IV. Nhận y phi thân lý ni [1]

A. Duyên khởi

1. Liên hoa sắc

Một thời, đức Phật ở trong vườn trúc Ca-lan-đà, tại thành La-duyệt. Bấy giờ, có người thiếu nữ tên là Liên Hoa Sắc,[2] cha mẹ nàng gả nàng cho người Uất-thiền.[3] Sau đó, nàng mang thai; khi sắp sinh, trở về nhà cha mẹ. Nàng sinh được một đứa con gái, dung mạo xinh đẹp.

Liên Hoa Sắc cùng người con gái ở chung một nhà. Trong thời gian này, chồng của Liên Hoa Sắc tư thông cùng với mẹ của Liên Hoa Sắc, bị đứa tớ gái của Liên Hoa Sắc bắt gặp, và thưa lại với Liên Hoa Sắc việc ấy. Liên Hoa Sắc nghe sự việc như vậy, thầm nghĩ và than rằng: “Sao con gái lại cùng với mẹ lấy chung một chồng. Thân người con gái để làm ǵ?” Liên Hoa Sắc đành bỏ hài nhi đang bồng trong tay, cải trang ra đi, đến nơi thành Ba-la-nại, đứng ngoài cửa thành. Thân h́nh đầy bụi bặm, và gót chân bị rách. Lúc đó, trong thành có ông trưởng giả, vợ ông vừa mạng chung, cưỡi xe ra khỏi thành Ba-la-nại, để đến công viên ngắm cảnh. Ông trưởng giả gặp Liên Hoa Sắc đang đứng bên ngoài cửa thành, dung mạo xinh đẹp mà thân h́nh lại đầy bụi bặm, gót chân rách nát, nên để ư Liên Hoa Sắc. Ông liền đến trước người nữ, hỏi:

“Cô thuộc về ai?”

Liên Hoa Sắc trả lời: “Tôi không thuộc về ai cả.”

Ông trưởng giả lại hỏi:

“Nếu chưa thuộc về ai th́ có thể v́ tôi làm vợ được không?”

Liên Hoa Sắc trả lời: “Cũng được.”

Ông trưởng giả liền bảo lên xe, chở về nhà làm vợ.

Sau một thời gian, ông trưởng giả, chồng của Liên Hoa Sắc, tập trung nhiều của quư từ Ba-la-nại đến nước Uất-thiền để buôn bán. Nơi đây, lúc bấy giờ gặp ngày đại hội, đồng nữ trong nước đến vui chơi. Người con gái của Liên Hoa Sắc, trang sức đẹp đẽ, cũng ở trong số đông những người nữ đó. Thấy người con gái này xinh đẹp, nên ông trưởng giả để ư, liền hỏi người bên cạnh:

“Cô gái này là ai?”

Đáp rằng: “Cô gái này tên như vậy.”

Lại hỏi: “Nhà cô ở đâu?”

Đáp rằng: “Nhà cô ở tại chỗ ấy.”

Lại hỏi: “Đường ǵ?”

Đáp rằng: “Đường tên như vậy.”

Trưởng giả lại hỏi: “Cửa ngơ của nhà xoay về hướng nào?”

Đáp: “Cửa ngơ của nhà xoay về hướng ấy.”

Ông trưởng giả liền đến nhà đó, hỏi người cha rằng:

“Cô gái này là con của ông phải không?”

Đáp rằng: “Con gái của tôi đó.”

Lại hỏi: “Ông có thể gả cho tôi không?”

Đáp rằng: “Vâng, có thể được.”

Ông trưởng giả hỏi: “Ông cần đ̣i bao nhiêu của?”

[606a1] Người cha của cô gái trả lời: “Trao cho tôi trăm ngàn lượng vàng.”

Ông trưởng giả bèn trao đủ số. Cha của cô gái trang điểm cho con ḿnh.

Từ nước Uất-thiền họ trở về Ba-la-nại. Liên Hoa Sắc nh́n thấy liền có cảm tưởng như đang nh́n đứa con gái ḿnh. Cô gái này thấy Liên Hoa Sắc cũng với ư nghĩ là mẹ ḿnh. Hai người gần gũi nhau thời gian lâu, Liên Hoa Sắc chải đầu cho người nữ kia và hỏi rằng:

“Cô em là người nước nào? Con gái nhà ai?”

 Người nữ kia trả lời: “Em là người nước Uất-thiền.”

Liên Hoa Sắc lại hỏi: “Nhà ở chỗ nào? Đường nào? Cửa ngơ xoay về hướng nào? Cha mẹ là ai?”

Người nữ kia trả lời: “Nhà của em ở chỗ nọ, chỗ kia, vân vân. Cha em tên như vậy như vậy.”

Liên Hoa Sắc lại hỏi: “Mẹ của em họ ǵ?”

Nữ đáp rằng: “Em không biết mẹ. Chỉ nghe người ta nói mẹ tên là Liên Hoa Sắc. Bỏ nhà đi lúc em c̣n nhỏ.”

Lúc ấy, Liên Hoa Sắc trong ḷng tự nghĩ rằng: “Đây chính là con của ta.” Nàng tự oán trách ḿnh, “Ôi! Thân người nữ để làm ǵ? Tại sao ngày nay, mẹ và con lại cùng lấy một chồng?” Liên Hoa Sắc liền bỏ nhà ra đi.

Khi Liên Hoa Sắc đến vườn Trúc khu Ca-lan-đà nơi thành La-duyệt, lúc bấy giờ đức Thế Tôn đang nói pháp cho vô số đại chúng vây quanh. Từ xa thấy đức Thế Tôn tướng mạo đoan chánh, các căn tịch tịnh, đạt được chế ngự tối thượng như con voi chúa đă thuần, như nước lóng trong, không có bụi dơ. Thấy vậy Liên Hoa Sắc phát tâm hoan hỷ, liền đến chỗ đức Thế Tôn đảnh lễ dưới chân rồi đứng qua một bên.

Bấy giờ, đức Thế Tôn tuần tự nói pháp vi diệu, nói về bố thí, về tŕ giới, về sinh thiên và chê trách dục là bất tịnh; tán thán sự xuất ly. Đức Thế Tôn nói về bốn Thánh đế: Khổ, Tập, Tận, Đạo, phân biệt đầy đủ.

