Thành kính đảnh lễ Đức Thế
Tôn
Ngài là bậc ỨNG CÚNG
Đấng CHÁNH BIẾN TRI
TRÙNG TRỊ
TỲ-NI
SỰ
NGHĨA TẬP YẾU
QUYỂN
MỘT
Sa-môn TRÍ HÚC tự NGẪU ÍCH, người CỔ NGÔ [1] soạn tập, giải thích
Việt dịch: Sa-môn THÍCH ĐỖNG
MlNH
Nhuận văn và chú thích:
Sa-môn THÍCH ĐỨC THẮNG
Toàn văn bộ Luật này chia làm hai phần, đề
mục và giải thích bản văn.
PHẦN
ĐẦU LÀ ĐỀ MỤC
TỨ PHẦN GIỚI
BỔN - Giải thích đề mục của bộ Luật
này là phỏng theo giới Phạm vơng nghĩa sớ, lược
thuật theo ba lớp huyền nghĩa :
– Giải
thích tên gọi.
–
Tŕnh bày bản thể.
–
Định liệu vấn đề giản đơn.
A.
GIẢI THÍCH
TÊN GỌI:
Chia làm ba:
-
Nói rơ Tứ phần giới bổn.
-
Rút ra từ bộ Luật nào.
-
Giải thích sự nghĩa tập yếu.
I. TỨ
PHẦN GIỚI BỔN LÀ G̀?
-
Luật Tứ Phần Giới Kinh của Tỳ-kheo.
Bộ Luật này rút ra từ bộ
luật Đàm-vô-đức. Tiếng Phạn gọi là
Đàm-vô-đức, Hoa dịch là Pháp Mật.
Bộ Luật này có 4 phần:
- Phần thứ nhất, thuyết minh việc của
Tỳ-kheo.
- Phần thứ hai, thuyết minh việc của
Tỳ-kheo-ni và pháp thọ giới, pháp thuyết giới.
- Phần thứ ba, thuyết minh các pháp An cư
và tự tứ...
- Phần thứ tư, thuyết minh các pháp
pḥng xá và tạp pháp...
Giới bổn này thuộc phần
thứ nhất. Đức Như Lai nhân sự việc
mà kết thành giới kinh.
II. RÚT
RA TỪ BỘ LUẬT NÀO?
Rút ra từ nhiều bộ Luật,
trong đó có thông và biệt.
Thông nghĩa là tất cả đều
gọi là Luật. Biệt chỉ cho Tăng kỳ,
Ngũ phần v.v... Chúng được rút ra từ sự
quan hệ của Kinh sách số mục mà gọi tên. Tỳ-ni
hay Tỳ-nại-da, phiên âm từ tiếng Phạn, Hoa dịch
là Thiện trị cũng dịch là Điều phục,
hay là Diệt, gọi chung là Luật, luật là pháp vậy.
Kinh Giới nhân duyên nói:
Chữ “Tỳ” ngôn ngữ nhà Tần
gọi là “Khử”, “Nại-da” gọi là “Chơn”,
nghĩa là loại bỏ bao nhiêu cái sai quấy để
c̣n lại cái chơn, cho nên gọi là chơn. Hàng phục
tâm này, chấm dứt tâm này, nhẫn nhục không để
tâm này sinh khởi, nên gọi là chơn. Hàng phục là
giới, chấm dứt là định, nhẫn là tuệ.
Nêu lên một pháp là gồm thâu cả ba môn Vô lậu học.
Nếu không có giới thiện th́ định tuệ không
phát khởi. Giới pháp này có ba loại:
- Luật nghi giới, cũng gọi là Ba-la-đề-mộc-xoa
giới.
- Định cộng giới, cũng gọi là
Thiền giới.
- Đạo cộng giới, cũng gọi là
Vô lậu giới.
1) Luật nghi giới: Luật là ngăn ngừa và đ́nh chỉ; Nghi là
h́nh nghi, nó có khả năng đ́nh chỉ các việc
ác, thể hiện nơi thân gọi là giới, cũng gọi
là oai nghi. Oai là thanh bạch trang nghiêm khả kính. Nghi là
phép tắc đáng làm mô phạm, cũng gọi là
điều ngự, tức là hướng dẫn tâm làm
điều lành. Ba-la-đề-mộc-xoa: Hoa dịch là bảo
giải thoát, cũng dịch là biệt biệt giải
thoát, v́ nó có khả năng bảo đảm hành giả
ra khỏi biển sanh tử. Hơn nữa, tùy theo sự
giữ ǵn không phạm giới nào đó th́ ở nơi
đó có sự giải thoát, tức chỉ cho 250 học
xứ, và tùy luật oai nghi.
2) Định cộng giới: Định là vắng lặng, khi
vào định tự nhiên điều phục tâm thiện, chận đứng các điều ác.
3) Đạo cộng giới: Đạo có khả năng thông suốt,
sau khi chơn tâm được phát khởi, tự nó không hủy phạm, như người chứng
được sơ quả, khi cày đất th́ loài
trùng xa ĺa bốn tấc, đó là cái sức của
Đạo cộng giới.
Hai
pháp giới này chỉ cho cái dụng thắng diệu
trên bản tâm, chúng có khả năng phát sanh giới, hơn
nữa Đạo, Định và Luật nghi, cả ba
cùng phát khởi nên gọi là cộng. Tạng Tỳ-ni
này chính là nói rơ luật nghi, nhưng nhiếp cả
Định và Đạo.
Do công
đức tŕ tịnh giới nên thiền định, trí
tuệ mới phát sanh. Như vậy, Luật nghi là nhân,
Định, Đạo là quả. Hoặc do thiền
định và sức của Vô lậu mà tánh nghiệp,
giá nghiệp đều thanh tịnh, cho nên Mộc-xoa
là quả, Định, Đạo là duyên.
Luận Tát-bà-đa nói: Giới Ba-la-đề-mộc-xoa
này nếu Phật xuất thế th́ có, Phật không
xuất thế th́ không, nhưng Thiền giới, Vô lậu
giới lúc nào cũng có. Giới Ba-la-đề-mộc-xoa
từ nơi lời dạy mà có được; c̣n Thiền,
Vô lậu giới không từ nơi lời dạy mà có
được. Cho nên luận ấy nói: Giới Ba-la-đề-mộc-xoa
chỉ đệ tử Phật mới có, c̣n Thiền giới
th́ ngoại đạo cũng có.
Luận
rằng: khả năng duy tŕ Phật pháp, gồm cả
bảy chúng ở thế gian, đạo quả ba thừa
nối tiếp nhau không dứt đoạn, đều dùng
Ba-la-đề-mộc-xoa làm căn bản. Thiền và Vô
lậu giới th́ không vậy. Do đó, trong ba giới
nó là hơn hết.
Luận Thiện Kiến cũng nói:
Tỳ-ni tạng là mạng sống của Phật
pháp. Tỳ-ni tạng có mặt, Phật pháp cũng có mặt.
Đó là lược giải nghĩa tên chung.
Kế
đến tên riêng chỉ cho luật Tăng Kỳ, Ngũ Phần, Tát-Bà-Đa, Thật Tụng,
Thiện Kiến, Kinh Giới Nhân Duyên, Luận Tỳ-Ni Mẫu
v.v... Tại sao lại dùng các bộ Luật này? Xét theo
Kinh Xá-lợi-phất hỏi
Phật, Đức Phật tự huyền kư rằng:
Sau khi pháp diệt, cháu Vua Thâu-kha (A-dục) là Phất-sa-mật-đa-la,
một vị vua đức tính hiền lương đă
chấn hưng Phật pháp
[2]
. Khi ấy, các Tỳ-kheo tham đắm
theo danh khen, rất ưa tranh luận, sao chép sửa đổi
giới luật của Như Lai, thêm bớt gia giảm.
Đối với những ǵ ngài Ca-diếp kiết tập,
họ chia làm từng phe nhóm riêng, cùng nhau nói phải
nói quấy. Họ yêu cầu nhà vua phán quyết. Vua tập
họp hai bộ lại, rút thăm. Số người thủ
cựu nhiều gọi là Ma-ha Tăng kỳ; số
người theo chủ thuyết mới th́ ít, mà là bậc
Thượng tọa, gọi là Tha-tỳ-la, tức Thượng
tọa bộ. Về sau do sự tranh luận lại chia làm
nhiều bộ, trong thời gian ba bốn trăm năm,
sau khi Phật diệt độ, lần lượt phân
chia thành nhiều giáo phái. Như vậy truyền măi về
sau, phải có, quấy có. Ngoài ra chỉ có 5 bộ, theo
sở trường của ḿnh, dùng sắc phục để
nói lên điều đó.
a) Bộ Ma-ha Tăng kỳ, siêng học kinh điển,
truyền giảng chơn nghĩa, theo chỗ ở của
ḿnh nên mặc áo màu vàng.
b) Bộ Đàm-vô-cúc-đa-ca (tức là Đàm-vô-đức)
thông suốt ư nghĩa của giáo lư, mở bày hướng
dẫn việc lợi ích, nêu lên điểm thù thắng,
nên mặc áo màu đỏ.
c) Bộ Tát-bà-đa, rỗng không, mẫn đạt,
dùng pháp hướng dẫn để giáo hóa, nên mặc
áo màu đen.
d) Bộ
Ca-diếp-di, siêng năng mạnh mẽ, nhiếp hộ
chúng sanh, nên mặc áo màu lam.
e) Bộ
Di-sa-tắc, tư duy thiền quán đến chỗ vi diệu,
cứu xét đến chỗ tận cùng u mật, nên mặc
áo màu xanh.
