XLIII. Ngồi trong nhà đang có ăn[1]
A. Duyên khởi
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, tôn giả Ca-lưu-đà-di, khi c̣n ở đời quen thân với người vợ của ông bạn bạch y. Bà ấy tên Trai, có nhan sắc xinh đẹp. Ca-lưu-đà-di cũng có tướng mạo đẹp đẽ. [666b] Khi ấy Ca-lưu-đà-di để ư đến Trai ưu-bà-tư. Trai ưu-bà-tư cũng để ư đến Ca-lưu-đà-di.
Hôm ấy đến giờ khất thực Ca-lưu-đà-di khoác y, bưng bát, đến nhà Trai ưu-bà-tư, an tọa nơi chỗ ngồi. Trong lúc ấy, Trai ưu-bà-tư tắm rửa trang điểm thân h́nh, phu chủ đang lúc hết ḷng yêu kính, nên không hề rời nhau.
Phu chủ hỏi Ca-lưu-đà-di: “Ông cần ǵ?”
Ca-lưu-đà-di trả lời: “Tôi cần thức ăn.”
Người chồng liền bảo vợ đem thức ăn cho. Như lời nói của chồng, bà vợ đem thức ăn trao cho Ca-lưu-đà-di. Ca-lưu-đà-di ăn xong, vẫn ngồi một chỗ không đi. Người chồng hỏi Ca-lưu-đà-di rằng:
“Vừa rồi ông nói cần thức ăn. Đă ăn rồi, sao không đi?”
Khi ấy,Trai ưu-bà-tư ra dấu hiệu khiến Ca-lưu-đà-di đừng đi. Phu chủ của bà nổi giận nói với Ca-lưu-đà-di rằng:
“Tỳ-kheo làm trở ngại việc của ta.[2] Nói cần ăn, cho ăn rồi, sao không đi. Lại muốn làm ǵ đây? Tôi giao nhà cho ông mà đi. Ở lại đó, muốn làm ǵ th́ làm!”
Người chồng giận, nói như vậy, rồi bỏ nhà ra đi.
Vào lúc bấy giờ, có tỳ-kheo khất thực vừa đến nhà đó, nghe như vậy, hiềm trách Ca-lưu-đà-di rằng:
“Tại sao thầy lại ngồi ĺ tại nhà đang có thức ăn[3]?”
Tỳ-kheo khất thực ra khỏi thành Xá-vệ, về đến trong Tăng-già-lam, đem nhân duyên này bạch đầy đủ với các tỳ-kheo. Trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách Ca-lưu-đà-di rằng:
“Tại sao thầy lại ngồi ĺ tại nhà đang có thức ăn?”
Bấy giờ, các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo. Biết mà Ngài vẫn hỏi Ca-lưu-đà-di:
“Thật sự ông có ngồi yên tại nhà đang có thức ăn?”
Ca-lưu-đà-di thưa: “Bạch đức Thế Tôn, có thật như vậy.”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Ca-lưu-đà-di:
“Việc ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Tại sao ông lại ngồi yên nơi nhà cho ăn có của quư?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Ca-lưu-đà-di rồi, bảo các tỳ-kheo:
“Kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
[666c] Tỳ-kheo nào, tại nhà có thức ăn,[4] có vật báu,[5] mà cố nán ngồi,[6] ba-dật-đề.
B. Giới tướng
Tỳ-kheo: nghĩa như trước.
Thức ăn: nam dùng nữ làm thức ăn, nữ dùng nam làm thức ăn, cho nên gọi là thức ăn.
Nhà: như trước đă nói.
Vật báu: xa cừ, mă năo, trân châu, hổ phách, kim ngân.
Nếu tỳ-kheo tại nhà có thức ăn, có vật báu, duỗi cánh tay mà đụng cánh cửa th́ được ngồi.[7] Nếu tỳ-kheo nơi nhà có thức ăn, có vật báu mà cố nán ngồi, ba-dật-đề. Mù mà không điếc, đột-kiết-la. Điếc mà không mù, cũng đột-kiết-la. Đứng mà không ngồi, đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Thức xoa ma ni, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: nếu vào trong nhà ăn có vật báu, ngồi duỗi cánh tay ra đụng cửa; hoặc có hai tỳ-kheo làm bạn; hoặc có người quen; hoặc có người khách ở chỗ đó mà không mù không điếc, không điếc không mù; hoặc đi ngang qua mà không đứng lại; hoặc bất ngờ bệnh phát té xuống đất; hoặc bị thế lực bắt; hoặc bị trói nhốt; hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn; thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
XLIV. Ngồi với người nữ ở chỗ khuất[8]
A. Duyên khởi
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, tôn giả Ca-lưu-đà-di, khi c̣n là người thế tục, có quen thân với người vợ của ông bạn bạch y. Bà ấy tên là Trai, có nhan sắc xinh đẹp. Ca-lưu-đà-di cũng có tướng mạo đẹp đẽ. Ca-lưu-đà-di để ư Trai ưu-bà-tư. Trai ưu-bà-tư cũng để ư Ca-lưu-đà-di.
Đến giờ khất thực, Ca-lưu-đà-di khoác y, bưng bát, đến nhà của Trai ưu-bà-tư, tự nghĩ rằng, “Đức Thế Tôn cấm trong nhà có ăn, có vật báu không được ngồi và được ngồi chỗ nào duỗi cánh tay ra đụng cửa.” Nên ông ngồi phía sau cánh cửa.
Khi Ca-lưu-đà-di cùng với Trai ưu-bà-tư đang nói chuyện, có tỳ-kheo khất thực đến, nghe có tiếng Ca-lưu-đà-di đang nói, mà không thấy Ca-lưu-đà-di ở chỗ nào, bèn hiềm trách Ca-lưu-đà-di:
“Tại sao, trong nhà có ăn [667a1], có của báu mà lại ngồi chỗ khuất khiến cho chúng tôi không biết đang làm ǵ?”
