Viii. Khuyên cư sĩ tăng giá y[1]

A. Duyên khởi

Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá- vệ.

Bấy giờ, có một [610c] tỳ-kheo khất thực, đến giờ, đắp y, bưng bát vào thành Xá-vệ, lần lượt đi đến nhà cư sĩ xin thức ăn, nghe vợ chồng cư sĩ cùng bàn tính: “Bạt-nan-đà Thích tử là bạn quen biết xưa kia của ta. Nên đem số tiền để mua y với giá như vậy, mua y như vậy đem đến dâng cúng cho tỳ-kheo kia.” Tỳ-kheo khất thực rồi trở về Tăng-già-lam, gặp Bạt-nan-đà Thích tử, bảo rằng:

“Chưa có người nào trong gịng họ Cù-đàm có đại phước đức như ngài.”

 Bạt-nan-đà Thích tử liền hỏi:

“Tôi có việc ǵ mà nói tôi là người phước đức?”

Vị tỳ-kheo khất thực trả lời: “Tôi vào trong thành khất thực, nghe vợ chồng cư sĩ cùng bàn tính như vầy, ‘Bạt-nan-đà Thích tử là bạn quen biết xưa kia của ta. Nên đem số tiền để mua y với giá như vậy, mua y như vậy đem đến dâng cúng.’”

Bạt-nan-đà liền hỏi: “Có đúng như vậy hay chăng?”

Vị tỳ-kheo ấy trả lời: “Đúng như vậy.”

Bạt-nan-đà lại hỏi: “Nhà cư sĩ kia ở chỗ nào, cửa hướng nào?”

Tỳ-kheo khất thực trả lời:

“Nhà cư sĩ ấy ở chỗ đó, cửa ngơ xoay về hướng đó.”

Bạt-nan-đà liền nói với tỳ-kheo khất thực rằng:

“Vâng, người đó là bạn thân quen của tôi xưa kia, là đàn-việt thường cúng dường tôi, đúng như lời của thầy nói.”

Sáng sớm hôm sau, Bạt-nan-đà đắp y bưng bát vào thành Xá-vệ, đến nhà cư sĩ nói rằng: “Có phải cư sĩ muốn cho tôi y không?”

Cư sĩ nói: “Tôi có bàn tính riêng như vậy.”

Bạt-nan-đà nói với cư sĩ:

“Nếu muốn cho tôi y th́ nên may dài, rộng, loại bền chắc, tốt đẹp mới đúng loại y tôi thọ tŕ. Nếu không đúng, tôi không nhận, th́ may làm ǵ.”

Các cư sĩ nghe như vậy, họ liền cơ hiềm rằng:

“Sa-môn Thích tử không có tàm quư, nhiều mong cầu không biết chán, bên ngoài tự xưng rằng ‘Tôi biết chánh pháp’; nhưng lại cưỡng bức người, đ̣i hỏi y tốt. Như vậy làm ǵ có chánh pháp? Người cho tuy không biết nhàm chán nhưng người nhận phải biết đủ chứ. Người ta bàn tính riêng tư mà lại ŕnh nghe là sao!”

Lúc ấy, có tỳ-kheo khất thực nghe được, hiềm trách Bạt-nan-đà Thích tử:

“Tại sao lại cưỡng bức người, đ̣i cho được y tốt như vậy?”

Tỳ-kheo khất thực liền ra khỏi thành, về đến Tăng-già-lam, đem nhân duyên này đến nói với các tỳ-kheo.

Trong số đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách Bạt-nan-đà Thích tử:

“Tại sao thầy cưỡng bức người, đ̣i cho được y tốt như vậy?”

Hiềm trách xong, vị ấy đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách Bạt-nan-đà Thích tử:

“Ông làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều [611a] không nên làm. Tại sao đến người cưỡng bức đ̣i cho được y tốt như vậy?”

Quở trách rồi, đức Phật bảo các tỳ-kheo:

“Đây là người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này lần đầu. Từ nay trở đi, ta v́ các tỳ-kheo kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới nên nói như vầy:

“Tỳ-kheo nào, có cư sĩ, hay vợ cư sĩ để dành tiền sắm y cho tỳ-kheo, nghĩ rằng: ‘Mua y như thế cho tỳ-kheo có tên như thế.’ Tỳ-kheo ấy liền đến nhà cư sĩ nói như vầy: ‘Lành thay cư sĩ, nên v́ tôi mua y như vậy, như vậy.’ V́ muốn đẹp. Nếu nhận được y, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”

Khi đức Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy rồi, bấy giờ có cư sĩ muốn dâng cúng y theo ư muốn của tỳ-kheo, nên hỏi: “Đại đức cần loại y nào?”

Tỳ-kheo ấy nghi ngại, không dám trả lời. Đức Phật dạy:

“Nếu cư sĩ yêu cầu tỳ-kheo tùy ư, th́ nên trả lời.”

Lại có cư sĩ muốn cúng cho tỳ-kheo y quư giá, mà tỳ-kheo kia là vị thiểu dục tri túc, không cần loại y đại quư giá này, mà muốn loại y không quư giá. Tỳ-kheo kia ư nghi ngại không muốn nói lên ư của ḿnh. Đức Phật dạy:

“Cho phép các tỳ-kheo thiểu dục tri túc yêu cầu loại y không quư giá.” Từ nay về sau nên nói giới như vầy:

B. Giới tướng

Tỳ-kheo nào, có cư sĩ, hay vợ cư sĩ[2] để dành tiền sắm y cho tỳ-kheo, nghĩ rằng: Mua y như thế cho tỳ-kheo có tên như thế.’ Tỳ-kheo ấy trước không được yêu cầu tùy ư mà đến nhà cư sĩ nói như vầy: ‘Lành thay cư sĩ, nên v́ tôi mua y như vậy, như vậy.’ V́ muốn đẹp. Nếu nhận được y, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.

