XXXIII. Biệt chúng thực[1]

A. Duyên khởi

Một thời, đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, tại La-duyệt-kỳ. Bấy giờ, Đề-bà-đạt-đa đă sai người hại Phật, lại xúi giục A-xà-thế giết cha, tiếng ác lan truyền, nên lợi dưỡng bị cắt đứt.[2]

Lúc ấy, Đề-bà-đạt-đa cùng với năm tỳ-kheo đi khất thực từng nhà. Năm tỳ-kheo này tên là: Tam-văn-đà-la-đạt, Khiên-đà-la-đạt-bà, Cù-bà-ly, Ca-lưu-la-đề-xá[3]

Các tỳ-kheo nghe Đề-bà-đạt-đa sai người hại Phật, xúi giục A-xà-thế giết cha, tiếng ác lan truyền, nên lợi dưỡng bị đoạn tuyệt, đă cùng với năm tỳ-kheo đi khất thực từng nhà một.[4]

Bấy giờ, các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ sát chân Phật rồi ngôi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo. Ngài biết mà vẫn hỏi Đề-bà-đạt-đa:

“Có thật ông cùng với năm tỳ-kheo đến từng nhà khất thực hay không?”

Đề-bà đáp lời: “Có thật như vậy.”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Đề-bà-đạt-đa:

“Việc ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Đề-bà-đạt-đa, sao ông cùng với năm tỳ-kheo đi đến từng nhà khất thực? Đề-bà-đạt-đa, Ta đă dùng vô số phương tiện làm lợi ích, từ mẫn các nhà bạch y, vậy mà ông cùng với năm tỳ-kheo đến từng nhàn khất thực.”

[657c] Bấy giờ, đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Đề-bà đạt-đa rồi bảo các tỳ-kheo:  “Đề-bà-đạt-đa ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới nên nói như vầy:

Tỳ-kheo nào ăn chúng riêng,[5] ba-dật-đề.

Thế Tôn v́ tỳ-kheo kết giới như vậy. Bấy giờ, các tỳ-kheo bệnh có nơi thỉnh thọ thực không có những thức ăn và món thuốc theo chứng bệnh, và có nơi có các thức ăn tốt cùng các loại thuốc theo chứng bệnh, nhưng họ e sợ không dám thọ nhận v́ sợ phạm điều ăn theo chúng riêng. Đức Thế Tôn biết nên bảo các tỳ-kheo:

“Từ nay trở đi cho phép tỳ-kheo bệnh được ăn chúng riêng.”

Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:

Tỳ-kheo nào ăn chúng riêng, trừ trường hợp đặc biệt, ba-dật-đề. Trường hợp đặc biệt là khi bệnh.

Thế Tôn v́ tỳ-kheo kết giới như vậy. Bấy giờ các tỳ-kheo đă tự tứ; trong tháng Ca-đề,[6] là thời gian may y. Các ưu-bà-tắc khởi lên ư nghĩ, ‘Các tỳ-kheo này tự tứ rồi, đang may y trong tháng Ca-đề. Ta nên làm thức ăn cúng dường chúng Tăng. Tại sao vậy? V́ sợ các tỳ-kheo này may y vất vả nên không thể ăn được.’ Các vị ưu-bà-tắc ấy đến trong Tăng-già-lam, bạch với các tỳ-kheo:

“Sáng mai, chúng con cúng dường cơm. Xin chư tôn nhận lời cho.” Các tỳ-kheo trả lời:

“Chỉ mời được ba vị[7] ăn chứ chúng tôi không được phép ăn thành chúng riêng.”

Các ưu-bà-tắc thưa với các tỳ-kheo rằng:

“Bọn chúng tôi đều có ư nghĩ rằng, chư tôn tự tứ rồi, đang may y trong tháng Ca-đề. Sợ các tỳ-kheo vất vả không thể ăn được cho nên mời chư tôn thọ thực. Các tỳ-kheo lại nói, chỉ mời được ba vị, v́ không được phép ăn chúng riêng.”

Các tỳ-kheo đến bạch đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn bảo:

“Từ nay trở đi, cho phép khi may y được ăn chúng riêng.”

Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:

Tỳ-kheo nào, ăn chúng riêng, trừ các trường hợp khác, ba-dật-đề. Các trường hợp khác là khi bệnh, thời may y. Đó là các trường hợp khác.

Thế Tôn v́ tỳ-kheo kết giới như vậy. Bấy giờ có các cư sĩ muốn cúng thức ăn và y, lại đến trong Tăng-già-lam, bạch với các tỳ-kheo:

“Sáng mai tôi muốn cúng đồ ăn. Xin chúng Tăng nhận lời.”

Các tỳ-kheo trả lời:

“Chỉ mời được ba vị ăn chứ chúng tôi không được phép ăn thành chúng riêng.”

Cư sĩ thưa:

“Đại đức, tôi muốn cúng thức ăn và y. Xin quư ngài nhận [658a1] lời mời cho.”

Nhưng vị tỳ-kheo kia nói, “Chỉ mời được ba vị ăn v́ không được phép ăn thành chúng riêng.”

Bấy giờ các tỳ-kheo đến bạch với đức Phật. Đức Phật dạy:

“Từ nay trở đi cho phép các tỳ-kheo khi thọ sự dâng y được ăn chúng riêng.”

Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:

Tỳ-kheo nào, ăn chúng riêng, trừ các trường hợp khác, ba-dật-đề. Các trường hợp khác là khi bệnh, thời may y, thời thí y. Đó là các trường hợp khác.

Thế Tôn v́ tỳ-kheo kết giới như vậy. Bấy giờ có số đông tỳ-kheo và các cư sĩ đi cùng đường đến nước Câu-tát-la. Giờ khất thực đến, các tỳ-kheo nói với cư sĩ:

“Chúng tôi muốn vào xóm khất thực. Xin chờ một chút, chúng tôi sẽ trở lại, rồi cùng nhau đi.”

Các cư sĩ trả lời:

“Hăy đi theo chúng tôi. Chúng tôi sẽ cung cấp đồ ăn thức uống.”

Các tỳ-kheo nói:

“Chỉ được trao thức ăn cho ba vị thôi. Chúng tôi không được phép ăn chúng riêng.”

Các cư sĩ thưa:

“Đại đức, đường này nguy hiểm có sự nghi ngờ khủng bố. Hăy đến đây! Chúng tôi sẽ cung cấp đồ ăn thức uống cho. Chớ nên đi sau v́ quư thầy ít người quá.”