Ma-ha Tăng kỳ ư vị thuần
chánh, c̣n các bộ kia cũng như trang bị thêm cam lồ.
Như chư thiên khi uống th́ chỉ uống cam lồ,
loại bỏ nước thường, c̣n người
đời khi uống th́ cam lồ và nước đều
dùng, có khi tiêu hết bệnh, có khi lại sanh bệnh.
Người đọc tụng cũng như vậy,
người nhiều trí huệ có khả năng thủ
xả, c̣n kẻ ngu si không thể phân biệt được.
Lại xét, trong tập Phiên dịch
danh nghĩa ghi rằng:
Đức Thế Tôn thành đạo
38 năm, một hôm đến thành Vương Xá thọ
trai, khi thọ trai xong, Ngài bảo La Vân rửa bát (La-vân
là La-hầu-la, phiên dịch là phú chướng ‘ngăn
che’, ở trong thai 6 năm là con của Tất-đạt-đa)
[3]
rủi tay làm bể cái bát thành 5 mảnh. Phật dạy:
Đó là điềm báo sau khi Ta diệt độ, trong
khoảng 500 năm đầu, các Tỳ-kheo chia Tạng
luật thành năm bộ. Sau quả là như vậy.
Năm bộ là:
1)
Đàm-vô-đức bộ.
2)
Tát-bà-đa bộ, Hoa dịch là Thuyết nhất
thế hữu. Tên của luật là Thập Tụng.
3)
Ca-diếp-di bộ, Hoa dịch là Trùng không quán.
Chỉ có một
quyển kinh Giải thoát giới bổn truyền đến
Trung Hoa mà thôi.
4)
Di-sa-tắc bộ, Hoa dịch là Bất trước
hữu vô quán. Tên luật là Ngũ phần.
5)
Bà-ta-phú-la bộ. Hoa dịch là Độc tử. Bộ
này không truyền đến
nước Trung Hoa.
Năm bộ là
biệt, Ma-ha Tăng kỳ là tổng. Chung lại là sáu
bộ.
Lại xét, Nam
Hải Kư Qui Truyện
[4]
có nói:
Sự lưu
truyền của các bộ phái, sanh khởi không đồng
nhau. Sự tương thừa bên Tây Vức đại
cương chỉ có 4:
1) Thánh Đại chúng bộ, chia ra thành bảy bộ.
2) Thánh Thượng tọa bộ, chia ra thành ba bộ.
3) Thánh Căn bản thuyết nhất thiết hữu
bộ, chia ra làm 4 bộ.
4) Thánh Chánh lượng
bộ, chia ra làm 4 bộ.
Trong thời gian đó, vấn đề
phân chia đă xuất hiện hay c̣n ẩn khuất,
riêng tên gọi từng bộ không phải là một, nơi
đây không phiền để thuật lại.
Hữu bộ chia ra làm ba bộ khác
nhau:
1) Pháp hộ bộ.
2) Hóa địa bộ.
3) Ca-nhiếp-t́ (Ca-diếp-di) bộ.
Thập
tụng, Tứ phần, phần nhiều gần với
kinh, và lấy đó làm đề mục, song Thập tụng
chính là Căn bản hữu bộ.
Vua Tần-bà-sa-la nằm mộng thấy
một thớt lụa bị xé thành 18 miếng, một
cây trượng bằng vàng bị chặt thành 18 đoạn.
Nhà vua sợ, đến hỏi Phật, Phật dạy:
“Hơn 100 năm sau, khi Ta diệt độ, có vua
A-thâu-ca, oai lực ở cơi Thiệm-bộ, khi ấy các
Bí-sô đem giáo pháp của Ta chia thành 18 bộ. Nhưng
pháp môn giải thoát th́ chỉ có một. Đây tức
là điềm báo trước, việc đó vua chớ
nên lo.” Những ǵ vừa tŕnh bày đều khác nhau
không đồng bởi cách Phật quá xa, cho nên sự
truyền thừa có thể bị sai lạc. Nay nếu
câu nệ nơi dấu vết dị đồng th́ sự
mâu thuẫn nảy sanh, không phải là ít. Nhưng nếu
ta nắm lấy ư nghĩa th́ sẽ có điều hay tốt
tiện dụng. Tuy Thánh tâm khó lường nhưng sự
so sánh có thể y cứ vào được. Miễn nắm
được ư nghĩa th́ sự việc không phải
nhọc nhằn để giải quyết. Phần nguyên
ủy của các Bộ đă nói xong.
III. GIẢI
THÍCH VỀ SỰ NGHĨA TẬP YẾU
Sự là duyên khởi để chế giới.
Nghĩa là tùy theo tội phạm nặng nhẹ,
kiết tội sám hối.
Yếu tức là văn của Luật nghi
phần nhiều phiền phức nay chỉ lấy chỗ
cốt yếu.
Tập là tuy riêng tôn luật Tứ phần,
nhưng vẫn tham khảo và dụng lấy nghĩa của các Bộ phái. Tại sao chỉ
riêng tôn luật Tứ phần? V́ 250 giới tướng,
không thể thêm bớt được và v́ đă nhiều
đời lưu hành. Tại sao phải tham khảo dùng
nghĩa của các bộ khác? V́ “Sư”ï là khi nói
rơ, có khi nói lược. “Nghĩa” là có sở trường,
sở đoản, nên không ngại ǵ việc làm sáng tỏ
cho nhau.
Phần giải
thích tên gọi xong.
B. TR̀NH BÀY BẢN
THỂ
1) Trước hết biện minh danh từ “Vô tác”:
Ngài Thiên Thai đại sư nói:
“Giới thể không phát th́ thôi, phát khởi th́ thuộc
về tánh”. Cũng trong hướng ấy, Khánh Công giải
thích “Vô tác giả sắc” như sau: “Giới thể
này không phát khởi th́ thôi, nếu phát khởi th́ hoàn
toàn thuộc về tánh”. Tánh và tu kết hợp với
nhau mà thành (giới thể) chắc chắn có vô tác giả
sắc. Vô tác một khi phát khởi, tự nó ngăn
điều ác và làm điều lành. Cho nên sau khi phát khởi
rồi không hề phát khởi lại, nên gọi là vô
tác.
Nói vô tác giả sắc, là chỉ
cho 11 sắc pháp, chúng có giả và thật nên pháp xứ
là nơi dung nhiếp các sắc. Ở đó chỉ có
định quả sắc gọi là thật sắc, c̣n
Biểu, vô biểu sắc đều gọi là giả
sắc. Hai giới thiện và ác đều có biểu
và vô biểu; biểu chỉ cho tác, vô biểu chỉ
cho vô tác.
Nay
giải thích thiện giới: Khi quỳ gối một
cách chí thành gọi là thân biểu. Ba lần nói lên sự
xin giới, gọi là ngữ biểu. Chúng Tăng ḥa hợp
đồng nhóm họp nơi giới trường
cũng gọi là thân biểu. Bạch tứ yết-ma cũng
gọi là ngữ biểu. Do đây, khi tác pháp nhận
được giới thể thanh tịnh của Tỳ-kheo
th́ đó là cảnh sở duyên của ư, tự nó hằng
được hai pháp thiện “chỉ và hành”. Cho nên
nói sau khi phát khởi rồi không hề phát lại, gọi
đó là vô tác giả sắc
vậy.
Vô
tác giới thể này, khi Yết-ma lần thứ ba xong
liền được. Khi ấy, đối với tất
cả nam nữ được cái sắc thái không dâm.
Đối với tất cả hữu t́nh, phi t́nh
được cái sắc thái không trộm cắp. Đối
với tất cả loài hữu t́nh được cái sắc
thái không giết hại. Đối với tất cả
loài hữu t́nh được cái sắc thái không khi cuống.
Cho đến đối với tất cả đất
đai được cái sắc thái không đào bới.
Đối với tất cả cỏ cây được
sắc thái không phá hoại. Đối với tất cả
rượu được cái sắc thái không uống.
Như vậy 250 giới pháp mỗi mỗi đều hiện
hữu khắp cả pháp giới. Cho nên trong kinh Xuất
gia công đức, nói rơ công đức tŕ giới một
ngày môït đêm không thể cùng tận. Chính là do thiện
vi diệu của giới này biến khắp, và lấy
pháp giới làm cảnh sở duyên.
Như
vậy th́ vô tác giới thể là Pháp xứ sắc, là
Vô lậu sắc. Thành thật luận gọi là “phi sắc
phi tâm hội tụ”, v́ nó ngăn tâm không c̣n có đắc
thất, quả không c̣n có bất thiện, mà chúng là
hai món nạn vậy.