Tỳ-kheo: nghĩa như trên.

Cư sĩ, vợ cư sĩ: cũng như trên đă giải.

Tiền sắm y:[3] giá tiền để sắm y, hoặc vàng bạc, trân châu, lưu ly, vỏ ṣ, ngọc thạch, anh lạc, vàng y.

Y: có mười loại như trên đă nói.

Cầu:[4] có hai cách. Một là yêu cầu tiền để mua y, hai là yêu cầu y.

- Cầu số tiền để may y: đàn-việt cúng để may y với giá lớn chừng ấy mà cầu thêm, dù chỉ 1 phần 16 tiền.

- Cầu y: nói với người cư sĩ, may pháp y dài, rộng như vậy, cho đến dù xin thêm một sợi chỉ.

Tỳ-kheo này trước không được yêu cầu tùy ư mà đến cầu y quư giá dài rộng, nếu nhận được y, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Cầu mà không nhận được, phạm đột-kiết-la.

Ni-tát-kỳ này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người, không được xả biệt chúng. Xả không thành xả, phạm đột-kiết-la.

Khi xả cho Tăng, nên đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, đến lễ Thượng tọa, quỳ gối bên hữu chấm đất, [611b] chắp tay thưa:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., trước không được yêu cầu tùy ư cúng dường y mà đến cầu y quư giá, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”

Xả rồi nên sám hối. Vị nhận sám hối trước hết phải bạch như vầy:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., trước không được yêu cầu tùy ư cúng dường y, mà đến cầu y quư giá, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo có tên... Đây là lời tác bạch.”

Bạch rồi sau đó mới nhận sự sám hối. Vị nhận sự sám hối nên bảo tỳ-kheo phạm tội rằng:

“Hăy tự trách tâm của ḿnh!”

Tỳ-kheo phạm tội nói:

“Xin vâng!”

Tăng nên hoàn y lại cho tỳ-kheo này liền, bằng bạch nhị yết-ma, như vầy: Trong Tăng nên sai một vị có khả năng tác yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., trước không được yêu cầu tùy ư khi cúng dường y mà đến cầu y quư giá, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng hoàn y này lại cho tỳ-kheo có tên... đây là lời tác bạch.”

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo có tên... này trước không được yêu cầu tùy ư khi cúng dường y, mà đến cầu y quư giá, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng đem y này trả lại cho tỳ-kheo này. Các trưởng lăo nào đồng ư Tăng đem y này trả lại cho tỳ-kheo này th́ im lặng. Vị nào không đồng ư xin nói.”

“Tăng đă chấp thuận trao lại y cho tỳ-kheo tên là... rồi.Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”

Tỳ-kheo này ở trong Tăng đă xả y rồi mà Tăng không trả lại, phạm đột-kiết-la. Khi đang trả có người bảo “đừng trả, người ấy phạm đột-kiết-la.

Nếu không trả lại, mà chuyển làm tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc tự làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc có làm cho hư hoại, hoặc đốt hay mặc măi cho rách, tất cả đều phạm đột-kiết-la.

Tỳ-kheo-ni, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni phạm đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Sự không phạm: trước đó có yêu cầu tùy ư nên đến cầu xin, tri túc, mong cầu tối thiểu; đến cầu mong nơi thân quyến; đến cầu xin nơi người xuất gia, hoặc v́ người mong cầu hay người v́ ḿnh mong cầu; hoặc không cầu mà được th́ không phạm.

Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.

 

 

IX. Khuyên hai nhà tăng giá y[5]

A. Duyên khởi

Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ.

Bấy giờ, có tỳ-kheo khất thực, đến giờ, đắp y bưng bát vào thành Xá-vệ khất thực; theo thứ tự [611c] xin từng nhà, đến nhà một cư sĩ, nghe hai vợ chồng cư sĩ cùng bàn: “Bạt-nan-đà Thích tử là bạn quen biết xưa kia của ta. Nên mua y như vậy dâng cúng.” Lại nghe một nhà cư sĩ khác, hai vợ chồng cũng cùng bàn: “Bạt-nan-đà là bạn quen biết trước kia của ta. Nên mua y như vậy để dâng cúng.”

Bấy giờ, vị tỳ-kheo khất thực kia, khi khất thực xong, ra khỏi thành Xá-vệ, trở về đến trong Tăng-già-lam, thấy Bạt-nan-đà Thích tử liền nói rằng:

“Tôn giả là người đại phước đức.”

Bạt-nan-đà hỏi:

“V́ việc ǵ mà thầy gọi tôi là người đại phước đức?”

Tỳ-kheo khất thực trả lời:

“Vừa rồi tôi vào thành Xá-vệ khất thực, theo thứ tự đến một nhà cư sĩ, nghe hai vợ chồng cùng bàn, ‘Bạt-nan-đà Thích tử là bạn quen biết xưa kia của ta. Nên mua y như vậy dâng cúng.’ Lại nghe một nhà cư sĩ khác, hai vợ chồng cũng cùng bàn, ‘Bạt-nan-đà là bạn quen biết trước kia của ta. Nên mua y như vậy để dâng cúng.’”

Bạt-nan-đà liền hỏi: “Có chắc như vậy không?”

Vị tỳ-kheo khất thực nói: “Chắc.”

Bạt-nan-đà lại hỏi:

“Nhà của cư sĩ ấy ở chỗ nào? Cửa hướng nào?”

