Chương v

Ba-dật-đề

  

I. Cố ý vọng ngữ[1]

A. Duyên khởi

[634a9]Một thời, đức Phật ở Thích-súy-sấu,[2] trong vườn Ni-câu-loại, nước Ca-duy-la-vệ. Bấy giờ trong ḍng họ Thích có người con trai nhà họ Thích tên là Tượng Lực[3] có tài đàm luận, thường cùng Phạm-chí ngoại đạo luận bàn. Trường hợp bị thua, liền nói ngược lại điều đă nói trước. Giữa Tăng, khi hỏi đến việc ấy th́ Tượng Lực cũng nói ngược lại lời đă nói trước. Ở giữa chúng, biết nhưng ông vẫn nói dối. Các Phạm-chí thường biếm nhẽ rằng:

“Sa-môn Thích tử không có tàm quư, thường nói lời vọng ngữ, mà tự xưng là ta phụng hành chánh pháp. Nhưng nay như vậy có ǵ là chánh pháp? Luận bàn không hơn, liền nói ngược lại điều đă nói trước. Khi ở trong chúng Tăng, được hỏi đến th́ cũng nói ngược lại điều đă nói trước. Ở trong chúng, biết nhưng vẫn nói dối.”

Trong số các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, quở trách Thích tử Tượng Lực:

 

“Sao thầy cùng Phạm-chí ngoại đạo luận bàn, trường hợp bị thua, liền nói ngược lại điều đă nói trước. Giữa Tăng, khi hỏi đến việc ấy th́ cũng nói ngược lại điều đă nói trước. Ở giữa chúng, biết nhưng vẫn nói dối?” Khi ấy các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ. ĐứcThế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo Tượng Lực: “Việc ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm.”

“Tỳ-kheo Tượng Lực, sao cùng Phạm-chí ngoại đạo luận bàn, trường hợp bị thua, liền nói ngược lại điều đă nói trước? Giữa Tăng, khi hỏi đến việc ấy th́ cũng nói ngược lại điều đă nói trước. Ở giữa chúng, biết nhưng vẫn nói dối?”

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách tỳ-kheo Tượng Lực rồi, bảo các tỳ-kheo: “Đây là người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo [634b] kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới nên nói như vầy:

Tỳ-kheo nào, biết mà nói dối, ba-dật-đề.[4]

B. Giới tướng

Tỳ-kheo: nghĩa như trước.

Biết mà nói dối: không thấy nói thấy, không nghe nói nghe, không xúc giác nói xúc giác, không hay biết nói hay biết,[5] thấy nói không thấy, nghe nói không nghe, xúc giác nói không xúc giác, hay biết nói không hay biết.

Thấy: thấy bởi thức con mắt.

Nghe: nghe bởi thức của tai.

Xúc: xúc giác bởi ba thức: mũi, lưỡi và thân.

Hay biết: hay biết bởi ư thức.

Không thấy: trừ nhăn thức ra, c̣n lại năm thức kia.

Không nghe: trừ nhĩ thức ra, c̣n lại năm thức kia.

Không xúc giác: trừ ba thức ra, c̣n lại mắt, tai và ư.

Không hay biết: trừ ư thức ra, c̣n lại năm thức kia.

Nếu người nào không thấy, không nghe, không xúc giác, không hay biết mà nói như vầy: “Tôi thấy, nghe, xúc giác, hay biết”; biết mà nói dối, ba-dật-đề.

Nếu người nào không thấy, không nghe, không xúc giác, không hay biết, mà trong đó có tưởng thấy, tưởng nghe, tưởng xúc, tưởng biết, mà lại nói, “Tôi không thấy, không nghe, không xúc, không biết”; biết mà nói dối, ba-dật-đề.

Nếu người nào không thấy, không nghe, không xúc, không biết, mà trong ư sanh nghi nhưng lại nói như vầy, “Tôi không có nghi”, rồi nói “Tôi thấy, tôi nghe, tôi xúc, tôi biết”; biết mà nói dối, ba-dật-đề. 

Nếu người không thấy, không nghe, không xúc, không biết, mà trong ư có nghi nhưng lại nói “Trong đây tôi không nghi”, rồi nói “Tôi không thấy, không nghe, không xúc, không biết”; biết mà nói dối, ba-dật-đề.

Nếu người không thấy, không nghe, không xúc, không biết, mà trong ư lại không nghi, rồi nói, “Tôi có nghi ngờ rằng tôi thấy, tôi nghe, tôi xúc, tôi biết”; biết mà nói dối, ba-dật-đề. Trong ư không nghi ngờ rằng: “Tôi không thấy, tôi không nghe, tôi không xúc, tôi không biết”, nhưng lại nói “Tôi có nghi ngờ rằng tôi không thấy, không nghe, không xúc, không biết”; biết mà nói dối, ba-dật-đề.

 

Điều này nên nói rộng: Trước đó khởi lên ư nghĩ, “Ta sẽ nói dối.” Khi nói dối, tự biết là nói dối; nói dối rồi, biết là nói dối: Cố ư nói dối, ba-dật-đề. 

Trước đó khởi lên ư nghĩ, “Ta sẽ nói dối.” Khi nói dối, tự biết là nói dối; nói dối rồi, không tự nhớ là đă nói dối: Cố ư nói dối, phạm ba-dật-đề.

Trước đó không khởi lên ư nghĩ, “Ta sẽ nói dối.” Khi nói dối, biết là nói dối; nói dối rồi, biết là nói dối: Cố ư nói dối, ba-dật-đề.

Trước đó không khởi lên ư nghĩ nói dối. Khi nói dối, biết là nói dối; nói dối rồi, không nhớ là nói dối: [634c] Cố ư nói dối, ba-dật-đề. Cái được thấy có khác, cái được nh́n nhận có khác, cái được ham muốn có khác, cái được xúc có khác, cái được tưởng có khác, cái được tâm tưởng có khác,[6] những việc như vậy đều là nói dối.

Giữa đại chúng, biết mà vẫn nói dối, ba-dật-đề. Nói rơ ràng th́ phạm ba-dật-đề; nói không rơ ràng, phạm đột-kiết-la. Khi thuyết giới cho đến ba lần hỏi, nhớ nghĩ ḿnh có tội mà không nói, phạm đột-kiết-la.

Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Sự không phạm: không thấy nói không thấy; không nghe nói không nghe; không xúc nói không xúc, không hay biết nói không hay biết; thấy nói thấy; nghe nói nghe; xúc nói xúc, hay biết nói hay biết; ư tưởng có thấy, nói có thấy, th́ không phạm.

Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.

 

 

II. Mắng nhiếc[7]

A. Duyên khởi

Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo khi giải quyết việc tranh căi, mạ nhục tỳ-kheo bằng giống loài.[8] Tỳ-kheo hổ thẹn, quên trước quên sau nên không nói được.

Trong các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:

“Sao nhóm sáu tỳ-kheo giải quyết việc tranh căi lại mạ nhục tỳ-kheo bằng giống loài, khiến cho tỳ-kheo hổ thẹn, quên trước, quên sau không nói được?”

Lúc bấy giờ các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:

“Việc các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Nhóm sáu tỳ-kheo, sao giải quyết việc tranh căi lại mạ nhục tỳ-kheo bằng giống loài, khiến họ hổ thẹn quên trước quên sau không nói được?”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rồi, bảo các tỳ-kheo: “Thuở xa xưa, tại nước Đắc-sát-thi-la,[9] có người bà-la-môn nuôi một con ḅ,[10] ngày đêm cho ăn, vuốt ve, chải chuốt. Lúc ấy, cũng tại nước Đắc-sát-thi-la, có ông trưởng giả[11] đi khắp hang cùng ngơ hẻm lớn tiếng rao rằng:

“Ai có con ḅ nào đủ sức mạnh, cùng con ḅ của tôi đấu sức kéo 100 xe, tôi sẽ cá 1.000 lượng vàng.”[12]

Con ḅ của người bà-la-môn nghe rao như vậy, tự nghĩ: “Người bà-la-môn này ngày đêm hết ḷng nuôi nấng ta, vuốt ve, chải chuốt ta. Nay ta nên đem hết sức ḿnh ra kéo để lấy 1.000 lượng vàng kia, [635a1] ngơ hầu trả ơn người này.”

Con ḅ nghĩ xong liền nói với người bà-la-môn rằng:

“Ông chủ có biết chăng? Trong nước Đắc-sát-thi-la có ông trưởng giả rao rằng, ai có ḅ cùng với ḅ của ông đấu sức kéo 100 xe, ông chịu mất 1.000 lượng vàng. Ông chủ có thể đến nhà ông trưởng giả kia nói, ‘Tôi có con ḅ có thể cùng với ḅ của ông đấu sức kéo 100 xe, với số vàng cá là 1.000 lượng.’”

Người bà-la-môn nghe xong liền đến nhà ông trưởng giả nói, ‘Tôi có con ḅ với sức mạnh có thể cùng với con ḅ của ông đấu sức kéo 100 xe, số vàng cá là 1.000 lượng.’ Ông trưởng giả trả lời, ‘Nay chính là lúc.’ Người bà-la-môn liền dắt con ḅ của ḿnh đem đến để cùng đấu sức với con ḅ của ông trưởng giả, kéo 100 xe để lấy 1.000 lượng vàng. Khi ấy có nhiều người đứng xem. Trước đám đông, người bà-la-môn dùng lời mạ nhục, gọi con ḅ bằng cách kêu:

“Một Sừng,[13] kéo đi!”

Con ḅ của người bà-la-môn nghe lời mạ nhục liền xấu hổ nên không ra sức kéo để cạnh tranh cùng đối thủ của ḿnh. Do đó, con ḅ của ông trưởng giả thắng cuộc, con ḅ của người bà-la-môn bại trận. Người bà-la-môn phải mất 1.000 lượng vàng.

Bấy giờ, người bà-la-môn nói với con ḅ của ông ta rằng:

“Ngày đêm ta nuôi nấng, vuốt ve, chải chuốt, với hy vọng ngươi sẽ v́ ta đem hết sức lực để thắng con ḅ của ông trưởng giả. Nhưng tại sao sự việc hôm nay ngược lại, khiến ta phải mất 1.000 lượng vàng?”

Con ḅ liền nói với bà-la-môn rằng: “Trước đám đông ông nhục mạ tôi, ông bảo tôi là ‘Một Sừng, kéo đi!’ Tôi rất lấy làm xấu hổ đối với mọi người. Do đó, tôi không thể dùng hết sức để cùng cạnh tranh với con ḅ kia được. Nếu ông có thể thay đổi cách gọi, đừng đem tên gọi h́nh tướng, mà nhục mạ tôi, th́ ông cứ đến nói với ông trưởng giả rằng, ‘Ḅ của tôi có thể cùng ḅ của ông đấu sức, kéo 100 xe với giá đấu gấp đôi là 2.000 lượng vàng.’”

Người bà-la-môn nghe xong liền nói với con ḅ của ông rằng:

“Chớ để ta mất thêm 2.000 lượng vàng nữa.”

Con ḅ trả lời với người ba-la-môn rằng:

“Trước đám đông ông đừng nhục mạ tôi, gọi tôi là ‘Một Sừng, kéo đi!’ Mà trước đám đông ông nên khen ngợi tôi, bảo tôi kéo cho giỏi; ông gọi sừng tôi rất xinh đẹp.”

Bấy giờ, người bà-la-môn đến nhà ông trưởng giả nói rằng:

“Nay ḅ của ông có thể cùng ḅ của tôi đấu sức kéo 100 xe với số vàng đánh cá là 2.000 lượng, dưới sự chứng kiến của nhiều người.”

Ông trưởng giả nói: “Thật đúng lúc.”

Khi ấy, người bà-la-môn trước đám đông khen ngợi con ḅ của ông rằng, ‘Kéo giỏi lên! Cặp sừng xinh đẹp ơi!’

Con ḅ nghe lời khen như vậy liền đem hết sức ḿnh để đấu với con ḅ kia, nên con ḅ của người bà-la-môn thắng cuộc, con ḅ của ông trưởng giả thua trận. Người bà-la-môn thu được 2.000 lượng vàng.”