(Bộ Nghĩa sớ nói: Hỏi
đề vô tác giả sắc, kinh luận cùng nhau thuyết
minh, kẻ nói có, người nói không. Một chủ
thuyết cho rằng chỉ thề không làm ác, tức gọi
là thọ giới hoàn toàn không có cái sắc vô tác. Nếu
trong nhân riêng có cái bất thiện, cùng nhau làm cái nhân
thành Phật, th́ nơi Phật địa cũng phải
riêng có cái thiện này cùng làm Phật quả. Ở
đây v́ cái quả không có bất thiện, nên sự
trở ngại đối với giới, chính là sắc
pháp, v́ Tiểu thừa, vọng cho vô tác là thật sắc
ở ngoài tâm. Một chủ thuyết cho rằng: Kinh luận
Đại, Tiểu thừa đều có đề cập
đến vô tác. Có thể dùng thắng tâm làm giới,
th́ khi phát tâm liền đắc giới. Nếu vậy
th́ tại sao có bảy thứ ngăn ngại, không thể
đắc giới? Hơn nữa, nếu hoàn toàn không
có vô tác, th́ tại sao khi phạm trọng tội liền
gọi là mất giới? Do tâm không có đắc thất
nên sự trở ngại đối với giới, chính
là tâm pháp. Thành thật luận lập “phi sắc phi
tâm hội tụ” với mục đích là dùng hai cái
này để ngăn hai nạn trên. Xưa nay, các Luật
sư đều dựa vào đó mà dụng nghĩa. Nếu
Đại thừa thuyết minh giới là giả sắc,
nương vào Bổn sư, một khi thọ lănh giới
pháp cho đến chứng quả Bồ-đề, tùy
theo Định cộng giới, Đạo cộng giới
mà thề tu các thiện, thệ nguyện độ hàm
thức (hữu t́nh), cũng dùng cái khả năng lớn
mạnh của tâm này. Riêng phát khởi thiện giới
để làm cảnh sở duyên cho hành giả, chấm
dứt các điều ác.)
Thật
sự là do tâm cảm mà được, nên mượn
sắc để tiêu biểu thôi. Cho nên Đại thừa
nói: Yết-ma lần thứ nhất thành tựu, v́ do
nghiệp lực của tâm mà diệu thiện giới
pháp trong mười phương, thế giới thảy
đều chấn động. Yết-ma lần thứ
hai thành tựu, th́ diệu thiện giới pháp trong mười
phương thế giới, ở giữa hư không như
mây, như bảo cái (lọng báu) bao trùm trên đảnh
người thọ giới. Yết-ma lần thứ ba thành
tựu, th́ diệu thiện giới pháp trong mười
phương thế giới, từ đảnh môn của
người thọ giới, trôi chảy vào trong thân tâm,
sung măn chánh báo, bao trùm cả đời vị lai, luôn
luôn là hạt giống Phật. Tuy trong Tạng Tỳ-ni
không nói việc này, nhưng cũng nói rằng: “Yết-ma
thành tựu gọi là đắc xứ sở”. Nên biết
hữu lậu ngũ uẩn, sắc thân là chỗ nương.
Vô lậu ngũ uẩn, giới thân là chỗ nương.
Hữu lậu sắc thân từ tinh cha huyết mẹ
ḥa hợp mà thành là sắc xứ giả sắc; c̣n Vô
lậu giới thân từ Tam sư Thất chứng yết-ma
mà được, đó là pháp xứ giả sắc. Sở
dĩ, Ḥa thượng gọi là lực sanh, v́ chính từ
cái khả năng này sanh ra giới thân, nên dùng nghĩa
đó mà gọi tên vậy.
Được giới thân này, liền đồng với
Tăng bảo, thường khiến cho Thiên long tôn phụng,
quỷ thần khâm phục tuân theo. Nếu tâm không vui sống
với đạo th́ gọi là giới luy (giới yếu
kém). Nếu hướng đến người nào nói xả
giới th́ gọi là hoàn giới. Nếu không có cái vô
tác giới thể này, th́ thiện thần dựa vào
đâu mà quư kính, làm sao gọi là yếu kém, làm sao gọi
là xả giới?
Hỏi: - Đă là yếu kém, có xả lại có phá, vậy tại
sao gọi là nhậm vận chỉ, hành?
Đáp: - Thí như cầu, đ̣ có công năng đưa
người qua sông, ao giếng có công năng cho nước
dùng. Nếu như phá bỏ cầu đ̣, lấp bằng
ao giếng th́ công năng kia liền mất. Nếu không
như vậy, th́ lúc nào cũng sử dụng được,
khỏi đợi phải làm lại, cho nên gọi là
vô tác.
2) Thuyết minh chỉ và hành:
Đây là hai pháp hành.
Như Bách
luận nói:
Dứt điều ác không làm gọi
là chỉ, tin thọ tu tập gọi là hành.
Phật giáo tuy bao la, nhưng hai chữ
“chỉ và hành” thâu nhiếp cả.
Nay nói về giới thiện, nếu
không phát khởi th́ thôi, c̣n phát khởi th́ chận
đứng ngay các điều ác, đó là nghĩa chữ
“chỉ”. Và từ đó tiến lên thực hiện
điều lành, đó là nghĩa chữ “hành”. Chận
đứng điều ác từ căn Tùy phiền năo,
khởi lên thân, khẩu thất chi là nhân ác, trong ba
đường chịu khổ khốc là quả ác.
Thập Cú Nghĩa sẽ giải bày
đầy đủ ở sau.
Mỗi
khi các Tỳ-kheo kiết giới, có khả năng khiến
cho người thọ tŕ, khi nhân ác đă trừ, quả
ác sẽ tiêu hết, đó là “phạt ác”. Tiến
lên nhiếp tŕ các căn, không cho niệm tán loạn, thường
nhất tâm tu tập các pháp lành, nhậm vận cảm
được hoa báo cơi nhơn thiên, cho đến khi
đạt đến thật quả xuất thế giải
thoát, đó là nghĩa “tấn thú”. Phần tŕnh bày về
bản thể đă xong.
C. ĐỊNH LIỆU VẤN ĐỀ GIẢN
ĐƠN:
Chia làm hai:
- Đối với
Đại thừa th́ biện chỗ được
(đắc) và bỏ (xả)
- Đứng trên giáo tướng th́
biện chỗ cạn và sâu.
1) Biện chỗ được và bỏ:
Đại thừa
chú trọng nội nhân, Tiểu thừa chú trọng ngoại
duyên. V́ chú trọng nội nhân cho nên cần phải
phát tâm Bồ-đề mới có thể thọ giới
được. Nếu ở trong tâm bất thiện, vô
kư không phát khởi vô tác, ngàn dặm t́m thầy không
có, th́ cho phép đối trước Phật tượng
tự thọ. V́ chú trọng ngoại duyên nên cần phải
có Sư, Tăng, Giới, Pháp, mọi việc hợp lại
để chế. Nếu các duyên có một cái nào không
đủ th́ không đắc giới, c̣n các duyên đầy
đủ th́ cả ba tâm đều đắc giới
(thiện, bất thiện, vô kư đều phát khởi).
Hơn nữa,
Đại thừa sau khi được giới thẳng
đến thành Phật, Tiểu thừa chỉ đắc
giới trong một đời thôi.
Đại thừa
th́ thượng phẩm triền, phạm thập trọng,
và thối thất tâm đại Bồ-đề th́ gọi
là mất giới. Tiểu thừa phạm tứ trọng
cấm th́ gọi là mất giới. Nếu ḷng không vui
sống với đạo, đến trước một
người để xả th́ gọi là hoàn giới.
Đại thừa
sau khi mất giới, nếu thấy được hảo
tướng th́ cho phép thọ giới lại. Tiểu thừa
mất giới rồi, dứt khoát không cho thọ giới
lại. Trường hợp tuyệt đối không che
giấu th́ cũng chỉ có thể cho Yết-ma dữ học.
(Trong pháp trị tội có thuyết minh vấn đề
này). Trường hợp có xả giới mới cho phép
thọ lại, c̣n đủ ba phen hoàn tục, th́ mới
không cho thọ lại.
Hỏi: - Giải thích giới thể dựa
vào Đại thừa để tŕnh bày chỗ
được bỏ, nhưng lại phân ra có đại
có tiểu, làm sao cho tông chỉ nghĩa lư của nó
không trái nhau?
Đáp: - V́ y vào Đại thừa để
giải thích vô tác nên không trái với thể pháp. Đối
với đại tiểu để tŕnh bày chỗ
được bỏ th́ không làm hủy hoại pháp tướng,
nếu trái với thể pháp, th́ tướng không có chỗ
nương tựa, làm hoại pháp tướng th́ thể
không do đâu hiển hiện. Cho nên sau khi khai hiển của
kinh Pháp hoa, th́ phần
pḥ tŕ giới luật thuộc về kinh Niết-bàn.
Phép tắc của Tỳ-ni không hề có thay đổi
một mảy may. Chính biết nghĩa “thường”
ở đây nên mới gọi là nhiệm mầu tuyệt
đăi, do dó tông chỉ nghĩa lư đều thành, nghĩ
suy có thể hiểu được.
Lại hỏi: - Đại
thừa đă chú trọng nội nhân, thời nay, Luật
sư cho người thọ Bồ-tát giới, vậy có
thể biết nội nhân của họ chơn thật
không? Giả như không chơn thật th́ có gọi là
đắc giới hay không? Nếu không đắc giới,
th́ dầu có phạm thập trọng đi nữa, lại
có thể dùng thập trọng để định tội
kia được sao?
Đáp: - Trong văn Di-lặc bồ-tát yết-ma,
có tŕnh bày rơ vấn đề quán sát đương
cơ. Nếu không biết cái nội nhân kia, sai quấy
tương truyền cho thọ th́ không tránh khỏi cái
tội không hiểu rơ mà làm thầy. Song người thọ
giới kia trong tâm bất thiện, vô kư, tuy không phát khởi
giới nhưng mà đă lạm nhận cái tên Bồ-tát,
tự ḿnh cần phải y theo luật quán xét tội
kia, không đồng với không đắc giới. Rốt
cuộc xếp vào hạng tặc trú vậy.