Các Tỳ-kheo nói:

“Chỉ được trao thức ăn cho ba vị thôi. Chúng tôi không được phép ăn chúng riêng.”

Rồi các tỳ-kheo liền vào trong thôn khất thực. Các cư sĩ đi trước; tỳ-kheo đi sau, theo không kịp, bị giặc cướp đoạt y phục. Các tỳ-kheo đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn bảo các tỳ-kheo: “Từ nay trở đi trên đường có nguy hiểm, cho phép tỳ-kheo được ăn chúng riêng.”

Từ nay trở đi, nên nói giới như vầy:

Tỳ-kheo nào, ăn chúng riêng, trừ các trường hợp khác, ba-dật-đề. Các trường hợp khác là khi bệnh, thời may y, thời thí y, khi đi đường. Đó là các trường hợp khác.

Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy. Bấy giờ có số đông tỳ-kheo cùng các cư sĩ đi trên thuyền xuôi theo ḍng nước. Giờ khất thực đến, nói với các cư sĩ rằng:

“Cho thuyền dừng lại thời gian ngắn. Chúng tôi cần vào trong thôn khất thực, và sẽ trở lại cùng đi.”

Các cư sĩ nói:

“Chớ đi! Chúng tôi sẽ cung cấp đồ ăn thức uống cho.”

Tỳ-kheo nói rằng:

“Chỉ được cung cấp ba vị mà thôi. Chúng tôi không được phép ăn chúng riêng.”

Các cư sĩ nói rằng:

“Nơi khoảng bờ sông này có nhiều giặc cướp, nơi có nghi ngờ, kinh sợ. Các thầy ít người, không nên đi sau, sẽ bị giặc cướp đoạt. Các thầy chớ đi! Chúng tôi sẽ cung cấp đồ ăn thức uống cho.”

Các tỳ-kheo nói rằng: “Chỉ được cung cấp ba vị mà thôi. Chúng tôi không được phép ăn chúng riêng.”

Rồi các tỳ-kheo vẫn lên bờ để khất thực. Bạn đồng thuyền đi trước; các tỳ-kheo đi sau, bị giặc cướp đoạt y phục. Các tỳ-kheo đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Phật. Đức Phật bảo các tỳ-kheo rằng:

“Từ nay trở đi [658b] cho phép các tỳ-kheo khi đi thuyền được ăn chúng riêng.”

Từ đây trở đi nên nói giới như vầy:

Tỳ-kheo nào, ăn chúng riêng, trừ các trường hợp khác, ba-dật-đề. Các trường hợp khác là khi bệnh, thời may y, thời thí y, khi đi đường, khi đi thuyền. Đó là các trường hợp khác.

Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy. Bấy giờ có số đông tỳ-kheo từ nước Câu-tát-la du hành đến một thôn nhỏ. Các cư sĩ nghĩ rằng, “Chúng Tăng th́ lại nhiều mà thôn xóm th́ lại nhỏ. Chúng ta hăy làm thức ăn cho chúng Tăng dùng, đừng để cho chúng Tăng vất vả, khổ cực.”[8] Họ liền đến trong Tăng-già-lam thưa với các tỳ-kheo rằng:

“Bạch chư Đại đức, ngày mai xin nhận thức ăn của chúng tôi.”

Các tỳ-kheo nói rằng:

“Chỉ được mời ba vị mà thôi. Chúng tôi không được phép ăn chúng riêng.” Các cư sĩ nói:

“Chúng tôi nghĩ rằng chúng Tăng th́ nhiều mà thôn xóm lại nhỏ. Chỉ sợ không đủ thức ăn khiến chúng Tăng phải vất vả thôi.”

Tỳ-kheo lại nói rằng:

“Chỉ được mời ba vị mà thôi. Chúng tôi không được phép ăn chúng riêng.”

Bấy giời các tỳ-kheo đến bạch đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn bảo rằng:

“Từ nay trở đi cho phép các tỳ-kheo, khi đại chúng tập hợp đông, được ăn chúng riêng.”

Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:

Tỳ-kheo nào, ăn chúng riêng, trừ các trường hợp khác, ba-dật-đề. Các trường hợp khác là khi bệnh, thời may y, thời thí y, khi đi đường, khi đi thuyền, khi đại chúng tập hợp. Đó là các trường hợp khác.

Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy. Bấy giờ có người con của chị vua B́nh-sa[9] tên là Ca-la[10] dâng thức ăn cho các sa-môn, trước khi xuất gia trong phái dị học ngoại đạo, đến chỗ vua B́nh-sa thưa:

“Tôi đă v́ các sa-môn thiết trai cúng dường rồi. Nay muốn xuất gia.”

Vua B́nh-sa hỏi rằng:

“Muốn xuất gia nơi nào?”

Đáp rằng:

“Muốn xuất gia trong phái Ni-kiền Tử.”

Nhà vua lại hỏi:

“Có làm thức ăn cúng dường sa-môn của ta không?”

Ca-la bảo:

“Tâu Đại vương, đó là hạng sa-môn nào?”

Nhà vua bảo:

“Đó chính là sa-môn họ Thích.”

Ca-la nói:

“Tôi chưa làm thức ăn cúng dường các vị đó.”

Nhà vua nói rằng:

“Ngươi nay nên dọn đồ ăn cúng dường sa-môn Thích tử.”

Ca-la liền đến trong Tăng-già-lam thưa với các tỳ-kheo rằng:

“Nay tôi muốn làm đồ ăn cúng dường Tăng tỳ-kheo. Xin quư ngài nhận lời mời của tôi.”

Các tỳ-kheo nói rằng:

“Chỉ được cúng cho ba vị. Chúng tôi không được ăn chúng riêng.”

Bấy giờ, Ca-la nói với các tỳ-kheo:

“Tôi làm đồ cúng dường các sa-môn trước khi xuất gia trong phái ngoại đạo. Rồi tôi đến chỗ vua B́nh-sa thưa, ‘Tôi đă làm đồ cúng dường các sa-môn. Nay tôi muốn xuất gia.’ [658c] Vua hỏi tôi, ‘Muốn xuất gia nơi nào?’ Tôi trả lời, ‘Muốn xuất gia trong phái Ni-kiền Tử.’ Nhà vua lại hỏi tôi, ‘Đă làm đồ ăn cúng dường sa-môn của ta chưa?’ Bấy giờ tôi hỏi, ‘Đó là hạng sa-môn nào?’ Vua nói với tôi, ‘Đó chính là sa-môn Thích tử.’ Vua bảo tôi, ‘Ngươi hăy đến đó làm đồ ăn cúng dường sa-môn Thích tử, sau đó mới xuất gia.’ V́ lư do ấy cho nên tôi đến trong Tăng-già-lam mời các Đại đức. Cúi mong các vị nhận thỉnh lời mời của tôi.”

