XXVIII. Đi chung thuyền với tỳ-kheo-ni[1]
A. Duyên khởi
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo và nhóm sáu tỳ-kheo-ni[2] đi chung trên một thuyền xuôi ngược ḍng nước.
Các cư sĩ thấy cơ hiềm, cùng nhau họ bàn tán: “Sa-môn Thích tử không biết tàm quư, không tu phạm hạnh. Bên ngoài tự xưng, ta tu chánh pháp, như vậy có ǵ là chánh pháp? Trong khi cùng tỳ-kheo-ni đi chung trên một thuyền xuôi ngược ḍng nước, nếu khi ham muốn nổi lên th́ dừng thuyền bên cạnh bờ sông mà tuỳ ư chứ ǵ?”
Lúc bấy giờ, các tỳ-kheo nghe được, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo: “Sao lại cùng với nhóm sáu tỳ-kheo-ni đi chung trên một thuyền xuôi ngược ḍng nước?”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền dùng nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
“Việc các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Sao lại cùng với nhóm sáu tỳ-kheo-ni đi chung trên một thuyền xuôi ngược ḍng nước?”
Đức Thế Tôn quở trách rồi, bảo các tỳ-kheo:
“Những kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, đi chung thuyền với tỳ-kheo-ni, ngược ḍng nước hay xuôi ḍng nước, ba-dật-đề.
Thế Tôn [653a1] v́ tỳ-kheo kết giới như vậy. Bấy giờ, các tỳ-kheo v́ không hẹn mà gặp, nên e sợ. Đức Phật dạy:
“Không hẹn th́ không phạm.”
Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo nào, cùng hẹn và cùng đi chung thuyền với tỳ-kheo-ni, ngược ḍng nước hay xuôi ḍng nước, ba-dật-đề.
Thế Tôn v́ tỳ-kheo kết giới như vậy. Lúc ấy có số đông tỳ-kheo muốn từ bờ bên này vượt qua bờ bên kia sông Hằng. Vào thời điểm ấy, có số đông tỳ-kheo-ni cũng muốn từ bờ bên này vượt qua bờ bên kia sông Hằng, nên các tỳ-kheo-ni đến thưa:
“Chư Đại đức muốn đi đâu?”
Tỳ-kheo nói: “Chúng tôi muốn qua sông Hằng.”
Tỳ-kheo-ni thưa hỏi: “Chúng con có thể cùng qua được không?”
Các tỳ-kheo nói:
“Các cô qua trước, chúng tôi qua sau. Nếu không th́ các cô qua sau, chúng tôi qua trước. Tại sao vậy? V́ đức Thế Tôn chế giới, không được đi chung một thuyền với tỳ-kheo-ni qua sông. Cho nên không được.”
Tỳ-kheo-ni thưa: “Chư Đại đức là bậc tôn kính của chúng con. Thỉnh các ngài qua trước, chúng con sẽ qua sau.”
Lúc ấy, vào mùa hạ, mưa lớn, nước lớn, thuyền đến bờ bên kia, trong khi chưa trở lại th́ trời đă sẫm tối. Các tỳ-kheo-ni phải ngủ lại bờ bên này, đêm ấy gặp phải giặc cướp. Các tỳ-kheo đến bạch với đức Phật, Phật dạy: “Cùng qua ngang th́ không phạm.”
Từ nay trở đi ta sẽ kết giới như vầy:
Tỳ-kheo nào, cùng hẹn và cùng đi chung thuyền với tỳ-kheo-ni, ngược ḍng nước hay xuôi ḍng nước,[3] trừ sang ngang, ba-dật-đề.
B. Giới tướng
Tỳ-kheo: nghĩa như trước.
Cùng hẹn: cũng như trước.
Thuyền: như trước đă giải.[4]
Nếu tỳ-kheo nào hẹn và đi chung thuyền với tỳ-kheo-ni, đi ngược ḍng hay xuôi ḍng nước, trừ qua ngang, nếu vào trong thuyền, ba-dật-đề. Một chân trong thuyền, một chân ngoài đất, hoặc phương tiện muốn vào mà không vào, hoặc cùng hẹn chuẩn bị hành trang, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la, đó gọi là phạm.
Sự không phạm: không hẹn, hoặc ngang qua đến bờ bên kia (đ̣ ngang); hoặc vào trong thuyền, thuyền sư lạc hướng phải đi ngược ḍng hay đi xuôi ḍng nước; hoặc đến bờ bên kia được an ổn; hoặc bị thế lực bắt, hoặc bị trói, mạng nạn, phạm hạnh nạn, tất cả không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
XXIX.Thức ăn do tỳ-kheo-ni khuyến hóa[5]
A. Duyên khởi
Một thời, đức Thế Tôn ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, [653b] trong thành Xá-vệ có một cư sĩ thỉnh ngài Xá-lợi-phất và Mục-liên thọ thực.
Đêm ấy, cư sĩ chuẩn bị đầy đủ các thức ăn ngon, sáng ngày trải tọa cụ tốt, sửa soạn chỗ ngồi, cho đến lúc đi báo giờ.[6]
Lúc bấy giờ, tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà trước đó có thân quen với nhà cư sĩ. Sáng hôm đó, Thâu-la-nan-đà khoác y, bưng bát, đến nhà cư sĩ kia; thấy cư sĩ đă trải nhiều tọa cụ tốt nơi đất trống rồi, liền hỏi cư sĩ rằng:
“Trải nhiều tọa cụ như thế này là muốn thỉnh các tỳ-kheo phải không?”
Cư sĩ trả lời: “Đúng như vậy.”
Cô hỏi: “Thỉnh những tỳ-kheo nào?”
“Thưa, tôi thỉnh ngài Xá-lợi-phất và Mục-liên.”
Tỳ-kheo-ni nói rằng:
“Những vị được thỉnh đó đều là những người hèn mọn. Trước kia, nếu hỏi tôi th́ tôi sẽ v́ cư sĩ thỉnh những vị rồng trong loài rồng.”
Cư sĩ hỏi rằng:
“Rồng trong loài rồng là những vị nào?”
Tỳ-kheo-ni trả lời rằng:
“Như Tôn giả Đề-bà-đạt, Tam-văn-đà-la-đạt, Khiên-đà-la-đạt-bà, Cù-bà-ly, Ca-lưu-la-đề-xá…”[7]
Trong khi cô đang nói th́ ngài Xá-lợi-phất và Mục-liên vừa đến nơi. Tỳ-kheo-ni vừa thấy liền trở lời, nói với cư sĩ rằng:
“Rồng trong loài rồng đă đến.”
