A. Duyên khởi
[615a7] Một thời, đức Phật ở vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo làm ngọa cụ mới bằng lông dê toàn trắng.[2] Các cư sĩ thấy vậy đều cơ hiềm: “Sa-môn Thích tử không biết tàm quư, không nhàm chán, không biết đủ. Bên ngoài tự xưng ta tu theo chánh pháp. Nhưng như vậy làm ǵ có chánh pháp! Sao lại làm ngọa cụ mới bằng lông dê toàn trắng, in tuồng nhà vua, hay đại thần của vua?”
Bấy giờ, trong số các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục biết đủ, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo:
“Sao các thầy làm ngọa cụ bằng lông dê toàn trắng?”
Quở trách rồi, đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ.
Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp các Tăng tỳ-kheo, rồi quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
“Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao các ngươi làm ngọa cụ bằng lông dê toàn trắng?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rồi bảo các tỳ-kheo:
“Đây là những người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những kẻ phạm giới này đầu tiên. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
B. Giới tướng
Tỳ-kheo nào, làm ngọa cụ mới th́ nên dùng hai phần lông dê toàn màu đen, phần thứ ba màu trắng, phần thứ tư màu xám. Nếu tỳ-kheo không dùng hai phần đen, phần thứ ba trắng, phần thứ tư xám mà làm ngọa cụ mới, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Trắng: trắng tự nhiên, hoặc nhuộm thành trắng.
Lông sắc xám:[3] lông nơi đầu, nơi tai, nơi chân, hoặc các nơi khác có màu xám.
Tỳ-kheo muốn làm ngọa cụ bốn mươi bát-la,[4] lông dê, th́ phải hai mươi bát-la màu toàn đen, mười bát-la màu trắng, và mười bát-la màu xám. Muốn làm ngọa cụ ba mươi bát-la, th́ phải mười lăm bát-la màu toàn đen, c̣n mười lăm bát-la th́ phân nửa toàn màu trắng, phân nửa toàn màu xám. [615b] Muốn làm ngọa cụ hai mươi bát-la, th́ phải mười bát-la màu toàn đen, năm bát-la màu trắng, năm bát-la màu xám. Nếu tỳ-kheo không làm ngọa cụ mới bằng hai phần màu đen, phần thứ ba màu trắng, phần thứ tư màu xám mà thành, phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Không thành, phạm đột-kiết-la.
Sai người làm mà thành th́ phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề; không thành, phạm đột-kiết-la. Nếu v́ người khác làm, thành hay không thành đều phạm đột-kiết-la. Ni-tát-kỳ này phải xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hay một người, không được xả biệt chúng. Xả không thành xả phạm đột-kiết-la. Khi xả cho Tăng, đương sự phải đến trong Tăng, cởi bỏ dép, trống vai bên hữu, hướng đến Thượng tọa kính lễ, quỳ gối hữu chấm đất, chắp tay, thưa:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., làm ngọa cụ mới không dùng hai phần lông dê màu đen, phần thứ ba trắng, phần thứ tư xám, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”
Xả rồi phải sám hối. Trước hết vị nhận sám phải tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă làm ngọa cụ mới không dùng hai phần lông dê màu đen, phần thứ ba màu trắng, phần thứ tư màu xám, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi thọ sự sám hối của tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”
Tác bạch rồi, sau đó mới nhận sám. Khi nhận sám phải nói với phạm nhân rằng:
“Hăy tự trách tâm ḿnh!”
Tỳ-kheo phạm tội thưa: “Xin vâng!”
Tăng nên hoàn ngọa cụ lại cho tỳ-kheo này bằng bạch nhị yết-ma, như vầy: Tăng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă làm ngọa cụ mới, không dùng hai phần lông dê màu đen, phần thứ ba trắng, phần thứ tư xám, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, trả ngọa cụ lại cho Tỳ-kheo có tên... này. Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă làm ngọa cụ không dùng hai phần lông dê màu đen, phần thứ ba trắng, phần thứ tư xám, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Bây giờ, Tăng đem ngọa cụ này trả lại cho tỳ-kheo này. Các trưởng lăo nào đồng ư, Tăng đem ngọa cụ này trả lại cho tỳ-kheo này th́ im lặng. Vị nào không đồng ư xin nói.”
“Tăng đă chấp thuận, hoàn ngọa cụ lại cho tỳ-kheo có tên... này rồi, Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Tỳ-kheo phạm tội xả ngọa cụ cho Tăng rồi, Tăng không hoàn lại phạm đột-kiết-la.
Nếu có người bảo “đừng trả” th́ người ấy phạm đột-kiết-la; hoặc chuyển làm tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc dùng để trải măi cho hư, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, [615c] sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: nếu làm ngọa cụ mới hai phần lông dê màu đen, phần thứ ba màu trắng, phần thứ tư màu xám. Hoặc màu trắng không đủ, dùng màu xám bù vào, hoặc làm toàn màu xám. Hoặc được vật đă làm thành. Hoặc cắt rọc cho hư hoại. Hoặc làm cho hoại sắc. Hoặc làm gối, làm áo lót, làm đệm. Hoặc làm áo lót để nằm. Hoặc làm tọa cụ nhỏ vuông. Hoặc làm khăn bao b́nh bát. Hoặc làm đăy đựng dao. Hoặc làm bít tất. Hoặc làm khăn trùm cho ấm. Hoặc làm khăn gói dép, tất cả đều không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
XIV. Ngọa cụ dưới sáu năm[5]
A. Duyên khởi
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo chê ngọa cụ hoặc dày, hoặc mỏng, hoặc nặng, hoặc nhẹ. Họ không xả ngọa cụ cũ, lại làm ngọa cụ mới. Họ thường t́m kiếm ngọa cụ về dồn chứa rất nhiều. Bấy giờ, trong số các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, chê trách nhóm sáu tỳ-kheo: “Sao quư vị chê ngọa cụ cũ hoặc nhẹ, hoặc nặng, hoặc mỏng, hoặc dày; rồi không xả các cái cũ lại làm cái mới, nhiều như vậy?” Sau đó, họ đi đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, dùng mọi phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
“Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao nhóm sáu tỳ-kheo này chê ngọa cụ hoặc nhẹ, hoặc nặng, hoặc mỏng, hoặc dầy; rồi làm ngọa cụ mới, dồn chứa quá nhiều như vậy?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách rồi bảo các tỳ-kheo:
“Nhóm sáu tỳ-kheo này là những người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những kẻ phạm giới này đầu tiên. Từ này về sau, Ta v́ các tỳ-kheo chế giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, làm ngọa cụ mới, phải thọ tŕ cho đến sáu năm. Nếu chưa đủ sáu năm, không xả, mà lại làm cái mới, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Khi đức Thế Tôn đă v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy, bấy giờ, có tỳ-kheo mắc bệnh can tiêu,[6] mà cái ngọa cụ phấn tảo quá nặng. Vị ấy có chút nhân duyên muốn du hành trong nhân gian, thầm nghĩ: “Đức Thế Tôn đă chế giới: ‘Tỳ-kheo nào làm ngọa cụ mới phải thọ tŕ [616a] cho đến sáu năm. Nếu chưa đủ sáu năm, không xả ngọa cụ cũ mà lại làm ngọa cụ mới, phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.’ Nay, có chút nhân duyên muốn du hành trong nhân gian, mà ta mắc bệnh can tiêu, ngọa cụ này quá nặng, ta phải tính thế nào đây?” Tỳ-kheo ấy nói với các tỳ-kheo rằng:
“Đại đức, nay, tôi có chút nhân duyên phải du hành trong nhân gian, mà tôi mắc phải bệnh can tiêu. Ngọa cụ phấn tảo quá nặng, không thể mang theo được. Đại đức v́ tôi bạch lên đức Thế Tôn. Nếu Thế Tôn dạy thế nào, tôi sẽ phụng hành thế ấy.”
