Chương iv
Ni-tát-kỳ Ba-dật-đề[1]

  

I. Súc trường y[2]

A. Duyên khởi

1. Y dư

[601c]Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, đức Thế Tôn cho phép các tỳ-kheo thọ tŕ ba y không được dư.

Lúc ấy, nhóm sáu tỳ-kheo chứa y dư. Hoặc có y mặc buổi sáng. Hoặc có y mặc buổi trưa. Hoặc có y mặc buổi xế. Nhóm sáu tỳ-kheo thường kinh doanh trang nghiêm y phục, cất chứa như vậy. Các tỳ-kheo thấy, bảo nhóm sáu tỳ-kheo rằng:

“Đức Phật cho phép thọ tŕ ba y, không được dư. Đây là y của ai?”

“Y dư của chúng tôi đấy.” Nhóm sáu trả lời.

Trong số các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo:

“Đức Như Lai cho phép thọ tŕ ba y, tại sao các thầy cất chứa y dư, hoặc có y mặc buổi sáng, hoặc có y mặc giữa ngày, hoặc có y mặc buổi xế?”

Các tỳ-kheo liền đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi


ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ.

Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập họp Tăng tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:

“Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao, nhóm sáu tỳ-kheo, Như Lai cho phép thọ tŕ ba y, các ông lại chứa cất y dư?”

Đức Phật dùng vô số phương tiện quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:

“Nhóm sáu tỳ-kheo là những người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới nên nói như vầy:

“Tỳ-kheo nào chứa y dư,[3] ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”

2. Quá mười ngày

Khi đức Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy rồi, Tôn giả A-nan nhận được một tấm y phấn tảo quư giá[4] từ nơi một người kia, muốn dâng cúng cho đại Ca-diếp.[5] V́ ngài Ca-diếp thường sống hạnh đầu-đà, mặc loại y này. Nhưng lúc ấy, ngài không có ở đó. Tôn giả A-nan có ư nghĩ: “Đức Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới, ‘Tỳ-kheo nào chứa y dư, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.’ Nay, ta nhận được y phấn tảo quư giá, muốn [602a1] dâng cúng cho đại Ca-diếp. V́ đại Ca-diếp thường sống hạnh đầu-đà, mặc loại y này. Mà ngài không có ở đây. Không biết làm sao đây?”

A-nan liền đến chỗ đức Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, đứng qua một bên, bạch đức Thế Tôn:

“Bạch Thế Tôn, Ngài v́ các tỳ-kheo kết giới, ‘tỳ-kheo nào chứa y dư, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.’ Nay con nhận được một y phấn tảo quư giá, muốn dâng cúng lên đại Ca-diếp. V́ đại Ca-diếp thường tu hạnh đầu đà, mặc y phấn tảo.” Phật hỏi A-nan:

“Khi nào Ca-diếp về?”

A-nan bạch Phật:

“Sau mười ngày sẽ về.”

Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này, tập hợp Tăng tỳ-kheo, tùy thuận thuyết pháp cho các tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện nói về thiểu dục tri túc, hạnh đầu-đà, ưa pháp xuất ly, rồi bảo các tỳ-kheo:

“Từ nay về sau cho phép chứa y dư, không quá mười ngày.”

Muốn nói giới nên nói như vầy:

B. Giới tướng

Tỳ-kheo nào, y đă xong, ca-thi-na đă xả, cất chứa y dư, trong mười ngày không tịnh thí được phép chứa. Nếu quá mười ngày, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.

Tỳ-kheo: nghĩa như trên.

Y đă xong: chỉ là ba y.[6]

Y ca-thi-na đă xả.[7]

Y:[8] có mười loại: y thi, y kiếp-bối (vải), y khâm-bà la, y sô-ma (bố), y sấm-ma, y phiến-na, y ma (vải gai), y súy-di-la, y cưu-di-la, y sấm-la-bán-ni.[9]

Y dư:[10] cho đến miếng vải chiều dài bằng tám ngón tay, chiều rộng bằng bốn ngón tay của Như Lai trở lên đều gọi là y dư.

Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y, được chứa. Ngày thứ hai được y, cho đến ngày thứ mười được y, được chứa. Qua đến ngày thứ mười một, khi b́nh minh[11] xuất hiện, tất cả y đó trở thành ni-tát-kỳ.
Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y, ngày thứ hai không được, ngày thứ ba được y, ngày thứ tư được y, như vậy cho đến ngày thứ mười được y, đến ngày thứ mười một, khi b́nh minh xuất hiện số y nhận được trong chín ngày đó đều phạm ni-tát-kỳ.

Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y, ngày thứ hai được y. Ngày thứ ba không được. Ngày thứ tư được (như vậy lần lần lên đến ngày thứ mười không được, xây dựng câu văn cũng như trên).[12]

Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày thứ hai, ngày thứ ba không được. Ngày thứ tư được, cho đến ngày thứ mười được y. Nếu đến ngày thứ mười một, khi b́nh minh xuất hiện, số y nhận được trong tám ngày đó đều phạm ni-tát-kỳ.

Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y, ngày thứ hai được y. Ngày thứ ba và ngày thứ tư không được. Ngày thứ năm được, (như vậy lần lần xuống, cho đến ngày thứ chín, ngày thứ mười không được y, xây dựng câu văn cũng như trên).[13]

Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư không được y. Ngày thứ năm được y, cho đến ngày thứ mười được y. Nếu đến ngày thứ mười một, khi b́nh minh xuất hiện, số y được trong bảy ngày đó, đều phạm ni-tát-kỳ.

Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y, ngày thứ hai được y.

[602b]Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm không được y. Ngày thứ sáu được y, (như vậy chuyển, xuống cho đến ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười, không được y, xây dựng câu văn cũng như trên).*

Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm không được y. Ngày thứ sáu được y, cho đến ngày thứ mười được y. Nếu đến ngày thứ mười một, khi b́nh minh xuất hiện, số y được trong sáu ngày đó, đều phạm ni-tát-kỳ.

Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y, ngày thứ hai được y. Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu không được. Ngày thứ bảy được y (như vậy lần xuống cho đến ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không được y, xây dựng câu văn cũng như vậy).*

Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu không được y. Ngày thứ bảy được y, cho đến ngày thứ mười được y. Nếu đến ngày thứ mười một, khi b́nh minh xuất hiện, số y được trong năm ngày đó đều phạm ni-tát-kỳ.

Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y, ngày thứ hai được y. Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy không được y. Ngày thứ tám được y (như vậy lần xuống cho đến ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không được y, xây dựng câu văn cũng như trên).*

Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy không được y. Ngày thứ tám được y, cho đến ngày thứ mười được y, nếu qua ngày thứ mười một, khi b́nh minh xuất hiện, số y được trong bốn ngày đó, đều phạm ni-tát-kỳ.

Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y, ngày thứ hai được y. Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám không được y. Ngày thứ chín được y (như vậy lần xuống cho đến ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không được y, xây dựng câu văn cũng như trên).*

Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám không được y. Ngày thứ chín, ngày thứ mười được y; số y được trong ba ngày đó, nếu đến ngày thứ mười một, khi b́nh minh xuất hiện, đều phạm ni-tát-kỳ.

Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày thứ hai được y. Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín không được y. Ngày thứ mười được y (như vậy lần xuống cho đến ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không được y, xây dựng câu văn cũng như trên).*

Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín không được y. Ngày thứ mười được y. Nếu qua ngày thứ mười một, khi b́nh minh xuất hiện, số y được trong hai ngày đó, đều phạm ni-tát-kỳ.

Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y, ngày thứ hai được y. Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không được y (như vậy lần xuống cho đến ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không được y, xây dựng câu văn cũng như trên).*

Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười [602c] không được y. Nếu qua ngày mười một, khi b́nh minh xuất hiện, số y nhận được trong một ngày đó, đều phạm ni-tát-kỳ.

Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y không tịnh thí.[14] Ngày thứ hai được y tịnh thí. Ngày thứ ba được y, cho đến ngày thứ mười được y không tịnh thí. Qua đến ngày thứ mười một, khi b́nh minh xuất hiện, số y nhận được trong chín ngày đó đều phạm ni-tát-kỳ.

Nếu tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y, ngày thứ hai được y mà không tịnh thí. Ngày thứ ba được y tịnh thí. Ngày thứ tư được y không tịnh thí (như vậy lần xuống cho đến ngày thứ mười được y tịnh thí, không tịnh thí, xây dựng câu văn cũng như trên).* Nếu gởi đi cho người khác (xây dựng câu văn cũng như trên).* Nếu y bị mất (xây dựng câu văn cũng như trên). Nếu cố ư làm y hư hoại (xây dựng câu văn cũng như trên).* Nếu làm phi y (đặt câu văn cũng như trên).* Nếu với ư nghĩ là người quen biết lấy (đặt câu văn cũng như trên).* Nếu quên đi (xây dựng câu văn cũng như trên).* Tất cả đều phạm ni-tát-kỳ.

Nếu y phạm xả đọa mà không xả, đem đổi lấy y khác, phạm một ni-tát-kỳ ba-dật-đề và một đột-kiết-la.

Y xả đọa này nên xả cho Tăng, hoặc một nhóm người, hoặc một người. Không được xả biệt chúng. Nếu xả không thành xả, phạm đột-kiết-la. Khi xả cho Tăng, phải đến trong Tăng, mặc y trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, đến kính lễ Thượng tọa, quỳ gối, chấp tay, thưa:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., cố ư chứa y dư như vậy, quá mười ngày, phạm xả đọa. Nay, tôi xả cho Tăng sử dụng.”

Xả y rồi phải sám hối. Người thọ sám phải tác bạch, sau đó mới thọ sám. Lời tác bạch như sau:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., cố ư chứa y dư như vậy, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi thọ sự sám hối của tỳ-kheo tên là... Đây là lời tác bạch.”

Tác bạch như vậy xong, sau đó mới thọ sự sám hối. Vị thọ sám nên nói với phạm nhân rằng:

“Hăy tự trách tâm ông!”

Phạm nhân trả lời:

“Xin vâng!”

