A. Duyên khởi
Một thời, đức Thế Tôn ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại Xá-vệ. Bấy giờ, Bạt-nan-đà Thích tử, tại nước Câu-tát-la, trên đường đi đến một thôn không có trú xứ.[2] Khi đến trong thôn, đem gừng sống đổi thức ăn. Ăn xong rồi đi.
Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất cũng đang tại Câu-tát-la du hành trong nhân gian, rồi đến trong thôn không trú xứ đó. Đến giờ, đắp y, bưng bát, vào thôn khất thực, tuần tự tới nơi nhà bán cơm, đứng im lặng. Người bán cơm thấy vậy bảo rằng:
“Đại đức, [620c] ông cần cái ǵ?”
Tôn giả trả lời: “Cư sĩ, tôi cần thức ăn.”
Người kia nói: “Đưa vật có giá ra đây.”
Tôn giả ngạc nhiên nói:
“Cư sĩ đừng nói như vậy. Điều đó chúng tôi không nên làm.”
Người bán cơm nói:
“Vừa rồi Bạt-nan-đà dùng gừng sống đổi thức ăn. Ăn rồi đi. Sao Đại đức nói không làm việc ấy?”
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe nói như vậy lấy làm xấu hổ, không nói ǵ. Khất thực xong, về đến trong Tăng-già-lam, đem nhân duyên này nói với các tỳ-kheo.
Trong lúc ấy, trong thành Xá-vệ có một ngoại đạo, được một chiếc y quư giá, ḷng tự nghĩ: “Ta cần ǵ cái y quư giá này? Nay ta nên đổi y khác.”
Lại nghĩ tiếp, “Nơi nào ta có thể đổi y? Chỉ có sa-môn Thích tử ưa mặc y đẹp. Chắc họ có thể đổi.” Nghĩ xong liền đem chiếc y đến trong Tăng-già-lam, nói với các tỳ-kheo rằng:
“Tôi muốn đổi y này. Vị nào muốn đổi th́ đổi.”
Bạt-nan-đà nghe vậy liền nói:
“Sáng mai đem đến đây! Tôi sẽ trao đổi y với ông.”
Bạt-nan-đà là người rất khéo tay về may sửa y. Ngay đêm ấy, đem y cũ giặt, nhuộm, ủi, làm cho y sáng sủa như mới. Sáng ngày, ngoại đạo đem y đến trong Tăng-già-lam, nói với các tỳ-kheo:
“Vị nào muốn đổi y th́ đổi.”
Bấy giờ, Bạt-nan-đà liền đem y của ḿnh ra giới thiệu nói với ngoại đạo:
“Tôi dùng y này đổi cho ông, ông đưa y của ông cho tôi được không?”
Ngoại đạo trả lời: “Được.”
Hai bên trao đổi. Ngoại đạo nhận được y đem về trong vườn nơi cư trú của ḿnh, đưa cho các ngoại đạo xem và nói:
“Các bạn nên biết, tôi đem chiếc y đang mặc đổi lấy y này đây.”
Trong số ngoại đạo, có người có trí tuệ nói rằng:
“Bạn bị người ta lừa rồi. Tại sao vậy? Y của bạn đang mặc tốt, rộng, dài, bền chắc. C̣n y này là y cũ; v́ khéo ủi, sửa soạn, nên trông qua thấy sáng sủa, in như y mới thế thôi.”
Ngoại đạo ấy nghe xong, liền đem chiếc y vừa đổi, vào trong Tăng-già-lam, nói với Bạt-nan-đà rằng:
“Tôi trả lại y cho ông. Ông trả lại y cho tôi.”
Bạt-nan-đà nói:
“Đă đổi rồi th́ thôi, không được hoàn trả lại.”
Ngoại đạo nói:
“Y của tôi mới và tốt, rộng, dài, bền chắc; c̣n y của ông cũ và xấu được ủi sửa soạn như y mới mà thôi.”
Bạt-nan-đà nói:
“Đă đổi rồi dứt khoát tôi không hoàn lại.”
Ngoại đạo kia cơ hiềm:
“Y của tôi mà tôi đ̣i lại không được hay sao? Y của tôi mới, tốt, rộng, dài, bền chắc. Y của ông cũ, xấu. Tại sao cùng là người xuất gia với nhau, đổi y cho nhau mà hoàn lại không được?”
Trong số các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quí, [621a1] hiềm trách Bạt-nan-đà rằng: “Sao lại dùng gừng sống để đổi thức ăn để ăn? Sao lại cùng với ngoại đạo đổi y mà không cho hoàn lại?”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn dùng nhân duyên này tập hợp các tỳ-kheo, quở trách Bạt-nan-đà: “Việc làm của ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao lại lấy gừng đổi thức ăn để ăn; lại cùng ngoại đạo đổi y mà không cho hoàn lại?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách, rồi bảo các tỳ-kheo: “Từ nay về sau, cho phép năm chúng xuất gia trao đổi qua lại. Khi đổi nên tự thẩm định, không nên quá cao thấp với nhau như phép ngoài chợ búa. Không được cùng người khác đổi chác, mà nên sai tịnh nhân làm việc ấy. Nếu họ cần đổi lại, nên hoàn lại cho họ. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
B. Giới tướng
Tỳ-kheo nào, kinh doanh mậu dịch dưới mọi h́nh thức,[3] ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Kinh doanh mậu dịch dưới mọi h́nh thức: dùng thời dược đổi thời dược, dùng [thuốc] có thời hạn đổi [thuốc] phi thời hạn, dùng [thuốc] có thời hạn đổi [thuốc] bảy ngày, dùng [thuốc] có thời hạn đổi [thuốc] suốt đời, dùng [thuốc] có thời hạn đổi ba-lợi-ca-la.
Dùng [thuốc] phi thời hạn đổi [thuốc] phi thời hạn, dùng [thuốc] phi thời hạn đổi [thuốc] bảy ngày, dùng [thuốc] phi thời hạn đổi [thuốc] suốt đời, dùng [thuốc] phi thời hạn đổi ba-lợi-ca-la, dùng [thuốc] phi thời hạn đổi [thuốc] có thời hạn.
Dùng [thuốc] bảy ngày đổi [thuốc] bảy ngày, dùng [thuốc] bảy ngày... cho đến [thuốc] phi thời hạn cũng như vậy.
Dùng [thuốc] suốt đời đổi [thuốc] suốt đời, cho đến đổi [thuốc] bảy ngày cũng như vậy.
Dùng ba-lợi-ca-la đổi ba-lợi-ca-la cho đến đổi (thuốc) suốt đời cũng như vậy.
- Bán: trị giá một tiền, nhiều lần (trả giá) lên hay xuống.
- Bán lên giá: trị giá một tiền, nói giá ba tiền.
- Bán tăng gấp giá: trị giá một tiền, nói giá năm tiền. Mua cũng như vậy.
Nếu tỳ-kheo kinh doanh mậu dịch, dưới mọi h́nh thức mà nhận được lời, ni-tát-kỳ ba-dật-đề; không nhận được lời, đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người, không được xả biệt chúng. Xả không thành xả, đột-kiết-la. Khi xả, đương sự phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, hướng đến Thượng tọa kính lễ quỳ gối bên hữu chấm đất, chấp tay bạch như vầy:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., đă kinh doanh mọi thứ, được tài vật, phạm xả đọa, [621b] nay xả cho Tăng.”