Tỳ-kheo khất thực ra khỏi thành Xá-vệ, trở về đến trong Tăng-già-lam, đem nhân duyên này kể lại cho các tỳ-kheo nghe. Trong số đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách Ca-lưu-đà-di rằng:
“Tại sao, trong nhà có ăn, có vật báu, lại ngồi chỗ khuất?”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo. Biết mà Ngài vẫn hỏi Ca-lưu-đà-di:
“Có thật, trong nhà có ăn, có vật báu, mà ông ngồi chỗ khuất hay không?”
Ca-lưu-đà-di thưa:
“Kính bạch đức Thế Tôn, có đúng như vậy.”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Ca-lưu-đà-di:
“Việc ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Tại sao, trong nhà có ăn, có vật báu, lại ngồi chỗ khuất?”
Quở trách Ca-lưu-đà-di rồi, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
“Kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, trong nhà có ăn, có vật báu mà ngồi nơi khuất,[9] ba-dật-đề.
B. Giới tướng
Tỳ-kheo: nghĩa như trước.
Thức ăn: nữ là thức ăn của nam, nam là thức ăn của nữ.
Vật báu: xa cừ, mă năo, trân châu, hổ phách, kim ngân.
Chỗ khuất: hoặc cây, tường, vách, rào dậu, hoặc y, các vật khác che ngăn.
Tỳ-kheo vào trong nhà có ăn có vật báu, ngồi nơi chỗ khuất, duỗi tay đụng cửa, khiến tỳ-kheo khất thực thấy. Tỳ-kheo nào trong nhà có ăn có vật báu, mà ngồi nơi chỗ khuất, ba-dật-đề. Đui mà không điếc, đột-kiết-la. Điếc mà không đui, đứng mà không ngồi, đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la, đó gọi là phạm.
Sự không phạm: nếu nơi nhà có ăn, có vật báu mà ngồi chỗ duỗi cánh tay đụng cửa, khiến tỳ-kheo khất thực thấy; hoặc có hai tỳ-kheo làm bạn; hoặc có người quen biết gần bên; hoặc cùng một chỗ với người khách mà không đui không điếc; hoặc đi ngang qua chứ không đứng lại; hoặc bất ngờ bị bệnh té xỉu hay bị thế lực bắt; hoặc bị trói nhốt; hoặc mạng nạn; phạm hạnh nạn; thảy đều [667b] không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
XLV. Ngồi một mình với người nữ tại chỗ trống [10]
A. Duyên khởi
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, tôn giả Ca-lưu-đà-di, khi chưa xuất gia, có thân quen với người vợ của ông bạn bạch y. Người đàn bà ấy tên là Trai,[11] có nhan sắc xinh đẹp. Ca-lưu-đà-di cũng có tướng mạo đẹp đẽ. Ca-lưu-đà-di để ư Trai ưu-bà-tư. Trai ưu-bà-tư cũng để ư Ca-lưu-đà-di.[12]
Đă đến giờ khất thực, Ca-lưu-đà-di khoác y, bưng bát, đến nhà của Trai ưu-bà-tư, ngồi chỗ trống cùng nhau nói chuyện. Một tỳ-kheo khất thực đến, thấy Ca-lưu-đà-di cùng Trai ưu-bà-tư ngồi một chỗ nói chuyện, liền hiềm trách Ca-lưu-đà-di: “Sao thầy lại cùng với Trai ưu-bà-tư ngồi tại chỗ trống cùng nhau nói chuyện?”
Tỳ-kheo khất thực xong, về lại trong Tăng-già-lam, đem nhân duyên này kể lại cho các tỳ-kheo nghe. Trong số đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách Ca-lưu-đà-di rằng:
“Sao thầy lại cùng với Trai ưu-bà-tư ngồi tại chỗ trống cùng nhau nói chuyện?”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo. Ngài biết mà vẫn hỏi Ca-lưu-đà-di:
“Thật sự ông có cùng với Trai ưu-bà-tư ngồi một chỗ trống nói chuyện hay không?”
Ca-lưu-đà-di thưa: “Kính bạch đức Thế Tôn, đúng như vậy.”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Ca-lưu-đà-di:
“Việc ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Ca-lưu-đà-di, sao ông lại cùng với Trai ưu-bà-tư ngồi chỗ trống nói chuyện?”
Quở trách Ca-lưu-đà-di rồi, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
“Kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, một ḿnh ngồi với người nữ tại chỗ trống,[13] ba-dật-đề.
B. Giới tướng
Tỳ-kheo: nghĩa như trước.
Người nữ: người có trí, mạng căn không đoạn.
Một ḿnh: một người nữ, một tỳ-kheo.
Chỗ khuất:[14] khuất đối với thấy, khuất đối với nghe.
- Khuất [667c] đối với thấy: do bụi, sương, bóng tối, mà không thấy mặt.
- Khuất đối với nghe: không nghe được tiếng nói b́nh thường.
Tỳ-kheo nào một ḿnh ngồi với người nữ tại chỗ trống, ba-dật-đề. Nếu đui mà không điếc, đột-kiết-la. Điếc mà không đui, đột-kiết-la. Đứng mà không ngồi, đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: có hai tỳ-kheo làm bạn, hoặc có người quen biết gần bên, hoặc có người khách nơi đó mà không đui không điếc, không điếc không đui, hoặc đi ngang qua chứ không đứng lại, hoặc bất ngờ bị bệnh té xuống hay bị thế lực bắt buộc, hoặc bị trói nhốt, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn, th́ không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
XLVI. Đuổi đi không cho thức ăn[15]
A. Duyên khởi
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Bạt-nan-đà Thích tử cùng với các tỳ-kheo khác[16] căi nhau, bắt phải sám hối. Bạt-nan-đà ôm hận trong ḷng. Sau đó, Bạt-nan-đà Thích tử nói với vị tỳ-kheo rằng:
“Thầy đi theo tôi vào trong thôn. Tôi sẽ cho thầy thức ăn.”