Cư sĩ liền hỏi tỳ-kheo-ni rằng:
“Vừa rồi cô nói là hạng người hèn mọn, sao bây giờ cô lại nói là rồng trong loài rồng? Từ nay trở đi cô đừng đến nhà tôi nữa.”
Lúc bấy giờ cư sĩ thỉnh hai ngài ngồi. Hai ngài đến chỗ ngồi an tọa. Cư sĩ đem những đồ ăn, thức uống ngon ngọt, bổ dưỡng cúng dường. Hai ngài thọ thực xong, thu dọn chén bát rồi, thí chủ đảnh lễ dưới chân, lấy cái ghế nhỏ ngồi qua một bên, bạch rằng:
“Con muốn được nghe pháp.”
Hai ngài v́ gia chủ nói các pháp vi diệu, khuyến khích khiến cho họ hoan hỷ. V́ thí chủ nói pháp rồi, hai ngài từ ṭa cáo lui, về lại trong Tăng-già-lam. Đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên. Đức Thế Tôn biết mà vẫn hỏi tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-liên:
“Hôm nay hai thầy thọ thực có được đầy đủ không?”
Tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-liên bạch Phật rằng:
“Thức ăn tuy đầy đủ nhưng khi chúng con ở nhà cư sĩ th́ vừa là hạng người hèn mọn, vừa là rồng trong loài rồng.”
Đức Phật hỏi rằng:
“V́ sao có việc như vậy?”
Hai Tôn giả đem nhân duyên trên bạch đầy đủ lên đức Phật rằng:
“Đó là Đề-bà-đạt khiến tỳ-kheo-ni bè đảng khuyến hóa sự cúng dường để được nhận ẩm thực.”
Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, biết mà Ngài vẫn [653c] hỏi tỳ-kheo bè đảng của Đề-bà-đạt-đa:
“Thật sự các ông có sai tỳ-kheo-ni đến nhà đàn-việt khen ngợi các ông để khuyến hóa thức ăn hay không?”
Các tỳ-kheo bè đảng thưa:
“Kính bạch đức Thế Tôn, có thật như vậy.”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách tỳ-kheo bè đảng Đề-bà-đạt-đa rằng:
“Việc các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Sao các ông sai tỳ-kheo-ni khuyến hóa đàn-việt để nhận thức ăn của họ?”
Quở trách tỳ-kheo bè đảng của Đề-bà-đạt-đa rồi, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
“Những kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, sai tỳ-kheo-ni khuyến hóa, nhận được thức ăn, ba-dật-đề.
Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy. Bấy giờ các tỳ-kheo không biết có khuyến hóa hay không khuyến hóa, sau đó mới biết nên hoặc có vị tác pháp sám ba-dật-đề, hoặc có vị nghi ngờ. Đức Phật dạy: “Trước đó không biết th́ không phạm.”
Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo nào, đă biết tỳ-kheo-ni giáo hóa,[8] nhận được thức ăn, ba-dật-đề.
Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy. Bấy giờ, trong thành La-duyệt có đại trưởng giả là thân hữu tri thức của Lê-sư-đạt,[9] nói rằng: “Nếu Đại đức Lê-sư-đạt đến thành La-duyệt th́ chúng ta sẽ v́ việc mới đến của Lê-sư-đạt mà cúng dường chúng Tăng.”
Tỳ-kheo-ni, người trong nhà của trưởng giả nghe lời nói ấy, im lặng để bụng.
Sau đó, khi Tôn giả Lê-sư-đạt đến thành La-duyệt. Tỳ-kheo-ni nghe Tôn giả Lê-sư-đạt đến, liền đến nói với trưởng giả rằng: “Trưởng giả muốn biết không? Lê-sư-đạt đă đến thành La-duyệt.” Ông trưởng giả liền sai người tin cậy đến trong Tăng-già-lam thỉnh Tôn giả và chúng Tăng nhận bữa cơm cúng dường sáng ngày mai.
Trong đêm đó trưởng giả sửa soạn đầy đủ các thứ đồ ăn thức uống ngon ngọt bổ dưỡng, sáng sớm, khi đến giờ, mời các ngài thọ thực.
Lúc ấy, các tỳ-kheo khoác y, bưng bát, đến nhà ông trưởng giả an tọa nơi chỗ ngồi. Ông trưởng giả đến chỗ Lê-sư-đạt nói rằng:
“Chính v́ Tôn giả nên tôi cúng dường chúng Tăng bữa trai hôm nay.”
Lê-sư-đạt hỏi ông trưởng giả: “Tại sao biết tôi đến đây?”
Ông trưởng giả trả lời: “Tỳ-kheo-ni được gia đ́nh tôi cúng dường báo cho biết.”
Lê-sư-đạt nói với ông trưởng giả rằng:
“Nếu [654a1] thật như vậy th́ tôi không thể ăn thức ăn này.”
Ông trưởng giả thưa:
“Không phải do cô tỳ-kheo-ni này nói nên tôi thiết lập bữa ăn hôm nay, mà chính trước đây tôi có thệ nguyện, nếu Tôn giả đến th́ tôi thiết trai cúng dường cho chúng Tăng.”
Lê-sư-đạt nói với ông trưởng giả:
“Tuy ông có nguyện như vậy nhưng tôi cũng không thể nhận ăn bữa ăn hôm nay được.”
Lê-sư-đạt liền thôi không ăn.
Lúc bấy giờ, các tỳ-kheo đến bạch lên đức Phật một cách đầy đủ, đức Phật bảo: “Nếu trước đó đàn-việt đă có ư th́ không phạm.”
Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo nào, ăn thức ăn được biết là do tỳ-kheo-ni khen ngợi giáo hóa, trừ đàn-việt có chủ ư trước,[10] ba-dật-đề.
B. Giới tướng
Tỳ-kheo: nghĩa như trước.
Giáo hóa:[11] như nói, “Vị này sống a-luyện-nhă, sống với hạnh khất thực, mặc y phấn tảo, tác pháp dư thực[12] rồi không ăn, nhất tọa thực,[13] nhất đoàn thực,[14] ở nơi g̣ mả, ngồi nơi đất trống, ngồi dưới gốc cây, thường ngồi không nằm,[15] tŕ ba y, tán thán kệ, đa văn pháp sư, tŕ luật, tọa thiền…
Thức ăn: đồ ăn nhận được khoảng từ sáng đến trưa.
