XXXVI. Mời người túc thực[1]

A. Duyên khởi

Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ trong nước Xá-vệ có hai anh em đều làm tỳ-kheo. Một người ham thích ăn uống, không biết túc thực hay không túc thực; dư thực hay không dư thực; nhận được thức ăn là ăn. Có vị tỳ-kheo khác nói rằng: “Chưa từng có một người nào như thầy, ham thích ăn uống, không biết túc thực, không túc thực; dư thực, không dư thực; nhận được thức ăn là ăn liền.”

Tỳ-kheo kia nghe câu nói như vậy, ôm ḷng thù hận. Sau đó, một thời gian, thấy vị tỳ-kheo này ăn rồi không làm pháp dư thực liền ân cần mời ăn. Tỳ-kheo này ăn. Tỳ-kheo tham ăn kia nói rằng:

“Chưa từng thấy có thầy nào ham thích thức ăn như thầy, không biết túc thực hay không túc thực; không biết dư thực hay không dư thực; nhận được thức ăn là ăn, không biết nhàm chán, không biết đủ.”

Tỳ-kheo này nói: “Tuy tôi đă ăn nhưng chưa đủ.”

Tỳ-kheo kia nói: “Thầy trước đó đă ăn no đủ rồi.”

Tỳ-kheo này nói: “Thầy đă biết tôi ăn đủ rồi phải không?”

Đáp rằng:

“Vâng, tôi biết.”

Tỳ-kheo này hỏi rằng:

“Thầy biết tôi như vậy mà cố mời tôi ăn phải không?”

Đáp rằng: “Vâng, tôi biết.”


Khi ấy tỳ-kheo này hiềm trách tỳ-kheo kia rằng:

“Tại sao biết tỳ-kheo khác đă ăn đủ rồi mà ân cần mời ăn, muốn cho người khác phạm giới?” Bấy giờ các tỳ-kheo nghe việc này, trong số đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách tỳ-kheo kia: “Tại sao biết người khác đă ăn đủ rồi mà ân cần mời ăn, muốn khiến cho họ phạm tội?”

Lúc bấy giờ các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền dùng nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo. Biết mà Phật vẫn hỏi tỳ-kheo kia rằng:

“Có thật ông biết người kia đă ăn đủ rồi mà ân cần mời ăn, muốn cho người kia phạm giới hay không?”

Vị tỳ-kheo kia thưa: “Kính bạch đức Thế Tôn, có thật như vậy.”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách vị tỳ-kheo kia:

“Việc ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, [662a] làm điều không nên làm. Tại sao biết người khác đă ăn đủ rồi lại ân cần mời ăn, muốn cho họ phạm giới?”

 Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách tỳ-kheo kia rồi bảo các tỳ-kheo: “Kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới nên nói như vầy:

Tỳ-kheo nào, biết tỳ-kheo khác đă ăn đủ, ân cần mời ăn, nói rằng, ‘Trưởng lăo hăy dùng món ăn này!’ chỉ v́ mục đích muốn cho người khác phạm giới chứ không ǵ khác, ba-dật đề.

Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy. Lúc ấy các tỳ-kheo chưa biết đă ăn hay chưa ăn, không biết đă ăn đủ hay chưa ăn đủ, sau đó mới biết là đă ăn đủ, hoặc tác pháp sám ba-dật-đề, hoặc có vị e sợ.

Đức Phật bảo: “Không biết th́ không phạm.”

Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:

Tỳ-kheo nào, biết tỳ-kheo khác đă ăn đủ, hoặc thọ thỉnh,[2] mà ân cần mời ăn, nói rằng, ‘Trưởng lăo hăy dùng món ăn này!’ chỉ v́ mục đích muốn cho người khác phạm giới chứ không ǵ khác, ba-dật đề.

B. Giới tướng

Tỳ-kheo: nghĩa như trước.

Thức ăn: có năm thứ như trước đă giải.

Mời: cũng có năm cách như đă nói trước.[3]

Tỳ-kheo kia biết tỳ-kheo khác đă ăn đủ, không làm pháp dư thực, mà ân cần mời ăn, nói rằng, “Trưởng lăo, hăy dùng món ăn này.” Vị kia nhận ăn, mỗi miếng, cả hai đều phạm ba-dật-đề. Nếu mời ăn, tỳ-kheo được mời không ăn, đem bỏ, th́ người mời phạm đột-kiết-la. Nếu tỳ-kheo mời ăn, người kia nhận mà không ăn, đem cất th́ kẻ mời phạm đột-kiết-la. Nếu tỳ-kheo mời, người kia nhận rồi chuyển cho người khác, th́ người mời phạm đột-kiết-la. Tỳ-kheo không tác pháp dư thực, đem cho người. Người ấy tác pháp dư thực rồi ăn. Người cho phạm đột-kiết-la. Nếu đem thức ăn người bệnh cho, muốn người khác phạm. Người cho phạm đột-kiết-la. Đem thức ăn dư của người bệnh cho người khác, muốn người khác phạm th́ người cho phạm đột-kiết-la. Nếu tác pháp dư thực rồi, đem cho người khác muốn cho người khác phạm, th́ người cho phạm đột-kiết-la.

Ăn đủ tưởng là ăn đủ, ba-dật-đề. Đủ mà nghi, đột-kiết-la. Không ăn đủ tưởng là ăn đủ, đột-kiết-la. Không ăn đủ mà nghi, đột-kiết-la.


Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Không phạm: nếu [662b] trước không biết; hoặc ăn đủ tưởng là không ăn đủ; hoặc cho để bỏ mà ăn; hoặc cho để cất mà ăn; hoặc bảo đem cho người mà lấy ăn; hoặc chưa làm pháp dư thực mà cho; bảo làm pháp dư thực mà ăn; người kia không làm pháp dư thực mà ăn; hoặc đem thức ăn dư của người bệnh mà cho, không khiến cho người khác phạm; tất cả không phạm.

Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.

 

 

XXXVII. Phi thời thực[4]

A. Duyên khởi

Một thời, đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, thành La-duyệt. Bấy giờ nhân dân trong thành La-duyệt làm lễ tiết hội, tổ chức kỹ nhạc.