2) Biện minh chỗ cạn, sâu:
Đây là thuộc
về giáo pháp của vị “lạc” (sữa đông)
trước hết hướng dẫn người phàm
phu vào cơi Thánh. Nếu có thể dùng 5 vị để
dung thông, cũng có thể dùng tứ giáo để giải
thích.
Đối với tất cả cấm
giới, kiên cố chấp tŕ, hằng xa ĺa hệ phược,
tức là pháp của “Tạng giáo”. Nếu đạt
đến tội như bệnh huyễn, giới như
thuốc huyễn, tŕ phạm vốn không, thân tâm thanh tịnh,
tức là pháp của “Thông giáo”. Nếu tin theo trung
đạo, tức dùng giới này, đoạn kiến
tư hoặc, kế đến nhập vào đời làm
việc lợi ích cho chúng sanh, sau ngộ nhập trung
đạo, tức là pháp của “Biệt giáo”. Nếu
gọi giới là pháp giới th́ tất cả pháp đều
hướng về giới, hướng này là trụ nơi
bí tàng của giới. Trong mỗi một giới thấy
rơ Phật tánh, tức 1à pháp của “Viên giáo”.
Lại nữa, đức Như Lai
dùng Tứ tất-đàn, để lập ra giới pháp
này. Tùy thuận thế gian, bảo hộ chúng sanh, khiến
cho họ hoan hỷ, tức “Thế giới tất-đàn”.
Sanh thiện tức là “Vị nhơn tất-đàn”.
Diệt ác tức là “Đối trị tất-đàn”.
Hay khiến cho Chánh pháp cửu trụ, tức là “Đệ
nhất nghĩa tất-đàn”.
Lại nữa, sau khi lănh thọ,
khai hiển th́ giới này chỉ là Nhất thừa,
không thuộc ba giáo trước. Cho nên kinh Pháp hoa nói: “Sau
khi các đức Phật diệt độ, nếu
người nào có tâm thiện thành tựu, hạng người
như vậy đều thành Phật đạo”. Lại
nói rằng: “Việc làm của
các ngươi là đạo của Bồ-tát vậy”.
Lại nữa,
trước khi chưa khai hiển, Tỳ-kheo Đại
thừa cũng phải đồng học. Cho nên trong kinh
Bồ-tát giới bổn nói: “Nếu Bồ-tát đối
với Tạng Ba-la-đề-mộc-xoa của Như
Lai mà kiến lập Tỳ-ni th́ ngăn được tội.
Bồ-tát nên hộ tŕ chúng sanh khiến người
chưa tin th́ tin, tin rồi th́ tăng trưởng đồng
như Thanh văn học. Tại sao vậy? Thanh văn là
tự độ, nhưng cũng không xa ĺa độ tha,
huống chi Bồ-tát độ sanh là đệ nhất”.
Lại nói rằng:
Nếu Bồ-tát thấy như vậy, thuyết như vậy,
và nói: “Bồ-tát không nghe kinh pháp của Thanh văn, không
thọ, không học, nhưng tại sao Bồ-tát dùng
pháp của Thanh văn mà làm”. Như vậy gọi là
phạm, phạm rất nhiều, như vậy là phạm
tội khởi nhiễm ô. Than ôi!
Luật này toàn văn chia làm hai, phần
một giải thích đề mục rồi.
˜¯™
PHẦN HAI CHÁNH VĂN
Chia làm ba:
-Trước
hết nói về tựa của giới.
-
Thứ hai là liệt kê các giới tướng.
-
Thứ ba là khuyến, kết, hồi hướng.
Phần
đầu chia làm bốn:
-
Bài kệ khen ngợi.
-
Hỏi đáp khải bạch.
-
Nói tựa của giới kinh.
-
Kết thúc hỏi.
Mục
một lại chia làm sáu:
-
Quay về với Tam Bảo.
-
Bảo chúng họp để nghe.
-
Thầy tṛ truyền thọ.
-
Dùng dụ khuyên đừng phá giới.
-
Tŕnh bày giới điều đang nói.
-
Khen giới là hơn hết để kết thúc.
A. BÀI KỆ
KHEN NGỢI
I. NAY NÓI VỀ PHẦN QUY KÍNH
Cúi
đầu lễ chư Phật,
Tôn
pháp Tỳ-kheo Tăng.
Trước khi tác pháp, phải lễ
kính Tam bảo, để cầu sự gia bị. Cúi
đầu là thân nghiệp thành kính, khi “thân” thành
kính th́ “miệng” xưng danh hiệu công đức,
“tâm” chỉ có quán tưởng, tức là ba nghiệp
cúng dường.
Phật,
Pháp, Tăng gọi là Tam bảo, đáng tôn trọng.
- Phật
nghĩa là giác. Tự giác, giác tha, giác hạnh viên măn,
cho nên gọi là Phật.
-
Pháp nghĩa là quỹ tŕ, là tự nó có tính chất của
nó, và khi chúng ta tiếp xúc th́ khái niệm về nó
không nhầm cái khác. (Nhậm tŕ tự tánh, quỹ sanh
vật giải), cho nên gọi là Pháp.
- Tỳ-kheo gồm có ba nghĩa:
1)
Khất sĩ: xa ĺa pháp sống tà mạng, với một
chiếc b́nh bát nuôi thân, xả bỏ sự nhơ nhớp
v́ ngu si, ba huệ tự trong sáng.
2) Bố
ma: khi vừa thọ giới Cụ túc, yết-ma thành tựu,
chư thần liền nói lớn rằng: Nơi đây,
lúc này có người con trai (con gái) lành đă thọ giới
Cụ túc, sẽ làm cho chư Thiên mạnh thêm, Tu-la
(A-tu-la) tổn giảm. Như vậy, các thiên thần
đi giữa hư không nghe được, lần lượt
lớn tiếng xướng reo, chỉ trong giây lát, thấu
đến Phạm thiên, ma Ba-tuần hoảng sợ. Cho
nên gọi là ma sợ (Bố ma).
3)
Phá ác: là người tu Bồ-đề phần, đoạn
kiến tư hoặc.
Trong khi tu hành, đầy đủ
ba nghĩa, cho nên trong quả chứng, theo đó
được danh hiệu Ứng cúng, Vô sanh, Sát tặc
cũng gọi là A-la-hán.
Lại nữa, Tỳ-kheo là Trừ
cẩn. Làm ruộng phước cho đời, mở
đại pháp thí, cho nên gọi là Trừ cẩn.
Tăng, gọi đủ là Tăng-già.
Trung Hoa dịch là Ḥa hiệp chúng. Đó là danh xưng dành
cho bốn vị Tỳ-kheo trở lên.
Ḥa hiệp có hai nghĩa:
1) Lư ḥa, là đồng chứng quả
Trạch diệt.
2) Sự ḥa, có 6 nghĩa:
-
Giới ḥa đồng tu.
-
Kiến ḥa đồng giải.
-
Thân ḥa đồng trụ.
-
Lợi ḥa đồng quân.
-
Khẩu ḥa vô tránh.
-
Ư ḥa đồng duyệt.
Lại nữa, luật Thập tụng
nói có 5 loại Tăng:
- Tăng không biết tàm quư, tức
là các Tỳ-kheo phá giới.
- Tăng nhụ dương
[5]
, là các Tỳ-kheo tập hợp ở một chỗ,
không biết Bố-tát, không biết Yết-ma Bố-tát,
không biết thuyết giới, không biết pháp hội.
- Tăng biệt chúng, là các Tỳ-kheo
trong một cương giới, làm các pháp Yết-ma
riêng rẽ.
- Tăng thanh tịnh, là các Tỳ-kheo
phàm phu giữ giới và phàm phu thắng giả (thất
hiền).
- Tăng chơn thật, là các Tỳ-kheo
hữu học và vô học.
Trong đây nói
kính lễ là kính lễ hai hạng Tăng sau. V́ chơn
thật Tăng, có khả năng làm cho Chánh pháp thắng
nghĩa cửu trụ. V́ Tăng thanh tịnh, có khả
năng khiến cho Chánh pháp nơi thế tục cửu
trụ.
Ba hạng
Tăng trước có khả năng làm các Yết-ma phi
pháp, khiến cho Chánh pháp bị phá hoại, cho nên không
phải hạng người để ta lễ lạy.
Lại nữa,
có Trụ tŕ Tam bảo, Nhất thiết Tam bảo. Trụ
tŕ, tức là khi Phật tại thế, đắc đạo
dưới cây thọ vuơng là Phật bảo, pháp Tứ
đế là Pháp bảo, năm vị Tỳ-kheo là Tăng
bảo. Sau khi Phật diệt độ, các tượng
bằng kim loại, bằng gỗ, bằng đất, bằng
giấy có màu sắc là Phật bảo, kinh sách ba tạng
Thánh giáo là Pháp bảo, kẻ cạo đầu nhuộm
áo kế thừa đạo pháp là Tăng Bảo. Ba món
này không chấm dứt ở đời nên gọi là Trụ
tŕ Tam bảo.
Song, tất cả
tượng đồng với chơn thân, kinh điển
hiện có tức là Pháp thân xá-lợi, phàm Tăng hiện
có cũng có thể gánh vác Chánh pháp, làm ruộng phước
cho đời, v́ thế cũng đều nên kính lễ.
Lại nữa,
các đức Phật là chỉ cho tất cả các vị
Đại sư hiện tọa đạo tràng trong mười
phương. Bởi v́ giác thể của vị ấy biến
khắp, tuy ở phương khác, nhưng họ có thể
làm người bạn lành giúp đỡ ở cơi này, tức
chỉ chung cho tất cả đức Thế Tôn tuần
tự xuất hiện trong ba đời. Do giác tánh thường
tại, tuy ở đời quá khứ, vị lai mà có thể
đối với đời hiện tại cũng dũ
ḷng cảm ứng. Pháp và Tăng cũng thế.