Xả rồi phải sám hối. Trước hết, vị nhận sám hối phải tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă kinh doanh mọi thứ, được tài vật, phạm xả đọa; nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo có tên... này. Đây là lời tác bạch.”
Tác bạch rồi, sau đó mới nhận sám hối. Khi nhận sám phải bảo phạm nhân:
“Hăy tự trách tâm ngươi!”
Tỳ-kheo phạm tội thưa:
“Xin vâng!”
Tăng nên hoàn lại vật đó cho tỳ-kheo này bằng bạch nhị yết-ma như vầy: Tăng nên sai một vị có khả năng tác yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă kinh doanh mọi thứ, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, trả lại vật cho tỳ-kheo có tên này. Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă kinh doanh mọi thứ, được tài vật, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay, Tăng đem vật này trả lại cho tỳ-kheo này. Các trưởng lăo nào đồng ư, Tăng đem vật này trả lại cho tỳ-kheo này th́ im lặng. Vị nào không đồng ư xin nói.”
“Tăng đă chấp thuận trả vật lại cho tỳ-kheo này rồi. Tăng đồng tâm ư nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Đương sự đă xả giữa Tăng rồi, Tăng không hoàn lại, đột-kiết-la. Khi trả có người bảo “đừng trả”, người ấy phạm đột-kiết-la. Nếu chuyển làm tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc cố làm cho hư hoại, hoặc dùng măi, hoặc dùng vào việc khác, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: cùng năm chúng xuất gia trao đổi, tự ḿnh xét định không quá cao thấp với nhau như phép đổi ngoài chợ búa. Không cùng người khác đổi chác, hoặc sai tịnh nhân đổi chác, hoặc họ hối hận th́ cho họ đổi lại. Hoặc dùng sữa đổi dầu, dùng dầu đổi sữa. Tất cả không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.[4]
A. Duyên khởi
[621c7] Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá- vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo chứa bát. Cái nào tốt th́ họ tŕ, cái nào không tốt th́ để đó. Thường sưu tầm bát tốt như vậy cất chứa thành nhiều.
Bấy giờ, có các cư sĩ đến tham quan các pḥng. Thấy nhóm sáu tỳ-kheo[6] chứa cất nhiều bát. Thấy vậy họ đều cơ hiềm: “Sa-môn Thích tử mong cầu không nhàm chán, không biết tàm quư. Bên ngoài tự xưng rằng, ta biết chánh pháp. Như vậy th́ có ǵ là chánh pháp? Cất chứa nhiều bát như nơi cửa hàng của thợ đồ gốm.”
Trong số các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo: “Sao chứa bát, cái tốt th́ thọ tŕ, cái xấu để đó, thường sưu tầm bát mới chứa cất thành nhiều?”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo quở trách Bạt-nan-đà rằng: “Việc làm của ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao lại chứa bát, cái tốt th́ thọ tŕ, cái xấu để đó, thường t́m cầu bát mới chứa cất thành nhiều?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách, rồi bảo các tỳ-kheo: “Bạt-nan-đà là người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.” Muốn nói giới nên nó như vầy:
Tỳ-kheo nào, chứa bát dư, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Khi đức Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy rồi, bấy giờ, Tôn giả A-nan nhận được chiếc bát quư giá của nước Tô-ma,[7] ư muốn dâng cúng cho Đại Ca-diếp v́ Đại Ca-diếp thường dùng loại bát của nước này.
Khi ấy, Đại Ca-diếp không ở đó. Tôn giả nghĩ: “Đức Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới, ‘Tỳ-kheo nào chứa bát dư, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.’ Nay ta nhận được chiếc bát quư giá của nước Tô-ma, [622a1] muốn dâng cúng cho ngài Đại Ca- diếp, song ngài không có ở đây. Không biết làm thế nào.” Tôn giả A-nan đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi đứng qua một bên, bạch đức Thế Tôn:
“Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đă v́ tỳ-kheo kết giới: ‘Tỳ-kheo nào chứa bát dư, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.’ Mà nay con vừa nhận được chiếc bát quư giá của nước Tô-ma, muốn dâng cúng cho Đại Ca-diếp, song Đại Ca-diếp không có ở đây, con không biết làm thế nào.”
Đức Thế Tôn hỏi Tôn giả A-nan: “Đại Ca-diếp bao lâu sẽ về?”
Tôn giả A-nan bạch Phật: “Sau mười ngày, Đại Ca-diếp sẽ về.”
Bấy giờ, đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện tùy thuận nói pháp, khen ngợi hạnh đầu-đà nghiêm chỉnh, thiểu dục tri túc và những vị ưa xuất ly, bảo các tỳ-kheo:
“Từ nay về sau cho phép các Tỳ-kheo chứa bát dư cho đến mười ngày.”
Nên nói giới như vầy:
B. Giới tướng
Tỳ-kheo nào, chứa bát dư, không tịnh thí,[8] được phép chứa trong hạn mười ngày. Quá hạn, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Bát: Có sáu loại: bát thiếc, bát nước Tô-ma, bát nước Ô-già-la,[9] bát nước Ưu-già-xa,[10] bát đen, bát đỏ.[11] Đại thể có hai loại: bát bằng thiếc và bát bằng đất.[12] Bát lớn chứa ba đấu, bát nhỏ chứa một đấu rưỡi.[13] Đây là dung lượng của bát, nên thọ tŕ như vậy, nên tịnh thí.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát, cho đến ngày thứ mười nhận được bát, chứa đến ngày thứ mười một, khi b́nh minh xuất hiện, số bát nhận được trong mười ngày đều thành ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát. Ngày thứ hai không nhận được. Ngày thứ ba nhận được, ngày thứ tư nhận được, như vậy cho đến ngày thứ mười nhận được bát, đến ngày thứ mười một, khi b́nh minh xuất hiện, số bát nhận được trong chín ngày đều ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát, ngày thứ hai nhận được, ngày thứ ba không nhận được (như vậy chuyển lần xuống đến ngày thứ mười không nhận được bát, đặt câu văn cũng như trên[14]).
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát. Ngày thứ hai, ngày thứ ba không nhận được. Ngày thứ tư nhận được, cho đến ngày thứ mười nhận được bát, đến ngày thứ mười một, khi b́nh minh xuất hiện, số bát nhận được trong tám ngày đều ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo
ngày thứ nhất nhận được bát, ngày thứ
hai nhận được bát. Ngày thứ ba, ngày thứ
tư không nhận được. Ngày thứ năm nhận
được (như vậy chuyển lần xuống
cho đến ngày thứ chín, ngày thứ mười không nhận
được bát, đặt câu văn cũng như vậy*).
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được
bát. Ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư không nhận
được bát; ngày thứ năm nhận được
bát, cho đến ngày thứ mười nhận được
bát, đến ngày thứ mười một khi b́nh minh xuất
hiện, số bát nhận được trong bảy ngày
đều ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát, ngày thứ hai nhận được bát. Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm không nhận được bát (như vậy chuyển xuống cho đến ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không nhận được bát, đặt [622b]câu văn cũng như trên*).