Tỳ-kheo kia đồng ư.
Giờ khất thực đến, Bạt-nan-đà khoác y, bưng bát, cùng với tỳ-kheo kia vào thành Xá-vệ. Dẫn đến vùng không có thức ăn. Bạt-nan-đà đi ṿng quanh khắp nơi. Măi đến khi gần quá giữa ngày, Bạt-nan-đà toan tính:
“Nếu tỳ-kheo này ra khỏi thành Xá-vệ, về đến trong Kỳ-hoàn th́ đă quá ngọ.”
Bạt-nan-đà bèn nói với tỳ-kheo kia rằng:
“Chưa từng có người nào đại ác như thầy!”
Tỳ-kheo kia hỏi rằng: “Tôi đă gây ra những tội ǵ?”
Bạt-nan-đà trả lời: “Hôm nay, thầy đă làm cho tôi không nhận được thức ăn. Trưởng lăo hăy đi chỗ khác nhanh lên. Tôi mà ngồi hay nói chuyện với thầy th́ bị bất hạnh. Tôi ngồi một ḿnh, nói chuyện một ḿnh lại an lạc.”
Bạt-nan-đà nói với tỳ-kheo này như vậy rồi, vào chỗ có thức ăn trong thành Xá-vệ nhận ăn. Trong khi tỳ-kheo kia ra khỏi thành Xá-vệ về đến Kỳ-hoàn th́ đă quá giữa ngày, nên không thể ăn được, phải nhịn đói.
Các tỳ-kheo nghe biết. Trong số đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách Bạt-nan-đà Thích tử:
“Sao thầy bảo tỳ-kheo kia cùng đi với thầy vào tụ lạc, thầy sẽ cho thức ăn. Cuối cùng thầy không cho tỳ-kheo kia thức ăn, lại nói rằng, ‘Trưởng lăo hăy đi chỗ khác nhanh lên. Tôi mà ngồi hay nói chuyện với thầy th́ bị bất hạnh. Tôi ngồi một ḿnh, nói chuyện một ḿnh lại an lạc.’ Đuổi tỳ-kheo kia trở lại trong Kỳ-hoàn. Đă quá giữa ngày, [668a1] cuối cùng phải nhịn đói?”
Bấy giờ, các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách Bạt-nan-đà Thích tử:
“Việc ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Sao lại bảo tỳ-kheo kia cùng đi với thầy vào tụ lạc, thầy sẽ cho thức ăn. Cuối cùng thầy không cho thức ăn cho tỳ-kheo kia lại nói rằng, ‘Trưởng lăo hăy đi chỗ khác nhanh lên! Tôi mà ngồi hay nói chuyện với thầy th́ bị bất hạnh. Tôi ngồi một ḿnh, nói chuyện một ḿnh lại an lạc.’ Đuổi tỳ-kheo kia trở lại trong Kỳ-hoàn. Đă quá giữa ngày, cuối cùng phải nhịn đói?”
Bấy giờ, đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Bạt-nan-đà Thích tử rồi, bảo các tỳ-kheo:
“Kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, nói với tỳ-kheo khác như vầy, “Đại đức, hăy cùng tôi vào tụ lạc, tôi sẽ cho Đại đức ăn.” Tỳ-kheo ấy cuối cùng không cho tỳ-kheo kia thức ăn, nói rằng: “Trưởng lăo hăy đi chỗ khác nhanh lên! Tôi mà ngồi hay nói chuyện với thầy th́ bị bất hạnh. Tôi ngồi một ḿnh, nói chuyện một ḿnh lại an lạc.” Chỉ với mục đích ấy chứ không ǵ khác, là cố t́nh đuổi đi, ba-dật-đề.
B. Giới tướng
Tỳ-kheo: nghĩa như trước.
Thôn:[17] có bốn loại như đă nói ở trước.
Thực: thời thực (ăn đúng thời)
Tỳ-kheo kia nói với tỳ-kheo này rằng, “Vào tụ lạc, tôi sẽ cho thầy thức ăn.” Cuối cùng tỳ-kheo kia không cho thức ăn cho tỳ-kheo này, lại nói, “Trưởng lăo hăy đi chỗ khác nhanh lên! Tôi mà ngồi hay nói chuyện với thầy th́ bị bất hạnh. Tôi ngồi một ḿnh, nói chuyện một ḿnh lại an lạc.” Tỳ-kheo kia phương tiện đuổi đi đến chỗ không thấy nghe, phạm ba-dật-đề; đến chỗ không thấy mà nghe, phạm đột-kiết-la; đến chỗ không nghe mà thấy, phạm đột-kiết-la. Phương tiện đuổi đi, tự bỏ chỗ thấy nghe, phạm ba-dật-đề; bỏ chỗ thấy đến chỗ nghe; bỏ chỗ nghe đến chỗ thấy, phạm đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: trao cho thức ăn rồi bảo đi; hoặc bệnh, hoặc không có oai nghi, người thấy không vui nên nói, ‘Thầy đi! Tôi sẽ đưa thức ăn đến trong Tăng-già-lam.’ Hoặc vị kia phá giới, phá kiến, phá oai nghi, hoặc trong chúng cử tội, hay bị tẩn, hoặc đáng bị tẫn, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn, phương tiện bảo đi, không v́ thù hận mà khiến đi, thảy đều không phạm.