Nhất thể là dùng trí huệ thật
tướng biết rơ các pháp không phải không, không phải
có; cũng có cũng không, cả hai đều mất, cả
hai đều chiếu soi. Ba trí viên giác gọi là Phật
bảo. Giác huệ cùng với lư, sự ḥa hiệp gọi
là Tăng bảo.
Lại nữa,
một niệm hiện tiền, vốn đủ Ba đế,
v́ mê không biết, chính đó là Pháp bảo. Dùng cái
trí biết được Ba đế là Phật bảo.
Ba đế, ba trí hiệp nhau đó là Tăng bảo. Phật,
Pháp, Tăng là nêu rơ nghĩa một thể Tam bảo.
Lại nữa,
nói lễ là không ngoài một thể mà có trụ tŕ, cũng
không ĺa tướng trụ tŕ mà có một thể. Nếu
không rơ cái lư một thể mà hành lễ kính, chỉ
được sự thiện, không gọi là chơn lễ.
Bởi v́ lễ là nghĩa của thể. Chưa đạt
được cái thể Ba luân
[6]
là vắng lặng, không phải là nghĩa của thể
vậy.
Nếu ĺa tướng
trụ tŕ mà bàn nhất thể, th́ rơi vào ác thú,
không gọi là đạt lư. Đem lư đặt ra ngoài
sự, chưa biết toàn sự tức là lư, chẳng
phải là nghĩa “một” vậy.
Nói Phật,
Pháp, Tăng chính là nêu lên điều chẳng phải một,
chẳng phải ba, nhưng là ba, là một. Đó là tôn
chỉ sự lư, hành bố viên dung.
II. BẢO
CHÚNG HỌP ĐỂ NGHE
Nay diễn pháp Tỳ-ni
Để Chánh pháp trường tồn.
Giới như biển không bờ
Như báu cầu không chán.
Muốn hộ tài sản Thánh,
Chúng họp nghe tôi tụng.
Muốn trừ Bốn tội khí,
Và diệt tội Tăng tàn,
Ngăn Ba mươi xả đọa,
Chúng họp nghe tôi tụng.
Diễn là rao giảng cùng khắp.
Pháp Tỳ-ni là nghĩa như phần thích danh (giải
tích danh từ) đă nói.
Chánh pháp là
Thánh đạo xuất thế. Chánh pháp ở đời
th́ giáo, hạnh, quả cả ba đều đầy
đủ. Luật này th́ giới thân thành tựu, định,
huệ phát sinh. Đại Sa-môn quả do đây
được, khiến cho Chánh pháp cửu trụ.
Nửa bài kệ
này thuyết minh nghĩa nhiếp chúng sanh.
Như
biển không bờ: Trong Thuyết giới
Kiền-độ nói rằng: Nước biển có tám
pháp đặc biệt, cho nên loài A-tu-la thích ở.
- Tất cả sông ng̣i đều chảy về
nơi đó.
- Thủy triều lên không mất giới hạn.
- Sông lớn nhỏ khi nhập vào bể th́ mất
cái tên cũ của nó.
- Các sông và mưa lớn đều quy về
biển mà không thêm bớt.
- Đồng một vị mặn.
- Không chấp nhận thây chết.
- Sản sinh nhiều trân bảo.
- Những vật có thân h́nh lớn ở nơi
đó.
Trong giáo pháp của Như Lai
cũng có tám kỳ đặc, khiến các đệ tử
một khi gặp được rồi, tự ḿnh vui sống
trong đó:
- Các đệ tử của Ta, lần
lượt học giới, đều quy về pháp của
Ta, ở nơi đó học các pháp lành.
- Các đệ tử của Ta, trụ
ở trong giới, đến chết không phạm.
- Bốn gịng họ bỏ nhà đến
ở với nhau đều xưng là Sa-môn.
- Ở trong pháp Ta, với ḷng tin kiên cố, bỏ
nhà học đạo, vào trong cương giới Niết-bàn,
mà cơi Niết-bàn không thêm không bớt.
- Đồng một vị là giải thoát.
- Phạm giới ác pháp, tuy ngồi trong
chúng, mà thường xa ĺa Tăng chúng. Chúng Tăng
cũng xa ĺa kẻ đó.
- Hiện hữu nhiều Pháp bảo, như Tứ
niệm xứ, cho đến tám Thánh đạo.
- Thọ hưởng thân lớn như Tứ
hướng, Tứ quả.
Lại nữa, khi mới thọ giới,
tức đối với khắp pháp giới được
sắc thái không dâm, không trộm, không sát... Như vậy
cho đến 250 giới, 3.000 oai nghi, 80.000 tế hạnh,
đều thanh tịnh giới sắc, khắp cả pháp
giới.
Lại nữa, từ đó trong mỗi
niệm, nhậm vận thành tựu, giới pháp thiện
sắc, khắp cả pháp giới, không cùng tận. Cho
nên gọi là như biển không bờ vậy.
Như
báu cầu không chán: Báu là vua châu Như
ư. Thứ báu này ở trong mỗi niệm, có khả năng
mưa đầy cơi Diêm-phù-đề, đầy đủ
tất cả sự vui, mà thể của nó trọn không
tổn giảm. Giới cũng như vậy, ở trong mỗi
niệm, sanh tất cả niệm xứ như, Chánh cần,
Như ư, Căn lực, Giác đạo, các pháp, cho đến
Tam thừa và tất cả Thánh quả mà giới thể
không biến đổi.
Hơn nữa, giới này càng học
càng thấy cái tinh ba của nó, càng tu càng được
cái thiện lợi. Cho nên nói rằng như báu cầu
không chán.
Tài sản Thánh lược có 7 chủng
loại: Tín, Giới, Văn, Xả, Huệ, Tàm và Quư.
Nói
rộng có: Lục độ, Vạn hạnh, Thập lực,
Tứ vô sở úy, Bách bát tam-muội, Thập bát bất
cộng pháp v.v... Các pháp tài này do giới mà được
giữ ǵn. Giới như binh giỏi tướng mạnh,
cũng như thành chắc, hào sâu, cũng như hiến
chương, phép tắc, cũng như vua Chuyển luân
có đại thần chủ kho tàng, ǵn giữ biên cương
không để bị xâm lược, đề pḥng kẻ
gian tặc, không để bị cướp trộm, chỉnh
lư một cách an ổn, không cho hủy hoại. Xuất,
nạp, thủ, giữ, khiến được tăng
trưởng. Nghĩa chữ “hộ” là vậy.
Một
bài kệ này thuyết minh nghĩa của nhiếp thiện
pháp. Trừ khí, diệt tàn, ngăn xả đọa,
thuyết minh nghĩa của Nhiếp luật nghi. Khí
v.v... tŕnh bày ở văn sau.
Hỏi:
- Tên gọi của Ba tụ, không cộng với tiểu
giáo, đâu được ước theo nơi đây
mà phán định để giải thích?
Đáp:
- Khi chưa khai hiển th́ có thực mà không có danh, khi
đă khai hiển th́ danh và thực đều có. Ba nghĩa
rơ ràng đâu có chuyện ước theo nơi đây
mà phán định để giải thích.
III. THẦY
TR̉ TRUYỀN THỌ
Tỳ-bà-thi, Thức-khí
Tỳ-xá, Câu-lưu-tôn.
Câu-na-hàm-mâu-ni,
Ca-diếp, Thích-ca-văn
[7]
,
Các Đại đức Thế Tôn,
V́ tôi dạy sự này,
Tôi nay muốn nhắc rơ,
Các Ngài thảy cùng nghe.
Tỳ-bà-thi,
hoặc gọi là Duy-vệ, Hoa dịch Thắng Quán.
Thức-khí, hoặc gọi là Thi-khí, Hoa dịch là Hỏa.
Tỳ-xá-phù, hoặc gọi là Tùy-diếp, hoặc gọi
là Tùy-diếp-la, Hoa dịch là Biến Nhất Thiết Tự
Tại. Ba đức Thế Tôn này xuất hiện ở
nơi cuối kiếp trang nghiêm. Câu-lưu-tôn,
hoặc gọi là Câu-lâu-tần, Hoa dịch là Kim Tịch,
hay dịch là Kim Tiên. Ca-diếp,
hoặc gọi là Ca-diếp-ba, Hoa dịch là Ẩm
Quang. Thích-ca-văn hoặc gọi là Thích-ca Mâu-ni,
Trung Hoa dịch là Năng Nhơn, lại dịch là Năng
Nhơn Tịch Mặc. Bốn đức Như Lai này,
giai đoạn đầu của Hiền kiếp, thứ
tự ra đời.
Sở dĩ chỗ nào cũng nói
đến bảy đức Phật này v́:
- Một là ở trong 100 tiểu kiếp,
người và trời ở cơi Tịnh Cư đă từng
thấy.
- Hai là Bổn sư tu nghiệp hảo
tướng, bắt đầu từ khi đức Phật
Tỳ-bà-thi.
Thế Tôn có 10 hiệu đầy
đủ, chín cơi đều tôn ngưỡng. Đại
đức là nhân tṛn quả đầy, người
đời không thể bằng được.
Tỳ-kheo cũng có thể gọi
chung là Đại đức, bởi v́ có quảng đại
đức hạnh vậy.
“Sự này” là chỉ cho 4 trọng
tội, 13 Tăng tàn, cho đến tùy luật các học
xứ.
