XII. Ô tha gia[1]

A. Duyên khởi

Một thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ.

Bấy giờ, ở Kỳ-liên[2] có hai tỳ-kheo. Một tên là A-thấp-bà,[3] người thứ hai tên là Phú-na-bà-sa.[4] Cả hai ở tại Kỳ-liên có hành vi xấu, làm hoen ố nhà người. Hành vi xấu mọi người đều thấy, mọi người đều nghe. Sự làm hoen ố nhà người, mọi người đều thấy, mọi người đều nghe. Họ làm những điều phi pháp như: tự ḿnh trồng cây hoa, sai bảo người trồng cây hoa; tự ḿnh tưới nước, sai bảo người tưới nước; tự ḿnh hái hoa, sai bảo người hái hoa; tự ḿnh làm tràng hoa, sai bảo người làm tràng hoa; tự ḿnh xâu chỉ cột, sai bảo người xâu chỉ cột; tự ḿnh cầm hoa, sai bảo người cầm hoa; tự ḿnh đem tràng hoa cho người, sai bảo người đem tràng hoa cho người. Hoặc ở trong thôn xóm kia có người phụ nữ, đồng nữ, cùng họ ngồi một giường, một ghế, cùng ăn uống một mâm, nói năng cười cợt; hoặc tự ca múa xướng hát, hoặc người khác làm, ḿnh ḥa theo; hoặc diễn kịch, hoặc đánh trống, thổi ống tiêu, ống sáo; làm tiếng chim sẻ, làm tiếng các loài chim khác kêu; hoặc chạy, hoặc giả kiễng chân mà đi, hoặc huưt gió, [597a1] tự làm lộng thân,[5] hoặc giúp vui cho kẻ khác...

Khi ấy, có số đông tỳ-kheo từ nước Ca-thi[6] tuần tự du hành đến Kỳ-liên, nghỉ đêm tại đó. Sáng ngày, đắp y, bưng bát vào thôn khất thực. Pháp phục tề chỉnh. Bước đi thong thả. Mắt nh́n trước bước đi, không xoay ngó hai bên. Theo thứ tự khất thực. Khi ấy, các cư sĩ thấy vậy, cùng nhau bàn nói: “Đây là người ǵ cúi đầu mà đi, không ngó hai bên, cũng không nói cười, không bặt thiệp, không khéo léo trong lời chào hỏi. Chúng ta không nên cho thức ăn cho họ. A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa của chúng ta, hai vị ấy không cúi đầu đi. Họ ngó hai bên. Họ bặt thiệp với mọi người, khéo léo trong lời chào hỏi. Chúng ta nên cúng dường thức ăn cho họ.”

Lúc ấy, số đông tỳ-kheo kia khất thực tại Kỳ-liên, khó khăn lắm mới nhận được thức ăn. Do vậy, họ tự nghĩ: “Có tỳ-kheo xấu hiện đang trú tại trú xứ này, làm ác hạnh như vậy… cho đến, giúp vui cho kẻ khác.”

Các tỳ-kheo liền từ Kỳ-liên đến thành Vương-xá, và đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn như thường lệ hỏi thăm và an ủi các tỳ-kheo khách:

“Các ông đi đứng có được an lạc chăng? Chúng Tăng có ḥa hợp không? Có gặp khó khăn v́ ăn uống không?”

Các tỳ-kheo bạch đức Thế Tôn:

“Bạch Đại đức, chúng con đi đứng được an lạc. Chúng Tăng ḥa hợp. Chúng con du hành từ nước Ca-thi đến Kỳ-liên…” Rồi đem nhân duyên trên tŕnh bày đầy đủ lên đức Thế Tôn.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện từ xa quở trách hai tỳ-kheo A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa rằng: “Việc làm của các người ấy là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tại sao A-thấp-bà, Phú-na-bà-sa ở nơi Kỳ-liên mà làm


hoen ố nhà người, có hành vi xấu? Sự làm hoen ố nhà người ai cũng thấy, ai cũng nghe. Hành vi xấu ai cũng thấy, ai cũng nghe, (…) cho đến giúp vui cho kẻ khác.”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách rồi, bảo hai ngài Xá-lợi-phất và Mục-liên:

“Này, hai ông nên đến Kỳ-liên trao cho A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa pháp yết-ma tẫn xuất.[7] Tại sao vậy? V́ họ là đệ tử của hai ông.”

Bạch tứ yết-ma như sau:

Tăng nhóm họp xong, tiến hành cử tội[8] hai ông ấy. Cử tội xong tác pháp ức niệm.[9] Tác ức niệm xong nên trao tội[10] cho họ. Rồi sai một vị có khả năng tác yết-ma, dựa theo sự việc đă xảy ra tác bạch:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa này ở nơi Kỳ-liên làm hoen ố nhà người, có hành vi xấu. [597b] Sự làm hoen ố nhà người ai cũng thấy, ai cũng nghe. Việc có hành vi xấu ai cũng thấy, ai cũng nghe. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận; nay Tăng v́ A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa tác pháp yết-ma tẫn xuất, rằng: ‘Các ông đă làm hoen ố nhà người, có hành vi xấu. Sự làm hoen ố nhà người ai cũng thấy, ai cũng nghe. Việc có hành vi xấu ai cũng thấy ai cũng nghe. Các ông đă có những hành vi xấu như vậy th́ nên đi khỏi đây, không nên ở nơi này.’ Đây là lời tác bạch.

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! A-thấp-bà, Phú-na-bà-sa này, ở nơi Kỳ-liên đă làm hoen ố nhà người, có hành vi xấu. Sự làm hoen ố nhà người ai cũng thấy, ai cũng nghe. Việc có hành vi xấu ai cũng thấy, ai cũng nghe. Nay Tăng trao cho A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa pháp yết-ma tẫn xuất, rằng: ‘Các ông đă làm hoen ố nhà người, có hành vi xấu. Sự làm hoen ố nhà người ai cũng thấy, ai cũng nghe. Việc có hành vi xấu ai cũng thấy ai cũng nghe. Các ông đă có những hành vi xấu như vậy th́ nên đi khỏi đây, không nên ở nơi này.’ Vị trưởng lăo nào đồng ư Tăng v́ hai người này tác yết-ma tẫn xuất th́ im lặng. Vị nào không đồng ư th́ xin nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất.” (Lần thứ hai, lần thứ ba cũng như vậy).

“Tăng đă chấp thuận trao cho A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa pháp yết-ma tẫn xuất rồi. Tăng đă chấp thuận v́ im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”

Tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-liên vâng lời Phật dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu ba ṿng rồi đi.

Ngài Xá-lợi-phất và Mục-liên khoác y, bưng bát, cùng với số đông năm trăm vị đại tỳ-kheo, từ nước Ca-thi du hành đến Kỳ-liên.

