A. Duyên khởi
Một thời, đức Thế Tôn ở trong núi Kỳ-xà-quật, tại thành La-duyệt.
Bấy giờ, tôn giả Đạp-bà-ma-la Tử[2] được Tăng sai phụ trách việc phân phối ngọa cụ cho Tăng và thỉnh Tăng đi thọ thực. Khi ấy, các tỳ-kheo Từ và Địa,[3] đứng nơi khoảng cách Tôn giả trong tầm mắt thấy mà tai không nghe, cùng nhau bàn nói: “Đạp-bà-ma-la Tử có thiên vị, có giận hờn, có sợ hăi, có bất minh.”
Các tỳ-kheo nói: “Đạp-bà-ma-la Tử này được chúng giao phụ trách việc phân phối tọa cụ cho Tăng và mời Tăng đi thọ thực. Các thầy chớ nên nói tôn giả là người có thiên vị, có giận hờn, có sợ hăi, có bất minh.”
Tỳ-kheo Từ và Địa trả lời:
“Chúng tôi không nói trước mặt mà cơ hiềm nơi chỗ khuất kín.”[4]
Các tỳ-kheo nghe, trong số đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách tỳ-kheo Từ, Địa:
“Tôn giả Đạp-bà-ma-la Tử này được chúng giao phụ trách việc phân phối tọa cụ cho Tăng và mời Tăng đi thọ thực. Sao các thầy lại nói Tôn giả là người có thiên vị, có giận hờn, có sợ hăi, có bất minh?”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền dùng nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo Từ, Địa:
“Việc các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Thế nào, tỳ-kheo Từ, Địa, Đạp-bà-ma-la Tử này được chúng giao phụ trách việc phân phối tọa cụ cho Tăng và mời Tăng đi thọ thực; [643b] sao các ngươi lại nói ông ấy là người có thiên vị, có giận hờn, có sợ hăi, có bất minh.”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách tỳ-kheo Từ, Địa rồi bảo các tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo Từ, Địa này là người ngu si, trồng nhiều giống hữu lậu, lần đầu tiên phạm giới này.[5] Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới, nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào biếm nhẽ, ba-dật-đề.
Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy. Các tỳ-kheo Từ, Địa sau đó lại tạo phương tiện khác. Ở chỗ Đạp-bà-ma-la Tử mà nghe nhưng không thấy, họ nói với nhau: “Đạp-bà-ma-la Tử này là người có thiên vị, có giận hờn, có sợ hăi, có bất minh.”
Các tỳ-kheo nói với Từ, Địa rằng:
“Phật há đă không chế giới rằng, biếm nhẽ[6] là phạm Ba-dật-đề hay sao?” Tỳ-kheo Từ, Địa trả lời:
“Chúng tôi không biếm nhẽ, mà là mạ lị.”[7]
Các tỳ-kheo nghe, trong số đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, chỉ trích tỳ-kheo Từ, Địa rằng:
“Tôn giả Đạp-bà-ma-la Tử này được chúng giao phụ trách việc phân phối tọa cụ cho Tăng và mời Tăng đi thọ thực, sao các thầy lại mạ lị tôn giả?”
Các tỳ-kheo quở trách rồi, đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền v́ nhân duyên này tập hợp các Tăng tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo Từ, Địa:
“Việc các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Đạp-bà-ma-la Tử này được chúng giao phụ trách việc phân phối tọa cụ cho Tăng và mời Tăng đi thọ thực, sao các ông lại mạ lị.”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách tỳ-kheo Từ, Địa rồi bảo các tỳ-kheo:
“Từ nay trở đi, Ta v́ các Tỳ-kheo kết giới”:
Tỳ-kheo nào, biếm nhẽ và mắng chửi, ba-dật-đề.[8]
B. Giới tướng
Tỳ-kheo: nghĩa như trước.
Hoặc biếm nhẽ trước mặt, hoặc mạ lị sau lưng.
- Biếm nhẽ trước mặt: là đứng nơi địa điểm có thể thấy mà không nghe, mà nói “có thiên vị, có giận hờn, có sợ hăi, có bất minh.”
- Mạ lị sau lưng: là đứng nơi chỗ tai có thể nghe, mắt không thấy, mà nói “có thiên vị, có giận hờn, có sợ hăi, có bất minh.” Tỳ-kheo chê bai và mắng chửi tỳ-kheo, nói rơ ràng phạm ba-dật-đề, nói không rơ ràng đột-kiết-la. Nếu Thượng tọa bảo người chê bai và mắng chửi, nếu nhận lời chê bai và mắng chửi, th́ phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: người kia thật có việc như vậy, tức là có thiên vị, có giận hờn, [643c] có sợ hăi, có bất minh. Sợ sau đó có sự hối hận nên nói để khiến như pháp mà phát lồ; khi ấy nói, “có thiên vị, có giận hờn, có sợ hăi, có bất minh”, th́ không phạm. Hoặc nói vui chơi, nói một ḿnh, nói trong mộng, muốn nói việc này lại nhầm nói việc khác th́ không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
XIV. Trải toạ cụ Tăng không cất[9]
A. Duyên khởi
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, trong thành Xá-vệ có một trưởng giả muốn thỉnh chúng Tăng dùng cơm. Trong thời gian chờ đợi cho đến giờ ăn, lúc ấy có nhóm mười bảy tỳ-kheo mang tọa cụ của Tăng đem trải nơi đất trống, rồi kinh hành, chờ đến giờ ăn. Khi đến giờ, không thu dọn tọa cụ của Tăng, liền đến chỗ mời ăn, nên tọa cụ của Tăng bị gió thổi, bụi đất phủ lên, trùng chim cắn phá hư hại, nhơ nhớp không sạch.
Các tỳ-kheo thọ thực xong trở về trong Tăng-già-lam, thấy tọa cụ của Tăng bị gió thổi, bụi đất phủ lên, trùng chim cắn phá hư hại, ô uế không sạch, liền hỏi rằng:
“Ai đă trải tọa cụ của Tăng mà bỏ đi không thu dọn, khiến gió thổi, bụi đất phủ lên, trùng chim cắn phá hư hại, nhơ nhớp không sạch?”
Chư Tăng nói:
“Nhóm mười bảy tỳ-kheo đó trải.”
Trong số các tỳ-kheo nghe chuyện, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, cơ hiềm nhóm mười bảy tỳ-kheo:
“Sao các ông trải tọa cụ của Tăng mà bỏ đi không thu dọn, để gió thổi, bụi đất phủ lên, trùng chim cắn phá hư hại, nhơ nhớp không sạch thế này?”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền dùng nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm mười bảy tỳ-kheo rằng:
“Việc các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Tại sao các ông mang tọa cụ của Tăng trải mà bỏ đi không thu dọn, gió thổi, bụi đất phủ lên, trùng chim cắn phá hư hại, nhơ nhớp không sạch?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm mười bảy tỳ-kheo rồi bảo các tỳ-kheo:
“Đây là những người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, mang giường dây, giường gỗ, hoặc ngọa cụ, đệm ngồi[10] của Tăng, bày nơi đất trống hoặc bảo người bày, khi bỏ đi không tự ḿnh dọn cất, không sai người dọn cất, ba-dật-đề.
B. Giới tướng
Tỳ-kheo: nghĩa như trước.
Vật của chúng Tăng, dành cho Tăng, thuộc về Tăng.
- Vật của Tăng: vật đă xả [644a1] cho Tăng.
- Vật dành cho Tăng: vật v́ Tăng mà làm nhưng chưa xả cho Tăng.
- Vật thuộc về Tăng: vật đă nhập vào Tăng, đă xả cho Tăng.
Giường dây:[11] có năm loại, giường nằm chân xoay, giường nằm chân thẳng, giường nằm chân cong, giường nằm ráp mộng, giường nằm không có chân.
Giường gỗ:[12] cũng như vậy.
Ngọa cụ: hoặc dùng để ngồi, hoặc dùng để nằm.
Đệm: dùng để ngồi.
Nếu tỳ-kheo đem giường nằm, ghế ngồi, ngọa cụ, nệm ngồi của Tăng bày nơi đất trống, hoặc bảo người bày; khi đi, nếu ở đó có cựu trú tỳ-kheo hoặc Ma-ma-đế,[13] hoặc người quản sự,[14] nên nói, “Nay tôi giao cho ông. Ông coi sóc giữ ǵn cho.” Nếu không có người nào th́ phải dọn cất nơi chỗ vắng rồi đi. Nếu không có chỗ vắng, mà tự biết chỗ đó không bị phá hoại, được an ổn, th́ lấy cái thô (xấu) phủ lên trên cái tốt rồi đi. Nếu đi rồi về lại liền th́ đi. Nếu mưa gấp về gấp, tọa cụ không bị hư hoại th́ nên đi. Nếu mưa vừa, về lại kịp th́ nên đi. Nếu mưa lâm râm đi một chút về kịp th́ nên đi. Vị Tỳ-kheo kia nên tuần tự làm theo phương tiện như vậy rồi đi. Không theo phương tiện như vậy mà đi; khi bắt đầu ra khỏi cửa, ba-dật-đề. Nếu một chân trong cửa, một chân ngoài cửa, ư muốn đi mà không đi lại hối hận, tất cả đều đột-kiết-la.
Nếu hai người cùng ngồi trên giường nằm, ghế ngồi, vị hạ tọa phải thu dọn rồi đi. Hạ tọa nếu có ư nghĩ là để Thượng tọa dọn cất, nhưng cuối cùng Thượng tọa không dọn cất th́ hạ tọa phạm ba-dật-đề và c̣n trái với oai nghi nên phạm thêm đột-kiết-la. Thượng tọa có ư nghĩ là để hạ tọa dọn cất, hạ tọa không dọn cất th́ Thượng tọa phạm ba-dật-đề.
Nếu hai người đồng đi một lượt, không ai trước ai sau mà không dọn cất th́ cả hai đều phạm ba-dật-đề.
Ngoài ra cho đến giường dây, giường nằm, ghế ngồi, ghế dựa để tắm, hoặc lớp trong hay lớp ngoài của ngọa cụ, hoặc đồ trải đất, hoặc lấy dây buộc bằng lông hay dây gai bỏ nơi đất không thu dọn mà bỏ đi, tất cả phạm đột-kiết-la.
Nếu trải ngọa cụ của Tăng nơi đất, không thu dọn mà vào pḥng ngồi tư duy cũng phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la, đó gọi là phạm.
Sự không phạm: nếu lấy giường dây, giường cây, ghế ngồi hoặc ghế dựa, ngọa cụ, nệm ngồi của Tăng, tự ḿnh bày nơi đất, hoặc sai người bày, khi đi có nói với vị cựu trú, hoặc Ma-ma-đế, người quản sự, giữ ǵn vật này thu dọn giúp.
Nếu không có ai th́ thu xếp nơi chỗ vắng [644b] rồi đi. Nếu không có chỗ vắng an toàn mà tự ḿnh biết chỗ nào đó không bị quên mất, không sợ hư nát th́ dùng vật thô phủ lên trên vật tế mà đi.
Nếu đi rồi trở về liền, hoặc gặp mưa to gió lớn, đi gấp về gấp được, hoặc mưa vừa vừa, vừa đi vừa trở về, hoặc mưa lâm râm đi thong thả trở về kịp, theo thứ tự phương tiện rồi đi th́ không phạm.
Hoặc bị thế lực trói, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn, không làm theo thứ tự như vậy, th́ không phạm. Hoặc hai người cùng ngồi trên một giường dây, vị hạ tọa thu dọn.
Ngoài ra cho đến các loại giường không khác như giường gỗ, giường dây, ghế ngồi, ghế dựa, ghế ngồi tắm, hoặc lớp trong hay lớp ngoài của ngọa cụ, hoặc đồ trải đất, dây buộc lông mịn, bỏ nơi đất thu dọn mà đi.
Hoặc nơi đất trống trải tọa cụ của Tăng, thu dọn rồi vào pḥng tư duy th́ không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
XV. Trải ngọa cụ trong phòng Tăng[15]
A. Duyên khởi
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ có vị tỳ-kheo khách nói với các vị tỳ-kheo cựu trú rằng:
“Tôi trải ngọa cụ trong pḥng của Tăng kế bên để nghỉ.”
