: “Đắc quả không?” Trả
lời: “Đắc quả” mà chỉ trái (quả) hiện
ở trong tay, phạm Thâu-lan-giá.
Luật Thiện kiến nói:
Nếu có Tỳ-kheo ở A-luyện-nhă, lập
quy chế: “Ai ngồi nơi gốc cây này, ai kinh hành nơi
chỗ này, th́ đắc quả A-la-hán, chúng ta nên dùng
hương hoa cúng dường”. Có kẻ ác Tỳ-kheo
muốn được sự cúng dường này, đến
ngồi và đi nơi đó, phạm Ba-la-di.
Nếu có kẻ bạch y cất chùa và nói: “Ai
vào trong chùa này là A-la-hán”. Có kẻ ác Tỳ-kheo vào
trong chùa này, phạm Ba-la-di.
Nếu chúng Tăng lập quy chế: trong ba tháng
hạ chớ nói với nhau, chớ ngủ nghỉ, chớ
nhận đồ cúng dường của Đàn-việt.
Như vậy là phi pháp chế, không tuân theo, không phạm.
BIỆN
MINH:
Hỏi: -
Trong kinh có pháp tu: Nhất hạnh tam-muội, chỉ ngồi
không nằm. Thường hành tam-muội, không ngồi,
không nằm. Lại nữa, trong pháp chế của pháp
sám hối, chuyên chú không nói tạp, kể cả việc
giao tiếp hỏi han. Tiên Đức cũng có vị trọn
đời không ra khỏi núi, cùng với luật Thiện
kiến trái nhau, làm thế nào hội thông được?
Đáp: -
Y theo Đại thừa giáo, như pháp tấn tu, chắc
chắn không gọi là phạm luật. Ngoài luật nghi
của đức Phật cộng thêm sự tinh tấn,
nay tách rời ra th́ gọi là phi pháp. Dựa vào nghĩa
để hội thông th́ thật không trái phạm. Nay tế
nhị để giải thích, nhất hạnh tam-muội
v.v... đều tự ḿnh thệ tinh tấn tu hành, không
bị lệ thuộc vào điều ước trong
Tăng. Pháp sám hối tuy ngăn cấm nói tạp, nhưng
cũng chẳng phải thọ hành pháp câm (á pháp). Độc
cư nhàn tịnh, suốt đời dứt sạch mọi
tiếp xúc với người đời; đó là
điều cao đẹp, là điều rất cần,
đại chúng không thể cùng nhau phụng hành sao?
CHỨNG
MINH:
Kinh Đại bát-niết-bàn
nói:
Tất cả chúng sanh tuy có
tánh Phật, nhưng cần phải giữ giới, vậy
sau mới thấy. Nhân thấy tánh Phật th́ thành quả
vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nếu
có người nói: Phật nói tất cả chúng sanh
đều có tánh Phật, v́ phiền năo che lấp,
không biết không thấy; Bởi vậy cho nên cần phải
siêng tu phương tiện, đoạn sạch phiền
năo. Người nào nói vậy nên biết họ không phạm
tứ trọng.
Nếu
có người nói: Tôi đă thành tựu quả vị
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tại sao vậy?
Do có Phật tánh vậy. Có tánh Phật, quyết định
sẽ thành quả vị Vô thuợng Chánh đẳng Chánh
giác. Do nhân duyên ấy nên biết tôi nay đă thành tựu
quả vị Bồ-đề. Nên biết người nói
như vậy tức là phạm tội Ba-la-di. Tại sao
vậy? Tuy có tánh Phật, do chưa tu tập các thiện
phương tiện cho nên chưa thấy. Do chưa thấy,
nên không thể nói thành tựu quả vị Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác.
C. HỎI
ĐỂ KẾT THÚC
Các Đại đức, tôi đă tụng xong bốn
pháp Ba-la-di, Tỳ-kheo nào phạm bất cứ một
pháp nào không c̣n được sống chung với các Tỳ-kheo.
cũng như trước kia, sau khi phạm cũng vậy.
Tỳ-kheo ấy là kẻ Ba-la-di, không được sống
chung.
Nay hỏi, các Đại đức trong đây
có thanh tịnh không? (3 lần). Các Đại đức
trong đây thanh tịnh v́ im lặng. Việc ấy tôi
ghi nhận như vậy.
GIẢI
THÍCH:
Luật nhiếp nói:
Trước kia là người thế tục, không
được dự phần vào nếp sống của Tỳ-kheo;
sau khi phạm giới rồi, cùng với người thế
tục trước kia, bản thể không khác, cho nên
nói rằng: Như trước kia, sau khi phạm cũng vậy.