Khi ấy, A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa nghe Xá-lợi-phất và Mục-liên dẫn năm trăm vị đại tỳ-kheo, từ Ca-thi du hành đến Kỳ-liên, bèn nghĩ: “Chắc chắn v́ chúng ta làm yết-ma tẫn xuất.” Hai người kia liền đến chỗ các cư sĩ, nói rằng:

“Nay có hai tỳ-kheo đến. Một, tên là Xá-lợi-phất, và hai, tên là Mục-liên. Một vị giỏi về huyễn thuật, bay đi trên hư không. Tỳ-kheo thứ hai, th́ hành ác hạnh, tự ḿnh có khả năng thuyết pháp. Quư vị nên khéo tự quán sát, đừng để bị mê hoặc.”

Khi ấy, Xá-lợi-phất và Mục-liên từ nước Ca-thi tuần tự du hành đến Kỳ-liên, nghỉ đêm nơi đó. Sáng ngày, khoác y, bưng bát, vào thôn khất thực. Đại Mục-liên hiện thần túc, phóng thân lên không trung; Xá-lợi-phất đích thân nói pháp.

Bấy giờ, các cư sĩ thấy vậy rồi, cùng nhau bàn tán: “Hai tỳ-kheo này, một vị giỏi nghề huyễn thuật, bay đi trong không trung. Tỳ-kheo thứ hai hành ác hạnh, nhưng tự nói pháp được.” Lúc này, Xá-


lợi-phất và Mục-liên liền v́ các cư sĩ tại Kỳ-liên mà [597c] nói pháp, khiến họ được tin phục.

Khi Tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-liên ăn xong, rửa bát, trở về lại trú xứ, v́ nhân duyên này, tập hợp Tăng tỳ-kheo. Tăng nhóm họp, rồi họ v́ A-thấp-bà, Phú-na-bà-sa mà cử tội. Cử tội xong tác ức niệm. Tác ức niệm xong trao tội. Tôn giả Xá-lợi-phất ở giữa chúng liền tác yết-ma như trên. Khi ấy, A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa bị Tăng tác yết-ma rồi, liền nói:

“Chúng Tăng có thiên vị, có thù nghịch, có sợ hăi, có bất minh. V́ có tỳ-kheo đồng tội như vậy mà có người bị đuổi, có người không bị đuổi. Nhưng chỉ riêng đuổi tôi.”

Khi ấy, Xá-lợi-phất và Mục-liên ở tại Kỳ-liên v́ A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa tác yết-ma rồi, trở về vườn Cấp-côộc rừng cây Kỳ-đà nước Xá-vệ, đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, bạch Phật:

“Chúng con đă đến Kỳ-liên trao cho A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa yết-ma tẫn xuất rồi. Khi chúng Tăng tác yết-ma tẫn xuất, A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa lại nói: ‘Chúng Tăng có thiên vị, có thù nghịch, có sợ hăi, có bất minh. V́ có tỳ-kheo đồng tội như vậy, mà có người bị đuổi, có người không bị đuổi.’”

Lúc ấy, đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện từ xa quở trách A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa:

“Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tại sao khi chúng Tăng trao cho pháp yết-ma tẫn xuất lại nói: ‘Chúng Tăng có thiên vị, có thù nghịch, có sợ hăi, có bất minh. V́ có tỳ-kheo đồng tội như vậy, mà có người bị đuổi, có người không bị đuổi’?

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa rồi bảo các Tỳ-kheo: “Từ nay trở đi, cho phép Tăng trao cho A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa pháp ha gián, bằng bạch tứ yết-ma.”

Trong chúng nên sai một người có thể tác yết-ma, dựa theo sự việc đă xảy ra, tác bạch:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa này ở tại Kỳ-liên, khi Tăng trao cho pháp yết-ma, lại nói: ‘Tăng có thiên vị, có thù nghịch, có sợ hăi, có bất minh. V́ có tỳ-kheo đồng tội như vậy, mà có người bị đuổi, có người không bị đuổi.’ Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng trao cho A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa pháp ha gián để bỏ việc ấy, rằng: ‘Các ông chớ nói Tăng có thiên vị, có thù nghịch, có sợ hăi, có bất minh. V́ có tỳ-kheo đồng tội như vậy, mà [598a1] có người bị đuổi, có người không bị đuổi. Nhưng các tỳ-kheo không có thiên vị, không có thù nghịch, không có sợ hăi, không có bất minh. Các ông làm hoen ố nhà người, có hành vi xấu. Sự làm hoen ố nhà người ai cũng thấy, ai cũng nghe. Hành vi xấu, ai cũng thấy, ai cũng nghe. Các ông đă làm hoen ố nhà người, đă có hành vi xấu.’ Đây là lời tác bạch.

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa này ở tại Kỳ-liên khi Tăng trao cho pháp yết-ma bèn nói: ‘Tăng có thiên vị, có thù nghịch, có sợ hăi, có bất minh v́ có Tỳ-kheo đồng tội mà có người bị đuổi, có người không bị đuổi.’ Nay Tăng trao cho A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa pháp ha gián cho bỏ việc này, rằng: ‘Các ông chớ nói Tăng có thiên vị, có thù nghịch, có sợ hăi, có bất minh. V́ có tỳ-kheo đồng tội như vậy, mà có người bị đuổi, có người không bị đuổi. Nhưng các tỳ-kheo không có thiên vị, không có thù nghịch, không có sợ hăi, không có bất minh. Các ông làm hoen ố nhà người, có hành vi xấu. Sự làm hoen ố nhà người ai cũng thấy, ai cũng nghe. Hành vi xấu ai cũng thấy, ai cũng nghe. Các ông đă làm hoen ố nhà người, đă có hành vi xấu.’ Các trưởng lăo nào chấp nhận Tăng trao cho A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa pháp ha gián, cho bỏ việc này, th́ im lặng. Ai không đồng ư th́ xin nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất. (Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy).

“Tăng đă chấp thuận, trao cho A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa pháp ha gián cho bỏ việc này rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”

Trao cho A-thấp-bà và Phú-na-bà-sa pháp bạch tứ yết-ma ha gián như vậy rồi, các tỳ-kheo mới đến bạch đức Thế Tôn. Đức Phật bảo:

“Có tỳ-kheo nào, Tăng tẫn xuất rồi, hoặc đang tẫn xuất, hoặc chưa tẫn xuất mà nói: ‘Tăng có thiên vị, có thù nghịch, có sợ hăi, có bất minh,’ cũng cần trao cho họ pháp bạch tứ yết-ma ha gián như vậy.

“Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới sẽ nói như vầy:

B. Giới văn

Tỳ-kheo nào, sống nương tựa xóm làng, hay thành ấp, mà làm hoen ố nhà người, có hành vi xấu. Sự làm hoen ố nhà người ai cũng thấy, ai cũng nghe. Hành vi xấu ai cũng thấy, ai cũng nghe. Các tỳ-kheo nên nói với tỳ-kheo ấy rằng: ‘Đại đức là người làm hoen ố nhà người, có hành vi xấu. Sự làm hoen ố nhà người ai cũng thấy, ai cũng nghe. Hành vi xấu ai cũng thấy, ai cũng nghe. Đại đức, ngài làm hoen ố nhà người, có hành vi xấu, nay nên xa lánh xóm làng này, không nên sống ở đây nữa.Tỳ-kheo ấy nói với các tỳ-kheo rằng: ‘Chư Đại đức, các tỳ-kheo có thiên vị, có thù nghịch, có sợ hăi, có bất minh. [598b] V́ có tỳ-kheo đồng tội như vậy, mà có người bị đuổi, có người không bị đuổi.’ Các tỳ-kheo nên trả lời tỳ-kheo đó rằng: ‘Đại đức chớ nói ‘Tăng có thiên vị, có thù nghịch, có sợ hăi, có bất minh. V́ có tỳ-kheo đồng tội như vậy, mà có người bị đuổi, có người không bị đuổi.’ Nhưng các tỳ-kheo không có thiên vị, không có thù nghịch, không có sợ hăi, không có bất minh. Đại đức làm hoen ố nhà người, có hành vi xấu. Sự làm hoen ố nhà người ai cũng thấy, ai cũng nghe. Hành vi xấu ai cũng thấy, ai cũng nghe. Tỳ-kheo ấy được can gián như vậy mà kiên tŕ không bỏ; các tỳ-kheo nên can gián ba lần cho bỏ việc ấy. Cho đến ba lần can gián, bỏ th́ tốt. Nếu không bỏ, tăng-già bà thi sa.

C. Thích từ

Tỳ-kheo: nghĩa như trên.

Thôn: có bốn loại, như trên đă nói.

Xóm làng thành ấp: thuộc về của nhà vua.

Nhà: có nam có nữ.[11]

Làm hoen ố nhà người:[12] có bốn sự. Nương tựa[13] nhà làm hoen ố nhà, nương lợi dưỡng làm hoen ố nhà, nương tựa thân hữu làm hoen ố nhà, nương tựa Tăng-già-lam làm hoen ố nhà.

- Thế nào là nương tựa nhà làm hoen ố nhà? Từ một nhà (này) nhận được vật, đem cho một nhà (khác). Nhà ḿnh nhận được vật nghe nói th́ không vui. C̣n nhà ḿnh đem vật cho, lại nghĩ chuyện trả ơn, bèn nói: “Nếu có cho ta, th́ ta sẽ đáp lại. Nếu không cho ta, ta lấy cớ ǵ cho lại?” Đó gọi là nương tựa nhà làm hoen ố nhà người.

- Thế nào gọi là nương lợi dưỡng làm hoen ố nhà? Tỳ-kheo được lợi dưỡng như pháp, cho đến thức ăn c̣n thừa nơi bát, đem cho một cư sĩ (này) mà không cho một cư sĩ (kia). Người cư sĩ nhận được liền sinh ư niệm trả ơn, nói: “Có cho ta, ta sẽ trả ơn. Nếu không cho ta, làm sao ta cho lại?” Đó gọi là nương lợi dưỡng làm hoen ố nhà người.

- Thế nào gọi là nương tựa thân hữu làm hoen ố nhà người? Tỳ-kheo nương tựa nhà vua, hoặc Đại thần, rồi v́ (giúp) một cư sĩ (này), không v́ một cư sĩ (kia). Người cư sĩ được (giúp) liền nghĩ việc trả ơn, nói: “Có v́ ta, ta sẽ cúng dường. Nếu không v́ ta, ta không cúng dường.” Đó gọi là nương tựa thân hữu làm hoen ố nhà người.

- Thế nào gọi là nương tựa Tăng-già-lam làm hoen ố nhà người? Tỳ-kheo lấy bông trái của Tăng cho một cư sĩ (này), không cho một cư sĩ (kia). Cư sĩ được cho liền nghĩ việc trả ơn, nói: “Nếu có cho ta, ta sẽ cúng dường. Nếu không cho ta, ta không cúng dường.” Đó gọi là nương tựa Tăng-già-lam làm hoen ố nhà người. V́ bốn sự này mà làm cho nhà người bị hoen ố,[14] cho nên gọi là làm hoen ố nhà người.

Có hành vi xấu[15]: tự ḿnh trồng cây hoa, hay sai người trồng cây hoa, cho đến, giúp vui cho người, như trên đă nói.

D. Phạm tướng

Tỳ-kheo nương tựa nơi tụ lạc, làm hoen ố nhà người, ai cũng thấy, [598c] ai cũng nghe; có hành vi xấu ai cũng thấy, ai cũng nghe. Tỳ-kheo kia can gián tỳ-kheo này rằng: “Đại đức làm hoen ố nhà người ai cũng thấy, ai cũng nghe. Có hành vi xấu ai cũng thấy, ai cũng nghe. Đại đức làm hoen ố nhà người, có hành vi xấu, nên bỏ việc này, đừng để Tăng-già quở trách, lại phạm trọng tội.”

Nếu vị ấy nghe lời th́ tốt, bằng không nghe lời, nên tác bạch. Tác bạch rồi, nên thuyết phục, nói: “Đại đức, Tăng đă tác bạch rồi. C̣n có ba yết-ma nữa, nên bỏ việc này, đừng để Tăng phải quở trách, lại phạm trọng tội.”

Nếu vị ấy bỏ th́ tốt, bằng không bỏ nên tác yết-ma lần đầu. Tác yết-ma lần đầu rồi, lại thuyết phục, nói: “Đại đức, Tăng đă tác bạch và tác pháp yết-ma lần đầu rồi, c̣n có hai yết-ma nữa. Đại đức nên bỏ việc này, đừng để Tăng quở trách lại phạm trọng tội.”

Nếu vị ấy nghe lời th́ tốt, bằng không nghe lời nên tác pháp yết-ma lần thứ hai. Tác yết-ma lần thứ hai rồi, nên lại thuyết phục, nói: “Đại đức, Tăng đă tác pháp yết-ma lần thứ hai rồi, c̣n có một yết-ma nữa. Đại đức nên bỏ việc này, đừng để Tăng phải quở trách lại phạm trọng tội.”

Nếu vị ấy nghe theo th́ tốt, bằng không nghe lời nên tác pháp yết-ma lần thứ ba. Tác yết-ma lần thứ ba rồi, tăng-già-bà-thi-sa.

Nếu tác pháp yết-ma lần thứ hai xong mà bỏ th́ phạm ba thâu-lan-giá. Nếu tác pháp yết-ma lần thứ nhất xong mà bỏ th́ phạm hai thâu-lan-giá. Nếu bạch xong mà bỏ th́ phạm một thâu-lan-giá. Nếu bạch chưa xong mà bỏ th́ phạm đột-kiết-la. Nếu trước khi chưa bạch, nói Tăng có thiên vị, có thù hận, có sợ hăi, có bất minh, tất cả đều phạm đột-kiết-la.