 

Lúc bấy giờ, đức Phật bảo các tỳ-kheo rằng:

[635b] “Phàm người ta khi muốn nói phải nói lời khéo léo, không nên nói lời xấu ác. Nói lời khéo léo là thiện. Nói lời xấu ác là tự gây phiền năo cho ḿnh. Bởi vậy cho nên, các tỳ-kheo, súc sanh bị người mạ nhục, c̣n tự xấu hổ không thể dùng hết sức ḿnh để kéo xe, huống là đối với người mà bị kẻ khác hủy nhục làm sao không hổ thẹn! Nhóm sáu tỳ-kheo này là những người si, khi giải quyết việc tranh căi lại mạ nhục các tỳ-kheo bằng giống loài, khiến cho họ hổ thẹn, quên trước, quên sau không nói được.”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rồi bảo các tỳ-kheo:

“Đây là người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới nên nói như vầy:

    Tỳ-kheo nào, nhục mạ bằng giống loài, ba-dật-đề.

B. Giới tướng

Tỳ-kheo: nghĩa như trước.

Nhục mạ người bằng giống loài:[14] như nói, “Ngươi sanh trong gia đ́nh ḍng họ thấp hèn, hành nghề cũng thấp hèn, kỹ thuật công xảo cũng thấp hèn.” Hoặc nói, “Ngươi là người phạm tội; ngươi là người nhiều kiết sử; ngươi là người mù, ngươi là người trọc mù...”

- Thấp hèn: là ḍng dơi chiên-đà-la, ḍng dơi hốt rác, ḍng dơi thợ đan,[15] ḍng dơi thợ đóng xe.[16]

- Họ thấp hèn: chỉ những họ Câu-tấu, Câu-thi, Bà-tô-trú, Ca-diếp, A-đề-lị-dạ, Bà-la-đọa.[17] Hoặc chẳng phải họ thấp hèn mà tập làm theo kỹ thuật thấp hèn, tức thành họ thấp hèn.

- Nghề nghiệp thấp hèn: tức là mua bán heo, dê, giết ḅ, thả chim ưng, chim diêu, thợ săn, chài lưới, làm giặc, bắt giặc, thủ thành, coi ngục.

- Kỹ nghệ thấp hèn: như làm nghề thợ rèn, thợ mộc, thợ gốm, thợ da, thợ hớt tóc, thợ đan nia.[18]

- Phạm tội: phạm ba-la-di, tăng-già-bà-thi-sa, ba-dật-đề, ba-la-đề-đề-xá-ni, thâu-lan-giá, đột-kiết-la, ác thuyết.

- Kết: từ sân nhuế cho đến 500 kết sử.

- Mù ḷa:[19] mù ḷa, gù, què quặt, câm điếc và các tật bệnh khác.

Hoặc tỳ-kheo mắng nhiếc các tỳ-kheo khác rằng, “Thầy sanh nơi nhà ti tiện; hành nghiệp thấp hèn, kỹ thuật thấp hèn. Thầy phạm tội, thầy bị kết sử, thầy là kẻ trọc đầu mù ḷa...” Mạ nhục như vậy. Hoặc mạ nhục ngay trước mặt, hoặc mượn lời dụ để mạ nhục, hoặc tự so sánh để mạ nhục. 

- Mạ nhục ngay trước mặt: như nói, “Ngươi sanh trong nhà Chiên-đà-la, sanh trong nhà hốt rác, sanh trong ḍng thợ đan, ḍng thợ đóng xe, họ Câu-tấu, Câu-thi, Bà-tô-trú, Ca-diếp, Đề-lê-dạ, Bà-la-đọa.” Hoặc người kia vốn không phải ḍng họ thấp hèn mà tập làm theo kỹ nghệ thấp hèn tức thành họ thấp hèn, như nói, “Ngươi là người mua bán, người giết ḅ, heo, dê. Ngươi là người làm nghề ăn trộm, bắt kẻ trộm. Ngươi là người giữ thành, giữ ngục, là người thợ rèn, [635c] làm đồ mộc, làm ḷ gốm, làm thợ giày, thợ hớt tóc. Ngươi là người phạm ba-la-di, tăng-già-bà-thi-sa, ba-dật-đề, ba-la-đề-đề-xá-ni, thâu-lan-giá, đột-kiết-la, ác thuyết. Ngươi là người từ kết sử sân nhuế, cho đến là người 500 kiết sử. Ngươi là người trọc đầu mù ḷa, què quặt, điếc câm và là người có các bệnh hoạn khác…”

- Mượn dụ để mạ nhục: như nói, “Ngươi giống như Chiên-đà-la, giống như ḍng hốt phân, giống như ḍng thợ đan, giống như ḍng đóng xe. Ngươi giống như ḍng họ Câu-tấu, giống như ḍng họ Câu-thi, Bà-tô-trú, Ca-diếp, Đề-lê-dạ, Bà-la-đọa. Ngươi giống như người mua bán heo, dê; giống như người giết ḅ; giống như người thả chim ưng, chim diêu; giống như người lưới cá, thợ săn; giống như kẻ trộm, như người bắt kẻ trộm, giống như người giữ thành, giữ ngục; giống như người làm đồ gốm, giống như người làm giày dép, giống như người thợ hớt tóc; giống như người phạm ba-la-di, giống như người phạm tăng-già-bà-thi-sa, giống như người phạm ba-dật-đề, giống như người phạm ba-la-đề-đề-xá-ni, giống như người phạm thâu-lan-giá, giống như người phạm đột-kiết-la, giống như người phạm ác thuyết, giống như người kiết sử, giống như người mù ḷa, giống như người không có tóc, giống như người què chân, giống như người câm điếc...”

- Tự so sánh để mạ nhục: như nói, “Tôi không phải ḍng Chiên-đà-la, tôi không phải ḍng hốt phân, tôi không phải ḍng thợ đan, tôi không phải ḍng đóng xe. Tôi không phải ḍng họ Câu-tấu, ḍng họ Câu-thi, Bà-tô-trú, Ca-diếp, Đề-lê-dạ, Bà-la-đọa; cũng không phải người mua bán heo dê, giết ḅ, thả chim ưng, chim diêu, lưới cá, thợ săn, làm giặc, bắt giặc, giữ thành, giữ ngục, thợ rèn, thợ mộc, thợ đan, đóng xe, thợ ḷ gốm, thợ giày, thợ cạo... Tôi không phải là người phạm ba-la-di, phạm tăng-già-bà-thi-sa, phạm ba-dật-đề, phạm ba-la-đề-đề-xá-ni, phạm thâu-lan-giá, phạm đột-kiết-la, phạm ác thuyết. Tôi chẳng phải bị kiết sử, tôi chẳng phải là người trọc đầu, mù ḷa, què quặt, điếc câm…”

 

Nếu tỳ-kheo đem giống loài mà mạ nhục, nói như trên, phạm ba-dật-đề. Nếu đem giống loài để mạ nhục, nói rơ ràng phạm ba-dật-đề, không rơ ràng phạm đột-kiết-la.

