V. Ngủ chung buồng với người chưa thọ cụ túc[1]

A. Duyên khởi

1. Sự kiện sáu tỳ kheo

Một thời, đức Thế Tôn ở tại thành Khoáng dã.[2] Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo cùng với các trưởng giả ngủ nơi nhà giảng.[3]

 

Lúc ấy, trong nhóm sáu tỳ-kheo, có một vị khi ngủ với tâm tán loạn [638b] không hề hay biết gì, lăn mình qua, hình thể loã lồ. Lúc ấy có tỳ-kheo lấy y tủ lại. Sau đó lại lăn mình nữa, lộ hình như trước. Một tỳ-kheo khác cũng lấy y tủ lại. Vị ấy giây lát lại lăn mãi, dựng hình lên. Các trưởng giả thấy liền sanh cơ hiềm, cười lớn, chế giễu.

Bấy giờ, vị tỳ-kheo ngủ kia thức dậy, trong lòng hổ thẹn, sắc mặt bạc nhợt. Các tỳ-kheo cũng hổ thẹn. Trong số ấy có vị thiểu dục tri túc, biết tàm quý, sống đầu-đà, ưa học giới, hiềm trách tỳ-kheo này rằng, “Sáu tỳ-kheo này sao lại cùng với các trưởng giả ngủ chung?”

Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền dùng nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:

“Việc các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Này nhóm sáu tỳ-kheo, sao các ông cùng với các trưởng giả ngủ chung?” Lúc bấy giờ đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rồi, bảo các tỳ-kheo:

“Sáu tỳ-kheo này là những người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.” Muốn nói giới nên nói như vầy:

Tỳ-kheo nào, cùng ngủ chung với người chưa thọ đại giới, ba-dật-đề.

2. Sự kiện la-hầu-la

Thế Tôn vì tỳ-kheo kết giới như vậy. Một thời, đức Phật ở nước Câu-thiệm-tỳ.[4] Các tỳ-kheo nói như vầy, “Đức Phật không cho phép chúng ta cùng ngủ chung với người chưa thọ đại giới. Vậy bảo La-vân[5] đi chỗ khác.”

La-vân không có nhà để ngủ, phải đến ngủ nơi nhà vệ sinh. Khi ấy đức Phật biết, liền đến nơi nhà vệ sinh, tằng hắng. La-vân cũng tằng hắng lại. Đức Thế Tôn biết mà vẫn cố hỏi:

“Ai ở trong này?”

La-vân trả lời:

“Con là La-vân.”

Lại hỏi:

“Con làm gì ở đây?”

Đáp rằng:

“Các tỳ-kheo nói, không được cùng với người chưa thọ cụ túc giới ngủ chung, nên đuổi con ra.”

Đức Thế Tôn liền nói:

“Các tỳ-kheo này sao lại ngu si, không có từ tâm, đuổi trẻ nít ra khỏi phòng? Đó là con của Phật, mà không thấu rõ được ý Ta hay sao? “

Đức Phật liền đưa ngón tay bảo La-vân nắm và dẫn vào phòng, cho ngủ đêm đó. Sáng sớm, tập hợp các tỳ-kheo, Ngài bảo rằng:

“Các ông không có từ tâm, nên mới đuổi con nít đi. Đây là con của Phật,[6] mà không thấu rõ được ý Ta hay sao?[7] Từ nay trở đi, cho phép các tỳ-kheo cùng [638c] người chưa thọ đại giới cùng ngủ hai đêm. Nếu đến đêm thứ ba khi dấu hiệu bình minh chưa xuất hiện nên thức dậy tránh đi. Nếu đến đêm thứ tư, hoặc tự mình đi, hay bảo người chưa thọ đại giới đi.[8]

Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:

Tỳ-kheo nào, ngủ chung với người chưa thọ đại giới, quá hai đêm, đến đêm thứ ba,[9] ba-dật-đề.

B. Giới tướng

Tỳ-kheo: nghĩa như trước.

Người chưa thọ (đại) giới: trừ tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ngoài ra đều là người chưa thọ đại giới.

Ngủ chung buồng: Như trước đã nói.[10]

Nếu tỳ-kheo đến trước, người chưa thọ đại giới đến sau; người chưa thọ giới đến trước, tỳ-kheo đến sau; hoặc cả hai đều đến một lượt, nếu hông chấm đất là phạm, nghiêng mình một chút phạm. Nếu nam cõi trời, nam a-tu-la, nam càn-thát-bà, nam dạ-xoa, nam ngạ quỷ và trong loài súc sanh có thể biến hóa hay không thể biến hóa, cùng ngủ quá hai đêm, ba đêm, phạm đột-kiết-la.

Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

 

Sự không phạm: nếu tỳ-kheo trước không biết ở tại ấy, mà người chưa thọ giới đến sau; hoặc người chưa thọ giới đến trước, mà tỳ-kheo đến sau; hoặc nhà có lợp mà bốn phía không ngăn che; hoặc lợp hết mà ngăn che một nữa, hoặc ngăn che hết mà lợp một phần; hoặc ngăn phân nửa lợp phân nửa; hoặc ngăn một phần, lợp một phần; hoặc chỗ đất trống không; hoặc ngồi, hoặc đi kinh hành; tất cả đều không phạm. Hoặc đầu bị choáng váng té xuống đất; hoặc bệnh nằm, hoặc bị cường lực bắt, hoặc bị trói nhốt, hoặc mạng nạn, tịnh hạnh nạn, thì không phạm.

Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.

 

 

VI. Đọc kinh chung[11]

A. Duyên khởi

Một thời, đức Phật ở thành Khoáng dã. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo cùng các trưởng giả tập hợp tại giảng đường tụng kinh Phật, cao tiếng lớn giọng như âm thanh bà-la-môn đọc sách không khác, làm loạn tâm các vị tọa thiền.

Trong số các tỳ-kheo đã nghe có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, cơ hiềm nhóm sáu tỳ-kheo, “Sao lại cùng các trưởng giả tập hợp nơi giảng đường tụng kinh như âm thanh bà-la-môn đọc sách?”

Lúc ấy, các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền dùng nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:

“Sao các ông lại cùng với trưởng giả tập hợp nơi [639a1] giảng đường tụng kinh, âm thanh như bà-la-môn không khác?”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rồi bảo các tỳ-kheo:

“Đây là những người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới nên nói như vầy:

Tỳ-kheo nào, tụng đọc chung với người chưa thọ giới, ba-dật-đề.[12]

B. Giới tướng

Tỳ-kheo: nghĩa như trước.

Người chưa thọ đại giới: như giới trước (tức ngoài tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni ra).

Cú nghĩa, phi cú nghĩa, cú vị, phi cú vị; tự nghĩa, phi tự nghĩa.[13]

- Cú nghĩa: là cùng người đọc tụng, không trước, không sau, như tụng:

Chớ làm các việc ác,

Hãy làm các điều lành;

Tự lắng sạch tâm ý,

Chư Phật dạy như vậy.