Bấy giờ, từ chỗ ngồi, Liên Hoa Sắc đạt được pháp nhăn tịnh. Ví như tấm lụa trắng mới và sạch, không có bụi bẩn, dễ nhuộm màu sắc. Liên Hoa Sắc đặng pháp thanh tịnh cũng lại như vậy; thấy pháp, đắc pháp, đắc thành quả chứng, bèn bước lên phía trước, bạch Phật rằng:

“Nguyện đức Thế Tôn cho con xuất gia, ở trong pháp của Phật, tu hạnh thanh tịnh.”

Đức Phật bảo Tôn giả A-nan:

“Ông dẫn Liên Hoa Sắc này đến chỗ Ma-ha Ba-xà-ba-đề, cho phép cô xuất gia.”

Tôn giả A-nan liền vâng lời đức Phật dạy, dẫn Liên Hoa Sắc đến chỗ Ma-ha Ba-xà-ba-đề nói rằng:

“Đức Thế Tôn có dạy, bà hăy độ người phụ nữ này xuất gia.”

Liên Hoa Sắc liền được cho phép xuất gia.

Một thời gian sau đó, Liên Hoa Sắc nhờ nỗ lực tư duy ngày càng tinh tấn, nên chứng đặng A-la-hán, đạt được đại thần lực.[4]

Bấy giờ, có số đông tỳ-kheo-ni trụ nơi chỗ không nhàn,[5] nhưng Liên Hoa Sắc tỳ-kheo-ni ngồi riêng trong một khu rừng khác[6] tư duy. [606b] Nơi trú xứ của Liên Hoa Sắc, lại có tên đầu lĩnh của bọn cướp thường ở tại đó. Tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc chấp tŕ oai nghi lễ tiết, khoan thai, nên tên đầu lĩnh giặc thấy vậy liền sinh thiện tâm.

Thời gian sau đó, tướng giặc bắt được nhiều thịt heo. Ăn xong c̣n dư, gói lại đem treo trên nhánh cây và nói: “Trong rừng này, nếu có sa-môn, bà-la-môn nào có đại thần lực th́ lấy đem đi.” Tuy nói như vậy, nhưng tâm th́ v́ tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc.

Bấy giờ, tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc nhờ thiên nhĩ nghe, thiên nhăn thanh tịnh thấy thịt heo được gói trong tấm lụa trắng treo lên nhánh cây. Sáng ngày nói với thức-xoa-ma-na, sa-di-ni rằng:

“Các con đến nơi chỗ đó. Trên nhánh cây, có cái gói bằng lụa trắng, trong đó có thịt heo. Lấy mang về.”

Cô ấy liền đến lấy về, đưa cho tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc. Tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc bảo nấu, rồi đến giờ ăn, tự tay ḿnh đem lên trên núi Kỳ-xà-quật, dâng lên cúng dường các tỳ-kheo Thượng tọa.

Bấy giờ, có một tỳ-kheo mặc chiếc tăng-già-lê cũ rách vá chằm. Tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc thấy vậy, phát tâm từ mẫn, liền hỏi vị tỳ-kheo rằng:

“Thưa Đại đức, sao ngài mặc chiếc tăng-già-lê cũ rách đến thế?”

Vị tỳ-kheo ấy trả lời:

“Đại tỷ, đây là pháp phải diệt tận, nên tệ hại như vậy.”

Lúc bấy giờ, tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc đang khoác chiếc tăng-già-lê quí giá, nên thưa với vị tỳ-kheo ấy rằng:

“Thưa Đại đức, con xin cúng chiếc y này cho Đại đức. Đại đức cho con xin chiếc y hiện Đại đức đang mặc có được không?” Vị Tỳ-kheo ấy trả lời: “Được.”

Tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc liền cởi y tăng-già-lê trao cho tỳ-kheo và lấy chiếc y cũ rách của tỳ-kheo mặc vào. Sau đó, Liên Hoa Sắc mặc chiếc y cũ rách này đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân rồi đứng qua một bên. Đức Thế Tôn biết mà cố hỏi Liên Hoa Sắc:

“Tại sao cô mặc chiếc y cũ rách đến thế?”

Tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc liền đem nhân duyên trên bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn bảo:

“Này Liên Hoa Sắc, cô không nên làm như vậy. Như lai cho phép cô chứa giữ năm y nguyên vẹn bền chắc.[7] Ngoài ra c̣n dư, mới tùy ư tịnh thí hoặc cho người. Tại sao vậy? V́ người nữ mặc y phục thượng hạng c̣n chưa tốt, huống chi là mặc y xấu.”

Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo. Ngài biết mà cố hỏi tỳ-kheo kia rằng:

“Thật sự ông có nhận y từ tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc chăng?”

Vị tỳ-kheo kia thưa:

“Bạch đức Thế Tôn đúng như vậy.”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách vị tỳ-kheo kia:

“Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao lại nhận y từ tỳ-kheo-ni?”

Quở trách rồi, đức Thế Tôn bảo [606c] các tỳ-kheo:

“Người này là người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, ta v́ các tỳ-kheo kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới nên nói như vậy:

Tỳ-kheo nào, thọ nhận y từ tỳ-kheo-ni,[8] ni-tát-kỳ ba-dật-đề.

2. Những ngoại lệ

Khi đức Thế Tôn đă v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy rồi, các tỳ-kheo đều sợ nên cẩn thận không dám nhận lấy y từ nơi tỳ-kheo-ni thân quyến. Đức Phật dạy:

“Từ nay về sau cho phép các tỳ-kheo thọ nhận y từ tỳ-kheo-ni thân quyến. Tại sao vậy? Nếu không phải thân quyến th́ không thể trù lượng được là nên nhận hay không nên nhận; hoặc tốt, hoặc xấu, hoặc cũ, hoặc mới. Nếu là thân quyến th́ trù lượng được, biết họ có khả năng hay không, nên nhận không nên nhận, hoặc tốt, hoặc xấu, hoặc cũ, hoặc mới.”

Từ nay về sau nên nói giới như vầy:

“Tỳ-kheo nào, thọ nhận y từ tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”

Khi đức Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như trên rồi, lúc bấy giờ trong Kỳ-hoàn hai bộ Tăng[9] nhận được y cúng dường, cùng chia. Khi ấy, có tỳ-kheo nhận nhầm y của tỳ-kheo-ni, tỳ-kheo-ni nhận nhầm y của tỳ-kheo. Tỳ-kheo-ni mới đem y đến trong Tăng-già-lam, thưa với tỳ-kheo rằng:

“Tôi đem y này đến trao cho Đại đức, Đại đức trao y của Đại đức cho tôi.”