Lúc bấy giờ, các tỳ-kheo nghe kể như vậy liền đến bạch đức Thế Tôn. Phật bảo các tỳ-kheo:

“Từ nay trở đi cho phép các tỳ-kheo khi có sa-môn thí thực[11] th́ được phép ăn chúng riêng.”

Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:

Tỳ-kheo nào, ăn chúng riêng, trừ các trường hợp khác, ba-dật-đề. Các trường hợp khác là khi bệnh, thời may y, thời thí y, khi đi đường, khi đi thuyền, khi đại chúng tập hợp, khi sa-môn thí thực. Đó là các trường hợp khác.

B. Giới tướng

Tỳ-kheo: nghĩa như trước.

Ăn chúng riêng: hoặc bốn người hay hơn bốn người.

Thức ăn: chỉ cho cơm, lương khô, cơm khô, cá và thịt.[12].

Bệnh: cho đến cái gót chân bị trẹo.

Thời may y: sau khi tự tứ rồi, nếu không thọ y ca-thi-na th́ khoảng một tháng; nếu có thọ y ca-thi-na th́ khoảng năm tháng, cho đến trên y chỉ may một đường như răng con ngựa.

Thời thí y: sau khi tự tứ rồi, nếu không thọ y ca-thi-na th́ khoảng một tháng; nếu có thọ y ca-thi-na th́ khoảng năm tháng; và các trường hợp thí thực và y khác.

Khi đi đường: cho đến chỉ đi trong nửa do-tuần gồm cả đi tới và đi lui.

Khi đi thuyền: cho đến nương trên thuyền xuôi hay ngược ḍng nước trong ṿng nửa do-tuần.

Khi đại chúng tập hợp:[13] thức ăn đủ cho bốn người mà dư một người là có sự khốn đốn. Năm người, mười người, cho đến trăm người mà dư một người là khốn đốn.

Sa-môn thí thực:[14] đây chỉ cho những người xuất gia theo ngoại đạo bên ngoài sa-môn Thích tử.

Nếu tỳ-kheo không có lư do ăn chúng riêng, tỳ-kheo ấy nên đứng dậy thưa: “Tôi không có nhân duyên ǵ trong bữa ăn chúng riêng này. Tôi muốn ra khỏi chúng.”

Đức Phật nói:

“Cho phép ra.”

Nếu những người nào không có lư do cũng được phép cho ra khỏi chúng. Nếu hai người, ba người, th́ tùy ư thọ thực. Nếu bốn người hay hơn bốn người th́ nên chia ra làm hai bộ, thay nhau vào ăn.

Nếu tỳ-kheo có nhân duyên để ăn theo chúng riêng mà muốn vào, th́ hăy đứng dậy thưa: “Tôi có nhân duyên ăn chúng riêng. Tôi muốn vào.”

Đức Phật dạy:

“Nên chấp thuận. Tùy theo thứ tự Thượng tọa [659a] mà ngồi vào.”

Nếu tỳ-kheo nào ăn chúng riêng, mỗi miếng ăn phạm một ba-dật-đề. Nếu có lư do mà không nói, phạm đột-kiết-la.

Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Không phạm: khi bệnh, thời gian may y, thời gian thí y, khi đi đường, khi đi thuyền, khi đại chúng tập họp, khi sa-môn thí, hoặc ba người, bốn người đổi nhau ăn, hoặc đi có nhân duyên; tất cả không phạm.

Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.

 

 

XXXIV. Nhận quá ba bát[15]

A. Duyên khởi

Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, có một người nữ tên Già-nhă-na,[16] trước đó ở nơi đại thôn, sau lấy chồng người nước Uất-thiền. Qua vài tháng th́ có mang, nên trở về nhà cha mẹ ở. Lúc ấy có các tỳ-kheo đến nhà đó khất thực; cô đích thân dâng thức ăn, trái cây cho các tỳ-kheo.

Sau đó một thời gian, người chồng sai người đến kêu về. Cô nói với sứ giả rằng:

“Hăy ở lại đây chờ một chút! Để tôi sửa soạn đầy đủ đồ ăn thức uống và trang điểm y phục rồi sau đó cùng đi.”

Lúc ấy có các tỳ-kheo đến nhà này khất thực, người nữ thấy, nên đem đồ ăn thức uống vừa sửa soạn, cúng hết cho các tỳ-kheo và thưa:

“Đại đức có thể nhận thức ăn này.”

Bấy giờ, các tỳ-kheo nhận hết thức ăn, không để lại chút nào. Sau đó, cô phải sửa soạn và trang điểm trở lại xong mới ra đi.[17]

Trong khi cô chưa kịp trở lại đó, th́ chồng cô đă lấy vợ khác và sai sứ giả nói với cô rằng, “Nay tôi đă lấy vợ khác rồi, về hay không về tùy ư.”

Cha của Già-nhă-na nghe như vậy, đến trong Tăng-già-lam. Các tỳ-kheo thấy liền nói:

“Già-nhă-na, con gái của ông có tín tâm bền chặt và ưa bố thí.”

Cha của cô nói:

“Đúng như tôn giả nói, con của tôi thật có tín tâm bền chặt. Nhưng cũng v́ thế mà ngày nay nó gặp phải điều mà phụ nữ không vui.”

Các tỳ-kheo hỏi:

“Gặp chuyện ǵ?”

Cha của Già-nhă-na nói:

“Chồng của nó đă lấy vợ khác rồi.”

Khi ấy, ngoài cửa thành Ba-la-nại có nhiều đoàn khách thương đang nghỉ đêm cùng với xe cộ. Hôm đó có một tỳ-kheo khất thực, đến giờ mặc y bưng bát vào trong doanh trại của đoàn thương khách này khất thực.

Tỳ-kheo kia theo thứ tự đi xin, và đến đứng im lặng trước mặt thương chủ có ḷng tin sâu đậm. Thương chủ thấy vậy, hỏi:

“Ngài đứng nơi đây có việc ǵ?”

Tỳ-kheo trả lời:

“Tôi khất thực.”