Nếu Tăng đông, khó tập hợp, mà tỳ-kheo này có duyên sự muốn đi xa th́ nên hỏi tỳ-kheo ấy rằng: “Y này, ông muốn cho ai?” Tùy theo lời nói của vị ấy mà cho, và Tăng phải hoàn y này lại liền cho tỳ-kheo ấy bằng pháp bạch nhị yết-ma. Nghi thức trao như sau:

Trong Tăng nên sai một vị có khả năng tác yết-ma, theo sự việc trên tác bạch như sau:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là..., cố ư chứa y dư như vậy, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, đem y này trao cho tỳ-kheo tên là... kia. Tỳ-kheo tên là... kia sẽ hoàn lại cho tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là... cố ư chứa y dư như vậy, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng, Tăng đem y này cho tỳ-kheo tên là... kia. Tỳ-kheo tên là... kia sẽ hoàn lại cho tỳ-kheo này. Các trưởng lăo nào chấp thuận, Tăng đem y này trao cho [603a1] tỳ-kheo tên là... kia và Tỳ-kheo tên là... kia sẽ hoàn cho tỳ-kheo này, th́ im lặng; vị nào không đồng ư, xin nói.

“Tăng đă chấp thuận cho Tỳ-kheo tên là... kia y này rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”

Tỳ-kheo này ở giữa Tăng xả y rồi, mà không được trả lại; Tăng mắc đột-kiết-la.[15] Khi trả lại, có người nói “đừng trả”, người ấy mắc đột-kiết-la.

Nếu tác pháp tịnh thí,[16] hoặc gởi đi cho người khác, hoặc đem làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la,[17] hoặc cố ư làm cho hư hoại, hoặc đốt cháy, hoặc làm phi y,[18] hoặc thường xuyên mặc cho hư, đều phạm đột-kiết-la.

Tỳ-kheo-ni, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Sự không phạm: không quá mười ngày. Hoặc chuyển tịnh thí. Hoặc gởi đi cho người. Hoặc tưởng bị giặc cướp; hoặc tưởng bị mất; hoặc tưởng bị cháy; hoặc tưởng bị trôi. [Trong các trường hợp này] không tịnh thí, không gởi đi cho người, không phạm.

Nếu y bị đoạt, y bị mất, y bị cháy, y bị trôi, lấy mặc,[19] hoặc người khác đưa cho mặc,[20] hoặc người khác đưa cho làm,[21] th́ người kia không phạm.

Người nhận gởi gắm y kia hoặc mạng chung, hoặc đi xa, hoặc thôi tu, hoặc bị giặc bắt dẫn đi, hoặc bị ác thú hại, hoặc nước trôi ch́m. Các trường hợp như vầy mà không tác tịnh thí, không gởi đi cho người, cũng không phạm.

Người không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.

 

 

II. Ngủ lìa y[22]

A. Duyên khởi

1. Lìa y

Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ.

Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo đem y gởi nơi tỳ-kheo thân hữu để du hành trong nhân gian. Tỳ-kheo được gởi y, thường thường đem y phơi nắng. Các tỳ-kheo thấy, hỏi:

“Đức Phật cho phép tỳ-kheo chứa ba y, không được dư. Đây là y của ai?”

Tỳ-kheo phơi y trải lời: “Đây là y của nhóm sáu tỳ-kheo. Họ là bạn thân của tôi, đem gởi cho tôi, để du hành trong nhân gian. Sợ bị sâu bọ phá nên tôi đem phơi.”

Trong số các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo:

“Sao các thầy đem y gởi cho tỳ-kheo thân hữu; ĺa y mà du hành trong nhân gian?”

Hiềm trách rồi, các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:

[603b]”Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao lại đem y gởi cho tỳ-kheo thân hữu; ĺa y mà du hành trong nhân gian?”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách rồi, bảo các tỳ-kheo:

“Nhóm sáu tỳ-kheo là những người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới nên nói như vầy:

“Tỳ-kheo nào, y đă xong, y ca-thi-na đă xả, ĺa một trong ba y ngủ đêm nơi khác, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.”

2. Cương giới của y

Khi đức Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy, bấy giờ có một tỳ-kheo bị bệnh can tiêu,[23] có y phấn tảo tăng-già-lê nặng quá. Tỳ-kheo này v́ có nhân duyên muốn du hành trong nhân gian, không thể mang nó theo được, tự nghĩ rằng: “Đức Thế Tôn đă v́ các tỳ-kheo kết giới, không được ĺa y ngủ đêm. Ĺa y ngủ đêm, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Nay ta bị bệnh can tiêu, mà ta có y phấn tảo tăng-già-lê quá nặng, lại có nhân duyên muốn du hành trong nhân gian, không thể mang theo được. Nay ta nên như thế nào đây?” Vị ấy nói với các tỳ-kheo đồng bạn rằng:

“Đức Thế Tôn đă v́ các tỳ-kheo kết giới, không được ĺa y ngủ đêm. Ĺa y ngủ đêm, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Nay tôi bị bệnh can tiêu, mà tôi có y phấn tảo tăng-già-lê quá nặng, lại có nhân duyên muốn du hành trong nhân gian, không thể mang theo được. Nay tôi nên như thế nào? Các Đại đức v́ tôi đến bạch đức Thế Tôn, Thế Tôn dạy thế nào, tôi sẽ phụng hành như vậy.”

Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn liền tập hợp các Tăng tỳ-kheo, bảo rằng:

Từ nay trở đi, cho phép Tăng trao cho tỳ-kheo bệnh này pháp bạch nhị yết-ma, kết không mất y. Nghi thức trao như vầy:

Tỳ-kheo kia nên đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ giầy dép, đến lễ Thượng tọa, qú gối, chấp tay, bạch xin như vầy:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., mắc bệnh can tiêu, phấn tảo tăng-già-lê này nặng, có nhân duyên muốn du hành trong nhân gian, không thể mang theo được. Nay tôi đến xin Tăng pháp không mất y.”

