VII. Vô căn báng[1]
A. Duyên khởi
Một thời, đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, tại thành La-duyệt-kỳ. Bấy giờ, có Tôn giả Đạp-bà-ma-la Tử[2] đắc A-la-hán, đang thiền tọa tư duy tại chỗ thanh vắng, tâm tự nghĩ rằng: “Thân này không bền chắc. Nay ta nên dùng phương tiện nào để t́m cầu sự bền chắc?” Tôn giả lại nghĩ:
“Nay ta nên tận lực cúng dường bằng cách phân phối ngọa cụ trong Tăng và theo thứ lớp mời đi thọ thực[3] chăng?” Khi ấy, vào buổi xế chiều, Đạp-bà-ma-la Tử rời khỏi chỗ thiền tịnh, [587b] sửa lại y phục, đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, bạch đức Thế Tôn:
“Vừa rồi, khi đang thiền tọa tư duy tại chỗ thanh vắng, con tự nghĩ rằng: ‘Thân này không bền chắc. Nay ta nên dùng phương tiện nào để t́m cầu sự bền chắc? Ta có nên tận lực cúng dường bằng cách phân phối ngọa cụ trong Tăng và theo thứ lớp mời đi thọ thực chăng?’”
Đức Thế Tôn bảo các tỳ-kheo:
“Nên sai Đạp-bà-ma-la Tử làm người phân phối ngọa cụ cho Tăng, và theo thứ tự mời Tăng đi thọ thực.”
Bạch nhị yết-ma, trong chúng nên sai người có khả năng như đă nói, tác bạch như vầy:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận sai Đạp-bà-ma-la Tử phân phối ngọa cụ cho Tăng, và theo thứ tự mời đi thọ thực. Đây là lời tác bạch.”
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nay Tăng sai Đạp-bà-ma-la Tử phân phối ngọa cụ cho Tăng, và theo thứ tự mời đi thọ thực. Các trưởng lăo nào chấp thuận Tăng sai Đạp-bà-ma-la Tử phân phối ngọa cụ cho Tăng, và theo thứ tự mời đi thọ thực, th́ im lặng; ai không đồng ư xin nói.”
“Tăng đă chấp thuận sai Đạp-bà-ma-la Tử phân phối ngọa cụ cho Tăng, và theo thứ tự mời Tăng đi phó trai rồi, nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Lúc ấy, Đạp-bà-ma-la Tử liền v́ Tăng phân phối ngọa cụ. Những vị cùng ư hướng th́ thành cộng đồng[4]: A-luyện-nhă cộng đồng với A-luyện-nhă, khất thực[5] cộng đồng với khất thực, nạp y cộng đồng với nạp y,[6] không làm pháp dư thực cộng đồng với không làm pháp dư thực,[7] nhất tọa thực cộng đồng với nhất tọa thực, ăn một vắt cộng đồng với ăn một vắt, ngồi nơi g̣ mả cộng đồng với ngồi nơi g̣ mả, ngồi nơi chỗ trống cộng đồng với ngồi nơi chỗ trống, ngồi dưới bóng cây cộng đồng với ngồi dưới bóng cây, thường ngồi cộng đồng với thường ngồi, tùy tọa cộng đồng với tùy tọa, ba y cộng đồng với ba y, bối-nặc[8] cộng đồng với bối-nặc, đa văn cộng đồng với đa văn, pháp sư cộng đồng với pháp sư, tŕ luật cộng đồng với tŕ luật, tọa thiền cộng đồng với tọa thiền.
Bấy giờ, nơi La-duyệt-kỳ có tỳ-kheo khách đến, Đạp-bà-ma-la Tử liền theo thứ tự thích hợp phân phối ngọa cụ. Khi ấy có một trưởng lăo tỳ-kheo, xẩm chiều, lên núi Kỳ-xà-quật. Tôn giả Đạp-bà-ma-la Tử từ nơi tay phát ra ánh sáng để phân phối ngọa cụ. Tôn giả nói:
“Đây là pḥng. Đây là giường dây. Đây là giường gỗ. Đây là nệm lớn, nệm nhỏ. Đây là gối nằm. Đây là đồ trải đất. Đây là ống nhổ. Đây là đồ đựng nước tiểu. Đây là nơi đại tiện. Đây là tịnh địa. Đây là bất tịnh địa.”
Đức Thế Tôn khen ngợi rằng: “Trong hàng đệ tử của ta, người phân phối ngọa cụ cho Tăng, Đạp-bà-ma-la Tử là đệ nhất.”
[587c] Khi ấy, có tỳ-kheo Từ Địa[9] đến thành La-duyệt. Đạp-bà-ma-la Tử phân phối ngọa cụ cho tỳ-kheo khách, tùy theo thứ bậc thích hợp, kể từ hàng Thượng tọa. Tỳ-kheo Từ Địa kia là bậc hạ tọa ở trong chúng, nên nhận được pḥng xấu, ngọa cụ xấu. Từ Địa bèn nổi sân nhuế, nói: “Đạp-bà-ma-la Tử thiên vị, ưa thích người nào th́ phân phối pḥng tốt, ngọa cụ tốt. Người nào không ưa thích th́ trao pḥng xấu, ngọa cụ xấu. Tại sao chúng Tăng lại sai người có sự thiên vị như vậy mà phân phối ngọa cụ của Tăng?”