Tỳ-kheo kia ăn thức ăn được biết là do tỳ-kheo-ni giáo hóa, mỗi miếng nuốt là phạm một ba-dật-đề. Trừ thức ăn bằng cơm ra, các thứ khác được biết do khuyến hoá mà được, như áo lót, đèn dầu, dầu thoa chân, tất cả đều phạm đột-kiết-la. Biết là giáo hóa, tưởng giáo hóa, ba-dật-đề. Giáo hóa mà nghi, đột-kiết-la. Không giáo hóa tưởng giáo hóa, đột-kiết-la. Không giáo hóa mà nghi, đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: hoặc không biết, hoặc đàn-việt có ư trước; hoặc giáo hóa mà tưởng là không giáo hóa; hoặc tỳ-kheo-ni tự làm, đàn-việt khiến tỳ-kheo-ni phụ trách, không cố ư giáo hóa mà khất thực được; tất cả không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
XXX. Đi chung đường với người nữ[16]
A. Duyên khởi
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, có người Tỳ-xá-ly gả con gái cho người nước Xá-vệ. Sau đó, nàng dâu cùng mẹ chồng căi lộn, nên cô trở về bổn quốc.
Ngay lúc ấy, Tôn giả A-na-luật cũng từ nước Xá-vệ muốn đến nước Tỳ-xá-ly. Lúc ấy, người phụ nữ kia hỏi tôn giả A-na-luật rằng: “Tôn giả muốn đến đâu?”
Tôn giả trả lời: “Tôi muốn đến Tỳ-xá-ly.”
Người phụ nữ liền thưa: “Cho con đi theo được không?”
Tôn giả chấp thuận.
Lúc bấy giờ, Tôn giả A-na-luật cùng người phụ nữ này đi chung một đường.
Lúc người phụ nữ ra đi th́ trước đó phu chủ của cô đă không có ở nhà. [654b] Ngày hôm sau trở về nhà, không thấy vợ ḿnh đâu, liền hỏi bà mẹ rằng:
“Vợ của con làm ǵ? Ở đâu?”
Bà mẹ ông trả lời:
“Nó căi lộn với ta, bỏ nhà trốn đi rồi. Không biết hiện ở đâu.”
Bấy giờ người phu chủ vội vă đuổi theo. Trên đường đi bắt gặp được vợ. Ông chồng đến hỏi Tôn giả A-na-luật rằng:
“Tại sao ông dẫn vợ của tôi chạy trốn?”
Lúc ấy A-na-luật liền nói:
“Thôi! Thôi! Đừng nói vậy. Chúng tôi không có vậy đâu!”
Ông trưởng giả nói rằng:
“Tại sao nói không như vậy? Hiện tại ông cùng đi chung với vợ tôi!”
Vợ ông ta nói với chồng rằng:
“Em cùng Tôn giả này đi, cũng như anh em cùng đi. Không có ǵ là tội lỗi.”
Người chồng nói rằng:
“Hôm nay người này dẫn mày chạy trốn cho nên mới nói như vậy.”
Người đàn ông ấy vừa nói xong liền đánh Tôn giả A-na-luật gần chết.
Lúc ấy, Tôn giả A-na-luật liền bước xuống đường, vào nơi chỗ vắng vẻ, kiết già phu tọa, thẳng ḿnh chánh ư, buộc niệm trước mặt, nhập hỏa quang tam-muội. Lúc ấy trưởng giả thấy vậy liền khởi thiện tâm, ông nghĩ rằng: “Nếu Tôn giả A-na-luật này từ nơi tam-muội xuất, th́ tôi sẽ lễ bái sám hối.”
Khi ấy Tôn giả A-na-luật từ tam-muội xuất, ông trưởng giả bèn thưa để sám hối:
“Cúi xin Đại đức nhận sự sám hối của con.”
Tôn giả A-na-luật chấp nhận sự sám hối của ông. Lúc ấy trưởng giả kính lễ dưới chân Tôn giả xong, ngồi qua một bên. Tôn giả v́ trưởng giả nói các pháp vi diệu khiến ông ta phát tâm hoan hỷ. Nói pháp xong, Tôn giả từ chỗ ngồi đứng dậy đi.
Lúc bấy giờ, Tôn giả A-na-luật thọ thực xong, đến trong Tăng-già-lam, đem nhân duyên này kể đầy đủ lại cho các tỳ-kheo.
Trong số các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách A-na-luật: “Sao ngài A-na-luật lại một ḿnh đi chung một đường cùng với người phụ nữ?”
Lúc bấy giờ, các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền dùng nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, biết mà Ngài vẫn hỏi A-na-luật:
“Thật sự ông có đi chung một đường với người phụ nữ hay không?”
Tôn giả thưa:
“Kính bạch đức Thế Tôn, có thật như vậy.”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách A-na-luật rằng:
“Việc ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Sao ông đi chung một đường cùng với người nữ?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách A-na-luật rồi, [654c] nói với các tỳ-kheo:
“A-na-luật này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới ban đầu. Từ nay trở đi Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, đi chung đường với người nữ, nhẫn đến trong khoảng giữa hai thôn, ba-dật-đề.
Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy. Lúc ấy có các tỳ-kheo không hẹn nhưng giữa đường t́nh cờ gặp, v́ e sợ, không dám đi chung.
Đức Phật dạy: “Không hẹn th́ không phạm.”
Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo nào, cùng hẹn và đi chung đường với người nữ, nhẫn đến trong khoảng giữa hai thôn,[17] ba-dật-đề.
B. Giới tướng
Tỳ-kheo: nghĩa như trước.
Người nữ: như trước đă nói.
Cùng hẹn: cũng như đă nói trước.[18]
Đường: như trước đă giải.[19]
Nếu tỳ-kheo hẹn và đi chung đường với người phụ nữ, nhẫn đến khoảng giữa hai thôn, tùy theo giới vức hoặc nhiều hay ít, mỗi mỗi đều phạm ba-dật-đề. Nếu trong khoảng đồng trống không có thôn mà đi khoảng mười dặm, phạm ba-dật-đề.
Nếu đi chưa tới một thôn, hay chưa tới mười dặm, phạm đột-kiết-la. Nếu đi chung trong phần giới của thôn, phạm đột-kiết-la. Nếu phương tiện muốn đi mà không đi, hoặc hẹn chuẩn bị mà không đi, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, đột kiết la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: hoặc trước đó không cùng hẹn; hoặc việc cần đến đó được an ổn, hoặc bị cường lực bắt, hoặc bị trói, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn, tất cả không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
XXXI. Lữ quán một bữa ăn[20]
A. Duyên khởi
Một thời, đức Thế Tôn ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ nước Câu-tát-la có thôn không có trú xứ,[21] nên có cư sĩ xây cất trú xứ[22] cho tỳ-kheo, thường cung cấp đồ ăn, thức uống. Nếu trụ nơi trú xứ này sẽ được nhận sự cúng dường một bữa ăn.