Các tỳ-kheo nghe nói như vậy rồi, đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn tập hợp các tỳ-kheo, bảo rằng:
“Từ nay trở đi, cho phép Tăng trao cho tỳ-kheo kia pháp bạch nhị yết-ma.”
Tỳ-kheo kia phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, hướng đến Thượng tọa kính lễ, quỳ gối bên hữu chấm đất, chấp tay, thưa:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., có chút nhân duyên, muốn du hành trong nhân gian mà mắc bệnh can tiêu. Ngọa cụ phấn tảo quá nặng, không thể mang theo được. Nay tôi đến xin Tăng yết-ma làm ngọa cụ mới.”
Xin như vậy ba lần.
Trong chúng nên sai một vị có khả năng làm yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., muốn du hành trong nhân gian mà mắc bệnh can tiêu. Có ngọa cụ phấn tảo nặng. Nay đến xin Tăng yết-ma làm ngọa cụ mới. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, Tăng trao cho tỳ-kheo này pháp yết-ma làm ngọa cụ mới. Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., muốn du hành trong nhân gian, mà mắc bệnh can tiêu. V́ có ngọa cụ phấn tảo quá nặng nên nay đến xin Tăng yết-ma may ngọa cụ mới. Nay Tăng trao cho Tỳ-kheo có tên... yết-ma may ngọa cụ mới. Trưởng lăo nào đồng ư, Tăng trao cho Tỳ-kheo có tên... pháp yết-ma may ngọa cụ mới th́ im lặng. Vị nào không đồng ư xin nói.”
“Tăng đă chấp thuận, trao cho Tỳ-kheo có tên... pháp yết-ma may ngọa cụ mới rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Đức Phật dạy, từ nay về sau nên nói giới như vầy:
B. Giới tướng
Tỳ-kheo nào, làm ngọa cụ mới, phải thọ tŕ cho đến sáu năm. Nếu chưa đủ sáu năm, không xả, mà lại làm cái mới, trừ Tăng yết-ma, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Nếu tỳ-kheo chưa đủ sáu năm, không bỏ cái cũ mà lại làm cái ngọa cụ mới, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Làm mà [616b] không thành, phạm đột-kiết-la. Sai người khác làm thành th́ phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề; không thành, phạm đột-kiết-la. V́ người mà làm, thành hay không thành đều phạm đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ này phải xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người, không được xả biệt chúng. Xả không thành xả phạm đột-kiết-la.
Khi xả cho Tăng, đương sự phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, hướng đến Thượng tọa kính lễ, quỳ gối bên hữu chấm đất, chấp tay, thưa:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo tên là..., chưa đủ sáu năm, không xả cái ngọa cụ cũ mà lại làm cái ngọa cụ mới, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”
Xả rồi phải sám hối. Vị nhận sám hối trước hết phải tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., chưa đủ sáu năm, không xả ngọa cụ cũ, mà lại làm các ngọa cụ mới, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”
Tác bạch như vậy rồi, sau đó mới nhận sám hối. Khi nhận sám, vị ấy nên nói với tỳ-kheo phạm tội:
“Hăy tự trách tâm!”
Vị phạm tội thưa: “Xin vâng!”
Tăng nên hoàn ngọa cụ lại cho tỳ-kheo này bằng bạch nhị yết-ma, như vầy:
Trong Tăng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., chưa đủ sáu năm, không xả cái ngọa cụ cũ mà lại làm cái mới, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, trả lại ngọa cụ cho tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., chưa đủ sáu năm, không xả ngọa cụ cũ, mà lại làm cái mới, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay, Tăng đem ngọa cụ này, trả lại cho tỳ-kheo này. Các trưởng lăo nào chấp thuận, Tăng đem ngọa cụ này, trả lại cho tỳ-kheo này th́ im lặng. Vị nào không đồng ư xin nói.”
“Tăng đă chấp thuận, trả ngọa cụ cho tỳ-kheo này rồi. Tăng đồng tâm ư nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Tỳ-kheo phạm tội như vậy, đối giữa Tăng xả ngọa cụ rồi, Tăng không hoàn lại, phạm đột-kiết-la. Nếu có người bảo “đừng trả”, người ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu lấy chuyển làm tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc trải măi cho hư hoại, hoặc làm phi ngọa cụ, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: Tăng cho phép. Đủ sáu năm, hoặc chưa đủ sáu năm mà xả cái cũ, làm cái mới, hoặc là không có nên làm, hoặc người khác làm cho, hoặc được vật đă thành th́ không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo [616c] bức bách.
XV. Tọa cụ không hoại sắc[7]
A. Duyên khởi
Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, đức Thế Tôn sai người lấy thức ăn về.[8]
Theo thường pháp của chư Phật, sau khi các tỳ-kheo đi thọ thực, đức Phật đi khắp các pḥng. Ngài thấy tọa cụ cũ vất bỏ bừa băi khắp nơi, hoặc trong nhà tắm[9], hoặc trong nhà giáo thọ, hoặc chỗ đi kinh hành, hoặc trên đá rửa chân, hoặc trên đống đất ở trước cửa, hoặc trên cây nọc, hoặc trên cọc ngà voi,[10] hoặc nơi giá y, hoặc trên giường dây, giường gỗ, hoặc trên ghế đẩu, hoặc ở trên đất, không có người thu dọn.
Đức Thế Tôn thấy vậy, nghĩ rằng: “Các tỳ-kheo chê tọa cụ, hoặc nặng, hoặc nhẹ, hoặc mỏng, hoặc dày. Không bỏ cái cũ mà lại làm cái mới, tích tụ tọa cụ nhiều quá, vất bỏ bừa băi khắp nơi, không người thu dọn. Nay Ta nên làm thế nào để các tỳ-kheo dùng lại tọa cụ cũ.” Ngài lại nghĩ: “Ta nên cho phép các tỳ-kheo khi làm tọa cụ mới, phải lấy một miếng tọa cụ cũ vuông vức bằng một gang tay, may lên cái mới, cho hoại sắc.”