Sáng hôm sau, Đạp-bà-ma-la Tử, mời chư Tăng theo thứ tự đi phó trai.
Khi ấy, trong thành La-duyệt, có một đàn-việt thường mỗi năm lại thiết một bữa cơm ngon để cúng dường Tăng. Từ Địa tỳ-kheo hôm ấy đến phiên được mời đến đó. Nhà đàn-việt kia nghe Từ Địa tỳ-kheo sẽ đến thọ thực theo thứ tự. Họ bèn trải phu cụ tệ xấu ngoài ngơ để đón, tọa cụ và thức ăn cũng tồi tệ dùng để thiết đăi. Tỳ-kheo Từ Địa nhận được thức ăn xấu như vậy lại càng sân nhuế, nói:
“Đạp-bà-ma-la Tử thiên vị, ưa thích người nào th́ phân phối pḥng tốt, ngọa cụ tốt. Người nào không ưa thích th́ trao pḥng xấu, ngọa cụ xấu. Ông không ưa chúng tôi nên trao cho tôi pḥng xấu, ngọa cụ xấu. Sáng hôm nay v́ không thích chúng tôi nên lại mời chúng tôi đến thọ thức ăn tồi. Tại sao chúng Tăng lại sai tỳ-kheo có thiên vị như vậy làm người v́ Tăng phân phối ngọa cụ và mời Tăng đi phó trai?”
Bấy giờ, trong thành La-duyệt, có một tỳ-kheo-ni tên là Từ,[10] em gái của tỳ-kheo Từ Địa, nghe tỳ-kheo Từ Địa đến thành La-duyệt, cô liền đến chỗ tỳ-kheo thăm hỏi:
“Thầy đi đường xa có mệt nhọc không? Có vất vả lắm không?”
Với những lời thăm hỏi tốt đẹp như vậy, mà tỳ-kheo Từ Địa làm thinh không trả lời. Cô Tỳ-kheo-ni hỏi:
“Thưa Đại đức, em có lỗi ǵ mà Đại đức không đáp?”
Tỳ-kheo Từ Địa nói: “Cần ǵ nói chuyện với cô? Tôi đang bị Đạp-bà-ma-la Tử quấy nhiễu, mà cô không thể trợ giúp tôi.”
Cô tỳ-kheo-ni hỏi: “Muốn em làm những phương tiện ǵ để khiến Đạp-bà-ma-la Tử không quấy nhiễu Đại đức?”
Tỳ-kheo Từ Địa nói: “Cô chờ khi nào Phật và Tăng tỳ-kheo họp, đến giữa chúng nói như vầy: ‘Thưa chư Đại đức! Thật là điều không thiện, không thích hợp, không tốt đẹp, không tùy thuận, điều không nên, không hợp thời! Tôi vốn nương vào nơi không có sự sợ sệt, sự ưu năo, tại sao ngày nay lại sinh sợ sệt ưu năo? Tại sao trong nước lại sinh ra lửa? Đạp-bà-ma-la Tử này [588a1] đă phạm đến tôi.’ Chúng Tăng liền ḥa hợp làm pháp diệt tẫn. Như vậy, y không c̣n đến quấy nhiễu anh nữa.”
Cô tỳ-kheo-ni nói: “Điều này có khó ǵ, em có thể làm được.”
Rồi th́, tỳ-kheo-ni Từ đến giữa Tăng,… được nói như trên.[11]
Lúc ấy, Đạp-bà-ma-la Tử ngồi cách đức Phật không xa. Đức Thế Tôn biết mà vẫn hỏi:
“Ông có nghe những ǵ tỳ-kheo-ni này nói hay chăng?”
Tôn giả thưa: “Bạch Thế Tôn con có nghe. Thế Tôn biết điều đó.”
Đức Thế Tôn bảo:
“Ông không thể trả lời như vậy. Thật th́ nói là thật. Không thật th́ nói không thật.”
Đạp-bà-ma-la Tử nghe đức Thế Tôn dạy như vậy rồi, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, bày vai bên hữu, quỳ gối phải xuống đất, chấp tay bạch Phật:
“Con từ khi sinh đến nay chưa từng nhớ trong mộng hành bất tịnh, huống là đối với lúc tỉnh mà hành bất tịnh.”
Đức Thế Tôn bảo:
“Lành thay, lành thay, Đạp-bà-ma-la Tử, ông nên nói như vậy.”
Khi ấy, đức Thế Tôn bảo các tỳ-kheo:
“Các ông nên kiểm vấn tỳ-kheo Từ Địa này. Chớ để có sự vu khống bằng tội phi phạm hạnh không căn cứ cho Tỳ-kheo Đạp-bà-ma-la Tử là người thanh tịnh này. Nếu vu khống bằng tội phi phạm hạnh không căn cứ th́ mắc trọng tội.”