CHỨNG
MINH:
Phần
thứ tư
[17]
nói:
Người
chết có 5 điều bất hảo:
1)
Không sạch.
2)
Hôi thối.
3)
Có sự sợ sệt nhờm gớm.
4) Khiến cho người
sanh sợ sệt nhờm gớm, ác quỷ lại ưa
thích.
5)
Bị để chỗ ở của ác thú, phi nhơn.
Người phạm giới
cũng như vậy:
1)
Thân khẩu ư nghiệp bất tịnh.
2) Tiếng xấu
đồn khắp nơi.
3)
Các Tỳ-kheo tốt sợ, tránh xa.
4) Các thiện Tỳ-kheo
thấy sanh ác tâm và nghĩ: Tại sao ta lại thấy
kẻ ác như thế này?
5)
Cùng với người bất thiện chung ở.
Phá giới có 5 điều lỗi
lầm và nguy hại:
1) Tự
ḿnh hại ḿnh.
2) Bị
người trí chê trách.
3) Tiếng
xấu đồn khắp.
4) Khi lâm
chung sanh hối hận.
5) Lúc chết
đọa vào địa ngục.
Lại có
5 việc nữa:
1) Vật
chưa được th́ không được.
2) Vật
đă được th́ không bảo vệ được.
3) Ở
trong chúng bị hổ thẹn.
4) Tiếng
ác rao khắp trong xứ.
5) Chết
đọa vào đường ác.
Có 5 pháp gọi là đại
tặc, tạo đại tội suốt đời
nhưng không hề bị hệ phược. 5 pháp ấy
là:
1) Chỗ ở không
nhất định, có bạn ưa thích.
2) Nhiều đao
trượng.
3) Giàu có nhiều
tài bảo, nếu bị bắt lo lót liền.
4) Bạn bè là
những người có quyền thế lớn như vua
hay đại thần, nếu bị bắt th́ được
bảo hộ.
5)
Làm giặc ở phương xa rồi trở về.
Tỳ-kheo phá giới cũng
có 5 pháp tạo nhiều tội lỗi, nhưng không bị
người cử tội sớm v́:
1) Chỗ ở không nhất định, có nhiều
bè đảng.
2) Học nhiều, có khả
năng ghi nhớ, nói lúc nào cũng hay, có văn, có nghĩa.
Luôn luôn tịnh hạnh, nhưng không thể tư duy với
tâm lành để thâm nhập Chánh kiến.
3) Thường được
tứ sự cúng dường, khi bị cử tội th́
lo lót.
4) Có thân hậu (bạn) là cấp
bậc lớn, hoặc Thượng tọa hay thứ tọa,
bị cử tội được họ bảo hộ.
5) Ở chỗ đồng trống,
tới lui nhà giàu, t́m cầu lợi dưỡng.
Đấy là 5 pháp đồng với kẻ đại
tặc kia.
Luật Thiện kiến nói:
Đă làm tất cả các việc ác th́ không ai
không biết. Khi mới làm th́ thần hộ thân thấy
biết, kế đó Thiên, nhơn có trí tha tâm biết;
hạng người như vậy trời thần đều
thấy biết. Cho nên quả quyết rằng: Lần lượt
tiếp nối nhau, truyền đến cơi Phạm thiên,
an trí nơi cơi Vô sắc, mọi người đều
biết hết.
Tát-bà-đa tỳ-bà-sa nói:
Ban đầu phạm một giới, đă hủy
phá cái đồ đựng đạo (Đạo khí),
gọi là Ba-la-di. Sau đó giết người, mắc tội
Đột-kiết-la. Thật sự là tội nặng, nhưng
không gọi là Ba-la-di, v́ không c̣n cái đồ đựng
đạo để phá vậy.
Kinh Ưu-bà-tắc ngũ giới tướng nói:
Phật bảo Tỳ-kheo: Như Lai có hai thân: Sanh
thân, Giới thân.
Nếu Thiện nam tử v́ Sanh thân của Ta, xây
Tháp bằng bảy báu, cao đến cơi trời Phạm
thiên. Nếu có người làm sứt mẻ th́ tội
đó c̣n có thể ăn năn được, nhưng
nếu làm sứt mẻ Giới thân của Ta th́ tội
đó vô lượng.
Phần thứ nhất nói về bốn pháp khí đă xong.
II.