Lúc bấy giờ có nhóm sáu tỳ-kheo muốn đến thôn không có trú xứ nước Câu-tát-la. Khi đến trú xứ kia trải qua một đêm. Nhóm sáu tỳ-kheo nhận được đồ ăn thức uống ngon ngọt bổ dưỡng. Lại qua đêm thứ hai cũng nhận được đồ ăn thức uống ngon ngọt bổ dưỡng, nên nhóm sáu tỳ-kheo khởi lên ư nghĩ rằng: “Sở dĩ chúng ta du hành là v́ thức ăn. Nay th́ đă được.” Rồi họ thường xuyên ăn ở trú xứ này.
Bấy giờ, các cư sĩ đều cùng cơ hiềm, “Sa-môn Thích tử này không biết chán, không biết đủ, không biết tàm quư. Bên ngoài [655a1] tự xưng ta biết chánh pháp. Như vậy có ǵ là chánh pháp? Họ thường xuyên đến nhận thức ăn ở nơi trú xứ này. Làm như chúng ta phải thường xuyên cung cấp thức ăn cho sa-môn Thích tử này. Bản nguyện của chúng ta là cung cấp cho những vị tạm trú một đêm mà thôi.”
Lúc bấy giờ, các tỳ-kheo nghe được; trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo rằng: “Nhóm sáu tỳ-kheo, sao các Thầy cứ ở nơi trú xứ này để nhận thức ăn hoài vậy?”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền dùng nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rằng: “Việc các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Sao các ông cứ ở nơi trú xứ này để nhận thức ăn hoài vậy?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rồi, bảo các tỳ-kheo: “Những kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, nơi trú xứ cho một bữa, chỉ nên nhận một bữa; nếu nhận quá một bữa, ba-dật-đề.
Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy. Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất ở nước Câu-tát-la du hành cũng đến nơi thôn không có trú xứ ấy, trụ lại một đêm, sáng ngày nhận được thức ăn ngon.
Hôm ấy, Tôn giả Xá-lợi-phất lâm bệnh nhưng nghĩ, đức Thế Tôn đă chế giới, tỳ-kheo nơi ngủ trọ một đêm chỉ nhận một bữa ăn, nếu nhận quá, ba-dật-đề. V́ vậy, dù bị bệnh, Tôn giả vẫn dời đi chỗ khác. Do vậy bệnh t́nh càng nguy kịch. Lúc bấy giờ, các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Từ nay trở đi cho phép tỳ-kheo bệnh nhận quá một bữa ăn.”
Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo nào, nơi trú xứ cho một bữa, tỳ-kheo không bệnh chỉ nên nhận một bữa; nếu nhận quá một bữa, ba-dật-đề.
B. Giới tướng
Tỳ-kheo: nghĩa như trước.
Trú xứ: nơi đó được ở một đêm.
Bữa ăn: nhẫn đến bữa ăn đúng thời.
Bệnh: rời khỏi thôn đó th́ bệnh bị tăng.
Nếu tỳ-kheo không bệnh, đối với nơi nghỉ tạm một đêm đó, mà nhận quá bữa ăn, mỗi miếng ăn phạm một ba-dật-đề. Ngoài thức ăn ra, nhận các thứ áo lót, dầu thắp đèn, dầu thoa chân, tất cả phạm đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: nghỉ một đêm nhận một bữa ăn; bệnh th́ được nhận hơn một bữa ăn. Nếu cư sĩ mời: [655b] “Mời Đại đức ở lại. Con sẽ cúng thức ăn. Chúng con v́ sa-môn Thích tử cho nên thiết lập nơi nghỉ đêm này và cung cấp đồ ăn thức uống. Nếu không có sa-môn Thích tử th́ cũng sẽ cúng cho người khác vậy.”
Hoặc đàn-việt theo thứ tự mời thọ thực, hoặc các cậu, các cô, các chị, các bà theo thứ tự mời thọ thực th́ không phạm. Hoặc hôm nay thọ của người này, ngày mai thọ của người khác. Hoặc bị nước lụt, đạo lộ gặp nguy hiểm; hoặc có giặc cướp, hổ lang sư tử, hoặc bị thế lực bắt, hoặc bị trói nhốt, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn, nhận quá bữa ăn không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
XXXII. Triển chuyển thực[23]
A. Duyên khởi
Một thời, đức Thế Tôn ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành La-duyệt-kỳ. Từ thành La-duyệt, đức Thế Tôn cùng với chúng đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị du hành trong nhân gian.
Vào lúc đó, trong nước mùa màng không thu hoạch được, giá lúa gạo tăng cao, khất thực khó khăn. Người người có sắc diện đói.
Bấy giờ, có năm trăm hành khất đi theo sau đức Thế Tôn. Lúc ấy, có người bà-la-môn tên là Sa-nậu[24] vận chuyển năm trăm cỗ xe chở đầy đồ ăn thức uống đi theo sau đức Thế Tôn, hết mùa đông đến mùa hạ, chờ ngày nào không có ai cúng th́ thiết trai cúng dường Phật và Tăng.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn, từ nước Ma-kiệt-đà, tuần tự giáo hóa đến quốc giới của A-na-tần-đầu.[25] Nhân dân trong nước kia tranh nhau cúng dường thức ăn cho Phật và Tăng tỳ-kheo, không có ngày nào thiếu vắng. Người bà-la-môn chờ măi không có ngày trống nào để thiết trai cúng dường, liền đến chỗ Tôn giả A-nan thưa với Tôn giả rằng:
“Tôi là Sa-nậu có chở đầy đồ ăn thức uống trong năm trăm cỗ xe. Đă trải qua cả mùa đông sang mùa hạ, theo sau đức Thế Tôn, chờ ngày nào không có người cúng th́ thiết trai cúng dường. Song đến nay tôi vẫn chưa cúng dường được v́ không có ngày nào mà không có người cúng. Chúng tôi là người thế tục, có nhiều việc khó khăn; hoặc phải phục dịch theo lệnh nhà quan, cho đến đối với ngày đoán sự phải có mặt, lại phải lo liệu lư về gia nghiệp, và phải cung cấp của cải gạo thóc cho nhà quan. Măi chạy theo những công việc công có tư có nên không hề có thời gian dừng nghỉ. Cúi xin Tôn giả v́ tôi bạch lên đức Phật. Đức Phật dạy thế nào chúng tôi sẽ phụng hành thế đó. Nếu đức Phật và Tăng không thể nhận phẩm vật cúng dường của chúng tôi, th́ chúng tôi sẽ dùng thức ăn hiện ở trên năm trăm chiếc xe này, trải trên đường đi. Cầu Phật và Tăng bước lên trên mà đi qua, tức là nhận sự cúng dường của chúng tôi rồi vậy.”