Các tỳ-kheo thưa rằng:
“Thật vậy, bạch Thế Tôn.”
Các tỳ-kheo vâng lời Phật dạy, t́m đến chỗ tỳ-kheo Từ Địa để kiểm vấn gốc ngọn:
“Việc này thế nào? Có thật vậy không? Chớ vu khống bằng tội phi phạm hạnh không căn cứ. Tỳ-kheo Đạp-bà-ma-la Tử này là người thanh tịnh. Nếu vu khống bằng tội phi phạm hạnh không căn cứ th́ mắc trọng tội.”
Khi tỳ-kheo Từ Địa bị các tỳ-kheo cật vấn, báo cáo rằng:
“Tôi biết Đạp-bà-ma-la Tử là người phạm hạnh thanh tịnh, không có việc làm như vậy. Nhưng tôi đến thành La-duyệt, ông ấy v́ Tăng phân pḥng xá, [588b] ngọa cụ; đă trao cho chúng tôi pḥng xấu, ngọa cụ xấu. Tôi liền sinh tâm bất nhẫn, nói: Đạp-bà-ma-la Tử có thiên vị. Thích ai th́ phân cho pḥng tốt, ngọa cụ tốt. Không thích ai th́ phân cho pḥng xấu, ngọa cụ xấu. Do không thích tôi nên chia cho tôi pḥng xấu, ngọa cụ xấu. Rồi theo thứ tự mời thọ thực th́ lại mời tôi đến chỗ có thức ăn dở. Do vậy, tôi càng thêm oán hận bội phần, nói rằng: Tại sao Tăng lại giao cho người có thiên vị như vậy phân chia pḥng, ngọa cụ và phân chia thứ tự mời đi thọ thực? Nhưng Đạp-bà-ma-la Tử này lại người phạm hạnh thanh tịnh, không có việc làm như vậy.”
Trong các tỳ-kheo nghe, có vị thiểu dục tri túc, hành hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư hiềm trách tỳ-kheo Từ Địa: “Tại sao ông vu khống Đạp-bà-ma-la Tử là người phạm hạnh bằng tội phi phạm hạnh không căn cứ?”
Rồi các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp các tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện quở trách tỳ-kheo Từ Địa:
“Việc làm của ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Tại sao vu khống người phạm hạnh bằng tội phi phạm hạnh không căn cứ?”
Đức Thế Tôn nói với các tỳ-kheo:
“Có hai hạng người nhất định vào địa ngục. Hoặc chẳng phải phạm hạnh mà tự xưng là phạm hạnh; hoặc vu khống người chơn phạm hạnh bằng tội phi phạm hạnh không căn cứ. Hai hạng người này một mạch vào thẳng địa ngục.”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách tỳ-kheo Từ Địa rồi bảo các tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo Từ Địa này là kẻ ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người phạm giới này đầu tiên. Từ nay về sau v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, để chánh pháp tồn tại lâu dài.” Muốn thuyết giới nên thuyết như vầy:
B. Giới văn
Tỳ-kheo nào, v́ thù hận ấp ủ,[12] đối với tỳ-kheo không phải ba-la-di, mà vu khống bằng pháp ba-la-di không căn cứ, muốn hủy hoại đời sống thanh tịnh của vị ấy. Về sau, dù bị cật vấn hay không bị cật vấn, sự t́nh[13] ấy được biết là không căn cứ, tỳ-kheo này nói rằng: ‘Tôi v́ thù hận nên nói như vậy.’ Tỳ-kheo nói như vậy, tăng-già-bà-thi-sa.
C. Thích nghĩa
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Thù hận[14]: có mười ác pháp làm nhân duyên cho nên sân. Trong mười pháp, mỗi một pháp đều làm phát sinh sân.
Căn cứ: có ba căn. Căn cứ do thấy, căn cứ do nghe, căn cứ do nghi.
- Căn cứ do thấy: thật thấy phạm phạm hạnh; thấy trộm năm tiền hay hơn năm tiền; thấy [588c] đoạn mạng người. Nếu người khác thấy mà ḿnh nghe từ họ th́ gọi là căn cứ do thấy.
- Căn cứ do nghe: nếu nghe nói phạm phạm hạnh; nghe (tiếng)[15] trộm năm tiền hay hơn năm tiền; nghe (tiếng) đoạn mạng người; nghe (tiếng) tự khen ngợi đắc pháp thượng nhân. Nếu người kia nói rằng nghe từ người khác th́ gọi là căn cứ do nghe.
- Căn cứ do nghi: có hai loại sinh ra nghi, từ thấy sinh ra nghi, từ nghe sinh ra nghi. Từ thấy sinh nghi, như thấy cùng người nữ vào trong rừng, hay từ rừng đi ra, không có y, lơa h́nh, nam căn không trong sạch, thân bị nhớp; tay cầm dao có dính máu, cùng ác tri thức làm bạn. Đó gọi là từ thấy sinh ra nghi.