Khi Tăng tác pháp quở trách can gián lại có Tỳ-kheo khác bảo: “đừng bỏ.” Tỳ-kheo này phạm thâu-lan-giá. Nếu chưa tác pháp quở trách can gián th́ phạm đột-kiết-la. Nếu khi Tăng tác pháp can ngăn quở trách có tỳ-kheo-ni bảo: “đừng bỏ.” Cô ni này phạm thâu-lan-giá. Nếu trước khi chưa tác pháp quở trách can gián th́ cô ni phạm đột-kiết-la.

Trừ tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, người khác bảo: “đừng bỏ”; quở trách, không quở trách đều phạm đột-kiết-la. Nếu không xem thư mà mang đi, phạm đột-kiết-la. Nếu v́ bạch y làm người đưa tin sứ giả, phạm đột-kiết-la.

Tỳ-kheo-ni, tăng-già-bà-thi-sa. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Sự không phạm: khi mới nói liền bỏ. Hoặc yết-ma phi pháp biệt chúng, phi pháp ḥa hợp chúng, pháp tương tợ biệt chúng, pháp tương tợ ḥa hiệp chúng, phi pháp, phi luật, phi Phật giáo. Nếu tất cả trước khi chưa tác pháp quở trách can ngăn th́ không phạm. Nếu cho cha [599a1] mẹ, cho người bệnh, cho tiểu nhi, cho phụ nữ có thai, cho người bị nhốt trong ngục, cho người làm thuê trong nhà chùa th́ không phạm. Trồng cây hoa, sai bảo người trồng cây hoa, để cúng dường Phật, Pháp, Tăng; tự ḿnh tạo tràng hoa, sai bảo người tạo tràng hoa để cúng dường Phật, Pháp, Tăng; tự ḿnh dùng chỉ xâu hoa, sai bảo người dùng chỉ xâu hoa để cúng dường Phật, Pháp, Tăng; tự ḿnh cầm hoa, sai bảo người cầm hoa cúng dường Phật, Pháp, Tăng; tự ḿnh dùng chỉ xâu tràng hoa, sai bảo người dùng chỉ xâu tràng hoa để cúng dường Phật, Pháp, Tăng, đều không phạm. Nếu bị người đưa tay muốn đánh,[16] hoặc bị giặc, hoặc bị voi, báo, sư tử, hổ lang, hoặc nơi có hoạn nạn, hoặc chạy tránh v́ người gánh gai nhọn th́ không phạm. Nếu lội qua sông, rănh, mương, hầm phải nhón gót nhảy th́ không phạm.

Nếu đồng bạn đi sau, quay lại ngó không thấy, huưt gió kêu th́ không phạm. Nếu v́ cha mẹ bệnh, hoặc v́ người bị nhốt trong ngục, hoặc v́ người ưu-bà-tắc có tín tâm sâu đậm bệnh hay bị giam cầm, xem thư rồi đem đi, hoặc v́ tháp, v́ Tăng, v́ tỳ-kheo bệnh mang thư tới lui, tất cả đều không phạm.

Người không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.

 

 

XIII. Ác tánh bất thọ nhân ngữ [17]

A. Duyên khởi

Một thời, đức Phật ở trong vườn Cù-sư-la, tại nước Câu-thiểm-di.[18]


Bấy giờ, Tôn giả tỳ-kheo Xiển-đà[19] v́ tánh ngoan cố nên không nhận lời khuyên của người khác, lại nói các tỳ-kheo rằng: “Các ngài chớ nên nói với tôi điều ǵ hoặc tốt hoặc xấu. Tôi cũng không nói với các Đại đức điều ǵ hoặc tốt hoặc xấu. Các Đại đức, thôi đi, đừng nên nói ǵ nữa! Các Đại đức sao lại dạy tôi? Tôi đáng dạy Đại đức. Tại sao vậy? Thánh chúa của tôi chứng đắc Chánh giác. Ví như nước lớn từ đầu cuốn trôi các cây cỏ dồn lại một chỗ. Các Đại đức cũng lại như vậy, đủ mọi ḍng họ khác nhau, đủ các tên gọi, đủ các gia tộc khác nhau xuất gia, tập họp lại một chỗ. Cũng như gió lớn thổi các cây cỏ gom lại một chỗ. Các Đại đức cũng như vậy, đủ mọi ḍng họ khác nhau, đủ các tên gọi, đủ các gia tộc khác nhau xuất gia, tập hợp lại một chỗ. Bởi vậy, các Đại đức không đáng dạy tôi. Tôi đáng dạy các Đại đức. Tại sao vậy? Thánh chúa của tôi chứng đắc Chánh giác.” Khi ấy, trong các tỳ-kheo nghe, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư hiềm trách tỳ-kheo Xiển-đà: “Sao lại ngoan cố không nhận lời khuyên của người khác? Lại nói với các tỳ-kheo rằng: ‘Các ngài chớ nên nói với tôi điều ǵ hoặc tốt hoặc xấu. Tôi cũng không [599b] nói với các Đại đức điều ǵ hoặc tốt hoặc xấu. Các Đại đức thôi đi, đừng nên nói ǵ nữa! Các Đại đức sao lại dạy tôi? Tôi đáng dạy Đại đức. Tại sao vậy? Thánh chúa của tôi chứng đắc Chánh giác. Ví như nước lớn từ đầu cuốn trôi các cây cỏ dồn lại một chỗ. Các Đại đức cũng lại như vậy, đủ mọi ḍng họ khác nhau, đủ các tên gọi, đủ các gia tộc khác nhau xuất gia, tập họp lại một chỗ. Cũng như gió lớn thổi các cây cỏ gom lại một chỗ. Các Đại đức cũng như vậy, đủ mọi ḍng họ khác nhau, đủ các tên gọi, đủ các gia tộc khác nhau xuất gia, tập hợp lại một chỗ. Bởi vậy, các Đại đức không đáng dạy tôi. Tôi đáng dạy các Đại đức. Tại sao vậy? Thánh chúa của tôi chứng đắc Chánh giác.’”

Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp các Tăng tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện quở trách tỳ-kheo Xiển-đà:

“Việc làm của ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Này Xiển-đà, sao lại ngoan cố không nhận lời khuyên bảo của người khác,… như trên cho đến, Thánh chúa của tôi chứng đắc Chánh giác.’”

Đức Thế Tôn quở trách Xiển-đà rồi, bảo các tỳ-kheo:

“Cho phép Tăng trao cho Xiển-đà tỳ-kheo pháp bạch tứ yết-ma ha gián. Pháp quở trách can gián như vầy: trong Tăng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo Xiển-đà này v́ tánh ngoan cố nên không nhận lời khuyên của người khác. Các tỳ-kheo đă khuyên can như pháp những điều học giới, nhưng tự ḿnh trở thành người không thể nói chuyện, bảo các tỳ-kheo rằng: ‘Các Đại đức, chớ nói với tôi điều ǵ hoặc tốt hoặc xấu. Tôi cũng không nói với các Đại đức điều ǵ hoặc tốt hoặc xấu. Các Đại đức thôi đi, khỏi cần phải dạy tôi.’ Nếu thời gian thích hợp với Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng trao cho tỳ-kheo Xiển-đà pháp ha gián cho bỏ việc này, rằng: ‘Này Xiển-đà, chớ tự ḿnh trở thành người không thể nói chuyện. Hăy tự ḿnh trở thành người có thể nói chuyện. Xiển-đà, ngài nên như pháp can gián các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo cũng nên như pháp can gián ngài. Như vậy, chúng đệ tử Phật được tăng ích, trao đổi dạy bảo nhau, trao đổi can gián nhau, trao đổi sám hối[20] với nhau.’ Đây là lời tác bạch.”