Nên cầu xin như vậy ba lần. Trong Tăng nên sai một vị có thể tác yết-ma, theo sự việc trên tác bạch:

[603c]”Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là..., mắc bệnh can tiêu, có phấn tảo tăng-già-lê quá nặng, lại có nhân duyên muốn du hành trong nhân gian, nên không thể mang theo được, đến xin Tăng pháp không mất y. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, trao cho tỳ-kheo này pháp không mất y. Đây là lời tác bạch.”

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là..., mắc bệnh can tiêu, có phấn tảo tăng-già-lê quá nặng, lại có nhân duyên muốn du hành trong nhân gian, mà không thể mang theo được, nay đến xin Tăng pháp không mất y. Nay, Tăng trao cho tỳ-kheo tên là... pháp không mất y. Trưởng lăo nào chấp thuận Tăng trao cho tỳ-kheo tên là... pháp không mất y th́ im lặng; vị nào không đồng ư xin nói.”

“Tăng đă chấp thuận trao cho tỳ-kheo tên là... pháp không mất y rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”

B. Giới tướng

Từ nay về sau sẽ nói giới như sau:

Tỳ-kheo nào y đă xong, y ca-thi-na đă xả, ĺa một trong ba y ngủ đêm chỗ khác, trừ tăng yết-ma, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.

Tỳ-kheo: nghĩa như trên.

Y đă xong: đủ ba y.

Y ca-thi-na đă xả. (như trên)

Ba y: tăng-già-lê, uất-đa-la-tăng, an-đà-hội.

Y: có mười loại, như trên đă nói.

Tăng: cùng một thuyết giới, cùng một yết-ma.

Không mất y: trong Tăng-già-lam có một giới. Mất y: trong Tăng-già-lam có nhiều giới.[24]

Không mất y: cây có một giới. Mất y: cây có nhiều giới.

Không mất y: sân[25] có một giới. Mất y: sân có nhiều giới.

Không mất y: xe có một giới. Mất y: xe có nhiều giới.

Không mất y: thuyền có một giới. Mất y: thuyền có nhiều giới.

Không mất y: thôn có một giới. Mất y: thôn có nhiều giới.

Không mất y: nhà có một giới. Mất y: nhà có nhiều giới.

Không mất y: giảng đường có một giới. Mất y: giảng đường có nhiều giới.

Không mất y: kho chứa có một giới. Mất y: kho chứa có nhiều giới.

Không mất y: lẫm có một giới. Mất y: lẫm có nhiều giới.

Tăng-già-lam: có bốn loại như trên.[26]

Cây: cao bằng người, có bóng che đủ để ngồi kiết già.

Sân: nơi đập và phơi ngũ cốc.

Xe: chỗ đủ cho xe quay đầu lại.

Thuyền: chỗ đủ cho chiếc thuyền xoay lại.

Thôn: [604a1] có bốn loại như trên.[27]

Giảng đường: có nhiều khoảng trống.

Kho: nơi chứa các vật mua bán, ngựa xe v.v...

Lẫm: chỗ chứa ngũ cốc.

Giới Tăng-già-lam: giới Tăng-già-lam này, chẳng phải giới Tăng-già-lam kia. Giới Tăng-già-lam này, chẳng phải giới của cây kia. Cho đến giới của kho chứa này chẳng phải giới của kho chứa kia, cũng như vậy. Giới cây này chẳng phải giới cây kia. Cho đến giới kho chứa, giới của Tăng-già-lam cũng như vậy.

Giới của sân này chẳng phải giới của sân kia. Cho đến giới Tăng-già-lam, giới cây, cũng như vậy. Ngoài ra xây dựng câu văn cũng như trên.

Giới Tăng-già-lam: ở đường biên của Tăng-già-lam, với sức người trung b́nh, dùng đá hoặc gạch ném đến chỗ nào th́ nơi đó gọi là giới.[28] Cho đến giới của kho chứa cũng như vậy.

Nếu tỳ-kheo để y ở trong Tăng-già-lam, lại ngủ ở dưới gốc cây, khi b́nh minh chưa xuất hiện, hoặc xả y, hoặc tay cầm y, hoặc đến trong tầm đá ném tới. Nếu không xả y, hoặc tay cầm y, hoặc đến trong tầm đá ném tới; khi b́nh minh xuất hiện, tùy theo chỗ ĺa y ngủ, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.

Trừ ba y, ĺa các y khác, đột-kiết-la.

Tỳ-kheo để y trong Tăng-già-lam, đến chỗ sân phơi. B́nh minh chưa xuất hiện, hoặc xả y, hoặc tay phải nắm y, hoặc đến trong tầm đá ném tới. Nếu không xả y, không đến trong tầm đá ném tới, mà b́nh minh xuất hiện, tùy theo chỗ ĺa y ngủ, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.

Cho đến ngủ nơi kho chứa, mỗi mỗi câu cũng như vậy. Nếu tỳ-kheo để y dưới gốc cây, đến ngủ chỗ sân phơi lúa cho đến ngủ nơi kho chứa của Tăng-già-lam th́ cũng như vậy.