Khi ấy, hai Thích tử Nan-đà, Bạt-nan-đà đến xem kỹ nhạc. Thích tử Nan-đà, Bạt-nan-đà v́ tướng mạo đoan chánh nên mọi người đều muốn ngắm nh́n. Khi ấy có một người trong đám đông nói:

“Quư vị chỉ ngắm suông sa-môn Thích tử. Sao không cung cấp thức ăn? Phải cúng dường, sau đó mới ngắm!”

Lúc ấy, mọi người đều cho thức ăn. Hai Thích tử Nan-đà, Bạt-nan-đà ăn xong, tiếp tục coi ca nhạc măi cho đến chiều tối mới về đến núi Kỳ-xà-quật. Các tỳ-kheo thấy, hỏi: “Các thầy sao lại đi vào lúc tối mịt thế?” Nan-đà, Bạt-nan-đà đem nhân duyên ấy thuật lại các tỳ-kheo. Cũng trong khi sẩm tối ấy, Ca-lưu-đà-di[5] khoác y, bưng bát vào thành La-duyệt khất thực. Trong lúc trời đang nhá nhem tối, Ca-lưu-đà-di lại đến khất thực nhằm nhà người đàn bà đang mang thai. Người đàn bà ấy mang thức ăn ra cửa ngơ, gặp lúc trời chớp, chợt thấy sắc diện của Ca-lưu-đà-di,[6] hoảng sợ hét to: ‘Quỷ! quỷ!’ Do đó trụy thai. Ca-lưu-đà-di nói rằng:

“Đại muội, tôi chẳng phải là quỷ mà là sa-môn Thích tử.”

Người đàn bà nổi giận nói:

“Sa-môn Thích tử, hăy ḷi ruột ra đi, chứ đừng đi khất thực ban đêm!”

Ca-lưu-đà-di nghe câu nói ấy, trở về đến trong Tăng-già-lam, đem nhân duyên này kể lại cho các tỳ-kheo nghe.

Trong số đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách việc làm Nan-đà, Bạt-nan-đà thích tử, cùng Ca-lưu-đà-di: “Này Nan-đà, Bạt-nan-đà và Ca-lưu-đà-di, sao các thầy lại đi khất thực vào lúc phi thời cùng xem ca nhạc?”

Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền dùng nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện quở trách Nan-đà, Bạt-nan-đà [662c] Thích tử, cùng Ca-lưu-đà-di:

“Việc các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Nan-đà, Bạt Nan-đà, Ca-lưu-đà-di, sao các ông lại khất thực lúc phi thời, cùng xem ca nhạc?”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Nan-đà, Bạt-nan-đà Thích tử, cùng Ca-lưu-đà-di rồi, bảo các tỳ-kheo:

“Từ nay trở đi, không được xem kỹ nhạc. Xem kỹ nhạc phạm đột-kiết-la.

“Từ nay trở đi Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới nên nói như vầy:

Tỳ-kheo nào, nhận thức ăn[7] phi thời và ăn, ba-dật-đề.

B. Giới tướng

Tỳ-kheo: nghĩa như trước.

Thời: từ khi sáng xuất hiện cho đến giữa ngày. Đây là thời giờ đúng pháp để ăn. Bốn châu thiên hạ cũng ăn như vậy.

Phi thời: từ giữa ngày cho đến khi b́nh minh chưa xuất hiện.

Thức ăn: có hai loại: khư-xà-ni và bồ-xà-ni,[8] mỗi thứ có năm loại như trên.

Nếu tỳ-kheo nào nhận được thức ăn phi thời và ăn, mỗi miếng phạm một ba-dật-đề. Nếu phi thời, quá phi thời, ba-dật-đề. Bảy ngày,[9] mà để quá bảy ngày, ba-dật-đề. Thuốc trọn đời,[10] không nhân duyên mà dùng, đột-kiết-la. Phi thời tưởng là phi thời, ba-dật-đề. Phi thời mà nghi, đột-kiết-la. Phi thời tưởng là thời đột-kiết-la. Thời tưởng là phi thời đột-kiết-la. Thời mà nghi, đột-kiết-la.

Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Không phạm: bấy giờ, có tỳ-kheo khất thực thấy người ta làm đường đen,[11] trong đó có chất kế-ni,[12] v́ e sợ nên cẩn thận không dám dùng phi thời. Đức Phật dạy, “Cho phép dùng, không phạm. Phương pháp chế biến phải như vậy.”

Bấy giờ, có tỳ-kheo bệnh uống thuốc xổ. Tỳ-kheo nấu cháo. Thời gian chờ cháo chín quá giờ. Nên nấu lúa mạch, đừng cho nó bể vỏ, lọc lấy nước mà dùng th́ không phạm. Thức ăn trong cổ ói ra, mà nuốt vào không phạm.

Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.

 

 

XXXVIII. Thức ăn cách đêm[13]

A. Duyên khởi

Một thời, đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, tại thành La-duyệt. Bấy giờ, tôn giả Ca-la[14] cũng đang tọa thiền tư duy ở trong đó. Hằng ngày, đến giờ Tôn giả khoác y, bưng bát, vào thành La-duyệt, khất thực.

Bấy giờ, trong thành La-duyệt khất thực dễ dàng, nên Ca-la khởi lên ư nghĩ: “Phiền ǵ hằng ngày ta phải vào thành khất thực cho vất vả. Ta hăy ăn những thức ăn được trước; [663a1] thức ăn đang được th́ mang về.” Sau đó, làm theo như điều suy nghĩ.[15] Tôn giả liền thực hiện theo ư nghĩ ấy.

Bấy giờ các tỳ-kheo không thấy Ca-la vào giờ tiểu thực, và đại thực, nên cùng nhau bàn tán, “Chúng ta không thấy Ca-la vào tiểu thực, và đại thực. Phải chăng thầy ấy đă qua đời, hay đi xa, hoặc thôi tu, hay bị giặc giết, bị ác thú hại, cũng có thể bị nước cuốn trôi lắm!” Sau đó một thời gian lại thấy Ca-la xuất hiện. Các tỳ-kheo hỏi: “Mấy hôm nay thầy đi đâu mà vào giờ tiểu thực, và đại thực không thấy thầy? Chúng tôi tưởng thầy đă qua đời hay đi xa, hay là thôi tu, hoặc bị ác thú hại.”

Bấy giờ, Ca-la đem sự việc trên kể lại cho các tỳ-kheo nghe. Trong số đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách Ca-la: “Sao lại chứa cất thức ăn cách đêm mà ăn?”