Hoặc là nói thiện pháp để mạ nhục ngay trước mặt, hoặc mượn dụ để mạ nhục, hoặc tự so sánh để mạ nhục.

- Dùng thiện pháp để mạ nhục: như nói, “Ngươi là người a-lan-nhă, hành khất thực, hành mặc y vá[20], cho đến người ngồi thiền.”

- Dùng thiện pháp mạ nhục ngay trước mặt: như nói, “Ngươi là [636a1] người a-lan-nhă, hành khất thực, hành mặc y vá, cho đến người ngồi thiền.”

- Mượn dụ để mạ nhục: như nói, “Ngươi tợ như người a-lan-nhă, hành khất thực, hành mặc y vá, cho đến người ngồi thiền.”

- Tự so sánh để mạ nhục: như nói, “Tôi chẳng phải là người ở a-lan-nhă,… cho đến người ngồi thiền.”

Nếu tỳ-kheo dùng thiện pháp mạ nhục ngay trước mặt, mượn dụ để mạ nhục, tự so sánh để mạ nhục; nói mà rơ ràng phạm đột-kiết-la, không rơ ràng cũng phạm đột-kiết-la.

Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Sự không phạm: cùng có lợi cho nên nói, v́ pháp cho nên nói, v́ luật cho nên nói, v́ giáo thọ cho nên nói, v́ thân hậu cho nên nói, hoặc v́ vui chơi mà nói, hoặc v́ nói lỡ miệng do lộn thứ tự lời,[21] hoặc nói một ḿnh, hoặc nói trong mộng, hoặc muốn nói việc này nhằm nói việc khác; tất cả không phạm.

Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.

 

 

III. Nói ly gián[22]

A. Duyên khởi

Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo truyền rao lời nói bên này bên kia; truyền lời nói kín đáo của người này đến nói người kia; truyền lời nói kín đáo của người kia đến nói người này.

Họ cứ làm như vậy măi, đưa đến t́nh trạng trong chúng chưa có đấu tranh liền sanh ra sự đấu tranh này, và đă có sự đấu tranh rồi th́ không thể chấm dứt được.

Các tỳ-kheo đều nghĩ: “Do nhân duyên ǵ trong chúng Tăng vốn không có sự đấu tranh mà nay lại có sự đấu tranh này, và đă có sự đấu tranh rồi th́ sao không chấm dứt được?”

Các tỳ-kheo t́m biết là do nhóm sáu tỳ-kheo này truyền rao lời nói bên này bên kia, nên đưa đến t́nh trạng trong chúng Tăng có sự đấu tranh, việc tranh căi này vốn trước đây không có, nay lại có, và khi đă có sự đấu tranh rồi th́ không thể chấm dứt được.

Khi ấy trong chúng có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:

“Sao các thầy truyền rao lời nói bên này bên kia, đưa đến t́nh trạng trong Tăng có sự đấu tranh, việc tranh căi này vốn trước đây không có nay lại có, và khi đă có sự đấu tranh rồi th́ không chấm dứt được? “

Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:

 

“Sao các ông truyền rao lời nói bên này bên kia, đưa đến t́nh trạng trong chúng Tăng trước không có đấu tranh, nay lại sanh ra đấu tranh, và khi đă có đấu tranh th́ không chấm dứt được?”

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rồi, bảo các tỳ-kheo:

“Các ông nên lắng nghe! Xưa kia, có hai con ác thú làm bạn với nhau, một con sư tử tên là Thiện Nha,[23] [636b] con thứ hai là hổ tên Thiện Bác,[24] ngày đêm cùng ŕnh bắt các con nai.

Khi ấy, có một con dă can thường đi sau hai con thú này, ăn thịt dư c̣n lại của chúng để sống. Bấy giờ, con dă can kia lén lút suy nghĩ: ‘Nay ta không thể cứ đi theo sau măi thế này. Bằng phương tiện thế nào ta phải làm để hai con ác thú này cùng loạn đấu với nhau khiến cho chúng không c̣n đi với nhau nữa.’ Nghĩ xong, dă can liền đến chỗ con sư tử Thiện Nha nói như vầy:

“Này Thiện Nha! Tôi nghe con cọp Thiện Bác nói rằng, ‘Chỗ sanh của ta hơn hết; ḍng họ của ta hơn hết; h́nh sắc của ta hơn nó, thế lực của ta hơn nó. Tại sao vậy? V́ hàng ngày ta được thức ăn bổ, ngon. Sư tử Thiện Nha đi theo sau ta ăn thức ăn c̣n dư lại của ta để sống.’” Dă can liền nói kệ:

H́nh sắc và nơi sanh,

Sức mạnh cũng lại hơn;

Thiện Nha không sánh kịp.

Thiện Bác nói như vậy.

Thiện Nha nghe xong hỏi dă can rằng: “Do đâu mà ngươi biết được? “

Dă can trả lời: “Hai ông cùng tập hợp lại một chỗ, gặp nhau th́ sẽ tự biết rơ điều này.”

 

Lúc bấy giờ, con dă can lén lút nói với Thiện Nha xong, liền đến cọp Thiện Bác nói rằng:

“Ông biết chăng! Sư tử Thiện Nha đă nói như vầy, ‘Hiện tại chủng tánh và chỗ sanh của ta, tất cả đều hơn nó, thế lực cũng hơn. Tại sao vậy? V́ thường ta ăn thức ăn ngon; cọp Thiện Bác chỉ ăn thức ăn dư c̣n lại của ta để sống.” Dă can liền nói kệ:

H́nh sắc và nơi sanh,

Sức mạnh cũng lại hơn;

Thiện Bác không sánh kịp.

Thiện Nha nói như vậy.

Thiện Bác nghe xong hỏi:

“Tại sao ngươi biết được việc ấy?”

Dă can trả lời:

“Hai ông cùng tập hợp lại một chỗ, gặp nhau th́ sẽ tự biết rơ điều này.”

Sau đó, hai con thú cùng tập họp lại một chỗ, cùng nh́n nhau với cặp mắt sân hận. Sư tử Thiện Nha liền nghĩ, ‘Ta không thể không hỏi trước khi hạ thủ cọp kia.’