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát. Ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm không nhận được bát. Ngày thứ sáu nhận được bát, cho đến ngày thứ mười nhận được bát, ngày thứ mười một khi b́nh minh xuất hiện, số bát nhận được trong sáu ngày đều ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát, ngày thứ hai nhận được, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu không nhận được bát (như vậy chuyển xuống cho đến ngày thứ bảy, ngày thứ tám ngày thứ chín, ngày thứ mười không nhận được bát, đặt câu văn cũng như trên*).
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát. Ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu không nhận được bát. Ngày thứ bảy nhận được bát, cho đến ngày thứ mười nhận được bát, đến ngày thứ mười một khi b́nh minh xuất hiện, số bát nhận được trong năm ngày đều ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát, ngày thứ hai nhận được. Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy không nhận được bát. Ngày thứ tám nhận được bát (như vậy chuyển xuống cho đến ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không nhận được bát, đặt câu văn cũng như trên*).
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát. Ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy không nhận được bát. Ngày thứ tám nhận được bát, cho đến ngày thứ mười nhận được bát, đến ngày thứ mười một khi b́nh minh xuất hiện, số bát nhận được trong bốn ngày đều ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát, ngày thứ hai nhận được bát. Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám không nhận được bát (như vậy chuyển xuống cho đến ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không nhận được bát, đặt câu văn cũng như trên*).
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát. Ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám không nhận được bát. Ngày thứ chín, ngày thứ mười nhận được bát, số bát nhận được trong ba ngày đến ngày mười một khi b́nh minh xuất hiện đều ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát, ngày thứ hai nhận được. Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, không nhận được bát (như vậy chuyển xuống cho đến ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không nhận được bát, đặt câu văn cũng như trên).
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát. Ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín không nhận được bát. Ngày thứ mười nhận được bát, ngày thứ mười một khi b́nh minh xuất hiện, số bát nhận được trong hai ngày đều ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát, ngày thứ hai nhận được. Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không nhận được bát (như vậy chuyển xuống cho đến ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không nhận được bát, đặt câu văn cũng như trên).
Nếu Tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát. Ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không nhận được bát, ngày thứ mười một khi b́nh minh xuất hiện, số bát nhận được trong một ngày, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát không tịnh thí. Ngày thứ hai được bát tịnh thí. Ngày thứ ba [622c] được bát, cho đến ngày thứ mười được bát không tịnh thí, đến ngày thứ mười một khi b́nh minh xuất hiện, số bát nhận được trong chín ngày đều ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu tỳ-kheo ngày thứ nhất nhận được bát, ngày thứ hai nhận được bát không tịnh thí. Ngày thứ ba được bát tịnh thí. Ngày thứ tư được bát không tịnh thí (như vậy chuyển xuống cho đến ngày thứ mười được bát không tịnh thí, và tịnh thí, đặt câu văn cũng như trên*).
Sai cho người (đặt câu văn cũng như vậy). Hoặc mất (câu văn cũng như trên*).
Hoặc cố làm cho hư hoại (câu văn cũng như vậy*).
Hoặc làm phi bát (câu văn cũng như vậy*).
Hoặc khởi ư thân hữu lấy (câu văn cũng như trên*). Hoặc quên đi (câu văn cũng như trên*).
Tất cả đều ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu bát phạm ni-tát-kỳ mà không xả, lại đổi bát khác th́ phạm một ni-tát-kỳ và một đột-kiết-la.
Bát phạm ni-tát-kỳ này phải xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người, không được xả biệt chúng. Xả không thành xả phạm đột-kiết-la.
Khi xả, phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, hướng lên Thượng tọa kính lễ, quỳ gối bên hữu chấm đất, chắp tay thưa:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., đă chứa bát dư, quá mười ngày, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”
Xả bát rồi phải sám hối, vị nhận sám trước hết phải tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă chứa bát dư quá mười ngày, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo có tên... này. Đây là lời tác bạch.”
Tác bạch như vậy rồi mới nhận sự sám hối của vị kia. Nên nói với tỳ-kheo kia rằng: “Hăy tự trách tâm ḿnh!”
Vị ấy thưa: “Xin vâng!”
Tăng nên hoàn bát lại cho tỳ-kheo này bằng bạch nhị yết-ma như vầy: Trong chúng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă chứa bát dư quá mười ngày, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, trả bát lại cho tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă chứa bát dư quá mười ngày, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng trả bát lại cho tỳ-kheo này, các trưởng lăo nào chấp thuận Tăng trả bát lại cho tỳ-kheo có tên... này th́ im lặng. Vị nào không đồng ư xin nói.”
“Tăng đă chấp thuận trả lại bát cho tỳ-kheo có tên... này rồi, Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Nếu đă xả bát trong Tăng rồi, Tăng không trả lại, phạm đột-kiết-la. Nếu có người bảo “đừng trả”, vị ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu chuyển tịnh thí hoặc sai cho người, hoặc cố làm cho hư, hoặc làm phi bát, hoặc [623a1] dùng thường xuyên,[15] tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: trong mười ngày. Hoặc tịnh thí. Hoặc sai cho người. Hoặc tưởng bị cướp đoạt, bị mất, bị phá hư, bị nước cuốn trôi th́ không phạm. Nếu bát bị đoạt, bị mất, bị cháy, bị nước cuốn trôi nên lấy dùng, hoặc người khác cho dùng. Hoặc tỳ-kheo nhận gởi bát qua đời, hoặc đi xa, hoặc thôi tu, hoặc bị giặc cướp, hoặc gặp ác thú hại, hoặc bị nước cuốn trôi, không sai cho người. Tất cả không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
A. Duyên khởi
Một thời, đức Thế Tôn ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại Xá-vệ. Bấy giờ, Bạt-nan-đà Thích tử bát bị vỡ, nên vào thành Xá-vệ nói với một cư sĩ rằng:
“Ông biết cho. Bát tôi bị vỡ. Ông hăy giúp tôi.”
Bấy giờ, có cư sĩ nọ liền vào trong chợ mua cái bát cúng cho. Bạt-nan-đà lại đến nhà cư sĩ khác cũng nói rằng:
“Bát tôi bị vỡ. Ông hăy giúp tôi.”
Các cư sĩ kia cũng liền đến chợ mua bát cúng dường.
Bạt-nan-đà bị vỡ một cái bát mà cầu t́m nhiều bát để chứa cất. Sau đó, một thời gian các cư sĩ có cơ hội gặp nhau. Có một cư sĩ nói với các cư sĩ khác rằng: “Tôi được phước vô lượng.”
Các cư sĩ hỏi: “Nhờ việc ǵ mà bạn được phước vô lượng?”
Đáp rằng: “Tôn giả Bạt-nan-đà bị vỡ cái bát. Tôi mua cái bát cúng cho, nên được phước vô lượng.”
Các cư sĩ mỗi người đều tự nói:
“Chúng tôi cũng được phước vô lượng.”
Các cư sĩ khác hỏi rằng:
“Do nhân duyên ǵ quư vị đều được phước vô lượng?”
Các cư sĩ trả lời rằng:
“Bạt-nan-đà bị vỡ cái bát, chúng tôi đều ra chợ mua bát cúng cho Bạt-nan-đà.”