Sau đó, không nói với vị tỳ-kheo cựu trú mà đi. Ngọa cụ của Tăng bị hư mục, trùng kiến cắn biến sắc. Trong những lúc tiểu thực, đại thực, nói pháp ban đêm, nói giới, vị cựu trú tỳ-kheo không thấy vị khách tỳ-kheo có mặt, nên vị tỳ-kheo cựu trú nghĩ: “Sao không thấy vị tỳ-kheo khách? Phải chăng vị ấy qua đời, hoặc đi xa, hoặc trả lại giới để làm bạch y, hoặc bị cướp bắt, hoặc bị ác thú ăn, hoặc bị nước trôi?” Vị cựu trú liền đến pḥng đó, thấy ngọa cụ của chúng Tăng bị hư mục, trùng kiến cắn biến sắc. Thấy như vậy rồi, vị cựu trú hiềm trách vị tỳ-kheo khách kia rằng:
“Sao tỳ-kheo khách nói với tôi là dùng ngọa cụ của chúng Tăng trải trong pḥng kế bên để ngủ, khi ra đi lại không nói với tôi, khiến cho tọa cụ của chúng Tăng bị trùng kiến cắn phá biến sắc hư mục?”
Trong số các tỳ-kheo nghe, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, cơ hiềm tỳ-kheo khách kia rằng:
“Sao khách tỳ-kheo nói với cựu trú tỳ-kheo là lấy ngọa cụ của chúng Tăng trải trong pḥng kế bên để ngủ, khi ra đi lại không nói với tôi, khiến cho tọa cụ của chúng Tăng bị trùng kiến cắn phá biến sắc hư mục?”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền dùng nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo khách:
“Việc ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, [644c] chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Sao ông ta bày ngọa cụ của chúng Tăng trải trong pḥng kế bên để ngủ, khi ra đi lại không nói với cựu trú tỳ-kheo, khiến cho tọa cụ của chúng Tăng bị trùng kiến cắn phá biến sắc hư mục?”
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách tỳ-kheo khách, rồi bảo các tỳ-kheo: “Những kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, ở trong pḥng của Tăng, trải ngọa cụ của Tăng, hoặc tự ḿnh trải, hoặc bảo người trải, hoặc ngồi, hoặc nằm, khi đi không tự dọn cất, không bảo người dọn cất, ba-dật-đề.
B. Giới tướng
Tỳ-kheo: nghĩa như trước.
Vật của chúng Tăng: như trước đă nói.
Ngọa cụ, giường nằm, ghế ngồi, đệm nằm, tọa cụ, gối, đồ trải dưới đất, cho đến đồ nằm bằng lông, mà tỳ-kheo kia nếu muốn trải ngọa cụ của chúng Tăng trong pḥng của Tăng, hoặc tự ḿnh trải, bảo người trải, hoặc ngồi, hoặc nằm, khi đi không tự dọn cất, không sai người dọn cất. Trong đó, nếu có cựu trú tỳ-kheo, có người kinh doanh, hoặc Ma-ma-đế, nên nói, “Dọn cất giùm tôi.” Trong trường hợp không có người để giao phó mà không sợ mất, nên di chuyển giường ra cách vách, kê chân giường lên cao, đem gối, nệm, ngọa cụ để bên trong, rồi lấy ngọa cụ khác phủ lên trên mà đi. Nếu sợ bị hư hoại th́ nên lấy ngọa cụ, nệm kết lông, gối, máng, lên trên giá móc áo, dựng đứng giường lên mà đi. Tỳ-kheo kia nên làm như vậy rồi mới đi. Nếu không làm như vậy mà đi, ra ngoài giới, phạm ba-dật-đề.
Một chân ngoài giới, một chân trong giới, rồi ăn năn không đi, tất cả đều phạm đột-kiết-la. Nếu tính đi mà không đi, đột-kiết-la. Nếu đi rồi về liền, hoặc hai đêm ở ngoài giới, đến đêm thứ ba, b́nh minh chưa xuất hiện, hoặc tự ḿnh về trong pḥng, hoặc sai người đến, hoặc nói với Ma-ma-đế, hoặc vị tri sự rằng, “Thầy coi chừng vật này.” Nếu tỳ-kheo đi ra, ngủ ngoài giới hai đêm, đến đêm thứ ba khi b́nh minh chưa xuất hiện, không tự ḿnh về trong pḥng, không sai người nói: “Thầy coi chừng vật này”, phạm ba-dật-đề.
Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: nếu tự tay trải ngọa cụ của chúng Tăng, hoặc sai người trải để ngồi hoặc nằm. Khi đi nơi đó có cựu trú tỳ-kheo hoặc Ma-ma-đế, hoặc vị tri sự, [645a1] nói rằng: “Thầy coi chừng vật này; ở trong đây mà làm Ma-ma-đế.” Nếu không có người để giao phó mà đoán biết không bị hư hại th́ dời giường cách vách, đem ngọa cụ gối, nệm để lên trên giường, phủ hai lớp rồi đi. Nếu sợ bị hư hoại th́ nên đem ngọa cụ máng trên giá y, dựng đứng giường lên rồi đi, làm như vậy rồi đi th́ không phạm.
Nếu pḥng xá bị sập đổ, lửa cháy, rắn độc ở bên trong, trộm cướp, hổ lang, sư tử, kẻ có cường lực bắt, hoặc bị trói, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn, hoặc không lâu sẽ trở ngại, hoặc ngủ ngoài giới hai đêm, đến đêm thứ ba, b́nh minh chưa xuất hiện, tự ḿnh về hoặc sai người nói với cựu trú tỳ-kheo, “Thầy coi chừng vật này mà làm Ma-ma-đế.” Hoặc bị thủy đạo trở ngại, hoặc trên tuyến đường có giặc cướp, hổ lang, sư tử, hoặc nước lụt, bị kẻ thế lực cầm giữ, hoặc bị trói, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn, mà hai đêm ở ngoài giới, đến đêm thứ ba, b́nh minh đă xuất hiện tự ḿnh không đến được, không thể sai người đến nói:
“Thầy coi chừng vật này mà làm Ma-ma-đế giùm tôi. Tất cả không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
A. Duyên khởi
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo[17] và nhóm mười bảy tỳ-kheo ở tại nước Câu-tát-la, trên tuyến đường đi đến nơi tụ lạc khác, nơi đó không có trú xứ của tỳ-kheo. Lúc này, nhóm mười bảy tỳ-kheo nói với nhóm sáu tỳ-kheo rằng:
“Các thầy hăy đi trước t́m chỗ nghỉ ngơi.”
Nhóm sáu tỳ-kheo nói rằng:
“Các ông tự đi t́m. Chúng tôi dính ǵ đến việc các ông?”
Nhóm sáu tỳ-kheo là bậc Thượng tọa của nhóm mười bảy tỳ-kheo, nên nhóm mười bảy mới thưa với nhóm sáu tỳ-kheo như vầy:
“Các thầy là Thượng tọa đối với chúng con. Thượng tọa nên t́m nơi nghỉ trước. Chúng con sẽ t́m sau.”
Nhóm sáu tỳ-kheo bảo:
“Các ông hăy đi. Chúng tôi không cần t́m chỗ nghỉ.”
Lúc ấy, nhóm mười bảy tỳ-kheo liền đi t́m nơi để nghỉ. T́m xong, tự trải ngọa cụ nghỉ ngơi. Nhóm sáu tỳ-kheo biết nhóm mười bảy tỳ-kheo đă t́m ra được chỗ nghỉ và đă trải ngọa cụ rồi, đến bảo rằng:
“Các ông đứng lên. Phải theo thứ tự lớn nhỏ mà nghỉ ngơi.”
Nhóm mười bảy nói:
“Chúng con không thể đứng lên để nhường cho các thầy được.”
Nhóm sáu hỏi rằng:
“Các ông nay bao nhiêu tuổi?”
Nhóm mười bảy thưa: “Các trưởng lăo thật sự là bậc Thượng tọa của chúng con. Trước đây, chúng con đă thưa với các trưởng lăo là đi t́m nơi nghỉ ngơi trước. [645b] Sau đó, chúng con sẽ t́m chỗ nghỉ ngơi. Nay chúng con t́m rồi, không thể nào dời đi được.”
Khi ấy nhóm sáu tỳ-kheo cưỡng bức, trải tọa cụ vào giữa để ngủ. Nhóm mười bảy tỳ-kheo lớn tiếng la rằng:
“Chư tôn đừng làm vậy! Chư tôn đừng làm vậy!”
Lúc ấy, các tỳ-kheo nghe được. Trong số các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, cơ hiềm nhóm sáu tỳ-kheo rằng: “Này nhóm sáu tỳ-kheo, sao nhóm mười bảy tỳ-kheo t́m chỗ nghỉ trước, các thầy đến sau lại cưỡng bức trải ngọa cụ vào giữa để ngủ?”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền dùng nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo: “Việc các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Này nhóm sáu tỳ-kheo, sao nhóm mười bảy tỳ-kheo t́m chỗ nghỉ trước, các thầy đến sau lại cưỡng bức trải ngọa cụ vào giữa để ngủ?”
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rồi, bảo các tỳ-kheo:
“Những kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, nơi chỗ nghỉ của tỳ-kheo đă đến trước, ḿnh đến sau cố chen vào khoảng giữa trải ngọa cụ để nghỉ, với ư nghĩ rằng: ‘Người kia nếu hiềm chật th́ tự tránh đi nơi khác;’ hành động với nhân duyên như vậy chứ không ǵ khác, chẳng phải oai nghi, ba-dật-đề.
Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy. Bấy giờ các tỳ-kheo không biết trước đó chỗ này đă có vị nào t́m nghỉ hay chưa t́m nghỉ, sau đó mới biết là có người t́m trước, nên tác pháp sám hối ba-dật-đề, hoặc có ư dè dặt. Phật dạy:
“Không biết th́ không phạm.”
Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo nào, đă biết đó là chỗ nghỉ của tỳ-kheo đến trước, ḿnh đến sau cố chen vào khoảng giữa trải ngọa cụ để nghỉ, với ư nghĩ rằng: ‘Người kia nếu hiềm chật th́ tự tránh đi nơi khác;’ hành động với nhân duyên như vậy chứ không ǵ khác, chẳng phải oai nghi, ba-dật-đề.
B. Giới tướng
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Khoảng giữa: tức một bên đầu, một bên chân hay một bên của hai bên hông.
Ngọa cụ: trải cỏ, trải lá lên mặt đất, trải dạ để nằm.
Tỳ-kheo nào đă biết tỳ-kheo khác chọn chỗ nghỉ rồi, ḿnh đến sau cố chen vào giữa trải ngọa cụ để nghỉ; tùy theo mỗi lần trở ḿnh, [645c] hông dính giường, phạm ba-dật-đề.
Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la, đó gọi là phạm.
Sự không phạm: trước không biết, hoặc nói với người nằm trước, hoặc cửa mở, hoặc nơi rộng răi không trở ngại, hoặc có người thân cũ. Người thân cũ nói rằng:
“Cứ trải bên trong ngủ đi. Tôi sẽ nói với người chủ cho.” Hoặc bị té xuống đất, hoặc bị bệnh xoay chuyển ngă lên trên. Hoặc bị thế lực bắt, hoặc bị trói nhốt, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn tất cả không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
XVII. Đuổi tỳ kheo ra ngoài[18]
A. Duyên khởi
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo và nhóm mười bảy tỳ-kheo từ thị trấn Khoáng dă nước Câu-tát-la, trên đường đi đến một trú xứ nhỏ.[19] Lúc ấy, nhóm mười bảy tỳ-kheo nói với nhóm sáu tỳ-kheo rằng:
“Quư trưởng lăo t́m nơi trải ngọa cụ trước đi.”
Nhóm sáu bảo:
“Các ông cứ tự đi! Chúng tôi dính ǵ đến việc các ông?”
Nhóm sáu tỳ-kheo là bậc Thượng tọa đối với nhóm mười bảy tỳ-kheo, do vậy nhóm mười bảy thưa:
“Quư trưởng lăo là bậc Thượng tọa của chúng con. Quư ngài nên đi trải ngọa cụ trước, chúng con sẽ trải sau.”
Nhóm sáu nói rằng:“Các ông cứ đi. Chúng tôi không trải.”
Nhóm mười bảy tỳ-kheo thích sạch sẽ, vào chùa quét pḥng xá cho sạch, trải ngọa cụ tốt, ngủ nghỉ ở đó.
Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo biết nhóm mười bảy tỳ-kheo đă vào chùa quét dọn pḥng xá sạch sẽ, trải ngọa cụ tốt rồi, liền vào pḥng nói rằng:
“Trưởng lăo, hăy đứng dậy. Theo thứ tự mà ngồi.”