“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo Xiển-đà này do tánh ngoan cố nên không nhận lời khuyên của người khác. Các tỳ-kheo đă khuyên can như pháp những điều trong giới học, nhưng tự ḿnh trở thành người không thể nói chuyện, bảo các tỳ-kheo rằng: ‘Các Đại đức, chớ nói với tôi điều ǵ hoặc tốt hoặc xấu. Tôi cũng không nói với các Đại đức điều ǵ hoặc tốt hoặc xấu. Các Đại đức thôi đi, khỏi cần phải dạy tôi.’ Nay Tăng v́ tỳ-kheo Xiển-đà tác pháp[599c] ha gián cho bỏ việc này, rằng: ‘Này Xiển-đà, chớ tự ḿnh trở thành người không thể nói chuyện. Hăy tự ḿnh trở thành người có thể nói chuyện. Xiển-đà, ngài nên như pháp can gián các tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo cũng nên như pháp can gián ngài. Như vậy, chúng đệ tử Phật được tăng ích, trao đổi dạy bảo nhau, trao đổi can gián nhau, trao đổi sám hối với nhau.’ Các trưởng lăo nào chấp thuận Tăng v́ tỳ-kheo Xiển-đà tác pháp ha gián cho bỏ việc này th́ im lặng. Vị nào không chấp thuận xin nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất.” (Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy).

“Tăng đă trao cho tỳ-kheo Xiển-đà pháp ha gián cho bỏ việc này rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”

Nên can gián như vậy rồi Tăng trao cho tỳ-kheo Xiển-đà pháp bạch tứ yết-ma can gián khiến cho bỏ việc này rồi, các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:

“Nếu có các Tỳ-kheo khác do tánh ngoan cố không nhận lời khuyên bảo của người khác, th́ Tăng cũng trao cho pháp bạch tứ yết-ma can gián như vậy. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới nên nói như vầy:

B. Giới văn

Tỳ-kheo nào, có tánh ngoan cố không nhận lời khuyên của người khác. Khi được các tỳ-kheo khuyên can như pháp những điều trong học giới, tự thân không nhận lời can gián, lại nói: Các Đại đức, chớ nói với tôi điều ǵ hoặc tốt hoặc xấu. Tôi cũng không nói với các Đại đức điều ǵ hoặc tốt hoặc xấu. Các Đại đức thôi đi, đừng can gián tôi. Các tỳ-kheo can gián tỳ-kheo ấy rằng: Đại đức, chớ tự thân không nhận lời can gián. Đại đức hăy tự thân nhận lời can gián. Đại đức như pháp can gián các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo cũng như pháp can gián Đại đức. Như vậy, chúng đệ tử Phật được tăng ích, trao đổi dạy bảo nhau, trao đổi can gián nhau, trao đổi sám hối với nhau.’ Tỳ-kheo này được can gián như vậy, kiên tŕ không bỏ. Các tỳ-kheo nên ba lần can gián cho bỏ sự ấy. Cho đến ba lần can gián, bỏ th́ tốt. Nếu không bỏ, tăng-già-bà-thi-sa.

C. Thích từ

Tỳ-kheo: nghĩa như trên.

Tánh ngoan cố không nhận lời của người:[21] không nhẫn chịu, không thọ nhận lời người khác dạy bảo.

Lấy giới luật như pháp dạy bảo: có bảy tụ vi phạm: ba-la-di, tăng-già-bà-thi-sa, ba-dật-đề, ba-la-đề đề-xá-ni, thâu-lan-giá, đột-kiết-la, ác thuyết.

Như pháp: đúng pháp, đúng luật, đúng lời Phật dạy. Nếu tỳ-kheo với tánh ngoan cố, không chấp nhận lời của người, các tỳ-kheo lấy giới luật như pháp để giáo thọ.

Tự thân trở thành không thể nói chuyện với: “Đại đức [600a1] chớ nói với tôi điều ǵ hoặc tốt hoặc xấu, tôi cũng không nói với Đại đức điều ǵ hoặc tốt hoặc xấu. Đại đức thôi đi, chớ can gián tôi.”

D. Phạm tướng

Tỳ-kheo kia can gián tỳ-kheo này rằng: “Đại đức, chớ tự ḿnh trở thành người không thể nói chuyện. Hăy tự ḿnh trở thành người có thể nói chuyện. Đại đức, ngài nên như pháp can gián các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo cũng nên như pháp can gián ngài. Như vậy, chúng đệ tử Phật được tăng ích, trao đổi dạy bảo nhau, trao đổi can gián nhau, trao đổi sám hối với nhau. Đại đức nên bỏ việc này, đừng để Tăng quở trách mà phạm trọng tội.”

Nếu vị ấy nghe lời th́ tốt, bằng không nghe lời nên tác pháp yết-ma lần thứ hai. Tác yết-ma lần thứ hai rồi, nên lại phải thuyết phục nói:

 “Đại đức, Tăng đă tác pháp yết-ma lần thứ hai rồi, c̣n có một yết-ma nữa. Đại đức nên bỏ việc này, đừng để Tăng phải quở trách lại phạm trọng tội.”

Nếu vị ấy nghe theo th́ tốt, bằng không nghe lời nên tác pháp yết-ma lần thứ ba. Tác yết-ma lần thứ ba rồi, tăng-già-bà-thi-sa.

Bạch và yết-ma lần thứ hai xong mà bỏ th́ phạm ba thâu-lan-giá. Bạch và yết-ma lần thứ nhất xong mà bỏ th́ phạm hai thâu-lan-giá.

Nếu bạch xong mà bỏ th́ phạm một thâu-lan-giá. Nếu bạch chưa xong mà bỏ th́ phạm đột-kiết-la. Nếu trước khi chưa bạch, ngoan cố không nhận lời khuyên bảo của người khác, thảy đều đột-kiết-la.

Khi Tăng tác pháp quở trách can gián lại có tỳ-kheo khác bảo: “đừng bỏ!” Tỳ-kheo này phạm thâu-lan-giá. Nếu chưa tác pháp quở trách can gián th́ phạm đột-kiết-la. Nếu khi Tăng tác pháp can ngăn quở trách có tỳ-kheo-ni bảo: “đừng bỏ!” Cô ni này phạm thâu-lan-giá. Nếu trước khi chưa tác pháp quở trách can gián th́ cô ni phạm đột-kiết-la.

Trừ tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, người khác bảo: “đừng bỏ!” Quở trách, không quở trách đều phạm đột-kiết-la.