[668b]Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
A. Duyên khởi
Một thời, đức Phật ở trong vườn Ni-câu-luật, Ca-duy-la-vệ, tại Thích-suư-sấu.[19] Bấy giờ, Ma-ha-nam gịng họ Thích phát nguyện cung cấp thuốc cho chúng Tăng. Ông cung kính các Thượng tọa, nên cúng dường thứ tốt, dù họ cần hay không cần cũng cúng.
Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo cùng bảo nhau rằng, “Ma-ha-nam Thích tử này, nguyện cung cấp thuốc cho chúng Tăng, cung kính bậc Thượng tọa, cúng dường thứ tốt. Đối với chúng ta, không có ḷng cung kính, nên dùng thứ xấu để cho chúng ta. Khi yêu cầu c̣n không cho; huống chi lúc không yêu cầu.” Rồi bảo nhau: “Chúng ta hăy đến nhà đó yêu cầu thứ khó kiếm, và loại thuốc không thể có.”[20]
Bàn xong họ liền đến nhà của Ma-ha-nam nói rằng:
“Chúng tôi cần thứ thuốc như vậy, như vậy.”
Ma-ha-nam nói: “Nếu trong nhà tôi có th́ sẽ cúng dường. Nếu không, tôi sẽ ra chợ mua để cung cấp.”
Nhóm sáu tỳ-kheo nói rằng:
“Trong nhà ông, không thể có thứ thuốc như vậy, như vậy hay sao?”
Ma-ha-nam nói: “Trong nhà có th́ cúng liền. Nếu không, sẽ ra chợ mua để cúng.”
Khi ấy, nhóm sáu tỳ-kheo lại nói:
“Ông nguyện cúng dường thuốc cho chúng Tăng. Mà ông cung kính bậc Thượng tọa, nên ông cúng thứ tốt. Dù họ cần hay không cần ông cũng cúng. C̣n đối với Hạ tọa, ông không ân cần cung kính, nên cho thứ xấu. Có yêu cầu c̣n không được; huống chi không yêu cầu? Trong nhà ông không có thuốc, tại sao ông lại nguyện cúng thuốc cho chúng Tăng? Ông là người có thiên vị, lại vọng ngữ nữa.”
Ma-ha-nam nói:
“Trước đây, tôi có nguyện cung cấp cho chúng Tăng thuốc mà trong nhà có. Nếu trong nhà không có, sẽ ra chợ mua cho. Tại các thầy lại nói tôi là người thiên vị và lại vọng ngữ, không có ḷng chí thành? Trưởng lăo hăy đi đi! Từ nay trở đi tôi không cung cấp thuốc cho chúng Tăng nữa.”
Lúc ấy, các tỳ-kheo nghe việc này, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo: “Ma-ha-nam Thích tử ưa cung kính, thích bố thí, thường cung cấp thuốc cho chúng Tăng, tại sao các thầy lại mạ nhục, nói ông ấy có thiên vị và vọng ngữ, khiến cho ông không cung cấp thuốc cho chúng Tăng nữa?”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên [668c] đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
“Việc các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Tại sao Ma-ha-nam Thích tử có tín tâm, ưa bố thí, thường cung cấp thuốc cho chúng Tăng, mà các ông mạ nhục, nói ông ấy có thiên vị và vọng ngữ, khiến cho ông ta không cung cấp thuốc cho chúng Tăng nữa?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rồi, bảo các tỳ-kheo:
“Những kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, có nhân duyên được thỉnh cầu cúng dường thuốc bốn tháng[21] th́ có thể nhận, nếu nhận quá, ba-dật-đề.
Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy. Bấy giờ, có các tỳ-kheo bị bệnh có tâm e sợ không dám nhận thuốc quá, nên bạch Phật. Đức Phật dạy: “Từ nay trở đi cho phép các tỳ-kheo bệnh được nhận thuốc quá bốn tháng.”
Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo nào, không bệnh, được nhận thuốc thỉnh cầu cúng dường bốn tháng, nếu nhận quá, ba-dật-đề.
Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy. Bấy giờ, có các cư sĩ thường thỉnh cung cấp thuốc cho các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo có tâm e sợ không dám nhận sự thường thỉnh cung cấp thuốc ấy, bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Từ nay trở đi cho phép các tỳ-kheo nhận sự thường thỉnh cung cấp thuốc.” Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo nào, không bệnh, được nhận thuốc thỉnh cầu cúng dường bốn tháng, nếu nhận quá, ba-dật-đề. Trừ thường thỉnh.
Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy. Bấy giờ, Ma-ha-nam Thích tử lại nghĩ, “Nay, ta không thể v́ một hay hai người mà chấm dứt sự cung cấp thuốc cho chúng Tăng. Nay, ta nên thỉnh chúng Tăng cung cấp thuốc trở lại.” Nghĩ như vậy rồi, Ma-ha-nam liền đến trong Tăng-già-lam thưa với các tỳ-kheo rằng:
“Nguyện xin chư Đại đức Tăng nhận lại sự cung cấp thuốc của tôi.”
Các tỳ-kheo v́ cẩn thận nên sợ, không dám nhận sự cung cấp thuốc trở lại. Bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Từ nay trở đi cho phép các tỳ-kheo nhận thuốc được thỉnh cầu cung cấp trở lại.”
Các tỳ-kheo tính cộng lại những ngày trước.[22] Bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Không nên tính lại những ngày trước. Nên tính kể từ ngày cắt đứt thuốc rồi cho trở lại.”[23] Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo nào, không bệnh, được nhận thuốc thỉnh cầu cúng dường bốn tháng, [669a] nếu nhận quá, ba-dật-đề. Trừ thường thỉnh, thỉnh trở lại.
Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy. Bấy giờ, có các cư sĩ thỉnh tỳ-kheo nhận thuốc chia phần. Các tỳ-kheo v́ sợ nên cẩn thận không dám nhận, bạch Phật, đức Phật dạy:
“Từ nay trở đi cho phép các tỳ-kheo được nhận thuốc chia phần.”
Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo nào, không bệnh, được nhận thuốc thỉnh cầu cúng dường bốn tháng, nếu nhận quá, ba-dật-đề. Trừ thường thỉnh, thỉnh trở lại, thỉnh chia phần.
Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy. Lúc bấy giờ, có các cư sĩ thỉnh tỳ-kheo cung cấp thuốc trọn đời. Các tỳ-kheo v́ sợ nên cẩn thận không dám nhận thuốc trọn đời, bạch Phật, đức Phật dạy:
“Từ nay trở đi cho phép các tỳ-kheo được nhận thuốc trọn đời.”
Từ nay trở đi v́ các tỳ-kheo kết giới như vầy:
Tỳ-kheo nào, không bệnh, được nhận thuốc thỉnh cầu cúng dường bốn tháng, nếu nhận quá, ba-dật-đề. Trừ thường thỉnh, thỉnh trở lại, thỉnh chia phần, thỉnh trọn đời.[24]
B. Giới tướng
Tỳ-kheo: nghĩa như trước.
Bốn tháng: là bốn tháng mùa hạ.
Nhân duyên:[25] nguyện cung cấp thuốc.
Bệnh: thầy thuốc bảo uống thứ thuốc đó.
Thường thỉnh: thí chủ thưa, “Tôi nguyện thường xuyên cúng thuốc.”
Thỉnh trở lại: chấm dứt rồi, thỉnh trở lại.
Thỉnh chia phần: thí chủ đem thuốc đến Tăng-già-lam cúng rồi phân chia.
Thỉnh trọn đời: thí chủ thưa, “Tôi sẽ cúng thuốc trọn đời.”
Thỉnh: có bốn cách. Có giới hạn ngày mà không giới hạn thuốc; có giới hạn thuốc, ngày không có giới hạn; có giới hạn thuốc, ngày cũng có giới hạn; ngày không giới hạn thuốc cũng không giới hạn.
Thế nào gọi là có giới hạn ngày mà không giới hạn thuốc? Thí chủ có quy định thời gian mà không ấn định số thuốc.
Như nói, “Tôi nguyện cúng thuốc với chừng đó ngày.” Đó gọi là thỉnh có giới hạn ngày mà không giới hạn thuốc.
Thế nào gọi là có giới hạn thuốc, không giới hạn ngày? Thí chủ xin cúng một số thuốc, nhưng không giới hạn thời gian. Nói như vầy, “Tôi cúng loại thuốc như vậy.” Đó gọi là thỉnh thuốc có giới hạn mà thời gian không giới hạn.
Thế nào gọi là có giới hạn thuốc, ngày cũng có giới hạn? Thí chủ nguyện cúng một số thuốc trong thời gian đă được ấn định. Nói như vầy, “Tôi hứa cúng thuốc như vậy trong khoảng thời gian như vậy.” Đó là thuốc và thời gian được ấn định.
Thế nào gọi là không giới hạn thuốc, không giới hạn ngày. Thí chủ xin cúng thuốc, chứ không nói số thuốc bao nhiêu và thời gian bao lâu. Nói như vầy, “Tôi xin cúng thuốc cho thầy.” Đó [669b] gọi là thỉnh thuốc và thời gian không hạn định.
Trong bốn cách thỉnh trên, thời gian có hạn định, thuốc không hạn định, và thời gian có hạn định, thuốc có hạn định, tức là thọ thỉnh bốn tháng mùa hạ.
Trong bốn cách thỉnh trên, thuốc có hạn định, thời gian không hạn định. Thời gian không hạn định, thuốc cũng không hạn định, tùy theo thời gian dâng cúng mà nhận. Tỳ-kheo kia không có bệnh, nên nhận sự cung cấp thuốc trong bốn tháng mùa hạ. Nếu nhận quá, trừ thường thỉnh, thỉnh lại, thỉnh phân chia, thỉnh trọn đời, mỗi lần nuốt là phạm một ba-dật-đề. Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: nhận sự cung cấp thuốc trong bốn tháng; có bệnh nên nhận quá; thường thỉnh, thỉnh lại, thỉnh phân chia, thỉnh trọn đời; thảy đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
A. Duyên khởi
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, có một vùng trong nước vua Ba-tư-nặc,[27] người dân phản loạn, nhà vua phải đích thân thống lănh sáu loại quân để chinh phạt.
Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo đến đó xem coi quân trận. Vua Ba-tư-nặc hỏi rằng:
“Chư Tôn có mặt giữa ba quân này muốn làm việc ǵ?”
Lục quần trả lời: “Chúng tôi không có việc ǵ cả. Chỉ đến xem coi mà thôi.”
Vua Ba-tư-nặc nghe nói như vậy ḷng không vui. Nhà vua lại hỏi:
“Các thầy sẽ đi đâu?”
Lục quần nói: “Chúng tôi sẽ đến nước Xá-vệ yết kiến đức Thế Tôn.”
Nhà vua nói: “Nếu quư Đại đức đến nước Xá-vệ, xin nhân danh tôi lễ bái, thăm hỏi đức Thế Tôn, rằng nằm ngồi có khinh an không? Đi đứng được mạnh khỏe chăng? Giáo hóa có nhọc nhằn lắm không? Tôi xin gởi gói mật mía này dâng cúng đức Thế Tôn, và quư Đại đức đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn.”