Tôn giả A-nan bảo:
“Chờ một chút. [655c] Tôi vào bạch đức Thế Tôn ngay bây giờ.”
Bấy giờ Tôn giả đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi đứng qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn:
“Kính bạch đức Thế Tôn, có bà-la-môn Sa-nậu vừa đến chỗ con thưa như vầy, ‘Tôi có chở đầy đồ ăn thức uống trong năm trăm cỗ xe. Đă trải qua cả mùa đông sang mùa hạ, theo sau đức Thế Tôn, chờ ngày nào không có người cúng th́ thiết trai cúng dường. Song đến nay tôi vẫn không được cúng dường, v́ không có ngày nào mà không có người cúng. Chúng tôi là người thế tục, có nhiều việc khó khăn; hoặc phải phục dịch theo lệnh nhà quan, cho đến đối với ngày đoán sự phải có mặt, lại phải lo liệu lư về gia nghiệp, và phải cung cấp của cải gạo thóc cho nhà quan. Măi chạy theo những công việc công có tư có nên không hề có thời gian dừng nghỉ. Cúi xin Tôn giả v́ tôi bạch lên đức Phật.
Đức Phật dạy thế nào chúng tôi sẽ phụng hành thế đó. Nếu đức Phật và Tăng không thể nhận phẩm vật cúng dường của chúng tôi, th́ chúng tôi sẽ dùng thức ăn hiện ở trên năm trăm chiếc xe này, trải trên đường đi. Cầu Phật và Tăng bước lên trên mà đi qua, tức là nhận sự cúng dường của chúng tôi rồi vậy.’ Con có nói với người bà-la-môn Sa-nậu rằng, ‘Chờ tôi một chút. Tôi vào bạch đức Phật.’ Cho nên con đến thưa, xin tôn ư đức Thế Tôn.”
Lúc bấy giờ, đức Phật bảo Tôn giả A-nan:
“Ông có thể đến nói với người bà-la-môn, sáng mai đem đồ ẩm thực đó nấu thành cháo cúng các tỳ-kheo ăn trước khi thọ bữa ăn chính.”
Bấy giờ, Tôn giả A-nan vâng lời Phật dạy, liền đến chỗ người bà-la-môn nói rằng: “Ông có thể dùng những thức ăn ấy nấu cháo cúng các tỳ-kheo ăn trước khi thọ bữa ăn chính.”
Bấy giờ người bà-la-môn quan sát thấy trong những thứ đă được cúng dường không hề có bánh, nên trong đêm ấy sửa soạn các loại mỹ vị như: dầu bơ, hạt vừng, sữa tươi, nước sạch, gừng, tiêu, tất bạt[26] để nấu các loại cháo và làm các thứ bánh.[27] Đêm đă qua, Sa-nậu đem cháo cúng dường Phật và Tăng tỳ-kheo. Song các tỳ-kheo không dám thọ nhận, và nói với bà-la-môn rằng: “Đức Thế Tôn chưa cho phép tỳ-kheo nhận bơ dầu cho đến ba món thuốc[28] mà nấu thành cháo.”
Bấy giờ, các tỳ-kheo đem nhân duyên này bạch lên đức Phật một cách đầy đủ. Đức Phật bảo các tỳ-kheo:
“Từ nay trở đi cho phép các tỳ-kheo nhận dầu bơ cho đến ba món thuốc nấu thành cháo để ăn. Ăn cháo có năm điều lành: Trừ đói, trừ khát, làm tiêu thức ăn qua đêm, điều ḥa tiểu tiện và trừ bệnh phong. Ăn cháo có năm việc hay như vậy.”
Bấy giờ, người bà-la-môn đem bánh[29] dâng. Các tỳ-kheo không dám nhận và bảo người bà-la-môn rằng:
“Đức Thế Tôn chưa cho phép tỳ-kheo nhận bánh.”
Các tỳ-kheo liền đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
“Từ nay cho phép các tỳ-kheo nhận bánh để ăn.”
Bấy giờ, [656a1] các cư sĩ ở nước A-na-tân-đầu nghe đức Thế Tôn cho phép nhận bánh và cháo để ăn, đều hết sức vui mừng, họ nói với nhau:
“Chúng ta có cơ hội được làm phước cúng dường.”
Sau khi họ cúng dường xong, lại có một vị đại thần mà tín tâm nông cạn, thấy đức Phật và chư Tăng nhận được nhiều phẩm vật cúng dường, bèn nói như vầy:
“Đây không phải là thửa ruộng ít phước. Trong lúc gạo khan hiếm mà đức Phật và Tăng tỳ-kheo nhận được phẩm vật cúng dường nhiều đến như thế này. Nay ta nên sắm sửa các loại đồ ăn thức uống ngon bổ cúng dường mỗi vị một tô thịt.”
Bấy giờ, vị đại thần liền sai người đến trong Tăng-già-lam thưa:
“Bạch Đại đức Tăng, cúi xin quư ngài ngày mai nhận lănh bữa cúng dường của tôi.”
Đêm ấy đại thần cho sửa soạn các loại đồ ăn thức uống ngon ngọt bổ dưỡng và sáng ngày đi báo đă đến giờ.
Hôm đó, đức Thế Tôn ở lại Tăng-già-lam; sai người nhận phần ăn.[30]
Bấy giờ, có các cư sĩ nơi nước A-na-tân-đầu trước đó đă nghe đức Phật cho phép các tỳ-kheo ăn cháo, nên trong đêm đó cũng sửa soạn các thứ cháo như trên đầy đủ, sáng sớm đem đến trong Tăng-già-lam dâng cúng các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo trước đó cũng đă nhận sự mời ăn của người khác, và lại ăn loại cháo đặc này, sau mới đến nhà vị đại thần. Khi ấy vị đại thần tín tâm mỏng ấy dâng các loại đồ ăn thức uống lên các tỳ-kheo, các tỳ-kheo nói:
“Thôi, thôi, sớt một ít thôi!”