Thương chủ liền [659b] nói:

“Ngài đưa b́nh bát đây.

Tỳ-kheo trao b́nh bát cho. Thương chủ lấy thức ăn ngon cho vào đầy cả b́nh bát. Tỳ-kheo khất thực mang thức ăn ra khỏi trại. Cách đó không xa, lại có một tỳ-kheo khất thực cũng muốn vào trong doanh trại khất thực, nên hỏi vị tỳ-kheo vừa nhận được thức ăn:

“Xin thức ăn được không?” 

Đáp rằng: “Được.”

Lại hỏi: “Nhận được từ người nào?”

Đáp rằng: “Nhận được từ thương chủ nọ.”

Bấy giờ, vị tỳ-kheo khất thực liền đến đứng yên lặng trước thương chủ nọ. Thương khách hỏi:

“Ngài đứng đây làm ǵ?”

Tỳ-kheo đáp rằng?

“Tôi khất thực.”

Thương khách nói:

“Đưa b́nh bát của ngài đây.

Tỳ-kheo liền trao bát cho. Thương chủ lấy thức ăn ngon cho vào đầy cả bát rồi trao lại cho tỳ-kheo. Tỳ-kheo nhận được thức ăn vừa mang ra khỏi trại. Đi khỏi trại không xa, lại gặp một tỳ-kheo cũng muốn vào nơi doanh trại khất thực, nên hỏi:

“Xin thức ăn được không?” 

Đáp rằng: “Được.”

Lại hỏi: “Nhận được từ người nào?”

Đáp rằng:

“Nhận được từ thương chủ nọ.”

Các tỳ-kheo khất thực thông tin cho nhau như vậy, đă khiến cho thương chủ hết cả lương thực đi đường.

Bấy giờ, thương chủ phải vào trong thành Ba-la-nại sắm lại lương thực. Trong khi đó các đồng bạn đă đi. Thương chủ phải đi sau, nên không theo kịp, dọc đường bị giặc cướp.

Các tỳ-kheo nghe được, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách các tỳ-kheo rằng: “Sao tỳ-kheo lại ăn hết thức ăn của người đàn bà đem về nhà chồng và lương thực đi đường của thương khách?”

Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền dùng nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách các tỳ-kheo đó: “Việc các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Sao tỳ-kheo lại ăn hết thức ăn của người đàn bà đem về nhà chồng và lương thực đi đường của khách buôn?”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách các tỳ-kheo ấy rồi, bảo các tỳ-kheo: “Những kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới nên nói như vầy:

Tỳ-kheo nào, đến nhà bạch y được mời cúng thức ăn như bánh, hoặc lương khô,[18] nếu cần tỳ-kheo nên nhận hai, ba bát; nhận hai, ba bát rồi về trong Tăng-già-lam nên phân cho các tỳ-kheo khác dùng; nếu nhận quá hai, ba bát về đến trong Tăng-già-lam [659c] không chia cho các tỳ-kheo khác dùng, ba-dật-đề.

Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy. Bấy giờ có các tỳ-kheo bệnh, e sợ không dám nhận thức ăn quá mức, đến bạch Phật. Đức Phật dạy:

“Từ nay trở đi cho phép các Tỳ-kheo bệnh được nhận thức ăn quá mức đă ấn định.”

Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:

Tỳ-kheo nào, đến nhà bạch y được mời cúng thức ăn như bánh, hoặc lương khô, nếu cần tỳ-kheo nên nhận hai, ba bát; nhận hai, ba bát rồi về trong Tăng-già-lam[19] nên phân cho các tỳ-kheo khác dùng; nếu tỳ-kheo không bệnh nhận quá hai, ba bát về đến trong Tăng-già-lam không chia cho các tỳ-kheo khác dùng, ba-dật-đề.

B. Giới tướng

Tỳ-kheo: nghĩa như trước.

Nhà bạch y: nhà có nam, có nữ.

Bệnh: không thể ăn một bữa mà no đủ.

Nếu tỳ-kheo đến nhà bạch y, được mời cúng thức ăn như bánh, hoặc lương khô, nên hỏi người chủ rằng, “Có phải là thức ăn người phụ nữ đem về nhà chồng, hay lương thực đi đường của khách buôn?” Nếu họ nói là thức ăn người phụ nữ đem về nhà chồng và lương thực đi đường của khách buôn, th́ nên ăn xong rồi ra về. Về lại trong Tăng-già-lam, bạch với các tỳ-kheo, “Nơi nhà kia có thức ăn của người phụ nữ đem về nhà chồng, hay lương thực đi đường của khách buôn. Nếu muốn ăn, hăy ăn xong rồi ra về. Nếu muốn mang thức ăn về, th́ mang hai, ba bát.[20] C̣n tôi hiện giờ không mang thức ăn về.”

Nếu muốn mang về một bát ăn, khi về đến trong Tăng-già-lam phải phân chia cho các tỳ-kheo cùng ăn. Nên nói với tỳ-kheo khác rằng, “Nơi nhà kia có thức ăn của người phụ nữ đem về nhà chồng, hay lương thực đi đường của khách buôn. Nếu có ai muốn đến đó, ăn tại đó. Nếu muốn mang thức ăn về, th́ mang hai bát.[21] C̣n tôi hiện giờ mang về một bát.”

Nếu mang hai bát thức ăn về trong Tăng-già-lam, phải phân chia cho các tỳ-kheo cùng ăn. Rồi lại nói với các tỳ-kheo khác rằng, “Nơi nhà kia có thức ăn của người phụ nữ đem về nhà chồng, hay lương thực đi đường của khách buôn. Nếu có ai muốn đến đó, ăn tại đó. Nếu muốn mang thức ăn về, th́ mang một bát.[22] C̣n tôi hiện giờ mang về hai bát.”

Nếu mang hết ba bát về phân chia cho các tỳ-kheo khác dùng th́ nói với các tỳ-kheo khác rằng, “Nơi nhà kia có thức ăn của người phụ nữ đem về nhà chồng, hay lương thực đi đường của khách buôn. Nếu có ai muốn đến đó, ăn tại đó. Nếu muốn mang thức ăn về, th́ cẩn thận chớ mang về. V́ tôi hiện giờ mang về đủ ba bát rồi.”