Lúc Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo liền đến Tịnh xá Kỳ-hoàn ở nước Xá-vệ, kính lễ dưới chân đức Thế Tôn, rồi ngồi qua một bên, nhân danh vua Ba-tư-nặc lễ bái vấn tấn đức Thế Tôn rằng: “Nằm ngồi có khinh an không? Đi đứng được mạnh khỏe chăng? Giáo hóa có nhọc mệt lắm không? Dâng gói mật mía lên đức Thế Tôn, và đem nhân duyên trên bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ.”
Đức Thế Tôn dùng nhân duyên này quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
“Việc các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Các ông thật là người ngu si, sao lại xem coi thế lực quân trận của nhà vua?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rồi, bảo các tỳ-kheo:
“[669c] Những kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, đi xem quân trận, ba-dật-đề.
Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy. Bây giờ, có một vùng trong nước vua Ba-tư-nặc, nhân dân phản loạn, nhà vua sai hai vị đại thần, là anh em với nhau, người anh tên là Lị-sư-đạt-đa, người em tên là Phú-la-na,[28] cầm quân đi chinh phạt. Hai vị đại thần này khát ngưỡng, muốn diện kiến tỳ-kheo nên sai sứ đến thỉnh các đại đức tỳ-kheo đến để hai vị gặp. Các tỳ-kheo v́ có tâm cẩn thận sợ nên bảo, đức Thế Tôn đă chế giới: “Nếu tỳ-kheo nào đi xem quân trận, ba-dật-đề.”
Bấy giờ, các tỳ-kheo đến bạch đức Thế Tôn. Phật bảo:
“Nếu cần có sự cáo bạch hay được mời gọi, th́ cho phép đến.”
Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo nào, đi xem quân trận,[29] ba-dật-đề. Trừ nhân duyên hợp thời.
B. Giới tướng
Tỳ-kheo: nghĩa như trước.
Trận: Hoặc chiến, hoặc đấu.
Quân: hoặc một quân, hai quân, ba quân, bốn quân.
- Một quân: một quân voi, một quân ngựa, một quân xe, một quân bộ. Hoặc toàn là quân ngựa, quân voi, quân bộ, quân xe.
- Hai quân: hai voi, hai ngựa, hai xe, hai bộ, hoặc gồm có voi và ngựa, hoặc voi và xe, hoặc voi và bộ, hoặc ngựa và xe, hoặc ngựa và bộ, hoặc xe và bộ.
- Ba quân: ba voi, ba ngựa, ba xe, ba bộ, hoặc voi, ngựa và xe, hoặc voi, ngựa và bộ, hoặc ngựa, xe và bộ.
- Bốn quân: bốn voi, bốn ngựa, bốn xe, bốn bộ, hoặc voi, ngựa, xe và bộ.
Tỳ-kheo kia đến xem quân trận, từ đường này đến đường kia, từ đường đến chẳng phải đường, từ chẳng phải đường đến đường; từ thấp đến cao, từ cao đến thấp, đến mà thấy th́ phạm ba-dật-đề. Đến mà không thấy, phạm đột-kiết-la.
Nếu phương tiện chuẩn bị, muốn xem mà không đi, tất cả đều phạm đột-kiết-la. Nếu tỳ-kheo đi nơi đường trước, quân trận mới đến sau, tỳ-kheo nên tránh qua bên lề đường, không tránh phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: tỳ-kheo có việc cần đến; hoặc được mời đi; hoặc bị thế lực bắt; hoặc đi phía trước quân trận đến sau, có tránh qua bên lề đường; hoặc đường nước, đường bộ bị đứt đoạn, nạn giặc, nạn ác thú, nước lụt, hoặc bị thế lực [670a1] trói dẫn đi, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn, không tránh bên lề đường th́ không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
XLIX. Ngủ lại trong quân[30]
A. Duyên khởi
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo có nhân duyên đến trong quân trại và ngủ lại. Các cư sĩ thấy, bèn nói với nhau rằng: “Chúng ta v́ ân ái nên ngủ đêm nơi đây. C̣n các sa-môn này, ở lại đây có việc ǵ?”
Các tỳ-kheo nghe việc này, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo, “Đức Thế Tôn chế giới, khi có duyên sự mới đến trong quân trại. Sao các thầy lại ngủ đêm trong quân trại?”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
“Việc các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Nhóm sáu tỳ-kheo, có nhân duyên mới được vào trong quân trại. Các ông không có việc ǵ sao lại ngủ lại trong quân trại?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rồi, bảo các tỳ-kheo: “Những kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, có nhân duyên được phép đến trong quân trại, ngủ lại hai, ba đêm; nếu quá, ba-dật-đề.
B. Giới tướng
Tỳ-kheo: nghĩa như trước.
Tỳ-kheo nào có nhân duyên muốn đến trong quân trại, được phép ngủ lại hai đêm; cho đến đêm thứ ba, khi b́nh minh chưa xuất hiện, nên đi đến chỗ không thấy không nghe. Tỳ-kheo kia ở trong quân trận đủ hai đêm rồi; đến đêm thứ ba, khi b́nh minh chưa xuất hiện, không ĺa khỏi chỗ tai nghe, mắt thấy, lúc b́nh minh xuất hiện, phạm ba-dật-đề. Nếu ĺa khỏi chỗ mắt thấy mà đến chỗ tai nghe, phạm đột-kiết-la. Ĺa chỗ tai nghe, đến chỗ mắt thấy, phạm đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: hai đêm rồi, đến đêm thứ ba, khi b́nh minh chưa xuất hiện, ĺa khỏi chỗ tai nghe, mắt thấy. Hoặc đường thủy, đường bộ bị đứt đoạn; hoặc nạn ác thú, hoặc đạo tặc, nước lụt, hoặc bị thế lực bắt ở lại, hoặc bị trói nhốt, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn; thảy đều được ngủ hai đêm trong quân đội; đến đêm thứ ba, khi b́nh minh[670b] xuất hiện, không ĺa khỏi chỗ thấy nghe, không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách. [31]
L. Xem quân đội chiến đấu[32]
A. Duyên khởi
[671a7] Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo nghe đức Thế Tôn chế giới cho phép tỳ-kheo có nhân duyên được ở trong quân đội hai đến ba đêm. Họ lại ở trong quân đội để xem quân trận chiến đấu, xem voi, ngựa của các bên. Trong nhóm sáu người này có người do xem coi quân trận chiến đấu mà bị tên bắn trúng. Các tỳ-kheo đồng bạn liền dùng y băng bó khiêng về. Các cư sĩ thấy thế, hỏi tỳ-kheo: “Vị này bệnh hoạn ǵ?”