Tỳ-kheo-ni, tăng-già-bà-thi-sa. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Sự không phạm: khi mới nói liền bỏ. Yết-ma phi pháp biệt chúng, phi pháp ḥa hợp chúng, pháp biệt chúng, pháp tương tợ biệtchúng, pháp tương tợ ḥa hợp chúng, [600b] phi pháp, phi luật, phi lời Phật dạy. Tất cả trước khi chưa can gián th́ không phạm. Nếu bị người vô trí quở trách can gián, mà nói với người ấy rằng: “Việc làm của Ḥa thượng, A-xà-lê của ông cũng như vậy. Ông hăy nên học hỏi, tụng kinh thêm.” Hoặc việc kia là như vậy. Hoặc nói giỡn chơi, hoặc nói gấp gáp, hoặc nói một ḿnh, hoặc nói trong mộng, hay muốn nói việc này nhầm nói việc kia th́ không phạm.

Người không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.


 

Chương iii

Bất định[22]

 

I. Giới thứ nhất

A. Duyên khởi

Một thời, đức Thế Tôn ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Ca-lưu-đà-di khi c̣n là bạch y có người bạn có vợ tên là Trai ưu-bà-tư [23] nhan sắc xinh đẹp. Ca-lưu-đà-di cũng tướng mạo xinh đẹp. Ca-lưu-đà-di để ư đến Trai ưu-bà-tư. Trai ưu-bà-tư cũng để ư đến Ca-lưu-đà-di.

Ca-lưu-đà-di đến giờ, đắp y, mang bát, đến nhà Trai ưu-bà-tư. Hai người cùng ngồi nơi chỗ kín.

Khi Ca-lưu-đà-di cùng Trai ưu-bà-tư nói chuyện, Tỳ-xá-khư Mẫu[24] có chút việc đến nơi đó. Từ xa, Tỳ-xá-khư nghe tiếng nói của Ca-lưu-đà-di. Ưu-bà-tư (ưu-bà-di) này có ḷng mộ đạo, nghe bên trong có tiếng nói của tỳ-kheo, khởi lên ư nghĩ: “Không chừng tỳ-kheo nói pháp.” Do vậy liền đến dựa nơi vách để nghe. Nhưng lại chỉ nghe tiếng nói phi pháp. Tỳ-xá-khư lại nghĩ: “Nghe tiếng của tỳ-kheo mà lại nói những việc phi pháp. Tỳ-kheo không nên nói những lời như vậy!” Bà liền nh́n qua lỗ nhỏ, thấy Ca-lưu-đà-di với Trai ưu-bà-tư cùng ngồi trên giường nói những điều phi pháp. Thấy vậy, Tỳ-xá-khư Mẫu bèn nghĩ: “Tỳ-kheo này ngồi chỗ phi pháp, lại nói lời phi pháp. Nếu phu chủ của người đàn bà này thấy th́ họ sẽ mắng chửi vợ, sinh tâm bất tín.” Khi ấy, Tỳ-xá-khư Mẫu ưu-bà-tư liền ra khỏi nhà này, vội vàng đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, đứng qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Phật một cách đầy đủ. Bạch đức Thế Tôn rồi, đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu ba ṿng cáo lui.

Khi ấy, đức Thế Tôn tập hợp Tăng tỳ-kheo. Ngài biết mà vẫn cố hỏi Ca-lưu-đà-di:

“Có thật ông cùng với Trai ưu-bà-tư ngồi riêng ở chỗ khuất vắng chăng?”

Ca-lưu-đà-di trả lời:

“Thật vậy, bạch Thế Tôn.”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách:

“Việc làm của ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải [600c] hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao ông cùng với Trai ưu-bà-tư ngồi riêng chỗ khuất vắng?”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Ca-lưu-đà-di rồi bảo các tỳ-kheo:

“Ca-lưu-đà-di là người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới này nên nói như vầy:

Tỳ-kheo nào, cùng một người nữ, một ḿnh ngồi tại chỗ khuất, chỗ kín, chỗ có ngăn che, chỗ có thể hành dâm, nói lời phi pháp. Có vị ưu-bà-di trụ tín nói một pháp trong ba pháp, hoặc ba-la-di, hoặc tăng-già-bà-thi-sa, hoặc ba-dật-đề, và tỳ-kheo ngồi ấy tự xác nhận ‘tôi phạm tội này.’ Vậy cần xử trị một trong ba pháp, hoặc tăng-già-bà-thi-sa, hoặc ba-dật-đề, hoặc đúng như lời ưu-bà-di trụ tín. Cần như pháp xử trị tỳ-kheo ấy. Đây gọi là pháp bất định.

B. Giới tướng

Tỳ-kheo: nghĩa như trên.

Người nữ: người nữ có trí, chưa mạng chung.

Ngồi riêng: một tỳ-kheo, một người nữ.

Chỗ khuất kín: có hai loại. Một là khuất vắng đối với thấy; hai là khuất vắng đối với nghe. Khuất vắng đối với thấy là hoặc do bụi trần, do sương mù, trong bóng tối, không thấy nhau. Khuất vắng đối với nghe là nơi mà tiếng nói thường không nghe được.

Nơi có ngăn che: hoặc do cây, do vách tường, do rào, hoặc do vải và các vật khác có thể ngăn che.

Nơi có thể hành dâm: nơi có thể dung chứa hành động về dâm dục.

Nói lời phi pháp: tức là nói về pháp dâm dục.

Ưu-bà-tư trụ tín:[25] tin Phật, Pháp, Tăng; quy y Phật, Pháp, Tăng; không giết, không trộm, không tà dâm, không vọng ngữ, không uống ruợu; khéo ghi nhớ sự việc không nhầm lẫn, nói lời chơn thật không hư vọng.

Nếu tỳ-kheo tự xác nhận chỗ nhắm đến, tự xác nhận chỗ đến, tự xác nhận có ngồi, tự xác nhận có nằm, tự xác nhận có làm việc đó th́ nên theo lời tỳ-kheo nói mà xử trị. 

Nếu tỳ-kheo tự xác nhận chỗ nhắm đến, tự xác nhận chỗ đến, tự


xác nhận có ngồi, tự xác nhận có nằm, mà không tự xác nhận làm việc đó th́ nên như lời của ưu-bà-tư nói mà xử trị.[26] 

Nếu tỳ-kheo tự nói chỗ nhắm đến, tự nói chỗ đến, tự nói có ngồi, không tự nói có nằm, không tự nói có làm việc đó, th́ nên như lời Ưu-bà-tư nói mà xử trị.

Nếu tỳ-kheo tự nói chỗ nhắm đến, tự nói chỗ đến, không tự nói có ngồi, không tự nói có nằm, không tự nói có làm việc đó, th́ nên y theo lời ưu-bà-tư nói mà xử trị.

Nếu tỳ-kheo tự nói chỗ nhắm đến, [601a1] không tự nói đến đâu, không tự nói có ngồi, không tự nói có nằm, không tự nói có làm việc đó, th́ nên y theo lời ưu-bà-tư mà xử trị.