Nhóm mười bảy tỳ-kheo thưa rằng:
“Chúng con không dậy.”
Nhóm sáu tỳ-kheo liền hỏi:
“Các ông nay bao nhiêu tuổi?”
Nhóm mười bảy tỳ-kheo thưa:
“Quư trưởng lăo thật sự là bậc Thượng tọa đối với chúng con. Nhưng trước đây chúng con đă thưa, chư Thượng tọa hăy trải ngọa cụ trước. Chúng con theo thứ lớp sẽ trải sau. Nay chúng con đă ngồi rồi; không thể dậy được. Lúc này trời đă tối rồi, tất cả nên cùng ngủ đi.”
Lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo với ư giận, không vui, dùng sức mạnh xô kéo nhóm mười bảy tỳ-kheo, đuổi họ ra khỏi pḥng. Nhóm mười bảy tỳ-kheo cao giọng kêu la:
“Chư hiền, đừng làm vậy! Chư hiền, đừng làm vậy!”
Lúc ấy, có tỳ-kheo pḥng gần nghe, liền hỏi:
“Các thầy cớ ǵ kêu to tiếng như vậy?”
Nhóm mười bảy tỳ-kheo tŕnh bày đầy đủ sự việc. Trong số người nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo: “Sao các ngài giận, không vui, dùng sức mạnh xô kéo nhóm mười bảy tỳ-kheo, đuổi họ ra khỏi pḥng của Tăng?”
Bấy giờ, các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ [646a1] dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền dùng nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
“Việc các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Này nhóm sáu tỳ-kheo, tại sao các ông giận, không vui, dùng sức mạnh xô kéo nhóm mười bảy tỳ-kheo, đuổi họ ra khỏi pḥng của Tăng?”
Lúc bấy giờ đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rồi, bảo các tỳ-kheo:
“Những kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, giận tỳ-kheo khác, không vui, tự ḿnh kéo ra hay bảo người khác kéo tỳ-kheo ấy ra khỏi Tăng pḥng,[20] ba-dật-đề.
B. Giới tướng
Tỳ-kheo: nghĩa như trước.
Tăng pḥng: cũng như trước.
Tỳ-kheo nào giận tỳ-kheo khác, không vui, tự ḿnh kéo hoặc bảo người kéo tỳ-kheo ấy ra khỏi pḥng Tăng, tùy theo sự lôi kéo nhiều hay ít, tùy thuộc vào việc ra khỏi pḥng, ba-dật-đề. Hoặc kéo nhiều người ra khỏi nhiều cửa, phạm nhiều ba-dật-đề. Hoặc kéo nhiều người ra một cửa, phạm nhiều ba-dật-đề. Hoặc kéo một người ra nhiều cửa, phạm nhiều ba-dật-đề. Hoặc kéo một người ra khỏi một cửa, phạm một ba-dật-đề. Nếu cầm đồ của người khác ra ngoài, phạm đột-kiết-la. Hoặc cầm đồ của người khác quăng ra ngoài cửa, phạm đột-kiết-la. Hoặc đóng cửa để người ở ngoài, phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la, đó gọi là phạm.
Sự không phạm: không có tâm giận hờn, đi ra theo thứ tự; hoặc cùng ngủ hai đêm, đến đêm thứ ba bảo người chưa thọ giới đi ra; hoặc v́ người phá giới, phá kiến, phá oai nghi, hoặc v́ người bị cử tội, hoặc v́ người bị tẫn, hoặc đang bị tẫn, v́ những nhân duyên như vậy, hay có mạng nạn, phạm hạnh nạn, đuổi hạng người như vậy th́ không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
XVIII. Ghế ngồi không vững[21]
A. Duyên khởi
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, có các tỳ-kheo ở trên lầu gác,[22] ngồi trên giường chân ráp,[23] không được an toàn lắm, phía dưới gác có tỳ-kheo đang ngủ. V́ sàn gác mỏng nên chân giường bị sút, rơi xuống trúng tỳ-kheo bên dưới bị thương đến chảy máu. Tỳ-kheo bên dưới ngửa mặt lên giận dữ mắng:
“Tỳ-kheo ǵ mà ở tầng gác trên, ngồi trên giường chân ráp không an toàn khiến cho giường sút chân, [646b] đả thương thân tôi đến nỗi chảy máu?”
Các tỳ-kheo nghe được, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách tỳ-kheo kia, “Sao tỳ-kheo ở trên tầng gác, ngồi trên giường chân ráp không an toàn khiến chân giường sút ra, rơi trúng thân h́nh của tỳ-kheo kia làm bị thương đến chảy máu?”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền dùng nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo kia rằng:
“Việc ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Sao tỳ-kheo ở trên tầng gác, ngồi trên giường chân ráp không an toàn khiến chân giường sút ra, rớt trúng thân h́nh của tỳ-kheo kia làm bị thương đến chảy máu?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách tỳ-kheo kia rồi, bảo các tỳ-kheo:
“Kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, hoặc trong pḥng, hoặc trên tầng gác, nằm hay ngồi [24] trên giường, ghế bằng chân ráp, ba-dật đề.
B. Giới tướng
Tỳ-kheo: nghĩa như trước.
Nhà:[25] chỉ cho pḥng Tăng hay pḥng riêng.
Tầng gác:[26] người đứng dưới không đụng đầu.
Giường chân ráp: loại giường chân giáp vào lỗ mộng.
Tỳ-kheo ở trên tầng gác, hoặc ngồi hay nằm trên giường chân ráp, tùy thuộc vào hông dính nơi giường, hay tùy theo sự trở ḿnh, phạm ba-dật-đề. Trừ giường chân ráp ra, hoặc giường độc tọa,[27] hoặc giường một tấm ván, hoặc giường tắm,[28] tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la, đó gọi là phạm.
Sự không phạm: nếu ngồi giường chân xoay, giường chân thẳng, giường chân cong, giường không chân, hoặc giường chân lớn, hoặc giường chân ráp mà có buộc cẩn thận, hoặc trên tầng gác có ván lót, hoặc cây chạm hoa để che, hoặc phủ dày, hoặc lật ngửa giường mà ngồi hay tháo chân giường mà ngồi, tất cả không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa kết giới, si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
XIX. Dùng nước có trùng[29]
A. Duyên khởi
Một thời, đức Thế Tôn ở tại nước Câu-thiểm-di.[30] Bấy giờ có tỳ-kheo Xiển-đà[31] xây cất nhà lớn,[32] tự ḿnh lấy nước có trùng ḥa vào bùn, và bảo người ḥa. Các trưởng giả thấy thế hiềm trách rằng, “Sa-môn Thích tử không biết tàm quư, không có từ tâm, [646c] hại mạng chúng sanh. Bên ngoài tự nói, ta tu chánh pháp, nếu nh́n vào việc hiện tại th́ đó có chi gọi là chánh pháp? Dùng nước có trùng ḥa vào bùn, và bảo người ḥa, hại mạng chúng sanh.”
Trong các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách Xiển-đà rằng: “Sao xây cất pḥng ốc, lấy nước có trùng ḥa vào bùn, hay bảo người ḥa, hại mạng chúng sanh?”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền dùng nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách Xiển-đà rằng:
“Việc ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Này Xiển-đà! Sao xây cất pḥng ốc, lấy nước có trùng ḥa vào bùn, hay bảo người ḥa, hại mạng chúng sanh?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Xiển-đà rồi bảo các tỳ-kheo: “Kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, tự ḿnh dùng nước có trùng ḥa vào bùn, hoặc sai người ḥa, ba-dật đề.
Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy. Lúc bấy giờ, các tỳ-kheo trước đó chưa biết nước có trùng hay nước không có trùng, sau đó mới biết là nước có trùng, nên có vị làm pháp sám ba-dật-đề, hoặc có vị v́ dè dặt. Phật dạy: “Không biết, không phạm.”
Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo nào, biết nước có trùng, mà tự ḿnh rưới lên bùn hoặc cỏ, [33] hoặc bảo người rưới, ba-dật đề.
B. Giới tướng
Tỳ-kheo: nghĩa như trước.
Nếu biết nước có trùng, mà dùng cỏ hay đất ném vào trong đó, ba-dật-đề. Ngoài nước ra, nếu nước trái cây, nước trái cây trong,[34] trong dấm, trong nước ngâm gạo mà có trùng, tự ḿnh hoặc bảo người tưới lên bùn hoặc cỏ, ba-dật-đề.
Nếu tự ḿnh hoặc bảo người dùng đất hoặc cỏ bỏ vào nước trái cây, nước trái cây trong, dấm, nước ngâm gạo mà có trùng, ba-dật-đề.
Nếu nước có trùng, tưởng là nước có trùng, ba-dật-đề. Nước có trùng mà nghi, đột-kiết-la. Nước không có trùng, tưởng là nước có trùng, đột-kiết-la. Nước không có trùng mà nghi, đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: không biết là có trùng; nghĩ rằng không có trùng; hoặc là trùng lớn, dùng tay khua động khiến cho nó tránh đi; hoặc là nước đă lọc tưới đất, hoặc sai người tưới; tất cả đều [647a1] không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
A. Duyên khởi
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cù-sư-la, nước Câu-thiểm-tỳ. Bấy giờ, Tôn giả Xiển-đà tỳ-kheo xây cất pḥng xá lớn,[36] cỏ lợp c̣n dư, lợp thêm, lợp đến lớp thứ ba rồi mà vẫn c̣n dư. Khi ấy Xiển-đà có ư nghĩ rằng: “Ta không thể thường xuyên đến nơi đàn-việt cầu xin cỏ.” Bèn tiếp tục lợp măi, cho đến lúc (không chịu được nổi), nhà bị sập. Các cư sĩ thấy thế chê trách: “Sa-môn Thích tử không biết tàm quư nên cầu xin không chán. Bên ngoài tự xưng rằng, ta biết chánh pháp. Như nay xem ra th́ có ǵ là chánh pháp? Làm pḥng xá lớn, lợp măi không thôi, đến nỗi nhà bị sập. Dù đàn-việt muốn cho, nhưng người nhận phải biết đủ chứ!”
Trong các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách Xiển-đà: “Sao cất pḥng xá lớn, lợp măi không thôi khiến cho nhà bị sập đổ?”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền dùng nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo Xiển-đà:
“Việc ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Này Xiển Đà! Sao cất pḥng xá lớn, lợp măi không thôi khiến cho nhà bị sập đổ?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Xiển-đà tỳ-kheo rồi bảo các tỳ-kheo:
“Xiển-đà tỳ-kheo, kẻ ngu si này là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, làm pḥng xá lớn, cánh cửa, khung cửa sổ và các thứ trang trí,[37] chỉ dẫn lợp[38] tranh ngang bằng hai, ba lớp;[39] nếu lợp quá, ba-dật-đề.
B. Giới tướng
Tỳ-kheo: nghĩa như trước.
Pḥng xá lớn:[40] là nhà dùng nhiều vật liệu.
Các thứ trang trí khác: tức là chạm trổ, vẽ vời.
Lợp:[41] có hai loại, lợp bề dọc, lợp bề ngang.
Tỳ-kheo kia chỉ dẫn lợp hai lớp rồi, khi lớp thứ ba chưa xong, nên đi đến chỗ mắt không thấy, tai không nghe. Nếu lợp hai lớp rồi, lớp thứ ba chưa xong mà tỳ-kheo không đi đến chỗ mắt không thấy, tai không nghe, khi lớp thứ ba lợp xong, phạm ba-dật-đề. Nếu bỏ chỗ tai nghe, đến chỗ mắt thấy, bỏ chỗ mắt thấy, đến chỗ tai nghe, [647b] tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: chỉ bảo lợp lớp thứ hai xong, lớp thứ ba lợp chưa xong bèn đi đến chỗ mắt không thấy tai không nghe. Nếu đường bộ, đường thủy bị đứt đoạn, nạn giặc, nạn ác thú, nước lụt, hoặc bị thế lực bắt, hoặc bị trói, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn; chỉ bảo lợp xong lớp thứ hai đến lớp thứ ba chưa xong, khi ấy không đi đến chỗ mắt không thấy tai không nghe; tất cả đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
XXI. Giáo giới ni không được Tăng sai[42]
A. Duyên khởi
Một thời, đức Thế Tôn ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ cùng với đại chúng tỳ-kheo gồm năm trăm vị. Các ngài hạ an cư ở đó. Họ đều là những vị nổi tiếng như Tôn giả Xá-lợi-phất, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, Tôn giả Đại Ca-diếp, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, Tôn giả Kiếp-tân-na, Tôn giả Ma-ha Câu-hy-la, Tôn giả Ma-ha Châu-na, Tôn giả A-na-luật, Tôn giả Ly-việt, Tôn giả A-nan, Tôn giả Nan-đà, Tôn giả Na-đề cùng với năm trăm vị như vậy.
