V. Mai mối[1]

A. Duyên khởi

Một thời, đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, tại thành La-duyệt-kỳ.[2] Bấy giờ, trong thành La-duyệt có một tỳ-kheo tên là Ca-la,[3] trước đây là Đại thần của Vua, biết rành về pháp thế tục. Vị ấy chuyên làm việc mai mối như vầy: đến người nam nói chuyện người nữ; đến người nữ nói chuyện người nam. Thời bấy giờ, các cư sĩ trong thành La-duyệt muốn có việc giá thú, tất cả đều đến nhờ Ca-la. Ca-la trả lời: “Để tôi đến nhà đó quan sát trước đă.” Quan sát xong, Ca-la đến các nhà cư sĩ nói: “Nhà ngươi muốn cùng với gia đ́nh đó làm sui gia th́ cứ thực hiện theo ư muốn.” Khi ấy, các cư sĩ theo lời hướng dẫn mà làm việc hôn thú. Các nam nữ làm việc cưới hỏi rồi, được vừa ư th́ vui vẻ cúng dường khen ngợi, nói rằng: “Mong cho Ca-la thường được hoan lạc như chúng ta ngày nay. V́ sao? V́ nhờ Ca-la mà ta được hoan lạc như thế này. Mong Ca-la và các tỳ-kheo khác cũng được cúng dường.” Nếu, đôi nam nữ kia, sau khi cưới hỏi xong không được sự thích ư, họ bèn nói: “Mong cho Ca-la luôn luôn chịu khổ năo như chúng ta ngày nay. Tại sao? V́ chính Ca-la khiến cho tôi làm việc cưới hỏi nên nay tôi mới chịu khổ năo thế này. Mong cho Ca-la và các tỳ-kheo cũng chịu sự khổ năo; không được ai cúng dường.” Khi ấy, các cư sĩ không tin Phật, Pháp, Tăng trong thành La-duyệt, đồn đăi nhau: “Các người [583a1] nếu muốn được làm sui gia với nhà giàu to, nhiều của cải lắm vật báu, th́ nên đến nhờ sa-môn Thích tử điều đó; tuỳ thời cúng dường thân cận cung kính th́ có thể được như ư. Tại sao vậy? Sa-môn Thích tử này giỏi việc mai mối; biết người nam này có thể lấy người nữ kia; người nữ kia có thể cùng người nam này.” Rồi các Tỳ-kheo nghe lời đồn đăi ấy; trong số đó có vị thiểu dục tri túc, sống với hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư quở trách Ca-la tỳ-kheo: “Sao lại đi làm mai mối người nam cho người nữ; người nữ cho người nam?” Sau khi quở trách rồi, họ đến chỗ đức Thế Tôn; đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Phật một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp các Tăng tỳ-kheo. Ngài biết mà cố hỏi Ca-la:

“Có thật ngươi đă làm sự việc như vậy chăng?”

Ca-la thưa: “Kính bạch đức Thế Tôn, sự việc đúng như vậy.”

Đức Thế Tôn quở trách: “Việc làm của ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm.”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo: “Kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người phạm giới này đầu tiên. Từ nay về sau v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, để chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn thuyết giới nên thuyết như vầy:

B. Giới văn

Tỳ-kheo nào, tới lui bên này, bên kia làm mai mối; đem ư người nam nói với người nữ; đem ư người nữ nói với người nam; hoặc để thành vợ chồng, hoặc v́ việc tư thông, cho đến chỉ trong chốc lát, tăng-già-bà-thi-sa.[4]

C. Thích từ

Tỳ-kheo: nghĩa như trên.

Tới lui:[5] khiến cho hai bên được hoà hợp.

Người nữ có hai mươi hạng:[6] mẹ giám hộ, cha giám hộ, mẹ cha giám hộ, anh giám hộ, chị giám hộ, anh chị giám hộ, tự ḿnh giám hộ, pháp giám hộ, họ hàng giám hộ, tông thân giám hộ, tự nguyện làm tỳ nữ,[7] làm tỳ nữ để kiếm áo, tỳ nữ để nhận tiền của, tỳ nữ do hợp tác, tỳ nữ v́ bị nước cuốn, làm tỳ nữ v́ không nộp thuế, tỳ nữ bị thải,[8] tỳ nữ cho khách, tỳ nữ do người khác giám hộ, tỳ nữ được từ biên phương.

- Mẹ giám hộ: được giám hộ bởi mẹ.

- Cha giám hộ: được giám hộ bởi cha.

- Cha mẹ giám hộ, anh giám hộ, chị giám hộ, anh chị giám hộ: cũng như vậy.

- Tự ḿnh giám hộ: thân được tự tại.

- Pháp giám hộ: tu hành phạm hạnh.[9]

- Họ hàng giám hộ: không được quan hệ với ḍng họ thấp hơn.

- Tông thân giám hộ: được canh chừng bởi tông thân.

- Tự nguyện làm tỳ nữ:[10] vui ḷng làm tỳ nữ cho người khác.

- Làm nô tỳ để kiếm áo: được trả giá bằng y phục.[11]

- Nô tỳ để nhận tiền của: được trả giá thậm chí chỉ một đồng.

- Nô tỳ do hợp tác:[12] cùng sinh hoạt nghề nghiệp chung nhưng chưa làm lễ để thành vợ chồng.

-[583b] Nô tỳ v́ bị nước cuốn: được vớt lên khi bị nước cuốn.[13]

- Nô tỳ v́ không nộp thuế: không lấy tiền thuế.

- Nô tỳ bị thải: được mua lại, hay sinh từ trong nhà chủ.[14]

- Nô tỳ khách: được tiền thuê để làm tôi tớ trong nhà.

- Nô tỳ do người khác giám hộ: nhận tràng hoa của người để làm vật giao ước.

- Nô tỳ được từ biên phương: do sự cướp đoạt mà được.[15]

Đó là hai mươi hạng. Nam tử cũng có hai mươi loại như vậy.

D. Phạm tướng

Người nam do mẹ giám hộ, và nữ do mẹ giám hộ, nhờ tỳ-kheo làm sứ giả nói với người kia, “Nàng hăy làm vợ tôi”, hoặc nói, “Nàng hăy tư thông với tôi, chốc lát hay trong một niệm.” Nếu tỳ-kheo tự nhận lời bên này, đến nói bên kia; rồi nhận ư kiến bên kia, trở lại trả lời bên này, phạm tăng-già-bà-thi-sa.

Nếu tỳ-kheo tự nhận lời, tự đến bên kia nói, sai sứ mang tin trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.

Nếu tỳ-kheo tự nhận lời, sai sứ đến nói, tự mang tin trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.

Nếu tỳ-kheo tự nhận lời, cùng sai sứ đến nói, sai sứ mang tin trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.

Nếu tỳ-kheo tự nhận lời, tự làm thư mang đến bên kia, tự mang thư trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.

Nếu tỳ-kheo tự nhận lời, tự làm thư mang đến bên kia, sai sứ mang thư trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.

Nếu tỳ-kheo tự nhận lời, sai sứ mang thư đến bên kia, tự mang thư trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.