Các cư sĩ cơ hiềm nói:
“Sa-môn Thích tử không biết tàm quư, mong cầu không nhàm chán, không biết đủ. Bên ngoài tự xưng rằng, ‘Ta biết chánh pháp.’ Như vậy th́ có chánh pháp ǵ? Bị vỡ một cái bát mà t́m cầu nhiều bát để chứa cất. Đàn-việt tuy cúng dường không nhàm chán mà người thọ nhận phải biết đủ chứ!”
Trong số các Tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách Bạt-nan-đà Thích tử rằng: “Sao thầy bị vỡ một cái bát lại t́m cầu nhiều bát để chứa cất?” Các Tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đầu mặt lễ dưới chân, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ.
Đức Thế Tôn tập hợp các tỳ-kheo, quở trách Bạt-nan-đà Thích tử:
“Việc làm của ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, [623b] chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao lại bể một cái bát mà t́m cầu nhiều bát để chứa cất?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Bạt-nan-đà này là người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
B. Giới tướng
Tỳ-kheo nào, chứa bát trám dưới năm chỗ không chảy rỉ, mà t́m xin bát mới, v́ muốn đẹp, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo kia nên đến trong Tăng để xả, lần lượt cho đến lấy cái bát tối hạ [17] trao cho, khiến thọ tŕ cho đến khi vỡ; đó là điều hợp thức.[18]
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Năm chỗ trám: khoảng cách giữa hai chỗ trám bằng hai ngón tay.
Tỳ-kheo nào bát bị bể dưới năm chỗ trám[19] mà không chảy rỉ, lại t́m cầu bát mới, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu trám đủ năm chỗ mà không rỉ chảy lại t́m cầu bát mới, đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ này nên xả cho Tăng trong trú xứ đó. Nên đến giữa Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, hướng đến Thượng tọa kính lễ, quỳ gối bên hữu chấm đất, chắp tay thưa:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., bát đă bị bể, dưới năm chỗ trám chưa rỉ chảy, lại xin bát mới, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”
Xả rồi phải sám hối. Vị nhận sám trước hết phải tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., bát đă bị bể dưới năm chỗ trám chưa rỉ chảy, lại xin bát mới, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo có tên... này. Đây là lời tác bạch.”
Tác bạch rồi, sau đó mới nhận sám. Khi nhận sám nên nói với người kia rằng:
“Hăy tự trách tâm ḿnh!”
Tỳ-kheo kia thưa: “Xin vâng!”
Bát của vị tỳ-kheo này nếu là loại bát quư giá tốt th́ nên cất lại, và lấy cái bát kém nhất trao cho vị ấy, bằng bạch nhị yết-ma, nên trao như vầy: Trong Tăng sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:[20]
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., bát đă bị bể dưới năm chỗ trám không rỉ chảy, lại xin bát mới, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, trao bát cho tỳ-kheo có tên này. Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., bát đă bị bể dưới năm chỗ trám không rỉ chảy, lại xin bát mới, phạm xả đọa, đă xả cho Tăng. Nay Tăng trao bát lại cho tỳ-kheo có tên... này. [623c] Các trưởng lăo nào chấp thuận Tăng trao bát lại cho tỳ-kheo có tên là... này th́ im lặng. Vị nào không đồng ư, xin hăy nói.”
“Tăng đă đồng ư trao bát lại cho tỳ-kheo có tên... này rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Bát của tỳ-kheo kia nên đem tác bạch rồi hỏi Tăng, tác bạch như vầy:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, đem bát này theo thứ tự hỏi Thượng tọa. Đây là lời tác bạch.”
Bạch như vậy rồi nên đem bát trao cho Thượng tọa. Nếu Thượng tọa muốn nhận bát (mới) này th́ trao cho, rồi lấy bát (cũ) của Thượng tọa trao cho vị kế. Nếu trao cho tỳ-kheo kia th́ tỳ-kheo kia nên nhận. Không nên v́ hộ tŕ chúng Tăng mà không nhận. Cũng không nên v́ nhân duyên này mà thọ tŕ bát tối hạ; nếu thọ tŕ th́ phạm đột-kiết-la.[21] Nếu vị Thượng tọa thứ hai lấy chiếc bát này th́ nên lấy chiếc bát của vị Thượng tọa thứ hai trao cho vị Thượng tọa thứ ba. Nếu trao cho tỳ-kheo kia th́ tỳ-kheo kia nên nhận, không nên v́ hộ tŕ chúng Tăng mà không nhận, và không nên v́ nhân duyên này mà thọ tŕ bát xấu nhất; nếu thọ tŕ th́ phạm đột-kiết-la.
Như vậy lần lượt cho đến vị hạ tọa. Hoặc đem bát của tỳ-kheo này trả lại cho tỳ-kheo này; hoặc đem bát vị tối hạ trao cho. Khi trao, nên bạch nhị yết-ma để trao. Trong Tăng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên, tác bạch như vầy:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng đem bát của vị tối hạ này trao cho tỳ-kheo có tên... thọ tŕ cho đến khi vỡ. Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nay Tăng đem cái bát của vị tối hạ này trao cho tỳ-kheo có tên... thọ tŕ cho đến khi vỡ. Các trưởng lăo nào đồng ư Tăng trao bát cho tỳ-kheo này th́ im lặng. Vị nào không đồng ư xin nói.”
“Tăng đă đồng tâm ư trao bát cho tỳ-kheo này rồi. Tăng đồng tâm ư nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Tỳ-kheo kia nên giữ ǵn bát này không được để chỗ đá gạch có thể rơi, không được để dưới cây gậy dựng đứng và dưới con dao dựng đứng, không được để dưới vật treo, không được để giữa đường đi, không được để trên ḥn đá, không được để dưới gốc cây có trái, không được để chỗ đất không bằng phẳng.
Tỳ-kheo không được dùng một tay mà nắm hai cái bát, trừ có kê ngón tay ở giữa. Không được dùng một tay cầm hai cái bát mà mở cửa, trừ phi có chú ư. Không được để trong ngưỡng cửa, dưới cánh cửa. Không được để dưới giường dây, giường gỗ, trừ để tạm. Không [624a1] được để trung gian giữa giường dây và giường gỗ. Không được để đầu góc của giường gỗ và giường dây, trừ để tạm. Không được đứng mà lắc[22] bát cho đến đủ để khiến bát bị vỡ. Tỳ-kheo kia không được cố tâm làm cho bát hư hoại, không được cố ư khiến cho mất hoặc cố làm cho hư hỏng. Không nên dùng làm phi bát.[23]
Xả bát ở trong Tăng rồi, Tăng không hoàn lại, phạm đột-kiết-la. Nếu ai bảo “đừng trả”, người ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu làm tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc cố làm mất, làm hỏng, dùng làm phi bát hay dùng thường xuyên,[24] tất cả đều phạm đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: năm chỗ trám bị rỉ chảy. Hoặc dưới năm chỗ trám mà rỉ chảy, t́m cầu bát mới. Hoặc đến xin nơi thân lư, nơi người xuất gia, v́ người khác xin, người khác v́ ḿnh xin. Hoặc không xin mà được. Hoặc họ cúng cho Tăng, theo thứ tự được. Hoặc ḿnh có phương tiện mua để chứa. Tất cả không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
Một thời, đức Thế Tôn ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Bạt-nan-đà Thích tử muốn may tăng-già-lê, nên vào thành, đến nhà một cư sĩ, nói rằng: “Ông biết không? Tôi muốn may tăng-già-lê, nên cần chỉ sợi.”