Đức Thế Tôn dùng cơm xong, v́ nhân duyên này, tập hợp Tăng tỳ-kheo, bảo rằng:
“Vừa rồi, sau khi chúng Tăng đi thọ thỉnh, Ta đi khắp các pḥng, thấy các tọa cụ cũ vất bỏ bừa băi khắp nơi, không có người thu dọn. Ta thấy vậy, nghĩ rằng, các tỳ-kheo hoặc bảo tọa cụ tôi nặng, hoặc bảo nhẹ; hoặc bảo mỏng, hoặc bảo dày; không xả tọa cụ cũ, mà lại làm tọa cụ mới. Những cái cũ vất bỏ bừa băi khắp nơi, không người thu dọn. Thấy vậy, Ta nghĩ: Làm thế nào để các tỳ-kheo dùng lại tọa cụ cũ? Ta lại nghĩ, nay, Ta cho phép các tỳ-kheo khi làm tọa cụ mới, nên lấy một miếng của cái cũ vuông vức một gang tay, may lên trên cái mới để cho hoại sắc. Do đó, cho phép các tỳ-kheo khi làm tọa cụ mới, nên lấy cái cũ, vuông vức một gang tay đắp lên trên cái mới, để cho hoại sắc.”
Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo nghe đức Thế Tôn cho phép tỳ-kheo khi may tọa cụ mới, phải lấy một miếng của cái cũ vuông vức một gang tay may lên trên cái mới, cho hoại sắc. Nhưng khi họ may tọa cụ mới, không lấy một miếng của cái cũ, vuông vức một gang tay đắp lên trên cái mới cho hoại sắc.
Trong số các Tỳ-kheo nghe thấy đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo: “Tại sao đức Thế Tôn cho phép các tỳ-kheo khi may tọa cụ mới, phải lấy một miếng của cái cũ, vuông vức một gang tay, may lên trên cái mới để cho hoại sắc, mà quư vị làm cái mới, không lấy một miếng của cái cũ, vuông vức [617a] một gang tay đắp lên trên cái mới?” Hiềm trách rồi, họ đi đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ, ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ.
Đức Thế Tôn dùng nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo quở trách nhóm sáu tỳ-kheo: “Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tại sao ta v́ các tỳ-kheo chế giới: ‘Tỳ-kheo làm tọa cụ mới, phải lấy một miếng của cái cũ, vuông vức một gang tay, may lên trên cái mới cho hoại sắc.’ Mà các ông may tọa cụ mới, không lấy một miếng của cái cũ, vuông vức một gang tay đắp lên trên cái mới?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách rồi bảo các tỳ-kheo: “Nhóm sáu tỳ-kheo này là những người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
B. Giới tướng
Tỳ-kheo nào, may tọa cụ mới, phải lấy một miếng của cái cũ vuông vức một gang tay, may lên trên cái mới, cho hoại sắc. Nếu may tọa cụ mới, không lấy một miếng của cái cũ vuông vức một gang tay đắp lên trên cái mới, cho hoại sắc, ni-tát-kỳ ba-dật -đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Tỳ-kheo nào muốn may tọa cụ mới, bấy giờ, nếu tọa cụ cũ chưa hư, chưa bị rách lỗ, nên sửa sang giặt nhuộm, kéo cho thẳng, cắt rọc một miếng vuông vức bằng một gang tay, đặt vào chính giữa, hay ngoài biên, may lên trên cái mới để cho hoại sắc. Nếu tỳ-kheo không lấy một miếng cũ may lên trên cái mới cho hoại sắc, mà chỉ may cái mới; nếu may thành, phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề; may không thành, phạm đột-kiết-la. Khiến người khác làm mà thành, phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề; không thành, phạm đột-kiết-la. V́ người làm, thành không thành đều phạm đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ này phải xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người, không được xả biệt chúng. Xả không thành xả, phạm đột-kiết-la.
Khi xả cho Tăng, nên đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, hướng đến Thượng tọa kính lễ, quỳ gối bên hữu chấm đất, chấp tay, thưa:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., đă may tọa cụ mới, không lấy một miếng của cái cũ may lên trên cái mới cho hoại sắc, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”
Xả rồi phải sám hối. Vị nhận sám trước hết phải tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă may tọa cụ mới, không lấy một miếng của cái cũ [617b] may lên trên cho hoại sắc, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi thọ sự sám hối của tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”
Tác bạch rồi, sau đó mới nhận sám hối. Khi nhận sám nên nói với tỳ-kheo phạm tội rằng:
“Hăy tự trách tâm ngươi!”
Phạm nhân thưa: “Xin vâng!”
Tăng nên trả tọa cụ lại cho tỳ-kheo này liền, bằng bạch nhị yết-ma, như vầy: Tăng nên sai một vị có khả năng bạch nhị yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là..., đă may tọa cụ mới, không lấy một miếng của cái cũ may lên trên cho hoại sắc, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, trả tọa cụ lại cho tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă may tọa cụ mới, không lấy một miếng của cái cũ may lên trên cho hoại sắc, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng đem tọa cụ này trả lại cho tỳ-kheo này. Các trưởng lăo nào đồng ư, Tăng đem tọa cụ này trả lại cho tỳ-kheo này th́ im lặng. Vị nào không đồng ư xin nói.”
“Tăng đă chấp thuận, trả tọa cụ lại cho tỳ-kheo có tên... này rồi. Tăng đồng tâm ư nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Nếu tỳ-kheo phạm tội xả tọa cụ cho Tăng rồi, Tăng không trả lại, phạm đột-kiết-la. Nếu có người bảo “đừng trả”, người ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu lấy chuyển làm tịnh thí hoặc tự ḿnh thọ, hoặc sai cho người, hoặc ngồi măi cho hư, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: cắt lấy một miếng của cái cũ may lên trên cái mới cho hoại sắc. Hoặc người ấy không có, được may cái mới. Hoặc người khác v́ ḿnh may. Hoặc được cái đă làm thành rồi. Hoặc may cái hoàn toàn cũ th́ không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
A. Duyên khởi
Một thời, đức Thế Tôn ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá- vệ.
Bấy giờ, Bạt-nan-đà Thích tử,[12] trên đường đi nhận được nhiều lông dê, cột trên đầu cây trượng quảy đi. Các cư sĩ thấy vậy cơ hiềm: ‘Sao sa-môn Thích tử lại đi mua bán lông dê?’ Và hỏi rằng: ‘Đại đức, lông dê này có bán không?’