Nếu tỳ-kheo tự nhận lời, sai sứ mang thư đến bên kia, sai sứ mang thư trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.

Bằng dấu tay, bằng ra hiệu, cũng với bốn trường hợp như vậy.

Nếu tỳ-kheo tự nhận thư, mang đến bên kia, tự mang thư trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.

Nếu tỳ-kheo tự nhận thư, mang đến bên kia; rồi sai sứ mang thư trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.

Nếu tỳ-kheo tự nhận thư, sai sứ mang đến bên kia; rồi tự mang thư trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.

Nếu tỳ-kheo tự nhận thư, sai sứ mang thư đến bên kia; rồi sai sứ mang thư trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.

Nếu tỳ-kheo tự nhận thư, tự mang dấu tay, đến bên kia; rồi tự mang dấu tay trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.

Nếu tỳ-kheo tự nhận thư, tự mang dấu tay đến bên kia; rồi sai sứ mang dấu tay trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.

Nếu tỳ-kheo tự nhận thư, sai sứ mang dấu tay đến bên kia; rồi tự mang dấu tay trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.

Nếu tỳ-kheo tự nhận thư, sai sứ mang dấu tay đến bên kia; rồi sai sứ mang dấu tay trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.

Bốn trường hợp ra hiệu cũng như vậy. [583c] Bốn trường hợp nhận lời cũng như vậy. Mười sáu trường hợp của dấu tay cũng như vậy.

 Mười sáu trường hợp của ra hiệu cũng như vậy.

Nếu tỳ-kheo tự nhận lời, tự mang thư đến bên kia, tự mang dấu tay trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.

Nếu tỳ-kheo tự nhận lời, tự mang thư đến bên kia, sai sứ mang dấu tay trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.

Nếu tỳ-kheo tự nhận lời, sai sứ mang thư đến bên kia, sai sứ mang dấu tay trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.

Nếu tỳ-kheo tự nhận lời, tự mang thư đến bên kia, tự mang dấu hiệu trở lại trả lời, cũng có bốn trường hợp như vậy.

Nếu tỳ-kheo tự nhận lời, tự mang dấu tay đến bên kia; rồi tự mang trở lại trả lời, cũng có bốn trường hợp như vậy.

Nếu tỳ-kheo tự nhận lời, đến bên kia, trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa; tự nhận lời, đến bên kia, không trở lại trả lời, phạm thâu-lan-giá.

Nếu cùng nói mà không nhận, bèn đến bên kia nói, trở lại trả lời, thâu-lan-giá.

Nếu nhận lời, không đến bên kia nói, không trở lại trả lời, đột-kiết-la.

Nếu nghe nói, không đến bên kia nói, không trở lại trả lời, đột-kiết-la.

Nếu không nhận lời, đến nói, không trở lại trả lời, đột-kiết-la.

Nếu nói đă lấy người khác, hoặc nói đă đi chỗ khác, hoặc nói đă chết, hoặc nói bị giặc bắt đi, hoặc nói không có, tất cả thâu-lan-giá.

Nếu có bệnh hủi, bệnh ung thư, bệnh bạch lại, can tiêu, điên cuồng, bệnh trĩ, nơi đường (đại tiểu tiện) có nhọt mủ chảy măi, trở lại trả lời như vậy, lời nói này tăng-già-bà-thi-sa.

Nếu tỳ-kheo một lần làm môi giới cho người nữ, phạm một tăng-già-bà-thi-sa. Tùy theo làm mai mối nhiều hay ít, nói rơ ràng, mỗi mỗi phạm tăng-già-bà-thi-sa; nói không rơ ràng phạm thâu-lan-giá.

Nếu bằng thư, bằng dấu tay, hoặc ra hiệu, tới lui nói, tăng-già-bà-thi-sa.

Nếu ra hiệu mà người kia hiểu, tăng-già-bà-thi-sa; không hiểu, thâu-lan-giá. Trừ hai đường, nói đến chi tiết nào trong thân phần để mai mối, phạm thâu-lan-giá.

Đối với thiên nữ, A-tu-la nữ, long nữ, Dạ-xoa nữ, ngă quỷ nữ, súc sinh cái có thể biến h́nh, huỳnh môn, hai căn, mà làm mai mối, nói rơ ràng, thâu-lan-giá; không rơ ràng, đột-kiết-la. Bằng thư, bằng dấu tay, bằng ra hiệu khiến cho người kia hiểu, thâu-lan-giá; không hiểu, đột-kiết-la. [584a1] Đối với súc sinh không thể biến h́nh, làm mai mối, đột-kiết-la. Làm mai mối nam, đột-kiết-la.

Nếu tỳ-kheo tới lui làm mai mối với ư tưởng làm mai mối, tăng-già-bà-thi-sa. Làm mai mối, nhưng nghi, thâu-lan-giá. Làm mai mối với ư tưởng không phải mai mối, thâu-lan-giá. Không làm mai mối mà nghi làm mai, thâu-lan-giá. Người nữ mà nghi, thâu-lan-giá. Nữ loài người mà tưởng nữ loài phi nhơn, thâu-lan-giá. Nữ loài phi nhơn, mà tưởng là nữ loài người, thâu-lan-giá. Nữ loài phi nhơn, nghi, thâu-lan-giá.

Nếu tỳ-kheo mang thư của người đi nhưng không xem, đột-kiết-la. Nếu v́ bạch y làm sứ giả các việc khác, đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni, tăng-già-bà-thi-sa. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đây là các trường hợp phạm.

Sự không phạm: nếu nam nữ trước đă thông nhau mà sau ly biệt làm cho ḥa hợp lại. Hoặc v́ cha mẹ bệnh hoạn, hay bị giam hăm trong ngục, xem thư rồi mang đi. Hoặc v́ ưu-bà-tắc tín tâm tinh tấn mà bị bệnh, hoặc bị giam hăm trong ngục, xem thư rồi mang đi. Hoặc v́ Phật, Pháp, Tăng, tháp, hoặc v́ tỳ-kheo bệnh, xem thư rồi mang đi. Những trường hợp như trên không phạm.

Người không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng loạn tâm, thống năo bức bách.

 

 

VI. Lập thất nhỏ[16]

A. Duyên khởi

Đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, tại thành La-duyệt-kỳ.[17] Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn cho phép các tỳ-kheo làm pḥng xá riêng. Các tỳ-kheo người nước Khoáng dă,[18] nghe đức Thế Tôn cho phép các tỳ-kheo làm pḥng xá riêng, họ liền làm pḥng xá lớn. V́ họ làm pḥng xá lớn nên đ̣i hỏi nhiều công sức. Các tỳ-kheo ấy đi cầu xin khắp nơi, nói: “Cho tôi công thợ khéo; cung cấp cho tôi xe cộ và người đánh xe; cung cấp cho tôi cây, gỗ, tre, tranh, giây cột, v.v...”

V́ các tỳ-kheo khất cầu quá phiền hà, nên các cư sĩ mỗi khi từ xa, thấy tỳ-kheo đều quay xe tránh xa; hoặc lánh vào trong các đường hẻm, hoặc vào trong chợ búa, hoặc tự vào trong nhà, hay cúi đầu đi thẳng, không cho tỳ-kheo thấy mặt. Tại sao vậy? V́ sợ tỳ-kheo có sự khất cầu đ̣i hỏi.