Từ nghe sinh nghi, hoặc trong chỗ tối nghe tiếng giường kêu, hoặc nghe tiếng nệm cỏ chuyển động, hoặc nghe tiếng thân động, hoặc nghe tiếng th́ thầm nói khẽ, hoặc nghe tiếng giao hội, hoặc nghe nói “Tôi phạm phạm hạnh”; nghe tiếng nói trộm năm tiền hay hơn năm tiền, nghe tiếng nói “Tôi giết người”; hoặc nghe nói “Tôi được pháp thượng nhân.” Đó gọi là từ nghe sinh nghi.
Trừ ba căn này ra, nếu dùng pháp khác để vu khống, th́ gọi là không căn cứ.
D. Phạm tướng
Nếu người kia không thanh tịnh, nhưng không thấy phạm ba-la-di, không nghe phạm ba-la-di, không nghi phạm ba-la-di lại nói: “Tôi thấy, nghe, nghi, người kia phạm ba-la-di.” Bằng pháp vô căn để hủy báng, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu người kia không thanh tịnh, nhưng không thấy phạm ba-la-di, không nghe phạm ba-la-di, không nghi phạm ba-la-di, lại sinh ư tưởng thấy, nghe, nghi, sau đó quên mất ư tưởng này, nói: “Tôi thấy, nghe, nghi, người kia phạm ba-la-di.” Bằng pháp vô căn để vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu người kia không thanh tịnh, nhưng không thấy, nghe, nghi người kia phạm ba-la-di. Đối với người kia có nghi, sau đó lại nói, “Tôi trong đây không nghi.” Nhưng lại nói, “Tôi thấy, nghe, nghi.” Bằng pháp không căn cứ mà vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu người kia không thanh tịnh, nhưng không thấy, nghe, nghi người kia phạm ba-la-di, mà đối với người kia sinh nghi, sau đó lại quên mất nghi, bèn nói:
“Tôi thấy, nghe, nghi.” Bằng pháp không căn cứ mà vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu người kia không thanh tịnh, nhưng không thấy, nghe, nghi người kia phạm ba-la-di, mà trong đây không nghi. Nhưng lại nói, “Tôi trong đây có nghi là tội phạm ba-la-di được thấy, được nghe, được nghi.” Bằng pháp không căn cứ mà vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu người kia không thanh tịnh, nhưng không thấy, nghe, nghi người kia phạm ba-la-di. Trong đây không nghi, sau đó quên là đă không nghi, nhưng lại nói: “Tôi thấy, nghe, nghi người kia phạm ba-la-di.” Bằng pháp không căn cứ mà [589a1] vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu người kia không thanh tịnh, nhưng không thấy người kia phạm ba-la-di, mà nói, “Tôi nghe và nghi người kia phạm ba-la-di.” Bằng pháp không căn cứ mà vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu người kia không thanh tịnh, nhưng không thấy người kia phạm ba-la-di. Mà trong đó tưởng là thấy, sau đó quên ư tưởng này, lại nói, “Tôi nghe và nghi người kia phạm ba-la-di.” Bằng pháp không căn cứ mà vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu người kia không thanh tịnh, nhưng không thấy người kia phạm ba-la-di. Trong đây có nghi, lại nói: Trong đây không có nghi. “Tôi nghe và nghi người kia phạm ba-la-di.” Bằng pháp không căn cứ mà vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu người kia không thanh tịnh, nhưng không thấy người kia phạm ba-la-di. Trong đây có nghi, sau quên, lại nói: “Tôi nghe và nghi người kia phạm ba-la-di.” Bằng pháp không căn cứ mà vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu người kia không thanh tịnh, nhưng không thấy người kia phạm ba-la-di. Trong đây không nghi, lại nói: Tôi có nghi. “Tôi nghe và nghi người kia phạm ba-la-di.” Bằng pháp không căn cứ mà vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu người kia không thanh tịnh, nhưng không thấy người kia phạm ba-la-di. Trong đây không nghi, sau đó quên điều không nghi, lại nói: “Tôi nghe, nghi người kia phạm ba-la-di.” Bằng pháp không căn cứ mà vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.[16]
Nghe, nghi cũng như vậy. (Trong đây có các câu, nhưng văn dài ḍng không chép ra.)[17]
Nếu tỳ-kheo bằng bốn sự[18] không căn cứ để vu khống tỳ-kheo, nói rơ ràng, phạm tăng-già-bà-thi-sa; không rơ ràng phạm thâu-lan-giá. Nếu dùng dấu tay, thư, sai sứ, hoặc làm dấu hiệu mà được nhận thức rơ ràng, phạm tăng-già-bà-thi-sa; không rơ ràng phạm thâu-lan-giá.