- Phi cú nghĩa: như một người nói ‘Chớ làm các việc ác’ chưa xong, người thứ hai nói lại câu ‘Chớ làm các việc ác.’

- Cú vị: hai người cùng tụng, không trước không sau, như tụng, “Mắt  vô thường. Tai vô thường. Cho đến, ý vô thường.”

- Phi cú vị: như một người chưa nói xong “Mắt vô thường...”, người thứ hai lập lại lời nói trước, “Mắt vô thường...”

- Tự nghĩa: hai người cùng tụng, không trước không sau, như tụng, ‘A-la-ba-giá-na.’

- Phi tự nghĩa: như một người chưa nói xong âm “A…”, người thứ hai lập lại âm “A…” trước đó.

- Cú pháp: lời Phật nói, Thanh văn nói, Tiên nhân nói, Chư thiên nói.

Nếu tỳ-kheo cùng người chưa thọ đại giới đồng tụng một lời nói, hai lời nói, ba lời nói, hoặc truyền trao bằng miệng, hoặc truyền trao bằng chữ viết, tất cả nếu rõ ràng, phạm ba-dật-đề; nói không rõ ràng, phạm đột-kiết-la.

Cùng thiên tử, a-tu-la tử, dạ-xoa tử, long tử, càn-thát-bà tử, súc sanh có thể biến hóa, tụng một lời nói, hai lời nói, ba lời nói, dù nói rõ ràng hay không rõ ràng đều phạm đột-kiết-la. Nếu vị thầy không dạy rằng:

“Để tôi nói xong ông sẽ nói”, thì thầy phạm đột-kiết-la.

Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la, đó gọi là phạm.

Sự không phạm: “Tôi nói xong rồi, ông mới nói.” Một người tụng rồi, một người chép. Hoặc hai người đồng nghiệp đồng tụng; hoặc nói giỡn chơi, hoặc nói vội vàng,[14] hoặc nói một mình, hoặc nói trong mộng, hoặc muốn nói việc này lại nói việc khác. Tất cả không phạm.

 Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.


 

VII. Nói thô tội[15]

A. Duyên khởi

Một thời, đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật. Bấy giờ, tại thành La-duyệt có tỳ-kheo đang hành [639b] ba-lợi-bà-sa, ma-na-đỏa, nên ngồi dưới hết. Nhóm sáu tỳ-kheo hỏi các bạch y rằng:

“Các người có biết tại sao người đó lại ngồi dưới chót không?”

Các bạch y thưa:

“Chúng con không biết.”

Nhóm sáu tỳ-kheo nói:

“Người ấy phạm tội như vậy. Do phạm tội như vậy nên chúng Tăng phạt khiến ngồi dưới hết.”

Vị tỳ-kheo có lỗi nghe, lấy làm hổ thẹn, và các tỳ-kheo khác khi nghe những lời này cũng hổ thẹn. Trong số đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, cơ hiềm nhóm sáu tỳ-kheo: “Sao lại đem việc tỳ-kheo phạm tội thô ác nói với người bạch y?”

Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền dùng nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:

“Sao các ông lại đem việc tỳ-kheo phạm tội thô ác nói với người bạch y?” Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rồi, bảo các tỳ-kheo:

“Đây là những người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

 

Muốn nói giới nên nói như vầy[16]:

Tỳ-kheo nào, có tỳ-kheo phạm tội thô ác, đem nói với người chưa thọ đại giới, ba-dật-đề.

Khi đức Thế Tôn vì các tỳ-kheo kết giới như vậy rồi, bấy giờ có tỳ-kheo hoặc không biết thô ác, hay không thô ác, sau mới biết là thô ác; hoặc có người đã tác pháp sám hối ba-dật-đề, hoặc có người lo sợ. Đức Phật dạy: “Không biết thì không phạm.”

Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:

Tỳ-kheo nào, biết tỳ-kheo phạm tội thô ác, đem nói với người chưa thọ đại giới, ba-dật-đề.

Thế Tôn vì các tỳ-kheo kết giới như vậy.

Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất được Tăng sai đến giữa triều thần của vua và trong nhân dân kể rõ tội lỗi của Điều-đạt,[17] rằng những gì Điều-đạt làm, đừng nói đó là Phật, Pháp, Tăng, nên biết đó là việc làm của Điều-đạt. Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong liền sanh lòng cẩn thận và lo sợ.[18] Các tỳ-kheo biết như vậy, nên đến bạch đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn dạy:

“Chúng Tăng sai thì không phạm.”

Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:

Tỳ-kheo nào, biết tỳ-kheo khác có tội thô ác, đem nói với người chưa thọ đại giới, trừ tăng yết-ma, ba-dật-đề.

B. Giới tướng

Tỳ-kheo: nghĩa như trước.

Chưa thọ đại giới: (ngoài tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni ra) như giới trước.

Tội thô ác: ba-la-di, [639c] tăng-già-bà-thi-sa.

Tăng: đồng nhất yết-ma, đồng nhất thuyết giới.

Nếu tỳ-kheo biết vị khác có tội thô ác, đến nói với người chưa thọ đại giới, trừ Tăng yết-ma, ba-dật-đề. Nói rõ ràng, ba-dật-đề; không rõ ràng, đột-kiết-la.

Ngoài tội thô ác ra, đem các tội khác nói với người chưa thọ đại giới, đột-kiết-la.

Tự mình phạm tội thô ác đem nói với người chưa thọ đại giới, đột-kiết-la. Trừ tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, đem tội thô ác của người khác nói với người chưa thọ đại giới, đột-kiết-la.

Tội thô ác tưởng là tội thô ác, ba-dật-đề. Tội thô ác mà nghi, đột-kiết-la. Chẳng phải tội thô ác mà tưởng là tội thô ác, đột-kiết-la. Chẳng phải tội thô ác mà nghi, đột-kiết-la.

Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Sự không phạm: nếu không biết, hoặc Tăng sai. Thô ác mà tưởng chẳng phải thô ác, hoặc bạch y trước đó đã biết tội thô ác này rồi, thì không phạm.

 Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.

 

 

VIII. Nói pháp thượng nhân[19]

A. Duyên khởi

Một thời, đức Phật ở tịnh xá Lầu các, bên bờ ao Di hầu, tại Tỳ-xá-ly. Bấy giờ tỳ-kheo nơi vườn Bà-cầu, đối với người chưa thọ đại giới mà tự nói mình chứng ngộ pháp thượng nhân. Vì nhân duyên này Phật tập hợp Tăng tỳ-kheo, biết mà cố hỏi tỳ-kheo nơi vườn Bà-cầu: “Có thật như vậy không?”

Thưa: “Kính bạch đức Thế Tôn, có thật như vậy.”

Đức Phật quở: “Các ông là người si. Nếu là thật đi nữa còn không đem nói với người, huống chi là không thật.”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách các tỳ-kheo nơi vườn Bà Cầu, rồi bảo các tỳ-kheo:

“Đây là người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới nên nói như vầy:

Tỳ-kheo nào, đối với người chưa thọ đại giới mà tự nói mình chứng ngộ pháp thượng nhân, nói rằng, ‘Tôi thấy điều này, tôi biết điều này.’ Nếu đây là sự thật, ba-dật-đề.