Bấy giờ, tỳ-kheo-ni Đại Ái Đạo, tỳ-kheo-ni Sai-ma, tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc, tỳ-kheo-ni Đề-xá Cù-đàm-di, tỳ-kheo-ni Ba-lê-giá-la-di, tỳ-kheo-ni Tố-di, tỳ-kheo-ni Sổ-na, tỳ-kheo-ni Tô-la, tỳ-kheo-ni Giá-la-di, tỳ-kheo-ni Bà-giá-la, tỳ-kheo-ni Thi-la-bà-giá-na, tỳ-kheo-ni A-la-bà, tỳ-kheo-ni Ma-la-tỳ, tỳ-kheo-ni Châu-nể, tỳ-kheo-ni Bà-nể. Cùng năm trăm tỳ-kheo-ni như vậy; Đại Ái Đạo là vị đứng đầu. Tất cả đều an cư trong vườn vua,[43] nước Xá-vệ.
Lúc bấy giờ, Đại Ái Đạo[44] đi đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên. Sau khi ngồi, Đại Ái Đạo bạch đức Thế Tôn rằng:
“Cúi xin đức Thế Tôn cho phép các tỳ-kheo thuyết pháp giáo giới cho chúng tỳ-kheo-ni.”
Đức Phật bảo Đại Ái Đạo Cù-đàm-di rằng:
“Từ nay cho phép các tỳ-kheo thuyết pháp giáo giới cho tỳ-kheo-ni.”
Đại Ái Đạo đảnh lễ dưới chân Phật rồi cáo lui. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo A-nan rằng:
“Từ nay trở đi, Ta cho phép theo thứ lớp mà sai Thượng tọa đại tỳ-kheo giáo giới cho tỳ-kheo-ni và thuyết pháp cho họ.”
Lúc bấy giờ, Tôn giả A-nan nghe đức Phật dạy rồi, liền đến chỗ tỳ-kheo Ban-đà[45] thưa rằng:
“Trưởng lăo, ngài đi giáo giới và thuyết pháp cho tỳ-kheo-ni.”
[647c] Ban-đà nói với A-nan rằng:
“Tôi chỉ tụng được một bài kệ. Làm sao giáo giới tỳ-kheo-ni? Làm sao thuyết pháp?”
Tôn giả A-nan lại nói với Ban-đà:
“Trưởng lăo, ngài đi giáo giới và thuyết pháp cho tỳ-kheo-ni.”
Ban-đà lại bảo A-nan rằng:
“Tôi chỉ tụng được một bài kệ. Làm sao giáo giới tỳ-kheo-ni? Làm sao thuyết pháp?”
Lần thứ ba, Tôn giả A-nan lại thưa với Ban-đà rằng:
“Đức Thế Tôn có dạy, sai tỳ-kheo bậc Thượng tọa giáo giới tỳ-kheo-ni và thuyết pháp cho họ. Vậy trưởng lăo nên giáo giới tỳ-kheo-ni và thuyết pháp cho họ.”
Lúc ấy, Tôn giả Ban-đà im lặng vâng lời Phật.
Nhóm sáu tỳ-kheo-ni khi nghe tin Tôn giả Ban-đà tỳ-kheo theo thứ tự ngày mai sẽ đến giáo thọ; họ nói với nhau, “Ban-đà ngu ám này, chỉ tụng được một bài kệ. Tụng xong chắc chắn sẽ nín thinh. C̣n ǵ để nói nữa?”
Sáng sớm hôm đó, Tôn giả Ban-đà khoác y, bưng bát, vào thành Xá-vệ khất thực; rồi trở về trong Tăng-già-lam, sửa lại y phục, dẫn theo một tỳ-kheo, đến chỗ tỳ-kheo-ni an cư trong vườn vua. Các tỳ-kheo-ni từ xa trông thấy Tôn giả Ban-đà đến, tất cả đều ra trước đón rước, có vị phủi bụi y phục, có vị bưng bát, trải tọa cụ, có vị chuẩn bị nước sạch và đồ rửa chân. Tôn giả Ban-đà liền đến chỗ ngồi an tọa. Các tỳ-kheo-ni đều sắp hàng đảnh lễ dưới chân ngài, rồi ngồi qua một bên.
Lúc bấy giờ Đại Ái Đạo bạch với Tôn giả Ban-đà rằng:
“Bây giờ chính là lúc thích hợp. Xin ngài giáo giới và thuyết pháp cho các tỳ-kheo-ni.”
Tôn giả Ban-đà liền nói bài kệ:
Người chứng tịch tịnh th́ hoan hỷ;
Thấy pháp, được an vui.
Thế gian không sân, tối hoan lạc,
Không tổn hại chúng sanh.
Thế gian vô dục, tối an lạc,
Ra khỏi các ái dục.
Nếu điều phục ngă mạn
Ấy là lạc đệ nhất!
Tôn giả Ban-đà nói bài kệ này xong liền vào đệ tứ thiền. Lúc ấy, nhóm sáu tỳ-kheo-ni cùng nhau trêu cợt rằng:
“Trước đây tôi đă nói lời này: ‘Ban-đà tỳ-kheo là người si, chỉ tụng được một bài kệ. Nếu đến nói cho chúng ta, th́ khi nói xong bài kệ ấy rồi, có ǵ để nói nữa?’ Quả như lời nói, hiện tại ngài ấy đang im lặng.”
Khi ấy, các tỳ-kheo-ni La-hán nghe Ban-đà nói xong, tất cả rất vui mừng, v́ biết Ban-đà [648a1] có đại thần lực. Rồi Đại Ái Đạo lại thỉnh Tôn giả Ban-đà giáo giới, thuyết pháp cho các tỳ-kheo-ni. Ban-đà tỳ-kheo lại cũng đọc lại bài kệ đă đọc rồi vào đệ tứ thiền trở lại, ngồi im lặng.
Lúc ấy, nhóm sáu tỳ-kheo-ni lại cùng nhau bàn tán: “Tôn giả Ban-đà là người ám độn, chỉ tụng được một bài kệ. Nếu đến nói cho chúng ta, th́ khi nói xong bài kệ ấy rồi, có ǵ để nói nữa? Quả như lời nói, hiện tại ngài ấy đang im lặng.”
Ở đây chỉ có các tỳ-kheo-ni La-hán mới biết Ban-đà là vị A-la-hán có đại thần lực. Bấy giờ, Tôn giả Ban-đà khởi lên ư nghĩ: “Nay ta nên quan sát tâm niệm của mỗi người khi nghe ta nói có hoan hỷ hay không?”
Sau khi quan sát, Tôn giả thấy tâm niệm của các tỳ-kheo-ni hoặc có người hoan hỷ, hoặc không có người hoan hỷ. Tôn giả liền nghĩ lại: “Nay ta nên làm cho họ tỏ dấu hiệu hối hận.” Tôn giả liền thăng lên hư không, hoặc hiện thân nói pháp, hoặc ẩn h́nh nói pháp, hoặc hiện nửa thân nói pháp, hoặc không hiện nửa thân nói pháp, hoặc từ thân tuôn ra khói lửa, hoặc không hiện như vậy. Tôn giả Ban-đà ở trong hư không v́ các tỳ-kheo-ni hiện các thần biến để nói pháp rồi, liền từ hư không mà đi.
Lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo sai người tin cậy đến nói với nhóm sáu tỳ-kheo-ni rằng:
“Theo thứ tự, chúng tôi sẽ giáo giới thuyết pháp cho các tỳ-kheo-ni.”
Nhóm sáu tỳ-kheo-ni liền bạch với Tăng tỳ-kheo-ni: “Theo thứ tự nhóm sáu tỳ-kheo sẽ đến giáo giới, thuyết pháp.”
Đêm đă qua, sáng sớm hôm đó, nhóm sáu tỳ-kheo khoác y, bưng bát, vào thành Xá-vệ khất thực. Khất thực xong về lại trong Tăng-già-lam, sửa soạn y phục, nhiếp tŕ oai nghi, đến chỗ các tỳ-kheo-ni an cư trong vườn nhà vua, an tọa nơi ṭa. Khi ấy các tỳ-kheo-ni kính lễ dưới chân rồi, tất cả đều về chỗ mà ngồi.
Khi nhóm sáu tỳ-kheo giáo giới tỳ-kheo-ni, lại đem những chuyện linh tinh khác mà nói, không luận bàn đến giới, định, trí tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến; không luận bàn đến thiểu dục tri túc, sự xuất yếu, sự tấn tu, xả ly, hướng đến pháp thiện, không ở chốn náo nhiệt, luận mười hai nhân duyên; mà chỉ luận bàn câu chuyện về vua chúa, về nhân dân, về quân mă, luận về đấu tranh, chuyện về đại thần, chuyện cưỡi ngựa, chuyện phụ nữ, chuyện tràng hoa, chuyện tiệc rượu, chuyện dâm nữ, chuyện giường nằm, chuyện y phục, chuyện ăn uống ngon bổ, chuyện tắm ao [648b] vui chơi, chuyện cḥm xóm, chuyện linh tinh, chuyện tư duy thế sự, chuyện vào biển cả.[46]
Trong khi luận bàn những vấn đề như vậy, hoặc giỡn cười, hoặc múa hát, hoặc đánh trống, khảy đàn, thổi tù và, hoặc làm tiếng kêu chim khổng tước, chim hạc, hoặc cùng chạy, hoặc đi một chân, đi cà nhót, hoặc đánh trận giả.
Nhóm sáu tỳ-kheo-ni nghe thấy những việc như vậy rất là hoan hỷ, nói rằng:
“Nhóm sáu tỳ-kheo giáo thọ như vậy là hết sức thích hợp.”
Các vị tỳ-kheo-ni La-hán v́ ḷng cung kính nên im lặng không nói. Rồi th́, Đại Ái Đạo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, đứng qua một bên. Trong giây lát, bạch đức Thế Tôn:
“Theo thứ tự, nhóm sáu tỳ-kheo đến giáo thọ tỳ-kheo-ni lại đem bao nhiêu việc khác ra mà nói, không nói giới, không luận về định… cho đến không nói tránh chỗ ồn ào, và không luận bàn về mười hai nhân duyên, mà chỉ luận bàn câu chuyện về vua chúa, cho đến chuyện tư duy thế sự, chuyện vào biển cả. Rồi lại cười giỡn ca múa… cho đến việc đi một chân, đi cà nhót, cùng đánh trận giả.”
Lúc bấy giờ, Đại Ái Đạo bạch đức Thế Tôn rơ ràng mọi việc rồi, đảnh lễ dưới chân Phật và cáo lui.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, biết mà ngài vẫn hỏi nhóm sáu tỳ-kheo rằng:
“Có thật sự các ông giáo giới tỳ-kheo-ni như vậy chăng?”
Nhóm sáu tỳ-kheo thưa: “Bạch đức Thế Tôn, thật có như vậy.”
Đức Thế Tôn quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rằng:
“Việc các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Sao các ông lại giáo thọ tỳ-kheo-ni như vậy?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rồi bảo các tỳ-kheo:
“Từ nay trở đi ở trong chúng Tăng nên sai người giáo thọ tỳ-kheo-ni bằng cách bạch nhị yết-ma. Nên sai vị có khả năng yết-ma, dựa vào sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận sai tỳ-kheo tên là…, giáo thọ tỳ-kheo-ni. Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tăng sai tỳ-kheo này tên là…, giáo thọ tỳ-kheo-ni. Các trưởng lăo nào chấp thuận Tăng sai tỳ-kheo tên là…, giáo thọ tỳ-kheo-ni th́ im lặng. Vị nào không đồng ư xin nói.”
“Tăng đă chấp thuận sai tỳ-kheo tên là…, giáo thọ tỳ-kheo-ni rồi. Tăng đồng ư nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Khi ấy nhóm sáu tỳ-kheo nói rằng: “Tăng không sai chúng ta giáo thọ tỳ-kheo-ni.”