Vị tỳ-kheo khất thực trả lời: “Nhà ở chỗ đó, cửa hướng đó.”

Bạt-nan-đà nghe xong liền nói với vị tỳ-kheo kia rằng:

“Đúng vậy, đó là nhà đàn-việt của tôi, thường cúng dường cung cấp cho tôi.”

Sáng ngày sau, Bạt-nan-đà đắp y bưng bát vào thành Xá-vệ, đến nhà của hai cư sĩ nói rằng:

“Quư vị có ư định muốn cho tôi y phải không?”

Các cư sĩ trả lời: “Trong chỗ riêng tư tôi có bàn tính như vậy.”

Thích tử Bạt-nan-đà nói:

“Nếu muốn cho tôi y th́ có thể chung lại may một y, rộng dài, bền chắc theo kiểu tôi thọ tŕ cho tôi. Nếu không đúng kiểu tôi thọ tŕ th́ chẳng phải là thứ tôi cần.”

Các cư sĩ nghe như vậy, họ cùng nhau cơ hiềm:

“Bạt-nan-đà Thích tử không biết đủ, không có tàm quư, bên ngoài tự xưng rằng ‘Tôi biết chánh pháp’; nhưng lại tham cầu không biết đủ. Như vậy làm ǵ có chánh pháp? Người cho tuy không biết nhàm chán nhưng người nhận phải biết đủ chứ. Người ta bàn tính riêng tư mà lại ŕnh nghe là sao!”

Bấy giờ, tỳ-kheo khất thực nghe được như vậy, quở trách Bạt-nan-đà Thích tử: “Tại sao đến người cưỡng bức đ̣i y?”

Lúc ấy, tỳ-kheo khất thực nọ ra khỏi thành, đến Tăng-già-lam, đem nhân duyên này nói với các tỳ-kheo.

Trong số các tỳ-kheo nghe, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách Bạt-nan-đà Thích tử: “Tại sao đến người cưỡng bức đ̣i y?”

Quở trách rồi, vị ấy đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, tŕnh bày đầy đủ lên đức Thế Tôn.

[612a1] Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách Bạt-nan-đà Thích tử:

“Ông làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc chẳng nên làm. Sao lại đến người cưỡng bức đ̣i hỏi y?”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách rồi bảo các tỳ-kheo:

“Bạt-nan-đà này là người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này lần đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới nên nói như vầy:

Tỳ-kheo nào, có hai cư sĩ hay vợ cư sĩ để dành tiền sắm y cho tỳ-kheo, đều nói rằng: ‘Ta để dành tiền may y như vậy dâng cúng cho tỳ-kheo có tên như vậy.’ Tỳ-kheo ấy đến hai nhà cư sĩ, nói như vầy: ‘Lành thay, để dành tiền như vậy, như vậy để sắm y cho tôi. Hăy chung lại làm một cái y. V́ muốn đẹp. Nếu nhận được, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.

Khi đức Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy rồi, bấy giờ, có cư sĩ dâng cúng y theo ư muốn của tỳ-kheo, hỏi rằng:

“Ngài cần thứ y nào?”

Tỳ-kheo nghi ngại không dám trả lời. Phật dạy:

“Nếu cư sĩ yêu cầu tỳ-kheo tùy ư, th́ tỳ-kheo nên trả lời.”

Bấy giờ, các cư sĩ v́ tỳ-kheo may y quư giá để cúng, mà tỳ-kheo đó là vị thiểu dục tri túc, không muốn mặc y quư giá, cần chiếc y không quư giá, mà tỳ-kheo nghi ngại không dám nói lên ư muốn của ḿnh, đức Phật dạy: “Cho phép các tỳ-kheo thiểu dục tri túc được nói lên ư muốn của ḿnh về y không quư giá bằng.”

Từ nay về sau nên nói giới như vầy:

B. Giới tướng

Tỳ-kheo nào, có hai cư sĩ hay vợ cư sĩ[6] để dành tiền sắm y cho tỳ-kheo, đều nói rằng: ‘Ta để dành tiền may y như vậy dâng cúng cho tỳ-kheo có tên như vậy.’ Tỳ-kheo ấy trước chưa nhận được sự yêu cầu tùy ư của cư sĩ, mà đến hai nhà cư sĩ, nói như vầy: ‘Lành thay, để dành tiền như vậy, như vậy để sắm y cho tôi. Hăy chung lại làm một cái y. V́ muốn đẹp. Nếu nhận được, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.

Tỳ-kheo: nghĩa như trên.

Cư sĩ, vợ cư sĩ, y giá, y cầu: đều như trên đă giải.

Nếu tỳ-kheo trước đó không nhận được sự yêu cầu tùy ư mà đến yêu cầu y quư giá, rộng lớn; nếu nhận được y, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Nếu đến yêu cầu mà không được, phạm đột-kiết-la.

Ni-tát-kỳ này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người, không được xả biệt chúng. Nếu xả không thành xả phạm đột-kiết-la.

Khi xả nên đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, đến lễ Thượng tọa, [612b] quỳ gối bên hữu chấm đất, chắp tay bạch:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., trước đó không nhận được sự yêu cầu tùy ư mà đến yêu cầu để được y quư giá phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”

Xả rồi phải sám hối. Trước hết, vị nhận sám hối nên tác bạch:

“Đại đức Tăng nên lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., trước đó không nhận được sự yêu cầu tùy ư mà đến yêu cầu để được y quư giá, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo có tên... Đây là lời tác bạch.”

Tác bạch rồi sau đó mới thọ sám hối. Vị thọ sám nên bảo tỳ-kheo kia:

“Hăy tự trách tâm ḿnh!”