Nếu tỳ-kheo không có bệnh, nhận thức ăn quá hai ba bát nơi nhà đó mang về, ra khỏi cửa phạm ba-dật-đề. [660a1] Một chân trong cửa, một chân ngoài cửa, phương tiện muốn đi mà đứng lại, tất cả đều phạm đột-kiết-la. Nếu không hỏi thức ăn của người phụ nữ đem về nhà chồng, hay lương thực đi đường của khách buôn mà lấy ăn, phạm đột-kiết-la. Nếu mang về trong Tăng-già-lam không chia cho các tỳ-kheo khác dùng mà ăn một ḿnh, phạm đột-kiết-la. Nếu không nói với các tỳ-kheo khác, phạm đột-kiết-la.

Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Không phạm: nhận hai, ba bát; v́ bệnh mà nhận quá; có hỏi để biết là thức ăn của người phụ nữ đem về nhà chồng hay lương thực đi đường của khách buôn; mang về trong Tăng-già-lam chia cho các tỳ-kheo khác dùng; bạch với các tỳ-kheo khác biết nơi chốn như vậy. Hoặc tự họ đưa đến trong Tăng-già-lam th́ được phép nhận. Hoặc họ đưa đến trong chùa của tỳ-kheo-ni, nhận th́ không phạm.

Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.

 

 

 XXXV. Dư thực pháp[23]

A. Duyên khởi

Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, đức Thế Tôn v́ các tỳ-kheo dạy về pháp ăn một lần,[24] khen ngợi pháp ăn một lần.

Khi các tỳ-kheo nghe đức Thế Tôn dạy về pháp ăn một lần, khen ngợi pháp ăn một lần, nên các tỳ-kheo ăn thức ăn khư-xà-ni,[25] hoặc ăn năm loại chánh thực,[26] hoặc uống nước trái cây, hoặc uống thuốc, dồn lại ăn uống một lần không dám ăn lại, khiến cho h́nh thể gầy c̣m, nhan sắc tiều tụy. Bấy giờ đức Thế Tôn biết mà vẫn cố hỏi A-nan: “Các tỳ-kheo này tại sao h́nh thể gầy c̣m, nhan sắc tiều tụy?”

n giả A-nan bạch Phật: “Đức Thế Tôn đă dùng vô số phương tiện v́ các tỳ-kheo dạy về pháp ăn một bữa, khen ngợi pháp ăn một bữa. Các tỳ-kheo nghe rồi, tại một chỗ ngồi ăn thức ăn khư-xà-ni, hoặc ăn năm loại thức ăn, hoặc uống nước trái cây, hoặc uống thuốc, dồn lại ăn một lần, rồi không dám ăn lại nữa. Do vậy h́nh thể gầy c̣m, nhan sắc tiều tụy.”

Đức Phật bảo tôn giả A-nan:

“Từ nay trở đi cho phép các tỳ-kheo tại một chỗ ngồi ăn cho thật no.”

Các tỳ-kheo nghe đức Phật cho phép tại một chỗ ngồi cứ ăn cho đến khi nào thật no. Khi ấy các tỳ-kheo hoặc ăn thức ăn khư-xà-ni, hoặc ăn năm loại thức ăn, hoặc uống nước trái cây, hoặc uống thuốc, dồn lại ăn một lần, rồi không dám ăn lại nữa. Do vậy h́nh thể gầy c̣m, nhan sắc tiều tụy.

Bấy giờ đức Thế Tôn biết mà vẫn hỏi tôn giả A-nan:

“Các tỳ-kheo này tại sao h́nh thể khô héo, nhan sắc tiều tụy?”

Tôn giả A-nan bạch Phật:

“Các tỳ-kheo nghe đức Thế Tôn [660b] cho phép các tỳ-kheo tại một chỗ ngồi cứ ăn cho đến khi nào đầy đủ; hoặc ăn thức ăn khư-xà-ni, hoặc ăn năm loại thức ăn, hoặc uống nước trái cây, hoặc uống thuốc, dồn lại ăn một lần, rồi không dám ăn lại nữa. Do vậy h́nh thể gầy c̣m, nhan sắc tiều tụy.”

Đức Thế Tôn bảo tôn giả A-nan:

“Từ nay trở đi cho phép các tỳ-kheo ăn năm loại thức ăn hoặc cơm, hoặc lương khô, hoặc cơm khô, cá và thịt, khiến cho thật no. Đối với trong năm món ăn này, sẽ tùy thuộc vào thứ nào đă nhận được theo đó ăn cho thật no.”

Bấy giờ, các tỳ-kheo bệnh, tuy đă nhận được thức ăn ngon như, cơm, lương khô, cơm khô, cá và thịt, mà không đủ sức khỏe để ngồi ăn luôn một lần cho nên h́nh thể bị gầy c̣m, nhan sắc tiều tụy. Đức Thế Tôn biết mà vẫn hỏi tôn giả A-nan:

“Tại sao các tỳ-kheo bệnh h́nh thể gầy c̣m, nhan sắc tiều tụy?”

Tôn giả A-nan bạch Phật rằng:

“Tỳ-kheo bệnh này tuy nhận được năm món ăn ngon, nhưng không đủ sức khỏe ngồi ăn một lần cho đủ no nên h́nh thể gầy c̣m, nhan sắc tiều tụy.”

Đức Phật bảo A-nan:

“Từ nay trở đi cho phép các tỳ-kheo bệnh ăn nhiều lần.[27] Người bệnh không cần có phép túc thực.[28]

Lúc ấy các tỳ-kheo bệnh nhận được thức ăn ngon bổ không thể ăn hết, cho người nuôi bệnh. Người nuôi bệnh ăn đủ rồi không dám ăn bèn đem bỏ. Các loài chim tranh nhau đến, giành ăn kêu la inh ỏi. Đức Thế Tôn biết mà vẫn hỏi tôn giả A-nan rằng:

“Tại sao các loài chim kêu la inh ỏi thế?”

Tôn giả A-nan bạch Phật:

“Các tỳ-kheo bệnh này nhận được thức ăn ngon bổ ăn không hết, c̣n dư đem cho người nuôi bệnh. Người nuôi bệnh ăn đủ rồi không dám ăn, đem bỏ. Cho nên các loài chim giành nhau ăn kêu la inh ỏi như thế.”

Đức Phật bảo tôn giả A-nan:

“Từ nay trở đi cho phép người nuôi bệnh được ăn thức ăn dư của người bệnh, khỏi phải làm pháp dư thực.”