Bấy giờ, sư tử Thiện Nha hướng đến cọp Thiện Bác nói kệ rằng:

H́nh sắc và nơi sanh

Sức mạnh cũng lại hơn

Thiện Nha không bằng ta

Thiện Bác có nói không?

Thiện Bác tự nghĩ rằng, ‘Chắc là do dă can gây sự loạn đấu giữa chúng ta.’ Cọp Thiện Bác nói kệ để trả lời cho sư tử Thiện Nha rằng:

Thiện Bác không nói vậy:

H́nh sắc và nơi sanh,

[636c] Sức mạnh cũng lại hơn;

Thiện Nha không thể sánh.

Nếu nhận lời vô ích,

Tin theo lời bỉ thử,

Tự phá hoại t́nh thâm,

Bèn thành kẻ oan gia.

Bằng lẽ thật để biết;

Phải diệt trừ sân năo.

Đây là lời thành thật,

Khiến ta được lợi ích.

Nay nên khéo hàng phục,

Trừ diệt ác tri thức.

Cần giết dă can này,

Chính nó gây loạn đấu.

Sư tử Thiện Nha liền giết dă can.”[25]

Hai con thú hoà hợp trở lại.

Lúc bấy giờ, đức Phật bảo các tỳ-kheo:

“Hai con thú này bị con dă can phá, nên khi họp nhau một chỗ, gặp nhau mà không vui, huống là đối với người, bị người khác phá rối, làm sao không bực ḷng? Nhóm sáu tỳ-kheo, sao gây loạn đấu bên này bên kia, việc tranh căi này trước đây không sanh ra nay lại sanh ra, và khi đă có việc tranh căi rồi th́ không thể chấm dứt?”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rồi, bảo các tỳ-kheo:

“Đây là người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới nên nói như vầy”:

Tỳ-kheo nào, nói hai lưỡi,[26] ba-dật đề.


B. Giới tướng

Tỳ-kheo: nghĩa như trên.

Hai lưỡi:[27] gây chuyện cho tỳ-kheo loạn đấu với tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni ,ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, quốc vương, đại thần, ngoại đạo, dị học sa-môn, bà-la-môn.

Tỳ-kheo-ni lại loạn đấu với tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, quốc vương, đại thần, ngoại đạo, dị học sa-môn, bà-la-môn, tỳ-kheo.

Thức-xoa-ma-na lại loạn đấu với thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, quốc vương, đại thần, ngoại đạo, dị học sa-môn, bà-la-môn, tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni.

Sa-di loạn đấu với sa-di, sa-di-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, quốc vương, đại thần, ngoại đạo, dị học sa-môn, bà-la-môn, tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni.

Ưu-bà-tắc lại loạn đấu với ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, quốc vương, đại thần, ngoại đạo, [637a1] dị học sa-môn, bà-la-môn, tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, ưu-bà-tắc.

Ưu-bà-di lại loạn đấu với ưu-bà-di, quốc vương, đại thần, ngoại đạo, dị học sa-môn, bà-la-môn, tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, ưu-bà-tắc.

Quốc vương lại loạn đấu với quốc vương, đại thần, ngoại đạo, dị học sa-môn, bà-la-môn, tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di.

Đại thần lại loạn đấu với đại thần, ngoại đạo, dị học sa-môn, bà-la-môn, tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, quốc vương.

Tất cả ngoại đạo sa-môn, bà-la-môn lại loạn đấu với tất cả ngoại đạo sa-môn, bà-la-môn, tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, quốc vương, đại thần.

- Loạn đấu: như người nào đó nói,[28] “Ông là ḍng dơi Chiên-đà-la, ḍng dơi hốt phân, ḍng dơi thợ đan, ḍng dơi đóng xe, họ Câu-tấu, Câu-thi, Bà-tô-trú, Ca-diếp, Đề-lê-dạ, Bà-la-đọa, mua bán heo dê, giết ḅ, thả chim ưng, lưới chim, thợ săn, làm giặc, bắt giặc, giữ thành, giữ ngục, thợ rèn, thợ giày, thợ cạo; ông phạm ba-la-di, tăng-già-bà-thi-sa, ba-dật-đề, ba-la-đề-đề-xá-ni, thâu-lan-giá, đột-kiết-la, ác thuyết.”

- Nói kết sử: từ sân nhuế cho đến 500 kết, trọc đầu, mù ḷa, què quặt, điếc câm. Tỳ-kheo nào phá hoại đều là tỳ-kheo loạn đấu. Nói rơ ràng phạm ba-dật-đề, nói không rơ ràng phạm đột-kiết-la.

Tỳ-kheo-ni ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la, đó gọi là phạm.

Sự không phạm: v́ phá ác tri thức, phá ác bạn đảng, phá phương tiện phá hoại Tăng, phá việc trợ giúp để phá hoại Tăng, phá hai người ba người tác yết-ma, phá tác yết-ma phi pháp, yết-ma phi luật; hoặc v́ người phá Tăng, phá tháp, phá miếu, phá Ḥa thượng, đồng Ḥa thượng, phá A-xà-lê, đồng A-xà-lê, phá tri thức, phá thân hữu, phá những người nói nhiều mà vô nghĩa, vô lợi, muốn dùng phương tiện làm việc vô nghĩa, vô lợi; phá những người như vậy th́ không phạm.

Người không phạm: Phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.


 

 

IV. Ngủ chung buồng người nữ[29]

A. Duyên khởi

Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Tôn giả [637b] A-na-luật từ nước Xá-vệ đến nước Câu-tát-la, giữa đường, đến nơi thôn không có trú xứ của tỳ-kheo,[30] hỏi thăm, “Có ai cho tôi chỗ trọ?” Tôn giả nghe người ta nói nơi kia có nhà của dâm nữ thường cho khách tạm trú ban đêm.[31] Bấy giờ, ngài A-na-luật đến nhà dâm nữ, hỏi:

“Thưa đại tỷ, tôi muốn xin trọ lại một đêm, có được không?”

Dâm nữ nói: “Được! Nhà rộng, Tôn giả cứ tùy ư nghỉ.”

Tôn giả A-na-luật bước vào nhà, trải tọa cụ bằng cỏ, xếp tréo chân ngồi, nhất tâm tư duy, buộc niệm trước mặt.