Vị tỳ-kheo phạm tội thưa: “Xin vâng!”

Tăng nên hoàn y lại cho tỳ-kheo kia liền, bằng bạch nhị yết-ma như vầy: trong chúng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., trước đó không nhận sự yêu cầu tùy ư mà đến đ̣i hỏi được y quư giá, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, trả y lại cho tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., trước đó không nhận sự yêu cầu tùy ư, đến đ̣i hỏi được y quư giá, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng đem y này trả lại cho tỳ-kheo này. Các trưởng lăo nào đồng ư Tăng đem y này trả lại cho tỳ-kheo này th́ im lặng. Vị nào không đồng ư xin nói.”

“Tăng đă chấp thuận trao y cho tỳ-kheo này rồi. Tăng đồng tâm ư nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”

Tỳ-kheo này xả y giữa Tăng rồi, Tăng không trả lại, phạm đột-kiết-la. Nếu có người bảo “đừng trả”, người ấy phạm đột-kiết-la.

Nếu làm tịnh thí, hoặc sai cho người, hay tự làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc cố làm cho hư hoại, tất cả như vậy đều phạm đột-kiết-la.

Tỳ-kheo-ni, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Sự không phạm: vị ấy trước đó có nhận sự yêu cầu tùy ư mà đến đ̣i hỏi. Hoặc đối với y quư giá mà đ̣i xin y không quư giá.

Hoặc đến thân quyến cầu xin, đến người xuất gia cầu xin, hoặc v́ người khác cầu xin y, hay người khác v́ ḿnh cầu xin y, hoặc không cầu xin mà tự được th́ không phạm.

Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.

 

 

X. Yêu sách giá y quá hạn [7]

A. Duyên khởi

Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá- vệ.

Bấy giờ, trong thành La-duyệt có một vị Đại thần là thân hữu của Bạt-nan-đà Thích tử, thường [612c] tới lui với nhau, sai sứ đem số tiền may y đến chỗ Bạt-nan-đà Thích tử dặn rằng:

“Bạt-nan-đà Thích tử là bạn quen biết xưa kia của ta, ta thường kính trọng. Hăy đem số tiền sắm y này mua y như vậy dâng cúng.”

Người sứ giả đem số tiền sắm y đến trong Tăng-già-lam chỗ ở của Bạt-nan-đà, thưa như vầy:

“Lành thay! Ngài là người đại phước.”

Bạt-nan-đà hỏi: “Có việc ǵ người nói tôi là đại phước đức?”

Sứ giả thưa:

“Trong thành La-duyệt có vị Đại thần sai tôi đem số tiền sắm y này đến mua y như vậy dâng cúng cho ngài.”

Bạt-nan-đà hỏi: “Có thật vậy không?”

Sứ giả thưa: “Có thật.”

Bạt-nan-đà liền hỏi:

“Nhà vị Đại thần ở chỗ nào? Cửa ngơ về hướng nào?”

Sứ giả thưa: “Nhà vị Đại thần ở chỗ đó, cửa ngơ về hướng đó.”

Bạt-nan-đà nghe xong, nói:

“Đúng như lời của ông nói, Đại thần ấy là bạn quen biết xưa kia của tôi, là đàn-việt thường cúng dường thừa sự tôi.”

Bấy giờ, trong thành Xá-vệ lại có một trưởng giả quen thân cùng Bạt-nan-đà, thường lui tới. Bạt-nan-đà dẫn người sứ giả ấy vào trong thành Xá-vệ, đến nhà ông trưởng giả kia nói:

“Trong thành La-duyệt có một vị Đại thần sai người sứ này đem y giá này đến cho tôi để may y. Xin ông vui ḷng giữ giùm.”

Ông trưởng giả liền nhận giữ giùm.

Một thời gian sau đó, vị Đại thần hỏi người sứ giả rằng:

“Trước đây ta đă bảo ngươi đem số tiền sắm y cúng cho Bạt-nan-đà. Bạt-nan-đà đă v́ ta mặc chiếc y ấy chưa?”

Người sứ giả thưa: “Không thấy Bạt-nan-đà mặc.”

Vị Đại thần liền bảo sứ giả đến nói với Bạt-nan-đà rằng:

“Trước đây tôi có sai sứ đem số tiền sắm y đến cúng cho ngài. Rốt cuộc ngài không mặc y của tôi. Ngài để tiền làm ǵ? Nay xin gởi trả lại tôi.”

Khi Bạt-nan-đà nghe nói như vậy liền vội vàng đến nhà ông trưởng giả, nói:

“Trước đây tôi có gửi số tiền sắm y. Nay tôi cần y, nên đi may y cho tôi.”

Thời gian ấy, trong thành Xá-vệ, các vị trưởng giả lại bận họp, mà trước đó đă có quy chế, ai không họp phải bị phạt năm trăm tiền.[8] Ông trưởng giả thưa rằng:

“Theo nội quy của đại hội th́ ai không đến họp phải bị phạt năm trăm tiền. Bây giờ, tôi xin phép đến họp. Đại đức chờ một chút, tôi họp xong sẽ trở về. Đại đức đừng để cho tôi bị phạt năm trăm tiền.”

Bạt-nan-đà nói:

“Không được. Trước hết, ông nên đem số tiền sắm y đi may y cho tôi.”