MƯỜI BA PHÁP TĂNG TÀN
Cũng chia làm ba: Nêu chung, kê riêng giới tướng,
hỏi để kết thúc.
A.
NÊU CHUNG:
Thưa các Đại đức, đây là mười
ba pháp Tăng-già-bà-thi-sa, xuất từ Giới kinh, nửa
tháng tụng một lần.
GIẢI
THÍCH:
Luật Thập tụng nói:
Tăng-già-bà-thi-sa là tội thuộc về Tăng,
chỉ có Tăng mới cứu được. Trước
chúng Tăng ăn năn tội lỗi th́ tội mới
tiêu trừ, nên gọi là Tăng-già-bà-thi-sa.
Luật Căn bản nói:
Chữ Tăng-già ở đây có nghĩa là người
phạm tội này phải nương theo Tăng-già
để hành pháp sám, và y nơi Tăng-già mà xuất tội.
Chữ Bà-thi-sa có nghĩa là c̣n hy vọng cứu
được. Nếu phạm một trong bốn trọng
giới th́ không thể cứu được, không
được sống chung. C̣n 13 pháp này, nếu phạm,
c̣n có thể cứu sống được, cho nên gọi
là Tăng tàn.
Luật nhiếp nói:
Do vâng theo lời dạy của chúng nên tội
có thể trừ diệt.
Kinh Tỳ-ni mẫu nói:
Như người bị kẻ khác chặt yết
hầu chưa đứt, gọi là tàn (c̣n sống sót).
Như hai người cùng vào trận chiến, một người
bị giết chết liền, người thứ hai bị
người giết nhưng mạng sống c̣n thoi thóp
chưa chết hẳn. Nếu gặp được thầy
hay thuốc tốt có thể chữa lành. Nếu không có
thầy hay thuốc tốt th́ không thể chữa
được. Người phạm Tăng tàn cũng
như vậy. Đứng về lư th́ có thể sám hối
được, nếu có chúng Tăng thanh tịnh hướng
dẫn đúng như pháp để sám hối trừ tội
th́ tội này có thể trừ. Nếu không có đại
chúng thanh tịnh th́ không thể trừ tội được,
nên gọi là Tăng tàn.
B.
LIỆT KÊ 13 GIỚI TƯỚNG
Từ giới thứ nhất “Lộng âm xuất tinh” cho đến giới thứ 13 “không bỏ ác kiến”.
1.
GIỚI CỐ Ư LÀM XUẤT TINH
Đại thừa
đồng cấm.
Kinh Phạm vơng nói:
Thà lấy búa bén chặt phá
thân này chứ suốt đời không dùng tâm phá giới
tham đắm ưa đụng chạm để tạo
tội.
Kinh Bồ-tát giới
bổn nói:
Khởi tâm ngũ cái, không mở
bày sự hiểu biết, gọi là phạm nhiều
điều tội lỗi, tức là khởi tâm nhiễm
ô, phạm tội vậy.
GIỚI
BỔN:
Tỳ-kheo nào, cố ư làm xuất tinh, trừ
chiêm bao, Tăng-già-bà-thi-sa.
NGUYÊN
DO
[18]
:
Ông Ca-lưu-đà-di ư muốn
về dâm dục hừng hẫy, nhan sắc tiều tụy,
thân thể ốm gầy. Thời gian khác, theo ư niệm
nhớ tưởng, lộng âm cho xuất tinh, các căn
tươi vui, nhan sắc sáng sủa. Tỳ-kheo quen thân hỏi
biết việc này, bạch Phật, kiết giới.
Khi ấy, có một Tỳ-kheo,
ngủ nghỉ ư loạn, trong mộng xuất tinh, nghi là
phạm giới này. Phật dạy: Không phạm.
Song khi ngủ loạn ư có 5
điều lỗi:
- Ác mộng.
-
- Tâm không vào
trong pháp.
- Không tư duy
tướng của ánh sáng.
- Trong mộng bị
xuất tinh.
Ngủ nghỉ với ư nghĩ tốt, có năm
công đức ngược lại với 5 điều trên.
TƯỚNG TRẠNG
CỦA TỘI
Lộng âm mà tinh xuất th́ phạm Tăng tàn,
tinh không xuất phạm Thâu-lan-giá.
Dạy Tỳ-kheo khác lộng âm mà tinh xuất, phạm
Thâu-lan-giá, không xuất tinh phạm Đột-kiết-la.
Dạy người khác lộng âm mà tinh xuất hay không
xuất đều phạm Đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni phạm Ba-dật-đề. Ba chúng dưới
phạm Đột-kiết-la.