Lúc bấy giờ các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền dùng nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo. Biết mà ngài vẫn hỏi Ca-la:

“Thật sự ông có cất thức ăn cách đêm để ăn hay chăng?”

Ca-la thưa: “Thật như vậy.”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Ca-la:

“Việc ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Ca-la, sao ông lại cất đồ ăn cách đêm mà ăn? Ư nghĩ của ông tuy là thiểu dục tri túc, nhưng chúng sanh đời sau sẽ bắt chước làm theo.”

Đức Thế Tôn quở trách Ca-la rồi, bảo các tỳ-kheo:

“Kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới nên nói như vầy:

Tỳ-kheo nào, ăn thức ăn cách đêm,[16] ba-dật-đề.


B. Giới tướng

Tỳ-kheo: nghĩa như trước.

Thức ăn cách đêm:[17] nhận được hôm nay để đến ngày mai. Tất cả sa-môn Thích tử, đă thọ đại giới, mà ăn thức ăn như vậy, đều không thanh tịnh. Thức ăn có hai loại: Thức ăn chánh và thức ăn phi chánh.[18] Thức ăn phi chánh là thức ăn bằng củ, cho đến thức ăn được nghiền vụn. Thức ăn chính là thịt, cá, cơm khô, lương khô và cơm. Tỳ-kheo ăn thức ăn cách đêm, mỗi miếng phạm một ba-dật-đề. Thức ăn phi thời, quá phi thời ăn, ba-dật-đề. Nhận thuốc bảy ngày, quá bảy ngày dùng, ba-dật-đề. Thuốc dùng suốt đời, không có lư do bệnh mà dùng, đột-kiết-la.

Cách đêm khởi ư tưởng cách đêm, ba-dật-đề. Cách đêm mà nghi, đột-kiết-la. Chẳng phải cách đêm mà tưởng là cách đêm, đột-kiết-la. [663b] Chẳng phải cách đêm mà nghi, đột-kiết-la.

Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Không phạm: thức ăn nhận được dư cách đêm, c̣n dư đem cho cha mẹ. Hay cho người làm tháp, người làm pḥng xá, tính giá công bằng thức ăn; sau đó, tỳ-kheo khất thực nơi người làm ấy mà được lại thức ăn. Nơi bát có lỗ nứt, thức ăn nhét vào, khi rửa cạy sợ bể th́ nên cẩn thận như pháp mà rửa, nếu nó không ra th́ không phạm. Nếu ban đêm nhận sữa, dầu, bơ, mỡ dùng để nhểu vào lỗ mũi; nếu khi nhểu vào, sữa, dầu theo nước mũi chảy xuống miệng, nên nhổ ra hết, nếu c̣n dư, không phạm.

Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách. [19]


 

XXXIX. Bỏ vào miệng vật không
được cho
[20]

A. Duyên khởi

Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ trong thành Xá-vệ có một tỳ-kheo[21] nghĩ rằng, “Ta nên thường đi khất thực với chiếc y phấn tảo.”[22] Và vị ấy liền thực hành theo ư nghĩ. Bấy giờ, có các cư sĩ trong thành Xá-vệ, v́ cha mẹ, anh em, chị em, hay chồng vợ, con trai con gái của họ qua đời, làm đồ ăn thức uống thiết lễ cúng tế ở ngă tư đường, hoặc nơi cửa ngơ, hoặc bên bờ sông, dưới gốc cây, hoặc bên ḥn đá, hoặc trong miếu thờ. Bấy giờ, vị tỳ-kheo khất thực kia tự lấy phẩm vật họ cúng đó ăn. Các cư sĩ thấy vậy đều cơ hiềm, “Sa-môn Thích tử không biết hổ thẹn; phạm điều lấy vật không cho. Bên ngoài tự xưng rằng ta tu chánh pháp. Như vậy th́ có chánh pháp ǵ? Chúng ta v́ cha mẹ, anh em, chị em… qua đời, sắm đồ ăn thức uống tế tự cúng dường, mà họ lại lấy ăn. H́nh như chúng ta v́ họ làm đồ ăn thức uống, đặt nơi đó, để cúng dường cho họ vậy! Sự thật, chúng ta v́ cha mẹ, cho đến anh chị em của chúng ta qua đời cho nên mới thiết lập thức ăn này để tế tự, mà họ lại tự ư lấy ăn.”

[663c] Khi ấy, các tỳ-kheo nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách tỳ-kheo khất thực rằng:

“Tỳ-kheo khất thực, sao các cư sĩ trong thành Xá-vệ, v́ cha mẹ, cho đến anh chị em của họ qua đời; họ sửa soạn thức ăn để tế tự cúng dường, mà thầy lại tự tiện lấy ăn?”

Bấy giờ các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện quở trách tỳ-kheo kia: “Việc ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Tỳ-kheo khất thực, sao ông tự tiện lấy thức ăn cúng tế của các cư sĩ trong thành Xá-vệ mà ăn?”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách các tỳ-kheo khất thực kia rồi, bảo các tỳ-kheo: “Tỳ-kheo khất thực ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.” Muốn nói giới nên nói như vầy:

Tỳ-kheo nào, cho vào miệng thức ăn, hoặc thuốc không được trao nhận, ba-dật-đề.

Thế Tôn v́ tỳ-kheo kết giới như vậy. Bấy giờ, các tỳ-kheo đối trong vấn đề ấy có nghi, không dám tự tay lấy tăm xỉa răng và nước uống. Đức Phật bảo: “Tỳ-kheo tự tay lấy tăm xỉa răng và nước uống, không phạm.” Từ nay trở đi, nên nói giới như vầy:

Tỳ-kheo nào, cho vào miệng thức ăn, hoặc thuốc không được trao nhận,[23] trừ nước và tăm xỉa răng,[24] ba-dật-đề.


B. Giới tướng

Tỳ-kheo: nghĩa như trước.

Không được cho:[25] tức là chưa được trao nhận.

Nhận: có năm cách nhận. Tay trao tay mà nhận; hoặc tay trao dùng vật mà nhận; dùng vật trao tay mà nhận; dùng vật trao dùng vật nhận, từ xa dùng vật trao cho người nhận lấy, giữa người trao và người nhận đều biết có khoảng cách không xúc ngại; vật cho được rơi vào trong tay. Đó gọi là năm cách nhận.