Hôm ấy, cũng có các trưởng giả ở nước Câu-tát-la có việc cần cũng đến nơi thôn đó t́m nơi nghỉ lại đêm. Họ cũng được nghe nhà dâm nữ kia thường tiếp khách tạm trú. Các trưởng giả đến nhà đó, hỏi:

“Chúng tôi cần nghỉ lại một đêm, cô có thể cho chúng tôi tá túc được không?”

Dâm nữ trả lời:

“Trước đây tôi đă hứa cho một sa-môn ở lại. Các ông hỏi vị sa-môn ấy, có thể được cùng nghỉ th́ các ông cứ nghỉ.”

Các trưởng giả đến chỗ Tôn giả A-na-luật nói rằng:

“Chúng tôi đă xin người chủ nhà được ở lại một đêm và đă được sự chấp thuận. Vậy chúng ta cùng nghỉ, không có ǵ trở ngại?”

 

Tôn giả A-na-luật trả lời:

“Tôi đă trải nệm cỏ rồi. Nhà c̣n rộng, các ông cứ tùy ư nghỉ, chớ nghi ngại.”

Lúc ấy, các trưởng giả liền vào nhà. V́ bạn bè các trưởng giả nhiều nên ngồi quá chật. Bấy giờ, dâm nữ thấy vậy sanh ḷng thương mến, trong ḷng nghĩ rằng, “Vị A-na-luật này là con nhà hào quư, từ lâu quen sung sướng không thể chịu khổ được. Nay cùng với các trưởng giả chung nhà quá chật.” Nghĩ vậy, bèn đi đến chỗ A-na-luật, nói rằng, “Tôn giả từ lâu quen sung sướng không thể chịu khổ được. Nay cùng với các trưởng giả chung nhà quá chật. Tôn giả có thể vào trong buồng[32] tôi nghỉ được không?” Tôn giả trả lời đồng ư.

Bấy giờ, Tôn giả A-na-luật vào trong buồng, nơi chỗ ngồi đó, xếp tréo chân ngồi, buộc niệm trước mặt. Lúc ấy trong nhà dâm nữ, đèn thắp suốt đêm không tắt.

Đầu đêm, dâm nữ đến chỗ Tôn giả A-na-luật nói rằng:

“Gần đây có các trưởng giả bà-la-môn có nhiều của cải quư báu, đến nói với tôi, ‘Cô có thể làm vợ tôi?’ Tôi liền nói với các trưởng giả ấy rằng, ‘Các ông xấu xí lắm. Tôi không thể làm vợ các ông. Nếu là người xinh đẹp, tôi sẽ làm vợ họ.’ Tôi xem Tôn giả tướng mạo xinh đẹp. Tôn giả có thể làm chồng tôi được không?”

Lúc ấy, Tôn giả A-na-luật tuy nghe những lời nói ấy nhưng vẫn lặng thinh không trả lời và cũng không [637c] nh́n ngó. Tại sao vậy? V́ Tôn giả đă chứng đắc giải thoát vô thượng gồm cả hai phần[33]. Đến cuối đêm, lúc b́nh minh sắp xuất hiện, cô ta lại nói với A-na-luật rằng:

“Các trưởng giả ḍng bà-la-môn có nhiều của cải quư báu nói với tôi: ‘Cô v́ tôi làm vợ.’ Tôi dứt khoát không hứa khả. Nhưng Tôn giả với nhan mạo đoan chánh, có thể v́ tôi làm chồng được không?”

Tôn giả A-na-luật cũng lại im lặng, không trả lời và cũng không nh́n ngó cô ta. Tại sao vậy? V́ chính Tôn giả là người đă chứng đắc giải thoát vô thượng gồm cả hai phần.

Lúc bấy giờ, dâm nữ liền thoát y đến trước mặt và nắm Tôn giả. Tôn giả liền dùng sức thần túc vụt ḿnh lên hư không. Dâm nữ thấy vậy hết sức xấu hổ, v́ sự lơa h́nh của ḿnh, bèn ngồi xổm xuống; rồi vội vàng lấy áo che thân lại. Xong xuôi, chắp tay ngửa mặt lên không trung, hướng về Tôn giả A-na-luật nói:

“Con xin sám hối! Con xin sám hối!” Nói như vậy ba lần. Rồi, thỉnh nguyện Tôn giả trở lại chỗ ngồi.

Tôn giả hạ ḿnh, ngồi trở lại chỗ ngồi như cũ. Người dâm nữ này đảnh lễ dưới chân Tôn giả xong, lui ngồi qua một bên. Tôn giả v́ cô mà nói các pháp vi diệu, như ư nghĩa về bố thí, về tŕ giới, về ư nghĩa sanh thiên. Tôn giả chê trách dục là bất tịnh, là thấp hèn, là hữu lậu, là kết phược.[34] Tôn giả khen ngợi sự an lạc của xuất ly,[35] ích lợi của giải thoát.

Lúc ấy, dâm nữ liền từ chỗ ngồi dứt hết trần cấu, được sự trong sạch của con mắt pháp. Khi dâm nữ thấy pháp, đắc pháp rồi, thỉnh nguyện, “Nguyện xin Tôn giả chấp thuận con được làm người ưu-bà-di, quy y Phật, Pháp, Tăng. Từ nay trở đi, suốt đời không sát sanh cho đến không uống rượu. Ngày hôm nay, xin Tôn giả nhận lời thỉnh cầu thọ thực của con.” Tôn giả mặc nhiên chấp thuận. Người dâm nữ kia biết Tôn giả đă mặc nhiên chấp nhận lời thỉnh cầu rồi, liền sửa soạn đồ ăn thức uống ngon bổ để cúng dường. Tôn giả thọ thực xong, cô lấy một chiếc ghế nhỏ đến ngồi trước Tôn giả A-na-luật. Tôn giả v́ cô mà nói các pháp, dùng nhiều h́nh thức khuyến dụ, khiến cho ḷng cô sanh hoan hỷ. Thuyết pháp xong, Tôn giả rời chồ ngồi ra về. Về đến Tăng già-lam, đem nhân duyên này nói với các tỳ-kheo một cách đầy đủ.

Khi ấy, trong chúng có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, cơ hiềm A-na-luật rằng:

“A-na-luật, sao thầy cùng với phụ nữ ngủ chung buồng?”[36]

Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền dùng nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo. Ngài biết mà vẫn hỏi A-na-luật:

“Thật sự ông có một ḿnh cùng với người nữ ngủ chung buồng hay không?”