Không mất y: Nếu nơi a-lan-nhă không có giới, trong khoảng tám cây.[29] Một cây là bảy cung. Cung pháp nước Giá-ma-lê[30] trung b́nh dài bốn khủy tay.

Nếu tỳ-kheo nơi a-lan-nhă có thôn, để y trong khoảng tám cây, ngủ chỗ khác, b́nh minh chưa xuất hiện. Không xả y, tay không nắm y, hoặc không đến chỗ đá ném tới, khi b́nh minh xuất hiện, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Trừ ba y, ĺa các y khác, đột-kiết-la.

Y xả đọa này nên xả cho Tăng, hoặc một nhóm người, hoặc một người; không được xả biệt chúng. Nếu xả biệt chúng, không thành xả phạm đột-kiết-la.

Khi xả cho Tăng, đương sự nên đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ dép, đến lễ Thượng tọa quỳ gối, chấp tay,[604b] thưa như vậy:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi tỳ-kheo tên là..., đă ĺa y ngủ, phạm xả đọa. Nay, tôi xả cho Tăng.”

Phạm nhân xả rồi phải sám hối. Vị thọ sám hối phải tác bạch, sau đó mới thọ sám. Tác bạch như vầy:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., ĺa y ngủ, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sám hối cho vị tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.”

Bạch như vậy rồi, sau mới nhận sám hối. Vị nhận sám hối nên nói với phạm nhân rằng:

“Hăy tự trách tâm ông!”

Phạm nhân trả lời:

“Xin vâng!”

Tăng nên hoàn y lại cho tỳ-kheo này, liền bạch nhị yết-ma. Thể thức trao lại y như vầy: trong Tăng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, theo sự việc trên, tác bạch:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là..., ĺa y ngủ, phạm xả đọa; nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo... Đây là lời tác bạch.”

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., ĺa y ngủ, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay, Tăng đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo tên... Các trưởng lăo chấp thuận, Tăng đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo... kia th́ im lặng. Ai không đồng ư xin nói.

“Tăng đă chấp thuận trao y cho tỳ-kheo... kia rồi. Tăng đă chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”

Nếu ở trong Tăng xả y rồi, mà không hoàn lại, Tăng phạm đột-kiết-la. Khi hoàn lại, có người nói: đừng hoàn, người ấy phạm đột-kiết-la.

Nếu chuyển làm tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc đem làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la,[31] hoặc cố làm cho hư, hoặc đốt, hoặc làm phi y, hoặc mặc luôn cho hư, tất cả đều phạm đột-kiết-la.

Tỳ-kheo-ni, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni phạm đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Sự không phạm: đă được Tăng tác yết-ma. Khi b́nh minh chưa xuất hiện, tay nắm y, hoặc cả y, hoặc đến chỗ đá quăng tới, hoặc tưởng bị cưỡng đoạt, hoặc tưởng bị mất, hoặc tưởng bị cháy, hoặc tưởng bị nước trôi, hoặc tưởng bị hư hoại. Nếu đường thủy bị đứt đoạn, đường bộ bị hiểm nạn, hoặc bị giặc cướp, hoặc nạn ác thú, hoặc nước lên lớn, hoặc bị cường lực bắt, hoặc bị trói, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn, không xả y, tay không nắm tới y, không đến chỗ đá quăng tới th́ không phạm.

Người không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.

 

 

III. Chờ y một tháng[32]

A. Duyên khởi

Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, [604c] có tỳ-kheo, mà y tăng-già-lê bị cũ rách hư hoại, nghĩ rằng: “Thế Tôn đă v́ các tỳ-kheo kết giới: ‘Y đă xong, y ca-thi-na đă xả, cho phép chứa y dư trong mười ngày. Chứa quá hạn định, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.’ Song, tăng-già-lê này của ta bị cũ, hư mục, trong ṿng mười ngày không thể may xong. Bây giờ, ta nên như thế nào?” Vị ấy liền nói với tỳ-kheo đồng tâm ư rằng:

“Lành thay! Đại đức v́ tôi bạch lên đức Thế Tôn. Ngài dạy thế nào tôi sẽ phụng hành thế ấy.”

Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn dùng nhân duyên này tập hợp các tỳ-kheo và bảo:

“Từ nay về sau cho phép các tỳ-kheo được chứa y dư, v́ chờ cho đủ.”

Nhóm sáu tỳ-kheo nghe đức Thế Tôn cho phép chứa y dư v́ chờ cho đủ; họ có y phấn tảo và các loại y khác, cùng loại mà chưa đủ, liền lấy trong đó y phấn tảo giặt và nhuộm, bốn đầu góc điểm tác tịnh, đem đến gởi các tỳ-kheo thân hữu rồi du hành trong nhân gian. V́ họ đi lâu quá không trở lại, tỳ-kheo nhận gởi sợ y ẩm ướt đem phơi. Các tỳ-kheo thấy, hỏi: “Thế Tôn đă chế giới, cho phép chứa ba y, không được quá. Y này của ai?”