Lại có năm cách nhận thức ăn: cho qua thân và nhận qua thân, cho qua y (áo, vải) và nhận qua y; cánh tay này co lại để trao, cánh tay kia co lại để nhận; dùng vật đựng để cho, dùng vật đựng để nhận; hoặc có nhân duyên để dưới đất cho. Đó gọi là năm cách nhận thức ăn.[26]

Thức ăn khư-xà-ni: thức ăn từ rễ, cho đến thức ăn được nghiền nhỏ mịn.

Thức ăn:[27] gồm có cơm, lương khô, cơm khô, thịt và cá.

Thức ăn xà-da-ni: gồm có tô, du, sanh tô, mật, thạch mật.[28]

Tỳ-kheo nào, thức ăn không được trao mà tự tay lấy bỏ vào miệng, trừ nước và tăm xỉa răng, [664a1] mỗi miếng phạm một ba-dật-đề. Phi thời, quá phi thời ăn, ba-dật-đề. Nhận thuốc bảy ngày, quá bảy ngày dùng, ba-dật-đề. Thuốc dùng suốt đời, không có nhân duyên, không được trao cho nhận mà dùng, đột-kiết-la. Không được trao cho nhận, tưởng không được trao cho nhận, ba-dật-đề. Không được trao cho nhận mà nghi, đột-kiết-la. Nhận mà khởi ư tưởng không nhận, đột-kiết-la. Nhận mà có nghi, đột-kiết-la.

Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Sự không phạm: lấy nước và tăm xỉa răng; hoặc sữa, dầu, mỡ không được trao nhận mà nhểu vào mũi; chảy vào miệng rồi nhổ ra hết, c̣n dư,[29] không phạm. Hoặc tỳ-kheo khất thực, chim ngậm thức ăn bay rơi vào bát, hay gió thổi rớt vào bát, muốn trừ bỏ thức ăn ấy, cho đến chỉ bằng một móng tay cũng có thể trừ bỏ, c̣n dư, không phạm.

Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.

 

 

XL. Yêu sách mỹ thực[30]

A. Duyên khởi

Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Bạt-nan-đà Thích tử có một thương chủ là đàn-việt. Đến giờ khất thực, Bạt-nan-đà Thích tử khoác y, bưng bát, đến nơi nhà thương chủ đó, nói như vầy:

“Nay tôi muốn có được thức ăn mỹ diệu.[31]

Thương chủ hỏi:

“Nay, Đại đức có bệnh ǵ mà phải nghĩ đến thức ăn ấy?”

Đáp rằng: “Tôi không có bệnh hoạn ǵ cả. Mà muốn được thức ăn như vậy thôi.”

Thương chủ thưa:

“Chúng con là nhà buôn, buôn bán để sinh sống, c̣n không thể có được thức ăn như vậy, huống là người xuất gia.”

Bấy giờ, có tỳ-kheo khất thực nghe những lời này, hiềm trách Bạt-nan-đà Thích tử:

“Tại sao thầy chỉ v́ tự thân mà cầu xin thức ăn mỹ diệu[32] như thế?”

Khi tỳ-kheo khất thực thọ thực rồi, trở về trong Tăng-già-lam, đem nhân duyên này nói lại cho các tỳ-kheo nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách Bạt-nan-đà Thích tử:

“Tại sao thầy chỉ v́ tự thân mà cầu xin thức ăn mỹ diệu như vậy?”

Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện quở trách Bạt-nan-đà Thích tử:

“Việc ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Bạt-nan-đà, sao chỉ v́ tự thân mà cầu xin thức ăn mỹ diệu như vậy?”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Bạt-nan-đà rồi, [664b] nói với các tỳ-kheo:

“Bạt-nan-đà ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới nên nói như vầy:

Nếu có các thức ăn mỹ diệu như sữa, bơ, cá và thịt, tỳ-kheo nào, với thức ăn ngon như vậy, chỉ v́ tự thân, đ̣i hỏi để được ăn, ba-dật-đề.

Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy. Bấy giờ các tỳ-kheo bệnh nghe vậy, v́ e sợ không dám xin, không dám v́ tỳ-kheo bệnh xin, nhận được không dám ăn.

Đức Phật dạy: “Từ nay trở đi cho phép tỳ-kheo bệnh được xin; người kia v́ tỳ-kheo bệnh được xin. Xin được rồi, cho phép ăn.”

Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:

Nếu có[33] các thức ăn mỹ diệu[34] như sữa, bơ, cá và thịt, tỳ-kheo nào không bệnh, với thức ăn[35] ngon như vậy, chỉ v́ tự thân, đ̣i hỏi để được ăn, ba-dật-đề.

B. Giới tướng

Tỳ-kheo: nghĩa như trước.

Thức ăn mỹ diệu: sữa, bơ, cá và thịt.

Bệnh: cho đến không đủ sức ngồi để ăn xong một bữa.[36]

Tỳ-kheo nào không bệnh, v́ tự thân, xin thức ăn mỹ diệu này mà ăn, mỗi miếng ăn phạm một ba-dật-đề.

Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Sự không phạm: người bệnh tự xin; v́ người bệnh xin; khất thực được mà ăn; hoặc ḿnh v́ người, người v́ ḿnh xin; hoặc không xin mà được, thảy đều không phạm.

Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.


 

XLI. Yêu sách mỹ thực[37]

A. Duyên khởi

Một thời, đức Phật dẫn một ngàn hai trăm năm mươi đệ tử từ nước Câu-tát-la du hành đến nước Xá-vệ. Lúc bấy giờ, có các đàn-việt cúng dường Phật và chúng Tăng rất nhiều bánh. Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Tôn giả A-nan:

“Ông đem bánh này chia cho chúng Tăng.”

Tôn giả vâng lời Phật dạy đem chia. Chia xong c̣n dư. Đức Phật bảo tôn giả đem cho người đi xin. Tôn giả vâng lời dạy của Phật đem cho mỗi người một cái. Trong số người hành khất kia có một người nữ ngoại đạo lơa thể,[38] dung mạo xinh đẹp. Khi tôn giả A-nan phân phối bánh, bánh dính vào nhau tưởng là một, phát cho cô ta. Cô ta hỏi người đứng gần rằng:

“Bà được mấy cái?”

Người kia trả lời:

“Tôi được một cái.”

Trả lời xong bà ấy lại hỏi cô ta:

“Cô được mấy cái?”