Vị đại thần thưa các tỳ-kheo: “Tôi v́ các tỳ-kheo nên sắm sửa các thứ đồ ăn thức uống ngon bổ dâng cúng, mỗi vị một tô thịt. Các Đại đức chớ nên nghĩ rằng ḷng tin mỏng mà không dùng cho no. Quư ngài cứ ăn. Tôi cũng có tín tâm vậy.”
Các tỳ-kheo bảo: “Không phải v́ vậy mà chúng tôi dùng ít đâu. V́ nhân dân trong thành nghe tin đức Phật cho phép các tỳ-kheo ăn cháo và bánh, nên đêm vừa rồi họ đă sắm sửa đầy đủ các thứ dầu bơ, hạt vừng, sữa tươi, nước sạch, gừng, tiêu, tất bạt để nấu cháo. Sáng ngày đă đem đến trong Tăng-già-lam dâng cúng các tỳ-kheo. Chúng tôi đă ăn cháo trước rồi nên bây giờ không thể ăn nhiều được. Đại thần chớ nên ngại như vậy.”
Bấy giờ, vị đại thần tín tâm nông cạn liền cơ hiềm rằng:
“Tôi cố tâm v́ chúng Tăng làm các thứ đồ ăn thức uống ngon bổ cúng dường mỗi vị một tô thịt với ư nghĩ, mong muốn chúng Tăng dùng hết. Sao chư Tăng lại ăn cháo đặc trước khi đến thọ thực chúng tôi?”
Bấy giờ, vị đại thần sân hận, liền cất đi các thứ bánh thịt, những thứ mỹ vị; chỉ bố thí cơm canh mà thôi. Rồi vị đại thần liền đi đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, bạch Phật rằng: “Vừa rồi con thiết trai cúng dường; được phước nhiều hay tội nhiều?”
Đức Phật bảo vị đại thần:
“Sự cúng dường mà ông sửa soạn mang lại phước rất nhiều. [656b] Chính đó là nhân lành để sanh thiên. Các tỳ-kheo dù chỉ nhận một vắt cơm của ông đi nữa, nhưng phước đức ấy cũng vô lượng.”
Rồi đức Thế Tôn tuần tự nói các pháp bố thí, tŕ giới, sanh thiên. Ngài quở trách dục là tai hại, là ô uế;[31] khen ngợi ích lợi thiết thực của sự xuất ly, và giải thoát. Đức Phật v́ Đại thần nói các pháp này rồi, ngay nơi chỗ ngồi, vị đại thần đoạn trừ các trần cấu, đặng sự trong sạch của con mắt pháp, thấy pháp, đắc pháp, ở trong chánh pháp mà được tăng thượng quả.[32] Ông bạch Phật rằng:
“Từ nay trở đi con xin quy y Phật, Pháp, Tăng. Xin nhận con làm người ưu-bà-tắc; trọn đời không sát sinh, cho đến không uống rượu.”
Sau bữa ăn, đức Phật v́ nhân duyên này tập hợp các Tăng tỳ-kheo. Phật biết mà vẫn hỏi các tỳ-kheo:
“Sáng sớm hôm nay các ông ăn cháo đặc của người khác rồi, sau đó mới thọ thực do vị đại thần dâng cúng phải không?”
Đáp:
“Kính bạch đức Thế Tôn, thật như vậy.”
Bấy giờ, đức Thế Tôn mới dùng vô số phương tiện, quở trách các tỳ-kheo rằng:
“Việc các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Các ngươi ngu si, sao lại ăn cháo đặc trước rồi mới nhận sự cúng dường? Không được, đă nhận lời thỉnh trước mà c̣n ăn cháo đặc.[33] Cháo đặc là cháo lấy cọng cỏ kẻ ngang qua mà nó không hiệp lại. Cháo như vậy không được ăn, nếu ăn th́ trị như pháp.”
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn từ nước A-na-tần-đầu du hành trong nhân gian cùng với chúng tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị. Bấy giờ trong nước gặp lúc lúa thóc khan hiếm, khất thực khó được. Người người có sắc diện đói. Nhưng lại có năm trăm hành khất thường đi sau đức Thế Tôn.
Bấy giờ, đức Thế Tôn tuần tự du hành trong nước Ma-kiệt-đà, trở về thành La-duyệt. Trên đường đi đức Phật và chúng Tăng nhận được nhiều sự cúng dường. Trong thành La-duyệt có một vị nhạc sư tín tâm nông cạn, thấy đức Phật và Tăng tỳ-kheo nhận được nhiều sự cúng dường liền nghĩ rằng: “Đây không phải là thửa ruộng ít phước. Trong khi lúa gạo khan hiếm thế này mà Phật và Tăng tỳ-kheo nhận được quá nhiều phẩm vật cúng dường. Hôm nay ta hăy dùng vật sở hữu trong một năm, sắm sửa các đồ ăn thức uống béo bổ để cúng dường Phật và Tăng tỳ-kheo, riêng mỗi vị một tô thịt.” Nghĩ xong liền đến trong Tăng-già-lam bạch với các tỳ-kheo rằng:
“Sáng mai tôi xin được cúng dường một bữa ăn.”
Rồi trong đêm đó, ông sắm sửa mọi thức ăn ngon bổ xong, sáng ngày nhạc sư đến báo các ngài đă đúng giờ ăn. Bấy giờ, trong thành La-duyệt nhằm ngày tiết hội, các cư sĩ tranh nhau đem cơm, lương khô,[34] cơm khô, cá và thịt đến trong Tăng-già-lam để dâng cúng các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo nhận được thức ăn và ăn, xong sau đó mới đến thọ thỉnh nơi nhà nhạc sư. [656c] Bấy giờ nhạc sư đích thân tiếp các đồ ăn thức uống để cúng dường. Các tỳ-kheo nói:
“Thôi, thôi, cư sĩ đừng sớt nhiều thức ăn quá! “
Vị nhạc sư nói:
“Tôi tích lũy vật sở hữu một năm, cố tâm v́ Tăng tỳ-kheo sắm sửa những thức ăn ngon bổ để dâng cúng mỗi vị một tô thịt. Xin quư vị đừng nghĩ rằng tín tâm của tôi mỏng, sợ sanh ḷng bất tín mà không ăn nhiều. Xin các ngài cứ thật t́nh thọ dụng. Tôi có ḷng tin ưa thật sự.”