Trừ bốn ba-la-di, dùng các pháp phi tỳ-kheo khác để vu khống, nói:
“Ông phạm biên tội, phạm tỳ-kheo-ni, với tâm giặc thọ giới, phá nội ngoại đạo, huỳnh môn, giết cha, giết mẹ, giết A-la-hán, phá Tăng, ác tâm làm thân Phật xuất huyết, phi nhân, súc sinh, hai căn.”[19]
Nói rơ ràng, phạm tăng-già-bà-thi-sa; không rơ ràng, phạm thâu-lan-giá. Nếu dùng dấu tay, thư, sai sứ, hoặc làm dấu hiệu mà được nhận thức rơ ràng, phạm tăng-già-bà-thi-sa; không rơ ràng phạm thâu-lan-giá.
Ngoại trừ chẳng phải pháp tỳ-kheo này, lại dùng pháp không căn cứ khác để vu khống tỳ-kheo, theo trước mà (xác định) phạm.
Nếu dùng tám pháp ba-la-di không căn cứ để vu khống tỳ-kheo-ni, nói rơ ràng, phạm tăng-già-bà-thi-sa; không rơ ràng, phạm thâu-lan-giá.
Nếu dùng dấu tay, thư, sai sứ, hoặc làm dấu hiệu mà được nhận thức rơ ràng, phạm tăng-già-bà-thi-sa; không rơ ràng phạm thâu-lan-giá.
Trừ tám pháp[589b] ba-la-di này, mà dùng các pháp phi tỳ-kheo-ni không căn cứ khác, để hủy báng, rơ ràng, tăng-già-bà-thi-sa; không rơ ràng, phạm thâu-lan-giá. Nếu dùng dấu tay, thư, sai sứ, hoặc làm dấu hiệu mà được nhận thức rơ ràng, phạm tăng-già-bà-thi-sa; không rơ ràng phạm thâu-lan-giá.
Trừ pháp phi tỳ-kheo-ni, lại dùng pháp không căn cứ khác vu khống tỳ-kheo-ni, theo trước mà (định) phạm.
Trừ tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni ra nếu dùng tội không căn cứ vu khống người khác phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, tăng-già-bà-thi-sa. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, phạm đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: dùng căn cứ thấy, nghe, nghi mà nói sự thật, nói giỡn chơi, nói nhanh vội, nói một ḿnh, nói trong mộng, muốn nói việc này nhầm nói việc khác th́ không phạm.
Người không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
A. Duyên khởi
Một thời, đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, tại La-duyệt-kỳ.[21] Bấy giờ, các tỳ-kheo Từ Địa từ trên núi Kỳ-xà-quật đi xuống, thấy con dê đực lớn cùng với con dê cái đang hành dâm. Thấy vậy, họ bèn nói với nhau rằng:
“Con dê đực này là Đạp-bà-ma-la Tử. Con dê cái là tỳ-kheo-ni Từ. Nay, ta sẽ nói với các tỳ-kheo rằng: ‘Trước kia, tôi đă vu khống Đạp-bà-ma-la Tử bằng pháp được nghe không căn cứ. Nay chúng tôi tự mắt thấy Đạp-bà-ma-la Tử hành dâm với tỳ-kheo-ni Tử.’”
Sau đó, họ đi đến chỗ các tỳ-kheo, nói:
“Trước kia, tôi đă vu khống Đạp-bà-ma-la Tử bằng pháp được nghe không căn cứ. Nay chúng tôi tự mắt thấy Đạp-bà-ma-la Tử hành dâm với tỳ-kheo-ni Từ.”
Các Tỳ-kheo hỏi:
“Việc này như thế nào? Các ông chớ nên dùng pháp không căn cứ vu khống, Đạp-bà-ma-la Tử là người tu phạm hạnh. Vu khống người tu phạm hạnh bằng pháp không căn cứ mắc tội rất nặng.”
Lúc bấy giờ, tỳ-kheo Từ Địa sau khi bị các tỳ-kheo cật vấn, liền nói:
“Đạp-bà-ma-la Tử không có việc ấy. Đó là người thanh tịnh. Vừa rồi chúng tôi từ trên núi Kỳ-xà-quật đi xuống, thấy con dê đực cùng với con dê cái hành dâm, nên chúng tôi liền tự bảo nhau rằng: ‘Con dê đực này là Đạp-bà-ma-la Tử. Con dê cái là tỳ-kheo-ni Từ. Hôm nay chính mắt chúng ta thấy việc ấy. Chúng ta sẽ đến chỗ các tỳ-kheo để tố cáo: Trước đây, tôi bằng pháp được nghe không căn cứ mà vu khống Đạp-bà-ma-la Tử. Nay chính mắt tôi tự thấy Đạp-bà cùng tỳ-kheo-ni hành dâm.’ Song, Đạp-bà-ma-la Tử là người thanh tịnh. Thật không có việc ấy.”
Trong các tỳ-kheo nghe, có vị thiểu dục [589c] tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách tỳ-kheo Từ Địa:
“Tại sao các ông lại vu khống Đạp-bà-ma-la Tử, là người thanh tịnh, bằng ba-la-di không căn cứ của sự việc thuộc phần sự khác?”
Các tỳ-kheo liền đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ.
Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp các Tăng tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện quở trách tỳ-kheo Từ Địa:
“Việc làm của ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Đạp-bà-ma-la Tử tu phạm hạnh. Tại sao các ông lại vu khống Đạp-bà-ma-la Tử bằng ba-la-di không căn cứ của việc thuộc phần sự khác?”