B. Giới tướng

Tỳ-kheo: nghĩa như trước.

Chưa thọ đại giới: như giới trước.

Pháp về con người:[20] giới của con người, uẩn của con người, xứ của con người.[21]

Pháp thượng nhân:[22] chỉ cho các pháp xuất yếu.

Tự mình nói: nói mình đắc thân niệm, thiện tư duy, có giới, có dục,[23] có không phóng dật, có tinh tấn, có định, có chánh định, có đạo, có tu hành, có trí tuệ, có kiến, có đắc, có quả. Nếu vị ấy thật sự có điều này, mà đến người chưa thọ đại giới nói rõ ràng, phạm ba-dật-đề; nói không rõ ràng đột-kiết-la.

 

Nếu dùng dấu tay, chữ viết, hoặc [640a1] ra hiệu khiến cho người biết rõ ràng, ba-dật-đề, không rõ ràng, đột-kiết-la.

Nếu hướng đến các trời, a-tu-la, dạ-xoa, càn-thát-bà, rồng, ngạ quỉ, súc sanh có thể biến hóa mà nói pháp thượng nhân, dù rõ ràng hay không rõ ràng đều phạm đột-kiết-la.

Nếu thật sự đã đạt được pháp thượng nhân, lại hướng đến người đã thọ đại giới, nhưng họ chẳng đồng ý mà nói thì phạm đột-kiết-la; hoặc tự xưng là “Tôi đã đạt được căn, lực, giác, đạo, thiền định, giải thoát, nhập tam muội”; hướng đến người mà nói thì phạm ba-dật-đề.

Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Sự không phạm: nếu là Tăng thượng mạn; hoặc tự nói là do nghiệp báo chứ không nói là do mình tu mà được; hoặc thật sự đã đạt được pháp thượng nhân, đến tỳ-kheo đồng ý mà nói; hoặc nói căn, lực, giác, đạo, giải thoát, nhập tam muội, mà không nói với người là “Tôi chứng đắc”; hoặc nói đùa giỡn, nói một mình, nói trong mộng, muốn nói việc này lại nói việc khác. Tất cả đều không phạm.

Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.

 

 

IX. Thuyết pháp quá năm lời[24]

A. Duyên khởi

Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Tôn giả Ca-lưu-đà-di, vào lúc thích hợp, khoác y, bưng bát, đến nhà một trưởng giả. Trước mặt bà mẹ chồng, ông ghé bên tai nói pháp cho con dâu. Bà mẹ chồng thấy vậy liền hỏi con dâu: “Vừa rồi tỳ-kheo nói gì vậy?”

 

Con dâu trả lời: “Tỳ-kheo nói pháp cho con nghe.”

Bà mẹ chồng nói với con dâu rằng:

“Nếu nói pháp thì phải nói lớn cho chúng ta cùng nghe. Sao lại ghé bên tai nói cho một mình cô nghe thôi?”

Con dâu nói:

“Vừa rồi tỳ-kheo nói như chuyện anh em không có gì khác. Đâu có điều gì là lỗi!”

Lúc ấy, tỳ-kheo khất thực nghe được, liền quở trách Ca-lưu-đà-di, “Sao Tôn giả lại ghé tai nói pháp cho con dâu trước mặt bà mẹ chồng?”

Khi ấy, tỳ-kheo khất thực xong trở về trong Tăng-già-lam, đem nhân duyên này nói đầy đủ cho các tỳ-kheo nghe. Trong số đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, cơ hiềm Ca-lưu-đà-di: “Sao lại ghé tai nói pháp cho con dâu trước mặt bà mẹ chồng?”

Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền dùng nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, biết mà ngài cố ý hỏi Ca-lưu-đà-di:

“Thật sự ông có ghé tai nói pháp cho con dâu trước mặt bà mẹ chồng?”

Thưa rằng: “Có thật như vậy.”

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn [640b] dùng vô số phương tiện quở trách Ca-lưu-đà-di:

“Việc ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Sao lại ghé tai nói pháp cho con dâu trước mặt bà mẹ chồng?”

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Ca-lưu-đà-di rồi, bảo các tỳ-kheo:

“Ca-lưu-đà-di này là người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới nên nói như vầy:

Tỳ-kheo nào, nói pháp cho người nữ, ba-dật-đề.

Thế Tôn vì tỳ-kheo kết giới như vậy.

Bấy giờ, có người nữ thỉnh cầu các vị tỳ-kheo rằng:

“Cúi xin chư tôn vì chúng con nói pháp.”

Lúc ấy các tỳ-kheo đều có tâm dè dặt về việc Thế Tôn chế giới, tỳ-kheo không được nói pháp cho người nữ.

Các tỳ-kheo đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn bảo:

“Từ nay trở đi, cho phép các tỳ-kheo nói pháp cho người nữ năm, sáu lời.”

Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:

Tỳ-kheo nào, nói pháp cho người nữ nghe quá năm, sáu lời, ba-dật-đề.

Thế Tôn vì tỳ-kheo kết giới như vậy. Tỳ-kheo lại có tâm dè dặt, vì không có mặt người nam có hiểu biết nên thôi, không nói pháp cho người nữ. Đức Phật bảo các tỳ-kheo:

“Từ nay trở đi, nếu có mặt người nam có trí, cho phép nói pháp cho người nữ quá năm, sáu lời.”

Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:

Tỳ-kheo nào, nói pháp cho người nữ quá năm, sáu lời, trừ có mặt người nam có hiểu biết, ba-dật-đề.

Khi ấy có các người nữ thỉnh các tỳ-kheo rằng:

“Bạch Đại đức, xin ngài trao năm giới cho con.”

Các tỳ-kheo có tâm dè dặt vì không có mặt người nam có hiểu biết, nên không trao năm giới cho người nữ. Đức Phật dạy:

 

“Từ nay trở đi cho phép không có mặt người nam có hiểu biết vẫn được trao năm giới cho người nữ.”

Bấy giờ, có người nữ thỉnh các tỳ-kheo:

“Đại đức vì con nói pháp năm giới.”

Bấy giờ, không có mặt người nam có hiểu biết, tỳ-kheo có tâm dè dặt, không nói pháp năm giới cho người nữ. Đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Từ nay trở đi, cho phép các tỳ-kheo, không có mặt người nam có hiểu biết, được nói pháp năm giới cho người nữ.”

Khi ấy, các người nữ muốn thọ pháp bát quan trai, các tỳ-kheo có tâm dè dặt, vì không có mặt người nam có hiểu biết, nên không dám cho thọ thực pháp. Đức Phật bảo các tỳ-kheo:

“Từ nay trở đi cho phép các tỳ-kheo không có mặt người nam có hiểu biết, [640c] được trao pháp bát quan trai cho người nữ.”

Khi ấy, các người nữ thỉnh các tỳ-kheo:

“Đại đức vì con nói pháp bát quan trai.”