Rồi họ ra ngoài giới, cùng tác pháp sai lẫn nhau đi giáo thọ tỳ-kheo-ni. Sau đó, họ sai người đến nói với nhóm sáu tỳ-kheo-ni:
“Hăy v́ chúng tôi thưa với Ni Tăng [648c] rằng, nhóm sáu tỳ-kheo được Tăng sai sẽ đến giáo giới tỳ-kheo-ni.”
Các tỳ-kheo nghe được, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo rằng: “Tăng không sai các thầy giáo thọ tỳ-kheo-ni. Sao ra ngoài giới cùng nhau sai giáo giới tỳ-kheo-ni, rồi sai người nói với tỳ-kheo-ni rằng, Tăng đă sai chúng tôi giáo giới tỳ-kheo-ni?”
Lúc ấy, nhóm sáu tỳ-kheo-ni v́ nhóm sáu tỳ-kheo mà bạch với Tăng tỳ-kheo-ni rằng:
“Chúng Tăng đă sai nhóm sáu tỳ-kheo giáo giới tỳ-kheo-ni.”
Khi ấy, Đại Ái Đạo nghe nói như vậy, liền đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật; đứng qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn, rồi đảnh lễ và cáo lui.
Lúc bấy giờ, các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền dùng nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, Ngài biết mà vẫn hỏi nhóm sáu tỳ-kheo rằng:
“Các ông thật sự có ra ngoài giới cùng sai lẫn nhau giáo thọ Tăng tỳ-kheo-ni không?”
Nhóm sáu thưa: “Kính bạch đức Thế Tôn, thật như vậy.”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rằng:
“Việc các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Thật là những người si. Tăng không sai giáo thọ tỳ-kheo-ni mà sao lại ra ngoài giới cùng sai lẫn nhau giáo thọ tỳ-kheo-ni, rồi lại sai người nói với nhóm sáu tỳ-kheo-ni rằng, ‘V́ chúng tôi thưa với ni Tăng, Tăng sai chúng tôi giáo thọ tỳ-kheo-ni, nay chúng tôi sẽ đến giáo thọ Tỳ-kheo-ni?’”
Đức Thế Tôn quở trách rồi bảo các tỳ-kheo:
“Từ nay trở đi, nếu có tỳ-kheo thành tựu mười pháp,[47] nhiên hậu mới được giáo thọ tỳ-kheo-ni. Mười pháp là: Giới luật đầy đủ; đa văn, tụng thuộc luật của hai bộ; quyết đoán không nghi; khéo thuyết pháp; tộc tánh xuất gia; nhan mạo đoan chánh, chúng tỳ-kheo-ni thấy liền sanh tâm hoan hỷ; đủ khả năng v́ chúng tỳ-kheo-ni nói pháp khuyên bảo khiến họ hoan hỷ; không v́ Phật xuất gia mặc pháp phục mà phạm trọng pháp; đủ hai mươi tuổi, hoặc hơn hai mươi tuổi. Đủ những điều kiện như vậy mới cho giáo giới tỳ-kheo-ni.
“Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo-ni kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, không được Tăng sai mà giáo giới tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề.
B. Giới tướng
Tỳ-kheo: nghĩa như trước.
Tăng: cùng một thuyết [649a1] giới, cùng một yết-ma.
Sai: trong Tăng được sai bằng bạch nhị yết-ma.
Giáo thọ: dạy tám điều không thể vượt qua.[48] Tám điều ấy là:
1/ Tỳ-kheo-ni dù một trăm tuổi hạ, khi thấy tỳ-kheo mới thọ giới cũng phải đứng dậy đón chào, lễ bái, mời ngồi. Pháp này nên tôn trọng cung kính tán thán; trọn đời không được trái phạm.
2/ Tỳ-kheo-ni không được mắng tỳ-kheo, không được phỉ báng nói phá giới, phá kiến, phá oai nghi. Đây là pháp nên tôn trọng, cung kính, tán thán; trọn đời không được trái phạm.
3/ Tỳ-kheo-ni không được cử tội tỳ-kheo nói, “Việc thầy đă làm như vậy, việc thầy đă làm không phải vậy.” Không được tác pháp tự ngôn, không được ngăn người khác tác pháp mích tội.[49] Không được ngăn tỳ-kheo thuyết giới, tự tứ. Tỳ-kheo-ni không được nói lỗi lầm của tỳ-kheo. Tỳ-kheo được nói lỗi lầm của tỳ-kheo-ni. Đây là pháp nên tôn trọng, cung kính, tán thán; trọn đời không được trái phạm.
4/ Thức-xoa-ma-na đă học những điều cần học rồi, phải đến chúng Tăng cầu thọ đại giới. Đây là pháp nên tôn trọng, cung kính, tán thán; trọn đời không được trái phạm.
5/ Nếu tỳ-kheo-ni phạm trọng pháp, phải nửa tháng đến trong hai bộ Tăng hành pháp ma-na-đỏa. Đây là pháp nên tôn trọng, cung kính, tán thán; trọn đời không được trái phạm.
6/ Tỳ-kheo-ni mỗi nửa tháng phải đến trong chúng Tăng cầu thỉnh vị giáo thọ. Đây là pháp nên tôn trọng, cung kính, tán thán; trọn đời không được trái phạm.
7/ Tỳ-kheo-ni không nên an cư nơi không có tỳ-kheo. Đây là pháp nên tôn trọng, cung kính, tán thán; trọn đời không được trái phạm.
8/ Tỳ-kheo-ni hạ an cư xong phải đến trong chúng Tăng cầu ba việc tự tứ là thấy, nghe và nghi. Đây là pháp nên tôn trọng, cung kính, tán thán; trọn đời không được trái phạm.
Khi thuyết giới, Thượng tọa nên hỏi:
“Chúng tỳ-kheo-ni có sai vị nào đến thỉnh giáo thọ không?”
Nếu có, liền đứng dậy bạch với Tăng rằng:
“Tỳ-kheo-ni Tăng ḥa hợp, xin lễ dưới chân Tăng tỳ-kheo, cầu thỉnh người giáo giới.”
Khi thuyết giới, Thượng tọa nên hỏi rằng:
“Có vị nào đi giáo giới tỳ-kheo-ni?”
Nếu có người th́ nên sai. Nếu người giáo giới tỳ-kheo-ni nhiều, th́ nên hỏi vị sứ giả của Tăng tỳ-kheo-ni rằng:
“Trong chúng Tăng có nhiều vị giáo giới tỳ-kheo-ni, vậy cô thỉnh vị nào?”
Hoặc ni kia thưa: “Con xin thỉnh thầy ǵ đó.”
Hoặc vị sứ giả của ni nói: “Con xin tùy theo xử phân của Tăng.”
Như vậy th́ Tăng nên theo thứ tự, sai các vị đă thường giáo thọ tỳ-kheo-ni đi giáo thọ.
Tỳ kheo [649b] được sai đúng giờ hẹn mà đến. Tỳ-kheo-ni cũng phải đúng giờ hẹn mà nghinh đón. Nếu tỳ-kheo đúng giờ hẹn mà không đến th́ phạm đột-kiết-la. Đến giờ hẹn mà tỳ-kheo-ni không đón cũng phạm đột-kiết-la. Khi nghe vị giáo thọ đến, tỳ-kheo-ni phải ra nửa do-tuần để đón, cung cấp những thứ cần dùng, có đủ đồ để rửa; nấu cháo, các thức ăn uống. Nếu ni không sửa soạn đầy đủ như vậy th́ phạm đột-kiết-la.
Nếu không được Tăng sai, hoặc chẳng phải ngày giáo thọ mà đến, v́ ni nói Tám pháp không thể vượt qua, phạm đột-kiết-la.
Nếu không được Tăng sai mà đến nói pháp, th́ phạm ba-dật-đề.
Nếu Tăng tỳ-kheo bệnh, (tỳ-kheo-ni) nên sai người đến hỏi thăm. Nếu tỳ-kheo không ḥa hợp, chúng không đầy đủ, (tỳ-kheo-ni) cũng nên sai người đến lễ bái thăm hỏi. Nếu không làm như vậy, phạm đột-kiết-la. Nếu tỳ-kheo-ni Tăng bệnh, (tỳ-kheo) cũng nên sai người đến làm lễ thăm hỏi. Nếu chúng tỳ-kheo-ni không ḥa hợp, chúng không đầy đủ, (tỳ-kheo) cũng nên sai người đến làm lễ thăm hỏi. Không làm như vậy phạm đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: chúng Tăng sai giáo thọ tỳ-kheo-ni; khi thuyết giới Thượng tọa hỏi: “Có ai sai tỳ-kheo-ni đến (thỉnh giáo giới) không?” Nếu có, vị ấy đứng dậy bạch Tăng rằng: “Tăng tỳ-kheo-ni ḥa hợp, lễ dưới chân Tăng tỳ-kheo, cầu xin người giáo thọ tỳ-kheo-ni.” Thượng tọa nên hỏi Tăng: “Vị nào có thể giáo hối tỳ-kheo-ni?” Nếu có th́ nên sai vị ấy đến giáo thọ. Nếu có nhiều người có thể đến giáo thọ, th́ Thượng tọa nên hỏi ni: “Muốn thỉnh vị giáo thọ nào?” Nếu tỳ-kheo-ni thưa: “Chúng con xin được thỉnh vị Tăng có tên như vậy.” Tăng nên theo sự yêu cầu mà sai. Hoặc tỳ-kheo-ni thưa, “Chúng con nhất trí theo sự phân định của Tăng.” Lúc bấy giờ, Tăng nên theo thứ tự sai trong số những vị thường đă giáo thọ ni. Chúng Tăng nên ấn định th́ giờ để đến. Tỳ-kheo-ni theo giờ ấn định mà nghinh đón. Khi vị giáo thọ tỳ-kheo-ni đến, ni chúng phải ra nửa do-tuần để nghinh đón; an trí chỗ ngồi, sửa soạn đồ để rửa, nấu cháo, đồ ăn thức uống. Hoặc được Tăng sai, đến ngày hội họp v́ nói tám pháp, không trái phạm. Nên theo thứ tự đến nói pháp. Hoặc chúng Tăng bệnh, tỳ-kheo-ni gởi thư đến lễ bái chúng Tăng. Chúng Tăng không đầy đủ, biệt bộ, bộ không ḥa hợp, (tỳ-kheo-ni) nên gởi thư đến lễ bái. Hoặc tỳ-kheo-ni bệnh, hoặc chúng không đầy đủ, không ḥa hợp, (tỳ-kheo) cũng gởi thư đến lễ bái hỏi chào Ni Tăng. Hoặc đường thủy bị trở ngại, đường bộ bị hiểm nạn, giặc cướp, hổ lang, sư tử, nước lớn, bị thế lực bắt, bị trói nhốt, [649c] mạng nạn, phạm hạnh nạn, không thể gởi thư đến lễ bái hỏi chào, những trường hợp trên đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.[50]
XXII. Giáo thọ ni sau mặt trời lặn[51]
A. Duyên khởi
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Tôn giả Nan-đà được chúng Tăng sai giáo thọ tỳ-kheo-ni. Giáo thọ tỳ-kheo-ni xong, Tôn giả ngồi im lặng.
Bấy giờ Đại Ái Đạo thưa:
“Tôn giả Nan-đà, chúng con muốn được nghe pháp. Xin Tôn giả v́ chúng con mà nói thêm nữa.”
Tôn giả Nan-đà nói pháp cho họ xong, cũng ngồi im lặng.
Đại Ái Đạo lại thưa thỉnh lần nữa:
“Chúng con muốn được nghe pháp. Xin Tôn giả v́ chúng con mà nói.”
Tôn giả Nan-đà thuyết pháp cho họ với âm thanh tốt nên thính giả thích nghe. V́ vậy măi đến mặt trời lặn mới thôi.
Khi tỳ-kheo-ni ra khỏi tịnh xá Kỳ-hoàn để về thành Xá-vệ th́ cửa thành đă đóng, không vào được, phải dựa vào hào ở ngoài cửa thành mà nghỉ đêm. Sáng sớm, cửa thành vừa mở th́ các cô ni vào trước. Các trưởng giả thấy thế, đều nói, “Sa-môn Thích tử không có tàm quư, không có hạnh thanh tịnh. Tự xưng rằng ta tu chánh pháp. Như vậy th́ có ǵ là chánh pháp? Các ông xem những tỳ-kheo-ni này, suốt đêm cùng ngủ với tỳ-kheo, sáng ngày họ mới cho ra về.”