Các tỳ-kheo nghe những lời này, trong số đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách Bạt-nan-đà rằng: ‘Sao lấy lông dê cột vào đầu trượng, quảy đi dọc đường?’
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, [617c] rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ.
Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách Bạt-nan-đà Thích tử:
“Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao lại quảy lông dê đi trên đường để cho cư sĩ chê trách?”
Đức Thế Tôn dùng mọi phương tiện quở trách, rồi bảo các tỳ-kheo:
“Đây là người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
B. Giới tướng
Tỳ-kheo nào, khi đi đường được lông dê, nếu không có người mang, tự ḿnh được mang đi cho đến ba do tuần. Nếu không có người mang, tự ḿnh mang đi quá ba do tuần, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Nếu tỳ-kheo trên đường đi, hoặc tại trú xứ, nhận được lông dê, nếu cần th́ lấy. Nếu không có người mang, tự ḿnh được phép mang đi, cho đến ba do tuần. Nếu có người mang th́ nên nói với người ấy rằng: ‘Nay tôi có vật này, nhờ mang giúp tôi đến chỗ đó.’ Trong khoảng này, tỳ-kheo không được tiếp tay mang. Nếu tiếp tay mang phạm đột-kiết-la. Nếu bảo tỳ-kheo-ni mang, quá ba do tuần, phạm đột-kiết-la; nếu bảo thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, mang quá ba do-tuần, phạm đột-kiết-la. Trừ lông dê, mang các vật khác như: câu-giá-la, cỏ nhũ diệp, sô ma, ma, xí-la-bà-ny,[13] mà mang quá ba do-tuần phạm đột-kiết-la. Nếu quảy các vật khác nơi đầu trượng mà đi cũng phạm đột-kiết-la.
Ni-tát-kỳ này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người, không được xả biệt chúng. Xả không thành xả phạm đột-kiết-la.
Khi xả cho Tăng, phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, hướng đến Thượng tọa kính lễ, quỳ gối bên hữu chấm đất, chấp tay, thưa:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., đă quảy lông dê đi quá ba do tuần, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”
Xả rồi phải sám hối. Vị nhận sám trước hết phải tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă quảy lông dê đi quá ba do tuần, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo có tên... này. Đây là lời tác bạch.”
Tác bạch rồi, sau đó mới nhận sám. Khi nhận sám phải nói với tỳ-kheo phạm tội rằng:
“Hăy tự trách [618a] tâm ngươi!”
Đương sự thưa: “Xin vâng!”
Tăng nên trả lông dê lại cho tỳ-kheo này bằng bạch nhị yết-ma như vầy: Tăng nên sai một vị có khả năng tác yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă quảy (gánh) lông dê đi quá ba do tuần, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng. Tăng chấp thuận, trả lông dê lại cho tỳ-kheo có tên... này. Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă quảy lông dê đi quá ba do tuần, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng đem lông dê này, trả lại cho tỳ-kheo này. Trưởng lăo nào chấp thuận, Tăng đem lông dê này trả lại cho tỳ-kheo này th́ im lặng. Vị nào không đồng ư xin nói.”
“Tăng đă chấp thuận trả lông dê lại cho tỳ-kheo có tên... này rồi. Tăng chấp thuận, nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Nếu tỳ-kheo đă xả giữa Tăng rồi mà không trả lại, Tăng phạm đột-kiết-la. Nếu có người bảo “đừng trả”, người ấy phạm đột-kiết-la.
Hoặc chuyển làm tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc dùng măi cho hư, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, tất cả đều phạm đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: nếu mang đi cho đến ba do tuần, hoặc dưới ba do tuần. Hoặc có người mang giúp, bảo họ mang đến chỗ đó, mà khoảng ấy ḿnh không mang giúp. Sai tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni gánh đi ba do tuần. Hoặc lông mịn, giây bằng lông để trang sức, lông đầu, lông trên cổ, lông chân. Hoặc làm măo làm khăn trùm cho ấm. Hoặc gói dép. Tất cả đều không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
A. Duyên khởi
Một thời, đức Phật ở giữa Thích-sí-sấu[15] trong vườn Ni-câu-luật, Ca-duy-la-vệ.
Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo làm tọa cụ mới bằng lông dê, sai tỳ-kheo-ni giặt, nhuộm, chải.
Tỳ-kheo-ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề v́ nhuộm, nên tay bị dính thuốc nhuộm. Bà đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi đứng qua một bên. Đức Thế Tôn biết mà vẫn hỏi:
“Cù-đàm-di, sao tay của D́ có màu sắc giống như thợ nhuộm vậy?”
Cù-đàm-di bạch Phật: “Nhóm sáu tỳ-kheo muốn làm tọa cụ mới, nên đem lông dê đến, bảo chúng con giặt nhuộm chải, cho nên tay bị bẩn.”
Bà đảnh lễ dưới chân Phật, rồi trở về chỗ ở.
Đức Thế Tôn [618b] v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo. Ngài biết mà vẫn hỏi nhóm sáu tỳ-kheo:
“Có thật các ông làm tọa cụ mới, sai tỳ-kheo-ni giặt, nhuộm, chải hay không?”
Nhóm sáu tỳ-kheo thưa: “Bạch đức Thế Tôn, có thật như vậy.”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
“Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao lại bảo tỳ-kheo-ni giặt, nhuộm, chải lông dê?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách rồi bảo các tỳ-kheo: “Nhóm sáu tỳ-kheo là những người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, sai tỳ-kheo-ni giặt, nhuộm, chải lông dê, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Khi đức Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy rồi, các tỳ-kheo đều có sự nghi ngại, không dám sai tỳ-kheo-ni thân quyến giặt nhuộm chải lông dê. Đức Phật dạy:
“Cho phép thân lư được giặt, nhuộm, chải. Từ nay trở đi, Ta v́ tỳ-kheo kết giới:..”
B. Giới tướng
Tỳ-kheo nào, sai tỳ-kheo-ni không phải thân quyến giặt, nhuộm, chải lông dê, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo, chẳng phải thân lư, thân lư: cũng như trên đă giải.
Nếu tỳ-kheo nào, sai tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến giặt, nhuộm, chải lông dê, phạm ba ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Nếu sai giặt, nhuộm, chải mà người kia chỉ giặt, nhuộm chứ không chải th́ phạm hai ni-tát-kỳ ba-dật-đề và một đột-kiết-la.[16]
Sai giặt, nhuộm, chải; người kia giặt, không nhuộm mà chải; (tỳ-kheo) phạm hai ni-tát-kỳ ba-dật-đề và một đột-kiết-la.
Sai người giặt, nhuộm, chải; người kia không giặt mà nhuộm, chải, (tỳ-kheo) phạm hai ni-tát-kỳ ba-dật-đề và một đột-kiết-la.
Sai giặt, nhuộm, chải; người kia không giặt, nhuộm, chải, (tỳ-kheo) phạm ba đột-kiết-la.