Các tỳ-kheo bảo: “Đức Phật không cho phép chúng tôi thọ nhận y từ tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến.”

Bấy giờ, các tỳ-kheo đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn bảo các tỳ-kheo:

Từ nay trở đi, cho phép trao đổi y. Muốn nói giới phải nói như vầy:

B. Giới tướng

Tỳ-kheo nào, thọ nhận y từ tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến, trừ đổi chác, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.

Tỳ-kheo: nghĩa như trên.

Chẳng phải thân quyến:[10] chẳng phải cha mẹ thân quyến cho đến bảy đời không thân.

Thân quyến:[11] cha mẹ thân quyến cho đến bảy đời thân quyến.

Y: có mười loại như đă nói ở trên.

Đổi chác:[12] dùng y đổi y, dùng y đổi phi y, hoặc dùng phi y đổi y, hoặc dùng kim, hoặc ống đựng kim, hoặc dao, hoặc chỉ, hoặc vật nhỏ... cho đến một viên thuốc để đổi y.

Tỳ-kheo nào thọ nhận y từ nơi tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến, trừ đổi chác, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.

Vật ni-tát-kỳ này phải xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người; không được xả biệt chúng. Nếu xả không thành xả, phạm đột-kiết-la.

Khi xả cho Tăng, nên đến trong Tăng, [607a1] trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, đến lễ Thượng tọa, quỳ gối, chấp tay, tác bạch:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., đă thọ nhận y từ tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”

Xả rồi phải sám hối. Trước hết người thọ sám nên tác bạch:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là...., đă thọ nhận y từ tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi thọ sự sám hối của tỳ-kheo này tên là... Đây là lời tác bạch.”

Bạch rồi mới nhận sám hối. Vị nhận sám hối nên nói với phạm nhân rằng:

“Hăy tự trách tâm ông!”

Phạm nhân đáp:

“Xin vâng!”

Tăng nên trả lại y cho tỳ-kheo này liền, bằng bạch nhị yết-ma để trao. Tăng nên sai một Tỳ-kheo có khả năng tác yết-ma, theo sự việc trên tác bạch:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là..., đă thọ nhận y từ tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng; Tăng chấp thuận trả lại y cho tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă thọ nhận y từ tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến phạm xả đọa; nay xả cho Tăng. Tăng nay đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo này tên là... Các trưởng lăo nào đồng ư, Tăng đem y này trải lại cho tỳ-kheo có tên này th́ im lặng. Ai không đồng ư xin nói.

“Tăng đă chấp thuận trao y cho tỳ-kheo kia tên là... rồi. Tăng đă chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”

Trước Tăng, đă xả y rồi, mà Tăng không trả lại, phạm đột-kiết-la. Khi trả y, nếu có người bảo “đừng trả”, người ấy phạm đột-kiết-la. Nếu chuyển làm tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc đem làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc cố làm cho hư, hoặc đốt, hoặc làm phi y, hoặc mặc luôn cho cho hư, tất cả đều phạm đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó là phạm.

Sự không phạm: thọ nhận y từ tỳ-kheo-ni thân quyến, hoặc đổi chác. V́ Tăng, v́ Phật đ[13] mà lấy th́ không phạm.

Người không phạm: đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.

 

 

V. Nhờ phi thân lý ni giặt y cũ[14]

A. Duyên khởi

Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Tôn giả Ca-lưu-đà-di có nhan sắc xinh đẹp. Tỳ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà cũng lại xinh đẹp. Ca-lưu-đà-di để ư Thâu-lan-nan-đà. Thâu-lan-nan-đà cũng để ư Ca-lưu-đà-di.

Đến giờ khất thực, Ca-lưu-đà-di [607b] khoác y, bưng bát, đến chỗ tỳ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà, ngồi ngay trước mặt, để lộ h́nh. Tỳ-kheo-ni cũng lại ngồi để lộ h́nh. Hai bên nh́n nhau với dục tâm. Một lúc sau, Ca-lưu-đà-di xuất đồ bất tịnh, làm bẩn an-đà-hội. Thâu-lan-nan-đà thấy vậy nói rằng:

“Đại đức đưa cái y đây, tôi giặt cho.”

Ca-lưu-đà-di liền thay đưa cho. Tỳ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà nhận được y, đến chỗ vắng dùng ngón tay lấy đồ bất tịnh cho vào miệng, rồi lại lấy một ít cho vào trong đường tiểu tiện, sau đó có thai. Các tỳ-kheo-ni thấy vậy hỏi rằng:

“Cô không biết hổ thẹn, đă làm hạnh bất tịnh.”

Thâu-lan-nan-đà nói: “Đại tỷ! Tôi không phải không có hổ thẹn. Tôi không phạm tịnh hạnh.”

Các tỳ-kheo-ni nói: “Nếu cô không phạm tịnh hạnh th́ tại sao có thai? Các tỳ-kheo-ni không phạm tịnh hạnh sao họ không có thai?”

Bấy giờ, Thâu-lan-nan-đà mới đem sự việc đă xảy ra tŕnh bày rơ ràng với các tỳ-kheo-ni. Trong số các tỳ-kheo-ni nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, v́ nhân duyên này hiềm trách Ca-lưu-đà-di: “Sao Tôn giả lại nhờ tỳ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà làm việc như vậy?”

Bấy giờ, các tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Lúc bấy giờ, đức Phật v́ nhân duyên này tập hợp các Tăng tỳ-kheo. Ngài biết mà vẫn cố hỏi Ca-lưu-đà-di:

“Có thật ông đă nhờ tỳ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà làm việc như vậy chăng?”

Ca-lưu-đà-di thừa nhận là có.

Đức Phật dùng vô số phương tiện quở trách Ca-lưu-đà-di:

“Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao lại nhờ tỳ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà làm việc như vậy?”

Quở trách xong, Phật bảo các tỳ-kheo:

“Đây là người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới nên nói như vậy:

“Tỳ-kheo nào, khiến tỳ-kheo-ni giặt y cũ, hoặc nhuộm, hoặc đập, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”

Khi đức Thế Tôn v́ các tỳ-kheo chế giới như vậy rồi, sau đó các tỳ-kheo đều sợ, cẩn thận không dám khiến tỳ-kheo-ni thân quyến giặt y cũ, hoặc nhuộm, hoặc đập. Đức Phật dạy:

“Cho phép các tỳ-kheo khiến tỳ-kheo-ni thân quyến giặt y cũ, hoặc nhuộm, hoặc đập...” Từ nay về sau nên nói giới như vầy:

B. Giới tướng

Tỳ-kheo nào, khiến tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến [607c] giặt y cũ, hoặc nhuộm, hoặc đập, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.