Các tỳ-kheo nghe được, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách Nan-đà rằng, “Sao thầy thuyết pháp cho tỳ-kheo-ni măi cho đến măt trời lặn, khiến cho các trưởng giả chê trách?”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn liền dùng nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo. Ngài biết mà vẫn [650a1] hỏi Tôn giả Nan-đà:
“Thật sự ông có giáo giới cho tỳ-kheo-ni đến mặt trời lặn hay không?”
Tôn giả thưa: “Bạch đức Thế Tôn, có thật như vậy.”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Tôn giả Nan-đà:
“Việc ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Này Nan-đà, sao ông thuyết pháp giáo giới cho tỳ-kheo-ni măi đến mặt trời lặn?”
Quở trách rồi, Phật bảo các tỳ-kheo:
“Nan-đà kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, tuy được Tăng sai, nhưng giáo thọ tỳ-kheo-ni cho đến mặt trời lặn,[52] ba-dật-đề.
B. Giới tướng
Tỳ-kheo: nghĩa như trước.
Tăng: như giới trước.
Giáo thọ: trong chúng Tăng, được sai bằng pháp bạch nhị yết-ma.
Vị tỳ-kheo được Tăng sai giáo thọ tỳ-kheo-ni nên trở về trước khi mặt trời lặn. Nếu tỳ-kheo nào giáo thọ tỳ-kheo-ni cho đến mặt trời lặn, ba-dật-đề. Trừ giáo thọ ra, nếu dạy kinh, tụng kinh hoặc tham vấn bao nhiêu việc khác cho đến mặt trời lặn, đột-kiết-la. Trừ tỳ-kheo-ni ra, nếu v́ các phụ nữ khác tụng kinh, dạy kinh, tham vấn việc khác đến mặt trời lặn, đột-kiết-la.
Mặt trời lặn tưởng là mặt trời lặn, ba-dật-đề. Nghi là mặt trời lặn, đột-kiết-la. Mặt trời lặn tưởng là mặt trời chưa lặn, đột-kiết-la. Mặt trời chưa lặn tưởng là mặt trời lặn, đột-kiết-la. Nghi là mặt trời chưa lặn, đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: giáo thọ tỳ-kheo-ni, mặt trời chưa lặn liền dừng. Trừ phụ nữ ra, nếu v́ người khác dạy tụng kinh, thọ kinh, hoặc tham vấn việc khác, không phạm.
Nếu nói pháp trên thuyền đ̣, tỳ-kheo-ni nghe cùng với khách lái buôn đồng hành ban đêm; hoặc đến trong chùa tỳ-kheo-ni nói pháp; hoặc đến ngày thuyết giới, ni đến trong Tăng thỉnh vị giáo thọ, gặp khi nói pháp ni liền nghe; tất cả đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
XXIII. Giáo thọ ni vì lợi dưỡng[53]
A. Duyên khởi
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ có tỳ-kheo-ni nghe vị giáo thọ sư đến, nghinh đón cách nửa do-tuần, sắp đặt pḥng xá, chuẩn bị cơm, cháo, đồ ăn, thức uống, giường, tọa cụ, nơi tắm rửa.
Lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo nghĩ rằng, [650b] “Các tỳ-kheo kia không sai chúng ta đi giáo thọ tỳ-kheo-ni.” Rồi sanh tâm ganh ghét, nói rằng, “Các tỳ-kheo kia giáo thọ tỳ-kheo-ni không phải với tâm chân thật, mà chỉ v́ đồ ăn, thức uống, nên giáo thọ tỳ-kheo-ni tụng kinh, thọ kinh tham vấn.”
Bấy giờ, trong số các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo, “Sao lại nói như vậy, rằng, ‘Các Tỳ-kheo kia không sai chúng ta đi giáo thọ tỳ-kheo-ni.’ Rồi sanh tâm ganh ghét, nói rằng, ‘Các tỳ-kheo kia giáo thọ tỳ-kheo-ni không phải với tâm chân thật. Mà chỉ v́ đồ ăn, thức uống, nên giáo thọ tỳ-kheo-ni tụng kinh, thọ kinh tham vấn.’?”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền dùng nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
“Việc các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Nhóm sáu tỳ-kheo, sao các ông lại nói rằng, ‘Các tỳ-kheo kia không sai chúng ta đi giáo thọ tỳ-kheo-ni.’ Rồi sanh tâm ganh ghét, nói rằng, ‘Các tỳ-kheo kia giáo thọ tỳ-kheo-ni không phải với tâm chân thật. Mà chỉ v́ đồ ăn, thức uống, nên giáo thọ tỳ-kheo-ni tụng kinh, thọ kinh tham vấn.’?”
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách rồi, bảo các tỳ-kheo:
“Những kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, nói với các tỳ-kheo như vầy: ‘Tỳ-kheo v́ sự ăn uống[54] mà giáo thọ tỳ-kheo-ni,’ ba-dật-đề.
B. Giới tướng
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Tỳ-kheo kia nói như vầy: “Các tỳ-kheo v́ sự ăn uống nên giáo thọ tỳ-kheo-ni. V́ sự ăn uống nên dạy tụng kinh, tham vấn.” Nói rơ ràng phạm ba-dật-đề; không rơ ràng phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: việc kia sự thật là như vậy, v́ sự ăn uống nên giáo thọ tỳ-kheo-ni, v́ sự cúng dường ăn uống nên dạy tụng kinh, thọ kinh, tham vấn. Hoặc nói đùa giỡn, nói một ḿnh, nói trong mộng, muốn nói việc này nhầm nói việc khác; tất cả không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
XXIV. Cho y cho tỳ-kheo-ni[55]
A. Duyên khởi
[650c2]Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, có một tỳ-kheo khất thực, oai nghi đầy đủ. Lúc ấy, có một tỳ-kheo-ni gặp ông, liền sanh thiện tâm, nhiều lần thỉnh vị tỳ-kheo kia, nhưng vị tỳ-kheo kia không nhận lời.
Một thời gian sau, chúng Tăng Kỳ-hoàn chia y vật. Tỳ-kheo kia đem phần y của ḿnh ra khỏi cửa ngơ Kỳ-hoàn th́ lại gặp tỳ-kheo-ni này vừa mới đến. Tỳ-kheo kia nghĩ rằng:
“Tỳ-kheo-ni này nhiều lần mời ta mà ta không nhận lời. Nay ta nên đem phần y này trả lễ sự mời thỉnh kia. Nhưng chắc cô không nhận. Việc này cũng đủ đáp trả nhau.” Nghĩ xong, tỳ-kheo kia nói với tỳ-kheo-ni rằng:
“Đại muội, đây là phần y của tôi. Đại muội cần th́ có thể lấy dùng.”
Tỳ-kheo-ni liền nhận. Tỳ-kheo kia hiềm trách tỳ-kheo-ni này rằng, “Ta đă nhiều lần nói với người khác rằng, ‘Tỳ-kheo-ni này nhiều lần thỉnh tôi. Đem phần ăn của cô để dành cho tôi, tôi không nhận. Do đó tôi nghĩ rằng, tỳ-kheo-ni này nhiều lần thỉnh tôi, đem phần ăn của cô để dành cho tôi, tôi không nhận; nay tôi đem phần y này biếu cho tỳ-kheo-ni này với ư nghĩ rằng, cô cũng không nhận, đủ để đáp trả nhau. Nhưng cô lại nhận.’”
Lúc bấy giờ, các tỳ-kheo nghe được, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách tỳ-kheo kia rằng: “Sao tỳ-kheo đem y cho tỳ-kheo-ni mà tâm không xả, lại đi nói với người khác?”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền dùng nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo kia: “Việc ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Sao tỳ-kheo cho y đến tỳ-kheo-ni mà tâm không xả, lại đi nói với người khác?”
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách rồi, bảo các tỳ-kheo: “Kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, cho y đến tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề.
Thế Tôn v́ tỳ-kheo kết giới như vậy. Trong số tỳ-kheo có vị dè dặt, không dám cho y đến tỳ-kheo-ni thân lư, bạch Phật. Phật dạy:
“Từ nay trở đi [651a1] được phép cho y tỳ-kheo-ni thân lư, nếu cho y tỳ-kheo-ni không thân lư, ba-dật-đề.”
Thế Tôn v́ tỳ-kheo kết giới như vậy. Bấy giờ trong Kỳ-hoàn, hai bộ Tăng cùng phân chia y vật, phần y của tỳ-kheo th́ tỳ-kheo-ni nhận được; phần y của tỳ-kheo-ni th́ tỳ-kheo nhận được.
Lúc tỳ-kheo-ni nhận lộn phần y đó bèn mang đến trong Tăng-già-lam bạch các tỳ-kheo:
“Đại đức, đem y này trao đổi được không?”
Tỳ-kheo trả lời:
“Này các cô, chúng tôi không được phép cho y đến tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến.”
Lúc bấy giờ, các tỳ-kheo bạch Phật. Phật dạy:
“Từ nay trở đi, nếu là trao đổi, cho phép cho y đến tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến.”
Từ nay trở đi nên nói giới này như vầy:
Tỳ-kheo nào, cho y đến tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến, trừ trao đổi, ba-dật-đề.
B. Giới tướng
Tỳ-kheo: nghĩa như trước.
Thân quyến, chẳng phải thân quyến: như đă giải trước.[56]
Y: có mười loại như trước đă nói.[57]
Trao đổi: đem y đổi y, đem y đổi phi y, đem phi y đổi y, đem kim đổi dao hoặc chỉ may, cho đến một ngọn cỏ thuốc.
Nếu tỳ-kheo cho y cho tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến, trừ trao đổi, ba-dật-đề.
Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: cho y cho thân quyến, cùng nhau trao đổi, hoặc cho tháp, cho Phật, cho Tăng; tất cả không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
XXV. May y cho tỳ-kheo-ni[58]
A. Duyên khởi
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, có tỳ-kheo-ni[59] muốn may tăng-già-lê; v́ cần may y nên đến trong Tăng-già-lam, thưa với Tôn giả Ca-lưu-đà-di:[60]
“Thưa Đại đức, con đem vải may y[61] này đến, muốn may tăng-già-lê. Xin Tôn giả may cho con.”
Ca-lưu-đà-di nói: “Tôi không thể may được.”
Cô ni hỏi: “Tại sao Đại đức không may cho con?”
Ca-lưu-đà-di nói: “Các cô ưa đến hối thúc nên tôi không may.”
Tỳ-kheo-ni thưa:
“Con không đến hối. Khi nào Đại đức may xong cũng được.”
Ca-lưu-đà-di trả lời: “Được.”
Tỳ-kheo-ni trao vải y cho Ca-lưu-đà-di rồi về.
Ca-lưu-đà-di có tay nghề cao về pháp may y, liền cắt may. Ca-lưu-đà-di vẽ h́nh nam nữ giao hợp may vào y. Khi cô ni đến trong Tăng-già-lam, hỏi Ca-lưu-đà-di rằng:
“Thưa Đại đức, pháp y của con may xong chưa?”
Ca-lưu nói: “Xong rồi.”
Tỳ-kheo-ni thưa: [651b] “Nếu xong, cho con nhận.”
Ca-lưu-đà-di xếp y lại cho cô ni, và dặn rằng:
“Này cô, y này không được tự tiện mở ra xem; cũng không được đưa cho người xem. Khi bạch thời đến[62] mới đem ra mặc, và khi đi phải đi sau tỳ-kheo-ni Tăng.
Tỳ-kheo-ni y theo lời dặn, không mở ra xem, cũng không nói cho ai biết. Một thời gian sau, khi bạch thời đến, cô ni liền mặc y này và đi sau Tăng tỳ-kheo-ni. Các cư sĩ thấy tất cả đều cơ hiềm, cười chê, hoặc vỗ tay chỉ trỏ, hoặc gơ cây, hoặc huưt gió, hoặc lớn tiếng cười to, nói:
“Mọi người hăy xem y mà tỳ-kheo-ni này khoác! Mọi người hăy xem y mà Tỳ-kheo-ni này khoác!”
Khi ấy, tỳ-kheo-ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề[63] thấy vậy rồi, liền bảo tỳ-kheo-ni này rằng: “Hăy cởi chiếc y ấy và xếp lại gấp!”