Lại có một tỳ-kheo Khoáng dă muốn xây cất pḥng xá; bèn tự ḿnh chặt lấy cây để làm. Vị thần nương ở nơi cây đó có nhiều concháu, khởi lên ư nghĩ: “Con cháu của ta đông, cây này là nơi che chở, nương tựa của ta, mà tỳ-kheo này chặt phá. Ta phải đánh tỳ-kheo này.” Rồi thần cây nghĩ trở lại: “Nay ta nếu trước không xét kỹ mà đánh tỳ-kheo, sợ e trái đạo lư. Ta nên đến chỗ đức Thế Tôn, [584b] đem vấn đề này thưa rơ với Ngài. Nếu đức Thế Tôn giáo sắc thế nào, ta sẽ phụng hành thế ấy.” Nghĩ rồi, ông liền đến chỗ đức Thế Tôn, lạy dưới chân Phật, đứng qua một bên và đem vấn đề thưa rơ đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn khen ngợi:

“Lành thay, ngươi đă không đánh vị tỳ-kheo tŕ giới. Nếu đánh th́ mắc tội vô lượng. Nay ngươi nên đến ḍng sông Hằng, nơi đó có một cây đại thọ tên là sa-la. Vị thần nương ở cây đó vừa mạng chung. Ngươi có thể cư ngụ ở nơi đó.” Vị thần kia nghe xong, đảnh lễ dưới chân đức Thế Tôn, nhiễu ba ṿng, rồi biến mất.

Khi ấy, Tôn giả Ma-ha Ca-diếp[19] từ nước Ma-kiệt, hướng dẫn chúng đại tỳ-kheo năm trăm người, cùng đến nơi thành Khoáng dă, nghỉ lại một đêm, sáng ngày đắp y, bưng bát vào thành khất thực, bước đi đoan nghiêm, mắt nh́n đứng đắn, cử chỉ dáng điệu cùng chúng có khác.

Khi ấy, trong thành, các cư sĩ xa thấy tỳ-kheo bèn lánh vào đường hẻm, hay vào trong chợ búa, hoặc tự vào lại trong nhà, hoặc cúi đầu đi thẳng không cho tỳ-kheo thấy mặt. Tôn giả Ca-diếp thấy sự việc như vậy, bèn hỏi một người:

“Các cư sĩ nơi đây tại sao thấy tỳ-kheo tránh mặt, không cho tỳ-kheo thấy?”

Người ấy nói với Tôn giả Ca-diếp rằng:

“Đức Thế Tôn cho phép các tỳ-kheo làm pḥng xá riêng. Các tỳ-kheo khất cầu phương tiện nhiều nên gây phiền hà. Do vậy, mọi người đều tránh mặt.” Tôn giả Ca-diếp nghe như vậy rồi bùi ngùi không vui.

Lúc ấy, đức Thế Tôn từ thành La-duyệt dẫn 1.250 vị Tỳ-kheo đến nơi thành Khoáng dă. Đến nơi, quư vị đều trải ṭa an tọa. Tôn giả Ca-diếp đến chỗ đức Thế Tôn, lạy dưới chân Phật, đứng qua một bên, bày trống vai hữu, chấp tay, quỳ gối bạch Phật:

“Vừa vào thành khất thực, con thấy các cư sĩ, từ xa trông thấy các tỳ-kheo, họ đều tránh mặt... (nói đầy đủ như trên).”

Tôn giả thưa xong, lạy dưới chân Phật, nhiễu ba ṿng, rồi ra khỏi thành Khoáng dă. Tại sao vậy? V́ sợ các tỳ-kheo nơi thành Khoáng dă sinh tâm thù hận. Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, bảo rằng: “Ta nhớ ngày trước, trong núi Kỳ-xà-quật, thành La-duyệt-kỳ này, có một vị thần đến nơi Ta, cúi đầu lạy dưới chân, rồi đứng qua một bên, thưa với Ta: ‘Đức Thế Tôn cho phép tỳ-kheo nơi Khoáng dă làm pḥng xá riêng.’” Các ngươi khất cầu nhiều... (nói đầy đủ như trên). Nay Ta hỏi: “Có thật các người làm pḥng xá riêng, khất cầu nhiều như vậy chăng?”

Các tỳ-kheo trả lời: “Sự thật như vậy.”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách các tỳ-kheo:

“Tại sao [584c] các ngươi lấy cớ Ta cho phép làm pḥng xá riêng mà lại làm pḥng xá lớn, để rồi đ̣i hỏi nhiều sự khất cầu phi pháp đối với vật khó kiếm?”

Đức Thế Tôn quở trách các tỳ-kheo kia rồi, bảo các tỳ-kheo:

“Xưa kia bên ḍng sông Hằng này có một Phạm chí bện tóc,[20] thường ở bên ḍng sông, nhan sắc tiều tụy, h́nh thể gầy c̣m. Bấy giờ Ta đến đó, chào hỏi xong, hỏi: ‘Tại sao h́nh thể của ông gầy c̣m, nhan sắc tiều tụy như thế?’ Người kia trả lời Ta rằng: ‘Trong nước sông này có một Long vương tên là Ma-ni-kiền-đại.[21] Mỗi lần ra khỏi cung, nó đến chỗ tôi. Thân nó quấn quanh ḿnh tôi. Đầu nó che trên tôi. Khi ấy, tôi nghĩ: Tánh của loài rồng rất bạo, sợ nó hại mạng tôi. V́ sự lo sợ này mà thân thể gầy c̣m, nhan sắc tiều tụy thế này.’

Khi ấy Ta hỏi vị Phạm chí kia rằng: ‘Ông có muốn khiến con rồng đó ở luôn dưới nước, không đến chỗ ông hay không?’

Phạm chí kia nói: ‘Thật sự tôi muốn con rồng đó đừng đến chỗ tôi.’

Ta liền hỏi Phạm chí: ‘Con rồng kia có chuỗi anh lạc[22] hay không?’

Phạm chí đáp: ‘Dưới cổ nó có chuỗi ngọc châu anh lạc rất tốt.’

Đức Phật nói với Phạm chí rằng: ‘Nếu con rồng kia, khi ra khỏi nước, đến chỗ ông, ông nên đứng dậy tiếp đón và nói: Long vương, hăy chờ! Hăy mang chuỗi anh lạc dưới cổ cho tôi. Nói xong rồi th́ đọc kệ:

Nay ta cần chuỗi ngọc,

Anh lạc dưới cổ ngươi.

Hăy tỏ tín tâm ưa,

Cho ta viên ngọc đó.’

Phạm chí ghi nhớ lời của Ta. Sau đó, khi Long vương từ trong nước ra, đến chỗ Phạm chí. Từ xa, Phạm chí trông thấy, liền đứng dậy nghinh đón và nói: ‘Hăy chờ chút, này Long vương! Xin vui ḷng đưa cho tôi chuỗi ngọc dưới cổ.’

Phạm chí nói xong thuyết kệ:

Nay ta cần chuỗi ngọc,

Anh lạc dưới cổ ngươi.