Sai sa-di-ni, thức-xoa-ma-na chẳng phải thân quyến giặt, nhuộm, đập, phạm đột-kiết-la.
Vật này phải xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người, không được xả biệt chúng. Xả không thành xả, phạm đột-kiết-la.
Khi xả, phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, hướng đến Thượng tọa kính lễ, quỳ gối bên hữu chấm đất, chấp tay, thưa:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., đă sai tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến giặt, nhuộm, chải lông dê, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”
Xả rồi phải sám hối, vị nhận sám trước hết phải tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă sai [618c] tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến giặt, nhuộm, chải lông dê, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo có tên... này. Đây là lời tác bạch.”
Bạch rồi, sau đó mới nhận sám. Khi nhận sám nên nói với tỳ-kheo phạm tội rằng: “Hăy tự trách tâm ngươi!”
Phạm nhân thưa: “Xin vâng!”
Tăng phải trả lông dê lại cho tỳ-kheo này bằng bạch nhị yết-ma, như vầy: Tăng nên sai một vị có khả năng tác yết-ma dựa theo sự việc trên tác bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là... đă sai tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến giặt nhuộm chải lông dê, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận hoàn lông dê lại cho tỳ-kheo có tên... này. Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă sai tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến giặt nhuộm chải lông dê, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng đem lông dê này hoàn lại cho tỳ-kheo này. Trưởng lăo nào chấp thuận, Tăng đem lông dê này hoàn lại cho tỳ-kheo này th́ im lặng. Vị nào không đồng ư xin nói.”
“Tăng đă chấp thuận trao lông dê lại cho tỳ-kheo có tên... này rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Giữa Tăng, tỳ-kheo ấy xả lông dê rồi, Tăng không hoàn lại, phạm đột-kiết-la. Có người bảo “đừng trả”, người ấy phạm đột-kiết-la.
Nếu chuyển tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc dùng măi, hoặc cố ư làm cho hư, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni đều đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: sai tỳ-kheo-ni thân quyến giặt nhuộm chải. Hoặc v́ người bệnh giặt, nhuộm, chải. Hoặc v́ chúng Tăng, v́ Phật, v́ tháp, giặt nhuộm, chải. Tất cả không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
XVIII. Cầm giữ vàng bạc[17]
A. Duyên khởi
Một thời, đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, tại thành La-duyệt.
Bấy giờ, trong thành này có một vị Đại thần vốn là bạn quen thân trước kia của Bạt-nan-đà.[18] Một hôm nọ, vị Đại thần nhận được nhiều thịt heo, liền bảo người vợ: “Bạt-nan-đà Thích tử là thân hữu của tôi. Nên để phần thịt cho người.”
Người vợ theo lệnh của chồng, liền để phần thịt cho Bạt-nan-đà.
Hôm ấy là ngày tiết hội của mọi người ở thành Vương-xá nên có tổ chức các thứ kỹ nhạc, suốt đêm không ngủ. Bấy giờ, mấy đứa con của vị Đại thần cũng ở trong số người đó. V́ suốt đêm không ngủ, chúng đói và mệt, nên hỏi mẹ: “Thịt heo c̣n không?”
Mẹ của chúng bảo rằng: “Hết rồi. Chỉ c̣n phần của Bạt-nan-đà họ Thích thôi.”
Các con liền đưa tiền cho mẹ và nói:
“Mẹ cầm tiền này, sáng ngày ra chợ mua lại phần thịt cho [619a1] Bạt-nan-đà. C̣n phần thịt đó cho chúng con.”
Mẹ của chúng lấy tiền và trao phần thịt cho chúng.
Sáng sớm, Bạt-nan-đà đắp y, bưng bát, đến nhà vị Đại thần, ngồi nơi chỗ dọn sẵn. Bấy giờ, vợ của vị Đại thần thưa rằng:
“Hôm qua, gia đ́nh có nhận được nhiều thịt heo. Ông trưởng giả bảo tôi, ‘Bạt-nan-đà Thích tử là bạn cũ của tôi. Nên để dành phần thịt cho người.’ Theo lệnh của chồng, tôi có để phần thịt cho Đại đức. Nhưng khi hôm, gặp ngày tiết hội, mấy đứa con tôi thức khuya đói bụng, nên đến đ̣i phần thịt đó. Chúng đưa tôi năm tiền và bảo: ‘Sáng ngày, ra chợ mua phần thịt lại cho Bạt-nan-đà. C̣n phần thịt đó cho chúng con.’ Tôi đă trao thịt cho chúng nó. Số tiền này, bây giờ, tôi sẽ ra chợ mua lại phần thịt như vậy. Đại đức có thể chờ một chút.”
Bạt-nan-đà liền hỏi: “Chúng v́ tôi đưa tiền phải không?”
“Vâng, chúng nó có đưa.”
“Như v́ tôi, th́ đưa số tiền đó cho tôi. Khỏi cần mua thịt.”
Bấy giờ, vợ của vị Đại thần liền đặt tiền xuống đất cho Bạt-nan-đà. Bạt-nan-đà nhận được tiền này rồi, đem gởi nơi hiệu buôn quen và đi. Các cư sĩ thấy vậy đều cơ hiềm: “Sa-môn Thích tử mua bán tiền tài. Đem tiền gởi nơi hiệu buôn rồi đi.” Trong số các tỳ-kheo nghe nói đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách Bạt-nan-đà:
“Sao Thầy tự tay nhận tiền, đem gởi nơi hiệu buôn, rồi đi?”
Cũng lúc ấy, vua cùng các Đại thần hội hợp nhau, bàn luận rằng: “Sa-môn Thích tử được nắm cầm vàng bạc hoặc tiền. Sa-môn Thích tử không cần phải xả bỏ vàng bạc hoặc tiền, trân châu, bảo châu, anh lạc và sinh tượng.[19]”
Lúc bấy giờ, trong pḥng họp có vị Đại thần, tên là Châu Kế,[20] nói với các Đại thần rằng: “Không nên nói những lời này: ‘Sa-môn Thích tử được phép nắm cầm vàng bạc hoặc tiền, không xả bỏ trân bảo châu anh.’ Tại sao vậy? Chính v́ tôi đă được nghe từ đức Như Lai dạy: ‘Sa-môn Thích tử không được phép nắm cầm vàng bạc hoặc tiền.’ Sa-môn Thích tử xa ĺa trân bảo, châu anh.”
Bấy giờ, vị Đại thần Châu Kế có oai thế, có khả năng tŕnh bày khéo léo, khiến mọi người hoan hỷ tin hiểu. Sau đó, Châu Kế liền đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ, rồi thưa: “Những điều con nói như vậy, đối với giáo pháp có sai trái hay không?”