Cô ta nói: “Tôi được hai cái.”

Người đàn bà kia liền nói với cô:

“Tỳ-kheo đó [664c] cùng cô tư thông, cho nên cô mới được hai cái.”

Bấy giờ tôn giả A-nan nghe những lời này, trong ḷng ưu sầu. Các tỳ-kheo nghe cũng không vui.

Trong số những người tụ hội kia, có một phạm-chí,[39] nhận thức ăn này xong, lại lên đường đến Câu-tát-la. Trên đường đi gặp một người bà-la-môn chí tín, làm nghề xem tướng, hỏi:

“Ông từ đâu đến?”

Phạm-chí trả lời:

“Tôi từ Xá-vệ đến.”

Bà-la-môn hỏi:

“Sao, trong nước Xá-vệ khất cầu thức ăn dễ dàng lắm không? Có thể c̣n thừa mang theo không?”

Phạm-chí nói: “Có thể xin được.”

Bà-la-môn hỏi:

“Xin nơi ai mà dễ được vậy?”

Phạm-chí trả lời:

“Xin từ cư sĩ trọc đầu.”

Người bà-la-môn lại hỏi:

“Cư sĩ trọc đầu là ai?”

Phạm-chí nói:

“Chính là sa-môn Cù-đàm.”

Người bà-la-môn bất b́nh nói:

“Ông là người ǵ mà ăn của người ta lại nói lời ác như vậy?”

Người bà-la-môn kia đến trong Tăng-già-lam, đem sự việc đă nghe kể lại cho các tỳ-kheo.

Các tỳ-kheo đem hai nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ.

Đức Thế Tôn v́ nhân duyên trên tập hợp Tăng tỳ-kheo bảo rằng:

“Từ nay trở đi Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới nên nói như vầy:

Tỳ-kheo nào, cho thức ăn đến lơa h́nh ngoại đạo nam hoặc nữ, ba-dật-đề.

Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy. Các ngoại đạo đều có lời oán trách: “Một người, hai người ngoại đạo có lỗi, chớ chúng tôi đâu có tội ǵ mà không cho thức ăn?”

Các tỳ-kheo bạch Phật. Phật dạy:

“Từ nay trở đi, các tỳ-kheo nào muốn cho thức ăn, nên để dưới đất mà cho, hoặc sai người cho.”

Từ nay trở đi nên nói giới như vầy.

Tỳ-kheo nào, tự tay cho thức ăn đến lơa h́nh ngoại đạo nam hoặc nữ,[40] ba-dật-đề.

B. Giới tướng

Tỳ-kheo: nghĩa như trước.

Ngoại đạo: chỉ cho người lơa h́nh dị học.[41]

Ba-tư-ba-la-xà:[42] là người xuất gia trong chúng ngoại đạo ấy.

Thức ăn khư-xà-ni: thức ăn bằng rễ củ, cho đến thức ăn bằng quả, thức ăn bằng dầu cho đến thức ăn được nghiền nát.

Thức ăn:[43] cơm, lương khô, cơm khô, cá và thịt.

Nếu tỳ-kheo tự tay cho thức ăn đến lơa h́nh, nam nữ ngoại đạo, ba-dật-đề. Nếu cho mà họ nhận phạm ba-dật-đề; họ không nhận phạm đột-kiết-la. Phương tiện muốn cho mà không cho, hối hận, tất cả đều phạm đột-kiết-la.

Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Sự không phạm: nếu để dưới đất mà cho; hoặc sai người cho; hoặc biếu cho cha mẹ; [665a1] cho thợ làm tháp, người thợ làm pḥng, tính theo giá trị mà trả công; hoặc bị thế lực cưỡng bức th́ không phạm.

Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.

 

 

XLII. Trước sau bữa ăn đi đến nhà khác không báo[44]

A. Duyên khởi

Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, trong thành Xá-vệ có một trưởng giả hào tộc là bạn thân hữu trước kia của Bạt-nan-đà Thích tử, nghĩ rằng: “Nếu Bạt-nan-đà Thích tử đến thành này, ta sẽ v́ Bạt-nan-đà thiết trai cúng dường chúng Tăng.”

Sau đó, Bạt-nan-đà Thích tử vào đến thành. Trưởng giả biết, liền sai người đến trong Tăng-già-lam mời các tỳ-kheo sáng ngày mai thọ thực.

Trong đêm ấy, trưởng giả sửa soạn đầy đủ các đồ ăn thức uống ngon bổ, sáng ngày đến báo đă đến giờ. Các tỳ-kheo khoác y, bưng bát, đến nhà ông trưởng giả an tọa nơi chỗ ngồi. Các tỳ-kheo bảo ông trưởng giả rằng: “Chúng Tăng đă tập họp rồi. Đồ ăn thức uống nếu đă sửa soạn xong, hăy dọn ra.”

Ông trưởng giả thưa: “Xin chư tôn chờ một lát. Đợi Thích tử Bạt-nan-đà đến.”

Các tỳ-kheo bảo: “Chúng Tăng đă tập họp rồi. Đồ ăn thức uống nếu đă sửa soạn xong, th́ cứ dọn ra. Sao lại phải đợi? Mặt trời gần xế rồi. E rằng các tỳ-kheo thọ thực không kịp no.”

Khi ấy, ông trưởng giả thưa với các tỳ-kheo:

“Trước đây, tôi có lời nguyện, nếu Thích tử Bạt-nan-đà đến thành này, tôi sẽ v́ Bạt-nan-đà Thích tử thiết cơm cúng dường chúng tăng. Vậy xin chư tôn chờ một chút, đợi Bạt-nan-đà.”

Hôm ấy, Bạt-nan-đà vào giờ tiểu thực lại đến nhà khác, măi gần giữa ngày mới lại. Khi ấy, các tỳ-kheo thấy gần quá giữa ngày, tuy được ăn uống nhưng không được no lắm.

Trong số các tỳ-kheo có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách Bạt-nan-đà Thích tử:

“Bạt-nan-đà Thích tử, sao giờ tiểu thực thầy lại đến nhà khác, gần giữa trưa mới đến, khiến cho các tỳ-kheo thọ thực không được đầy đủ?”

Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện quở trách Bạt-nan-đà Thích tử:

“Việc ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, [665b] làm điều không nên làm. Bạt-nan-đà Thích tử, tại sao giờ tiểu thực, ông lại đến các nhà khác, gần quá giữa ngày mới đến, khiến cho các tỳ-kheo thọ thực không được đầy đủ?”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Bạt-nan-đà rồi, bảo các tỳ-kheo:

“Kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới nên nói như vầy:

Tỳ-kheo nào, trước đă nhận lời mời, vào giờ tiểu thực[45] lại đến nhà khác, ba-dật-đề.

Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy. Khi ấy, trong thành La-duyệt có một đại thần là bạn thân quen trước kia của Thích tử Bạt-nan-đà. Một hôm vị đại thần kia có được một số quả ngọt,[46] liền sai một người và dặn rằng:

“Bạt-nan-đà Thích tử là bạn thân quen trước kia của ta. Ngươi mang quả này đến trong Tăng-già-lam cho ông ấy rồi nói rơ rằng, ‘Tôi với ông là bạn cũ. Nhờ ông mang số quả này phân chia trong chúng Tăng.’”

Người sứ kia vâng lời, mang cam đến trong Tăng-già-lam, thưa với các tỳ-kheo:

“Thưa chư Đại đức, đây là trái cây mới, cho Tăng.”

Các tỳ-kheo bảo:

“Nếu cúng cho chúng Tăng th́ nên chia liền đi.”

Người kia thưa:

“Vị Đại thần trong thành La-duyệt sai tôi rằng, ‘Ngươi mang số quả này đến trong Tăng-già-lam nhờ Thích tử Bạt-nan-đà chia cho Tăng.’ Bây giờ, cần phải chờ Thích tử Bạt-nan-đà đến rồi sẽ chia cho Tăng.”

Bấy giờ, Bạt-nan-đà sau bữa ăn đă đến nhà khác rồi. Khi trở về th́ đă quá giờ, khiến chúng Tăng không dùng được số quả tươi ấy.

Các tỳ-kheo nghe biết, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách Bạt-nan-đà: “Tại sao sau bữa ăn, lại đến nhà khác, quá giờ mới trở lại, khiến cho các tỳ-kheo dùng không được số quả mới như vậy?”

Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách Bạt-nan-đà Thích tử:

“Việc ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Thích tử Bạt-nan-đà, tại sao sau khi ăn xong, ông lại đến nhà khác, quá giờ mới trở lại, khiến cho các tỳ-kheo dùng không được số quả mới?”

Thế Tôn sau khi bằng vô số phương tiện quở trách rồi, nói với các tỳ kheo: Từ nay trở đi, nên nói giới như vầy:

[665c]Tỳ-kheo nào, trước đă nhận lời mời, trước bữa ăn hay sau bữa ăn lại đến nhà khác, ba-dật-đề.

Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy. Bấy giờ, trong thành La-duyệt có nhiều chỗ thỉnh Tăng, nhưng các tỳ-kheo e sợ, không dám nhận lời thỉnh vào thành. Bạch Phật. Phật dạy:

“Từ nay trở đi cho phép các tỳ-kheo báo cho nhau để vào thành.”

Tỳ-kheo không biết nên báo cho ai. Phật dạy: “Nên báo cho tỳ-kheo. Nếu ở một ḿnh trong pḥng th́ báo cho vị tỳ-kheo pḥng gần.”

Từ nay trở đi, nên nói giới như vầy:

Tỳ-kheo nào, trước đă nhận lời mời, trước bữa ăn hay sau bữa ăn lại đến nhà khác mà không báo, ba-dật-đề.

Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy. Bấy giờ, có tỳ-kheo bệnh, trước đó bảo nhà đàn-việt nấu canh, nấu cháo, nấu cơm; vị ấy e sợ, không dám vào thành, ngại phạm sau bữa ăn mà đến nhà khác. Bạch Phật, Phật dạy:

“Cho phép tỳ-kheo bệnh, không báo, được vào thành.”

Từ nay, nên nói giới như vầy:

Tỳ-kheo nào, trước đă nhận lời mời, trước bữa ăn hay sau bữa ăn lại đến nhà khác mà không báo cho tỳ-kheo khác, trừ trường hợp đặc biệt, ba-dật-đề. Trường hợp đặc biệt là khi bệnh.

Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy. Bấy giờ, thời gian may y đă đến. Các tỳ-kheo cần những thứ như nồi lớn, nồi nhỏ, b́nh, th́a, bát, búa, chén, chậu, bát nhỏ, ấm, dây phơi, đồ treo y, y-ni-diên-đà,[47] vải lông. Các tỳ-kheo v́ e sợ, nên không dám vào thành, ngại phạm không báo mà vào thôn. Đức Phật dạy:

“Từ nay trở đi cho phép các tỳ-kheo khi may y, không báo được vào thành.”

Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:

Tỳ-kheo nào, trước đă nhận lời mời, trước bữa ăn hay sau bữa ăn lại đến nhà khác mà không báo cho tỳ-kheo khác, trừ trường hợp đặc biệt, ba-dật-đề. Trường hợp đặc biệt là khi bệnh, thời gian may y.

Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy. Bấy giờ, thời gian thí y đă đến. Hoặc có chỗ đă được thí y, có chỗ đang t́m cầu. Các tỳ-kheo kia e sợ không dám vào thành, lo ngại phạm không báo mà vào thành. Đức Phật dạy:

“Từ nay trở đi, thời gian thí y cho phép các tỳ-kheo không báo vẫn được phép vào thành.”

Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:

Tỳ-kheo nào, trước đă nhận lời mời, trước bữa ăn hay sau bữa ăn lại đến nhà khác [666a1] mà không báo cho tỳ-kheo khác,[48] trừ trường hợp đặc biệt, ba-dật-đề. Trường hợp đặc biệt là khi bệnh, thời gian may y, thời gian thí y. Đó là những trường hợp đặc biệt.

B. Giới tướng

Tỳ-kheo: nghĩa như trước.

Trước bữa ăn: từ b́nh minh xuất hiện, đến khi ăn.

Sau bữa ăn: từ khi ăn cho đến giữa ngày.[49]

Nhà: nơi có nam nữ cư trú.

Các Tỳ-kheo khác: những người sống chung đồng trong một cương giới.

Bệnh: như trên đă nói.

Thời gian may y: sau tự tứ, không thọ y ca-thi-na th́ một tháng, có thọ y ca-thi-na th́ năm tháng, cho đến trên y may như dấu răng con ngựa cũng vậy.