Tỳ-kheo nhận gởi trả lời: “Y này là của nhóm sáu tỳ-kheo. Nhóm sáu tỳ-kheo nói: ‘Đức Thế Tôn chế giới, cho phép được chứa y dư cho đến khi nào có đủ.’ Họ có y phấn tảo và các loại y khác, cùng loại mà chưa đủ, nên lấy trong đó y phấn tảo, giặt và nhuộm, bốn đầu góc điểm tác tịnh, đem gởi cho tôi để du hành trong nhân gian. Sợ hư mục nên tôi đem hong phơi.”

Lúc ấy, trong số các tỳ-kheo nghe, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách nhóm sáu tỳ-kheo:

“Tại sao nói đức Thế Tôn cho phép chứa y dư v́ chờ cho đủ, mà v́ cùng loại y chưa đủ, lấy trong đó y phấn tảo giặt và nhuộm, bốn đầu góc điểm tác tịnh, đem gởi cho tỳ-kheo thân hữu để du hành trong nhân gian?”

Các tỳ-kheo liền đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp các tỳ-kheo quở trách nhóm sáu tỳ-kheo: “Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Này, nhóm sáu tỳ-kheo! Tại sao Thế Tôn cho phép tỳ-kheo chứa y dư v́ chờ cho đủ, mà v́ cùng loại y [605a1] chưa đủ lại lấy trong đó y phấn tảo giặt nhuộm, bốn đầu điểm tác tịnh, đem gởi cho tỳ-kheo thân hữu để du hành trong nhân gian?”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách rồi bảo các tỳ-kheo: “Đây là những người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới nên nói như vầy:

B. Giới tướng

Tỳ-kheo nào y đă đủ, y ca-thi-na đă xả, nếu tỳ-kheo được y vải phi thời, cần th́ nhận; nhận rồi mau chóng may thành y; đủ th́ tốt, không đủ th́ được phép chứa một tháng v́ chờ cho đủ; nếu chứa quá hạn, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.

Tỳ-kheo: nghĩa như trên.

Y đă xong: đủ ba y và y ca-thi-na đă xả.

Thời: không thọ y ca-thi-na th́ sau lễ tự tứ một tháng; có thọ y ca-thi-na th́ sau lễ tự tứ năm tháng.

Phi thời: nếu quá thời hạn của y này.

Y: có mười loại như trên đă nói.

Nếu trong mười ngày, cùng loại y,[33] đủ th́ nên cắt rọc ra, lược may thành y. Hoặc tác pháp tịnh thí hoặc khiến cho người. Nếu không cắt rọc, lược may thành y, không tịnh thí, không gởi đi cho người, ngày thứ mười một, khi b́nh minh xuất hiện, tùy theo số y (vải) nhiều hay ít, phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Nếu y cùng loại không đủ, đến ngày thứ mười một, y cùng loại mới đủ, trong ngày liền phải cắt rọc, lược may thành y. Nếu không cắt rọc, lược may thành y, không tịnh thí, không sai cho người, đến ngày thứ mười hai, khi b́nh minh xuất hiện, tùy theo số y nhiều hay ít, đều phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Như vậy, cho đến ngày thứ hai mươi chín cũng thế. Nếu cùng loại y không đủ, ngày ba mươi đủ hay không đủ, cùng loại hay không cùng loại, trong ngày đó cũng phải cắt rọc, lược may thành y, hoặc tịnh thí, hoặc sai cho người. Nếu không cắt rọc, lược may thành y, không tịnh thí, không sai cho người, đến ngày thứ ba mươi mốt, khi b́nh minh xuất hiện, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.

Ni-tát-kỳ này phải xả cho Tăng hoặc nhiều người, hoặc một người; không được xả biệt chúng. Nếu xả không thành xả phạm đột-kiết-la.

Khi xả cho Tăng, phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ giầy dép đến lễ Thượng tọa, đầu gối bên hữu chấm đất, chấp tay, bạch:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., có y như vậy, chứa quá số ngày như vậy, phạm [605b] xả đọa. Nay tôi xả cho Tăng.”

Xả rồi phải sám hối. Người nhận sám hối phải tác bạch:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., có y như vậy, chứa quá số ngày như vậy, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo tên là... Đây là lời tác bạch.”

Tác bạch như vậy rồi, sau đó mới nhận sự sám hối. Khi nhận sự sám hối nên nói với phạm nhân rằng:

“Hăy tự trách tâm ông!”

Phạm nhân đáp: “Xin vâng!”

Tăng nên hoàn y lại cho tỳ-kheo này ngay, bằng pháp bạch nhị yết-ma như sau: Trong Tăng nên sai một vị có khả năng tác yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., có cái y như vậy, chứa quá số ngày như vậy, phạm xả đọa; nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo có tên... Đây là lời tác bạch.”

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., có cái y như vậy, chứa quá ngày như vậy, phạm xả đọa; nay xả cho Tăng. Nay Tăng đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo có tên… Các trưởng lăo nào đồng ư, Tăng đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo có tên... th́ im lặng. Vị nào không đồng ư xin nói.”

“Tăng đă thuận trao y cho tỳ-kheo có tên... rồi. Tăng đồng tâm ư nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”

Nếu trong Tăng, xả y rồi, không hoàn lại, phạm đột-kiết-la. Khi hoàn lại, nếu có người bảo “đừng trả, th́ người ấy phạm đột-kiết-la.