Phần
thứ tư
[19]
nói:
Nếu người
nữ nắm phía trước Tỳ-kheo, Tỳ-kheo động
thân, xuất đồ bất tịnh, phạm Tăng tàn;
không động thân, mà xuất bất tịnh, phạm
Đột-kiết-la. Nắm phía sau cũng vậy. Khi nắm
chân đảnh lễ cũng vậy. Nếu dùng nam căn
để chỗ ngược nước hay thuận
nước, hoặc nước nhỏ giọt, hay ngược
gió, thuận gió; hoặc dùng miệng mút, hay trong không
trung nhớ tưởng, thân động, xuất bất
tịnh, tất cả đều phạm Tăng tàn.
Luật Căn bản nói:
Thà
dùng tay cầm con rắn độc đáng ghê gớm, chứ
không dùng tâm nhiễm ô tự tay cầm lấy sanh chi,
dùng tâm nhiễm ô nh́n ngó sanh chi để mắc tội
ác tác.
Luật Ngũ phần nói:
Ngủ
với tâm tán loạn, mắc tội Đột-kiết-la.
Nhớ đến việc hành dâm, phạm Đột-kiết-la.
Kinh Đại
niết-bàn nói:
Đối với sự dâm dục nên sanh ư tưởng hôi thúi, cho đến không thể sanh một ư tưởng về tịnh. Nếu hành dâm trong mộng, lúc tỉnh dậy phải sanh tâm hối hận.
2.
GIỚI XÚC CHẠM THÂN NGƯỜI NỮ
Đại thừa
đồng cấm.
GIỚI
BỔN:
Tỳ-kheo nào, do dục tâm dồn nén xúc chạm
thân người nữ, hoặc nắm tay, hoặc nắm
tóc, hoặc xúc chạm bất cứ một thân phần
nào, Tăng-già-bà-thi-sa.
NGUYÊN
DO
[20]
:
Ca-lưu-đà-di nhân Phật chế giới không
được lộng âm xuất tinh, lại ŕnh chờ
phụ nữ đến pḥng rờ, hôn môi má. Người
nào ưa, th́ vui thích với việc làm ấy, kẻ
không ưa, th́ giận dữ mắng chửi, và
nói lại với các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo bạch Phật
kiết giới.
TƯỚNG TẠNG CỦA TỘI
Rờ mó người nữ, một
lần rờ mó, một tội Tăng tàn. Rờ mó quỷ
nữ và súc sanh nữ, loài có thể biến h́nh, phạm
Thâu-lan-giá, không thể biến h́nh, phạm Đột-kiết-la.
Nếu người nữ làm lễ,
nắm chân, khởi cảm giác vui động thân, phạm
Tăng tàn; không động thân, phạm Đột-kiết-la.
Nếu với dục tâm chạm y
bát v.v... cho đến tự chạm thân ḿnh, tất cả
đều phạm Đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni phạm Ba-la-di. Ba chúng dưới
phạm Đột-kiết-la. Không phạm là xúc chạm
nhau khi nhận đồ vật, hoặc xúc chạm khi cởi
(trói) nhau, khuyên giải v.v...
Phần thứ tư
[21]
nói:
Khởi ư tưởng nữ cùng với
thân người nam chạm nhau, khởi ư tưởng nam
cùng với
thân người nữ chạm nhau, đều phạm
Thâu-lan-giá. Người nữ này, tưởng là bao
nhiêu người nữ khác; bao nhiêu người nữ
khác, tưởng là người nữ này, thân chạm
nhau đều phạm Tăng tàn. Cùng với thân người
nữ chết mà chưa hư hoại chạm nhau, phạm
Tăng tàn. Nếu xúc chạm thân hư hoại phân nửa,
hay phần nhiều hư hoại, phạm Thâu-lan-giá. Tùy
theo nữ nhơn chạm vào thân phần nào mà Tỳ-kheo
khởi động dục tâm, phạm Thâu-lan-giá. Nữ
nhơn bị nước cuốn trôi, với ư niệm từ
tâm cứu vớt va chạm mà không thọ lạc, không
phạm.
Luật
Tăng kỳ nói:
Khi Tỳ-kheo ngồi,
có người nữ lễ dưới chân, nếu khởi
dục tâm, nên trụ nơi chánh thân, phải bảo người
nữ rằng: Cách ra một chút để lễ. Nếu
người nữ quá giàu ḷng tin, đột ngột
đến lễ trực tiếp nơi chân, nên tự cắn
cái luỡi khiến cho đau khỏi biết sự va chạm
mịn màng của người nữ.