Tỳ-kheo: nghĩa như trên.

Chẳng phải thân quyến: như trên đă giải.

Thân quyến: cũng như vậy.

Y cũ: là chỉ cần một lần mặc qua.

Y: nói mười loại như trên.

Nếu tỳ-kheo khiến tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến giặt y cũ, hoặc nhuộm, hoặc đập, (tỳ-kheo) phạm ba ni-tát-kỳ ba-dật-đề.

Bảo giặt, nhuộm, đập, nhưng cô ni chỉ giặt nhuộm mà không đập, (tỳ-kheo) phạm hai ni-tát-kỳ ba-dật-đề, một đột-kiết-la.[15]

Bảo giặt, nhuộm, đập mà cô ni giặt, không nhuộm mà đập, phạm hai ni-tát-kỳ ba-dật-đề, một đột-kiết-la.

Bảo giặt, nhuộm, đập, nhưng cô ni không giặt mà nhuộm đập, (tỳ-kheo) phạm hai ni-tát-kỳ ba-dật-đề, một đột-kiết-la.

Bảo giặt, nhuộm, đập, nhưng cô ni không giặt, không nhuộm, không đập, (tỳ-kheo) phạm ba đột-kiết-la.

Nếu tỳ-kheo khiến thức-xoa-ma-na, sa-di-ni chẳng phải thân quyến giặt nhuộm, đập y cũ, (tỳ-kheo) phạm đột-kiết-la.

Nếu bảo tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến giặt, nhuộm, đập y mới, (tỳ-kheo) phạm đột-kiết-la.

Ni-tát-kỳ này phải xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người; không được xả biệt chúng. Nếu xả không thành xả, phạm đột-kiết-la.

Khi xả cho Tăng, nên đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, đến lễ Thượng tọa, quỳ gối bên hữu sát đất, chấp tay thưa:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, Tỳ-kheo tên là..., đă khiến tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến giặt, nhuộm, đập y cũ, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”

Xả rồi phải sám hối. Trước hết vị thọ sám phải bạch:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là..., đă khiến tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến giặt, nhuộm, đập y cũ, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo có tên là... Đây là lời tác bạch.”

Bạch rồi sau đó mới nhận sám hối. Vị nhận sám hối nên nói với phạm nhân:

“Hăy tự trách tâm ông!”

Phạm nhân đáp: “Xin vâng!”

Tăng nên trả y lại cho tỳ-kheo này liền, bằng bạch nhị yết-ma, như vầy: Tăng sai một vị có thể tác yết-ma, theo sự việc trên tác bạch:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă sai tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến giặt, nhuộm, đập y cũ, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng; Tăng chấp thuận, đem y này trả lại cho tỳ-kheo có tên... Đây là lời tác bạch.”

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă sai tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến giặt, nhuộm, đập y cũ, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng đem y này hoàn lại cho [608a1] tỳ-kheo này. Các trưởng lăo nào đồng ư, Tăng đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo này th́ im lặng. Vị nào không đồng ư xin nói.”

“Tăng đă đồng ư trao y cho tỳ-kheo tên là... rồi. Tăng đă đồng ư nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”

Trong Tăng vị tỳ-kheo này đă xả y rồi, nếu Tăng không trả lại, phạm đột-kiết-la. Khi trả lại, có người bảo “đừng trả”, người ấy phạm đột-kiết-la. Nếu không trả lại, mà chuyển làm tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc tự làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc đốt, hoặc cố làm cho hư hoại, hoặc mặc luôn cho rách, đều phạm đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni, đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó là phạm.

Sự không phạm: trao y cũ cho ni thân quyến giặt, nhuộm, đập; hoặc v́ người bệnh mà giặt, nhuộm, đập; hoặc v́ Tăng, Phật đồ giặt nhuộm đập; hoặc mượn y người khác giặt, nhuộm, đập th́ không phạm. Người không phạm: đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.[16]

 

 

VI. Xin y nơi nhà phi thân lý[17]

A. Duyên khởi

1. Xin y từ phi thân lý

Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, trong thành Xá-vệ có một gia chủ,[18] vào buổi sáng, thắng cỗ xe, cùng đoàn tùy tùng đến công viên, rồi quay xe trở lại tinh xá Kỳ-hoàn; để xe bên ngoài cửa ngơ Kỳ-hoàn, đi bộ vào gặp Bạt-nan-đà Thích tử; lễ kính, hỏi chào. Rồi ngồi phía trước mặt mà nghe pháp. Bạt-nan-đà Thích Tử là người biện tài, trí tuệ, nói pháp khéo léo. Ông nói pháp cho gia chủ này nghe dưới nhiều h́nh thức khác nhau, khai hóa, khuyến khích, khiến gia chủ sinh ḷng hoan hỷ. Gia chủ nghe pháp rồi, liền nói với Bạt-nan-đà rằng:

“Tôn giả cần ǵ, xin cho biết.”

Bạt-nan-đà trả lời:

“Không cần ǵ cả. Sự thỉnh cầu này cũng là sự cúng dường rồi.”

Gia chủ lại nói:

“Xin Ngài cứ nói. Nếu cần dùng thứ ǵ, không nên ái ngại.”

Bạt-nan-đà nói:

“Thôi! Thôi! Không phiền hỏi nữa. [608b] Giả sử tôi có điều cần th́ gia chủ cũng không thể cho được đâu.”

Gia chủ lại nói:

“Xin ngài cứ nói. Tôi sẽ theo sự cần dùng mà cung cấp cho.”

Lúc ấy, gia chủ này mặc chiếc áo lụa trắng, rộng dài, quư giá. Bạt-nan-đà nói:

“Hăy cho tôi chiếc y ông đang mặc. Tôi cần chiếc y đó.”

Gia chủ trả lời:

“Sáng mai đến nhà, tôi sẽ trao cho ngài.”

Bạt-nan-đà nói:

“Tôi đă nói với ông trước rồi, ‘Giả sử tôi có điều cần th́ gia chủ cũng không thể cho được đâu.’ Điều đó bây giờ đúng như tôi đă nói.”