Đức Thế Tôn quở trách tỳ-kheo Từ Địa, rồi bảo các tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo Từ Địa này là kẻ ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người phạm giới này đầu tiên. Từ nay về sau v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, để chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn thuyết giới nên thuyết như vầy:
B. Giới văn
Tỳ-kheo nào, v́ thù hận, dựa vào tiểu tiết trong sự t́nh của phần khác, [22] đối với tỳ-kheo không phải là ba-la-di, mà vu khống bằng pháp ba-la-di không có căn cứ, muốn hủy hoại đời sống phạm hạnh của vị ấy, về sau, dù bị cật vấn hay không bị cật vấn, sự t́nh ấy được biết là dựa lấy tiểu tiết trong sự t́nh của phần khác, Tỳ-kheo này tự nói rằng: ‘Tôi v́ thù hận nên nói như vậy.’ Tỳ-kheo nào nói như vậy, tăng-già-bà-thi-sa.
C. Thích nghĩa
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Thù hận: như trên đă nói.
Phần khác: tỳ-kheo phạm ba-la-di, nói là thấy phạm ba-la-di, vu khống bằng pháp không căn cứ thuộc phần sự khác, tăng-già-bà-thi-sa.
D. Phạm tướng
Nếu tỳ-kheo không phạm ba-la-di mà gọi là phạm, tăng-già-bà-thi-sa. Bằng pháp ba-la-di không căn cứ thuộc phần sự khác mà vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu tỳ-kheo không phạm ba-la-di, nhưng thấy vị ấy phạm ba-dật-đề, ba-la-đề-đề-xá-ni, thâu-lan-giá, đột-kiết-la, ác thuyết, mà vu khống bằng pháp ba-la-di không căn cứ thuộc phần sự khác, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu tỳ-kheo phạm tăng-già-bà-thi-sa, nhưng vị ấy nói phạm ba-la-di, mà vu khống bằng pháp ba-la-di không căn cứ thuộc phần sự khác, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu tỳ-kheo phạm tăng-già-bà-thi-sa, nhưng vị ấy nói phạm ba-dật-đề, ba-la-đề-đề-xá-ni, thâu-lan-giá, đột-kiết-la, ác thuyết, mà vu khống bằng pháp ba-la-di không căn cứ thuộc phần sự khác, tăng-già-bà-thi-sa.
Người không thanh tịnh giống người không thanh tịnh,[23] hay cùng tên, cùng họ, đồng tướng; lấy sự của việc người này vu khống cho người kia, bằng pháp ba-la-di không căn cứ thuộc phần sự khác mà vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu người không thanh tịnh giống người thanh tịnh, đồng tên, đồng họ, đồng tướng; lấy sự việc của người này vu khống cho người kia, bằng pháp ba-la-di không căn cứ thuộc phần sự khác mà vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu người thanh tịnh giống người không thanh tịnh, đồng tên, đồng họ, đồng tướng; lấy sự việc của người này vu khống cho người kia, bằng [590a1] pháp ba-la-di không căn cứ thuộc phần sự khác mà vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu người thanh tịnh giống người thanh tịnh, đồng tên, đồng họ, đồng tướng; lấy sự việc của người này vu khống cho người kia, bằng pháp ba-la-di không căn cứ thuộc phần sự khác mà vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Hoặc thấy người ấy lúc c̣n tại gia mà phạm dâm, trộm năm tiền hoặc hơn năm tiền, hoặc giết người, bèn nói với người rằng: “Tôi thấy tỳ-kheo phạm dâm, trộm năm tiền, hơn năm tiền, nghe giết người.” Bằng pháp ba-la-di không căn cứ thuộc phần sự khác mà vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Hoặc nghe nói người ấy lúc c̣n tại gia mà phạm dâm, nghe nói trộm năm tiền hoặc hơn năm tiền, nghe nói giết người, nghe nói tự xưng được pháp Thượng nhân, bèn nói: “Tôi nghe nói người kia phạm dâm, nghe nói trộm năm tiền hoặc hơn năm tiền, nghe nói giết người, nghe nói tự xưng được pháp Thượng nhân.” Bằng pháp ba-la-di không căn cứ thuộc phần sự khác mà vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu tỳ-kheo tự nói nghe có tiếng vang rằng: “Tôi phạm dâm, nghe nói trộm năm tiền hoặc hơn năm tiền, nghe nói giết người, nghe nói tự xưng được pháp Thượng nhân.” Bằng pháp ba-la-di không căn cứ thuộc phần sự khác mà vu khống, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu tỳ-kheo bằng bốn sự pháp[24] không căn cứ thuộc phần sự khác để vu khống tỳ-kheo, nói rơ ràng, phạm tăng-già-bà-thi-sa; nói không rơ ràng, phạm thâu-lan-giá. Nếu dùng dấu tay, hoặc viết thư, hoặc sai sứ, làm dấu hiệu cho biết, dấu được nhận biết rơ ràng, phạm tăng-già-bà-thi-sa; không rơ ràng, phạm thâu-lan-giá.