Nếu tỳ-kheo không tự nói chỗ nhắm đến, không tự nói đến đâu, không tự nói có ngồi, không tự nói có nằm, không tự nói làm việc đó th́ nên y theo lời của ưu-bà-tư mà xử trị.

Trong đây, không xác định pháp nào, cho nên gọi là bất định.[27]

 

 

II. Giới thứ hai

A. Duyên khởi

Một thời, đức Thế Tôn ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Ca-lưu-đà-di khi c̣n là bạch y có người bạn có vợ tên là Trai ưu-bà-tư nhan sắc xinh đẹp. Ca-lưu-đà-di cũng tướng mạo xinh đẹp. Ca-lưu-đà-di để ư đến Trai ưu-bà-tư. Trai ưu-bà-tư cũng để ư đến Ca-lưu-đà-di.

Ca-lưu-đà-di đến giờ, đắp y, mang bát, đến nhà Trai-ưu-bà-tư. Hai người ngồi nơi chỗ trống, cùng nói chuyện.

Khi Ca-lưu-đà-di cùng Trai-ưu-bà-tư nói chuyện, Tỳ-xá-khư Mẫu có chút việc đến nơi đó. Từ xa, Tỳ-xá-khư nghe tiếng nói của Ca-lưu-đà-di. Ưu-bà-tư (ưu-bà-di) này có ḷng mộ đạo, nghe bên trong có tiếng nói của tỳ-kheo, khởi lên ư nghĩ: “Không chừng tỳ-kheo nói pháp.” Do vậy liền đến dựa nơi vách để nghe. Nhưng lại chỉ nghe tiếng nói phi pháp. Tỳ-xá-khư lại nghĩ: “Nghe tiếng của tỳ-kheo mà lại nói những việc phi pháp. Tỳ-kheo không nên nói những lời như vậy!” Bà liền nh́n qua lỗ nhỏ, thấy Ca-lưu-đà-di với Trai ưu-bà-tư cùng ngồi chỗ trống trải nói việc phi pháp. Thấy vậy, Tỳ-xá-khư Mẫu bèn nghĩ:

“Tỳ-kheo này ngồi chỗ phi pháp, lại nói lời phi pháp. Nếu phu chủ của người đàn bà này thấy th́ họ sẽ mắng chửi vợ, sinh tâm bất tín”. Khi ấy, Tỳ-xá-khư Mẫu ưu-bà-tư liền ra khỏi nhà này, vội vàng đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, đứng qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Phật một cách đầy đủ. Bạch đức Thế Tôn rồi, đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu ba ṿng cáo lui.

Khi ấy, đức Thế Tôn tập hợp Tăng tỳ-kheo. Ngài biết mà vẫn cố hỏi Ca-lưu-đà-di:

“Có thật ông cùng với Trai ưu-bà-tư ngồi riêng ở chỗ trống chăng?”

Ca-lưu-đà-di trả lời: “Thật vậy, bạch Thế Tôn.”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách:

“Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao ông cùng với Trai ưu-bà-tư ngồi riêng chỗ trống?”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách Ca-lưu-đà-di rồi bảo các tỳ-kheo:

“Ca-lưu-đà-di là người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, [601b]Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn nói giới này nên nói như vầy:

Tỳ-kheo nào, cùng một người nữ, một ḿnh ngồi tại chỗ trống, chỗ không thể hành dâm, nói lời thô tục. Có vị ưu-bà-di trụ tín nói một pháp trong hai pháp, hoặc tăng-già-bà-thi-sa, hoặc ba-dật-đề, và tỳ-kheo ngồi ấy tự xác nhận ‘tôi phạm tội này.’ Vậy cần xử trị một trong hai pháp, hoặc tăng-già-bà-thi-sa, hoặc ba-dật-đề, hoặc đúng như lời ưu-bà-di trụ tín. Cần như pháp xử trị tỳ-kheo ấy. Đây gọi là pháp bất định.

B. Giới tướng

Tỳ-kheo: nghĩa như trên.

Chỗ trống: không có tường vách kín đáo, không có cây cối, rào dậu khuất kín và không có các vật ngăn che.

Chỗ không thể hành dâm: chỗ không dung chứa hành động dâm dục được.

Lời nói thô tục: tức là nói việc dâm dục, khen ngợi hai đường tốt xấu.

Ưu-bà-tư trụ tín: tin Phật, Pháp, Tăng; quy y Phật, Pháp, Tăng; không giết, không trộm, không tà dâm, không vọng ngữ, không uống ruợu; khéo ghi nhớ sự việc không nhầm lẫn, nói lời chơn thật không hư vọng. Nếu tỳ-kheo tự nói chỗ nhắm đến, tự nói chỗ đến, tự nói có ngồi, tự nói có nằm, th́ nên theo lời tỳ-kheo nói mà xử trị.

Nếu tỳ-kheo tự nói chỗ nhắm đến, tự nói chỗ đến, tự nói có ngồi, tự nói có nằm, tự nói có làm việc đó th́ nên theo lời tỳ-kheo nói mà xử trị.

Nếu tỳ-kheo tự nói chỗ nhắm đến, tự nói chỗ đến, tự nói có ngồi, tự nói có nằm, mà không tự nói làm việc đó th́ nên như lời của ưu-bà-tư nói mà xử trị.

Nếu tỳ-kheo tự nói chỗ nhắm đến, tự nói chỗ đến, tự nói có ngồi, không tự nói có nằm, không tự nói có làm việc đó, th́ nên như lời ưu-bà-tư nói mà xử trị.

Nếu tỳ-kheo tự nói chỗ nhắm đến, tự nói chỗ đến, không tự nói có ngồi, không tự nói có nằm, không tự nói có làm việc đó, th́ nên y theo lời ưu-bà-tư nói mà xử trị.

Nếu tỳ-kheo tự nói chỗ nhắm đến, không tự nói đến đâu, không tự nói có ngồi, không tự nói có nằm, không tự nói có làm việc đó, th́ nên y theo lời ưu-bà-tư mà xử trị.

Nếu tỳ-kheo không tự nói chỗ nhắm đến, không tự nói đến đâu, không tự nói có ngồi, không tự nói có nằm, không tự nói làm việc đó th́ nên y theo lời của ưu-bà-tư mà xử trị.

Trong đây, không xác định pháp nào, cho nên gọi là bất định.[28] *




[1] Ngũ phần (tr.21c11), Tăng kỳ (tr.286c16): tăng-già-bà-thi-sa 13; Pāli, Saṅghādisesa 13. Thập tụng (tr.26b9), Căn bản (tr.705a10): tăng-già-bà-thi-sa 12.

[2] Kỳ-liên 羈連. Ngũ phần: Kiết-la ấp 吉羅邑. Tăng kỳ: Ca-thi Hắc sơn tụ lạc 迦尸
<lb n="0286c17"/>
黑山聚落. Thập tụng: Hắc sơn thổ địa 黑山土地, thuộc nước Xá-vệ. Căn bản: Chỉ-tra sơn </gaiji>吒山. Pāli: Kiṭāgiri.