Các tỳ-kheo trả lời:
“Không bệnh hoạn ǵ cả. Vừa rồi đi xem quân trận chiến đấu nên bị trúng tên.”
Bấy giờ, các cư sĩ cùng nhau cơ hiềm: “Chúng tôi v́ ân ái cho nên mới diễn tập quân trận này. Các thầy là người xuất gia, đến trong quân đội có việc ǵ?”
Các tỳ-kheo nghe qua, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo, “Đức Thế Tôn chế giới cho phép các tỳ-kheo có nhân duyên đến trong quân trại, ngủ lại hai đến ba đêm. Các thầy đă ngủ trong quân trại hai, ba đêm rồi. Sao các thầy lại c̣n đi xem quân trận chiến đấu, để phải bị thương?”
Bấy giờ, các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
“Việc các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Nhóm sáu tỳ-kheo, tại sao Thế Tôn chỉ cho phép các tỳ-kheo, có nhân duyên mới được đến trong quân trại ngủ lại hai, ba đêm. Mà các ông ngủ lại trong quân đội hai, ba đêm rồi, lại c̣n đi xem quân trận chiến đấu, để phải bị thương?”
Bấy giờ, đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rồi, bảo các tỳ-kheo:
“Những kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười [671b] cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, ở trong quân trại hai, ba đêm, hoặc khi xem quân đội chiến đấu, hoặc xem thế lực quân bộ, quân voi, quân ngựa,[33] ba-dật-đề.
B. Giới tướng
Tỳ-kheo: nghĩa như trước.
Đấu: chiến đấu giả hay chiến đấu thật.
Quân: từ một binh chủng cho đến bốn binh chủng. Hoặc có quân của vua, quân của giặc, quân của cư sĩ.
Thế lực: sức của voi hạng nhất, sức của ngựa hạng nhất, sức của xe hạng nhất, sức của bộ binh hạng nhất.
Trận:[34] có trận đồ h́nh vuông, có trận đồ h́nh tṛn, có trận đồ h́nh bán nguyệt, có trận đồ h́nh ngói lợp,[35] có trận đồ h́nh giảm tướng,[36] trận của tượng vương, mă vương, nhơn vương.
Tỳ-kheo nào đến xem quân đội chiến đấu, thế lực của voi ngựa. Từ đường này đến đường kia, từ đường đến chẳng phải đường, từ chẳng phải đường đến đường, từ cao xuống thấp, từ thấp lên cao, đến xem mà thấy, phạm ba-dật-đề. Xem mà không thấy, phạm đột-kiết-la. Phương tiện chuẩn bị, muốn đến mà không đến, tất cả đều phạm đột-kiết-la. Nếu tỳ-kheo đi trước trên đường, quân đội đến sau th́ nên tránh, không tránh th́ phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, phạm Ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: có nhân duyên, hoặc có người mời, người thỉnh; hoặc bị thế lực bắt dẫn đi, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn; hoặc đi trước, quân đội đến sau, tránh bên lề đường; hoặc đường bộ, đường thuỷ bị đứt đoạn, đạo tặc, ác thú, nước lụt; hoặc bị cưỡng bức bắt trói, mạng nạn, tịnh hạnh nạn; tất cả không tránh bên lề đường, thảy không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
[1] Ngũ phần: không có. Tăng kỳ, ba-dật-đề 54; Thập tụng, Căn bản: 42. Pāli, Pāc. 43.
[2] Duyên khởi theo Thập tụng và Căn bản: người chồng đang có dục tâm với vợ nhưng bị tỳ-kheo ngồi ĺ gây trở ngại. Chi tiết này giải thích từ hữu thực gia: gia đ́nh đang hưởng thọ dục lạc.
[3] Thực gia 食家; xem giải thích sau.
[4] Thực gia 食家. Thập tụng: hữu thực gia 有食家; giải thích: người nữ là thức ăn của người nam. Căn bản: tri hữu thực gia 知有食家, biết trong nhà nam nữ đang có dục tâm với nhau. Tăng kỳ: biết nhà có ăn, ngồi chỗ hành dâm; giải thích: nam là thức ăn của nữ; nữ là thức ăn của nam. Pāli: sabhojana, giải thích: nhà có nam và nữ; nam nữ đang có dục tâm với nhau (ubho avītarāgā).
[5] Vật báu: các bộ khác không có yếu tố này. Có thể bản Hán hiểu sabhojana (có thức ăn) đồng nghĩa với sabhoga (có tư cụ hay tài bảo).
[6] Hán: cưỡng an tọa. Pāli: anupakkhajja nisajjaṃ, xâm nhập (đột nhập) mà rồi ngồi. Ngũ phần:
[7] Vin. iv. 95 (Pāc. 43): trong nhà lớn, nếu ngồi cách ngạch cửa mà tay có thể vươn đến (hatthapāsaṃ vijahitvā), phạm ba-dật-đề. Trong nhà nhỏ, nếu ngồi chỗ qua khỏi đ̣n dông (piṭṭhivaṃsaṃ atikkamitvā), ba-dật-đề.