Hăy tỏ tín tâm ưa,

Cho ta viên ngọc đó.

Long vương bèn trả lời Phạm chí bằng bài kệ:

Của báu tôi có được,

Do từ viên ngọc này;

Ông lại muốn cầu xin,

Thôi không gặp nhau nữa.

Đoan chánh, đẹp, tinh sạch,

Xin ngọc khiến tôi sợ;

Thôi không gặp nhau nữa,

Cho ông ngọc làm ǵ?

Long vương tức thời trở lại cung, không xuất hiện nữa.”

[585a1] Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn liền nói kệ:

Xin nhiều, người không ưa,

Xin quá thành thù ghét;

Phạm chí xin ngọc rồng,

Rồng không trở lại nữa!

“Tỳ-kheo, các ngươi nên biết, cho đến súc sinh c̣n không ưa người xin, huống là đối với loài người, xin nhiều không nhàm chán mà không làm cho chán ghét? Tỳ-kheo Khoáng dă là người ngu si, riêng làm pḥng xá lớn, có quá nhiều yêu sách... (nói đầy đủ như trên)

Đức Thế Tôn lại bảo các tỳ-kheo: “Xưa kia, một thuở nọ, ta ở nơi vườn Cấp-côộc, trong rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Khi ấy, có một tỳ-kheo[23] đến chỗ ta, cúi đầu lạy dưới chân, rồi ngồi qua một bên, Ta hỏi thăm uỷ lạo rằng, ‘Các người sống có được an ổn không? Không khổ v́ sự khất thực chăng?’

Tỳ-kheo ấy trả lời: ‘Chúng con sống được an ổn, không phải gặp sự khó khăn v́ khất thực. Nhưng con ở trong rừng, có một điều lo ngại chính là, vào nửa đêm bọn chim kêu la bi thảm, làm rối loạn định tâm của con. Con khốn đốn v́ việc này.’

Đức Phật hỏi các tỳ-kheo: ‘Các ông có muốn bầy chim này không đến nơi rừng này nghỉ đêm nữa hay không?’

Tỳ-kheo thưa với đức Phật: ‘Thật sự chúng con không muốn bầy chim ấy trở lại nghỉ đêm nơi rừng này nữa.’

Đức Phật bảo các tỳ-kheo: ‘Các ông ŕnh, khi nào bầy chim trở lại nghỉ đêm, nói với chúng nó rằng, cho ta xin hai cái cánh, ta có việc cần dùng nó.’

Lúc ấy,[24] các tỳ-kheo kia sau khi ghi nhớ lời dạy của Ta, bèn ŕnh khi bầy chim kia trở lại nghỉ đêm nơi rừng; vào lúc nửa đêm, đến chỗ bầy chim kia, nói, ‘Nay ta cần dùng hai cái cánh của ngươi, ngươi đem cho ta đi!’

Khi ấy, bầy chim nghĩ thầm, ‘Tỳ-kheo này xin ta như vậy.’ Nghĩ xong, liền bay ra khỏi rừng, từ đó không trở lại nữa.”

Đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Các ông nên biết, cho đến loài cầm thú c̣n không thích bị người xin, huống là đối với người cầu xin đ̣i hỏi nhiều, mà không sinh chán ghét sao?

Tỳ-kheo Khoáng dă là người ngu si, làm pḥng xá lớn riêng, có quá nhiều yêu sách... (nói đầy đủ như trên).”

Rồi đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Xưa kia có con trai nhà tộc tánh, tên là Lại-tra-bà-la,[25] xuất gia hành đạo cho đến đối với nhà của cha mẹ mà cũng hoàn toàn không đến xin. Khi ấy, ông cha nói với Lại-tra-bà-la: “Con biết chăng, ta tự nghiệm xét, ít có người không đến nhà cha xin. Con là con của cha, tại sao không đến nhà cha để xin?

“Khi ấy, [585b] Lại-tra-bà-la nói kệ cho cha nghe:

Cầu nhiều, người không ưa.

Cầu không được, sinh oán.

Cho nên con không xin,

Sợ sinh thêm bớt vậy.

“Tỳ-kheo nên biết, Lại-tra-bà-la, đối với nhà của cha ḿnh c̣n không đến xin, huống là các tỳ-kheo, đối với nhà cư sĩ, lại đến khất cầu đ̣i hỏi nhiều, khiến cho họ không ưa.”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách các tỳ-kheo khất cầu phi thời, khất cầu không biết chán, khất cầu bất chánh. Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện khen ngợi sự khất cầu đúng thời, khất cầu một cách vừa phải, khất cầu chơn chánh; rồi bảo các tỳ-kheo: “Tỳ-kheo Khoáng dă là người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, để chánh pháp tồn tại lâu dài.” Muốn nói giới nên nói như vầy:

B. Giới văn

Tỳ-kheo nào, tự khất cầu để cất thất, không có thí chủ, tự làm cho ḿnh, cần phải làm đúng lượng. Trong đây đúng lượng là dài mười hai gang tay Phật, bên trong rộng bảy gang tay Phật. Phải mời các tỳ-kheo đến chỉ định nơi chốn. Các tỳ-kheo ấy cần chỉ định nơi chốn, là nơi không có nguy hiểm, nơi không bị bít lối. Nếu tỳ-kheo, nơi có nguy hiểm, nơi bị bít lối, tự khất cầu để cất thất, không có thí chủ, tự làm cho ḿnh, không mời các tỳ-kheo đến để chỉ định nơi chốn, hoặc làm quá lượng định, tăng-già-bà-thi-sa.

C. Thích từ

Tỳ-kheo: nghĩa như trên.

Tự khất cầu: vị kia khất cầu yêu sách chỗ này chỗ kia.

Thất [26]: tức là pḥng.

Không có chủ:[27] không có một người, hai người, hay nhiều người đứng ra cất.

Tự làm cho ḿnh:[28] tự ḿnh t́m cầu, tự ḿnh làm lấy.

Đúng lượng: dài mười hai gang tay Phật, bên trong rộng bảy gang tay Phật.[29]

Chỗ nguy hiểm:[30] là chỗ có hổ lang, sư tử, các thú dữ, cho đến loài kiến.

Nếu tỳ-kheo không bị các loài trùng kiến hay các loài thú gây năo hại, th́ nên dọn khu đất cho bằng phẳng; hoặc có gốc cây, đá, gai gốc, th́ hăy sai người đào bỏ. Hoặc có hang, hầm, mương, rănh, ao, ng̣i, th́ hăy cho người lấp đi. Hoặc sợ nước ngập, hăy làm đê để chắn. Hoặc chỗ đất có người nói là của họ, th́ nên cùng xử đoán, chớ để người khác tranh căi. Đó gọi là chỗ nguy hiểm.

Chỗ bị bít lối:[31] nghĩa là nơi không đủ cho chiếc xe chở cỏ[32] quay đầu để tới lui, như vậy gọi là chỗ bị bít lối.

Tỳ-kheo này xem coi, nơi không có nguy hiểm, không bị bít lối rồi, đến trong Tăng cởi bỏ dép, trống vai bên hữu, quỳ gối bên hữu chấm đất, [585c] chắp tay tác bạch:[33]

Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo tên là..., tự khất cầu để cất thất, không có thí chủ, tự làm cho ḿnh. Nay tôi đến trong Tăng cầu xin biết cho đó là chỗ không nguy hiểm, không bị bít lối.