Trừ bốn ba-la-di, bằng pháp phi tỳ-kheo khác, không căn cứ, thuộc phần sự khác, mà hủy báng, nói: ‘Ông phạm biên tội, cho đến, hai h́nh, chi tiết như trên;’ nói mà hiểu được, phạm tăng-già-bà-thi-sa; không hiểu được, phạm thâu-lan-giá. Nếu dùng dấu tay, thư từ, sai người, làm hiệu cho biết, nếu hiểu được, phạm tăng-già-bà-thi-sa; không hiểu được phạm thâu-lan-giá.
Trừ những sự trên, nếu dùng các pháp khác không căn cứ thuộc phần sự khác để vu khống tỳ-kheo, tùy theo trước mà phạm.
Nếu tỳ-kheo dùng tám pháp ba-la-di không căn cứ thuộc phần sự khác để vu khống tỳ-kheo-ni, nói mà hiểu được, phạm tăng-già-bà-thi-sa; không hiểu được, phạm thâu-lan-giá. Nếu dùng dấu tay, [590b] thư từ, sai người, ra dấu cho biết, nếu hiểu được, phạm tăng-già-bà-thi-sa; không hiểu được, phạm thâu-lan-giá.
Ngoài tám ba-la-di, dùng các pháp phi tỳ-kheo-ni khác thuộc phần sự khác để vu khống, nói mà hiểu được, phạm tăng-già-bà-thi-sa; không hiểu được, phạm thâu-lan-giá. Nếu dùng dấu tay, thư từ, sai sứ, ra dấu cho biết, nếu hiểu được, phạm tăng-già-bà-thi-sa; không hiểu được, phạm thâu-lan-giá.
Trừ pháp phi tỳ-kheo-ni, nếu dùng các pháp khác không căn cứ thuộc phần sự khác để vu khống tỳ-kheo-ni, tùy trường hợp phạm. Trừ vu khống tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni, dùng pháp không căn cứ thuộc phần sự khác để vu khống người khác, phạm đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni, tăng-già-bà-thi-sa. Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: căn cứ do thấy, do nghe, do nghi mà nói đúng sự thật, nói giỡn cợt, nói nhanh vội, nói một ḿnh, nói trong mộng, muốn nói việc này nhầm nói việc khác th́ không phạm.
Người không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
[1] Ngũ phần, tr.15a3; Tăng kỳ, tr.280a19; Thập tụng, tr.22a8; Căn bản 13, tr.691b12. Vin. iii. 158.
[2] Đạp-bà-ma-la Tử 沓婆摩羅子; Ngũ phần 3, Đà-bà Lực Sỹ Tử 陀婆力士子; Tăng-kỳ, Đà-phiêu Ma-la Tử 陀驃摩羅子; Thập tụng 4, Đà-phiêu Lực Sỹ Tử 陀驃力士子; Căn bản 13, Thật Lực Tử 實力子. Pāli: Dabba Mallaputta.
[3]
Sai thứ thỉnh phạn thực, phân phối tỳ-kheo
thứ tự đi thọ trai khi được cư
sĩ thỉnh. Ngũ phần: sai hội 差
<lb
n="0015a15"/>會. Tăng kỳ:
điển tri 9 sự: điển thứ sai thỉnh hội
(thứ mời thọ thực); điển thứ phân
pḥng xá (chia pḥng xá); điển thứ phân y vật (chia y vải);
điển thứ phân hoa hương; điển thứ
phân quả lỏa (chia dưa trái ); điển thứ tri
noăn thủy nhân (cung cấp nước nóng); điển thứ
phân tạp bính thực (chia bánh); điển thứ tri tùy ư
cử kham sự nhân (cắt đặt người công
tác). Pāli: bhattudesaka, người phân phối thức
ăn cho các tỳ kheo.
[4] Đồng ư (tỳ-kheo) 同意者. Pāli (Vin. iii. 159): sabhāgānān bhikkhūnaṃ, những tỳ-kheo chung trong một nhóm.
[5] Tỳ-kheo chỉ hành khất thực, không nhận thí chủ mời: một hạnh đầu-đà.
[6] Chỉ tỳ-kheo tŕ y phấn tảo: một hạnh đầu-đà.
[7] Nghĩa là, tỳ-kheo ăn xong rồi, không ăn thêm nữa, dù ăn chưa đủ no.
[8] Bối nặc 唄匿; Pāli. bhāṇaka, (người) đọc tụng, ca vịnh.
[9] Từ Địa 慈地, theo văn, h́nh như một người. Nhưng khi dùng các đại từ, văn Hán dịch nói ngă đẳng 我等 hay nhữ đẳng 汝等. Như vậy, Từ Địa không chỉ một tỳ-kheo, mà chỉ một nhóm tỳ-kheo. Ngũ phần 3: Từ Địa huynh đệ 慈地兄弟, nghĩa là hai người. Tăng kỳ 7: nhóm sáu tỳ-kheo. Thâp tụng 4: Di-đa-la-phù-ma 彌多羅浮摩, một người. Căn bản 13: hai tỳ-kheo Thiện Hữu và Đại Địa 善友大地. Pāli: Mettiyabhummajakā bhikkhū, các tỳ-kheo đồng bọn của Mettiya và Bhummaka, trong nhóm sáu tỳ-kheo.