Bấy giờ, ông trưởng giả đành phải đem số tiền sắm y v́ Bạt-nan-đà mà may thành y. Bấy giờ, phiên họp đă măn, ông trưởng giả bị phạt năm trăm tiền v́ không dự họp. Ông trưởng giả cơ hiềm: “Sa-môn Thích tử đă làm cho hội nghị phạt tôi năm trăm tiền.” Bấy giờ, các cư sĩ trong thành Xá-vệ không tin Phật pháp cùng nhau cơ hiềm:[613a1] ‘Sa-môn Thích tử không biết tri túc, không có tàm quư, bên ngoài tự xưng là ta biết chánh pháp. Nhưng như vậy th́ làm ǵ có chánh pháp? Họ làm cho ông trưởng giả không đến họp bị phạt năm trăm tiền. Từ nay trở đi, chúng ta không nên gần gũi lễ bái, chào hỏi thừa sự cúng dường.”

Trong số các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, quở trách Bạt-nan-đà: ‘Sao thầy khiến cho đại hội phạt ông trưởng giả năm trăm tiền?’

Rồi đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp các Tăng tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện quở trách Bạt-nan-đà:

“Ông làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Này Bạt-nan-đà, sao lại làm cho ông trưởng giả bị đại hội phạt năm trăm tiền?”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Bạt-nan-đà rồi, bảo các tỳ-kheo:

“Đây là người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài”. Muốn nói giới nên nói như vầy:

B. Giới tướng

Tỳ-kheo nào, hoặc vua, hoặc đại thần, hoặc bà-la-môn, hoặc cư sĩ, hay vợ cư sĩ, sai sứ mang tiền sắm y đến tỳ-kheo bảo rằng: ‘Hăy mang số tiền sắm y như vậy cho tỳ-kheo có tên như vậy.’ Người sứ kia đến chỗ tỳ-kheo, nói với tỳ-kheo rằng: ‘Đại đức, nay tiền sắm y này được gởi đến ngài, ngài hăy nhận.’ Tỳ-kheo ấy nên nói với người kia rằng: ‘Tôi không được phép nhận tiền may y này, khi nào cần y hợp thời và thanh tịnh tôi sẽ nhận.’ Vị sứ kia nên hỏi tỳ-kheo rằng: ‘Đại đức có người chấp sự không?’ Tỳ-kheo cần y nên nói: ‘Có’, và chỉ người dân trong Tăng-già-lam, hoặc ưu-bà-tắc, nói rằng: ‘Đó là người chấp sự của tỳ-kheo, thường chấp sự cho các tỳ-kheo.’ Bấy giờ sứ giả đến chỗ người chấp sự, trao số tiền sắm y rồi, trở lại chỗ tỳ-kheo, nói như vầy: ‘Đại đức, tôi đă trao số tiền sắm y cho người chấp sự mà Đại đức chỉ đó, khi nào Đại đức cần, đến đó sẽ được y.’ Tỳ-kheo khi cần y nên đến chỗ người chấp sự, hoặc hai lần, ba lần để cho họ nhớ lại, hoặc bằng cách nói rằng: ‘Tôi cần y.’ Hoặc hai lần, hoặc ba lần khiến cho họ nhớ lại. Nếu nhận được y th́ tốt. Bằng không được y th́ bốn lần, năm lần, sáu lần, đứng im lặng trước họ. Nếu bốn lần, năm lần, sáu lần đứng im lặng trước người đó mà nhận được y th́ tốt;[613b] bằng không được y mà cố cầu quá giới hạn đó, nếu được y, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Nếu không được y th́ tự chính ḿnh, hoặc sai sứ đến chỗ người xuất tiền sắm y nói rằng: ‘Trước đây, ngài sai sứ mang tiền sắm y cho tỳ-kheo có tên như vậy; tỳ-kheo ấy cuối cùng không nhận được y. Ngài nên lấy tiền lại, đừng để mất.’ Như vậy là hợp thức.[9]

Tỳ-kheo: nghĩa như trên.

Vua: người được tự tại, không thuộc quyền của ai.

Đại thần: người tả hữu của Vua.

Bà-la-môn: có huyết thống bà-la-môn.[10]

Cư sĩ: chỉ những người tại gia, trừ Vua, Đại thần của Vua, bà-la-môn.

Vợ cư sĩ: cũng là người phụ nữ tại gia.

Tiền sắm y: như đă nói trước.

Y có mười loại như trên đă nói.

Nhớ lại: khiến cho người chấp sự, hoặc tại nhà, hoặc nơi chợ, hay chỗ làm việc, đến đó hai, ba lần, nói rằng: “Nay tôi cần y. Xin may y cho tôi.” Đó gọi là làm nhớ lại. Nếu hai, ba lần làm cho họ nhớ, được y th́ tốt; không được y th́ lần thứ tư, thứ năm, thứ sáu đến đó, đứng im lặng trước họ.

Đứng trước mặt: đối với người chấp sự, hoặc tại nhà, hoặc tại chợ, hay nơi làm việc, đến đứng im lặng trước họ. Nếu người chấp sự hỏi: “V́ nhân duyên ǵ, Ngài đứng đây vậy?” Tỳ-kheo nên trả lời: “Điều đó ông tự biết.” Nếu người kia nói, “Tôi không biết.” Nếu có người nào khác biết việc này, tỳ-kheo nói rằng: “Người đó biết việc này.” Nếu tỳ-kheo lên tiếng một lần th́ trừ hai lần im lặng. Lên tiếng hai lần th́ trừ bốn lần im lặng. Lên tiếng ba lần th́ trừ sáu lần im lặng. Nếu tỳ-kheo quá hai, ba lần lên tiếng, quá sáu lần im lặng đđ̣i; đ̣i được y, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.[11]

Ni-tát-kỳ này phải xả cho Tăng hoặc nhiều người, hoặc một người, không được xả biệt chúng. Xả không thành xả phạm đột-kiết-la.