Bạch như vậy ba lần.

Lúc bấy giờ, chúng Tăng nên quan sát tỳ-kheo này có thể tin cậy được không? Nếu có thể tin cậy th́ nên cho phép cất. Nếu không thể tin cậy th́ tất cả chúng Tăng nên đến nơi đó để xem xét. Nếu chúng Tăng không thể đi th́ nên sai vị Tăng nào[34] có thể tin cậy đến đó để quan sát.

Nếu nơi đó có nguy hiểm, bị bít lối th́ không nên cho. Nếu không có nguy hiểm mà bị bít lối th́ cũng không nên cho. Nơi có nguy hiểm mà không bị bít lối cũng không cho. Chỗ không nguy hiểm, không bị bít lối mới cho. Nơi chốn đă ổn định như vậy rồi, trong chúng sai một người có khả năng tác yết-ma. Vị ấy có thể là thượng tọa, thứ tọa, hoặc tụng luật hay không tụng luật, nên tác bạch:

Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., tự khất cầu để cất thất, tự cất không có thí chủ. Nay đến trước chúng Tăng xin chỉ định nơi chốn là nơi không nguy hiểm, không bị bít lối. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, chỉ định nơi chốn không nguy hiểm, không bị bít lối cho tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.

Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., tự khất cầu để cất thất, tự cất cho ḿnh, không có thí chủ. Nay, tỳ-kheo này đến trước Tăng xin chỉ định nơi chốn[35] là nơi không có nguy hiểm, không bị bít lối. Nay, Tăng chỉ định nơi chốn cho tỳ-kheo tên là..., nơi không có nguy hiểm, không bị bít lối. Các trưởng lăo nào chấp thuận, Tăng nay chỉ định nơi chốn cho tỳ-kheo tên là..., nơi không có nguy hiểm, không bị bít lối, th́ im lặng. Ai không chấp nhận, xin nói.

Tăng đă chỉ định nơi chốn cho tỳ-kheo tên là..., nơi không có nguy hiểm, không bị bít lối, v́ im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.

D. Phạm tướng

Vị tỳ-kheo cất pḥng nên biết, từ khi khởi công đặt đá, đắp đất, hay vắt bùn, cho đến khi trét bùn sau cùng, hoàn thành toàn bộ, mà không được Tăng chỉ định nơi chốn, làm quá lượng, nơi nguy hiểm, bị bít lối: phạm hai tăng-già-bà-thi-sa, hai đột-kiết-la.

Tăng không chỉ định nơi chốn, cất quá lượng, nơi có nguy hiểm, nhưng không bị bít lối: hai tăng-già-bà-thi-sa, một đột-kiết-la.

Tăng không chỉ định nơi chốn, cất quá lượng, tuy nơi không nguy hiểm, nhưng bị bít lối: một tăng-già-bà-thi-sa, hai đột-kiết-la.

Tăng không chỉ định nơi chốn, tuy không cất quá lượng, nhưng cất nơi nguy hiểm, bị bít lối: một tăng-già-bà-thi-sa, hai đột-kiết-la.

Tăng không chỉ định nơi chốn, không cất quá lượng, nơi nguy hiểm, không bị bít lối, phạm một tăng-già-bà-thi-sa, một đột-kiết-la.

Tăng không chỉ định nơi chốn, không cất quá lượng, nơi không nguy hiểm nhưng bị bít lối, phạm một tăng-già-bà-thi-sa, một đột-kiết-la.


Tăng đă chỉ định nơi chốn, nhưng cất quá lượng, [586a1] nơi có nguy hiểm, bị bít lối: một tăng-già-bà-thi-sa, hai đột-kiết-la.

Tăng đă chỉ định nơi chốn, nhưng cất quá lượng, tuy cất nơi có nguy hiểm nhưng không bị bít lối: một tăng-già-bà-thi-sa, một đột-kiết-la.

Tăng đă chỉ định nơi chốn, nhưng cất quá lượng; nơi không nguy hiểm, nhưng bị bít lối: một tăng-già-bà-thi-sa, một đột-kiết-la.

Tăng đă chỉ định nơi chốn, không cất quá lượng, nơi có nguy hiểm nhưng không bị bít lối: một đột-kiết-la.

Tăng đă chỉ định nơi chốn, không cất quá lượng, nơi không nguy hiểm, nhưng bị bít lối: một đột-kiết-la.

Tăng đă chỉ định nơi chốn, nhưng cất quá lượng, nơi không nguy hiểm, không bị bít lối: một tăng-già-bà-thi-sa.

Nếu Tăng tỳ-kheo không chỉ định nơi chốn, cất quá lượng, nơi có nguy hiểm, bị bít lối, tự cất thất, hoàn thành, phạm tăng-già-bà-thi-sa, hai đột-kiết-la; cất mà không thành, phạm hai thâu-lan-giá, hai đột-kiết-la.

Nếu sai bảo người khác cất, thành th́ phạm hai tăng-già-bà-thi-sa, hai đột-kiết-la;[36] không thành th́ phạm hai thâu-lan-giá, hai đột-kiết-la. Nếu v́ người khác cất thất, mà thành th́ phạm hai thâu-lan-giá, hai đột-kiết-la; không thành, phạm bốn đột-kiết-la.

Nếu khi cất thất mà dùng dây đo đất đúng lượng, nhưng người cất quá lượng, th́ người cất phạm. Nếu tỳ-kheo sai người đặt dây mực để cất, người nhận lời sai bảo nói: “Cất như pháp”, mà cất quá lượng th́ người nhận lời ấy phạm. Nếu người ấy lại sai bảo người khác coi theo dây mực và được làm như pháp, không báo trở lại mà cất th́ phạm. Nếu sai người đặt dây mực mà cất tức là cất như pháp; người sai bảo không hỏi có làm như pháp không? Người sai bảo phạm. Nếu Tăng không chỉ định nơi chốn, có ư tưởng không chỉ định nơi chốn, phạm tăng-già-bà-thi-sa. Tăng không chỉ định nơi chốn, nghi, thâu-lan-giá. Tăng không chỉ định nơi chốn, có ư tưởng Tăng chỉ định nơi chốn, thâu-lan-giá. Tăng đă chỉ định nơi chốn, có ư tưởng Tăng không chỉ định nơi chốn, thâu-lan-giá. Tăng đă chỉ định nơi chốn, có nghi, thâu-lan-giá. Cất quá lượng cũng như vậy. Nếu có nguy hiểm, tưởng có nguy hiểm, đột-kiết-la. Có nguy hiểm, nghi, đột-kiết-la. Có nguy hiểm, tưởng không nguy hiểm, đột-kiết-la. Không nguy hiểm, tưởng có nguy hiểm, đột-kiết-la. Không nguy hiểm, nghi, đột-kiết-la. Nơi bị bít lối cũng như vậy. Tỳ-kheo-ni, thâu-lan-giá. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni th́ đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Sự không phạm: cất đúng lượng, cất giảm lượng, Tăng chỉ định nơi chốn, nơi không nguy hiểm, nơi không bị bít lối, đo như pháp. Hoặc v́ Tăng mà cất, v́ Phật mà cất, cất làm giảng đường, am bằng cỏ, am bằng lá, hoặc cất thất nhỏ [586b] đủ ở dung thân, hoặc cất cho nhiều người ở, đó gọi là không phạm. Người không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng loạn tâm, thống năo bức bách.