“Thiện thuyết” là nói rơ, nói
đúng như pháp, và ḥa hiệp.
“Thảy cùng nghe” là người
mới thọ giới cho đến người 100 hạ
đều tập hợp lại để nghe, từ tựa
của giới cho đến kệ của kinh.
IV. DÙNG
DỤ KHUYÊN ĐỪNG PHÁ GIỚI
Ví như người què chân,
Không thể đi đâu được.
Người phá giới cũng vậy,
Không thể sanh trời, người.
Muốn được sanh lên trời,
Hoặc sanh vào cơi người,
Thường phải giữ chân giới,
Đừng để bị thương tổn.
Như xe vào đường hiểm,
Lo hư chốt găy trục,
Phá giới cũng như vậy
Khi chết ḷng sợ hăi.
Hai bài kệ trước khuyên răn vấn đề
trở ngại sanh vào cơi lành. Một bài kệ sau khuyên
răn vấn đề sau khi chết đọa vào
đường ác. Sanh tử dụ như đường
hiểm.
Giới
pháp dụ như chốt trục của xe. Hủy giới
th́ khi chết tướng của đường ác hiện
ra, như trong đường hiểm hư chốt găy trục.
Trước sau không nhầm lẫn, sợ sệt khủng
khiếp.
Phẩm Hạnh nguyện nói:
Đóng chặt tất cả các cửa của
đường ác, mở toang cửa chính vào cơi nhơn
thiên, Niết-bàn. Công năng của giới thật sự
là như vậy.
Song, trong luật Căn bản nói:
Hoặc an vui nơi thế gian, hoặc cầu về
thiên thượng, cần phải tu phạm hạnh.
Được sanh vào cơi người, trời tạm thọ
khoái lạc, người đó sau khi mạng chung đọa
vào địa ngục, cho nên cần cầu về Niết-bàn
phải tu phạm hạnh. Đừng vui cái vui của nhơn,
thiên để rồi phải chịu khổ.
Luận Nhiếp nói:
Đường hiểm có hai:
- Sanh lên cơi trời.
- Sanh vào đường ác.
Tuy sanh lên cơi trời, thọ các thứ vui đẹp,
sau khi báo hết, lại đọa vào đường
ác. Cho nên cơi trời, người không phải là nơi
cần mong cầu.
Bài kệ thứ hai nói như vậy, lược có
hai nghĩa:
a) Chân giới cần giữ ǵn, không nên phá hủy.
Phá hủy th́ nhơn thiên c̣n không có phần huống
là Niết-bàn.
b) Nhiếp thọ hạng người thấp kém, nói
Niết-bàn th́ sợ mà nói cơi trời người th́
vui. Cho nên trước cần khuyến dụ, sau mới
khiến cho họ vào trí Phật.
Hơn
nữa, căn cứ vào sự để nói, nếu tŕ
giới không bị phá hủy, dầu không có định
huệ, quyết định cũng không mất thọ
thân nơi cơi nhơn thiên.
Lại
nữa, nên biết, dùng cái chân để dụ cho giới
th́ không nơi nào chẳng đến được. Nếu
muốn siêu thoát lên phẩm trên của đài sen, hay muốn
thừa sự mười phương các đức Phật,
hoặc muốn nghiêm tịnh vô biên cơi Phật, hay muốn
nhập vào huyền môn của pháp giới, đâu không
dùng giới này làm phương tiện đầu tiên.
V. TR̀NH
BÀY HỌC XỨ SẼ NÓI
Như người tự soi kiếng
Đẹp xấu sanh vui, buồn.
Thuyết giới cũng như vậy,
Vẹn, hỏng sanh mừng, lo.
Như hai trận xáp chiến,
Gan, nhát có tiến thối.
Thuyết giới cũng như vậy
Tịnh, nhiễm sanh vui, sợ.
Vui buồn thuộc ư, lo sợ hiện
nơi thân hành. Giới được hoàn toàn sạch
th́ bên trong không hổ với ḿnh, bên ngoài không thẹn
với người, cho nên tâm vui là thân an. Giới bị
phá hủy nhơ nhớp th́ bên trong có tỳ vết
đối với ḿnh, bên ngoài bị nhớp nhúa đối
với Tăng, cho nên
ôm ḷng lo sợ chúng vậy.
VI. KHEN
GIỚI LÀ HƠN HẾT ĐỂ KẾT THÚC
Thế gian vua là lớn,
Sông ng̣i bể rộng hơn.
Các sao, trăng sáng nhất,
Các Thánh, Phật trên hết.
Trong tất cả các luật,
Giới kinh là tối thượng.
Như Lai lập cấm giới,
Nửa tháng tụng một lần.
Thọ giới
này gọi là Đại Sa-môn. Chữ “đại” tiếng
Phạn gọi là Ma-ha, gồm có ba nghĩa:
1) Lớn, lớn
hơn hết trong cơi trời, người.
2) Nhiều, có
nhiều phước huệ.
3) Hơn, vượt
hơn các ngoại đạo.
Câu đầu dùng
ngôi vị lớn để khen. Câu thứ hai dùng số
nhiều để khen. Câu thứ ba dùng vấn đề
trội hơn để khen. Câu thứ tư dùng ví dụ
chung để khen.
Nửa bài kệ
dưới, chính dùng pháp để hiệp. Chỉ có Giới
kinh này là hơn, nên thọ Giới này cũng thành hơn
hết.
Tất cả các
Luật, nghĩa là thế gian và ngoại đạo
cũng đều có luật.
Lại nữa, năm giới, tám giới,
mười giới, cũng không bằng giới Tỳ-kheo.
Giới Tỳ-kheo là hơn hết.
Hơn nữa,
thiền giới, vô tận giới, cũng không bằng
Ba-la-đề-mộc-xoa giới. Nó là cương
lĩnh của Phật pháp.
Lại nữa,
Tam tạng 12 bộ cũng chỉ có Giới kinh là hơn
hết. Nếu không kiên tŕ cấm giới, dầu hiện
tiền có thiền định đa trí đi nữa
cũng thành nghiệp của ma. V́ vậy nên luật
Căn bản nói: “Phật dạy ba tạng giáo, pháp Tỳ-nại-da
là đứng đầu”.
Lại nữa,
câu thứ nhất dùng dụ để khen “giáo” của
kinh, chỉ có đức Như Lai tự nói. Câu thứ
hai, dùng dụ để khen “hạnh” của kinh, tất
cả pháp đều hướng về giới. Câu thứ
ba, dùng dụ để khen “lư” của kinh, giới thể
vô tác, mát mẻ như mặt trăng, nhân nơi tŕ phạm
có đầy và khuyết, nhưng sự thật không có
tăng giảm. Câu thứ tư, dùng dụ để
khen “quả” của kinh, không những chỉ thành quả
của Thanh văn mà c̣n thành tựu đạo quả của
Như Lai.
Hỏi: - Vô tác giới thể từ nơi
Thầy mà được. Nếu phạm thiên ban đầu,
tuy hoàn toàn không có tâm che giấu, cũng chỉ cho “dữ
học” mà thôi, không dùng vào việc của Tăng. Nếu
dùng cái thể của mặt trăng dụ cho thể vô
tác, th́ cùng với bản tánh có ǵ phân biệt? Nếu
từ nơi Thầy thọ mà được, gọi là
vô tác, như vậy có thêm bớt ư?
Đáp: - Vô tác là cái thể của
đương thể. Bản tánh thanh tịnh là cái thuộc
sở y. Vô tác thuộc về tu, bản tánh thuộc về
tịnh. Vô tác là sự, bản tánh là lư. Thể của
vô tác là tôn, thể của bản tánh là thể. Song,
tôn cùng với thể không phải một, không phải
hai. Thấu triệt nơi tôn mà ngộ được
thể. Ngu muội nơi thể mà mê luôn cả tôn. Nay
đă dùng mặt trăng để dụ mà khen lư của
kinh, chính là chỉ cái thể của vô tác giới sở
y. Nên biết, được hay mất là do vấn đề
đầy hay khuyết, chứ không thể gọi tánh
có tăng có giảm.
Lại nữa,
từ câu: “Ví như người què chân” cho đến
câu “Giới kinh là tối thượng”,
đầy đủ 4 loại Tất-đàn: Mở
đường cơi trời người, đóng cửa nẻo
thú dữ là “Thế giới tất-đàn”. Hai ví dụ
soi kiếng là “vị nhân” và “đối trị”
hai tất-đàn, tùy theo đó để được
hai món ích lợi sanh thiện, diệt ác. Giới dụ
cho cái hơn hết, tức “Đệ nhất nghĩa
tất-đàn”. Thể của giới này là tịnh
Pháp thân.
Như Lai lập cấm giới: Trong cơi đại thiên, Phật là Pháp chủ. Luật
do Phật chế, và chỉ có Phật chế lập,
ngoài ra các vị dưới chỉ có thể y thừa.
Bởi v́ chỉ có hạnh quả viên măn của đức
Như Lai mới thấu triệt được nghiệp
tánh nhẹ nặng của chúng sanh, c̣n bậc Đẳng
giác trở xuống không thể làm được.
Hỏi: - Khế kinh có thể do 5 hạng người
nói
[8]
. Riêng Tỳ-ni th́ chỉ có đức Phật mới
đủ thẩm quyền nói, cũng giống như vấn
đề lễ nhạc, chinh phạt... chỉ có thiên tử
ra lệnh chư hầu mới ṿng tay cúi đầu nghe
theo. Nay Đại minh luật do thiên tử chế, văn
vơ bá quan đều được xem. Vậy th́, tại
sao Pháp của Tỳ-kheo, chỉ cho Tỳ-kheo học tập,
mà không cho Sa-di, bạch y xem?