Nếu không trả lại, chuyển tịnh thí, hoặc khiến cho người, hoặc đem làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc cố làm cho hư, hoặc đốt, hoặc làm phi y, hoặc luôn luôn mặc cho hư, đều phạm đột-kiết-la.

Tỳ-kheo-ni, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni phạm đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Sự không phạm: chứa trong ṿng mười ngày. Y cùng loại đủ, cắt rọc, lược may thành y. Cùng loại y không đủ, đến ngày thứ mười một cùng loại y đủ, đă được cắt rọc, lược may thành y.

Hoặc tịnh thí, sai cho người. Cho đến ngày hai mươi chín cũng như vậy. Ngày thứ ba mươi đủ hay không đủ, cùng loại hay không đồng loại, nội nhật phải cắt rọc, lược may thành y, hoặc tịnh thí, sai cho người, th́ không phạm.

Tưởng bị đoạt,[34] tưởng bị mất, tưởng bị cháy, tưởng bị nước trôi mà không cắt rọc, lược may thành y, không tịnh thí, không sai cho người th́ không phạm. Nếu y bị đoạt, y bị mất, [605c] y bị cháy, y bị nước trôi, mà lấy (y dư) mặc, hoặc người cho mặc, hoặc làm chăn th́ không phạm. Nếu tỳ-kheo nhận gởi y, mạng chung, hoặc đi xa, hoặc thôi tu, bị giặc, hoặc bị ác thú hại, hoặc bị nước trôi không cắt rọc, không lược, không may thành y, không sai cho người th́ không phạm.

Người không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.

 



[1] Cf, Tăng kỳ 8, tr.292b10: “Ni-tát-kỳ ba-dạ-đề, y dư cần phải xả trước Tăng; sau đó sám tội ba-dật-đề. Xả mà không sám hối, phạm tội việt t́-ni. Ba-dạ-đề, nghĩa là có thể đọa ác đạo.” Thập tụng 5, tr.30b12: “Ni-tát-kỳ ba-dạ-đề, y ấy cần phải xả. Tội ba-dạ-đề cần phải sám hối.” Căn bản 16, tr.711c26: “Ni-tát-kỳ ba-dật-để-ca, vật ấy cần phải xả; tội ấy cần phải sám.” Pāli (Vin.iii. 193): nissaggiya pācittiya.

[2] Pāli: Atirekacīvara, Vin. iii. 195.

[3] Ngũ phần: qua một đêm.

[4] Quư giá phấn tảo y 貴價糞掃衣; quư giá ở đây nên hiểu là “thực chất, đúng nghĩa.” Tức đúng loại y bị vất bỏ như là rác, chứ không phải y trân quư, có giá trị. Ngũ phần 4: 2 tấm vải kiếp-bối.

[5] Pāli: muốn cúng lại cho Xá-lợi-phất.

[6] Y dĩ cánh 衣已竟. Pāli: niṭṭhittacīvarasmiṃ, y đă hoàn tất; tức y đă may xong; bao gồm trường hợp y bị mất, y bị cướp, y bị cháy. Ngũ phần 4: giặt, nhuộm, và may xong.

[7] Thiếu giải thích trong bản Hán. Ngũ phần 4 (tr.23b28): ca-thi-na đă được xả do bạch nhị yết-ma. Pāli (Vin.iii. 196): ubbhatasmiṃ kaṭhine, được giải thích: ca-thi-na đă được xả do tám nguyên nhân; hoặc do Tăng tác pháp xả. Xem chương Y ca-thi-na.

[8] Hầu hết, Hán dịch y  (Pāli: cīvara), cần được hiểu là vải để may y, chứ không phải là áo mặc theo nghĩa đen của từ Hán.

[9] Mười loại y: y thi (Pāli: koseyya), y kiếp-bối (Pāli: kappāsika), y khâm-bà-la (kambala), y sô-ma (khoma), y sấm-ma, y phiến-na (sāna), y ma (bhaṅga, vải gai), y súy-di-la, y cưu-di-la, y sấm-la-bán-ni 絁衣劫貝衣欽婆羅衣芻摩衣讖摩衣扇那衣麻衣翅夷羅衣鳩夷羅衣讖羅半尼衣. Ngũ phần: kiếp-bối 劫貝, khâm-ba-la [28]波羅, dă-tàm-miên [29]蠶綿, trữ , ma . Tăng kỳ: khâm-bà-la 欽婆羅 kiếp-bối 劫貝, sô-ma 芻摩, câu-xá-da 俱舍耶, xá-na 舍那, ma , xu-mâu-đề 軀牟提. Pāli: cīvaraṃ, y ở đây chỉ sáu loại y (=vải) được chấp nhận: khomaṃ (vải lanh), kappāsikaṃ (vải bông), koseyyaṃ (lụa), kambalaṃ (lông thú), sāṇaṃ (vải gai thô), bhaṅgaṃ (vải bố).

[10] Trường y 長衣. Căn bản 16 (tr.711c25): “Ngoài những y đang thọ tŕ, c̣n lại gọi là y dư.” Pāli: atirekacīvaraṃ, giải thích: y không được phân phối (anadiṭṭhita) và chưa được tác tịnh (avikappita).

[11] Minh tướng 明相, tướng sáng, dấu hiệu sáng. Pāli: aruṇuggamane, khi mặt trời mọc.

[12] Trong ngoặc: nguyên tiểu chú trong bản Hán.