Gia chủ thưa:

“Tôi cho ngài chứ chẳng phải là không cho. Nhưng ngày mai hăy đến, tôi sẽ cho y này. Hoặc cho cái khác c̣n tốt hơn nữa. Bây giờ, nếu cởi chiếc y này dâng cho ngài th́ cũng được, nhưng tôi không thể không có y mà vào thành Xá-vệ.”

Bạt-nan-đà nói: “Thôi! Thôi! Tôi không cần nữa.”

Khi ấy, gia chủ nổi giận, không vui, liền cởi y xếp lại trao cho Bạt-nan-đà và nói rằng:

“Tôi đă thưa với Đại đức là ngày mai hăy đến, tôi sẽ cho y này, hoặc cho cái khác c̣n tốt hơn nữa. Nhưng Đại đức không tin, khiến cho bây giờ tôi chỉ quấn một chiếc y[19] mà vào thành Xá-vệ.”

Rồi, gia chủ ra khỏi tinh xá Kỳ-hoàn, lên xe, chỉ quấn một chiếc y mà vào thành. Người giữ cửa thấy vậy liền hỏi:

“Ông từ đâu về? Bị ai cướp y?”

Gia chủ bảo:

“Vừa bị giặc cướp trong Kỳ-hoàn.”

Lập tức người giữ cửa liền vớ ngay dao gậy, định đi đến Kỳ-hoàn. Gia chủ nói:

“Thôi! Thôi! Khỏi phải đi.”

Người giữ cửa hỏi: “Tại sao vậy?”

Bấy giờ, gia chủ thuật rơ nhân duyên. Các cư sĩ nghe qua đều cơ hiềm rằng: “Sa-môn Thích tử mong cầu nhiều, không biết đủ, không biết hổ thẹn. Bên ngoài tự xưng là tôi biết chánh pháp. Như vậy th́ có chánh pháp ǵ? Sao lại đ̣i cho kỳ được chiếc áo mà gia chủ đang mặc trên thân? Đàn-việt cúng dường tuy không nhàm chán nhưng người thọ nhận phải biết đủ chứ!”

Trong số các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách Bạt-nan-đà Thích tử: “Sao thầy lại đ̣i cho kỳ được chiếc áo quư giá mà gia chủ đang mặc trên người?”

Bấy giờ, các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Phật một cách đầy đủ. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn mới tập hợp các tỳ-kheo. Ngài biết mà vẫn cố hỏi Bạt-nan-đà:

“Có thật ông đ̣i cho được chiếc áo mà gia chủ đang mặc trên người hay không?”

Bạt-nan-đà thưa:

“Bạch Thế Tôn, có như vậy.”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Bạt-nan-đà rằng:

“Việc làm của ông là sai quấy, [608c] chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao lại đ̣i xin cho kỳ được chiếc y mà gia chủ đang mặc trên ḿnh?”

Đức Phật quở trách rồi bảo các tỳ-kheo:

“Bạt-nan-đà là người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới nên nói như vậy:

“Tỳ-kheo nào, xin y nơi cư sĩ, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”

Khi đức Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy rồi, các tỳ-kheo đều sợ, cẩn thận không dám xin y nơi cư sĩ thân quyến. Đức Phật dạy:

“Các tỳ-kheo xin y nơi cư sĩ thân quyến, không phạm.”

Từ nay về sau muốn nói giới, nên nói như vầy:

“Tỳ-kheo nào, xin y nơi cư sĩ chẳng phải thân quyến, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”

2. Tỳ-kheo bị cướp y

Khi đức Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy rồi, bấy giờ, có số đông tỳ-kheo ở nước Câu-tát-la hạ an cư xong, ngày mười lăm tự tứ rồi, ngày mười sáu mang y cầm bát đến chỗ đức Thế Tôn. V́ ban ngày nắng nóng, các tỳ-kheo không thể đi được, mới đi ban đêm. Họ bị lạc vào đường dữ và gặp ổ cướp. Chúng vừa cướp đoạt được của người một số của cải lớn đem về đó. Bọn cướp gặp tỳ-kheo nơi đường dữ, bèn hỏi:

“Các ông đến đây t́m chúng tôi phải không?”

Các tỳ-kheo trả lời:

“Không phải chúng tôi đi t́m các ông. Chúng tôi vừa hạ an cư ở nước Câu-tát-la xong, ngày mười lăm tự tứ rồi, nên ngày mười sáu mang y cầm bát muốn đến gặp đức Thế Tôn. Từ đó đến đây. Ban ngày bị nắng nóng, chúng tôi đi không được; đi ban đêm mới bị lạc đường nên đến đây, chứ không phải đi t́m các ông.”

Bọn giặc hỏi: “Nếu các ông không đi t́m chúng tôi th́ tại sao đi con đường này? Há không muốn hại chúng tôi sao?”

Chúng nói xong liền đánh các tỳ-kheo gần chết và cướp lấy y bát. Các tỳ-kheo phải trần truồng mà đi; đến đứng ngoài cổng Kỳ-hoàn. Các tỳ-kheo (trong Kỳ-hoàn) thấy vậy nói rằng:

“Quư vị là Ni-kiền Tử lơa h́nh, không được vào trong Kỳ-hoàn.”

Các tỳ-kheo kia nói rằng:

“Chúng tôi chẳng phải Ni-kiền Tử. Mà là sa-môn Thích tử.”

Khi ấy, Tôn giả Ưu-ba-ly đang kinh hành cách đó không xa, các tỳ-kheo đến hỏi Tôn giả rằng:

“Hiện có một đám người trần truồng đang đứng ngoài cửa ngơ. Chúng tôi nói,Các Tôn giả là Ni-kiền Tử, chớ vào tinh xá Kỳ-hoàn.’ Những người ấy nói, ‘Chúng tôi không phải Ni-kiền-tử mà là sa-môn Thích tử.’”

Rồi các tỳ-kheo nói với Tôn giả [609a1] Ưu-ba-ly rằng:

“Tôn giả nên ra xem, coi thử họ là ai?”

Tôn giả liền ra ngoài cổng, hỏi:

“Quư vị là ai?”

Đáp rằng: “Chúng tôi là sa-môn Thích tử.”

Lại hỏi: “Quư vị bao nhiêu tuổi?

Đáp rằng: “Chúng tôi chừng ấy tuổi.”

Lại hỏi: “Quư vị thọ giới khi nào?”

Đáp rằng: “Chúng tôi thọ giới năm ấy.”

Lại hỏi: “Ḥa thượng của quư vị là ai?”