Khi ấy không có mặt người nam có hiểu biết, tỳ-kheo có tâm dè dặt, không nói pháp bát quan trai. Đức Phật bảo các tỳ-kheo:

“Từ nay trở đi cho phép các tỳ-kheo, không có mặt người nam có hiểu biết, được nói pháp bát quan trai cho người nữ.”

Lúc ấy các người nữ bạch các tỳ-kheo: 

“Đại đức, chúng con nghe pháp bát thánh đạo.”

Khi ấy không có mặt người nam có hiểu biết, tỳ-kheo có tâm dè dặt, không nói pháp bát thánh đạo. Đức Phật bảo các tỳ-kheo:

“Từ nay trở đi cho phép các tỳ-kheo, không có mặt người nam có hiểu biết, được nói pháp bát thánh đạo cho người nữ.”

Khi ấy có các người nữ bạch với các tỳ-kheo:

“Đại đức, xin ngài vì con nói mười pháp bất thiện.”

Khi ấy không có mặt người nam có hiểu biết, tỳ-kheo có tâm dè dặt, không nói pháp mười bất thiện. Đức Phật bảo các tỳ-kheo:

“Từ nay trở đi cho phép các tỳ-kheo, không có mặt người nam có hiểu biết, được nói pháp mười bất thiện cho người nữ.”

Khi ấy có các người nữ bạch các tỳ-kheo: 

“Đại đức, vì chúng con nói mười pháp thiện.”

Khi ấy không có mặt người nam có hiểu biết, tỳ-kheo có tâm dè dặt, không nói mười pháp thiện. Đức Phật bảo các tỳ-kheo:

“Từ nay trở đi cho phép các tỳ-kheo, không có mặt người nam có hiểu biết, được nói mười pháp thiện cho người nữ.”

Khi ấy có những người nữ đến vấn nghĩa các tỳ-kheo. Tỳ-kheo có tâm dè dặt, không nói pháp mười bất thiện. Đức Phật bảo các tỳ-kheo:

“Từ nay trở đi cho phép các tỳ-kheo, không có mặt người nam có hiểu biết, các tỳ-kheo được trả lời sự vấn nghĩa của người nữ. Nếu họ không hiểu nên vì họ nói rộng ra.”

Từ nay trở đi, muốn nói giới nên nói như vầy:

Tỳ-kheo nào, nói pháp cho người nữ quá năm, sáu lời, trừ có mặt người nam có hiểu biết, ba-dật-đề.

B. Giới tướng

Tỳ-kheo: nghĩa như trước.

Người nữ: nghĩa cũng như trước.

Năm lời: sắc vô ngã; thọ, tưởng, hành, thức vô ngã.

Sáu lời: mắt vô thường; tai, mũi, lưỡi, thân, ý vô thường.[25]

Người nam có hiểu biết: hiểu rõ việc thô ác hay không thô ác.

Tỳ-kheo nói pháp cho người nữ quá năm sáu lời, trừ có mặt người nam có trí, nói rõ ràng phạm ba-dật-đề, không rõ ràng phạm đột-kiết-la.

 

Đối với Thiên nữ, a-tu-la nữ, long nữ, dạ-xoa nữ, càn-thất-bà nữ, ngạ quỷ nữ, súc sanh cái có thể biến hóa, vì chúng nói pháp quá năm sáu lời, rõ ràng hay không rõ ràng đều phạm đột-kiết-la.

Trong loài súc [641a1] sanh, loài không thể biến hóa, vì chúng nó nói quá năm sáu lời đều phạm đột-kiết-la.

Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Thức xoa ma na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Sự không phạm: chỉ nói năm sáu lời, nếu nói quá mà có mặt người nam có hiểu biết. Không có mặt người nam có hiểu biết mà trao năm giới cho ưu-bà-di, nói pháp năm giới, trao pháp bát quan trai, nói pháp bát quan trai, nói bát chánh đạo, nói pháp thập bất thiện, và người nữ vấn nghĩa, không có mặt người nam có hiểu biết vẫn được trả lời. Nếu họ không hiểu được, vì họ nói rộng ra. Hoặc nói đùa giỡn, nói vội vàng, nói một mình, nói trong mộng, muốn nói việc này lại nói việc khác. Tất cả đều không phạm.

Người không phạm: Phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.

 

 

X. Đào phá đất[26]

A. Duyên khởi

Một thời, đức Phật ở thành Khoáng dã. Bấy giờ nhóm sáu tỳ-kheo vì đức Phật sửa chữa giảng đường, đào đất xung quanh giảng đường.[27] Các trưởng giả thấy chê bai: “Sa-môn Thích tử không biết xấu hổ, đoạn mạng sống của kẻ khác; bên ngoài tự xưng là ta biết chánh pháp, cứ xem việc hôm nay, có gì là chánh pháp? Tự mình đào đất, đoạn mạng sống của các loài khác!”

 

Các tỳ-kheo nghe, trong số đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, khiển trách nhóm sáu tỳ-kheo: “Sao vì đức Phật sửa chữa giảng đường mà lại tự tay đào đất để các trưởng giả cơ hiềm?”

Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo: “Việc các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Sao lại tự mình đào đất, khiến cho các trưởng giả cơ hiềm?”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo, rồi bảo các tỳ-kheo rằng: “Đây là người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới nên nói như vầy:

Tỳ-kheo nào, tự tay đào đất, ba-dật-đề.

Thế Tôn vì các tỳ-kheo kết giới như vậy.

Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo sửa chữa giảng đường, chỉ sai người đào đất, bảo rằng: “Đào chỗ này, bỏ chỗ này.” Các trưởng giả thấy rồi cơ hiềm: “Sao sa-môn Thích tử không biết hổ thẹn, sai bảo người [641b] đào đất, đoạn mạng sống của loài khác, không có từ tâm. Bên ngoài tự xưng là ta biết chánh pháp, cứ xem việc hôm nay, có gì là chánh pháp? “

Lúc bấy giờ, các tỳ-kheo nghe, trong số đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, khiển trách nhóm sáu tỳ-kheo: “Tại sao sửa chữa giảng đường của Phật, lại chỉ bảo sai người đào đất, bảo rằng: ‘Đào chỗ này, bỏ chỗ này;’ khiến cho các trưởng giả cơ hiềm?”

Quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rồi, vị thiểu dục đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo: “Việc các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Sao sửa chữa giảng đường lại chỉ sai người đào đất, bảo rằng: ‘Đào chỗ này, bỏ chỗ này;’ khiến cho các trưởng giả cơ hiềm?”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo, rồi bảo các tỳ-kheo rằng:

“Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới”:

Tỳ-kheo nào, tự tay đào đất, hoặc sai người đào,[28] ba-dật-đề.

B. Giới tướng

Tỳ-kheo: nghĩa như trước.