[3] A-thấp-bà 阿濕婆. Ngũ phần: An-bễ
<lb n="0021c12"/>
. Thập tụng: Mă Tú
<lb n="0026b10"/>
宿. Căn bản: A-thấp-phược-ca 阿濕薄迦. Pāli: Assaji. Đây là tỳ-kheo trong nhóm Lục quần (chabbagiyā); không phải Assaji Thera trong năm tỳ-kheo đầu tiên (pañcavaggiya).

[4] Phú-na-bà-sa 富那婆娑. Ngũ phần: Phân-na-bà 分那婆. Thập tụng: Măn Tú 滿宿. Căn bản: Bổ-nại-phạt-tố 補捺伐素. Và thêm một người thứ ba nữa: Bán-đậu-lô-hê-đắc-ca 半豆盧呬得迦.  Pāli: Punabbasu.

[5] Hán: tự tác lộng thân 自作弄身; nghĩa đen: đem thân ḿnh ra làm tṛ đùa. Nhưng cụ thể không hiểu là làm tṛ ǵ.

[6] Ca-thi quốc 迦尸國. Pāli: Kāsī, 1 trong 16 nước lớn thời Phật. Thủ phủ là Bārāṇasī.

[7] Tẫn yết-ma 擯羯磨. Thập tụng: khu xuất yết-ma 驅出羯磨. Pāli: pabbājaniyakamma; đuổi Tỳ-kheo ra khỏi địa phương nơi mà họ đang mang tiếng xấu.

[8] Hán: tác cử 作舉; tiến hành luận tội và buộc tội. Pāli: codetabba.

[9] Tác ức niệm 作憶念, khiến cho nhớ lại tội; khiến nhận tội. Pāli: sāretabba.

[10] Dữ tội 與罪, xác định tội. Pāli: āpattiṃ ropetabba.

[11] Gia ; được hiểu là gia đ́nh, hay gia tộc. Pāli: kula; được giải thích có bốn: khattiya-kulaṃ, brāhma-kulaṃvessakulaṃ. sudda-kulaṃ, tức gồm bốn giai cấp.

[12] Ô tha gia 污他家. Tăng kỳ: tha gia, hoặc sát-lợi gia, hoặc bà-la-môn gia, tỳ-xá gia, thủ-đà-la gia. Người trong tụ lạc đă có tín tâm nơi Phật pháp, mà làm cho họ mất tín tâm, gọi là ô tha gia.  Pāli: kuladusāko, giải thích: gây tai tiếng cho một gia đ́nh bằng những biếu xén như là h́nh thức hối lộ.

[13] Nương tựa nơi đó mà sống. Pāli: upanissāya viharati, giải thích: nhờ nơi đó mà có được bốn nhu yếu là ẩm thực, y phục, ngọa cụ và y dược.

[14] Tức làm cho mang tiếng xấu.

[15] Hành ác hạnh 行惡行. Pāli: pāpasamācāro, giải thích: trồng hoa hay sai người trồng hoa; tưới cây hay sai người tưới cây…

[16] Giải thích những hành vi, cử chỉ tương tự với đùa giỡn. Những điều này, một số liên hệ các ba-dật-đề, một số liên hệ các pháp chúng học.

[17] Ngũ phần 3 (tr. 21b5), Tăng kỳ 7 (tr. 284c22): tăng-già-bà-thi-sa 12. Pāli, Saṅghādisesa 12. Thập tụng 4 (tr.27c6), Căn bản 16 (tr. 707a25): tăng-già-bà-thi-sa 13.

[18] Pāli: Kosambiyaṃ Ghositārāme.

[19] Xiển-đà 闡陀, thường gọi là Xa-nặc, quân hầu ngựa của Thái tử. Pāli: Channa.

[20] Sám hối: nên hiểu là phát lồ.

[21] Hán: ác tánh bất thọ nhân ngữ 惡性不受人语. Ngũ phần: ác tánh nan cộng ngữ 惡性難共語. Tăng kỳ: tự dụng lệ ngữ 自用戾語. Thập tụng: ác tánh lệ ngữ 惡性戾語. Pāli: dubbacajātiko, bản tính khó nói; khó nói chuyện; không nhận lời khuyên can.

[22] Ngũ phần 4 (tr.22c14). Tăng kỳ 7 (tr.289c18). Thập tụng 4 (tr.28b8). Căn bản 16 (tr.710a24). Pāli, Aniyakaṇḍaṃ, Vin. iii. 186tt.

[23] Trai ưu-bà-tư (=ưu-bà-di) 齋優婆私, Tăng kỳ 7: Con gái của một người bà-la-môn quen biết. Thập tụng 4: người quen cũ là ưu-bà-di Quật-đa. Căn bản 16: ưu-bà-di Cấp-đa 笈多. Pāli: con gái của một nhà thí chủ; không nói tên cô gái.

[24] Tỳ-xá-khư Mẫu 毘舍佉母. Ngũ phần: Tỳ-xá-khư Lộc Tử Mẫu毘舍佉鹿子
<lb n="0022c18"/>
. Pāli: Visakhā Migàramātā. Bà có nhiều con và cháu, tất cả đều giàu có. V́ vậy, trong mọi lễ hay tiệc, bà đều được mời. Bà đến nhà này cũng do được mời.

[25] Tín nhạo ưu-bà-tư 信樂優婆私. Trong giới văn, nói là trụ tín ưu-bà-tư 住信優婆私. Ngũ phần: khả tín ưu-bà-di 可信優婆夷, người đă thấy bốn Chân đế (chỉ quả vị Tu-đà-hoàn). Tăng kỳ 7 (tr.290c13): khả tín ưu-bà-di 可信優婆夷; có 16 điều để gọi là ưu-bà-di đáng tin: 3 quy y, 4 bất hoại tịnh, Tăng chưa được lợi, giúp cho được lợi; đă được lợi, giúp cho tăng trưởng; Tăng mang tiếng xấu, t́m cách dập tắt; không tùy ái, không tùy sân, không tùy bố, không tùy si; ly dục hướng thành tựu giới. Thập tụng: khả tín ưu-bà-di可信優婆夷, đă thọ tam quy, đắc đạo, đắc quả. Căn bản: chánh tín ô-ba-tư-ca 正信鄔波斯迦, vị đă kiến đế, đắc quả. Pāli: saddheyyavacasā upāsikā, ưu-bà-di mà lời nói đáng tin; giải thích: đây chỉ người nữ đă đắc quả (āgataphalā), đắc hiện quán (abhisametvāvinī), đă học hiểu giáo pháp.

[26] Tăng kỳ 7: tác yết-ma mích tội tướng mà xử trị. Thập tụng: khi ấy Tăng tác pháp thật mích.

[27] Pāli, aniyato, v́ không xác định là ba-la-di, hay tăng-già-bà-thi-sa, hay ba-dật-đề, nên gọi là bất định.

[28] Xem cht. trên.

* Bản Hán, hết quyển 5.