Các tỳ-kheo trả lời vị nhạc sư rằng:
“Chúng tôi không phải nghĩ như vậy nên không ăn nhiều. Mà v́ vừa rồi chúng tôi đă nhận thức ăn của các người trong thành Vương-xá, cho nên bây giờ chỉ ăn ít thôi. Ngoài ra không có ư ǵ. Ông chớ nghi ngại như vậy.” Khi vị nhạc sư tín tâm mỏng nghe những lời như vậy, liền sanh cơ hiềm: “Sao, tôi dùng tất cả những vật sở hữu trong một năm, một ḷng v́ chúng Tăng sắm sửa các thức ăn ngon bổ cúng dường mỗi vị một tô thịt, mà các tỳ-kheo lại đi nhận cơm, lương khô, cơm khô, thịt và cá của người khác trước khi đến thọ thức ăn của tôi?” V́ vậy vị nhạc sư hờn giận, liền dọn cất hết các thức ăn béo bổ, chỉ để lại cơm canh mà thôi.
Sau đó, vị nhạc sư đi đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên. Sau khi ngồi xong, liền thưa hỏi đức Phật: “Vừa rồi con thiết trai cúng dường, phước nhiều hay tội nhiều?”
Đức Phật bảo: “Sự dâng cúng của ông vừa rồi là nhân lành sẽ được sanh thiên. Các tỳ-kheo dù chỉ nhận một vắt cơm đi nữa, th́ phước đức cũng đă là vô lượng, huống là ông dâng cúng như vậy, phước này không thể lường được.”
Bấy giờ, đức Thế Tôn v́ nhạc sư nói diệu pháp: Bố thí, tŕ giới, sanh thiên. Đức Phật chỉ trích dục là tai hại, là ô uế. Nhạc sư nghe Phật nói pháp rồi liền từ chỗ ngồi các trần cấu đều hết sạch, đặng sự trong sạch của con mắt pháp, thấy pháp, đắc pháp, ở trong chánh pháp đặng quả tăng thượng, liền bạch đức Phật:
“Từ nay trở đi con nguyện được làm người ưu-bà-tắc, trọn đời không sát sinh cho đến không uống rượu.”
Bấy giờ, đức Phật v́ nhân duyên này tập hợp các Tăng tỳ-kheo. Đức Phật biết mà vẫn hỏi các tỳ-kheo: “Có thật các ông nhận và ăn năm loại thức ăn[35] của người khác rồi sau mới thọ sự thỉnh mời của người đă thỉnh trước hay không?”
Các tỳ-kheo thưa: “Kính bạch đức Thế Tôn, có thật như vậy.”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách các tỳ-kheo:
“Việc các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Các ngươi ngu si, sao lại thọ năm loại thức ăn của người khác rồi sau mới đến thọ thỉnh của người đă thỉnh trước?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách các tỳ-kheo rồi, nói với [657a] các tỳ-kheo:
“Không nên nhận năm loại ăn của người khác mà ăn, rồi sau mới đến nhận lời mời của người thỉnh trước. Từ nay trở đi Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, ăn nhiều lần, ba-dật-đề.
Thế Tôn v́ tỳ-kheo kết giới như vậy. Bấy giờ, có tỳ-kheo bệnh, nơi mời thọ thực không có thức ăn cho người bệnh, không có thuốc cho căn bệnh. Hoặc có thức ăn thích hợp đối với bệnh, có thứ thuốc đúng căn bệnh, nhưng các tỳ-kheo e sợ không dám dùng, sợ phạm tội ăn nhiều lần. Các tỳ-kheo đem nhân duyên này bạch lên Phật. Đức Phật dạy:
“Từ nay trở đi cho phép các Tỳ-kheo bệnh ăn nhiều lần.”
Từ nay nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo nào, ăn nhiều lần, trừ trường hợp đặc biệt, ba-dật-đề. Trường hợp đặc biệt là khi bị bệnh.
Thế Tôn v́ tỳ-kheo kết giới như vậy. Bấy giờ có một cư sĩ thỉnh Phật và Tăng tỳ-kheo thọ thực. Lại cũng có một cư sĩ khác cũng thỉnh Phật và Tăng tỳ-kheo thiết trai cúng dường, và dâng y. Cư sĩ ấy đến trong Tăng-già-lam thưa với các tỳ-kheo rằng:
“Tôi muốn thỉnh Phật và Tăng tỳ-kheo cúng dường thức ăn.”
Tỳ-kheo trả lời:
“Chúng tôi đă nhận lời mời của cư sĩ khác rồi!”
Cư sĩ thưa: “Bạch Đại đức, tôi muốn dâng cúng thức ăn và y. Cúi xin chúng Tăng nhận sự mời thỉnh của tôi.”
Bấy giờ, các tỳ-kheo e sợ, liền đến bạch lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn dạy:
“Từ nay trở đi cho phép các tỳ-kheo, trường hợp có người dâng cúng y th́ được phép ăn nhiều lần.”
Từ nay nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo nào, ăn nhiều lần, trừ trường hợp đặc biệt, ba-dật-đề. Trường hợp đặc biệt là khi bị bệnh, khi thí y. Đó gọi là trường hợp đặc biệt.
B. Giới tướng
Tỳ-kheo: nghĩa như trước.
Ăn nhiều lần:[36] được mời ăn. Mời có hai cách: thỉnh theo thứ tự của Tăng, và thỉnh riêng.
Thức ăn: cơm, lương khô, cơm khô, cá và thịt.[37]
Bệnh: không thể ngày ăn một bữa mà đủ no được.
Thí y: Tự tứ rồi, không thọ y ca-thi-na là một tháng, có thọ y ca-thi-na th́ năm tháng.
Nếu có nhiều chỗ mời thọ thực và dâng y, như hôm nay nhận được nhiều chỗ thỉnh, th́ ḿnh nên nhận một chỗ, c̣n các chỗ kia ḿnh nhường lại cho các vị khác. Nói như thế này để nhường: “Thưa trưởng lăo, lẽ ra tôi phải đến đó nhưng xin cúng dường cho ngài.”
Nếu tỳ-kheo không xả chỗ mời trước mà nhận chỗ mời sau th́ mỗi một miếng ăn phạm một ba-dật-đề. Không xả chỗ mời sau mà nhận chỗ thỉnh trước th́ mỗi một miếng ăn phạm một đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, Sa-di ni cũng đột-kiết-la. [657b] Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: khi bệnh, khi thí y. Nếu trong một ngày mà có nhiều chỗ thỉnh, ḿnh chỉ nhận một chỗ, c̣n các nơi khác nhường lại cho các vị khác; hoặc thỉnh chẳng phải dùng thức ăn, hoặc ăn không đủ, hoặc không thỉnh ăn, hoặc ăn xong lại nhận được thức ăn, hoặc một chỗ gồm cả bữa ăn trước và bữa ăn sau th́ không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách. [38]
[1] Ngũ phần, ba-dật-đề 29. Tăng kỳ, ba-dật-đề 27. Thập tụng 12, ba-dật-đề 25; Căn bản 23, ba-dật-đề 27. Pāli: Pāc. 28. nāvābhiruhana.