Đáp rằng: “Ḥa thượng của chúng tôi hiệu là như vậy.”

“Tại sao quư vị lại trần truồng?”

Các tỳ-kheo liền tŕnh bày đầy đủ nhân duyên đă xảy ra. Khi ấy, Tôn giả Ưu-ba-ly trở lại chỗ các tỳ-kheo nói:

“Những vị đó chẳng phải là Ni-kiền Tử mà là sa-môn Thích tử.”

Rồi Tôn giả Ưu-ba-ly bảo các tỳ-kheo đó rằng:

“Các thầy nên tạm mượn y để mặc. Chớ nên trần truồng đến gặp đức Thế Tôn.”

Các tỳ-kheo liền mượn y mà khoác vào, rồi đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên.

Bấy giờ, đức Thế Tôn an ủi và hỏi các tỳ-kheo:

“Các ngươi thân được an ổn không? Đi đứng có được ḥa hợp an lạc không? Không v́ sự ăn uống mà khổ chăng?”

Các tỳ-kheo thưa: “Bạch Đại đức, chúng con thân được an ổn. Đi đứng có được ḥa hợp an lạc. Không v́ sự ăn uống mà khổ. Chúng con ở nước Câu-tát-la an cư xong, tự tứ rồi, mang y cầm bát, muốn đến thăm hỏi đức Thế Tôn. Ban ngày v́ nắng nóng không đi được, đi ban đêm nên bị lạc đường, gặp bọn ăn cướp...” Tŕnh rơ nhân duyên đầy đủ như trên với đức Thế Tôn.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách các tỳ-kheo rằng:

“Các ông làm việc sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Các ông là người ngu si, tại sao trần truồng mà đi? Nếu trần truồng mà đi, phạm đột-kiết-la. Nếu gặp trường hợp như vậy nên dùng cỏ mềm hay lá cây che ḿnh, đến chùa gần nhất. Trước hết, có y dư th́ nên lấy để mặc. Nếu không có th́ hỏi các tỳ-kheo quen biết, có y dư nên mượn để mặc. Nếu bạn quen biết không có y, nên hỏi trong Tăng có y nào có thể chia. Nếu có th́ chia, c̣n không có th́ nên hỏi có ngọa cụ hay không? Nếu có ngọa cụ th́ đưa, nếu không có đưa cho th́ tự ḿnh mở kho xem có chăn màn, đồ trải đất, điệp, trích lấy, cắt thành y dùng để tự che thân, rồi ra ngoài mà đi xin y.”

Khi ấy các tỳ-kheo cẩn thận, sợ không dám đem vật từ chỗ này đến chỗ khác. Đức Phật dạy: “Cho phép.”

Bấy giờ, tỳ-kheo y bị cướp, y bị mất, y bị cháy, y bị trôi, v́ cẩn thận sợ không dám mặc y của Tăng. Đức Phật dạy:

“Được phép mặc.”

Các tỳ-kheo nhận được y rồi, không trả lại chỗ cũ y (mượn) của Tăng. Phật dạy: “Không nên như vậy. Nếu nhận được y (mới) rồi, nên [609b] giặt, nhuộm, chằm vá (y mượn), an trí lại chỗ cũ. Nếu không an trí lại chỗ cũ th́ như pháp mà trị.”

Bấy giờ, có tỳ-kheo y bị cướp, y bị mất, y bị cháy, y bị trôi, cẩn thận sợ không dám đến nơi cư sĩ, vợ cư sĩ không thân quyến xin y. Đức Phật dạy: “Nếu y bị mất, y bị cướp, y bị cháy, y bị nước cuốn trôi th́ được phép đến nơi cư sĩ hay vợ cư sĩ không thân quyến xin y.”

Từ nay về sau nên nói giới như vầy:

B. Giới tướng

Tỳ-kheo nào, xin y từ cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải thân quyến, ni-tát-kỳ ba-dật-đề, trừ trường hợp đặc biệt.[20] Trường hợp đặc biệt là nếu tỳ-kheo y bị cướp, y bị mất, y bị cháy, y bị nước cuốn trôi.[21] Đây là trường hợp đặc biệt.

Tỳ-kheo: nghĩa như trên.

Thân quyến, chẳng phải thân quyến: như trên đă giải.

Cư sĩ, vợ cư sĩ: cũng đă nói ở trước.

Y: có mười loại như trên đă tŕnh bày.

Nếu tỳ-kheo nào xin y từ cư sĩ, vợ cư sĩ không phải thân quyến, ni-tát-kỳ ba-dật-đề, trừ trường hợp đặc biệt.

Ni-tát-kỳ này nên xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người; không được xả biệt chúng.

Nếu xả không thành xả phạm đột-kiết-la.

Khi xả cho Tăng, nên đến trong Tăng trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, đến lễ Thượng tọa, quỳ gối bên hữu chấm đất, chắp tay bạch:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., đă xin y từ cư sĩ, vợ cư sĩ chẳng phải thân quyến, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”

Xả rồi phải sám hối. Trước hết người nhận sám hối phải tác bạch:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă xin y từ cư sĩ, vợ cư sĩ chẳng phải thân quyến, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”

Bạch rồi sau đó mới nhận sám hối. Vị nhận sám hối nên nói với tỳ-kheo kia rằng:

“Thầy nên tự trách tâm ḿnh!”

Trả lời:

“Xin vâng!”

Tăng nên hoàn y lại cho tỳ-kheo này liền, bằng bạch nhị yết-ma như vầy:

Trong Tăng nên sai một vị có khả năng tác yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă xin y từ cư sĩ, vợ cư sĩ chẳng phải thân quyến, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp với Tăng, Tăng chấp thuận, đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo tên là... Đây là lời tác bạch.”

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă xin y từ cư sĩ, vợ cư sĩ chẳng phải thân quyến, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay Tăng đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo này. Các trưởng lăo nào chấp thuận Tăng đem y này hoàn lại cho [609c] tỳ-kheo này th́ im lặng. Ai không đồng ư xin nói.”