Khi xả cho Tăng, đương sự phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi dép, đến lễ Thượng tọa, quỳ gối bên hữu chấm đất, chắp tay thưa:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo tên là..., quá ba lần nói để đ̣i y, quá sáu lần đứng im lặng để được y, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”

Xả rồi phải sám hối. Trước hết, người nhận sám phải tác bạch:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă quá ba lần nói đ̣i y, quá sáu lần đứng im lặng để được y, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”

Bạch rồi mới [613c] nhận sám hối. Vị nhận sám nên nói với tỳ-kheo kia:

“Hăy tự trách tâm ḿnh!”

Tỳ-kheo phạm tội trả lời:

“Xin vâng!”

Tăng phải trả y này lại cho tỳ-kheo đó bằng bạch nhị yết-ma như vầy: trong Tăng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă quá ba lần nói đ̣i y, quá sáu lần đứng im lặng để được y, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp với Tăng, Tăng chấp thuận trả lại y cho tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă quá ba lần đ̣i y, quá sáu lần đứng im lặng để được y, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng đem y này trả lại cho tỳ-kheo này. Các trưởng lăo nào đồng ư Tăng đem y này trả lại cho tỳ-kheo này th́ im lặng. Vị nào không đồng ư xin nói.”

“Tăng đă chấp thuận trả y này lại cho tỳ-kheo có tên... rồi. Tăng đồng tâm ư nên im lặng, Việc này tôi ghi nhận như vậy.”

Tỳ-kheo phạm tội đă xả y giữa Tăng như vậy rồi mà Tăng không hoàn lại th́ mắc đột-kiết-la. Người nào bảo đừng trả”, người ấy phạm đột-kiết-la. Nếu chuyển làm tịnh thí hoặc tự làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc sai cho người, hoặc mặc nhiều lần cho rách, đều phạm đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Sự không phạm: ba lần nói đ̣i mà được y, sáu lần đứng im lặng được y.

Nếu không được y, tự ḿnh đến, hoặc sai người đến chỗ người cúng tiền sắm y, nói, “Trước đây người sai sứ đem tiền sắm y đến cho tỳ-kheo có tên là... cuối cùng tỳ-kheo ấy không nhận được y, người có thể đến lấy lại, đừng để mất.” Nếu người kia nói: “Tôi đă cúng, không lấy lại.” Tỳ-kheo này nên cần có thời gian, dùng lời nhỏ nhẹ phương tiện đ̣i được y th́ không phạm.

Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.

 

 

 

XI. Ngọa cụ bằng tơ tằm [12]

A. Duyên khởi

Một thời, đức Phật ở trong địa phận nước Khoáng dă.[13] Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo làm ngọa cụ[14] mới bằng tơ tằm tạp.[15] Họ đ̣i xin loại tơ chưa thành, hay đă thành; hoặc đă nhuộm hay chưa nhuộm; hoặc thứ mới hay thứ cũ. Họ đến nhà nuôi tằm nói rằng:

“Chúng tôi cần tơ.” [16]

Nhà nuôi tằm trả lời: “Đợi thời gian tằm chín hăy đến.”

Nhóm sáu tỳ-kheo đứng bên vừa đợi vừa xem. Họ đứng xem [614a] khi kén bị phơi, và con nhộng của tằm đang gây thành tiếng. Các cư sĩ thấy vậy đều cơ hiềm: “Sa-môn Thích tử không có tàm quư, hại mạng chúng sinh. Bên ngoài tự xưng rằng ta tu theo chánh pháp. Như vậy th́ làm ǵ có chánh pháp. Đ̣i hỏi cho được kén tằm để làm ngọa cụ mới!”

Họ quở trách việc làm trên. Trong số các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo: “Sao lại phải đ̣i xin kén để làm ngọa cụ mới?” Quở trách như trên rồi, đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Phật một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập họp các tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rằng:

“Các ông làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Này nhóm sáu tỳ-kheo, sao các ông lại đ̣i xin kén tằm để may ngọa cụ mới?”

Quở trách rồi, Phật bảo các tỳ-kheo:

“Đây là những người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới nên nói như vầy:

B.Giới tướng

Tỳ-kheo nào, làm ngọa cụ mới bằng loại tơ tằm tạp, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.

Tỳ-kheo: nghĩa như trên.

Tạp:[17] là loại lông mềm, hoặc kiếp-bối, câu-giá-la, cỏ nhũ điệp, hoặc sô-ma, hoặc gai.[18]

Tỳ-kheo tự ḿnh dùng loại tơ tằm tạp làm ngọa cụ mới mà thành, phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề, không thành phạm đột-kiết-la. Nếu bảo người khác làm mà thành, cũng phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề; làm không thành, phạm đột-kiết-la. Ḿnh v́ người khác làm, thành hay không thành đều phạm đột-kiết-la.

Vật này nên xả. Khi xả nên dùng búa hoặc ŕu bằm nhỏ trộn với bùn trét lên vách hay thoa nơi đất.

Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Sự không phạm: được vật đă thành, hoặc dùng búa chặt bằm nhỏ ḥa với bùn, hoặc trét lên vách hay nơi đất th́ không phạm.

Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.

 

  

XII. Ngọa cụ toàn đen [19]

A. Duyên khởi

Một thời, đức Phật ở lầu các, bên cạnh sông Di hầu, Tỳ-xá-ly. Bấy giờ, các Lê-xa Tử ở Tỳ-xá-ly[20] phần lớn làm hạnh tà dâm. Họ dùng lông dê toàn màu đen[21] làm áo[22] choàng kín thân thể, đi ban đêm khiến cho người khỏi thấy.