Đất: đất đã đào hay đất chưa đào.[29] Nếu đất đào rồi trải qua bốn tháng mưa thấm trở lại như cũ, hoặc lấy bừa bừa, hoặc dùng xuổng đào, hoặc dùng vồ đập, hoặc dùng liềm, dao cắt; cho đến dùng móng tay bấm làm cho đất bị tổn thương, tất cả đều phạm ba-dật-đề. Lấy nọc đóng vào đất, ba-dật-đề. Đốt lửa trên đất, ba-dật-đề. Đất hay có ý tưởng là đất, ba-dật-đề. Nếu không dạy rằng: “Xem cái này, biết cái này!”[30] phạm đột-kiết-la.

 

Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Thức xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Sự không phạm: nếu có nói, “xem cái này, biết cái này!” Hoặc kéo cây, kéo tre, hoặc rào ngã đỡ lên; hoặc lật đá để lấy phân; hoặc bờ đất bị sập; hoặc lấy đất ổ chuột; hoặc dọn đất nơi chỗ đi kinh hành; hoặc dọn đất trong nhà; hoặc dọn chỗ tới lui kinh hành; hoặc quét đất; hoặc cây tích trượng chống xuống đất; hoặc không cố ý đào. Tất cả đều không phạm.

Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách. [31]

 

 

XI. Phá hoại thực vật[32]

A. Duyên khởi

[641c7]Một thời, đức Phật ở thành Khoáng dã.[33] Thế Tôn vì nhân duyên trên tập hợp các Tăng tỳ-kheo, bảo rằng:

“Có một tỳ-kheo ở nơi Khoáng dã, khi sửa chữa phòng ốc, cố ý tự tay mình chặt cây phải không?”

Thưa: “Bạch đức Thế Tôn, thật vậy, có chặt.”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách:

“Việc ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Tại sao sửa chữa phòng ốc lại tự tay chặt cây? “

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách rồi bảo các tỳ-kheo:

“Những kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta vì các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới nên nói như vầy:

Tỳ-kheo nào, phá hoại mầm giống thực vật,[34] ba-dật-đề.

B. Giới tướng

Tỳ-kheo: nghĩa như trước.

Thực vật (quỷ): không phải loài người.

Mầm giống (thôn):[35] chỉ chung cho tất cả cỏ cây. Chặt đốn cho nó ngã xuống nên gọi là phá hoại.

Mầm giống (thôn), có năm loại: củ, nhánh, lóng, phú la, hạt.[36]

- Củ: như loại ha-lê-đà, củ gừng, ưu-thi-la, mậu-tha-trí-tra, lư-kiện-đà-lâu và các loại củ khác có thể sanh ra mầm cây.[37]

 

- Nhánh: như loại liễu, xá-ma-la, bà-hê-tha[38] và các loại nhánh khác có thể sanh ra cây con.

- Lóng: như loại hoa tô-man-na, tô-la-bà, bồ-hê-na, la-lặc-liệu[39] và các loài từ lóng khác có khả năng sanh ra cây.

- Phú la:[40] như loại cây mía, tre, lau, củ ngó[41] và các loại phú-la khác có thể sanh ra cây.

- Hạt: như các loại hột sinh ra cây.

Các loài đang có sự sống hay tưởng đang có sự sống, tự mình cắt đứt sự sống, hoặc sai người khác chặt đứt sự sống, hoặc tự tay sao, hoặc sai người sao, hoặc tự tay nấu, hoặc sai người nấu, ba-dật-đề.

Nếu nghi đang có sự sống, tự tay chặt đứt, sai người chặt đứt sự sống; tự mình sao, sai người sao, tự tay nấu, sai người nấu, đột-kiết-la.

Đang có sự sống tưởng là chẳng có sự sống, tự tay chặt đứt, sai người chặt đứt sự sống, cho đến nấu, đột-kiết-la.

Chẳng có sự sống tưởng là có sự sống, tự tay chặt đứt, sai người chặt đứt sự sống, cho đến nấu, cũng phạm đột-kiết-la.

Chẳng có sự sống mà nghi, tự tay chặt đứt, [642a1] sai người chặt đứt sự sống, cho đến nấu, cũng phạm đột-kiết-la.

Cỏ cây bảy thứ sắc: xanh, vàng, đỏ, trắng, đen, xanh nhạt, tía. Cây cỏ đang tươi sống khởi lên ý nghĩ cây cỏ tươi sống, tự tay chặt đứt, sai người chặt đứt, cho đến nấu, ba-dật-đề.

Nghi là cây cỏ đang tươi sống, tự tay chặt, sai người chặt, cho đến nấu, đột-kiết-la. Cây cỏ đang tươi sống tưởng chẳng phải cây cỏ tươi sống, tự tay chặt, sai người chặt, cho đến nấu, đột-kiết-la.

Chẳng phải cây cỏ đang tươi sống tưởng là cây cỏ tươi sống, tự mình chặt, sai người chặt, cho đến nấu, đột-kiết-la. Nghi là chẳng phải cây cỏ đang tươi sống, tự tay chặt, sai người chặt, cho đến nấu, đột-kiết-la.

Đóng nọc trên cây, ba-dật-đề. Dùng lửa đốt trên cây cỏ đang tươi sống, ba-dật-đề. Chặt cây cỏ đa phần đang tươi sống, ba-dật-đề. Chặt cây cỏ phân nửa khô, phân nửa đang tươi sống, đột-kiết-la. Nếu không nói: ‘Xem cái này, biết cái này!’ đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Sự không phạm: có nói, ‘Xem đây, biết đây!’ Nếu chặt cây cỏ khô héo vì dọn rào dậu, dẹp đá gạch nên kéo cành tre, cày trên cỏ cây tươi sống; hoặc vì lấy phân, hoặc cỏ bò lấp đường dùng gậy vẹt cho trống để đi; hoặc dùng gạch đá làm trụ mà thương tổn đến cây cỏ; hoặc dọn đất đi kinh hành; hoặc quét chỗ thường đi tới đi lui; hoặc nhầm cỏ cây sống mà chặt, hoặc dùng cây gậy chống xuống đất mà cây cỏ bị đứt tất cả đều không phạm.

Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.

 

 

XII. Nói quanh [42]

A. Duyên khởi

Một thời, đức Thế Tôn ở vườn Cù-sư-la, tại Câu-thiểm-tỳ. Bấy giờ, Tôn giả tỳ-kheo Xiển-đà[43] phạm tội. Các tỳ-kheo hỏi:

 

“Thầy có tự biết là mình phạm tội không?”

Xiển-đà đem những việc khác để trả lời với các tỳ-kheo: “Thầy nói với ai vậy? Nói chuyện gì? Luận bàn về lý lẽ gì? Nói với tôi hay nói với ai? Ai phạm tội vậy? Tội do đâu sanh? Tôi không thấy tội. Sao nói tôi có tội?”

Các tỳ-kheo nghe như vậy, trong số đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, cơ hiềm tỳ-kheo Xiển-đà: “Tại sao thầy tự biết phạm tội, mà khi các tỳ-kheo hỏi, lại đem các việc khác để trả lời với các tỳ-kheo, rằng: ‘Thầy nói với ai vậy? Nói chuyện gì? Luận bàn về lý lẽ gì? Nói với tôi hay nói với ai? Ai phạm tội vậy? Tội do đâu sanh? Tôi không thấy tội. [642b] Sao nói tôi có tội?’”

Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền dùng nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo Xiển-đà:

“Việc ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Này Xiển-đà tỳ-kheo, tại sao ông phạm tội, khi các tỳ-kheo hỏi: ‘Thầy tự biết có tội không?’ Ông lại đem những việc khác để trả lời với các tỳ-kheo rằng: ‘Thầy nói với ai vậy? Nói chuyện gì? Luận bàn về lý lẽ gì? Nói với tôi hay nói với ai? Ai phạm tội vậy? Tội do đâu sanh? Tôi không thấy tội, sao nói tôi có tội?’”

Bấy giờ, đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Xiển-đà tỳ-kheo rồi, bảo các tỳ-kheo:

“Từ nay trở đi cho phép Tăng tác bạch rồi nên gọi đương sự làm pháp dư ngữ.[44] Nên tác bạch như vầy:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo Xiển-đà này phạm tội. Các tỳ-kheo hỏi, ‘Thầy có tự biết là mình phạm tội không?’ Xiển-đà đem những việc khác để trả lời với các tỳ-kheo, ‘Thầy nói với ai vậy? Nói chuyện gì? Luận bàn về lý lẽ gì? Nói với tôi hay nói với ai? Ai phạm tội vậy? Tội do đâu sanh? Tôi không thấy tội, sao nói tôi có tội?’ Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận sẽ gọi Xiển-đà tỳ-kheo đến làm pháp dư ngữ. Đây là lời tác bạch.”[45]

“Tác bạch như vậy gọi là pháp dư ngữ.”

“Từ nay trở đi Ta vì các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới nên nói như vầy:

Tỳ-kheo nào, nói dư ngữ, ba-dật-đề.

Thế Tôn vì tỳ-kheo kết giới như vậy.

Bấy giờ Tôn giả tỳ-kheo Xiển-đà bị chúng Tăng cấm chế không được nói dư ngữ, sau đó lại gây phiền nhiễu chúng Tăng bằng cách kêu đến thì không đến, không kêu lại đến;[46] nên đứng lên thì không đứng lên, không nên đứng lên lại đứng lên; nên nói thì không nói, không nên nói lại nói.

Các tỳ-kheo nghe vậy, trong số đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quý, cơ hiềm Xiển-đà tỳ-kheo: “Tại sao sau khi chúng Tăng tác pháp dư ngữ rồi lại cố ý gây phiền nhiễu chúng Tăng bằng cách kêu đến thì không đến, không kêu lại đến; nên đứng lên thì không đứng lên, không nên đứng lên lại đứng lên; nên nói thì không nói, không nên nói lại nói?”

Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn.

 

Đức Thế Tôn liền dùng nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách [642c] tỳ-kheo Xiển Đà:

“Việc ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Này Xiển-đà tỳ-kheo, tại sao sau khi chúng Tăng chế cấm tác pháp dư ngữ, rồi lại cố ý gây phiền nhiễu chúng Tăng bằng cách kêu đến thì không đến, không kêu lại đến; nên đứng lên thì không đứng lên, không nên đứng lên lại đứng lên; nên nói thì không nói, không nên nói lại nói?”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Xiển-đà tỳ-kheo rồi, bảo các tỳ-kheo:

“Từ nay trở đi, cho phép Tăng tác bạch rồi, gọi tỳ-kheo Xiển-đà đến tác pháp xúc não[47] như sau:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo Xiển-đà, Tăng gọi đến tác pháp dư ngữ rồi lại xúc não chúng Tăng bằng cách kêu đến không đến, không kêu lại đến; nên đứng lên không đứng lên, không nên đứng lên lại đứng lên; nên nói không nói, không nên nói lại nói.[48] Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, chế cấm tỳ-kheo Xiển-đà gọi là tác pháp xúc não. Đây là lời tác bạch.”

“Bạch như vậy rồi, gọi là tác pháp xúc não.”

Từ nay trở đi nên nói giới như vầy:

Tỳ-kheo nào, nói dư ngữ và gây phiền nhiễu người khác, ba-dật-đề.

B. Giới tướng

Tỳ-kheo: nghĩa như trước.

Dư ngữ:[49] Tăng chưa tác bạch mà nói lãng, như nói, “Thầy nói với ai? Nói chuyện gì? Bàn luận chuyện gì? Nói với tôi hay nói với ai? Tôi không thấy tội này.” Nói như vậy đều phạm đột-kiết-la. Nếu tác bạch rồi mà nói như vậy, tất cả đều phạm ba-dật-đề.

Gây phiền nhiễu:[50] Nếu trước khi tác bạch, gọi đến thì không đến, không gọi mà đến; nên đứng lên thì không đứng lên, không nên đứng lên lại đứng lên; nên nói thì không nói, không nên nói lại nói; tất cả đều phạm đột-kiết-la. Nếu bạch rồi mà nói như vậy, tất cả đều phạm ba-dật-đề. Nếu Thượng tọa kêu đến mà không đến, phạm đột-kiết-la.[51]

Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Sự không phạm: nghe lại lời nói trước không hiểu vì có sự mập mờ, cho nên hỏi lại: “Thầy nói với ai?.. cho đến, Tôi không thấy tội này.”

Nếu vì sự tác yết-ma phi pháp, yết-ma phi tỳ-ni; hoặc Tăng, hoặc chùa tháp, hoặc Hòa thượng, đồng Hòa thượng, hoặc A-xà-lê, đồng A-xà-lê, hoặc tri thức quen biết cũ, [643a1] muốn làm yết-ma không lợi ích, không đem lại sự hòa hợp, khi ấy gọi đến mà không đến, thì không phạm.

Nếu vì sự tác yết-ma phi pháp, yết-ma phi tỳ-ni; hoặc Tăng, hoặc chùa tháp, hoặc Hòa thượng, đồng Hòa thượng, hoặc A-xà-lê, đồng A-xà-lê, hoặc tri thức quen biết cũ, muốn làm yết-ma không lợi ích, khi ấy muốn biết lời dạy, tuy bảo đừng đến, mình lại đến, thì không phạm.

Hoặc nhất tọa thực, hoặc không tác pháp dư thực mà ăn, hoặc bệnh, tuy được bảo đứng lên mà không đứng lên, vẫn không phạm.

Hoặc nhà bị sập đổ, hoặc bị cháy, hoặc rắn độc vào nhà, hoặc gặp giặc, hoặc hổ lang, sư tử, hoặc bị cường lực bắt dẫn đi, hoặc bị người khác trói, hoặc mạng nạn, hoặc phạm hạnh nạn; tuy bảo đừng đứng lên mà đứng lên, thì không phạm.

Hoặc được người hỏi với ác tâm, hoặc hỏi pháp thượng nhân, bảo, “Thầy hãy nói điều này”; khi ấy không nói vẫn không phạm.