Cư sĩ liền cúng chỉ sợi. Bạt-nan-đà lại đến các nhà cư sĩ khác, cũng nói rằng: “Tôi muốn may tăng-già-lê, nên cần chỉ sợi.”
Bạt-nan-đà xin khắp mọi nơi như vậy, thu hoạch được một số lượng chỉ sợi rất nhiều nên nghĩ rằng: “Lúc khác, ở nơi khác, ta lại xin chỉ sợi nữa, để đủ may tăng-già-lê. Y phục của tỳ-kheo khó có được, ta nên sắm luôn ba y. Nay ta nên đem số chỉ sợi này bảo thợ dệt, dệt ba y.”
Nghĩ xong liền đem chỉ đến chỗ thợ dệt, tự tay xe chỉ, tự đứng coi thợ dệt. Các cư sĩ thấy vậy cơ hiềm rằng:
“Các ông xem ḱa, Bạt-nan-đà Thích tử tự xe chỉ, tự đứng coi thợ dệt dệt ba y.”
Trong số các tỳ-kheo nghe, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới biết tàm quư, hiềm trách Bạt-nan-đà: “Sao lại t́m cầu nhiều chỉ sợi, rồi khiến thợ dệt dệt ba y; tự tay xe chỉ, tự đứng coi thợ dệt dệt ?”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp các Tăng tỳ-kheo, quở trách Bạt-nan-đà:
[624b]“Việc làm của ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao lại t́m cầu nhiều chỉ sợi, tự tay xe sợi, tự đứng coi thợ dệt, dệt ba y?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách, rồi bảo các tỳ-kheo: “Đây là người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
B. Giới tướng
Tỳ-kheo nào, tự ḿnh xin chỉ sợi, khiến thợ dệt không phải thân quyến[26] dệt làm ba y , ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Tự ḿnh xin: chính ḿnh xin khắp nơi.
Chỉ sợi: có mười loại,[27] như trên tức là chỉ dệt mười loại y như trên.
Thợ dệt không phải thân quyến, người cho chỉ chẳng phải thân quyến: không phải thân quyến[28] th́ phạm.
Thợ dệt chẳng phải thân quyến; người cho chỉ hoặc thân quyến, hoặc chẳng phải thân quyến: chẳng phải thân quyến th́ phạm.
Thợ dệt chẳng phải thân quyến; người cho chỉ là thân quyến: chẳng phải thân quyến th́ phạm.
Hoặc thợ dệt là thân quyến, hoặc không phải thân quyến; người cho chỉ chẳng phải thân quyến: chẳng phải thân quyến th́ phạm.
Hoặc thợ dệt là thân quyến, hoặc chẳng phải thân quyến; người cho chỉ hoặc là thân quyến, hoặc chẳng phải thân quyến: chẳng phải thân quyến th́ phạm.
Hoặc thợ dệt là thân quyến, hoặc chẳng phải thân quyến; người cho chỉ là thân quyến: chẳng phải thân quyến th́ phạm. Thợ dệt là thân quyến; người cho chỉ chẳng phải thân quyến: chẳng phải thân quyến th́ phạm.
Thợ dệt là thân quyến; người cho chỉ hoặc thân quyến hoặc chẳng phải thân quyến: chẳng phải thân quyến th́ phạm.
Nếu tỳ-kheo tự ḿnh xin chỉ khiến thợ dệt y, phạm xả đọa. Nếu xem thợ dệt dệt, hoặc tự ḿnh dệt, hoặc tự ḿnh quay chỉ, đều phạm đột-kiết-la. Ni-tát-kỳ này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người, không được xả biệt chúng. Xả không thành xả, phạm đột-kiết-la.
Khi xả, đương sự nên đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, hướng đến Thượng tọa, kính lễ, quỳ gối bên hữu chấm đất, chắp tay thưa như vầy:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là…, đă tự ḿnh cầu xin nhiều chỉ sợi, khiến thợ dệt dệt y, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”
Xả rồi phải sám hối. Vị nhận sám trước hết phải tác bạch như vầy:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đă tự ḿnh cầu xin nhiều chỉ sợi khiến thợ dệt dệt y, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo này. [624c] Đây là lời tác bạch.”
Tác bạch rồi mới thọ sám, nên nói với tỳ-kheo rằng:
“Hăy tự trách tâm ngươi!”
Tỳ-kheo phạm tội thưa:
“Xin vâng!”
Tăng nên hoàn y lại cho tỳ-kheo này liền, bằng bạch nhị yết-ma như vầy: Trong chúng nên sai một vị khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch như vầy:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đă t́m cầu nhiều chỉ sợi khiến thợ dệt không phải thân quyến dệt y, phạm xả đọa. Nay xả cho Tăng, nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng hoàn y lại cho tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đă t́m cầu nhiều chỉ sợi, khiến thợ dệt chẳng phải thân quyến dệt y, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng trả y lại cho tỳ-kheo có tên…. này. Các Trưởng lăo nào chấp thuận Tăng trả y lại cho tỳ-kheo có tên... này th́ im lặng. Vị nào không đồng ư nên nói.”
“Tăng đă chấp thuận trả y lại cho tỳ-kheo có tên… này rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Đương sự đă xả y giữa Tăng rồi, Tăng không trả y lại phạm đột-kiết-la. Nếu có người bảo đừng trả lại th́ người ấy phạm đột-kiết-la. Nếu chuyển làm tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc tự ḿnh làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc làm cho hư hoại, hoặc đốt, hoặc làm phi y, hoặc mặc thường xuyên, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: thợ dệt là thân quyến, người cho chỉ là thân quyến. Hoặc tự ḿnh dệt cái đăy đựng bát, đăy đựng dép, đựng kim, hoặc làm dây lưng ngồi thiền.
Hoặc làm dây lưng thường, hoặc làm măo, làm bít tất, làm khăn trùm cho ấm, hoặc khăn gói. Tất cả không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
XXIV. CHỈ DẪN THỢ DỆT[29]
A. Duyên khởi
Một thời đức Thế Tôn ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ.
Bấy giờ, trong thành Xá-vệ có một cư sĩ là bạn quen tri thức của Bạt-nan-đà Thích tử, đem chỉ tốt, bảo thợ dệt dệt chiếc y như vậy, như vậy để cúng cho Bạt-nan-đà Thích tử. Cư sĩ đưa chỉ cho thợ dệt rồi, có việc cần đi qua thôn khác. Người thợ dệt kia đến trong Tăng-già-lam nói với Bạt-nan-đà Thích tử rằng:
“Đại đức, chưa từng có người nào được phước như ngài.”
Bạt-nan-đà hỏi:
“Chuyện ǵ mà biết tôi là người có phước đức?”
Ông thợ dệt nói:
“Người cư sĩ có tên mỗ đem số chỉ này đến tôi, nói: ‘Bạt-nan-đà Thích tử là bạn quen của tôi, ông v́ tôi dệt [625a1] y như vậy, như vậy để cúng cho ngài’. Do đó tôi biết Đại đức là người có phước đức.”
Bạt-nan-đà lại hỏi: “Có thật như vậy không?”
Ông thợ dệt dệt trả lời: “Thật như vậy.”