[13] Tiểu chú trong bản Hán.

[14] Tịnh thí 淨施, hay tác tịnh. Tăng kỳ 8 (tr.292b14): “Được phép chứa y dư trong ṿng 10 ngày không tác tịnh. Quá 10 ngày, ni-tát-kỳ ba-dạ-đề.” Căn bản 16 (tr.711c26): “y dư trên 10 ngày, nếu tác phân biệt pháp (tác tịnh), được phép chứa.” Tứ phần, ba-dật-đề 59: có hai cách tịnh thí, chân thật và triển chuyển. Chân thật tịnh thí là biếu luôn. Triển chuyển tịnh thí chỉ cho trên danh nghĩa, người cho vẫn dùng với ư niệm “mượn tạm.” Pāli, Pācittiya 59 (Vin.iv.122): vikappana, tác tịnh hay tịnh thí, có hai cách: sammukhavikappana, hiện tiền tác tịnh và parammukha-vikappana, khiếm diện tác tịnh.

[15] Pāli, Vin.iii.197 (Pācittiya 1): Sau khi xả y dư, cần sám ba-dật-đề. Y phải được trả lại, nói: imaṃ cīvaraṃ āyasmato dammī’ti, “Y này tôi trả lại cho Trưởng lăo.”

[16] Sau khi đă xả như pháp.

[17] Ba-lợi-ca-la 波利迦羅. Skt (=Pāli). parikara, dây đai, dây nịt, để buộc y phục.

[18] Phi y 非衣; không dùng làm y.

[19] Hán: thủ trước 取著; chưa rơ nghĩa. Cf, Tứ phần 17, tr.676b13 (ba-dật-đề 59): “Vật đă chân thật tịnh thí, cần phải hỏi chủ sau đó mới dùng (Hán: thủ trước). Nếu là triển chuyển tịnh thí, không cần hỏi, tùy ư dùng (tùy ư thủ trước).” Cf, Tăng kỳ 8 (T22n1425, tr.293a10): người khác nhận giùm y được cúng, nhưng chưa đưa; quá hạn, vẫn không phạm.

[20] Cf, Tăng kỳ 8, nt., hoặc thầy, hoặc đệ tử nghe có người cho y, nhưng y chưa đưa đến. Quá hạn vẫn không phạm.

[21] Cf, Tăng kỳ 8, nt., nhờ người may y. May đă xong, nhưng chưa giao. Quá hạn, vẫn không phạm.

[22] Pāli: Ticīvaravippavaseyya, Vin.iii. 198.

[23] Can tiêu bệnh 乾痟病, chứng gầy c̣m, hay nhức đầu kinh niên? Từ điển Khang Hy: tiêu , chứng bệnh nhức đầu. Ngũ phần 4, một tỳ-kheo tŕ y phấn tảo, muốn đi xa, nhưng y quá nặng. Tăng kỳ 8: Xá-lợi-phất muốn về thăm quê, gặp phải lúc mưa dầm, tăng-già-lê nặng v́ ướt sũng, nên không đi được. Căn bản 17: Ngày Tăng bố-tát, đại Ca-diếp không đến được v́ ở cách sông, gặp khi trời mưa, qua sông nước lớn, y bị ướt. Pāli, Pācittiya 2: aññataro bhikkhu Kosambiyaṃ gilāno hoti, một tỳ-kheo ở Kosambi bị bệnh.

[24] Một giới… nhiều giới; Ngũ phần: đồng giới, dị giới 同界異界. Thập tụng 5: một giới, biệt giới; Căn bản 17: một thế phần, nhiều thế phần. Nghĩa là, mỗi nơi có một hay nhiều phạm vi phụ cận. Pāli: ekūpacāra, nānūpacra. Xem thêm cht. 29 sau.

[25] Hán: tràng .

[26] Như trên. Các đoạn trước, chưa chỗ nào đề cập.

[27] Chương i, Ba-la-di ii, phần thích nghĩa.

[28] Tăng viện với một hay nhiều khu phụ cận. Pāli, Vin.iii. 200: vihāro ekūpacāro nanūpacāro: tinh xá có một vùng phụ cận, hay nhiều vùng phụ cận. Căn bản 17, gọi là có một thế phần hay có nhiều thế phần. Một nhà có thể chỉ có một thế phần, nếu chỉ có một gia trưởng. Một nhà nhưng có nhiều thế phần, nếu có nhiều gia trưởng. Anh em chia nhau ở từng khu vực riêng.

[29] Mahāvagga, Vin.i.111: 7 abhantara (a-bàn-đà). Khoảng cách giữa 2 cây là 1 abhantara.

[30] Căn bản 17, tr.714c21: theo phép trồng xoài của Sanh Văn bà-la-môn (Pāli. Jaṇussoṇī).

[31] Xem cht. Ch Ni-tát-kỳ 1 trên.

[32] Pāli: Nissaggiya 3, akālacīvaram uppajjeyya. Vin.iii. 202.

[33] Y, ở đây đồng nghĩa như chữ vải. Xem cht. Ch. Ni-tát-kỳ ba-dật-đề 1 trước.

[34] Trong số ba y đang thọ tŕ, có cái nào tưởng bị cướp, có thể lấy y dư ra dùng (để thế vào y tưởng bị cướp).