Đáp: - Luật chỉ do Phật chế, là để tŕnh bày
cái pháp tôn quư của đạo. Song không phải chỉ
có pháp của Tăng mới gọi là luật, mà năm
giới, mười giới, Bồ-tát giới đều
gọi là luật cả. Những thứ luật đó,
phổ biến cho cả 7 chúng, cũng như đại
luật, ban hành chung cho thiên hạ. C̣n đối với
giới pháp của Tỳ-kheo, cũng như sách bí mật
trong nội phủ, chỉ dành các quan có trọng trách mới
được xem. Chẳng phải thứ dân được
phép dự vào để nghe.
Câu “nửa tháng tụng
một lần” là chỉ cho hai phần của tháng
có trăng và không trăng, tiêu biểu cho hai nghiệp
thiện và ác. Bạch là muốn cho trắng trong, hắc
là muốn cho hết tội.
Lại nữa, bạch là tiêu biểu cho Trí đức,
hắc là tiêu biểu cho Đoạn đức. Trong khi
thuyết giới tự mỗi người xét lấy.
Cho nên luật Thập tụng nói rằng:
Pháp Bố-tát vào nửa tháng, nửa tháng các Tỳ-kheo
ḥa hợp một chỗ, tự cân nhắc lấy ḿnh,
ngày làm tội ǵ, đêm làm tội ǵ, từ ngày thuyết
giới trước đến nay, có làm tội ǵ không?
Nếu có tội phải đến người đồng
tâm, Tỳ-kheo tịnh giới, như pháp sám hối. Nếu
không gặp được Tỳ-kheo tịnh giới, nên
nghĩ, sau này ta gặp, sẽ như pháp sám hối. Nhờ
vậy an trụ trong thiện pháp, xa ĺa pháp bất thiện.
Căn bản tạp sự nói:
Ta bảo các thầy mỗi nửa
tháng, nói Ba-la-đề-mộc-xoa. Nên biết đây là
Đại sư của các thầy, là chỗ nương
tựa của các thầy. Nếu Ta ở đời, không
có khác vậy.
PHỤ:
Phần thứ tư
[9]
nói có 5 pháp gọi là tŕ luật:
1) Biết phạm.
2) Biết không phạm.
3) Biết tội nhẹ
4) Biết tội nặng.
5) Rộng tụng 2 bộ luật.
Lại có 5
pháp, 4 pháp trước như trên, pháp thứ 5 là: trụ
nơi Tỳ-ni, không bị lay động.
Lại có 5
pháp, 4 pháp trước như trên, pháp thứ 5 là: Sự
tranh cải khởi lên có thể diệt trừ.
Người tŕ Luật có 5 công
đức:
1) Giới phần bền vững.
2) Nhiếp phục được oán thù.
3) Ở trong chúng, quyết đoán không sợ sệt.
4) Nếu có nghi hối, có thể khai giải.
5) Khiến Chánh pháp bền vững.
Lại nói rằng có 5 pháp khiến
Chánh pháp mau hoại diệt:
1) Không lắng nghe thọ tụng,
ưa quên nhầm lẫn. Văn không đầy đủ
mà dạy người khác. Văn đă không đủ
nghĩa lư phải khuyết.
2) Là người hơn hết, bậc
Thượng tọa trong Tăng, cả nước tôn trọng,
mà không tŕ giới, chỉ tu các pháp không lành, buông lung
xả bỏ giới hạnh, không siêng năng tinh tấn.
Khiến cho các Tỳ-kheo niên thiếu hậu sanh, bắt
chước cái hạnh đó.
3) Đa văn tŕ pháp, tŕ luật,
tŕ ma-di, mà không dùng những ǵ ḿnh biết để dạy
cho chúng, để rồi ôm nó qua đời.
(Tŕ pháp là biết Tu-đa-la-tạng,
như A-nan... Tŕ Luật là biết tạng Tỳ-ni, như
Ưu-ba-ly... Tŕ-ma-di nghĩa là khéo léo vấn đề
dạy dỗ, đứng đầu về trách nhiệm
huyền cơ, như Ma-ha Ca-diếp...).
[10]
4) Có hạng Tỳ-kheo khó có thể
giáo dục, không nhận lời hay, không thể nhẫn
nhục, các thiện Tỳ-kheo khác liền bỏ không dạy
họ.
5) Ưa đấu tranh, mắng chửi
lẫn nhau, hai bên tranh nhau bằng lời nói, buông lời
ra như gươm như kiếm, tranh căi hơn thua.
Nếu ngược lại 5 điều
trên th́ khiến cho Chánh pháp được lâu bền.
Lại nữa, sau khi Như Lai diệt
độ, nếu Tỳ-kheo không kính Phật, Pháp, Tăng
và giới định th́ Chánh pháp mau tiêu diệt. Hoặc
xuất gia trong pháp luật, không hết ḷng v́ người
nói pháp, không hết ḷng v́ người nghe pháp nhớ
giữ. Dù có kiên tŕ, không hay tư duy nghĩa thú, không
biết nghĩa, cũng không thể tu hành như pháp.
Không tự lợi, cũng không lợi cho ai. V́ nhân duyên
như vậy, khiến Chánh pháp mau tiêu diệt.
Ngược lại những điều
trên, Chánh pháp được lâu bền.
Luật
Ma-ha Tăng kỳ nói:
Nếu có kẻ Thiện nam tử
nào giàu ḷng tin, muốn được 5 việc lợi
ích, nên tận tâm thọ tŕ luật này. Năm điều
lợi ích là:
1) Kiến lập
Phật pháp.
2) Khiến Chánh
pháp lâu bền.
3) Không có nghi hối,
thỉnh vấn người khác.
4) Có các Tỳ-kheo,
Tỳ-kheo-ni phạm tội sợ sệt, làm chỗ nương
tựa an ủi cho họ.
5) Đi du hóa khắp nơi không hề
bị trở ngại.
Tất cả đều phải hết
ḿnh thọ tŕ luật này.
Lại nữa,
ngài Đại Ca-diếp bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Vấn đề phân chia xá-lợi của Thế Tôn
chẳng phải việc làm của chúng ta. Quốc vương,
Trưởng giả, Bà-la-môn, chúng cư sĩ, người
cầu phước tự họ sẽ lo việc phân chia
xá-lợi để cúng dường. Việc của chúng
ta là kiết tập Pháp tạng, đừng để
cho pháp của Phật mau tiêu diệt”.
Luật
Thập tụng nói:
Nếu Tỳ-kheo
nào biết Bố-tát, biết Yết-ma Bố-tát, biết
thuyết Ba-la-đề-mộc-xoa, biết nhóm họp,
th́ nên cung cấp cúng dường cho họ. Tại sao vậy?
V́ khi không có Phật, người này thay thế vậy.
Lại nói, tùy theo các Tỳ-kheo
thanh tịnh không phá hoại Chánh pháp, khi thuyết giới,
gọi là pháp trụ thế.
Lại nói: Tŕ luật có 5 điều
lợi:
1) Biết pháp xuất gia.
2) Biết Yết-ma.
3) Biết oai nghi.
4) Biết y chỉ.
5) Biết trở ngại đạo hay không.
Căn bản ni-đà-na nói:
Có Bỉnh pháp Yết-ma, có như
pháp thi hành th́ gọi là Chánh pháp trụ thế. Không như
vậy, th́ gọi là Chánh pháp hoại diệt.
Phật Bảo
các Tỳ-kheo: “Các thầy nếu dùng ḷng tin, xuất
gia, tinh cầu Niết-bàn, tu tịnh hạnh, các Bí-sô như
vậy mặc y phục đáng giá ức kim tiền,
pḥng xá nghỉ ngơi, giá đáng 500 kim tiền, ăn uống
đầy đủ 100 món mỹ vị, các việc như
vậy Như Lai đều cho phép thọ dụng, các vị
ấy đều kham năng thọ dụng được.
Nếu có Bí-sô
phá hủy trọng giới, ở trong trú xứ của Tăng
cho đến một miếng ăn cũng không tiêu
được. Trong đất Già-lam không có một chỗ
để bước một bàn chân, cho một Tỳ-kheo
phá giới.
Các ông nên biết
người phá giới có 10 điều mất mát tội
lỗi:
1) Tự
biết ḿnh là người ác phá giới.
2) Người
khác cũng biết ḿnh như vậy.
3) Thiên thần
không lui tới giúp đỡ.
4) Bậc đồng phạm hạnh, người
lành biết pháp đều khinh rẻ.
5) Tiếng
vang tội ác nghe khắp bốn phương.
6) Điều
chưa chứng không chứng được.
7) Pháp
đă chứng, thảy đều thối thất.
8) Những
ǵ đă nghe đều bị quên hết.
9) Sau khi mạng chung tâm sanh hối hận v́
không yên tâm, hoang mang lo sợ.
10) Sau khi bỏ mạng
sống này sanh vào địa ngục.
Lại các
Bí-sô, nên biết có 5 loại thọ dụng:
1) Như
chủ thọ dụng, tức là vị A-la-hán, trừ hết
ba độc.
2) Như
thọ dụng của cha mẹ, tức là các học nhơn,
c̣n có các hoặc nghiệp.
3) Được phép thọ dụng, tức là
bậc thuần thiện dị sanh, thanh tịnh giới,
siêng tu thiền tụng, không hề biếng nhác.