A-na-luật thưa:

“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn!”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện [638a1] quở trách A-na-luật rằng:

“Việc ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. A-na-luật sao lại cùng với phụ nữ ngủ chung buồng?”

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách A-na-luật rồi, bảo các tỳ-kheo:

“Đây là người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới nên nói như vầy:

Tỳ-kheo nào, cùng với phụ nữ ngủ một buồng, ba-dật-đề.

B. Giới tướng

Tỳ-kheo: nghĩa như trước.

Phụ nữ: người nữ có hiểu biết,[37] mạng căn chưa đoạn.

Buồng:[38] xung quanh có tường vách ngăn che, bên trên có lợp; hoặc trước trống, không có bức vách; hoặc có vách nhưng bên trên không che lợp; hoặc tuy có che nhưng không giáp hết; hoặc tuy có che khắp nhưng có chỗ trống. Đó gọi là nhà.

Hoặc tỳ-kheo đă ngủ trước, phụ nữ đến sau; hoặc phụ nữ đến trước, tỳ-kheo đến sau; hoặc hai người cùng đến. Nếu nghiêng ḿnh mà nằm, hông dính chiếu, phạm ba-dật-đề. Mỗi lần trở ḿnh là một ba-dật-đề.

Nếu cùng thiên nữ, a-tu-la nữ, long nữ, dạ-xoa nữ, ngạ quỷ nữ, chung nhà mà ngủ, đột-kiết-la. Trong loài súc sanh cái, có khả năng biến hóa hay không có khả năng biến hóa, ngủ chung buồng, đột-kiết-la. Nếu cùng với người huỳnh môn, hai căn, ngủ chung buồng, đột-kiết-la. Ban ngày, phụ nữ đứng, tỳ-kheo nằm đột-kiết-la.

Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la, đó gọi là phạm.

Sự không phạm: nếu tỳ-kheo không biết trong nhà kia có phụ nữ mà ngủ, hoặc tỳ-kheo đến trước, phụ nữ đến sau, tỳ-kheo không biết; hoặc nhà có lợp mà chung quanh không có ngăn, hoặc lợp hết mà ngăn phân nửa, hoặc lợp hết mà ngăn một ít, hoặc ngăn hết mà không lợp, hoặc ngăn hết mà lợp một ít, hoặc nửa lợp, nửa ngăn, hoặc một ít lợp một ít ngăn, hoặc không lợp không ngăn, nơi đất trống th́ không phạm. Ở trong nhà này, hoặc đi, hoặc ngồi cũng không phạm, hoặc đầu bị choáng váng té xuống đất, hoặc bị bệnh mà nằm th́ không phạm; hoặc bị cường lực bắt, hoặc bị người trói, hoặc mạng nạn, tịnh hạnh nạn cũng không phạm.

Người không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.

 



[1] Cf. Ngũ phần 6 (tr.37b14); Tăng k 12 (tr.324c07); Thập tụng 7 (tr.63b16); Căn bản 25 (tr.760b16). Pāli, Pācittiya 1. Mūsavāda,Vin.iv. 2.

[2] Thích-súy-sấu 釋翅瘦 (Pāli. Sakkesu), giữa những người họ Thích; không phải địa danh. Các Bộ khác đều nói Phật tại Xá-vệ; Pāli cũng vậy.

[3] Tượng Lực 象力. Ngũ phần 6 (tr.37b15): tỳ-kheo pháp sư Sa-lan 法師比丘名沙蘭. Tăng k 12 (tr.324c08): Trưởng lăo Thi-lị-da-bà 長老尸利耶婆; Thập tụng 7 (tr.63b22): tỳ-kheo họ Thích Ha-đa 訶哆釋子比丘; Căn bản 25 (tr.760b17): duyên khởi từ Tôn giả La-hầu-la 具壽羅怙羅 (Cụ thọ La-hỗ-la), nhưng chưa chế giới; cho đến duyên khởi bởi tỳ-kheo Pháp Thủ 法手苾芻 mới chế giới. Pāli: Hatthako Sakyaputto.

[4] Ba-dật-đề. Thập tụng 7 (tr.63c19): “Ba-dạ-đề 波夜提, tội danh; có nghĩa là thiêu đốt, ngăn bít. Nếu không sám hối, có thể chướng ngại đạo.” Pāli: pācittiya.

[5] Thấy, nghe, xúc giác, hay biết, Hán: kiến, văn, xúc, tri 見聞觸知, cũng thường nói là kiến, văn, giác, tri. Tăng k: kiến văn tri thức 見聞知識. Pāli: diṭṭhaṃ, sutaṃ, mutaṃ, viññaṃ, điều được thấy (bởi mắt), điều được nghe (bởi tai), điều được giác tri (bởi mũi, lưỡi, thân), điều được nhận thức (bởi ư).

[6] Cf. Pāli, Vin.iv. 2, nói dối với bảy h́nh thức về một trong bốn chức năng nhận thức: trước khi nói dối, trong khi nói dối, sau khi nói dối đều biết rơ ḿnh sẽ, đang và đă nói dối; (cố ư) diễn tả sai lạc quan điểm, sự tán thành, sở thích và ư hướng; (…) vinidhāya diṭṭhiṃ, vinidhāya khantiṃ, vinidhāya ruciṃ, vinidhāya bhāvaṃ.

[7] Các bộ giống nhau, ba-dật-đề 2.

[8] Chủng loại mạ 種類罵. Xem giải thích nơi phần giới tướng.

[9] Đắc-sát-thi-la quốc 得剎尸羅國. Ngũ phần: Đắc-xoa-thi-la 得叉尸羅. Pāli: Takkasilā, thủ phủ của Gandhāra, nổi tiếng về giáo dục. Được đề cập rất nhiều trong các chuyện tiền thân.

[10] Pāli, con ḅ tên là Nandivisāla.

[11] Pāli, seṭṭhi, nhà phú hộ, hay đại thương gia.

[12] Pāli, sahassena abbhutaṃ karoti, đánh cuộc một ngh́n. Không nói “một ngh́n” cái ǵ. Bản dịch Anh phỏng định: kahāpaṇa (tiền vàng). Ngũ phần 6 (tr.37c21), 50 tiền vàng. Căn bản 15 (tr.765a22), 500 tiền vàng.

[13] Hán: nhất giác 一角, tên gọi diễu cợt con ḅ. Pāli: kūṭa, không sừng; ḅ cụt sừng.