“Tăng đă chấp thuận trao y cho tỳ-kheo có tên... rồi. Tăng đă chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”

Phạm nhân xả y trong Tăng rồi, Tăng không hoàn lại, phạm đột-kiết-la. Khi hoàn y lại, có người bảo “đừng trả”, người ấy phạm đột-kiết-la. Nếu không hoàn lại, mà chuyển làm tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc tự làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc cố làm cho hư hoại, hoặc đốt, hoặc mặc luôn cho rách, đều phạm đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni phạm đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Sự không phạm: y bị đoạt, y bị mất, y bị cháy, y bị nước cuốn trôi, được phép xin y từ cư sĩ, vợ cư sĩ không phải thân quyến, hoặc xin nơi người đồng xuất gia, hoặc xin v́ người khác, hay người khác xin v́ ḿnh. Hoặc không mong cầu mà được th́ không phạm.

Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.

 

 

VII. Nhận y quá phần [22]

A. Duyên khởi

Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, có số đông tỳ-kheo đến tinh xá Kỳ-hoàn sau khi gặp bọn cướp cướp mất y.

Bấy giờ, có ưu-bà-tắc nghe có số đông tỳ-kheo đến tinh xá Kỳ-hoàn sau khi gặp bọn cướp cướp mất y, liền đem nhiều y tốt đến chỗ các tỳ-kheo, hỏi:

“Vừa rồi chúng con nghe có các tỳ-kheo bị mất y đến đây, là những vị nào?”

Các tỳ-kheo trả lời:

“Chính chúng tôi. Vậy hỏi có việc ǵ?”

Vị ưu-bà-tắc thưa:

“Chúng con nghe các tỳ-kheo gặp giặc cướp, cướp mất y, đă đến nơi Kỳ-hoàn này, nên đem những y này đến dâng cúng các Đại đức bị mất y. Xin các ngài tùy ư nhận.”

Các tỳ-kheo nói:

“Thôi! Thôi! Thỉnh cầu như thế đă là cúng dường rồi. Chúng tôi đă đủ ba y, khỏi phải nhận nữa.”

Nhóm sáu tỳ-kheo nghe thế, nói với các tỳ-kheo rằng:

“Này các Đại đức, các ngài đủ ba y rồi, sao không nhận để cho chúng tôi, hay là cho người khác.”

Các cư sĩ đă v́ các tỳ-kheo bị mất y nên đem y đến cúng. Các tỳ-kheo đủ ba y rồi lại nhận y của cư sĩ rồi cho nhóm sáu tỳ-kheo và người khác.

Bấy giờ, trong số các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách các tỳ-kheo: “Cư sĩ nơi Xá-vệ đă v́ các tỳ-kheo bị mất y nên đem y đến cúng. Các vị đủ ba y rồi, tại sao lại lấy y của họ đem cho nhóm sáu tỳ-kheo và các người khác?” Hiềm trách xong, tỳ-kheo thiểu dục đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem [610a1] nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp các tỳ-kheo lại. Ngài biết mà vẫn cố hỏi:

“Này các tỳ-kheo, có thật các ngươi đă đủ ba y mà nhận y của người, đem cho nhóm sáu tỳ-kheo và các người khác không?”

Các tỳ-kheo thưa:

“Kính bạch đức Thế Tôn, có thật như vậy.”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách các tỳ-kheo:

“Các ông làm việc sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không nên làm. Cư sĩ Xá-vệ đă v́ các tỳ-kheo bị mất y nên đem y đến cúng, tại sao các ông đủ ba y rồi lại nhận y của họ để cho nhóm sáu tỳ-kheo và các người khác?”

Quở trách rồi, đức Phật bảo các tỳ-kheo:

“Các tỳ-kheo này là những người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới nên nói như vầy:

B. Giới tướng

Tỳ-kheo nào, y bị mất, y bị cướp, y bị cháy, y bị nước cuốn trôi, nếu có cư sĩ, vợ cư sĩ không phải thân quyến, đem cho nhiều y yêu cầu tùy ư nhận. Tỳ-kheo ấy nên biết đủ mà nhận. Nếu nhận quá, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.

Tỳ-kheo: nghĩa như trên.

Chẳng phải thân quyến: cư sĩ, vợ cư sĩ.

Y: có mười loại cũng như trên đă nói.

Nếu mất một y, không nên nhận. Nếu mất hai y c̣n lại một y hai lớp, ba lớp, bốn lớp, th́ nên tháo ra làm tăng-già-lê, uất-đa-la-tăng hay an-đà-hội. Nếu ba y đều bị mất th́ tỳ-kheo ấy nên tri túc mà nhận y. Tri túc có hai nghĩa: tri túc của người tại gia và tri túc của người xuất gia.

- Tri túc của người tại gia: tùy theo khả năng của người bạch y cho y mà nhận.

- Tri túc của người xuất gia: tức ba y vậy.

Nếu cư sĩ yêu cầu tùy ư,[23] cúng nhiều y cho tỳ-kheo, hoặc y mịn, hoặc y mỏng, hoặc y không bền chắc th́ nên xếp lại hai lớp, ba lớp, bốn lớp để may. Nên may đường viền. Trên vai nên thếp một miếng để ngăn mồ hôi và làm nút móc. Nếu c̣n dư, hăy nói với cư sĩ, “Vải này c̣n dư, nên cắt làm ǵ?” Nếu người đàn-việt bảo, “Không phải tôi v́ vấn đề mất y dâng cúng, mà chúng tôi do tự nguyện, xin được dâng cúng cho Đại đức.” Vị kia muốn nhận th́ cứ nhận. Nếu tỳ-kheo nhận y quá mức tri túc, phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.

Ni-tát-kỳ này nên xả cho Tăng, hoặc số đông, hoặc một người; không được xả biệt chúng. Nếu xả, không thành xả phạm đột-kiết-la.

Khi xả nên đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, [610b] lễ Thượng tọa, quỳ gối hữu chấm đất, chắp tay thưa:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., đă nhận y quá mức tri túc, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.”

Xả rồi phải sám hối. Vị nhận sám hối trước hết phải tác bạch:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là..., đă nhận quá mức tri túc của y, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo tên là... Đây là lời tác bạch.”

Bạch rồi sau đó mới thọ sám hối. Vị thọ sám nên nói với Tỳ-kheo phạm tội là:

“Thầy nên tự trách ḷng ḿnh!”

Tỳ-kheo phạm tội trả lời: “Xin vâng!”

Tăng nên hoàn y lại cho tỳ-kheo này bằng bạch nhị yết-ma như vầy: trong Tăng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă nhận quá mức tri túc của y, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo có tên... Đây là lời tác bạch.”