Lúc bấy giờ các tỳ-kheo sáng sớm nhận được thức ăn, đem cất; rồi vào thôn khất thực. Ăn xong, trở về lấy thức ăn cất cho các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo ăn đủ rồi, không dám ăn nữa, đem bỏ các loài chim tranh nhau ăn kêu la. Đức Thế Tôn biết mà vẫn hỏi tôn giả A-nan:

“Tại sao các loài chim kêu la như thế?”

Tôn giả A-nan bạch Phật:

“Các tỳ-kheo sáng sớm nhận được thức ăn, đem cất; rồi vào thôn khất thực. Ăn xong, trở về lấy thức ăn cất cho các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo ăn đủ rồi không dám ăn nữa, đem bỏ cho nên các loài chim tranh nhau ăn kêu la như vậy.”

Đức Phật bảo A-nan:

“Từ nay trở đi cho phép các tỳ-kheo lấy thức ăn nhận được làm pháp dư thực rồi ăn. [660c] Tác pháp dư thực bằng cách đem thức ăn ấy đến trước một Đại đức ăn chưa xong nói, ‘Thưa đại đức, tôi đă ăn đủ rồi, biết cho, xem cho.’ Đây là tác pháp dư thực. Vị tỳ-kheo kia nên lấy một ít để ăn, rồi nói với vị tác pháp rằng, ‘Thầy tùy ư lấy ăn.’ Nên tác pháp dư thực như vậy rồi mới ăn.”

Về sau, có một trưởng lăo, vốn là tỳ-kheo được nhiều người biết, vào trong thôn khất thực, được nhiều thức ăn, tập trung lại một chỗ cùng ăn. Ăn xong, đem thức ăn dư về trong Tăng-già-lam cho các vị tỳ-kheo. Các tỳ-kheo ăn đủ rồi không dám ăn, đem bỏ. Các loài chim tranh nhau ăn, kêu la inh ỏi. Đức Thế Tôn biết mà vẫn hỏi A-nan: “Tại sao các loài chim kêu la như thế?”

Tôn giả A-nan bạch: Có một trưởng lăo, vốn là tỳ-kheo được nhiều người biết, vào trong thôn khất thực, được nhiều thức ăn, tập trung lại một chỗ cùng ăn. Ăn xong, đem thức ăn dư về trong Tăng-già-lam cho các vị tỳ-kheo. Các tỳ-kheo ăn đủ rồi không dám ăn, đem bỏ. Các loài chim tranh nhau ăn, kêu la như vậy.”

Đức Phật bảo A-nan: “Từ nay trở đi cho phép các tỳ-kheo, thức ăn từ nơi khác đem về nên làm pháp dư thực để ăn. Tác pháp dư thực bằng cách đem thức ăn ấy đến trước một Đại đức ăn chưa xong nói, ‘Thưa đại đức, tôi đă ăn đủ rồi, biết cho, xem cho.’ Đây là tác pháp dư thực. Vị tỳ-kheo kia nên lấy một ít để ăn, rồi nói với vị tác pháp rằng, ‘Thầy tùy ư lấy ăn.’ Vị tỳ-kheo kia nên tác pháp dư thực như vậy rồi mới ăn.”

Khi ấy trong nước Xá-vệ có một tỳ-kheo tham ăn, không biết ăn đủ là thế nào, ăn không đủ là thế nào; không biết pháp dư thực, hay không dư thực; nhận được thức ăn là ăn.

Các tỳ-kheo nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách tỳ-kheo kia, ‘Sao lại tham ăn, không biết thế nào là ăn đủ, thế nào là không ăn đủ, không biết dư thực, hay không dư thực; nhận được thức ăn là ăn?’

Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền dùng nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo. Ngài biết mà vẫn hỏi tỳ-kheo kia rằng:

“Thật sự ông có tham ăn, không biết thế nào là ăn đủ, thế nào là không ăn đủ; không biết dư thực, hay không dư thực; nhận được thức ăn là ăn?”

Tỳ-kheo kia thưa rằng: “Bạch đức Thế Tôn, thật vậy.”

Đức Phật dùng vô số phương tiện quở trách tỳ-kheo kia:

“Việc ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Tỳ-kheo, sao lại tham ăn như vậy?”

Đức Thế Tôn quở trách xong, bảo các tỳ-kheo:

“Từ nay trở đi Ta v́ các tỳ-kheo [661a1] kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới nên nói như vầy:

Tỳ-kheo nào, ăn đă đủ, hoặc khi thọ thỉnh,[29] không làm pháp dư thực[30] mà ăn nữa, ba-dật-đề.

B. Giới tướng

Tỳ-kheo: nghĩa như trước.

Thức ăn: gồm năm thứ: cơm, lương khô, cơm khô, cá và thịt. Trong năm loại thức ăn này, bất cứ ăn một thứ nào, hoặc cơm, hoặc lương khô, hoặc cơm khô, hoặc cá và thịt khiến cho no đủ. Có năm loại ăn đủ:[31] biết là cơm, biết được đem đến, biết ngăn, biết oai nghi, biết xả oai nghi. Ăn đủ rồi, đă xả oai nghi, không làm pháp dư thực mà nhận được và ăn, mỗi miếng ăn phạm một ba-dật-đề.

Lúc bấy giờ, tôn giả Ưu-ba-ly liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trống vai bên hữu, quỳ gối chấm đất, chắp tay bạch Phật: “Tỳ-kheo đang đi, có bao nhiêu trường hợp được xem là túc thực?”

Đức Phật bảo Ưu-ba-ly: “Có năm trường hợp được xem túc thực. Thế nào là năm? Ưu-ba-ly, tỳ-kheo biết ḿnh đang đi, biết thức ăn là cơm, biết đă được đem đến, biết ngăn, biết oai nghi, biết xả oai nghi. Biết túc thực rồi, đă xả oai nghi,[32] không tác pháp tàn thực, nhận được thức ăn mà ăn, mỗi miếng ăn phạm một ba-dật-đề.

“Trong đó,[33] Ưu-ba-ly, tỳ-kheo biết ḿnh đang đi, biết lương khô, biết cơm khô, cá và thịt, biết sự mang đến, biết ngăn, biết oai nghi, biết xả oai nghi. Túc thực rồi, đă xả oai nghi, không làm pháp dư thực, nhận được thức ăn mà ăn, mỗi miếng ăn phạm một ba-dật-đề.

“Trong đó, Ưu-ba-ly, tỳ-kheo biết khi đi, biết thức ăn là lương khô, biết người mang đến, biết ngăn, biết oai nghi, biết xả oai nghi. Túc thực rồi đă xả oai nghi, không làm pháp dư thực, nhận được thức ăn mà ăn, mỗi miếng ăn phạm một ba-dật-đề.