Bạt-nan-đà nói:
“Nếu muốn dệt y cho tôi th́ phải dệt cho rộng, dài, đẹp, bền chắc, tỉ mỉ, mới đúng là y tôi thọ tŕ. Nếu không phải là thứ y mà tôi cần thọ tŕ th́ tôi không cần.”
Ông thợ dệt nói:
“Loại y như Đại đức nói th́ số chỉ này không đủ để dệt thành y.”
Bạt-nan-đà nói rằng:
“Ông cứ dệt, tôi sẽ t́m thêm chỉ đem đến cho đủ.”
Sáng hôm ấy, Bạt-nan-đà đắp y bưng bát đến nhà cư sĩ, ngồi trên chỗ ngồi dọn sẵn, rồi nói với vợ cư sĩ rằng:
“Trước đây ông cư sĩ có đem chỉ đến thợ dệt bảo dệt y cho tôi, nay số chỉ ấy không đủ để dệt.”
Vợ cư sĩ nghe nói liền đem cái rương đựng chỉ ra và nói với Bạt-nan-đà rằng: “Cần nhiều hay ít tùy ư ngài cứ lấy.”
Bấy giờ, Bạt-nan-đà lựa lấy những thứ chỉ tốt theo ư muốn của ḿnh, rồi đem đến thợ dệt nói rằng: “Tôi đă cung cấp đủ số chỉ như đă hứa. Ông cứ dệt thành y cho tôi.”
Thợ dệt bảo rằng: “Nếu dệt theo kiểu y mà Đại đức nói, th́ phải trả thêm tiền công cho tôi.”
Bạt-nan-đà nói: “Ông cứ dệt như vậy. Tôi sẽ trả thêm tiền công.”
Bấy giờ, thợ dệt dệt y xong, đem đến cho vợ cư sĩ. Cũng lúc ấy, ông cư sĩ vừa từ nơi khác về, hỏi vợ rằng:
“Trước đây tôi đưa chỉ cho thợ dệt, bảo dệt y cho Bạt-nan-đà Thích tử. Nay y ấy đă dệt xong chưa?”
Người vợ bảo rằng: “Y ấy đă dệt xong rồi. Nó đây này.”
Người chồng bảo đem y đến xem. Người vợ mở rương ra cho chồng xem. Ông chồng nói với vợ rằng:
“Y này không phải là kiểu y mà trước đây tôi bảo thợ dệt dệt.”
Bà vợ bảo: “Chính y này đây.”
Ông chồng nói rằng: “Chỉ mà bữa trước tôi đưa bảo thợ dệt dệt y, th́ đây không phải là y đó.”
Bấy giờ, bà vợ mới tŕnh bày đầy đủ nhân duyên cho chồng. Hai vợ chồng mở y ra xem. Khi ấy, Bạt-nan-đà lại đến nhà cư sĩ, hỏi rằng:
“Trước đây hai ông bà bảo thợ dệt dệt y cho tôi, có phải cái này không?”
“Vâng chính cái này đây.”
“Như vậy có thể cho tôi nhận.”
Cư sĩ liền cơ hiềm rằng:
“Sa-môn Thích tử thọ nhận không biết nhàm chán, không biết hổ thẹn. Bên ngoài tự nói ‘Tôi biết chánh pháp.’ Nhưng như vậy th́ làm ǵ có chánh pháp? Đến nơi người xin y, tuy kẻ cho không nhàm chán nhưng người nhận phải biết đủ chứ! Cho đến chỗ vắng cũng không được nói năng.”
Bấy giờ, tỳ-kheo khất thực nghe như vậy rồi, hiềm trách Bạt-nan-đà Thích tử rằng: “Sao lại tham lam đi xin y nơi người?”
Hiềm trách rồi về đến [625b] trong Tăng-già-lam, vị ấy đem nhân duyên này nói với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo nghe vậy, trong số đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách Bạt-nan-đà: “Sao lại tham lam đi xin y nơi người?”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này tŕnh bày đầy đủ với đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo quở trách Bạt-nan-đà: “Việc làm của ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao lại tham lam đi xin y nơi người?”
Dùng vô số phương tiện, đức Thế Tôn quở trách, rồi bảo các tỳ-kheo: “Đây là người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này lần đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, có cư sĩ[30] hay vợ cư sĩ khiến thợ dệt v́ tỳ-kheo dệt làm y. Tỳ-kheo kia bèn đến nhà thợ dệt nói rằng: ‘Ông biết chăng? Y này vốn làm cho tôi. Hăy dệt cho khéo, khiến cho rộng, dài, bền chắc, tỉ mỉ. Tôi sẽ trả công cho ít nhiều.’ Tỳ-kheo kia trả công, dù chỉ đáng giá một bữa ăn; nếu nhận được y, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Khi đức Thế Tôn, v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy rồi, bấy giờ, có các cư sĩ cúng y cho tỳ-kheo với yêu cầu tùy ư, thưa:
“Đại đức cần loại y nào?”
Các tỳ-kheo nghi, không dám trả lời. Đức Phật dạy:
“Nếu trước đó họ yêu cầu tùy ư mà cúng y, th́ nên tùy ư trả lời.”
Hoặc có cư sĩ muốn dâng y quư giá cho tỳ-kheo mà tỳ-kheo ấy là vị thiểu dục tri túc, muốn được y không quư giá, mà nghi không dám nói, đức Phật dạy:
“Từ nay về sau cho phép vị thiểu dục tri túc đ̣i hỏi y không quư giá theo ư muốn của ḿnh.”
Từ nay về sau sẽ nói giới như vầy:
B. Giới tướng
Tỳ-kheo nào, có cư sĩ hay vợ cư sĩ khiến thợ dệt v́ tỳ-kheo dệt làm y. Tỳ-kheo kia trước không được yêu cầu tùy ư, mà lại đến chỗ thợ dệt nói rằng: ‘Ông biết chăng? Y này vốn làm cho tôi. Hăy dệt cho khéo, khiến cho rộng, dài, bền chắc, tỉ mỉ. Tôi sẽ trả công cho ít nhiều.’ Tỳ-kheo kia trả công, dù chỉ đáng giá một bữa ăn; nếu nhận được y, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Cư sĩ, vợ cư sĩ: cũng như trên.
Y: có mười loại như trên.
T́m cầu: có hai loại như trên.
Tỳ-kheo trước không được yêu cầu tùy ư,[31] bèn đến t́m cầu y; nếu được y, ni-tát-kỳ ba-dật-đề; không được y, [625c] đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người, không được xả biệt chúng. Xả không thành xả, đột-kiết-la.
Khi xả, phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, hướng đến Thượng tọa kính lễ, quỳ gối bên hữu chấm đất, chắp tay, thưa:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo tên là…, trước đó không được yêu cầu tùy ư, bèn đến t́m cầu được y tốt, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”
Xả rồi phải sám hối. Vị nhận sám trước hết nên tác bạch như vầy:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, trước đó không được nhận yêu cầu tùy ư bèn đến t́m cầu được y tốt, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”
Tác bạch rồi, sau đó mới nhận sám. Khi nhận sám nên nói với người kia rằng:
“Hăy tự trách tâm ngươi!”
Vị tỳ-kheo kia thưa: “Xin vâng!”