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., đă nhận quá mức tri túc của y, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Bây giờ, Tăng đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo ấy. Các trưởng lăo nào đồng tâm ư đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo ấy th́ im lặng. Vị nào không đồng ư xin nói. Tăng đă chấp thuận trao lại y cho tỳ-kheo có tên là... rồi.”

“Tăng đă chấp thuận trao lại y cho tỳ-kheo có tên là... rồi v́ im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”

Tỳ-kheo ấy đă xả y trong Tăng rồi mà Tăng không trả lại, Tăng phạm đột-kiết-la. Khi hoàn lại, có người bảo “đừng trả, người ấy phạm đột-kiết-la. Nếu không hoàn lại mà chuyển làm tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc tự làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc cố ư làm cho hư, hoặc đốt, hoặc mặc măi cho rách, đều phạm đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni phạm Đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Sự không phạm: nếu tri túc nhận, hoặc dưới mức tri túc, hoặc cư sĩ cúng nhiều y, hoặc mịn mỏng, không bền chắc xếp hai, ba, bốn lớp may thành y, đặt một miếng ngăn mồ hôi, may khâu hoàn. Nếu y (vải) c̣n dư, nói với cư sĩ: “Vải c̣n dư, làm ǵ?” Nếu cư sĩ nói: “Không phải tôi v́ mất y mà cúng, do tôi tự nguyện muốn dâng cúng cho Đại đức.” Họ nói như vậy, tỳ-kheo cần th́ nhận, không phạm.

Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.

 



[1] Ngũ phần tr.25a8; Tăng kỳ tr.299b4; Thập tụng 6, tr.42a5. Căn bản 19 (tr.722b14): ni-tát-kỳ 5. Pāli, nissaggtiya 5, Cīvarapaṭigganhaṇa, Vin. iii. 207ff.

[2] Liên Hoa Sắc 蓮華色. Tăng kỳ 8, Ưu-bát-la tỳ-kheo-ni. Pāli, Uppalavaṇṇā.

[3] Uất-thiền quốc 鬱禪國. Ngũ phần 5, Ưu-thiện-na ấp 優善那邑. Chuyện kể trong đây, Tứ phầnNgũ phần gần giống nhau. Nhưng không được kể trong Pāli. Pāli: Uppalavaṇṇā.

[4] Trong các tài liệu Pāli, Uppalavaṇṇā Therī nổi tiếng về bốn biện tài vô ngại (paṭisambhidā) và biến hoá thần thông (iddhivikubbana).

[5] Không nhàn xứ 空閑處. Rừng hay a-lan-nhă. Lúc này Phật chưa qui định tỳ-kheo-ni không được sống trong rừng (ni bất trụ lan-nhă).

[6] Ngũ phần 4, tr.25b29: trong rừng An-đà viên. Tại đây, một người bà-la-môn lẻn vào thất của Liên Hoa Sắc, cưỡng hiếp lúc bà đang ngủ. Giật ḿnh thức dậy, bà vận thần thông bay đi. Người bà-la-môn rơi từ trên giường xuống địa ngục. Pāli: rừng Andhavana.

[7] Tỳ-kheo-ni không được bận y rách, và phải đủ 5 y: ngoài 3 y như tỳ-kheo, c̣n có thêm tăng-kỳ-chi (Pāli: samkacchika, yếm che ngực) và áo tắm.

[8] Pāli: bhikkhuniyā hatthato cīvaraṃ paṭigganheyya, nhận y từ chính tay tỳ-kheo-ni.

[9] Hai bộ Tăng: tỳ-kheo Tăng và tỳ-kheo-ni Tăng.

[10] Thân lư 親里. Pāli: aññātikāya.

[11] Căn bản 18: thân tộc; giải thích: cha mẹ của hai người đều có quan hệ thân tộc từ bảy đời.

[12] Hán: mậu dịch 貿易. Pāli: pārivattaka, trao đổi, giao dịch, không hàm ư buôn bán đổi chác. Được phép trao đổi với nhau trong năm chúng: tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, sa-di, sa-di-ni, thức-xoa-ma-na. Cf. Vin.iii. 209.

[13] Phật đồ, tức Phật tháp.

[14] Ngũ phần tr.26c14; Tăng kỳ 9 tr.300b22; Thập tụng tr.43a26.  Căn bản tr.716a23: ni-tát-kỳ 4. Pāli: nissaggiya 4, puṇacīvara-dhovāpa. Vin. iii. 205ff.

[15] Vin. iii. 307: phi thân lư, tương phi thân lư, nhờ nhuộm đập hay nhuộm giặt (2 việc), phạm 1 ni-tát-kỳ, 1 đột-kiết-la; nếu nhờ làm luôn cả 3 việc, phạm 1 ni-tát-kỳ, 2 đột-kiết-la. Không có trường hợp phạm 2 ni-tát-kỳ.

[16] Bản Hán, hết quyển 6.

[17] Ngũ phần tr.27a26; Tăng kỳ tr.301c3; Thập tụng tr.44a29; Căn bản 19 tr.728a22.  Vin. iii. 210. niss. 6 aññātakaviññatti.

[18] Pāli: seṭṭhiputta, con trai của một nhà phú hộ.

[19] Tức chỉ c̣n quấn một chiếc xà-rông mà thôi, để ḿnh trần.

[20] Nguyên Hán: trừ dư thời 除餘時. Ngũ phần: trừ nhân duyên 除因緣. Pāli: aññatra samayā.

[21] Pāli, giới văn: acchinnacīvaro vā, naṭṭacīvaro vā, y bị cướp và y bị hủy hoại. Phần giải thích nói, bị hủy hoại hoặc do lửa cháy, do nước cuốn, chuột mối gặm, hay sờn rách v́ bận nhiều.

[22] Ngũ phần tr.27c22; Tăng kỳ tr.303a6; Thập tụng tr.45a24; Căn bản tr.729c28. Pāli, niss. 7, tatuttari, Vin.iii. 213.

[23] Tự tứ thỉnh 自恣請. Ngũ phần: (cư sĩ) muốn cúng cho nhiều y, tỳ-kheo chỉ nên nhận hai y. Tăng kỳ, Thập tụng: yêu cầu tùy ư, muốn cúng cho nhiều y, tỳ-kheo chỉ được phép nhận thượng y và hạ y.  Pāli: abhihaṭṭhuṃ pavāreyya, yêu cầu tùy y nhận; nhưng, tỳ-kheo mất cả 3 y, nhận 2 y; mất 2 y chỉ được nhận 1 y. Chỉ mất một y, hoàn toàn không được nhận.