Nếu người
nữ đến Tỳ-kheo xin nuớc, không nên tự tay
ḿnh cầm gáo múc nước xối tay người nữ,
mà nên dùng đồ đựng để mà cho. Nếu
không có đồ đựng th́ bảo tịnh nhơn
cho. Nếu không có tịnh nhơn th́ cầm gáo để
trên giường hay trên ghế bảo họ tự lấy.
Nếu
người nữ bị nước cuốn trôi cầu
cứu, Tỳ-kheo khởi ư tưởng như đất,
nắm tay vớt lên, không phạm. Hay là trao cây tre, cây gỗ,
sợi dây cho họ nắm kéo lên, không phạm. Hoặc
nói: “Tôi biết cô tuy khổ nhưng do số mạng
đă định trước.” th́ không phạm.
Luật Căn bản nói:
Phàm chạm thân người nữ,
đối tượng có thể hành dâm, trường hợp
không có y ngăn cách, phạm Tăng tàn. Có y, phạm
thô tội. Trường hợp không thể hành dâm,
không có
y, phạm thô tội; có y, phạm ác tác.
Nếu xúc chạm người nam và huỳnh môn
có thể hành dâm, không có y, phạm thô tội; có y, phạm
ác tác. Không thể hành dâm có y, không y, đều mắc
tội ác tác.
Nếu xúc chạm bàng sanh, có thể, không thể
hành dâm đều mắc tội ác tác.
Nếu thấy người nữ bị nước
cuốn trôi, hoặc tự thắt cổ, hay uống thuốc
độc v.v... khi cần cứu tế, xúc chạm đều
không phạm.
Luật Thập tụng nói:
Người nữ v́ dục tâm rờ chạm Tỳ-kheo
không có y, Tỳ-kheo có dục tâm động thân, cảm
thọ sự trơn mịn, phạm Tăng tàn. Tỳ-kheo
có y phạm Thâu-lan-giá. Nếu v́ cứu nạn lửa,
nạn nước, nạn đao, nạn ác trùng, nạn
ác quỷ, nạn từ trên cao rớt xuống, tất cả
đều không phạm. Hoặc không có nhiễm tâm, chạm
nhầm, đều không phạm.
Người nữ bị nước cuốn trôi,
nên cứu, lúc đó tuy khởi dục tâm, chỉ nắm
một chỗ đừng thả, khi lôi đến bờ
mới thả ra, nắm lại th́ mắc tội.
Hoặc
người nữ được thêu hay vẽ trên giấy,
hay người nữ bằng gỗ, cố ư xúc chạm
phạm Đột-kiết-la.
Luật Thiện kiến nói:
Người
nữ đánh Tỳ-kheo, Tỳ-kheo v́ dục tâm vui nhận,
phạm Đột-kiết-la. Nếu người nữ có
sức lực nắm Tỳ-kheo, hay nhiều người
nữ cùng nắm, không thọ lạc không phạm.
Kinh Giới nhân duyên nói:
A-nan
bị Ma-đăng-già dùng chú thuật mê hoặc, không
phạm tội.
BIỆN
MINH:
Hỏi: - Căn cứ theo
luật Tăng kỳ, nếu không thể khởi ư tưởng
là đất và cũng không có tre, cây, dây v.v... để
có thể trao cho họ nắm th́ nên để tùy theo số
kiếp của họ. C̣n trong luật Thập tụng th́ nói tuy có khởi dâm tâm
cũng cho phép cứu họ. Vậy nên theo bên nào?
Đáp: - Tăng kỳ th́ chú trọng vấn đề đề pḥng tội lỗi. C̣n Thập tụng th́ cần gấp chỗ cứu người. Nay nên tự xét: Như tập nhiễm quá mạnh, nên theo sự chế cấm của luật Tăng kỳ. Nếu ḷng từ quả thật là nổi bật, mới áp dụng theo sự quyền chế của luật Thập tụng.
3.
GIỚI NÓI THÔ ÁC
Đây là tánh tội. Đại thừa đồng
cấm.
GIỚI
BỔN:
Tỳ-kheo nào, do dục tâm dồn nén, nói lời
thô tục về dâm dục với người nữ, tùy
theo lời nói thô tục về dâm dục, Tăng-già-bà-thi-sa.
NGUYÊN
DO
[22]
:
Duyên khởi cũng do Ca-lưu-đà-di nên Phật
chế giới này.