[14] Hán: chủng loại huỷ tỷ ngữ 種類毀呰語. Tăng kỳ 12 (tr.325b28): chủng loại h́nh tướng ngữ 種類形相語; có 7 cách: chủng tánh, nghề nghiệp, tướng mạo, bệnh tật, tội, bệnh, kết sử (ô nhiễm). Pāli (Vin.iv. 4): omasavāda. Có 10 cách mắng nhiếc: bằng gia đ́nh (jātiyā), tên tuổi (nāmena), tộc họ (gottena), nghề nghiệp (kammena), công xảo (sippena), chứng (bệnh) tật (bādhena), dấu hiệu (liṅgena), phiền năo (thói xấu) (kilesena), tội lỗi (āpattiyā), và sự hèn hạ (hīnena).

[15] Trúc sư chủng 竹師種: thợ làm đồ tre. Pāli: veṇajāti.

[16] Xa sư chủng 車師種. Pāli: rathakārajāti.

[17] Câu-tấu 拘湊, Câu-thi 拘尸, Bà-tô-trú 婆蘇晝, Ca-diếp 迦葉, A-đề-lị-dạ 阿提梨夜, Bà-la-đọa 婆羅墮. Pāli, gịng họ có thấp và cao. Gịng họ thấp: Kosiya, Bhāradvāja; gịng họ cao: Gotama, Moggallāna, Kaccāyana, Vāsiṭṭha.

[18] Hán: bá ki 簸箕. Pāli: naḷakāra, nghề đan/dệt cói.

[19] Manh hạt 盲瞎, chỉ chung các khuyết tật và các chứng bệnh.

[20] Bổ nạp y, đây chỉ cho y phấn tảo; tỳ kheo hành đầu đà chỉ khoác y phấn tảo.

[21] Đoạn trên: tật tật ngữ (thuyết), nói nhanh vội.

[22] Ngũ phần tr.38a20; Tăng kỳ tr.326b7; Thập tụng tr.66a1; Căn bản 26 tr.767c20. Vin. iv. 12. pācittiya 3.

[23] Thiện Nha 善牙. Thập tụng 9 (tr.66a27): Hảo Mao 好毛.

[24] Thiện Bác 善博. Ngũ phần 6 (tr.38b05): Thiện Trảo 善抓. Thập tụng 9 (tr.66a27): Hảo Nha 好牙. Căn bản (tr.768c11): con cọp vằn tên Thiện Bác 善髆, và con sư tử tên Thiện Nha 善牙.

[25] Tăng kỳ 12 (tr.326b19): truyện kể trong “Tam thú bản sanh kinh”; không nêu chi tiết.

[26] Ngũ phần, nt.: “Nói hai lưỡi khiến tỳ-kheo loạn đấu.” Căn bản: ly gián ngữ 離間語. Pāli: bhikkhupesuñña, lời nói ly gián tỳ-kheo.

[27] Pāli, có hai h́nh thái ly gián ngữ (dvīhākārehi pesuññaṃ hoti): nói với mục đích gây cảm t́nh, nói với mục đích gây chia rẽ.

[28] Tức là, thuật lại lời của người này cho người kia. Pāli, có 10 loại nói ly gián, như 10 loại nói ác khẩu mạ lỵ: từ chuyện bêu xấu ḍng họ, cho đến mắng chửi.

[29] Ngũ phần 8 (tr.59b09), ba-dật-đề 56; Tăng-kỳ 19 (tr.381c28), ba-dật-đề 69; Thập tụng 16 (tr.112c22), ba-dật-đề 65; Căn bản 40 (tr.849b25), Ba-dật-đề 65. Pāli, Vin. iv. 17, Pācittiya 6.

[30] Thập tụng: tụ lạc không có tăng phường.

[31] Pāli: một người nữ có dựng một phúc đức xá (āvasathāgāra), nhà trọ miễn phí.

[32] Nguyên Hán: xá nội 舍內; chính xác, nên hiểu là buồng trong. Pāli: mañcakaṃ abbhantaraṃ, giường ở buồng trong.

[33] Hán: nhị câu giải thoát 二俱解脫. Tức với tâm giải thoát và huệ giải thoát. A-la-hán chứng đắc diệt tận định, gọi là có câu (phần) giải thoát. Xem Câu-xá (T22n1558, tr.131b26). Pāli: ubhatobhāga-vimutta, cf. D.ii. 71; M.i. 477; S.i. 191.

[34] Hán: dục bất tịnh độ hữu lậu phược 欲不淨度有漏縛. Cf. Pāli, Mahāvagga, Vin. i. 16: bhagavā… anupubbiṃ kathaṃ kathesi seyyathidaṃ dānakathaṃ sīlakathaṃ sagga-kathaṃ, kāmānaṃ ādīnavaṃ okāraṃ saṃkilesaṃ nekkhamme ānisaṃsaṃ, “… rồi Thế tôn tuần tự thuyết pháp, nói về bố thí, về tŕ giới, về sinh thiên, về sự nguy hiểm, sự thấp hèn, sự ô nhiễm của các dục, và sự ích lợi do thoát ly dục.

[35] Cf. A.i.80, dvemāni … sukhāni… kāmasukhanca nekkhammasukhañca, có hai sự khoái lạc: khoái lạc do dục vọng, và khoái lạc do thoát ly.

[36] Nguyên Hán: đồng thất 同室, chung nhà. Chính xác, chung buồng. Pāli: sahaseyya.

[37] Hán: hữu tri 有知. Ngũ phần: nữ sơ sanh cho đến 2 căn. Tăng kỳ: nữ, là mẹ, chị em gái, lớn hay nhỏ, tại gia hay xuất gia. Thập tụng: nữ loài người, phi nhơn, súc sanh. Căn bản: nữ, đàn bà hay con gái, đối tượng có thể hành dâm. Cf. định nghĩa của Pāli, Vin. iv. 20: (…) manussitthī na yakkhī na oetī na tiracchānagatā…, nữ thuộc loài người, không phải yakkha, không phải quỷ, không phải súc sanh.

[38] Hán: thất . Thập tụng: xá . Các bộ khác đều nói là thất.  Pāli: seyya, buồng ngủ; định nghĩa: hoặc được che lợp kín; hoặc được bao che kín; hoặc che lợp một phần; hoặc bao quanh một phần.