Lúc ấy, nhóm sáu tỳ-kheo [614b] thấy vậy liền bắt chước lấy lông dê toàn đen làm ngọa cụ bằng dạ. Các Lê-xa thấy vậy, thảy đều nói rằng: “Này Đại đức, chúng tôi sống trong ái dục, v́ dâm dục nên dùng áo dạ bằng lông dê màu đen, chứ các ngài dùng loại dạ lông dê màu đen làm ǵ?”

Lúc bấy giờ, các tỳ-kheo nghe được, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư; hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo: ‘Sao các thầy bắt chước Lê-xa dùng loại dạ lông dê màu đen?’

Quở trách rồi, đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp các tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:

“Các ông làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Này nhóm sáu tỳ-kheo, sao các ông lại bắt chước Lê-xa dùng loại dạ lông dê màu đen?”

Bấy giờ, đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rồi bảo các tỳ-kheo: “Đây là những người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những kẻ phạm giới này lần đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới nên nói như vầy:

B. Giới tướng

Tỳ-kheo nào, làm ngọa cụ mới bằng lông dê toàn đen, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.

Tỳ-kheo: nghĩa như trên.

Lông toàn đen: hoặc màu đen tự nhiên,[23] hoặc màu đen do nhuộm.

Tỳ-kheo tự ḿnh làm ngọa cụ mới bằng lông dê toàn đen mà thành, phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề; làm không thành, phạm đột-kiết-la. Khiến người làm; thành, phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề; không thành, phạm đột-kiết-la. V́ người khác làm, thành hay không thành đều phạm đột-kiết-la.

Ni-tát-kỳ này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người, không được xả biệt chúng. Xả không thành xả phạm đột-kiết-la.

Khi xả cho Tăng, đương sự phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, đến lễ Thượng tọa, quỳ gối bên hữu chấm đất, chắp tay, thưa:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo tên là..., đă làm ngọa cụ bằng lông dê toàn đen, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”

Xả rồi phải sám hối. Vị thọ sám trước hết phải tác bạch:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă làm ngọa cụ bằng lông dê toàn đen, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi thọ sự sám hối của tỳ-kheo có tên... này. Đây là lời tác bạch.”

Tác bạch [614c] như vậy rồi, sau đó mới thọ sám. Khi thọ sám nên nói với tỳ-kheo phạm tội rằng:

“Hăy tự trách tâm ḿnh!”

Phạm nhân thưa: “Xin vâng!”

Tăng nên hoàn ngọa cụ lại cho tỳ-kheo này bằng bạch nhị yết-ma, như vầy: Tăng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă làm ngọa cụ bằng lông dê toàn màu đen, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, hoàn lại ngọa cụ cho Tỳ-kheo có tên... này. Đây là lời tác bạch.”

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là... đă làm ngọa cụ bằng lông dê toàn màu đen, phạm Xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng đem ngọa cụ này hoàn lại cho tỳ-kheo này. Các trưởng lăo nào đồng ư Tăng đem ngọa cụ này hoàn trả cho tỳ-kheo này th́ im lặng. Vị nào không đồng ư xin nói.”

“Tăng đă chấp thuận hoàn ngọa cụ lại cho tỳ-kheo này rồi, Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”

Tỳ-kheo phạm tội đă xả ngọa cụ trong Tăng, nếu Tăng không hoàn lại, phạm đột-kiết-la. Khi trả lại có người bảo đừng trả, người ấy phạm đột-kiết-la. Nếu lấy làm tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc đem trải măi cho hư rách đều phạm đột-kiết-la.

Tỳ-kheo-ni phạm, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni phạm, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Sự không phạm: nếu được vật đă làm thành, hoặc cắt rọc cho hư hoại, hoặc mỏng xếp làm hai lớp, hoặc dùng làm mền, hoặc làm gối, hoặc làm tọa cụ vuông nhỏ, hoặc làm dạ để nằm, hoặc làm đồ lót bên trong cái b́nh bát, hoặc làm cái bao đựng dao, hoặc làm bít tất, hoặc làm khăn trùm ấm, hoặc làm khăn gối, dép... đều không phạm. Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.[24]

 



[1] Ngũ phần tr.28a18; Tăng kỳ tr.304b21; Thập tụng tr.45c5; Căn bản tr.731b15.  Pāli, niss. 8, upakkhaṭa, Vin.iii. 213.

[2] Ngũ phần. Căn bản: cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải thân quyến. Pāli: aññatakassa gahapatissa vā gahapatāniyā, cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải thân quyến.

[3] Y giá 衣價. Pāli: cīvaracetāpannaṃ, vật ngang giá cho y; giải thích: vàng, bạc, ngọc ngà, trân châu; hoặc mảnh vải, hoặc chỉ, hoặc g̣n.

[4] Cầu : yêu cầu. Từ được giải thích, không có trong giới văn; trong đó được thay bằng từ tác như thị thuyết 作如是
<lb n="0611a17"/>
, nói như vầy. Tăng kỳ: sách , yêu sách.  Pāli: vikappaṃ āpajjeyya, đề nghị.

[5] Ngũ phần tr.28b18; Tăng kỳ tr.305a27; Thập tụng tr.46a26; Căn bản tr.733a2. Pāli, niss. 9, dutiya-upakkhaṭa, Vin.iii. 217.

[6] Ngũ phần, Thập tụng, Pāli: cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải thân quyến.