“Trong đó, Ưu-ba-ly, tỳ-kheo biết khi đi, biết cơm khô, biết cá và thịt, cơm, lương khô, biết người mang đến, biết ngăn, biết oai nghi, biết xả oai nghi. Túc thực rồi đă xả oai nghi, không làm pháp dư thực, nhận được thức ăn mà ăn, mỗi miếng ăn phạm một ba-dật-đề.

“Trong đó, Ưu-ba-ly, tỳ-kheo biết khi đi, biết thức ăn là cơm khô, biết người mang đến, biết ngăn, biết oai nghi, biết xả oai nghi. Túc thực rồi đă xả oai nghi, không làm pháp dư thực, nhận được thức ăn mà ăn, mỗi miếng ăn phạm một ba-dật-đề.

“Trong đó, Ưu-ba-ly, tỳ-kheo biết khi đi, biết cá và thịt, cơm, lương khô, biết người mang đến, biết ngăn, biết oai nghi, biết xả oai nghi. Túc thực rồi đă xả oai nghi, không làm pháp dư thực, nhận được thức ăn mà ăn, mỗi miếng ăn phạm một ba-dật-đề.

“Trong đó, Ưu-ba-ly, [661b] tỳ-kheo biết khi đi, biết thức ăn là cá, biết người mang đến, biết ngăn, biết oai nghi, biết xả oai nghi. Túc thực rồi đă xả oai nghi, không làm pháp dư thực, nhận được thức ăn mà ăn, mỗi miếng ăn phạm một ba-dật-đề.

“Trong đó, Ưu-ba-ly, tỳ-kheo biết khi đi, biết thịt, cơm, lương khô, cơm khô, biết người đem đến, biết ngăn, biết oai nghi, biết xả oai nghi. Túc thực rồi đă xả oai nghi, không làm pháp dư thực, nhận được thức ăn mà ăn, mỗi miếng ăn phạm một ba-dật-đề.

“Trong đó, Ưu-ba-ly, tỳ-kheo biết khi đi, biết thức ăn là thịt, biết người mang đến, biết ngăn, biết oai nghi, biết xả oai nghi. Túc thực rồi đă xả oai nghi, không làm pháp dư thực, nhận được thức ăn mà ăn, mỗi miếng ăn phạm một ba-dật-đề.

“Trong đó, Ưu-ba-ly, tỳ-kheo biết khi đi, biết cơm, lương khô, cơm khô, cá và thịt biết người mang đến, biết ngăn, biết oai nghi, biết xả oai nghi. Túc thực rồi đă xả oai nghi, không làm pháp dư thực, nhận được thức ăn mà ăn, mỗi miếng ăn phạm một ba-dật-đề.

“Ưu-ba-ly, như vậy gọi là năm trường hợp túc thực của tỳ-kheo trong khi đang đi. Đứng, ngồi, nằm cũng như vậy.”

Thức ăn khư-xà-ni,[34] gồm có thức ăn khư-xà-ni củ, thức ăn nhánh, lá, hoa, trái khư-xà-ni, thức ăn dầu, mè, đường mía, (thức ăn)

nghiền nát.[35] Tỳ-kheo nào túc thực rồi, không tác pháp dư thực, nhận được thức ăn mà ăn, mỗi miếng phạm một ba-dật-đề.

Nếu túc thực rồi v́ người khác làm pháp dư thực mà không thành pháp dư thực, phạm đột-kiết-la.

Nếu biết người khác túc thực rồi, tác pháp dư thực mà không thành pháp dư thực, phạm đột-kiết-la.

Nếu tỳ-kheo tự tay cầm thức ăn, tác pháp dư thực mà không thành pháp dư thực, đột-kiết-la.

Nếu cầm thức ăn để dưới đất, tác pháp dư thực không thành pháp dư thực, phạm đột-kiết-la.

Nếu tỳ-kheo khiến tịnh nhân cầm thức ăn, tác pháp dư thực không thành pháp dư thực, phạm đột-kiết-la.

Nếu tỳ-kheo tác pháp dư thực trước tịnh nhân, phạm đột-kiết-la. Lấy thức ăn không ngon phủ lên trên thức ăn ngon, tác pháp dư thực không thành pháp dư thực, phạm đột-kiết-la.

Nếu tỳ-kheo nhận pháp dư thực của người khác đem hết đi, không thành pháp dư thực, phạm đột-kiết-la.

Nếu túc thực tưởng là túc thực, ba-dật-đề. Nếu túc thực mà nghi, đột-kiết-la. Nếu tỳ-kheo không túc thực tưởng là túc thực, phạm đột-kiết-la. Không túc thực mà nghi, đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Không phạm: thức ăn mà tưởng chẳng phải thức ăn, không nhận tác pháp dư thực; [661c] chẳng phải thức ăn, không tác pháp dư thực; tự tay giữ lấy, làm pháp dư thực; không để dưới đất tác pháp dư thực; cho đến tay sờ đụng đồ đựng thức ăn; hoặc v́ người, người v́ ḿnh, tác pháp dư thực; hoặc bị bệnh không tác pháp dư thực; thức ăn dư của người bệnh, không tác pháp dư thực; hoặc đă tác pháp dư thực. Tất cả không phạm.

Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.

 



[1] Ngũ phần 7 (tr.50b12), ba-dật-đề 32; Tăng kỳ , ba-dật-đề 40, lời chú (tr.362b24) nói: bản Phạn lưu trong tinh xá Kỳ-hoàn bị mọt ăn mất điều 40 biệt chúng thực; Thập tụng (tr.39b11), ba dật-đề 36; Căn bản (tr.823b13), ba-dật-đề 36. Pāli, Pāc. 32 gaṇabhojana.

[2] Xem Ch. ii. tăng-già-bà-thi-sa 10.

[3] Đề-bà-đạt 提婆達, Tam-văn-đà-la-đạt 三聞陀羅達, Khiên-đà-la-đạt-bà 騫駄羅達婆, Cù-bà-ly 瞿婆離, Ca-lưu-la-đề-xá 迦留羅提舍. Xem Ch.ii. tăng-già-bà-thi-sa x & cht.123, Đề-bà-đạt-đa và đồng bọn.

[4] Bốn tỳ-kheo trở lên, nhưng chưa đủ yếu tố để thành Tăng (Pāli. Saṅgha), th́ gọi là biệt chúng (gana).