Đức Phật bảo Đại thần:
“Đúng như điều ông nói, ở trong chánh pháp có nhiều lợi ích. Không có ǵ sai trái. Tại sao vậy? Sa-môn Thích tử không được phép nắm cầm vàng bạc hoặc tiền. Sa-môn Thích tử xa ĺa trân bảo, châu ngọc, anh lạc, không dùng nó để trang sức làm đẹp. Nay ông nên biết, nếu nắm cầm vàng bạc hoặc tiền, không xa ĺa châu ngọc, anh lạc, trân bảo, th́ cũng sẽ thọ dụng ngũ dục. Nếu thọ dụng [619b] ngũ dục th́ chẳng phải là pháp của sa-môn Thích tử.
“Này Đại thần, ông nên biết, nếu thấy sa-môn Thích tử nào gọi Ta là Thầy mà cầm vàng bạc hoặc tiền, trân bảo th́ quyết định biết rằng đó chẳng phải là pháp của sa-môn Thích tử. Ta có nói như vầy: ‘Nếu tỳ-kheo nào, v́ làm thất, cần cây gỗ, tranh tre v.v... th́ được phép nhận. Nhưng không nên v́ tự thân mà nhận.’[21]
“Đại thần nên biết, mặt trời, mặt trăng có bốn tai hoạn khiến cho không sáng, không trong sạch, không có khả năng chiếu soi, cũng không có oai thần. Bốn cái tai hoạn đó là ǵ? Là a-tu-la,[22] khói, mây, bụi mù. Đó là những đại hoạn của mặt trời, mặt trăng. Nếu gặp những hoạn này th́ mặt trời, mặt trăng không sáng, không trong sạch, không có khả năng chiếu soi, cũng không có oai thần. Lại cũng như vậy, sa-môn, bà-la-môn cũng có bốn cái tai hoạn khiến cho không sáng, không sạch, không có khả năng soi chiếu, cũng không có oai thần. Bốn tai hoạn đó là ǵ? Nếu sa-môn, bà-la-môn không bỏ uống rượu, không bỏ dâm dục, không bỏ dùng tay nắm vàng bạc, không bỏ sự sống tà mạng. Đó gọi là bốn đại hoạn của sa-môn, bà-la-môn. Nó có khả năng khiến cho sa-môn, bà-la-môn không sáng, không sạch, không có khả năng soi chiếu, cũng không có oai thần.”
Trong số các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống với hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách Bạt-nan-đà, rồi đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này tŕnh lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ.
Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện quở trách Bạt-nan-đà: “Việc làm của ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao lại tự tay nắm cầm tiền, đem gởi hiệu buôn, rồi đi?”
Quở trách rồi, Phật bảo các tỳ-kheo: “Đây là người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
B. Giới tướng
Tỳ-kheo nào, tự tay cầm tiền, hoặc vàng, bạc, hoặc bảo người cầm, hoặc nhận từ dưới đất,[23] ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Tiền: trên có h́nh hay nét vẽ.[24]
Tỳ-kheo tự tay cầm vàng bạc hoặc tiền, bảo người cầm, hoặc nhận từ nơi đất, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Vật này nên xả.
Trong đây, xả như vầy: Nếu ở đó có người giữ vườn tin cậy, hoặc ưu-bà-tắc, th́ nên nói với họ rằng: “Vật này không thích hợp với tôi, ông biết cho.” Nếu người ấy lấy cất, rồi trao lại cho tỳ-kheo th́ tỳ-kheo nên [619c] nhận như là vật của người khác. Nhận rồi bảo tịnh nhân cất. Nếu được tịnh y, bát, ống đựng kim, ni-sư-đàn nên đem trao đổi để thọ tŕ. Nếu ưu-bà-tắc kia nhận rồi trao cho tỳ-kheo tịnh y, bát, hoặc ni-sư-đàn, hay ống đựng kim th́ nên nhận để thọ tŕ. Nếu người kia lấy rồi mà không trả lại th́ nên khiến các tỳ-kheo khác nói với họ rằng: “Đức Phật dạy, v́ muốn tịnh nên trao cho ông. Ông nên trao vật ấy lại cho tỳ-kheo kia.” Nếu người kia lấy rồi không trả lại, mà các tỳ-kheo khác không nói th́ ḿnh nên tự đến nói với họ rằng: “Đức Phật dạy, v́ muốn tịnh nên trao cho ông. Nay ông nên trao cho Tăng, cho tháp, cho Ḥa thượng, cho đồng Ḥa thượng, cho A-xà-lê, cho đồng A-xà-lê, cho các cựu tri thức, hoặc hoàn lại nơi người chủ kia.” V́ sao? V́ không muốn mất vật của tín thí kia. Nếu không nói với người kia: “Hăy biết cái này. Hăy nh́n cái này”;[25] phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: nếu có nói “Hăy biết cái này. Hăy nh́n cái này.” Hoặc có người giữ vườn, hay ưu-bà-tắc có tín tâm, nói với họ: “Vật này không thích hợp; tôi không nên nhận. Ông nên biết cho.” Người kia nhận rồi, hoàn lại cho tỳ-kheo. Tỳ-kheo nên v́ thí chủ nhận, rồi trao cho tịnh nhân cất. Sau, nếu cần được y, bát tịnh, ống đựng kim, ni-sư-đàn, th́ đem trao đổi để thọ tŕ. Nếu người kia lấy rồi, trao cho y bát tịnh, hoặc tọa cụ, hoặc ống đựng kim, th́ nên nhận để thọ tŕ. Nếu người kia không chịu trao cho y th́ nên nhờ các tỳ-kheo khác nói với họ rằng: “Đức Phật dạy, v́ muốn tịnh nên trao cho ông. Ông nên trao vật ấy lại cho tỳ-kheo kia.” Nếu người kia lấy rồi không trả lại, mà các tỳ-kheo khác không nói th́ ḿnh nên tự đến nói với họ rằng: “Đức Phật dạy, v́ muốn tịnh nên trao cho ông. Nay ông nên trao cho Tăng, cho tháp, cho Ḥa thượng, cho đồng Ḥa thượng, cho A-xà-lê, cho đồng A-xà-lê, cho các cựu tri thức, hoặc hoàn lại nơi người chủ kia.” Không nên để mất phẩm vật của tín thí. Tất cả như vậy th́ không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
A. Duyên khởi
Một thời, đức Thế Tôn ở trong núi Kỳ-xà-quật, tại La-duyệt-kỳ.
Bấy giờ, Bạt-nan-đà đến hiệu buôn, dùng tiền đổi tiền, rồi mang đi. Các cư sĩ thấy vậy đều cơ hiềm rằng: “Sa-môn Thích tử dùng tiền đổi tiền, rành nghề mua bán.”
Trong số các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục, tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, [620a1] biết tàm quư hiềm trách Bạt-nan-đà rằng: “Sao lại đem tiền đổi tiền, rồi mang đi?”