 

   

VII. Cất chùa lớn[37]  

A. Duyên khởi

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn ở trong vườn Cù-sư-la,[38] tại nước Câu-thiểm-di.[39] Khi ấy, vua Ưu-điền[40] nói cùng Tôn giả Xiển-đà,[41] là bạn tri thức thân hữu, rằng:

“Tôi muốn làm cho ngài một cái nhà. Ngài muốn cái nhà đó đẹp như thế nào cũng được. Địa điểm nào tốt có thể xây cất pḥng xá, cũng tùy ư ngài chọn.”

Tôn giả trả lời:

“Tốt đẹp thay!”

Lúc bấy giờ, gần thành Câu-thiểm-di có cây thần là Ni-câu-luật.[42] Nhiều người qua lại, cũng như voi ngựa xe cộ thường nghỉ mát dưới gốc cây đó. Tôn giả Xiển-đà đến chặt cây kia để cất nhà lớn. Các cư sĩ thấy vậy, đều chê trách: “Sa-môn Thích tử không có tàm quư, đoạn mạng chúng sinh. Bên ngoài tự xưng rằng ta biết Chánh pháp. Như vậy làm ǵ có Chánh pháp. Cây đại thọ tốt đẹp như vậy, nhiều người tới lui, voi, ngựa, xe cộ thường nghỉ mát dưới gốc cây đó, mà lại đến chặt để làm nhà lớn.”

Lúc ấy, trong số các tỳ-kheo nghe được, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, hiềm trách Xiển-đà rằng: “Cây đại thọ tốt như vậy, nhiều người tới lui, voi ngựa xe cộ thường đến nghỉ mát dưới gốc cây, sao lại đến chặt để làm nhà lớn?”

Các tỳ-kheo quở trách rồi, đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này tŕnh lên đức Phật, một cách đầy đủ.

Đức Thế Tôn dùng nhân duyên này tập hợp các tỳ-kheo. Ngài biết mà vẫn cố ư hỏi Xiển-đà:

“Có thật ngươi đă làm sự việc như vậy chăng?”

Xiển-đà thưa: “Kính bạch đức Thế Tôn, sự việc đúng như vậy.”


Đức Thế Tôn quở trách: “Việc làm của ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm.”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách rồi bảo các tỳ-kheo: “Kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người phạm giới này đầu tiên. Từ nay về sau Ta v́ các Tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, để chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn thuyết giới nên thuyết như vầy:

B. Giới văn

Tỳ-kheo nào, muốn cất chùa lớn, có thí chủ làm cho ḿnh, cần phải mời các tỳ-kheo khác đến chỉ định nơi chốn. Các tỳ-kheo ấy cần chỉ định nơi chốn, là nơi không có nguy hiểm, nơi không bị bít lối. Nếu [586c] tỳ-kheo, nơi có nguy hiểm, nơi bị bít lối, cất chùa lớn, có thí chủ làm cho ḿnh, không mời các tỳ-kheo đến để chỉ định nơi chốn, tăng-già-bà-thi-sa.

C. Thích từ

Tỳ-kheo: nghĩa như trên.

Lớn: dùng nhiều tiền của và vật liệu.[43]

Có chủ: hoặc một, hai hoặc số đông người.

Làm cho ḿnh: v́ thân ḿnh mà làm.

Chỗ nguy hiểm: là chỗ có hổ lang, sư tử, các thú dữ, cho đến loài kiến. Nếu tỳ-kheo không bị các loài trùng kiến hay các loài thú gây năo hại, th́ nên dọn khu đất cho bằng phẳng; hoặc có gốc cây, đá, gai gốc, th́ hăy sai người đào bỏ. Hoặc có hang, hầm, mương, rănh, ao, ng̣i, th́ hăy cho người lấp đi. Hoặc sợ nước ngập, hăy làm đê để chắn. Hoặc chỗ đất có người nói là của họ, th́ nên cùng xử đoán, chớ để người khác tranh căi. Đó gọi là chỗ không bị nguy hiểm.

Chỗ bị bít lối: nghĩa là nơi không đủ cho chiếc xe chở cỏ quay đầu để tới lui, như vậy gọi là chỗ bị bít lối.

Tỳ-kheo này xem coi, nơi không có nguy hiểm, không bị bít lối rồi, đến trong Tăng cởi bỏ dép, trống vai bên hữu, quỳ gối bên hữu chấm đất, chắp tay tác bạch:

Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo tên là..., muốn cất chùa lớn, có thí chủ làm cho ḿnh, nay đến trước Tăng, xin chỉ định cho chỗ không nguy hiểm, không bị bít lối.

Lần thứ hai, lần thứ ba cũng thưa như vậy. Lúc bấy giờ, chúng Tăng nên quan sát tỳ-kheo này có thể tin cậy được không? Có trí tuệ không? Nếu có thể tin cậy, có trí tuệ, th́ nên tác yết-ma cho phép cất. Nếu không thể tin cậy, không có trí tuệ, th́ nên cử một số tỳ-kheo, hoặc sai tỳ-kheo có trí tuệ, đáng tin cậy, đến nơi đó để xem xét. Nếu nơi đó có nguy hiểm, bị bít lối th́ không nên cho. Nếu không có nguy hiểm mà bị bít lối th́ cũng không nên cho. Nơi có nguy hiểm mà không bị bít lối cũng không cho. Chỗ không nguy hiểm, không bị bít lối mới cho. Nơi chốn đă ổn định như vậy rồi, trong chúng sai một người có khả năng như đă nói tác yết-ma. Nên tác bạch:

Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., muốn cất chùa lớn, có thí chủ làm cho ḿnh, nay đến trước Tăng xin chỉ định nơi không nguy hiểm, không bị bít lối. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận chỉ định cho tỳ-kheo tên là..., chỗ không nguy hiểm, không bị bít lối. Đây là lời tác bạch:

Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là..., muốn cất chùa lớn, có thí chủ làm cho ḿnh, nay đến Tăng xin chỉ định chỗ không nguy hiểm, không bị bít lối. Nay Tăng trao cho tỳ-kheo tên là..., yết-ma chỉ định chỗ không nguy hiểm, không bị bít lối. Chư Đại đức nào chấp thuận Tăng trao cho tỳ-kheo tên là..., yết-ma chỉ định chỗ không nguy hiểm, không bị bít lối th́ im lặng; ai không đồng ư xin nói. Tăng đă thuận cho [587a1] tỳ-kheo tên là..., yết-ma chỉ định chỗ không nguy hiểm, không bị bít lối rồi, nên im lặng. Việc ấy ghi nhận như vậy.