[5] Biệt chúng thực 別眾食. Xem giải thích đoạn sau. Ngũ phần 7 (tr.50c24): biệt thỉnh chúng thực 別請眾食.

[6] Ca-đề nguyệt 迦提月; Xem Ch. iv, ni-tát-kỳ 29.

[7] Xem cht. trên.

[8] Tăng chia làm nhiều chúng riêng. Mỗi chúng thọ thực tại mỗi nơi khác nhau.

[9] B́nh-sa vương 瓶沙王. Xem Ch. i ba-la-di 2; Ch. ii tăng-già-bà-thi-sa 10.

[10] Ca-la 迦羅. Ngũ phần 7 (tr.50c27): em trai của vua tên là Ca-lưu 迦留. Thập tụng 13 (tr.94c25), Căn bản 36 (tr.824a01): cậu của vua. Pāli, Vin.iv.747, một người thân tộc của vua Seniya Bimbisāra xuất gia theo nhóm lơa h́nh tà mạng (Ājīvaka); không nói tên.

[11] Tức chúng tỳ-kheo được tu sĩ đạo khác mời ăn.

[12] Năm loại thức ăn, xem ba-dật-đề 32 trước.

[13] Pāli: mahāsamayo, bản Anh dịch hiểu là sự khan hiếm cực kỳ, do Pāli samaya có nghĩa: thời tiết, cơ hội. Trong Skt., samaya c̣n có nghĩa “tập hội.” Ngũ phần: đại hội thời 大會時. Thập tụng: đại tập hội. Căn bản: đại chúng thực 大眾食.

[14] Pāli: samaṇabhattasamayo, được giải thích: “bữa ăn của sa-môn, nghĩa là bữa ăn được làm bởi sa-môn.” (Vi. iv. 475).

[15] Ngũ phần, ba-dật-đề 34. Tăng kỳ, ba-dật-đề 38; Thập tụng, Căn bản, ba-dật-đề 33. Pāli, Pāc. 34.

[16] Già-nhă-na 伽若那. Tăng kỳ: Hạt Nhăn 瞎眼. Thập tụng: Lai Nhăn 睞眼; v́ mắt lé. Pāli: Kāṇamātā.

[17] Pāli: ba lần cô chuẩn bị lương thực đi đường đều lần lượt bố thí hết cho ba tỳ-kheo, nên trễ chuyện về nhà chồng. Các bộ khác cũng vậy.

[18] Hán: bính, khứu 餅糗. Pāli: pūvehi vā manthehi, giải thích, pūva, bánh để làm quà; mantha, lương khô để đi đường.

[19] Ngũ phần, Tăng kỳ, Thập tụng: xuất ngoại 出外, ra khỏi chỗ đó. Căn bản: trở về trú xứ. Pāli: tato nīharitvā, sau khi mang ra khỏi chỗ đó; giải thích: nhận xong rồi trở về (paṭikkamaṃ).

[20] Tỳ-kheo này không mang về bát nào, nhắc tỳ-kheo khác biết có thể mang về hai hoặc ba bát.

[21] Tỳ-kheo này đă mang về một bát, nhắc tỳ-kheo kế tiếp biết chỉ được mang về tối đa hai bát.

[22] Tỳ-kheo này đă mang về hai bát, nhắc tỳ-kheo kế tiếp biết chỉ được mang về một bát nữa thôi.

[23] Ngũ phần, ba-dật-đề 35; Tăng kỳ, ba-dật-đề 33; Thập tụng, Căn bản, ba-dật-đề 34. Pāli, Pāc. 35.

[24] Nhất thực pháp 一食法 hay nhất tọa thực, ngày ăn một bữa. Pāli: ekāsana/ ekabhatta. Bản Hán đọc là eka-asana: một lần ăn, nhất thực. Các bản khác đọc eka-āsana, một chỗ ngồi, nhất tọa (thực). Cf. M.i. 437.

[25] Khư-xà-ni 佉闍尼. Pāli: khādanīya, thức ăn loại cứng (cần phải cắn). Xem giải thích đoạn giới tướng, và cht. 201 ba-dật-đề 32.

[26] Chánh thực 正食. Pāli: bhojanīya, thức ăn loại mềm. Xem cht. ch ba-dật-đề 32.

[27] Sác sác thực 數數食.

[28] Túc thực pháp 足食法. Xem đoạn sau.

[29] Tăng kỳ: “… ăn đă đủ, đă rời chỗ ngồi…” Pāli: bhuttāvī pavārito, ăn đă xong, và đă no. Bản Hán hiểu pavārito là “được yêu cầu.”

[30] Dư thực pháp 餘食法. Ngũ phần, và các bộ khác: tàn thực pháp 殘食法.

[31] Cf. Ngũ phần 7 (tr.52c13), mỗi loại thức ăn có 5 sự được nói là túc thực: có thức ăn, đă trao cho, đă nhận và đă nhai và nuốt, ăn đă xong, đă rời khỏi chỗ ngồi, gọi là túc thực (ăn đă đủ). Pāli, Vin. iv. 82, 5 yếu tố để thành túc thực: 1. được biết là đang ăn (asanaṃ paññāyati), 2. được biết là có thức ăn (bhojanaṃ paññāyati), 3. đứng gần trong tầm tay (hatthapāse ṭhito), 4. mang đến cho (abhiharati), 5. được biết là đă từ chối, v́ đă ăn no (paṭikkhepo paññāyati).

[32] Nghĩa là, không c̣n “đang đi” nữa.

[33] Nội dung các đoạn lặp chỉ khác nhau về thức ăn.

[34] Pāli: khādanīya, thức ăn loại cứng (cần phải cắn), được giải thích (Vin. iv. 83): trừ 5 loại thức ăn chính (bhojanīya, loại mềm), trừ thực phẩm loại để qua đêm, 7 ngày, và suốt đời, c̣n lại đều là thức ăn loại cứng. Thập tụng (tr.91b11), 5 loại khư-đà-ni 佉陀尼: rễ, cọng, lá, mài, quả 根莖葉磨果. Căn bản (tr.821b22): rễ, cọng, lá, hoa, quả 根莖葉花果. Ngũ phần 7 (tr.52c12): phạn (cơm), can phạn (cơm khô), bính xiếu (bánh bột), ngư (cá), nhục (thịt) 飯乾飯餅糗魚肉

[35] Ma tế mạt 磨細末. Đoạn sau nói là tế mạt thực 細末食.