Chư tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ.
Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách Bạt-nan-đà rằng: “Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao lại dùng tiền để đổi tiền?”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách, rồi bảo các tỳ-kheo:
“Đây là người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn nói giới nên nói như vầy:
B. Giới tướng
Tỳ-kheo nào, kinh doanh tiền tài bảo vật, dưới mọi h́nh thức, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Kinh doanh dưới mọi h́nh thức:[27] dùng vàng thành[28] đổi vàng thành; vàng chưa thành đổi vàng đă thành; vàng chưa thành đổi bạc thành; bạc chưa thành, đổi bạc đă thành; bạc chưa thành đổi lấy tiền. Dùng vàng chưa thành đổi vàng thành; đổi vàng chưa thành, đổi vàng đă thành chưa thành; đổi bạc thành, đổi bạc chưa thành; đổi bạc đă thành và chưa thành, đổi tiền. Dùng vàng đă thành chưa thành đổi vàng thành; đổi vàng chưa thành, đổi vàng đă thành chưa thành; đổi bạc thành, đổi bạc chưa thành; đổi bạc đă thành và chưa thành, đổi tiền. Dùng bạc đă thành, đổi vàng, cho đến đổi tiền cũng như vậy. Dùng bạc chưa thành đổi vàng, cho đến đổi tiền cũng như vậy. Dùng bạc đă thành chưa thành đổi vàng, cho đến đổi tiền cũng như vậy. Dùng tiền đổi vàng, cho đến đổi tiền cũng như vậy.
Tiền[29]: có tám loại: tiền vàng, tiền bạc, tiền thiếc, tiền đồng, tiền bạch lạp, tiền ch́ thiếc, tiền cây, tiền hồ giao.
Nếu tỳ-kheo nào, kinh doanh các loại bảo vật dưới mọi h́nh thức, dùng vàng thành đổi vàng thành, cho đến đổi tiền, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Vật này phải xả.
Phương thức xả: Nếu người giữ vườn, hoặc ưu-bà-tắc có tín tâm, nên nói với họ rằng: “Vật này không thích hợp với tôi. Ông biết cho!” Nếu người kia nhận rồi hoàn lại cho tỳ-kheo th́ tỳ-kheo nên nhận như là của người khác, rồi bảo tịnh nhân cất. Sau đó, nếu cần tịnh y, bát, tọa cụ, ống đựng kim th́ đem đổi để thọ tŕ. Nếu người kia nhận rồi, trao cho tỳ-kheo y bát tịnh, tọa cụ, ống đựng kim, th́ nên thọ tŕ. Nếu người kia nhận rồi mà không trả lại cho tỳ-kheo [620b] th́ nên nhờ các tỳ-kheo khác nói với họ rằng: “Đức Phật dạy, v́ muốn tịnh nên trao cho người. Người nên hoàn vật ấy lại cho tỳ-kheo kia.” Nếu tỳ-kheo khác nói mà họ vẫn không trả th́ ḿnh tự đến nói: “Đức Phật dạy, v́ muốn tịnh nên trao cho người. Nay người nên trao cho Tăng, cho tháp, cho Ḥa thượng, cho đồng Ḥa thượng, cho A-xà-lê, cho đồng A-xà-lê, cho cựu tri thức thân, hoặc hoàn lại cho người chủ cũ.” Tại sao vậy? V́ không muốn mất phẩm vật của thí chủ. Nếu tỳ-kheo không nói với người kia rằng: “Hăy xem cái này! Hăy nhận biết cái này!” phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: nếu nói với người kia: “Hăy biết cái này! Hăy nh́n cái này!” Hoặc có nói với người giữ vườn, hay nói ưu-bà-tắc tín tâm rằng: “Vật này không thích hợp với tôi. Ông biết cho!” Nếu người kia nhận rồi hoàn lại cho tỳ-kheo th́ tỳ-kheo nên nhận như là của người khác, rồi bảo tịnh nhân cất. Sau đó, nếu cần tịnh y, bát, tọa cụ, ống đựng kim th́ đem đổi để thọ tŕ. Nếu người kia nhận rồi, trao cho tỳ-kheo y bát tịnh, tọa cụ, ống đựng kim, th́ nên thọ tŕ. Nếu người kia nhận rồi mà không trả lại cho tỳ-kheo th́ nên nhờ các tỳ-kheo khác nói với họ rằng: “Đức Phật dạy, v́ muốn tịnh nên trao cho người. Người nên hoàn vật ấy lại cho tỳ-kheo kia.” Nếu tỳ-kheo khác nói mà họ vẫn không trả th́ ḿnh tự đến nói: “Đức Phật dạy, v́ muốn tịnh nên trao cho người. Nay người nên trao cho Tăng, cho Tháp, cho Ḥa thượng, cho đồng Ḥa thượng, cho A-xà-lê, cho đồng A-xà-lê, cho cựu tri thức thân, hoặc hoàn lại cho người chủ cũ.” Tại sao vậy? V́ không muốn mất phẩm vật của thí chủ. Nếu dùng tiền đổi dụng cụ anh lạc v́ Phật, Pháp, Tăng; hoặc dùng đồ anh lạc đổi tiền v́ Phật, Pháp, Tăng, th́ không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
[1] Ngọa cụ 臥具. Thập tụng tr.48a28; Căn bản 21 (tr.736b4): phu cụ 敷具. Ngũ phần 5 (tr.35a25), ni-tát-kỳ 23; Tăng kỳ 9 (tr.307b19), ni-tát-kỳ 12. Pāli, Nissaggiya 13, dve bhāgā suddha-kāḷakānaṃ, Vin. iii. 226ff.
[2] Thuần bạch dương mao 純白羊毛. Ngũ phần, nt.,Thập tụng, Căn bản, nt.: thuần hắc nhu dương mao 純黑羺羊毛. Pāli: suddhakāḷakānaṃ eḷakalomāṇaṃ, lông dê toàn đen.
[3] Hán: mang sắc 尨色. Thích từ không có trong giới văn. Giới văn nói: tứ phần mang 四分尨, phần thứ tư xám. Ngũ phần 5 (tr.35b04), Thập tụng 4 (tr.48b11): đệ tứ phần hạ 第四分下; được giải thích: hạ, chỉ lông đầu, lông bụng, lông gót chân. Căn bản 21 (tr.736b09): đệ tứ phần thô 第四分麁, giải thích: thô, chỉ lông đầu, lông bụng và lông chân. Pāli: catutthaṃ gocariyānam, phần thứ tư màu nâu đỏ (hạt sắc).