Thời gian thí y: sau tự tứ, không thọ y ca-thi-na một tháng, có thọ y ca-thi-na th́ năm tháng.

Ngoài ra những khi khuyến hóa cúng thức ăn kể cả thí y, cũng thuộc về thời gian thí y.

Nếu tỳ-kheo nào báo đến thôn mà giữa đường trở lại, thời lời báo trước không c̣n giá trị; nếu muốn đi nữa, th́ phải báo trở lại. Nếu tỳ-kheo nào báo đến trong thôn mà không đến chỗ đă báo đó, lại đến nhà khác, th́ lời báo trước không c̣n giá trị; nếu muốn đến đó th́ phải báo trở lại mới được đi.

Nếu báo đến nhà bạch y mà lại đến nơi nhà kho và tụ lạc hay pḥng biên;[50] hoặc đến Tăng-già-lam của tỳ-kheo-ni hay đến nhà bạch y rồi về liền cũng mất đi lời báo trước; phải báo trở lại mới được đi. Nếu tỳ-kheo đă nhận lời mời rồi trước bữa ăn hay sau bữa ăn đến nhà khác, mà không báo cho tỳ-kheo để vào thôn, trừ trường hợp đặc biệt, ba-dật-đề. Một chân trong cửa, một chân ngoài cửa, phương tiện trang nghiêm, muốn đi mà không đi, tất cả đều phạm đột-kiết-la.

Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Sự không phạm: khi bệnh, thời gian may y, thời gian thí y, đă báo cho tỳ-kheo khác; hoặc không có tỳ-kheo, không báo;[51] đến nơi nhà kho, tụ lạc, pḥng biên; hoặc đến Tăng-già-lam của tỳ-kheo, đến dặn nhà bạch y được dặn báo; hoặc nơi nhiều nhà, trải tọa cụ, thỉnh tỳ-kheo; hoặc bị thế lực ép buộc; hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn, th́ không phạm.

Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.

 



[1] Ngũ phần, ba-dật-đề 36; Tăng kỳ, ba-dật-đề 34; Thập tụng, Căn bản, ba-dật-đề 35. Pāli, Pāc, 36.

[2] Xem cht.ch ba-dật-đề 35.

[3] Thỉnh . Các bản khác: thuyết thỉnh. Giải thích từ “thọ thỉnh” trong giới văn, nhưng đoạn trên không có giải thích. Chính xác, đây giải ư nghĩa “túc thực” (Pāli: pavārita) mà bản Hán hiểu là “thọ thỉnh (được yêu cầu).” Xem cht.ch ba-dật-đề 35 trước.

[4] Ngũ phần 8, ba-dật-đề 38; Tăng kỳ, ba-dật-đề 36; Thập tụng, Căn bản, ba-dật-đề 37. Pāli, Pāc. 37.

[5] Ca-lưu-đà-di 迦留陀夷. Cf. M.i. 437 (Bhaddālisutta): chuyện tôn giả Bhaddāli. Xem Trung A-hàm 51, kinh 194 Bạt-đà-ḥa-lợi, T1, tr.746.

[6] Pāli, Kāḷudāyi (Skt. Kālodāyin): Kāḷa + Udāyī, nghĩa là, Udāyi đen, v́ nước da ông ngăm đen.

[7] Pāli: thức ăn loại cứng (khādānīya) và loại mềm (bhojanīya).

[8] Xem các đoạn trên, và cht. liên hệ.

[9] Loại thức ăn (xem là thuốc) được phép để dùng trong thời hạn bảy ngày.

[10] Thuốc (thức ăn) cất dùng không kể thời hạn.

[11] Hắc thạch mật 黑石蜜, loại đường cát chưa tinh luyện.

[12] Pāli: kiṇṇa, chất gây men.

[13] Ngũ phần, ba-dật-đề 39; Tăng kỳ, ba-dật-đề 37 (chung với phi thời thực); Thập tụng, Căn bản, ba-dật-đề 38. Pāli, Pāc. 38.

[14] Ca-la 迦羅. Thập tụng 13, tỳ-kheo Thượng Thắng 上勝. Căn bản 36, Cụ thọ Ca-la 具壽哥羅. Pāli: Belaṭṭhasīsa, Hoà thượng của A-nan (ānandassa upajjhāyo).

[15] Văn Hán đoạn này hơi tối. Cf. Căn bản 36 (tr.824c24): Nếu khất thực được thức ăn ướt, lấy bát mà nhận rồi ăn ngay. Nếu là thức ăn khô, lấy khăn gói lại mang về cất. Hôm nào trời mưa không đi khất thực được, lấy ra ăn. Cf. Pāli, Vin. iv. 86: Belaṭṭha để dành cơm, phơi khô. Khi cần ăn, mang ra rưới nước vào rồi ăn.

[16] Tàn túc thực 殘宿食. Tăng kỳ: đ́nh thực 停食, thức ăn để dành. Căn bản 36: tăng xúc thực 曾觸食. Pāli: sannidhikāraṃ khādānīyaṃ vā bhojanīyaṃ vā khādeyya vā bhuñjeyya vā, ăn các thức ăn được tích trữ.

[17] Hán: túc thực 宿食, trong giới văn: tàn túc thực 殘宿食. Pāli: sannidhikarānaṃ khādanīyaṃ vā bhojanīyaṃ vā, tích trữ các loại thức ăn cứng và mềm.

[18] Chánh thực và phi chánh thực 正食非正食; tức bồ-xà-ni (loại mềm) và khư-đà-ni (loại cứng). Xem giải thích các đoạn trên.

[19] Bản Hán, hết quyển 14.

[20] Ngũ phần 7, ba-dật-đề 37; Tăng kỳ 16, ba-dật-đề 35; Thập tụng 13, Căn bản 36, ba-dật-đề 38. Pāli, Pāc.40 dantapona.

[21] Ngũ Phần 7 (tr.53a20): Đại Ca-diếp lượm và ăn đồ ăn người ta bỏ đống rác; bị chê là ăn đồ dơ. Tăng kỳ 16 (tr.357a05): A-na-luật sống hoàn toàn bằng phấn tảo: lượm giẻ rách làm y, nhặt cơm  từ đống rác mà ăn; bị chỉ trích tranh ăn với chim chóc. Thập tụng 13 (tr.95c25): tỳ-kheo Ma-ha Ca-la; Căn bản 36 (tr.825a27), cụ thọ Ca-la; nhân duyên tương tợ như các bộ, chỉ khác nhân vật. Pāli, Vin. iv. 89: aññataro bhikkhu sabbapaṃsukūliko susāne viharati, một tỳ-kheo nọ, là vị tŕ phấn tảo toàn diện, sống trong khu mộ.