Tăng nên trả lại y cho tỳ-kheo này liền, bằng bạch nhị yết-ma như vầy: trong Tăng nên sai một vị có khả năng tác yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch như vầy:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, trước không được yêu cầu tùy ư, lại đến t́m cầu được y tốt, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng trả y lại cho tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, trước không được yêu cầu tùy ư, bèn đến t́m cầu được y tốt, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng trả lại y cho tỳ-kheo có tên này. Các trưởng lăo nào chấp thuận Tăng trả y lại cho tỳ-kheo này th́ im lặng. Vị nào không đồng ư xin nói.”
“Tăng đă chấp thuận trả y lại cho tỳ-kheo này rồi. Tăng đồng tâm ư nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Tỳ-kheo kia, trong Tăng đă xả y rồi mà Tăng không hoàn lại, đột-kiết-la. Nếu có người bảo “đừng trả”, người ấy phạm đột-kiết-la. Nếu chuyển làm tịnh thí hoặc sai cho người, hoặc tự làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc cố làm cho hư, hoặc đốt, hoặc làm phi y, hoặc mặc thường xuyên, tất cả đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: trước đă được yêu cầu tùy ư đến t́m cầu biết đủ, t́m cầu giảm thiểu. Hoặc đến nơi thân lư xin, hoặc đến nơi người xuất gia xin, hoặc v́ người khác, hoặc người khác v́ ḿnh, hoặc không xin mà được th́ không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
A. Duyên khởi
[626a2] Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, người đệ tử của Tôn giả Nan-đà có khả năng khuyến hóa khéo léo, được Bạt-nan-đà bảo rằng:
“Nay ông cùng tôi du hành trong nhân gian. Tôi sẽ biếu y cho ông.”
Đệ tử của Tôn giả Nan-đà chấp thuận. Bạt-nan-đà liền trao y trước. Sau đó, các tỳ-kheo khác nói với đệ tử của Tôn giả Nan-đà rằng:
“V́ cớ ǵ mà ông cùng Bạt-nan-đà du hành trong nhân gian? Bạt-nan-đà là người si, không biết tụng giới, không biết thuyết giới, không biết bố-tát, không biết yết-ma bố-tát.”
Tỳ-kheo kia liền đáp rằng:
“Nếu thật vậy th́ tôi sẽ không đi theo nữa.”
Sau đó, Bạt-nan-đà bảo rằng:
“Ông cùng tôi du hành trong nhân gian.”
Đệ tử của A-nan-đà liền đáp:
“Thầy tự đi. Tôi không thể đi theo thầy được.”
Bạt-nan-đà nói rằng:
“Sở dĩ trước đây tôi cho ông y là muốn ông cùng tôi du hành nhân gian. Nay ông không đi th́ trả y lại cho tôi.”
Tỳ-kheo nói rằng: “Đă cho rồi, không trả lại.”
Bấy giờ, Bạt-nan-đà nổi giận, liền cưỡng đoạt để lấy lại y. Tỳ-kheo kia lớn tiếng bảo: “Đừng làm vậy, đừng làm vậy!”
Các tỳ-kheo ở pḥng gần nghe tiếng kêu la, đều tập trung lại, hỏi tỳ-kheo này rằng: “Sao thầy la lớn tiếng?”
Khi ấy, tỳ-kheo mới đem nhân duyên này tŕnh bày đầy đủ với các tỳ-kheo. Trong số các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách Bạt-nan-đà rằng: “Tại sao đă cho y tỳ-kheo rồi, v́ giận hờn mà đoạt lại?”
Hiềm trách rồi, họ đến chỗ đức Thế Tôn đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lại một cách đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn tập họp Tăng tỳ-kheo quở trách Bạt-nan-đà:
“Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao lại v́ giận hờn mà đoạt y đă cho người lại?”
Dùng vô số phương tiện quở trách rồi, đức Thế Tôn nói với các tỳ-kheo: “Đây là người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
B. Giới tướng
Tỳ-kheo nào, trước đă cho y cho tỳ-kheo khác; sau v́ giận hờn tự ḿnh đoạt hay sai người đoạt lại nói rằng: ‘Hăy trả y lại tôi, tôi không cho ngài.’ Nếu tỳ-kheo kia trả y, tỳ-kheo này nhận lấy, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên
Y: có mười loại, như trên đă nói.
Nếu tỳ-kheo nào trước đó [626b] đă cho y cho tỳ-kheo, sau đó v́ giận hờn hoặc tự ḿnh đoạt lại, hay sai người đoạt lại, lấy đem cất, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Nếu đoạt lại mà không dấu cất, phạm đột-kiết-la. Nếu y được máng trên cây, để trên tường, trên rào, trên nọc, trên cọc ngà voi[33], trên giá y, hoặc trên giường gỗ, giường dây, hoặc trên nệm nhỏ nệm lớn, trên ghế nhỏ; hoặc trải trên đất; lấy khỏi chỗ của nó, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Lấy mà không ĺa khỏi chỗ, đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người, không được xả biệt chúng. Xả không thành xả, phạm đột-kiết-la.
Khi xả cho Tăng, phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, hướng đến Thượng tọa kính lễ, quỳ gối bên hữu chấm đất, chắp tay thưa:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là…, đă cho y tỳ-kheo rồi, sau v́ giận hờn đoạt lấy lại, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”
Xả rồi phải sám hối. Vị nhận sám trước hết phải tác bạch như vầy:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đă cho y tỳ-kheo rồi, sau ăn năn, v́ giận hờn đoạt lại, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”
Tác bạch rồi, sau đó mới nhận sám. Khi nhận sám nên bảo với người kia rằng:
“Hăy tự trách tâm ngươi!”
Tỳ-kheo kia thưa: “Xin vâng!”
Tăng nên trả y lại cho tỳ-kheo này liền bằng bạch nhị yết-ma như vầy: trong chúng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch như vầy:
“Đại đức Tăng nên lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đă cho y tỳ-kheo rồi, sau v́ giận hờn đoạt lấy lại, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng trả y lại cho tỳ-kheo có tên… Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là…, đă cho y tỳ-kheo, sau v́ giận hờn đoạt lấy lại, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng trả y lại cho tỳ-kheo này, trưởng lăo nào chấp thuận Tăng trả y lại cho tỳ-kheo có tên… này th́ im lặng. Vị nào không đồng ư nên nói.”
“Tăng đă chấp thuận trả y lại cho tỳ-kheo có tên… này rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Nếu trong Tăng, đă xả y rồi mà Tăng không trả lại, đột-kiết-la. Nếu có ai bảo “đừng trả”, người ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu chuyển làm tịnh thí, hoặc tự làm ba y, hoặc sai cho người, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc cố làm hư hoại, hoặc đốt, hoặc làm phi y, hoặc mặc thường xuyên, tất cả đều đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, [626c] ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: không v́ giận hờn mà nói: “Tôi hối tiếc, không muốn cho y cho thầy, trả y lại cho tôi.” Nếu người kia cũng biết tâm người này có sự hối tiếc, liền trả y lại. Hoặc người khác nói: “Tỳ-kheo này hối tiếc, nên trả y lại cho người ta.” Hoặc mượn y của người khác mặc; người khác mặc mà không hợp đạo lư đoạt lấy lại th́ không phạm.