Hoặc khi tác yết-ma phi pháp, yết-ma phi tỳ-ni; hoặc Tăng, hoặc chùa tháp, hoặc Hòa thượng, đồng Hòa thượng, hoặc A-xà-lê, đồng A-xà-lê, hoặc tri thức quen biết cũ, muốn làm yết-ma không lợi ích; khi ấy bảo đừng nói mà nói, không phạm.

Hoặc nói nhỏ, hoặc nói vội vàng, hoặc nói trong mộng, hoặc nói một mình, hoặc muốn nói việc này nhầm nói việc kia thì không phạm.

Người không phạm: Phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống não bức bách.



[1] Ngũ phần 6, (tr.40a7), ba-dật-đề 7; Tăng kỳ 17, (tr.365b03), ba-dật-đề 42; Thập tụng 15, (tr.105b09), ba-dật-đề 54; Căn bản 39, (tr.838c07), ba-dật-đề 54. Pāli: Pāc. 5. sahaseyya, Vin. iv.15.

[2] Khoáng Dã thành 曠野城. Ngũ phần nt., A-trà-tì ấp 阿荼脾邑. Tăng kỳ nt., Khoáng Dã tinh xá 曠野精舍. Thập tụng nt., A-la-tì quốc 阿羅毘國. Căn bản nt., Phật tại Thất-la-phiệt thành 室羅伐城 (Xá-vệ). Pāli, nt., āḷaviyaṃ viharati aggāḷave cetiye, trú tại Āḷavi, trong ngôi miếu lớn của Āḷavi.

[3] Pāli, navakā bhikkhū … upāsakehi saddhiṃ…, các tân tỳ-kheo… cùng với các cư sĩ.

[4] Câu-thiệm-tỳ quốc 拘睒毘國. Ngũ phần nt., tại nước Câu-xá-di, vườn Cù-sư-la 拘舍彌國瞿師羅園. Tăng kỳ nt., nhân duyên tại Ca-duy-la-vệ. Thập tụng nt., Phật tại Xá-vệ. Căn bản nt., Phật tại Kiều-thiểm-tì, trong vườn Diệu âm 憍閃毘妙音園. Pāli: Kosambī.

[5] La-vân: La-hầu-la (Rāhula).

[6] Ý nói, Sa-di đã xuất gia, không còn nhận cha mẹ ngoài đời, mà là con của Phật. Không chỉ riêng La-hầu-la là con Phật.

[7] Ngũ phần nt. (tr.40b17): “Sao bầy cáo lại đuổi sư tử?” Thập tụng nt. (tr.105c11): “Sa-di này không cha mẹ. Nếu các ngươi không thương tưởng che chở, làm sao sống nổi?” Căn bản nt. (tr.839c02): “Các cầu tịch (tức sa-di) không có cha mẹ. Duy chỉ các ngươi, những người đồng phạm hạnh, phải thương yêu che chở .”

[8] Tăng kỳ nt. (tr.365c11): “được phép ngủ chung buồng ba đêm; bốn đêm thì nên biệt trú.”

[9] Ngũ phần, Thập tụng, Căn bản, “quá hai đêm, ba-dật-đề.” Tăng kỳ: “quá ba đêm, ba-dật-đề.” Pāli: uttaridirattatirattaṃ, “quá hai hoặc ba đêm”; được hiểu là “từ hai đến ba đêm”. Giải thích ý nghĩa để chấp hành, Pāli, Vin.iv. 17, nói: “Nếu đã trải qua hai đêm, thì đến đêm thứ ba nên ra đi trước khi có dấu hiệu bình minh.”

[10] Đồng thất túc 同室宿, ba-dật-đề 4 trước. Pāli: sahaseyyaṃ kappeyya.

[11] Các bộ, ba-dật-đề 6. Pāli, Pāc. 4 Padasodhammasikhā.

[12] Thập tụng 6, ‹Đem cú pháp dạy người chưa thọ cụ túc…›

[13] Ngũ phần 6, cú pháp: cú (Pāli: pada), vị (Pāli: vyañjana) và tPāli: akkhara) tức câu, âm tiết (vì tiếng Phạn đa âm tiết) và từ ngữ. Thập tụng 6, cú pháp: túc cú (mệnh đề trọn), bất túc cú (mệnh đề không trọn); túc tự (từ ngữ trọn, đa âm tiết), bất túc tự (từ ngữ không trọn), túc vị (âm tiết trọn), bất túc vị (âm tiết không trọn). Pāli: anupda, tùy cú, người trước đọc dứt câu người sau lặp lại. anvakkha, tùy tự, người trước đọc dứt một từ, người sau lặp lại. anubyañjana, tùy vị, người trước vừa dứt một âm tiết, người sau lặp lại.

[14] Xem cht. Ch ba-dật-đề 2.

[15] Ngũ phần 6, ba-dật-đề 9; Tăng kỳ 14, ba-dật-đề 8; Thập tụng 10, ba-dật-đề 8. Căn bản 27, ba-dật-đề 7. Pāli, Pāc. 9 Duṭṭhullārocana.

[16] Ngũ phầnTứ phần, giới được kết ba lần. Thập tụng, kết một lần. Căn bản, kết hai lần. Pāli, một lần.

[17] Xem Ch.ii, Tăng-già-bà-thi-sa 10.

[18] Hán: uý thận 畏慎.

[19] Tăng kỳ 13, Thập tụng 10, ba-dật-đề 7; Ngũ phần 6, Căn bản 27, ba-dật-đề 8. Pāli, Pāc.8 Bhūta-rocanasikhā. Tham chiếu Ch.i ba-la-di iv.

[20] Hán: nhân pháp, trong quá nhân pháp 過人法 (thượng nhân pháp) Pl. uttarimanussa-dhamma). Xem giải thích, Ch.i ba-la-di 4

[21] Giới 人界, ấm 人陰, nhập 人入, hay giới (Pāli. dhātu), uẩn (khandha), xứ (āyatana).

[22] Nguyên Hán: quá nhân pháp 過人法.

[23] Dục, chỉ dục trong bốn thần túc.

[24] Ngũ phần 6, ba-dật-đề 4; Tăng kỳ 13, Thập tụng, Căn bản, ba-dật-đề 5; Pāli, Pāc. 7 Dhammadesanasikhā.

[25] Tăng kỳ: ngũ lục ngữ 五六語, có 2 loại: trường cú và đoản cú. Trường cú, như “chư ác mạc tác.” Đoản cú như “Mắt là vô thường.”

[26] Pāli, Pāc. 10 Pathavīkhaṇana. Ngũ phần 8, ba-dật-đề 59; Tăng kỳ 19, ba-dật-đề 73; Thập tụng 16, Căn bản 41, ba-dật-đề 73.

[27] Ngũ phần, nt.: Phật từ Câu-tát-la đến ấp A-trà-tỳ. Các tỳ-kheo sửa chữa nhà cửa để đón Phật. Tăng kỳ, nt.: doanh sự tỳ-kheo.