[22] Pāli: adinnaṃ... āhāraṃ, thức ăn không được người khác trao cho.

[23] Bất thọ 不受. Trong giải thích, nói là bất dữ 不與. Thập tụng: bất thọ 不受, không nhận từ người khác. Tăng kỳ: bất dữ thủ 不與取. Pāli: adinna, (vật) không được cho; giải thích: appaṭiggahitakaṃ, (vật) chưa được nhận lấy, hay chưa được tiếp nhận.

[24] Ngũ phần thêm: “trừ thức nếm (thường thực 嘗食).” Căn bản: “bỏ vào miệng rồi nhai, nuốt.” Pāli: aññatra udakadantapoṇā, bản Anh hiểu là “nước súc miệng.”

[25] Bất dữ 不與. Trong giới văn nói bất thọ 不受. Pāli: adinnaṃ. Xem cht. trên.

[26] Cf. Ngũ phần7 (tr.53c20) có bốn cách nhận. Trao và nhận bằng thân với thân; trao và nhận qua một vật; trao và nhận qua tay với tay; bảo cầm lấy mà nhận.

[27] Chỉ chánh thực hay bồ-xà-ni.

[28] Tô, du, sanh tô, mật, thạch mật

[29] V́ không thể nhổ sạch hoàn toàn.

[30] Ngũ phần 8, ba-dật-đề 41; Tăng kỳ 16, ba-dật-đề 39. Thập tụng 13, Căn bản 36: ba-dật-đề 40. Pāli, Pāc. 39.

[31] Tạp thực 雜食. Giới văn nói là mỹ thực 美食. Xem giải thích sau.

[32] Trong bản: mỹ thực. Trên, nói là tạp thực. Pāli: paṇītabhojāni, thức ăn mỹ vị.

[33] Trong bản: đắc . Thập tụng: “…có trong nhà bạch y.” Ngũ phần: “… có trong các gia đ́nh.” Pāli: yāni …tāni, liên hệ đại từ: những ǵ là (thức ăn mỹ diệu)…V́ Hán không có yếu tố ngữ pháp tương đương nên các bản dịch đều tỏ ra lúng túng.

[34] Căn bản. “loại ẩm thực mà Thế tôn nói là mỹ diệu.” Pāli: pāṇitabhojanāni, liệt kê: sappi, bơ lỏng (trong) hay đề hồ, navanīta. bơ tươi (đặc) hay sanh tô, tela, dầu mè, madhu, mật ong, phāṇita, đường mía hay mật mía, maccha, cá, maṃsa, thịt, khīra, sữa, dadhi, sữa đặc.

[35] Trong bản: ẩm thực; các đoạn trên không có chữ ẩm .

[36] Nhất tọa gian 一坐間; chính xác, hiểu là không thể ăn ngày một bữa mà no đủ. Định nghĩa của Pāli: người bệnh (gilāno), là người cần thức ăn mỹ diệu mới thấy khoẻ khoắn.

[37] Ngũ phần, ba-dật-đề 40; Tăng kỳ: 52; Thập tụng, Căn bản, 44. Pāli. Pāc.41.

[38] Hán: lơa h́nh ngoại đạo (xuất) gia nữ 裸形外道家女. Bản Hán có sự chép nhầm. Chính xác, ngoại đạo xuất gia nữ (Pāli: paribbājikā). Trong giới văn Pāli, loă h́nh acelakassa (Skt. acelakāya) thuộc nam tánh.

[39] Phạm-chí, phiên âm từ tương đương Pāli: pabbājaka, người xuất gia thuộc các nhóm ngoại đạo. Thỉnh thoảng từ này cũng chỉ cho bà-la-môn (brāhmaṇa). Trong Luật Pāli, chuyện kể nam loă h́nh ngoại đạo (acelaka).

[40] Trong bản Hán chép thiếu hai chữ lơa h́nh 形外 đă được nêu trong văn kết giới lần đầu. Pāli: acelakassa vā paribbājakassa vā paribbājikāya vā, cho các lơa h́nh (nam), hay xuất gia (ngoại đạo) nam hay xuất gia (ngoại đạo) nữ; không có lơa h́nh ngoại đạo nữ. Ngũ phần: cho ngoại đạo lơa h́nh nam hay nữ. Tăng kỳ: vô y ngoại đạo và xuất gia nam, nữ. Căn bản: vô y ngoại đạo, và các nam, nữ ngoại đạo khác.

[41] Chính xác, giải thích từ lơa h́nh trong giới văn. Có lẽ do người chép nhầm nên đảo ngược thành giải thích từ ngoại đạo.

[42] Ba-tư-ba-la-xà 波私波羅闍. phiên âm không chuẩn của từ Skt. parivrāja (nam), parivrājikā (nữ); hoặc Pāli, paribbājaka (paribbājikā): người xuất gia, chỉ các du sĩ (nam, nữ) ngoại đạo. Giải thích từ ngoại đạo 外道 trong giới văn.

[43] Đây chỉ chánh thực hay bồ-xà-ni.

[44] Ngũ phần 9: ba-dật-đề 82; Tăng kỳ 20, Thập tụng 17, Căn bản 43: ba-dật-đề 81. Pāli, Pāc. 46.

[45] Các đoạn sau nói thực tiền, trước bữa ăn.

[46] Cam quả 甘果. Ngũ phần: thục thực 熟食, thức ăn chín (trái cây). Pāli: khādānīya, thức ăn loại cứng.

[47] Y-ni-diên-đà 伊尼延陀, Skt. aiṇeya, lông dê(?)

[48] Ngũ phần: không báo cho tỳ-kheo ở gần. Nếu không có tỳ-kheo gần đó để báo, không phạm.

[49] Thực hậu 食後. Tăng kỳ: ăn xong rồi, vẫn c̣n sớm, gọi là thực hậu. Thập tụng: trung tiền trung hậu 中前中後, trước và sau giữa trưa.

[50] Biên pḥng 邊房. Thập tụng: Tăng phường 僧坊.

[51] Cf. Ngũ phần.