[4] Bát-la 缽羅. Ngũ phần nt., Thập tụng nt.: ba-la 波羅. (Pāli: pala, đơn vị trọng lượng). Căn bản 21 (tr.736b16): thí dụ, ngọa cụ nặng 10 cân, th́ 5 cân toàn đen, 2,5 cân trắng và 2,5 cân thô. Cf. Pāli (Vin.iii.227): 2 tūla (cân) đen, 1 tūla trắng, 1 tūla nâu đỏ.
[5] Tăng kỳ tr.308b12; Thập tụng tr.48b25; Căn bản tr.736b23. Pāli: Nissaggiya 14, santhanachabbassāni, Vin.iii. 227. Ngũ phần (tr.35b), ni-tát-kỳ 24.
[6] Xem Ni-tát-kỳ 2, cht. 23.
[7] Tọa cụ 坐具, khăn trải để ngồi. Pāli: nisīdana (ni-sư-đàn). Căn bản 21: phu cụ 敷具. Pāli: Nissaggiya 15, nisīdanadubbaṇṇa-karaṇa, Vin.iii. 230. Ngũ phần 5, ni-tát-kỳ 25 (tr.35c13).
[8] Thỉnh thực 請食. Thập tụng 7 (tr.49b16): nghinh thực phần 迎食分. Cư sĩ thỉnh Phật và các tỳ-kheo đến nhà thọ thực. Phật để các tỳ-kheo đi, Ngài ở lại tinh xá. Một tỳ-kheo mang thức ăn về cho Phật. Căn bản 21 (tr.737b23): thủ thực 取食 Pāli, Vin.iii. 230: Phật độc cư ba tháng, không gặp bất cứ ai, trừ tỳ-kheo tống thực.
[9] Hán: ôn thất, nhà tắm (nước nóng).
[10] Long nha quyết 龍牙橛. Xem, Thập tụng (tr.60c22): tượng nha dặc 象牙杙. Xem cht. Ch ba-la-di 2.
[11] Pāli: Nissaggiya 16: eḷakalomaharaṇa. Ngũ phần (35c25), ni-tát-kỳ 26.
[12] Bạt-nan-đà Thích tử 跋難陀釋子. Căn bản 21: Ô-ba-nan-đà, tức Pāli: Upananda, ḍng họ Thích-ca, thuộc nhóm sáu tỳ-kheo (Chabbaggiya). Pāli. Vin. iii. 233: một tỳ-kheo đi từ Kosala đến Sāvatthi.
[13] Câu-giá-la 拘遮羅, cỏ nhũ diệp 乳葉草, sô ma 芻摩, ma 麻, xí-la-bà-ny 廁羅婆尼. Các loại y.
[14] Pāli: Nissaggiya 17, elākaloma-dhovāpana, Vin. iii. 234ff. Ngũ phần 5 (tr.36a26), Ni-tát-kỳ 27.
[15] Thích-sí-sấu 釋翅瘦 (Sakkesu: giữa những người họ Thích). Pāli: giữa những người họ Thích, trong tinh xá Nigrodha, Ca-tỳ-la-vệ.
[16] Pāli (Vin. iii. 236): không phải thân lư, sai giặt và nhuộm hay giặt và chải (2 việc): phạm 1 ni-tát-kỳ, 1 đột-kiết-la. Sai giặt nhuộm và chải (3 việc): 1 ni-tát-kỳ, 2 đột kiết-la. Không có trường hợp 2 ni-tát-kỳ.
[17] Pāli, Nissaggiya 18, jātarūparajata, Vin. 111. 236. Ngũ phần (tr.37a27), ni-tát-kỳ 30.
[18] Xem ni-tát-kỳ 16 trước.
[19] Sanh tượng生像, chỉ vàng nguyên, chưa chế biến. Pāli: jātarūpa.
[20] Căn bản 21 (tr.740a20): Bảo Kế 寶髻. Tăng kỳ 10 (tr.310c7): Chu-la tụ lạc chủ 周羅聚落主. Xem Tạp 32, kinh 911 (Ma-ni Châu Kế). Cf. Pāli, Maṇicūḷa-sutta, S. iv. 325, Vin.ii.296.
[21] Bản Hán lược bỏ: không được v́ tự thân mà thọ nhận tiền bạc các thứ. Pāli, S.iv. 325: na... kenaci pariyāyena jātarūparajataṃ sāditabbaṃ, tuyệt đối không thọ nhận vàng bạc.
[22] Tức nhật thực hay nguyệt thực.
[23] Ngũ phần: hoặc phát tâm nhận. Tăng kỳ (tr. 311b): tự tay cầm nắm, hoặc sai người nắm giữ, (với tâm) tham trước. Thập tụng (tr.51b): tự tay nhận lấy, hay sai người nhận lấy. Căn bản (tr.740c5): tự tay cầm nắm hay sai người khác cầm nắm. Pāli: uggaṇheyya vā uggaṇhāpeyya vā upanikkhittaṃ vā sādeyya, tự ḿnh nhận, bảo người nhận, hay nhận để gởi (kư thác).
[24] Hán: văn tượng 文像. Pāli: rajata, chính là bạc, bạch ngân, được dùng làm tiền.
[25] Hán: tri thị khán thị 知是看是; tương tự Pāli: āvuso, imaṃ jānāhi, “Này ông, hăy nhận biết cái này.” Khi xả vật phạm, nếu có tịnh nhân hay cư sĩ đi đến, tỳ-kheo nói như vầy, tức là nhắc người ấy cất số tiền để ở đó mà tỳ-kheo không được phép cầm nắm. Cũng không được sai khiến người ấy nhận và cất giữ hộ.
[26] Pāli: Nissaggiya 19: rūpiyasaṃvohāra. Ngũ phần 5 (tr.36c21), ni-tát-kỳ 29. Tăng kỳ (tr.312c03), ni-tát-kỳ 20. Căn bản 22 (tr.741c21): “Xuất nạp cầu lợi.”
[27] Hán: chủng chủng măi mại 種種買賣. Thập tụng (tr.51c13): chủng chủng dụng bảo 種種用寶, chỉ các h́nh thức buôn bán đổi chác. Căn bản: chủng chủng xuất nạp cầu lợi 種種出納求利, các h́nh thức trao đổi để kiếm lời. Pāli (Vin.iii.239): nānappakārakaṃ, giải thích: katampi akatampa katākatampi, đă được chế biến thành các thứ trang sức, hoặc chưa được chế biến, hoặc nửa chế biến nửa chưa chế biến.
[28] Vàng thành và vàng chưa thành, Hán: thành kim, vị thành kim 成金,未成金; Thập tụng: tác bất tác 作不作. Pāli, nt.: katam, akatam: đă được chế biến thành nữ trang và chưa được chế biến.
[29] Pāli: rūpiya, chỉ chung vàng và bạc; giải thích: satthuvaṇṇo (vàng ṛng), kahāpaṇo (tiền vàng), lohamasako (tiền đồng), dārumasako (tiền gỗ), jatumasako (tiền hồ giao).