D. Phạm tướng

Vị tỳ-kheo cất pḥng nên biết, từ khi khởi công đặt đá, đắp đất, hay vắt bùn, cho đến khi trét bùn sau cùng, hoàn thành toàn bộ, mà không được Tăng chỉ định nơi chốn, nơi nguy hiểm, bị bít lối, phạm một tăng-già-bà-thi-sa, hai đột-kiết-la.

Tăng không chỉ định nơi chốn, chỗ có nguy hiểm nhưng không bị bít lối, phạm một tăng-già-bà-thi-sa, một đột-kiết-la.

Tăng không chỉ nơi chốn mà cất nơi không nguy hiểm nhưng bị bít lối, phạm một tăng-già-bà-thi-sa, một đột-kiết-la.

Tăng đă chỉ định nơi chốn mà cất nơi có nguy hiểm, bị bít lối, phạm hai đột-kiết-la.

Tăng đă chỉ định nơi chốn mà cất nơi có nguy hiểm, nhưng không bị bít lối, phạm một đột-kiết-la.

Tăng đă chỉ định nơi chốn, mà cất nơi không nguy hiểm nhưng bị bít lối, phạm một đột-kiết-la.

Tăng không chỉ định nơi chốn, nhưng cất nơi không nguy hiểm, không bị bít lối, phạm một tăng-già-bà-thi-sa.

Nếu tỳ-kheo, Tăng không chỉ định nơi chốn, nơi có nguy hiểm, bị bít lối, cất pḥng lớn, có thí chủ cất cho ḿnh, cất xong, phạm một tăng-già-bà-thi-sa, hai đột-kiết-la; cất không thành, phạm một thâu-lan-giá, hai đột-kiết-la.

Nếu sai bảo người cất th́ phạm một tăng-già-bà-thi-sa, hai đột-kiết-la; không thành phạm một thâu-lan-giá, hai đột-kiết-la. V́ người khác khởi công xây cất nhà mà hoàn thành th́ phạm một thâu-lan-giá, hai đột-kiết-la; cất mà không thành phạm ba đột-kiết-la.

Tăng không chỉ định nơi chốn, có ư tưởng không chỉ định nơi chốn, phạm tăng-già-bà-thi-sa. Tăng không chỉ định nơi chốn, sinh nghi, phạm thâu-lan-giá. Tăng không chỉ định nơi chốn, có ư tưởng là chỉ định nơi chốn, phạm thâu-lan-giá.

Tăng đă chỉ định nơi chốn, tưởng không chỉ định nơi chốn, phạm thâu-lan-giá. Tăng đă chỉ định nơi chốn, sinh nghi, phạm thâu-lan-giá. Có nguy hiểm, tưởng có nguy hiểm; bị bít lối, tưởng có bị bít lối, đều cũng dùng năm câu như vậy.

Tỳ-kheo-ni, thâu-lan-giá. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni phạm đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Sự không phạm: Tăng chỉ định nơi chốn, cất nơi không nguy hiểm, không bị bít lối, v́ Tăng, v́ Phật đồ, giảng đường, am bằng tranh, am bằng lá, cái thất nhỏ đủ dung thân, v́ nhiều người xây cất thất th́ không phạm.

Người không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng loạn tâm, thống năo bức bách.

 



[1] Ngũ phần, tr.12a16; Tăng-kỳ 5, tr.262a20; Thập tụng, tr. 18a11; Căn bản 12, tr.685c14. Vin. iii. tr.135.

[2] Ngũ phần, Tăng-kỳ, Thập tụng: Phật tại Xá-vệ. Căn bản: Thất-la-phiệt.

[3] Ca-la 迦羅; Ngũ phần: trưởng giả Ca-lưu 長者名迦留; Thập tụng: Ca-la, con của trưởng giả Lộc Tử 鹿子長者兒名曰迦羅; Căn bản: Trưởng giả Hắc Lộc Tử 長者黑鹿子. Pāli: āyasmā udāyī sāvatthiyaṃ kulūpako hoti, trưởng lăo Udāyī thường xuyên lui tới một gia đ́nh trong Sāvatthi.

[4] Ngũ phần, giới được kết hai lần: lần đầu, Ca-lưu mai mối làm vợ chồng. Lần thứ hai, nhóm sáu tỳ-kheo môi giới tư thông. Pāli, học xứ này được kết hai lần. Lần đầu, do Udāyī mai nối làm vợ chồng. Lần thứ hai, do Udāyī mai mối cho tư thông.

[5] Văng lai, trong văn luật: văng lai bỉ thử 往來彼此. Ngũ phần: hành môi pháp 行嫫法; Thập tụng: hành môi giá pháp 行嫫嫁法; Tăng kỳ: hành ḥa hợp nam nữ 行和合男女. Pāli: sañcarittaṃ samāpajjeyya, hành động làm môi giới.

[6] Ngũ phần: nữ có mười hạng; nam có mười hạng. Thập tụng, mười bốn hạng nữ có giám hộ. Căn bản: bảy hạng phụ nữ, mười trường hợp tư thông. Thập tụng: mười bốn hạng nữ có giám hộ. Pāli (Vin. iii. 139), 10 hạng nữ (không hay chưa chồng) và 10 loại vợ.

[7] Hán: tỳ . Pāli: dāsī, giải thích: dāsī ceva hoti bhariyā ca, vừa là nô tỳ vừa là vợ.

[8] Phóng khứ tỳ 放去婢, xem cht. sau.

[9] Ngũ phần: pháp hộ 法護, xuất gia theo chánh pháp, tu hành phạm hạnh. Nên hiểu là người nữ được bảo vệ bởi luật pháp. Căn bản: hữu pháp hộ 有法護, người nữ goá chồng, thủ tiết, không ai dám xâm phạm. Pāli: dhammarakkhitā nāma sahadhammikā rakkhanti gopenti issariyaṃ kārenti vasaṃ vattenti (Vin. iii. 139), được giám hộ bởi pháp, tức là, những bạn đồng pháp (=đồng đạo) bảo vệ, canh chừng, làm chủ, kiểm soát.

[10] Tự lạc 自樂; Ngũ phần: tự nhiệm 自任, người nữ sống theo sở thích. Tăng kỳ: tuỳ ư trú 隨意住, người nữ giao ước sống với người nam theo ư muốn, khi nào không c̣n muốn sẽ tùy ư bỏ đi. Căn bản: tự lạc phụ 自樂婦, hạng làm vợ do thân hành đi đến chỗ người nam ḿnh thích, nói, “Tôi vui ḷng làm vợ của ông.” Pāli: chandavāsinī nāma piyo piyaṃ vāseti, hạng làm vợ được cầm giữ cho mục đích ham muốn, tức là người yêu cầm giữ người yêu.

[11] Pāli: paṭavāsinī nāma paṭaṃ datvā vāseti, hạng làm vợ được cầm giữ sau khi được cho áo.

[12] Đồng nghiệp 同業; Thập tụng: hiệp sinh 合生, đề nghị người nam hiệp chung tài sản để sống chung; Căn bản: cộng hoạt 共活. Pāli: kammakārī, vợ như là người chấp tác.

[13] Thập tụng: thủy đắc 水得, người nam rót nước lên tay người nữ để xác nhận là vợ. Pāli: odapattakinī nāma udakapattaṃ āmasitvā vāseti, người nữ bưng bát nước, sau khi người nam trao cho b́nh nước, rồi nhận làm vợ.