[28] Ngũ phần 8 (tr.60c22): “sai người đào, hoặc bảo đào chỗ này.” Tăng kỳ 19 (tr.384c): “Sai người đào, hoặc chỉ điểm chỗ đào.” Thập tụng: “Chỉ dạy người khác đào, bảo, ‹Ngươi hãy đào chỗ này.›”

[29] Tăng kỳ nt., hai loại đất: sanh , chỉ đất tự nhiên; tác : đất nền để canh tác. Thập tụng nt., hai loại đất: sinh địa 生地, đất sinh sản vào tháng 8 ở những nước có mưa nhiều; ở nước mưa ít, tháng 4 đất sinh sản. Bất sinh địa 不生地, ngoài sinh địa ra. Pāli, Vin. iv. 33: jātā ca pathavī ajātā ca pathavī.

[30] Ngũ phần nt.: “Hãy biết cái này, hãy xem cái này. Tôi cần cái này. Cho tôi cái này.” Cf. Pāli: imaṃ jāna, imaṃ dehi, imaṃ āhara, iminā attha, imaṃ kappaṃ karohi, “Hãy nhận rõ cái này; hãy cho đi cái này; hãy mang đi cái này; tôi cần cái này; hãy làm cho cái này hợp thức.”

[31] Bản Hán, hết quyển 11.

[32]Các bộ: ba-dật-đề 11. Ngũ phần tr. 41c5; Tăng kỳ tr. 339a6; Thập tụng tr. 74c22; Căn bản tr. 775c11. Vin. iv. 34 Pāc. 11. bhūtagāma.

[33] Khoáng dã 曠野. Ngũ phần, A-trà-tỳ ấp 阿荼脾邑. Tăng kỳ: Khoáng dã tinh xá 曠野精舍. Thập tụng: A-la-tỳ 阿羅毘. Căn bản: Phật tại Thất-la-phiệt. Nhân duyên: Mạc-ha-la bí sô 莫訶羅苾芻.

[34] Nguyên Hán: quỷ thần thôn 鬼神村; do dịch nghĩa đen. Pāli, bhūtagāma, chủng loại (hạt giống) có mầm sống; Vin.A., (iv.761) giải thích: jāyanti vaḍḍhanti jātā vaḍḍhitā cāti attho, chúng sinh sản, tăng trưởng, và những cái đã sinh sản, đã tăng trưởng. Ngũ phần 6, sát sinh thảo mộc 殺生草木. Tăng kỳ 14: hoại chủng tử phá quỷ thôn 壞種子破鬼村; giải thích: quỷ thôn, chỉ cây cối, cỏ các loại.  Thập tụng: chước bạt quỷ thôn chủng tử 斫拔鬼村種子; giải thích: quỷ thôn, các loại cỏ, cây, chỗ y trú của chúng sanh như thần cây, thần suối v.v. Căn bản 27: hoại chủng tử hữu tình thôn 壞種子有情村. Pāli: bhūtagāmapātavyatāya.

[35] Pāli: gāma, thôn ấp, tụ lạc.

[36] Hán, năm loại giống: căn chủng, chi chủng, tiết sinh chủng, phú la chủng, tử tử chủng. 根種枝種節生種覆羅種子子種. Ngũ phần nt, bốn loại: từ rễ, từ cọng, lóng, quả 根種子莖種子節種子實種子. Tăng kỳ nt, năm loại: từ rễ, từ cọng, ruột, lóng, quả 根種莖種心種節種子種. Thập tụng 12, năm loại: từ rễ, từ cọng, lóng, tự rụng, từ quả 根種子莖種子節種子自落種子實種子. Pāli: mūlabījaṃ, mầm từ rễ, khandhabījaṃ, mầm từ thân, phaḷubījaṃ, mầm từ đốt, aggabījaṃ, mầm từ đọt, bījabījaṃ, mầm từ hạt giống.

[37] Ha-lê-đà 呵梨陀 (Pāli: haliddi: củ nghệ), ưu-thi-la 憂尸羅 (Pāli: usīra: hương căn), mậu (ha?)-tha-trí-tra 貿(?)他致吒 (Skt. ativiṣā, Pāli: ativisā, mạch đông?), lư-kiện-đà-lâu 盧揵陀樓 (?).

[38] liễu , xá-ma-la 舍摩羅, bà-la-hê-tha 婆羅醯他(?). Thập tụng nt, giống từ cọng: thạch lựu 石榴, bồ-đào 葡萄 (nho), dương liễu 楊柳, sa-lặc 沙勒. Pāli: assattho nigrodho pilako udumbaro kacchako kapithano.

[39] Tô-man-na 蘇蔓那 (Skt. sumanas; Pāli: sumanā, tố hương, nhục quan hoa, tương tợ hoa mồng gà), tô-la-bà 蘇羅婆 (Phiên phạn ng, T54n2130, tr.1049a16: dịch là hảo đắc 好得, Skt. sulabha?), bồ-hê-na 蒱醯那 (?), la-lặc-liệu 羅勒蓼 (?).

[40] Phú la 覆羅. Pāli: phaḷubījaṃ: ucchu, veḷu, nāḷo, mía, tre và lau.

[41] Cam giá 甘蔗 (mía), trúc vĩ 竹葦 (tre và lau) ngẫu căn 藕根 (ngó sen).

[42] Thập tụng 12, Căn bản 28: ba-dật-đề 13. Các bộ khác: ba-dật-đề 12. Pāli, Pāc. 12 aññavādaka.

[43] Xiển-đà tỳ-kheo 闡陀比丘. Xem ch.ii, Tăng-già-bà-thi-sa xiii. Ngũ phần: Nhóm sáu tỳ-kheo phạm tội.

[44] Tứ phần (tr.642b10): Đương danh tác dư ngữ 當名作餘語. Thập tụng 12 (tr.76b14), ức thức pháp 憶識法. Căn bản 28 (tr.778b7), tác yết-ma ha trách 羯磨呵責. Pāli (Vin.iv. 35): aññavādakaṃ ropetu, khiển trách sự nói lảng.

[45] Thập tụng, Căn bản, Pāli, đều nói yết-ma bạch nhị.

[46] Thập tụng: Xiển-na (đà) trở chứng bằng cách im lặng không trả lời khi các tỳ kheo hỏi.

[47] Xúc não 觸惱. Thập tụng: ức thức pháp đối với việc im lặng gây phiền nhiễu. Pāli, nt.: vihesakaṃ ropetu, khiển trách sự gây não loạn.

[48] Pāli: tuṇhībhūto saṅghaṃ viheseti, gây phiền nhiễu Tăng bằng thái độ im lặng.

[49] Dư ngữ 餘語. Trong giới văn, dị ngữ 異語. Pāli: aññavādaka, sự nói lãng, nói quanh để chối tội.

[50] Hán: xúc não 觸惱. Pāli: vihesako, sự gây rối: ở giữa Tăng khi được hỏi về sự vi phạm mà cố tình im lặng để gây phiền nhiễu Tăng.

[51] Thập tụng: Tăng chưa tác pháp ức thức mà im lặng để gây phiền nhiễu, đột-kiết-la; đã tác ức thức, ba-dật-đề.