GIẢI
THÍCH:
Thô ác tức là phi phạm hạnh. Lời nói
dâm dục tức là khen ngợi “hai đường” tốt
xấu... hoặc tự ḿnh t́m cầu, hoặc dạy người
khác t́m cầu, hoặc hỏi, hoặc đáp, hoặc
nói, hoặc dạy người, hoặc mắng.
TƯỚNG
TRẠNG CỦA TỘI
Nói một cách rơ ràng từ mỗi câu phạm một
Tăng tàn, không rơ ràng phạm Thâu-lan-giá. Hoặc gởi
thư, hoặc sai sứ hay ra dấu, khiến cho người
nữ kia biết, phạm Tăng tàn; không biết, phạm
Thâu-lan-giá. Nói các bộ phận khác tốt xấu, phạm
Thâu-lan-giá. Đối với người nữ hai
căn, phi nhơn và loại nữ súc sanh có thể biến
h́nh mà nói, phạm Thâu-lan-giá. Loại ấy không hiểu
biết, phạm Đột-kiết-la. Đối với
loài nữ súc sanh không thể biến h́nh và người
nam mà nói, tất cả phạm Đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni
phạm Thâu-lan-giá. Ba chúng dưới phạm Đột-kiết-la.
Trường hợp
v́ người nữ nói pháp quán bất tịnh, hoặc
nói Tỳ-ni, khi nói pháp có đề cập đến, cùng
những việc nói trong mộng, nói nhầm v.v... th́
không phạm.
Phần thứ tư
[23]
nói:
Nữ
tưởng là nam, nam tưởng là nữ mà nói lời
thô ác, phạm Thâu-lan-giá. Người nữ này mà tác tưởng
là người nữ khác, người nữ khác tác tưởng
là người nữ này, phạm Tăng tàn.
Tánh
ưa nói lời thô ác mà không có tâm dục, phạm
Đột-kiết-la.
Luật Thập tụng nói:
Nếu người nữ đối trước Tỳ-kheo nói lời thô ác mà Tỳ-kheo tùy thuận theo tâm họ, nói ra bằng lời ít hay nhiều tùy theo đó, mỗi lời nói phạm mỗi tội Tăng tàn.
4.
GIỚI TỰ KHEN M̀NH,
Đ̉I CUNG PHỤNG DỤC LẠC
Đại thừa
đồng cấm.
GIỚI
BỔN:
Tỳ-kheo
nào, do dục tâm dồn nén, đối trước
người nữ, tự khen thân ḿnh: “Này cô! Tôi tu phạm
hạnh, tŕ giới tinh tấn, tu tập pháp thiện.
Nên đem pháp dâm dục ấy cung phụng tôi, sự cung phụng
ấy là bậc nhất”, Tăng-già-bà-thi-sa.
NGUYÊN DO
[24]
:
Như giới
trước, cũng do Ca-lưu-đà-di nên Phật chế
giới này.
GIẢI THÍCH:
Khen thân tức là khen thân ḿnh
đoan chánh, nhan sắc tốt đẹp, gịng dơi v.v...
Phạm hạnh tức là siêng tu, ĺa xa uế trược.
Giữ giới tức là thọ tŕ học xứ không
khiếm khuyết, không lủng chảy, không nhiễm ô.
Thiện pháp tức là ưa thích ở chỗ nhàn tịnh,
sống theo 12 hạnh Đầu-đà, học nhiều
hay nói pháp, giữ luật, ngồi thiền v.v...
TƯỚNG
TRẠNG CỦA TỘI
Tùy theo sự khen ngợi nhiều hay ít, nói một cách rơ ràng, mỗi lần là một Tăng tàn. Nói không rơ ràng, phạm Thâu-lan-giá. Loài nữ súc sanh và quỷ, biết, không biết, tưởng, nghi v.v... cũng đồng như trước. Tỳ-kheo-ni v.v... đồng như trước.
5. GIỚI LÀM MAI MỐI
Đây thuộc về giá tội.
Đại thừa đồng cấm.
GIỚI BỔN:
Tỳ-kheo
nào qua lại người này người kia làm mai mối,
đem ư người nam nói với người nữ,
đem ư người nữ nói với người nam, hoặc
để thành việc vợ chồng, hoặc để
cho tư thông dù chỉ trong chốc lát, Tăng-già-bà-thi-sa.