Nếu sợ mất y hoặc sợ hư hoại, hoặc người kia phá giới, phá kiến, phá oai nghi, hoặc bị cử tội, hoặc diệt tẫn, hoặc đáng phải diệt tẫn, hoặc v́ việc này đưa đến mạng nạn, phạm hạnh nạn; v́ các trường hợp trên đoạt lấy lại mà không cất chứa. Tất cả không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách. [34]
[1] Pāli (Vin.iii.242): Nissaggiya 20, kayavikkaya. Ngũ phần, ni-tát-kỳ 28. Tăng kỳ, ni-tát-kỳ 19.
[2] Hán: (nhất) vô trú xứ thôn 一無住處村; chỉ thôn không có chùa của Tăng. Không rơ là từ chung hay tên thôn. Các bản không có chi tiết này.
[3] Ngũ phần: chủng chủng bản mại cầu lợi 種種販賣求利. Tăng kỳ: chủng chủng măi mại 種種買賣.
[4] Bản Hán, hết quyển 8.
[5] Pāli, Nissaggiya 21, atirekapatta, Vin. iii. 240. Ngũ phần (tr.34b23), ni-tát-kỳ 20.
[6] Đoạn sau, nói là Bạt-nan-đà.
[7] Tô-ma quốc 蘇摩國. Một trong 16 đại quốc thời Phật, theo liệt kê của Trung A-hàm 55 (T1n26, tr.772b17). Liệt kê này không đồng nhất với Trường A-hàm 5 (Kinh Xà-ni-sa), và các bản Pāli (A.vii.43 v.v.). Phiên Phạn ngữ 8 (T54n2130, tr.1035a18): Tô-ma, dịch là Nguyệt 月. Bát sản xuất tại nước Tô-ma được xem là 1 trong 6 loại bát hợp pháp. Xem Ngũ phần 26, tr.169c14.
[8] Căn bản 22: không phân biệt. Xem cht. Ch Ni-tát-kỳ 1. Pāli không có chi tiết này.
[9] Ô-già-la quốc 烏伽羅國, địa danh sản xuất bát. Pāli không đề cập. Có thể Pāli là Ugga-nigama, một thị trấn trong Vương quốc Kosala.
[10] Ưu-già-xa quốc 憂伽賒國; địa danh chưa rơ.
[11] Pāli: bát có hai loại, ba cỡ, như bản Hán, nhưng không nói xuất xứ của bát. Các bộ khác cũng không nói xuất xứ như Tứ phần.
[12] Thiết bát, nê bát 鐵缽泥缽. Pāli: ayopatta, mattikapatta.
[13] Pāli, Vin.iii. 243, bát có ba cỡ. Lớn, lượng một āḷhaka cơm; trung, một nāḷika cơm; nhỏ, một pattha. Thập tụng 7 (T.1435, tr. 53b): cỡ lớn, ba bát-tha cơm; cỡ nhỏ, một bát-tha.
[14] Tiểu chú trong bản Hán.
[15] Cho chóng hư. Xem Ni-tát-kỳ 1.
[16] Pāli, Nissaggiya 22, ūnapañcabandhana. Ngũ phần (tr.34a22), ni-tát-kỳ 19.
[17] Pāli: yo ca tassā bhikkhuparisāya pattapariyanto, tối hạ bát của chúng tỳ-kheo đó. Ngũ phần 5 (T22n1421, tr.34a), Thập tụng 8 (T23n1435, tr.54b), Căn bản 22 (T23n1442, tr.745c): chúng trung tối hạ bát.
[18] Nguyên Hán: thử thị thời 此是時. Ngũ phần, Thập tụng: thị pháp ưng nhĩ. Căn bản: thử thị kỳ pháp. Pāli: ayaṃ tattha sāmīcī, đó là tiến tŕnh hợp thức; giải thích: ayaṃ tattha anudhammatā, điều đó là sự tuỳ thuận pháp tánh trong đây.
[19] Hán: giảm ngũ xuyết 減五綴. Pāli: ūnapañcabandhanena, dưới năm chỗ vá.
[20] Thập tụng, nt., gọi là yết-ma Tăng sai “hành măn thủy bát nhân“, người thực hiện nghi thức bát đầy nước. Tức Tăng sai tỳ-kheo đổi bát. Đưa bát phạm xả, v́ là tốt nhất, cho Thượng tọa lớn nhất. Nếu Thượng tọa nhận bát mới này, lấy bát cũ của Thượng tọa trao cho vị Thượng tọa kế. Lần lượt xuống đến tối hạ tọa. Cho đến khi, trong chúng không ai muốn đổi nữa, th́ lấy bát được đổi cuối cùng trao cho tỳ-kheo phạm xả. Pāli gọi đây là yết-ma Tăng sai người nhận bát để đổi (bhikkhu pattagāhāpako).
[21] Văn hơi tối. Tham khảo Pāli: na ca tassa anuddayatāya na gahetabbo. yo na gaṇheyya, āpatti dukkaṭassa, “(vị kế tiếp) không nên v́ sự thương tưởng vị ấy (?) mà không nhận. Ai không nhận, phạm đột-kiết-la.” Câu văn Pāli cũng không rơ, v́ đại từ tassa có thể chỉ tỳ-kheo phạm xả, cũng có thể chỉ cho vị Thượng tọa vừa đổi bát. Bản dịch Anh hiểu nghĩa thứ hai. Nhưng hiểu nghĩa thứ nhất, th́ tỳ-kheo này không nhận bát, để cuối cùng tỳ-kheo phạm xả vẫn nhận được bát tốt như ư muốn. V́ vậy, tỳ-kheo nào không nhận v́ lư do này phạm đột-kiết-la.
[22] Hán: đảng: lắc qua lắc lại.
[23] Phi bát dụng 非缽用, sử dụng không đúng chức năng của bát.
[24] Cho chóng vỡ.
[25] Pāli, Nissaggiya 26: Suttaviññatti. Ngũ phần 4 (tr.29a28), ni-tát-kỳ 11. Tăng kỳ 11 (320b6), ni-tát-kỳ 26. Thập tụng 8 (tr.55a3), Căn bản 12 (tr.746b5), ni-tát-kỳ 23.
[26] Ngũ phần: thuê thợ dệt. Thập tụng, Căn bản: khiến thợ dệt không phải thân lư. Pāli: tantavāyehi, bởi những người thợ dệt, không phân biệt thân lư hay không thân lư.
[27] Pāli: sáu loại chỉ để dệt sáu loại y cho phép. Ngũ phần cũng không phân biệt.
[28] Các bản Tống-Nguyên-Minh không có câu lặp này.
[29] Pāli: Nissaggiya 27, Mahāpeskāra. Ngũ phần (tr.29b17), ni-tát-kỳ 12. Tăng kỳ (tr.320c12), ni-tát-kỳ 27.
[30] Thập tụng, Căn bản: cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải thân lư. Pāli: aññātako gahapati, cư sĩ không phải bà con. Thập tụng, Căn bản: phi thân lư cư sĩ, cư sĩ phụ.
[31] Tự tứ thỉnh 自恣請. Pāli: pubbe pavārito, được yêu cầu nói sở thích.
[32] Ngũ phần (tr.29c17): ni-tát-kỳ 13. Tăng kỳ (tr.318b28), ni-tát-kỳ 24. Pāli, Nissaggiya 25, cīvara-acchindana.
[33] Long nha dặc.
[34] Bản Hán, hết quyển 9.