4) Thọ dụng như người mắc nợ.
Nghĩa là tuy có pḥng cấm giới mà không siêng tu giác
phẩm thiện pháp.
5) Thọ dụng như kẻ trộm. Nghĩa là đối
với 4 trọng cấm, tùy phạm một tội nào.
Cho nên các thầy nên tu học.
Thiện kiến tỳ-bà-sa nói:
Thiện nam tử hảo tâm xuất
gia, Luật tạng là cha mẹ. Tại sao vậy? Bởi
Luật tạng cho người xuất gia được
giới Cụ túc, dạy học oai nghi, y chỉ nơi
Luật tạng.
Tự thân tŕ
giới có khả năng đoạn nghi hoặc cho
người, nếu vào trong Tăng không có sợ sệt.
Nếu có phạm tội y luật quán xét, khiến cho
Chánh pháp cửu trụ.
Người tŕ giới luật tức
là nguồn gốc của công đức. Nhân nơi cội
gốc cho nên nhiếp lănh các pháp lành.
Bộ
Luật Đại thừa, Tiểu
thừa không khác
[11]
, đều chế Năm thiên, thông tu Bốn đế.
Nếu lễ Bố-tát, đọc kinh Đại thừa
gọi là đại. Không thực hành điều này gọi
là tiểu. Có chỗ nói: Đại thừa không ra ngoài
hai thứ: Trung quán, Du-già.
Trung quán th́ Tục đế có, Chơn
đế không, thể của nó như huyễn.
Du-già th́ bên ngoài không, bên trong có,
mọi việc đều Duy thức. Đây đều
tuân theo Phật chế, phải, quấy đều hợp
với Niết-bàn, đâu có chơn, đâu có ngụy.
Chủ ư là ở chỗ đoạn hết các phiền
năo, tế độ chúng sanh. Đâu phải muốn rộng
để đến nỗi phân vân, lại thêm nhũng
tạp về vấn đề kiết chế. Y theo đó
mà tu hành th́ đủ điều kiện đến bờ
bên kia. Ngược lại đều phải đắm
ch́m nơi bến sanh tử.
Bên Tây Trúc đều song hành, lư
không chống trái… Lại nói: Phao nổi không bị lủng
là bổn tâm của Bồ-tát. Đừng khinh cái lỗi
nhỏ, để rồi lại phải có tiếng kêu cứu
sau cùng. Lư hiệp cả đại lẫn tiểu để
tu, mới thuận theo lời dạy của đức Từ
Tôn.
Ngừa cái lỗi
nhỏ, quán đại không, nhiếp vật, lắng
ḷng, như vậy làm ǵ có lỗi. Chỉ sợ tự
ḿnh mê, rồi lại mê người, theo giáo lư tạm
tŕnh bày ở một khía cạnh đối với pháp
Không rồi tin Luật điển quá ư trống rỗng
(cho là không có) th́ sao thấy được sự phóng
túng, biếng nhác của ḿnh!
Tri môn
cảnh huấn nói:
Luật chế
Tỳ-kheo, năm hạ về trước, chuyên tinh Luật
bộ, nếu đạt được vấn đề
tŕ phạm, biện bạch được việc của
Tỳ-kheo, th́ sau đó mới học tập kinh luận.
Thời nay, vượt
thứ lớp mà học, việc làm đă mất thứ
tự làm sao vào đạo được? Đại Thánh
quở trách, trọn không phải là đệ tử của
Phật vậy.
Vả lại, vừa
mới thấm nhuần giới phẩm, liền cho nghe Thánh
giáo, tham thiền. Nếp sống của Tỳ-kheo không hề
hiểu biết. Huống chi khinh khi giới luật, hủy
báng Tỳ-ni, biếm nhẻ kẻ học luật cho là
Tiểu thừa, nói người tŕ giới là chấp tướng.
Cứ măi buông lung theo trần tục, phóng túng theo thói
ngu ác ham ăn ngon mặc đẹp, tự gọi là thức
thời, hành dâm nộ khí lại xưng là đạt
đạo, chưa hiểu được tôn chỉ của
Thánh, ngộ nhập chơn thừa.
Vả lại, nếu giới đă
khinh, tại sao ông đăng đàn thọ giới? Luật
ắt hủy báng, tại sao lại cạo tóc nhuộm
y? Như vậy, khinh giới tức là tự khinh, hủy
luật lại thành tự hủy. Vọng t́nh dễ
quen, chí đạo khó học. Vấn đề bạt tục
siêu quần, vạn phần không có một. Xin rơ lời
Thánh dạy, sao lại không theo?
Lại nói: Phật pháp - Hai bảo
đều nhờ Tăng hoằng, Tăng bảo tồn
tại là nương vào giới, ngoài giới ra không biết
lấy ǵ để thành lập. Cho nên trong kinh Hoa nghiêm
nói: “Thọ tŕ đầy đủ oai nghi, giáo pháp,
khiến cho ngôi Tam bảo không bị đứt đoạn”.
Qui
Sơn Cảnh Sách nói:
Pháp tịch Tỳ-ni chưa từng
bước đến, liễu nghĩa Thượng thừa
đâu hay phân biệt.
BIỆN MINH:
Hỏi:
- Hạng người ham thịt rượu, hành dâm nộ
khí, không đủ để bàn đến, nếu
như không phạm trọng cấm, căn bản không sứt
mẻ. Từ đây nghe
giáo pháp, tham thiền, chuyên cầu Thượng thừa
lại có lỗi ǵ? Đâu cần phải đợi
đến sự tướng vụn vặt mới hiệp
với lời dạy của Phật? Hạng người
bỏ đại hướng tiểu, không tập học
Phật cùng các giới điều của Phật, vậy
thông ở chỗ nào?
Đáp:
- Nếu là kẻ thượng căn lợi trí có khả
năng đạt được pháp nghĩa th́ Luật
nghi là giáo là thiền, đâu thể coi là sự tướng
vụn vặt mà riêng t́m cầu Thượng thừa. Nếu
là hạng trung và hạ, sự tướng c̣n chưa biết,
làm sao có khả năng xa cầu thiền giáo? “Củi
không thấy mà mong t́m sợi lông tơ”
[12]
là đây vậy.
Kẻ bỏ đại theo tiểu,
ḷng mong cầu tự lợi, không tập học theo Phật,
gọi là kẻ thối mất tâm Bồ-đề;
năm đức của Sa-di c̣n nói: “Chỉ cầu
Đại thừa v́ độ người vậy”, huống
là giới pháp của Tỳ-kheo đâu phải là Tiểu
thừa mà cho là không tập học theo Phật ư?
Phần đầu tŕnh bày về
bài kệ khen ngợi xong.
TRÙNG TRỊ TỲ-NI
SỰ NGHĨA TẬP YẾU
HẾT QUYỂN THỨ NHẤT
[1] Cổ Ngô: là huyện Ngô xưa, nay là thành phố Tô Châu tỉnh Giang Tô.
[2]
Đoạn
này ngài Trí Húc viết gọn lại theo ư riêng (Trùng
trị tỳ-ni sự nghĩa tập yếu 1, tr. 351b01,
Vạn ‘Tục tạng’ 40n719). Trong nguyên
văn có chút sai khác, xem “Xá-lợi-phất vấn kinh”,
tr. 900a15, Đại (Đại Chánh) 24n1465.
[3] Phiên dịch danh nghĩa tập 1, tr. 1064a05, Đại 54n2131.
[4]
Nam hải kư
qui nội pháp truyện 1, tr.205a25, Đại 54n2125.
[5]
Nhụ
dương 羺羊: Kẻ phàm
phu độn căn, không có trí tuệ, như loài dê
câm.
[6]
Ba
luân: người lễ, đối tượng
được lễ, và sự lễ.
[7]
Thích-ca-văn:
tên gọi tắt nhưng không đúng của Thích-ca
Mâu-ni.
[8]
5
hạng người nói: Phật pháp có thể có 5 hạng
người nói được: 1. Từ miệng Phật
nói; 2. Đệ tử của Phật nói; 3. Tiên nhơn nói; 4.
[9]
Tứ
phần luật 59, phần
thứ tư Tỳ-ni tăng nhất (phần
năm
pháp), tr. 1004b17, Đại 22n1428.
[10]
Đoạn
trong ngoặc này nguyên chánh văn Tứ phần luật
không có, ngài Trí Húc phụ chú thêm. Tứ phần luật 59, phần thứ tư Tỳ-ni
tăng nhất, tr. 1006b26, Đại 22n1428.
[11]
Đoạn
này ngài Trí Húc lược bớt (Trùng trị tỳ-ni
sự nghĩa tập yếu 1, tr. 356c28, Vạn 40n719).
Nam hải kư qui nội pháp truyện
1, tr. 205c10, Đại 54n2125: Nguyên văn “Đại tiểu
thừa tạp hành, khảo kỳ trí dă tắc luật
kiểm bất thù 大小乘雜行,考其致也則律撿不殊…”
pháp hành của Đại thừa và tiểu thừa
xen lại, nhưng khảo xét hai bộ
phái đó th́ về luật kiểm chứng không khác…
[12]
Hán:
Tân bất kiến nhi dục sát thu hào薪不見而欲察秋毫. “Thu hào”: Có một loài chim
lông cánh của chúng đến mùa thu mới
mọc, do lông nhỏ và mịn nên gọi là thu hào. Nghĩa
bóng câu này: Việc dễ chưa làm được sao
làm được việc khó.