NGUYÊN DO
[25]
:
Tỳ-kheo Ca-la, biết rành về
pháp thế tục, khi ông làm mai mối cho các nam nữ
thành chồng vợ, được việc th́ họ
cúng dường khen ngợi, không hài ḷng th́ họ oán
trách cơ hiềm, cho nên đức Phật chế giới
này.
TƯỚNG
TRẠNG CỦA TỘI
Tùy
theo làm mai mối nhiều hay ít, mỗi trường hợp
là phạm một Tăng tàn. Nhận lời đến bên
kia nói, không trở lại báo cáo, phạm Thâu-lan-giá.
Không nhận lời, đến bên kia nói, trở lại
báo cáo, phạm Thâu-lan-giá. Nhận lời, không đến
bên kia nói, không trở lại báo cáo, phạm Đột-kiết-la.
Không nhận lời, đến bên kia nói, không trở lại
báo cáo, phạm Đột-kiết-la. Các loại nữ
súc sanh, quỷ, biết, không biết, tưởng, nghi
v.v... đồng như trước. Cầm thơ của
người đi, không xem coi, hoặc v́ người bạch
y làm các loại sứ giả, đều phạm Đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni phạm Tăng tàn. Ba chúng dưới phạm
Đột-kiết-la.
Những
trường hợp sau đây không phạm:
V́
ḥa hiệp sự biệt ly, v́ cha mẹ bệnh, v́ bị
giam cầm trong ngục tù, v́ người Ưu-bà-tắc
tín tâm bệnh và bị giam cầm trong ngục tù, v́ Tam
bảo, v́ Tỳ-kheo bệnh v.v...
Xem
thơ và cầm đi th́ không phạm.
Luật
Tăng Kỳ nói:
Trường
hợp người nam có nhiều vợ đối xử
không b́nh đẳng, Tỳ-kheo khuyên bảo người
nam ấy đối xử cho b́nh đẳng. Người
nam ấy trả lời: sẽ như lời thầy khuyên
bảo; Khi ấy, Tỳ-kheo nọ mắc tội
Thâu-lan-giá. Nếu vợ chồng căi lộn, Tỳ-kheo
khuyên dụ cho họ ḥa hợp th́ mắc tội
Thâu-lan-giá. Trường hợp vợ chồng kia không
ḥa hợp, đối với việc Phật, việc
Tăng có sự sơ suất, v́ việc phước thiện
khuyên bảo họ ḥa hợp th́ không tội. Trường
hợp người phụ nữ bỏ về lại nhà
cha mẹ họ, khuyên bảo họ sớm về lại
nhà chồng, mắc tội Thâu-lan-giá.
Có người nuôi nhiều ngựa
mà không có giống đực tốt, nhờ Tỳ-kheo
điềm chỉ cho nhà nào có giống ngựa tốt
để lấy giống, Tỳ-kheo chỉ điểm mắc
tội Thâu-lan-giá.
Hai Tỳ-kheo, một người có
con trai, một người có con gái, cùng nhau làm sui gia, cả
hai đều mắc tội Tăng tàn.
Luật Thập Tụng nói:
Việc mai mối đă xong, Tỳ-kheo
sau đó đến trợ giúp, mắc Thâu-lan-giá.
Căn bản nói:
Nếu Tỳ-kheo đến nhà thí
chủ, nói: Người con gái này đă trưởng thành
sao không gả lấy chồng, người con trai này
đă lớn sao không lấy vợ. Hoặc nói: Người
con gái này sao không đến nhà chồng, người con
trai này sao không đến nhà vợ, đều mắc tội
ác tác.
Kinh Giới Nhân Duyên nói:
Thả đực, thả nái cho súc
sanh, phạm Tăng-già-bà-thi-sa.
BIỆN
MINH:
Hỏi: - Các bộ khác, mai mối
súc sanh không kết vào tội này, trong kinh Giới nhân duyên th́ thả đực thả nái cho súc sanh
đều kết tội Tăng tàn. Tại sao vậy?
Đáp: - Chỉ làm mai mối th́ động cơ đưa
đến dâm dục c̣n xa, cho nên phi nhơn và súc sanh, theo thứ tự dần dần hàng phục,
c̣n thả đực thả nái th́ mắt ḿnh nh́n vào
việc phi pháp, cho nên tuy là súc sanh, cũng kết bổn
tội vậy.
(Thời
nay, trong Tùng lâm nuôi cả gà heo không biết đực
cái một cách chung lộn, tội đâu có thể nói hết!)
TRÙNG
TRỊ TỲ-NI SỰ NGHĨA TẬP YẾU
HẾT QUYỂN THỨ BA
[1]
Tứ phần luật
1, tr. 572b, Đại 22n1428.