[8] Ngũ phần: ba-dật-đề 42; Tăng kỳ: 70; Thập tụng, Căn bản: 42.
[9] Ngũ phần: ngồi với người nữ. Tăng kỳ: ngồi với người nữ độc nhất tại chỗ khuất vắng. Căn bản: ngồi tại chỗ khuất kín. Pāli, Pāc. 44: mātugāmena saddhiṃ raho paṭicchanne āsane nisajjaṃ, ngồi với người nữ tại chỗ vắng khuất được che kín (không có yếu tố thực gia).
[10] Ngũ phần: ba-dật-đề 44; Tăng kỳ, không có. Căn bản, không có. Thập tụng: 29. Pāli, Pāc. 45.
[11] Thập tụng: tỳ-kheo-ni Quật-đa 掘多比丘尼, quen thân cũ.
[12] Cf. điều 33 & 34 trên, và các cht. liên hệ.
[13] Lộ địa, hay lộ xứ. Nhưng trong phần thích từ giải là b́nh xứ, chỗ khuất. Tăng kỳ: tại chỗ trống vắng 空[*]靜處. Pāli: raho, tại chỗ vắng khuất; giải thích: khuất mắt không thấy, khuất tai không nghe.
[14] B́nh xứ 屏處. Nhưng, giới văn: lộ địa 露地.
[15] Ngũ phần: ba-dật-đề 76; Tăng kỳ: ba-dật-đề 44; Thập tụng, Căn bản: ba-dật-đề 51. Pāli Pāc. 42.
[16] Ngũ phần: tỳ-kheo Đạt-ma 達摩比丘.
[17] Thôn 村. Giới văn: tụ lạc 聚落.
[18] Ngũ phần: ba-dật-đề 62; Tăng kỳ, Thập tụng, Căn bản: ba-dật-đề 74. Pāli, Pāc. 47.
[19] Thích-suư-sấu 釋翅搜. Pāli: Sakkesu, giữa những người họ Thích.
[20] Pāli: họ t́m cách làm mất tiếng Mahānāma.
[21] Tứ nguyệt (thỉnh) nhân duyên thỉnh dữ dược 四月(請)因緣請與藥. trong này dư chữ thỉnh đầu. Từ nhân duyên 因緣 tức Pāli paccaya, duyên; đây chỉ một trong bốn duyên hay bốn nhu yếu của tỳ-kheo là thuốc. Ngũ phần: tứ nguyệt tự tứ thỉnh 四月自恣請. Tăng kỳ: tứ nguyệt biệt tự tứ thỉnh 四月別自恣請. Thập tụng: tứ nguyệt tự tứ thỉnh 四月自恣請. Pāli: cātumāsapaccaya-pavāraṇā, được yêu cầu tuỳ ư đối với các nhu yếu trong bốn tháng.
[22] Tính thời gian liên tục, cộng luôn những ngày bị cắt đứt.
[23] Trừ (những) thời gian bị gián đoạn, cộng thời gian trước đó và sau khi nối lại cho đủ bốn tháng.
[24] Căn bản, bốn ngoại trừ: biệt thỉnh, cánh thỉnh, ân cần thỉnh, thường thỉnh. Thập tụng, trừ ba: thường thỉnh, sác sác thỉnh, biệt thỉnh. Ngũ phần, trừ ba: cánh thỉnh, tự tống thỉnh, trường thỉnh. Tăng kỳ, trừ hai: cánh thỉnh và trường thỉnh. Pāli, trừ hai: yêu cầu thêm nữa (punapavāraṇa) và yêu cầu thường xuyên (niccapavāraṇa).
[25] Từ được dùng trong văn kết giới lần đầu. Các lần sau, bản Hán lược bỏ. Pāli: paccaya, duyên; đây chỉ thuốc là một trong bốn duyên của tỳ-kheo.
[26] Ngũ phần: ba-dật-đề 45; Tăng kỳ: ba-dật-đề 55; Thập tụng, Căn bản: ba-dật-đề 45. Pāli, Pāc. 48.
[27] Ba-tư-nặc 波斯匿王. Pāli: Pasenadi, vua nước Kosala.
[28] Lị-sư-đạt-đa và Phú-la-na 利師達多富羅那. Xem ch. iv. ni-tát-kỳ 28.
[29] Ngũ phần: quán quân phát hành 觀軍發行, xem quân đội xuất trận. Pāli: uyyuttaṃ senaṃ dassanāya, xem quân đội xuất chinh; giải thích: hoặc ra khỏi làng (gāmato kikkhamitvā), hoặc đồn trú (niṭṭhitvā), hoặc xuất phát (payātā).
[30] Ngũ phần: ba-dật-đề 46; Tăng kỳ: ba-dật-đề 56; Thập tụng, Căn bản: ba-dật-đề 46. Pāli, Pāc. 49.
[31] Bản Hán, hết quyển 15.
[32] Ngũ phần: ba-dật-đề 47; Tăng kỳ: ba-dật-đề 57; Thập tụng, Căn bản: ba-dật-đề 47; Pāli, Pāc. 50.
[33] Thập tụng: xem dụng binh khí, tù và, cờ xí, hai bên giao chiến. Căn bản: xem chỉnh trang quân đội, cờ xí, bố trận.
[34] Thập tụng 14 (tr.102a04), bốn thế trận: trận h́nh cánh cung, trận h́nh bán nguyệt, trận h́nh mặt trời, trận h́nh mũi nhọn. Căn bản 37 (tr.832c13), bốn thế trận: thế mũi nhọn, thế gọng xe, thế bán nguyệt, thế cánh đại bàng.
[35] Hán: trương chân 張甄.
[36] Hán: giảm tương (tướng?) trận 減相陣, không rơ nghĩa.