[14] Phóng khứ tỳ 放去婢; Tăng kỳ 6 (tr.273b7): phóng , có hai. Hoặc bán: theo pháp của nước Phả-lê, nếu không thích vợ nữa có thể đem bán. Hoặc ly dị: theo phép một số nước, nếu vợ chồng không yêu nhau nữa, đến quan nộp 3 tiền rưỡi và hai trương lụa th́ có thể ly dị.

[15] Biên phương đắc 邊方得; Căn bản: vương kỳ phụ 王旗婦. Pāli: dhajāhaṭā, vợ cướp được do chinh phạt.

[16] Pāli, Vin. iii. 144, kuṭikāsikkhapadaṃ. Ngũ phần, tr. 13a12; Tăng-kỳ tr. 276b1; Thập tụng, tr. 20b7; Căn bản, tr. 688a19.

[17] Tăng kỳ: Phật tại tinh xá Khoáng dă 曠野精舍; Thập tụng: Phật tại A-la-t́ quốc 阿羅毘國.

[18] Khoáng dă quốc 曠野國; Ngũ phần 3: A-trà-bệ ấp 阿荼髀邑; Thập tụng 3: A-la-t́ tỳ-kheo 阿羅毘比丘. Pāli: āḷavakā bhikkhū, các Tỳ-kheo người Āḷavī, một thị trấn nằm giữa Sāvatthī (Xá-vệ) và Rājagaha (Vương-xá).

[19] Tăng kỳ, nt: Tôn giả Xá-lợi-phất.

[20] Để bản: lăi kế 蠡髻; Tống-Nguyên-Minh: loa kế 螺髻. Pāli: dve bhātaro isayo, hai anh em Tiên nhân.

[21] Ma-ni-kiền-đại 摩尼犍大. Pāli: maṇikaṇṭho nāgarājā, Long vương Maṇikaṇṭha.

[22] Anh lạc 瓔珞; Ngũ phần 2, hạt ngọc ma-ni 摩尼珠. Pāli: maṇi.

[23] Tăng kỳ 6: Tỳ-kheo tên Bạt-cừ 跋懅.

[24] Để bản in thừa mấy chữ: Tỳ-kheo báo ngôn 比丘報言.

[25] Lại-tra-bà-la 賴吒婆羅, tức Lại-tra-hoà-la trong Trung A-hàm 31 (T1n26, tr.623a), con nhà phú hộ ở Xá-vệ, điển h́nh cho tín tâm bất động của thanh niên con nhà giàu có, quyết tâm xuất gia. Cf. Pāli, Raṭṭhapāla-sutta, M.ii.54ff.

[26] Nguyên Hán: ốc , nhà. Ngũ phần 2 (tr.14a20): pḥng , mà bên trong có thể đi, đứng, nằm, ngồi. Thập tụng: , nhà ấm, nhà mát, điện đường, lầu gác, v.v... Pāli (Vin. iii. 149): kuṭi, túp lều, hay cḥi tranh.

[27] Ngũ phần 2: không có chủ, nghĩa là không có đàn-việt (thí chủ).

[28] Tự vị kỷ 自為己. Ngũ phần 2: vị thân 為身, làm cho ḿnh, không phải cho người khác, hay làm cho Tăng.

[29] Tăng kỳ 6 (tr.277c25): trường (dài), tức chiều dọc; quảng (rộng), tức chiều ngang. Tu-già-đà chích thủ 修伽跎搩手, gang tay Phật (Thiện Thệ), bằng 2 thước 4 tấc. Căn bản: gang tay Phật gấp ba người thường. 12 gang tay người thường có 18 khuỷu. Pāli: vidaṭṭhati = Skt. vitasti = 12 lóng tay, khoảng 9 inch.

[30] Nạn xứ 難處; Ngũ phần: chỗ ngă tư đường nhiều người tụ tập; chỗ dâm nữ, chợ búa… Pāli: sārambha, chỗ có nguy hiểm.

[31] Phương xứ 妨處; Thập tụng 3 (tr.20c18): đất chung quanh túp lều ấy trong phạm vi một tầm mà là đất có tháp, đất của quan, của cư sĩ, ngoại đạo, trú xứ ni; có đá lớn, sông suối, hầm hố v.v… gọi là phương xứ. Tăng kỳ 6 (tr.278b9): phi phương xứ, thất có bốn phía, mỗi bên đủ chỗ cho cái thang 12 nấc 十二桄梯 mà khoảng cách giữa 2 nấc là 1 khuỷu. Ngũ phần 2 (tr.14a29): hữu hành xứ 有行處, chỗ có lối đi. Căn bản 12: hữu tranh cạnh 有諍競, đất có tranh chấp, gần đó có quan sở, có nhà trưởng giả, nhà ngoại đạo, chùa ni… Pāli: aparikkammana, chỗ không có lối đi.

[32] Thảo xa 草車; Pāli: yuttena sakaṭena, xe tải có ḅ kéo.

[33] Tăng kỳ 2: trước làm pháp cầu thỉnh yết-ma, tức đề nghị Tăng họp để giải quyết đề nghị của tỳ-kheo hữu sự. Sau đó mới xin khất cầu yết-ma, nên đề nghị Tăng giám sát việc cất thất hợp pháp.

[34] Tăng kỳ 2: yết-ma Tăng sai, cử tỳ-kheo đại diện, tối đa 3 người. Tứ phầnNgũ phần, không có văn yết-ma Tăng sai.

[35] Hán: dữ xử phân 與處分; Pāli: kuṭivatthudesana, chỉ định chỗ có thể cất thất.

[36] Pāli, Vin.iii.153: Tỳ-kheo sai bảo người cất thất, chỗ không được Tăng chỉ định, chỗ có nguy hiểm, không có lối đi, phạm một tăng-già-bà-thi-sa, hai đột-kiết-la.

[37] Ngũ phần 3, tr.14b28; Tăng kỳ, tr.297a18; Thập tụng 4, tr.21b12; Căn bản, tr.689a25. Pāli, Vin. iii. 155: vihārakāra, làm tinh xá.

[38] Cù-sư-la 瞿師羅. Pāli: Ghositārāma.

[39] Câu-thiểm-di 拘睒彌; Ngũ phần3: Câu-xá-di 拘舍彌. Căn bản 12: Kiêu-thiểm-t́ 憍閃毘.

[40] Ưu-điền 優填. Tăng kỳ 6: Xiển-đà 闡陀 đến nhà thí chủ tên A-bạt-tra 阿跋吒. Thập tụng: trưởng lăo Xiển-na 闡那, thân thiết với vua, quan. Pāli không đề cập tên vua. Theo các tài liệu Pāli, thời Phật, vua nước Kosambī là Parantapa; người kế vị là Udena.

[41] Xiển-đà 闡陀. Thập tụng: Xiển-na 闡那. Pāli: Channa.

[42] Ni-câu-luật thần thọ 尼拘律神樹. Pāli: cetiya-rukkham, cây có miếu thần.

[43] Pāli, Vin. iii. 156: mahallako nāma vihāro sassāmiko vuccati, tinh xá có thí chủ làm cho được xem là lớn.