[2]
Vấn đề
này nên nghiên cứu nơi bộ Tứ Phần Hiệp
Chú của kỳ đức Luật sư Thích
Trí Thủ để được rơ nghĩa hơn.
[3]
Tứ phần luật
41, phần thứ ba Kiền-độ y, tr. 861a19, Đại
22n1428.
[4] Tứ phần luật 55, phần thứ tư Điều bộ, tr. 976a22, Đại 22n1428.
[5] Căn bản (thuyết nhất thiết hữu bộ tỳ-nại-da) 5, tr. 650b19, Đại 23n1442: Chỉ nói là một đứa bé, cháu của Tất-lăng-già-bà-ta.
[6] Tăng kỳ luật 3, tr. 252a18, Đại 22n1425: Có Tỳ-kheo được y phấn tảo đẹp, suy nghĩ: “Y này rất đẹp, sau này nếu có nữa th́ chưa chắc được như vậy!” bèn nói với bạn: “Trưởng lăo! Từ nay trở đi lộc của ai nấy giữ. Nếu thầy được th́ thầy giữ, nếu tôi được th́ tôi giữ.” V́ Tỳ-kheo này trái lời cam kết trước, nên trong nửa phần y ấy mà đủ số qui định th́ phạm Ba-la-di. Nếu Tỳ-kheo này được y phấn tảo mà không mang về, lại đem cất giấu, lấy cỏ gạch phủ lên, rồi quay về giải lời cam kết như trên đă nói, th́ phạm Thâu-lan-giá.
[7] Tây câu-da-ny 西拘耶尼: Skt. Apara-godānīya, Tây Ngưu hoá châu. Phong tục ở đây dùng trâu làm tiền tệ để trao đổi.
[8] Phất-vu-đăi 弗于逮: Skt. Pūrva-videha, Đông Thắng thân châu.
[9] Uất-đơn-việt 鬱單越: Skt. Uttara-kuru, Bắc Câu-lô châu.
[10]
Tứ phần luật
2, tr. 575c, Đại 22n1428.
[11]
Pháp giới thứ
đệ sơ môn (Tuỳ – Trí Khải soạn) quyển
thượng phần hạ, tr. 673c01, Đại
46n1925.
[12]
Tứ phần luật
56, phần thứ tư Điều bộ, tr. 981a17,
Đại 22n1428.
[13]
Tứ phần luật
2, tr. 577b, Đại 22n1428.
[14]
Tứ phần luật
2, tr. 578c21: miệng nói: “Tôi đạt được
pháp thượng nhơn”…
[15] “Sáu câu chuẩn theo đó mà biết”, câu này do ngài Trí Húc dẫn để độc giả hiểu theo trong nguyên văn Tứ phần. Tứ phần luật 2, tr. 578c29: Người, khởi ư tưởng là người phạm Ba-la-di. Nghi là người, phạm Thâu-lan-giá. Người mà tưởng chẳng phải người, phạm Thâu-lan-giá. Chẳng phải người mà tưởng là người, phạm Thâu-lan-giá. Chẳng phải người mà nghi cũng phạm Thâu-lan-giá.
[16]
Thổ quỉ
土鬼:
Thập tụng luật 2, tr. 12c17, Đại 231435: Phần
cước chú “quỉ
鬼”= “khối 塊”. Vậy có thể
dịch: nói, “Ngay cả gió lốc (toàn phong), đất
khối lăn đến chỗ tôi”. Nếu không thật th́ Tỳ-kheo phạm Thâu-lan-giá.
[17]
Tứ phần luật
59, phần thứ tư Tỳ-ni tăng nhất, tr.
1005b15, Đại 22n1428.
[18]
Tứ phần luật
2, tr. 579a, Đại 22n1428.
[19]
Tứ phần luật
56, phần thứ tư Điều bộ, tr. 986a10,
Đại 22n1428.
[20] Tứ phần luật 2, tr. 580b, Đại 22n1428.
[21]
Tứ phần
luật 57, phần thứ tư Điều bộ, tr.
986b, Đại 22n1428.
[22]
Tứ phần luật
3, tr. 581b, Đại 22n1428.
[23]
Tứ phần luật 57, phần
thứ tư Điều bộ, tr. 987b24, Đại
22n1428.
[24]
Tứ phần luật
3, tr. 582a, Đại 22n1428.
[25]
Tứ phần luật
3, tr. 582c, Đại 22n1428.