Cô ni liền cởi và xếp, vắt trên vai mà đi, sau khi thọ thực xong, về lại trong Tăng-già-lam, tỳ-kheo-ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề bảo tỳ-kheo-ni này rằng: Lấy chiếc y mà cô vừa mặc khi năy đem cho tôi xem!”
Cô ni kia liền đem chiếc y ấy ra tŕnh. Bà hỏi:
“Ai may y này cho cô?”
“Thưa, ngài Ca-lưu-đà-di may.”
“Sao cô không mở ra xem hay đưa cho đồng bạn coi thử may có tốt, có bền chắc hay không?”
Lúc ấy tỳ-kheo-ni mới đem lời dặn của Ca-lưu-đà-di thưa lại đầy đủ.
Khi ấy, trong chúng tỳ-kheo-ni có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách Ca-lưu-đà-di: “Tại sao may y cho tỳ-kheo-ni lại may như vậy?”
Lúc bấy giờ, tỳ-kheo-ni bạch lại các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo liền đến bạch đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, biết mà Phật vẫn hỏi Ca-lưu-đà-di rằng:
“Thật sự ông có may y cho tỳ-kheo-ni như vậy không?”
Ca-lưu-đà-di thưa: “Kính bạch đức Thế Tôn, thật như vậy.”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Ca-lưu-đà-di:
“Việc ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Tại sao may y cho tỳ-kheo-ni lại may như vậy?”
Quở trách Ca-lưu-đà-di rồi, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
“Kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, may y cho tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề.
Thế Tôn đă v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy. [651c] Các tỳ-kheo dè dặt không dám may y cho tỳ-kheo-ni thân quyến, đến bạch Phật. Phật dạy:
“Từ nay trở đi cho phép tỳ-kheo may y cho tỳ-kheo-ni thân quyến.”
Từ nay nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo nào, may y[64] cho tỳ-kheo-ni không phải thân quyến, ba-dật-đề.
B. Giới tướng
Tỳ-kheo: nghĩa như trước.
Chẳng phải thân quyến, thân quyến: như trên đă nói.
Y: Có mười loại như đă giải ở trước.
Nếu tỳ-kheo kia may y cho tỳ-kheo-ni không phải thân quyến, tùy theo dao cắt rọc nhiều hay ít, phạm ba-dật-đề. Cứ một lần may, mỗi mũi kim là một phạm ba-dật-đề.
Hoặc mặc thử để xem, hoặc kéo ra ủi cho thẳng, hoặc dùng tay vuốt, hoặc kéo góc cho ngay, hoặc kết, hoặc viền, hoặc cột chỉ, hoặc nối chỉ; tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: may y cho tỳ-kheo-ni thân quyến; may cho Tăng, may cho tháp; hoặc mượn mặc rồi giặt, nhuộm trả lại cho chủ, th́ không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
XXVI. Ngồi với tỳ-kheo-ni ở chỗ khuất[65]
A. Duyên khởi
Một thời, đức Thế Tôn ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Tôn giả Ca-lưu-đà-di tướng mạo xinh đẹp và tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà cũng có dung nhan xinh đẹp khác người. Cả Ca-lưu-đà-di và tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà đều có dục ư với nhau.
Một buổi sáng nọ, Ca-lưu-đà-di khoác y, bưng bát, đến chỗ Thâu-la-nan-đà. Cả hai người cùng ngồi một chỗ ở ngoài cửa. Các cư sĩ thấy thế, cùng nhau cơ hiềm, nói với nhau rằng: “Mọi người xem! Hai người này cùng ngồi với nhau giống như đôi vợ chồng, cũng như cặp uyên ương.”
Lúc bấy giờ các tỳ-kheo nghe, trong số đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách Ca-lưu-đà-di: “Sao lại cùng với tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà ngồi chung một chỗ ở bên ngoài cửa?”
Bấy giờ, các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo. Phật biết mà vẫn hỏi Ca-lưu-đà-di:
“Thật sự ông có cùng với tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà ngồi chung một chỗ ở bên ngoài cửa hay không?”
Ca-lưu-đà-di thưa:
“Kính bạch đức Thế Tôn, có thật như vậy.”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Ca-lưu-đà-di:
[652a1] “Việc ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Sao lại cùng với tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà ngồi chung một chỗ ở bên ngoài cửa?”
Quở trách Ca-lưu-đà-di rồi, Phật bảo các tỳ-kheo:
“Kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, một ḿnh[66] cùng với một tỳ-kheo-ni ngồi chỗ khuất kín, ba-dật-đề.
B. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni: nghĩa như trước.
Một chỗ:[67] chỗ chỉ có một tỳ-kheo và một tỳ-kheo-ni.
Chỗ khuất kín[68]: chướng ngại khuất kín đối với sự thấy, khuất kín đối với sự nghe.
Khuất kín đối với sự thấy là bị bụi, bị sương, hoặc khói, mây hay bóng tối làm không thấy.
Khuất kín đối với sự nghe là chỗ cho đến cả tiếng nói với giọng b́nh thường vẫn không nghe được.
Ngăn che:[69] hoặc do cây, do tường, do bờ rào, màn vải hay do các vật khác làm chướng ngại không thấy được.
Nếu tỳ-kheo một ḿnh ở chỗ khuất kín, cùng ngồi với một tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Hoặc mù mà không điếc, điếc mà không mù, phạm đột-kiết-la. Cùng đứng, phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: nếu khi ấy tỳ-kheo có bạn, hoặc có người trí, phải có cả hai điều này: không mù, không điếc, hay không điếc không mù; hoặc trên lộ tŕnh đi qua mà bị xỉu té, hoặc bị bệnh ngă xuống, hoặc bị thế lực bắt, hoặc bị trói nhốt, hay mạng nạn, phạm hạnh nạn, tất cả đều không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
XXVII. Hẹn đi chung đường với tỳ-kheo-ni[70]
A. Duyên khởi
Một thời, đức Thế Tôn ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo cùng với nhóm sáu tỳ-kheo-ni ở tại Câu-tát-la du hành trong nhân gian.[71] Các cư sĩ thấy cùng nhau cơ hiềm, “Sa-môn Thích tử không có tàm quư, không tu phạm hạnh. Bên ngoài tự xưng ta tu chánh pháp. Như vậy có ǵ là chánh pháp? Trong khi cùng với tỳ-kheo-ni du hành trong nhân gian, nếu khi ham muốn nổi lên, th́ xuống ngay bên đường chứ ǵ?” Các tỳ-kheo nghe được, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo: “Sao lại cùng du hành trong nhân gian với nhóm sáu tỳ-kheo-ni?”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền dùng nhân duyên này tập hợp [652b] Tăng tỳ-kheo, quở trách khách nhóm sáu tỳ-kheo: “Việc các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Sao lại cùng du hành trong nhân gian với nhóm sáu tỳ-kheo-ni?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rồi, bảo các tỳ-kheo: “Những kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, cùng đi với tỳ-kheo-ni khoảng cách từ một thôn đến một thôn, ba-dật-đề.
Thế Tôn v́ tỳ-kheo kết giới như vậy. Bấy giờ, các tỳ-kheo không cùng hẹn trước với tỳ-kheo-ni, mà t́nh cờ gặp giữa đường, v́ e sợ, không dám cùng đi.
Đức Phật dạy:
“Không hẹn trước th́ không phạm.”
Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo nào, cùng hẹn và cùng đi với tỳ-kheo-ni khoảng cách từ một thôn đến một thôn, ba-dật-đề.
Thế Tôn v́ tỳ-kheo kết giới như vậy. Bấy giờ có số đông tỳ-kheo ở nước Xá-vệ muốn đến Tỳ-xá-ly. Trong lúc đó cũng có số đông tỳ-kheo-ni ở nước Xá-vệ cũng muốn đến Tỳ-xá-ly, nên các tỳ-kheo-ni thưa hỏi các tỳ-kheo rằng: “Đại đức muốn đi đâu?”
Các tỳ-kheo nói: “Chúng tôi muốn đến Tỳ-xá-ly.”
Tỳ-kheo-ni thưa: “Chúng con cũng muốn đến đó.”
Các tỳ-kheo bảo:
“Này các cô, nếu các cô muốn đến đó th́, một là các cô đi trước, chúng tôi đi sau; hai là các cô đi sau, chúng tôi đi trước. Tại sao vậy? V́ đức Thế Tôn đă chế giới, chúng tôi không được cùng đi một đường với tỳ-kheo-ni.”
Các tỳ-kheo-ni liền thưa:
“Như vậy chư Đại đức là bậc tôn kính đối với chúng con. Xin các Ngài đi trước, chúng con sẽ đi sau.”
Các tỳ-kheo-ni đi sau, bị giặc cướp đoạt hết y bát. Các tỳ-kheo đem việc này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn dạy:
“Từ nay trở đi, hoặc cùng đi với khách buôn, hoặc nếu nơi nghi ngờ có kinh sợ, cùng đi không phạm.”
Từ nay nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo nào, cùng hẹn và cùng đi chung đường với tỳ-kheo-ni từ một thôn đến một thôn, trừ trường hợp khác, ba-dật-đề. Trường hợp khác là, cùng đi với khách buôn;[72] hoặc khi có nghi ngờ, có kinh sợ. Đó gọi là trường hợp khác.
B. Giới tướng
Tỳ-kheo: nghĩa như trước.
Hẹn: cùng bảo nhau đi đến thôn đó, thành đó, quốc độ đó.
Chỗ có nghi ngờ:[73] nghi có giặc cướp.
Kinh sợ: là chỗ có [652c] giặc cướp.
Đường: là khoảng cách giữa hai thôn có ranh giới cho lối đi.[74]
Nếu tỳ-kheo hẹn và cùng đi một đường với tỳ-kheo-ni cho đến ranh giới giữa hai thôn, tùy theo số chúng nhiều và phân giới nhiều hay ít, mỗi mỗi đều phạm ba-dật-đề. Chẳng phải thôn mà đi chỗ đồng không, cho đến mười dặm, phạm ba-dật-đề.[75] Chưa đến một thôn hay ít hơn mười dặm, phạm đột-kiết-la. Nếu đi trong phạm vi một phân giới chung cho nhiều thôn, phạm đột-kiết-la. Phương tiện muốn đi, cùng hẹn chuẩn bị hành lư, tất cả phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: không cùng hẹn; có nhiều bạn cùng đi; chỗ có sợ hăi, có nghi ngờ; hoặc đến nơi đó được an ổn; hoặc bị thế lực bắt, hoặc bị trói, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn; tất cả không phạm.
Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
[1] Pāli. Pāc. 13 ujjhāpanaka. Thập tụng, Căn bản: ba-dật-đề 12.
[2] Xem Ch.ii, tăng-già-bà-thi-sa viii & ix.
[3] Ch.ii, tăng-già-bà-thi-sa viii. Tăng kỳ 14: Ưu-ba-nan-đà. Căn bản 28: Hai tỳ-kheo Hữu và Địa cùng bàn chuyện với Ô-ba-nan-đà.
[4] Căn bản, nt. đối diện nói xấu.
[5] Căn bản nt., Phật khiến Tăng tác yết-ma ha trách cho Từ, Địa, sau đó mới chế giới.
[6] Hán: cơ hiềm 譏嫌. Ở đây, nói xấu sau lưng. Ngũ phần, vu thuyết 誣說; nói xấu. Tăng kỳ, hiềm trách 嫌責. Thập tụng, sân cơ 瞋譏, giận hờn mà chỉ trích. Căn bản, hiềm hủy 嫌毀. Pāli: ujjhāpanaka, sự bêu xấu hay nói xấu; giải thích (Vin.iv. 38): “Muốn làm cho người đó xấu hổ, mất danh dự; gây khó khăn cho người đó.”
[7] Căn bản nt., đối diện nhưng không gọi thẳng tên mà giả thác sự kiện khác.
[8] Thập tụng: sân cơ sai hội nhân 瞋譏差會人, giận hờn mà nói xấu người được Tăng sai, hay chức sự Tăng. Nếu không phải là chức sự Tăng sai, phạm đột-kiết-la.
[9] Các bộ khác, như Tứ phần. Pāli: Pāc. 14. mañcā (pathama-senāsanasikkhāphadaṃ)
[10] Thằng sàng, mộc sàng, ngọa cụ, tọa nhục 繩床木床臥具坐褥. Tăng kỳ: ngọa sàng, tọa sàng, nhục, chẩm 臥床坐床褥枕: giường nằm, giường ngồi, đệm, gối.