[2] Thập tụng 12: các tỳ-kheo-ni đồng bọn của Đề-bà-đạt-đa.
[3] Căn bản: hoặc duyên ba 沿波, hoặc tố lưu 泝流. Giải thích: duyên ba, đi xuôi ḍng; tố lưu, đi ngược ḍng.
[4] Các đoạn trên, không thấy định nghĩa liên hệ.
[5] Các bộ, ba-dật-đề 30. Pāli. Pāc. 29 bhikkhuniparipācitaṃ.
[6] Bạch thời đáo 白時到. Pāli: kālaṃ āroceti.
[7] Đề-bà-đạt 提婆達, Tam-văn-đà-la-đạt 三聞陀羅達, Khiên-đà-la-đạt-bà 騫駄羅達婆, Cù-bà-ly 瞿婆離, Ca-lưu-la-đề-xá 迦留羅提舍. Xem Ch.ii. Tăng-già-bà-thi-sa x & cht.123, Đề-bà-đạt-đa và đồng bọn.
[8] Giáo hoá 教化, trên kia nói là khuyến hoá 勸化.
[9] Lê-sư-đạt 梨師達.
[10] Tăng kỳ: trừ cựu đàn-việt 除舊檀越.
[11] Trong giới văn, tán thán giáo hoá 讚歎教化; các bộ: tán thán 讚歎 Pāli: bhikkhunī-paripācita, gây ảnh hưởng bởi tỳ-kheo-ni.
[12] Dư thực pháp 餘食法; xem ba-dật-đề 36.
[13] Nhất tọa thực, ăn chỉ một lần ngồi, tức ăn một bữa. Cf. Trung A-hàm 50 (T1, tr.744b11); cf. ba-dật-đề 37. Pāli, ekāsana-bhojana, M.i.124.
[14] Nhất đoàn thực 一摶食, mỗi lần ăn một vắt cơm.
[15] Thường tọa tùy tọa 常坐隨坐.
[16] Ngũ phần, ba-dật-đề 67, Tăng kỳ, ba-dật-đề 68; Thập tụng, ba-dật-đề 70; Căn bản, ba-dật-đề 70; Pāli. Pāc. 67. saṃvidhāna.
[17] Hán: năi chí thôn gian 乃至村間. Pāli: antamaso gāmantarampi.
[18] Xem ba-dật-đề 27.
[19] ibid.
[20] Ngũ phần, ba-dật-đề 33; Tăng kỳ, ba-dật-đề 31; Thập tụng, ba-dật-đề 32; Căn bản, ba-dật-đề 32. Pāli Pāc. 31 āvasathapiṇḍa.
[21] Tức không có tinh xá của Tăng.
[22] Thập tụng 12: phước đức xá 福德舍 (nhà từ thiện), với phụ chú (tr.89c25): “Chính xác, gọi là nhất túc xứ 一宿處 (chỗ ngủ trọ một đêm).”. Pāli: āvasaṭhapiṇḍa, lữ xá có bố thí thức ăn.
[23] Ăn nhiều lần. Ngũ phần, Thập tụng, Căn bản, ba-dật-đề 31; Tăng kỳ, ba-dật-đề 32; Pāli, Pāc. 33 paramparabhojana, ăn từ chỗ này đến chỗ khác.
[24] Sa-nậu 沙㝹. Ngũ phần 7: nhân duyên từ một người làm mướn nghèo khó. Thập tụng 12: một tiểu nhi mồ côi làm thuê. Pāli (Vin.iv. 75): aññatarassa daliddassa kammakārassa.
[25] A-na-tần-đầu 阿那頻頭. Cf. Mahāvagga 6, Vin.i. 220: Andhakavindha, một thị trấn trong vương quốc Magadha.
[26] Tất bạt 蓽苃, loại cỏ có bông trắng trổ vào mùa xuân, dùng làm thuốc. Không rơ Pāli.
[27] Pāli, nt., yāguñca madhugoḷakañca, cháo (sữa cháo) và kẹo mật (mật viên).
[28] Tức gừng, tiêu và cỏ tất bạt.
[29] Không rơ loại bánh ǵ. Pāli, nt. madhugoḷaka, mật hoàn.
[30] Thỉnh thực 請食.
[31] Hán: thượng hữu lậu 上有漏. Cf. Pāli: kāmānaṃ ādīnavaṃ okāraṃ saṃkilesaṃ, sự tai hại, tháp hèn và ô nhiễm của các dục. Có lẽ Hán dịch tương đương: upakkiliṭṭha, ô nhiễm.
[32] Tăng thượng quả 增上果; chỉ quả Thánh. Đây chỉ quả Tu-đà-hoàn. Chính xác, nên hiểu: ở trong Chánh pháp mà đạt được sự vô uư.
[33] Trù chúc 稠粥; trên nói là nùng chúc 濃粥.
[34] Hán: xiếu 麨, mạch yến mài nát vụn (Khang Hy). Hoặc đọc là khứu 糗, lương khô (Thiều Chửu). Từ nguyên: xiếu 麨, tức khứu糗; gạo, lúa mạch các thứ rang chín sau đó nghiền thành bột làm lương khô.
[35] Năm loại thức ăn: xem định nghĩa đoạn sau, cht. 201; cf. xem ba-dật-đề 35.
[36] Triển chuyển thực 展轉食: ăn luân phiên. Ngũ phần, Thập tụng: sác sác thực 數數食. Tăng kỳ: xứ xứ thực 處處食; ăn nhiều chỗ. Pāli: paraṃparabhojana.
[37] Năm loại thức ăn, Hán: phạn, khứu, can phạn, ngư, cập nhục 飯糗乾飯魚及肉. Pāli: odana (cơm chín), kummāsa (bánh bột, hay cháo chua), sattu (bánh khô), maccha (cá), maṃsa (thịt). Cf. Căn bản (tr.821b24), 5 loại thực phẩm bồ-thiện-ni thực 蒲繕尼: cơm, đậu mạch, lương khô, thịt, bánh 飯麥豆飯糗肉餅.
[38] Bản Hán, hết quyển 13.