[10] Từ 慈. Pāli: Mettiyā.
[11] Bản Hán, hết quyển 3.
[12] Hán: sân nhuế sở phú. Ngũ phần: ác sân 惡瞋. Tăng kỳ: sân hận bất hỷ 瞋恨不喜. Thập tụng: trụ ác sân 住惡瞋. Căn bản: hoài sân bất xả 懷瞋不捨. Pāli: duṭṭho doso appatīto, ác sân và bất măn.
[13] Sự 事, sự việc hay sự t́nh. Pāli: adhikaraṇa, sự, tức tránh sự, có 4. Ngũ phần: sự (trong giới văn: sự việc ấy không căn cứ), 4 tránh sự: ngôn tránh sự, giáo giới tránh sự, phạm tội tránh sự, sự sự tránh sự. Thập tụng, sự có 4, như Ngũ phần.
[14] Hán: sân nhuế.
[15] Văn: nghe âm thanh phát ra từ động tác của người đang phạm pháp.
[16] Căn bản 13 (tr.697c17), mười yếu tố phạm: 1-3. Không thấy, không nghe, không nghi, mà nói dối thật có thấy, nghe, nghi. 4-5, Nghe, nghi, rồi quên, nhưng nói là không quên. 6-7. Nghe mà tin, nghe mà không tin, nhưng nói tôi thấy. 8-9. Nghe mà nghi, nghe mà không nghi, nhưng nói tôi thấy. 10. Chỉ tự nghi mà nói tôi thấy. Thập tụng 4 (tr.23b03) mười một yếu tố đối với tỳ-kheo không thanh tịnh: 1-3. Không thấy, không nghe, không nghi. 4-6. Thấy, nghe, nghi rồi quên. 7-8. Nghe rồi tin hoặc không tin. 9. Nghe mà nói là nghi. 10. Nghi mà nói là thấy. 11. Nghi mà nói là nghe.
[17] Lời chua trong bản Hán.
[18] Đây chỉ bốn ba-la-di.
[19] Mười ba già nạn, có một trong các yếu tố này, không đắc giới tỳ-kheo.
[20] Ngũ phần 3, tr.16b19; Tăng kỳ 7, tr.281a20; Thập tụng 4, tr.23b15; Căn bản 14, tr.699b17. Vin. iii. 166.
[21] Vin.iii. 166: Rājagahe viharati Veḷuvane Kalandanivāpe.
[22] Dị phần sự 異分事 Ngũ phần: sự dị phần trung thủ phiến 事異分中取片; sự, chỉ 4 tránh sự. Tăng kỳ: dị phần trung tiểu tiểu sự 異分中小小事; giải thích: trừ 4 ba-la-di, c̣n lại 13 tăng-già-bà-thi-sa là dị phần. Các chúng học là tiểu tiểu sự. Thập tụng: dị phần trung thủ phiến 異分中取片; giải thích: dị phần, phạm 1 trong 4 ba-la-di, không c̣n là Sa-môn Thích tử nữa nên gọi là dị phần. Căn bản: dị phi phần sự 異非分事; giải thích, dị chỉ Niết bàn; bốn ba-la-di là pháp phi phần của Niết-bàn. Pāli: aññabhāgiyassa adhikaraṇassa, đối với tránh sự thuộc phần sự khác; vấn đề thuộc về thiên tội khác, hay tránh sự cơ sở khác: đối với ngôn tránh, 3 tránh sự c̣n lại là dị phần sự; đối với dâm dục, 3 ba-la-di c̣n lại là dị phần sự.
[23] Đoạn này và các đoạn kế tiếp, giải thích ư nghĩa thủ phiến 取片 Phiến, được hiểu là chứng cớ giả để vu khống, Pāli: lesa. Cf. Vin.iii. 168: leso nāma dasa lesā, có 10 chứng cớ giả: đồng sinh (huyết thống), đồng danh, đồng tính, đồng tướng, đồng tội, đồng bát, đồng y, đồng Hoà thượng, đồng A-xà-lê, đồng tọa ngọa cụ. Ngũ phần (tr.16c21): Tỳ-kheo thấy tỳ-kheo khác phạm tăng-già-bà-thi-sa, biết rơ đó là tội tăng-già-bà-thi-sa, nhưng v́ thù hận, lấy tiểu tiết hay tương tợ tiểu tiết (phiến và tợ phiến) trong sự t́nh khác (thiên tội khác) mà vu khống là ba-la-di.
[24] Tứ sự pháp 四事法; tức bốn tránh sự: ngôn tránh, mích tránh, phạm tránh, sự tránh. Pāli, Vin, iii. 164: cattāri adhikaraṇāni.