[11] Thằng sàng 繩床. Chỉ các loại giường nằm. Tăng kỳ: ngọa sàng 臥床. Thập tụng: tế thằng sàng 細繩床. Pāli: mañca, giải rằng có bốn loại: masāraka, trường kỷ; bundikābaddha, giường trải vạt; kuḷīrapādaka, giường chân cong (chân quỳ); āhaccapādaka, giường chân ráp (tháo gỡ được).
[12] Mộc sàng 木床. Tăng kỳ: tọa sàng 坐床. Thập tụng: thô thằng sàng 麤繩床. Pāli: pīṭhaṃ.
[13] Ma-ma-đế 摩摩帝; Tăng sử lược (T54n2126, tr.244c18): “Chùa lập ba giềng mối… Tiếng Phạn nói, Ma-ma-đế 摩摩帝, Tất-thế-na 悉替那, Yết-ma-na-đà 羯磨那陀; Hoa nói là Tự chủ 寺主, Thượng tọa 上座, Duyệt chúng 悅眾…” Theo đó, Ma-ma-đế có thể phiên âm không chỉnh của [vihāra-]svāmin: chủ tinh-xá, hay chủ chùa.
[14] Kinh doanh nhân 經營人, hay doanh sự tỳ-kheo, tức vị tri sự của Tăng, Skt. karma-dāna.
[15] Các bộ như nhau. Pāli. Pāc. 15. seseyya (dutiyasenāsana-sikkhāpadaṃ).
[16] Tứ phần & Pāli, giống nhau: ba-dật-đề 16. Ngũ phần, Tăng kỳ, Thập tụng, Căn bản: ba-dật-đề 17. Pāli. Pāc. 16. anupakhaja.
[17] Thập tụng, nguyên nhân do Ca-lưu-đà-di.
[18] Ngũ phần, Tăng kỳ, Thập tụng, Căn bản: ba-dật-đề 16. Pāli, như Tứ phần. Pāli, Pāc. 17. nikkaḍḍhana.
[19] Pāli, Vin.iv. 43: các tỳ-kheo này dọn tinh xá lớn gần Kỳ hoàn để an cư.
[20] Tăng kỳ thêm chi tiết: “…cho đến, bảo tỳ-kheo: Ông hăy đi ra!” Thập tụng cũng thêm: “…Đi ra, si nhân! Không nên ở đây.” Căn bản thêm: “Trừ duyên cớ khác…” Pāli: saṅghikā vihārā, (kéo) ra khỏi tinh xá của Tăng.
[21] Các bộ như nhau. Pāc. 18. vehāsakuṭi.
[22] Trùng các 重閣. Pāli: upari-vehāsa-kuṭī, nghĩa không rơ, có lẽ chỉ tầng trên của gác cao, hay gác lửng; Ngũ phần: trùng các ốc 重閣屋; nhà có gác cao. Thập tụng 11 (tr.79a22): “Một người được chỗ trên gác; một người được chỗ dưới gác.” Cf. Nam Truyền, Luật tạng 2: “Một tỳ-kheo ở trên lầu, một tỳ-kheo ở dưới lầu.”
[23] Thoát cước sàng 脫腳床. Pāli: āhaccapādakaṃ mañcaṃ, giường có chân tháo gỡ được. Ngũ phần 6 (tr.44b18): tiêm cước sàng 尖腳床, giường chân nhọn.
[24] Ngũ phần thêm: dụng lực toạ ngoạ 用力坐臥, dùng sức ngồi hay nằm. Căn bản: phóng thân tọa ngọa 放身坐臥, buông người ngồi hay nằm.
[25] Hán: xá 舍; trong giới văn nói là pḥng 房.
[26] Trùng các 重閣. Pāli: vehāsakuṭī, giải thích: majjhimassa purisassa asīsaghaṭṭā, (gác cao) mà một người cao trung b́nh đứng không đụng đầu. Căn bản: trùng pḥng 重房, giải thích: “tầng gác cao nguy hiểm, hư mục.”
[27] Độc tọa sàng 獨坐床. Có lẽ chỉ một loại ghế ngồi cho một người.
[28] Dục sàng 浴床. Ghế nhỏ, để ngồi mà tắm.
[29] Ngũ phần, ba-dật-đề 20. Pāli, Pāc. 20 sappāṇaka. Các bộ khác, như Tứ phần.
[30] Pāli: Phật tại Āḷavī (Khoáng dă).
[31] Xem Ch.ii. Tăng-già-bà-thi-sa xiii. Tăng kỳ, doanh sự tỳ-kheo 營事比丘.
[32] Đại ốc 大屋. Ngũ phần: đại pḥng xá 大房舍.
[33] Ngũ phần thêm: “hoặc uống, hoặc dùng vào các việc khác…” Căn bản thêm, “…hoặc ḥa với phân ḅ…” Pāli: tiṇṇaṃ vā mattikaṃ vā siñceyya, tưới lên cỏ hoặc đất sét (hay đất bùn).
[34] Lạc tương và thanh lạc tương 酪漿清酪漿.
[35] Pāli, Pāc. 19: mahallaka-vihāra. Tăng kỳ, Thập tụng, Căn bản: ba-dật-đề 19. Cf. Ch.ii, Tăng-già-bà-thi-sa vii.
[36] Ngũ phần: có thí chủ cất cho. Tăng kỳ, Xiển-đà đi khuyến hoá để cất pḥng.
[37] Ngũ phần: “…từ đất bằng, đắp lên đến chỗ chừa cửa sổ, khiến cho hết sức bền chắc, bên trên lợp ba lớp…” Thập tụng: “…dựng nhà lớn, đắp vách chừa cửa, trên đặt rường, dọn đất thật chắc, nên lợp hai, hay ba lớp…” Căn bản: “… ở bên phên cửa nên đặt thanh xà ngang và khung cửa sổ; đặt đường thoát nước. Khi dựng vách, nếu là đất bùn, nên đắp hai, ba lớp, cho đến xà ngang…:”
[38] Hán: chỉ thọ phú 指授覆, chỉ dẫn người khác lợp. Pāli: adhiṭṭhātabbaṃ, được lợp theo quy định.
[39] Tăng kỳ thêm “…nên làm (trụ) nơi chỗ đất ít cỏ…” Pāli: appaharite ṭhitena, “dựng trên chỗ ít cỏ tươi.” Căn bản: “…ở hai bên khung cửa nên đặt ngạch ngang, và các cửa sổ, đồng thời đặt lỗ thoát nước; khi dựng tường, nếu là bùn śnh, đắp hai, ba lớp, ngang đến chỗ ngạch ngang th́ thôi…”
[40] Đại xá 大舍. Trong giới văn: đại pḥng xá. Tăng kỳ, Thập tụng: đại pḥng 大房. Căn bản: đại trú xứ 大住處. Pāli: mahallakaṃ…vihāraṃ, tinh xá cỡ lớn.
[41] Phú 覆.
[42] Các bộ giống nhau. Pāc. 21. ovāda.
[43] Vương viên 王園. Pāli: Rājakārāma, khu vườn gần Jetavana do vua Pasenadi lập, phía đông nam Xá-vệ. Pāli không nói chi tiết này.
[44] Đại Ái Đạo 大愛道. Ngũ phần: Ba-xà-ba-đề 波闍波提. Căn bản: Đại Thế Chủ 大世主.
[45] Ban-đà 般陀. Thập tụng: Ban-đặc 般特. Pāli: Cūḷa-Panthaka (Châu-lợi Bàn-đà-già).
[46] Các đề tài được gọi là tạp luận hay súc sinh luận, Pāli: tiracchāna-kathā, cf. D.i. 7, 178, 179, liệt kê 28 loại. Cf. Hán, T1, tr.896b.
[47] Pāli: 8 đức tính.
[48] Bát bất khả vi pháp 八不可違法; tức 8 kỉnh pháp.
[49] Tự ngôn và mích tội: 2 trong 2 diệt tránh.
[50] Bản Hán, hết quyển 12
[51] Các bộ đều như nhau: ba-dật-đề 22. Pāc. 22. atthaṅgata.
[52] Tăng kỳ 15: “… từ sau mặt trời lặn cho đến trước khi b́nh minh xuất hiện…”
[53] Ngũ phần 7 (tr.46c22), Tăng kỳ (tr.347b25): ba-dật-đề 24; Thập tụng (tr.82c1), Căn bản (tr.804b26): ba-dật-đề 23. Vin. iv. 57. Pāc. 24 āmisa.
[54] Ngũ phần: “v́ lợi dưỡng.” Thập tụng: “v́ tài lợi.” Pāli: āmisahetu, “v́ lợi lộc vật chất.”
[55] Ngũ phần, Thập tụng: ba-dật-đề 26; Tăng kỳ: ba-dật-đề 28; Căn bản: ba-dật-đề 24. Vin. iv. 59. Pāc. 25. cīvaradāna.
[56] Xem Ch.iv. Ni-tát-kỳ iv.
[57] Xem Ch.iv. Ni-tát-kỳ i.
[58] Ngũ phần, Thập tụng: ba-dật-đề 27. Tăng kỳ: ba-dật-đề 29. Căn bản: ba-dật-đề 25. Vin. iv. 61. Pāc. 26 cīvarasibbana.
[59] Tăng kỳ: tỳ-kheo-ni Thiện Sinh 善生比丘尼, vợ cũ của Ưu-đà-di. Thập tụng: Quật-đa tỳ-kheo-ni 掘多比丘尼, quen biết cũ với Ca-lưu-đà-di. Căn bản: Cấp-đa bí-sô-ni 笈多苾芻尼.
[60] Ngũ phần: Ưu-đà-di 優陀夷. Pāli: Udāyin, khéo may y.
[61] Y tài, bản Cao Ly: 衣財; Tống-Nguyên-Minh: 衣裁.
[62] Hán: bạch thời đáo 白時到. Đoạn sau nói sau khi ăn xong trở về. Vậy, đây chỉ sự báo hiệu đă đến giờ đi thọ thực. Có lẽ Pāli: yadā bhikkhuni-saṅgho ovādaṃ āgacchati, khi nào chúng tỳ-kheo-ni đi nghe giáo giới.
[63] Ma-ha Ba-xà-ba-đề 摩訶波闍波提; trước kia nói là Đại Ái Đạo 大愛道.
[64] Pāli: sibbeyya vā sibbāpeya vā, may và khiến (người khác) may.
[65] Ngũ phần, Tăng kỳ: ba-dật-đề 25; Thập tụng: ba-dật-đề 28; Căn bản: ba-dật-đề 29. Vin. iv. 68. Pāc. 30. rahonisajja.
[66] Nguyên văn không có. Nhưng trong phần thích từ có, nên thêm vào cho đủ. Xem phần thích từ.
[67] Nhất xứ 一處; không có trong giới văn. Ngũ phần, Thập tụng, Căn bản: độc 獨, một ḿnh.Pāli: eko ekāya, một người với một người.
[68] B́nh chướng xứ 屏障處, trong giới văn: b́nh xứ 屏處.
[69] Chướng 障; từ được giải không có trong giới văn.
[70] Ngũ phần (tr.48a17), ba-dật-đề 28; Tăng kỳ (tr.348b1), ba-dật-đề 26; Thập tụng (tr.82c2), ba-dật-đề 24; Căn bản (tr.806a19), ba-dật-đề 26. Vin. iv. 62. Pāc. 27 saṃvidhāna.
[71] Ngũ phần 7 (tr.48b24) các tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni ở Ma-kiệt-đà.
[72] Ngũ phần: hoặc có nhiều đồng bạn. Tăng kỳ, Căn bản: không có yếu tố này. Thập tụng: hoặc đường đi cần có nhiều đồng bạn. Pāli: satthagamanīyo hoti maggo sāsaṅkasammato sappaṭibhayo, đường đi nguy hiểm, không an ninh, cần đi với một thương đội. Pāli: sattha, có nghĩa là gươm dao, cũng có nghĩa là thương đội, Anh dịch (Horner) hiểu là “cần đi với vũ khí”.
[73] Hán: hữu nghi xứ 有疑處. Cụm từ không có trong giới văn. Giới văn nói: nhược nghi 若疑. Pāli: sāsaṅkasammato.
[74] Tăng kỳ 15 (tr.348c7): đường, tính từ 1 câu-lô-xá đến 3 do-diên (do-tuần).
[75] Tăng kỳ nt, Thập tụng 11: đoạn đường không có thôn xóm, đi hết 1 câu-lô-xá là 1 ba-dật-đề.