[7] Ngũ phần tr.28c10; Tăng kỳ tr.305b7; Thập tụng tr.46c12; Căn bản tr.733a14. Pāli, niss. 10, rājasikkhāpadaṃ, Vin.iii. 219.

[8] Pāli: paññāsaṃ baddho, phạt 50. Được giải thích là phạt 50 kahāpaṇa (tiền vàng). Tăng kỳ: người được kư thác tiền là cư sĩ Pháp Dự. Nhân v́ lúc cần nên ông tạm mượn. Khi Ưu-ba-nan-đà đến đ̣i, cư sĩ chưa có tiền mặt để ứng liền, bị tỳ-kheo này đưa ra quan kiện.

[9] Pāli: ayaṃ tattha samīcī, đây là điều hợp cách. Và giải thích: ayaṃ tattha anudhammatā, ở đây điều này tùy thuận pháp tánh. Bản Hán đọc: ayaṃ tattha samayaṃ. Ngũ phần, Thập tụng: thị sự ưng nhĩ 是事應爾, sự việc phải đó như vậy. Tăng kỳ: thị sự pháp nhĩ 是事法爾. Căn bản: thử thị thời 此是
<lb n="0735a03"/>
.

[10] Pāli: brāhmaṇo nāma jātiyā brāhmaṇo.

[11] Giải thích của Pāli, Vin. iii. 223: 4 lần lên tiếng, 4 lần đứng im lặng. 5 lần lên tiếng, 2 lần đứng im lặng. 6 lần lên tiếng, không có đứng im lặng lần nào nữa. Theo cách này, tối đa lên tiếng 6 lần mà không có lần đứng im nào; hoặc tối đa đứng im 12 lần mà không có lần lên tiếng nào. Cứ mỗi lần lên tiếng, trừ đi 2 lần đứng im.

[12] Thập tụng 7 tr.47c10; Căn bản tr.735c6. Pāli, niss. 11, kosiya, Vin.iii. 223. Tăng kỳ tr.307c20: ni-tát-kỳ 11. Ngũ phần 5, tr.34c15: ni-tát-kỳ 21.

[13] Khoáng dă quốc 曠野國. Ngũ phần: A-trà-bễ ấp 阿荼髀邑. Pāli: Āḷavī.

[14] Ngoạ cụ 臥具 Pāli: santhata, đồ trải lót: chiếu, thảm, hay miếng vải. Các bộ khác: phu cụ 敷具.

[15] Tạp dă tàm miên 雜野蠶綿. Ngũ phần: làm ngọa cụ bằng kiêu-xa-da憍賒耶
<lb n="0034c16"/>[19]
臥具. Tăng kỳ: làm ngọa cụ mới bằng kiêu-xá-da 憍舍耶 tạp với lông dê thuần đen. Thập tụng: phu cụ mới bằng kiêu-thi-da 新憍
<lb n="0047c11"/>
施耶敷具. Căn bản: ngọa cụ mới bằng tơ tằm 作新野蠶
<lb n="0735c07"/>
絲臥具.  Pāli: kosiyamissakaṃ santhata, ngọa cụ chen tạp với lụa.

[16] Nguyên Hán: miên 綿; bông g̣n. Pāli: các tỳ-kheo này đến nhà nuôi tằm (kosiyakāraka) đề nghị: luộc tằm (bāhupacatha) cho họ xin để lấy tơ làm chăn trải.

[17] Ngũ phần 5, ni-tát-kỳ 21: tỳ-kheo làm ngọa cụ bằng kiêu-xa-da 憍賒耶; và giải thích: kiêu-xa-da là tơ (nguyên Hán, miên 綿: bông g̣n) được làm từ con tằm. Tăng kỳ 9, ni-tát-kỳ 13: kiêu-xá-da có hai loại: sống, loại sợi mịn; chế tác, đă se thành sợi dệt. Thập tụng 24: kiêu-thi-da 憍施耶. Căn bản 20: dùng tơ tằm sống (dă tàm ty 野蠶絲) làm phu cụ.

[18] Kiếp-bối 劫貝 (Pāli: kappāsa, bông g̣n), câu-giá-la 拘遮羅 (Pāli: koseyya, tơ lụa, vải quyến), cỏ nhũ diệp, hoặc sô-ma 芻摩 (Pāli: khoma, ma bố, vải gai), hoặc gai.

[19] Căn bản (tr.736a11): ni-tát-kỳ 12.Pāli, Nissaggiya 12, suddhakāḷaka, Vin.iii. 223. Ngũ phần 5 (tr.35a9), ni-tát-kỳ 22. Tăng kỳ 9 (tr.306c3), ni-tát-kỳ 11. Thập tụng (tr.48a3).

[20] Tỳ-xá-ly Lê-xa Tử 毘舍離梨車子(Pāli: Licchavī-putta). Ngũ phần: bạt-kỳ Tử 跋耆子 (Pāli: Vajji-putta). Pāli không có chi tiết này.

[21] Hán: thuần hắc nhu dương mao 純黑羺羊毛. Khang hy: nhu dương, tức hồ dương (một loại dê của người Hồ). Ngũ phần: thuần hắc mao chiên 純黑毛[01]<gaiji cb='CB1733' des='[-+]' uni='6C0A' >. Căn bản: thuần hắc dương mao 純黑羊毛. Pāli: suddhakāḷakānaṃ eḷakalomānaṃ, lông dê thuần đen; eḷaka, một loại sơn dương.

[22] Hán: chiên ; vật dụng bện bằng da thú hay dạ. Đây chỉ áo choàng bằng dạ.

[23] Hán: sanh hắc 生黑. Pāli: jātiyā kālakaṃ.

[24] Bản Hán, hết quyển 7.