Chương ii


Tăng tàn

 

I. Cố ý tiết tinh [1]

A. Duyên khởi

1. Kết gới lần thứ nhất

Một thời, đức Thế Tôn du hóa nơi thành Xá-vệ. Bấy giờ, Ca-lưu-đà-di[2] v́ bị ám ảnh dục bừng bừng,[3] nên nhan sắc tiều tụy, thân thể yếu ṃn. Trong thời gian khác, Ca-lưu-đà-di sống một ḿnh trong một pḥng, trang bị vơng tốt, giường gỗ, nệm lớn, nệm nhỏ, chăn gối, dưới đất lại trải phu cụ tốt, ngoài cửa để đồ đựng nước nóng rửa chân; ăn uống đầy đủ sung túc; do vậy ám ảnh dục càng bừng bừng. Mỗi khi dục tâm khởi lên, ông bèn vọc cho xuất bất tịnh. Nhờ vậy, các căn tươi vui, nhan sắc sáng sủa. Các tỳ-kheo thân hữu thấy vậy hỏi:

“Trước đây nhan sắc của thầy tiều tụy, thân h́nh gầy ốm, mà nay th́ nhan sắc tươi vui sáng sủa. Ấy là do đi đứng thoải mái chăng? Không khốn khổ v́ ăn uống phải không? V́ sao được như vậy?”

Ca-lưu-đà-di trả lời:

“Tôi đi đứng thoải mái, không khổ v́ chuyện ăn uống.”

Các tỳ-kheo lại hỏi: “Nhờ phương tiện ǵ mà đi đứng thoải mái, không khổ v́ chuyện ăn uống?”


Ca-lưu-đà-di đáp:

“Này Đại đức, trước đây tôi v́ bị ám ảnh dục bừng bừng, nên nhan sắc tiều tụy, thân thể yếu ṃn. Sau đó, tôi sống một ḿnh trong một pḥng, trang bị vơng tốt, giường gỗ, nệm lớn, nệm nhỏ, chăn gối, dưới đất lại trải phu cụ tốt, ngoài cửa để đồ đựng nước nóng rửa chân; ăn uống đầy đủ sung túc. Mỗi khi dục tâm khởi lên, tôi bèn vọc cho nó xuất bất tịnh. Nhờ vậy mà tôi đi đứng thoải mái, các căn tươi vui, nhan sắc sáng sủa.”

Các tỳ-kheo nói:

“Việc thầy làm th́ rất khổ, tại sao nói an lạc? Việc làm không an mà lại nói an sao? Trong chánh pháp này nói về dục cốt để trừ dục, nói về mạn cốt để trừ mạn; diệt trừ khát ái, đoạn các kết sử, do diệt tận ái mà Niết-bàn. Tại sao thầy bị dục ám ảnh bừng bừng; mỗi khi dục tâm khởi lên, lại vọc cho xuất bất tịnh?”

Lúc bấy giờ, các tỳ-kheo đi đến chỗ đức Thế Tôn, [579b] đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo.

Ngài biết mà vẫn hỏi Ca-lưu-đà-di:

“Có phải ngươi do ám ảnh dục bừng bừng; rồi mỗi khi dục tâm khởi lên, bèn vọc cho xuất bất tịnh chăng?”

Ca-lưu-đà-di thưa:

“Kính bạch đức Thế Tôn, thật vậy.”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách:

“Việc ngươi làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, là việc không nên làm. Tại sao nay ngươi đă xuất gia trong pháp thanh tịnh của Ta mà làm cái hạnh ô uế, vọc âm cho xuất tinh? Ngươi, kẻ ngu si này, nay đưa cánh tay ra để nhận thức ăn của tín thí, rồi lại bằng cánh tay đó mà vọc âm cho xuất tinh!”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách, rồi bảo các tỳ-kheo:

“Kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người đầu tiên phạm giới này. Từ nay về sau ta v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, để chánh pháp tồn tại lâu dài. Người muốn thuyết giới nên thuyết như vầy:

“Tỳ-kheo nào, cố ư vọc âm cho xuất tinh, tăng-già bà-thi-sa.”

2. Kết giới lần thứ hai

Sau khi Thế Tôn kết giới như vậy cho các tỳ-kheo, bấy giờ có một tỳ-kheo khi ngủ ư loạn, bị mộng tinh có ức niệm, khi tỉnh dậy, suy nghĩ:

“Đức Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới: ‘Vọc âm xuất tinh, tăng-già-bà-thi-sa.’ Ta khi ngủ loạn ư, bị mộng tinh có ức niệm, há không phạm tăng-già-bà-thi-sa ư? Nay ta nên như thế nào?” Vị ấy liền đến tỳ-kheo đồng tâm ư kể lại đầy đủ: “Đức Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới: ‘Vọc âm xuất tinh, tăng-già-bà-thi-sa.’ Tôi khi ngủ loạn ư, bị mộng tinh mà c̣n nhớ, há không phạm tăng-già-bà- thi-sa ư? Nay tôi nên như thế nào? Đại đức v́ tôi đem nhân duyên này bạch với đức Phật. Nếu đức Phật dạy bảo thế nào, tôi sẽ phụng hành thế ấy.”

Các tỳ-kheo đến chỗ đức Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Phật một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này liền tập hợp các tỳ-kheo bảo rằng:

“Khi ngủ mà ư loạn có năm điều tai hại: 1. Ác mộng. 2. Chư thiên không hộ vệ. 3. Tâm không nhập pháp.[4] 4. Không tư duy minh tướng.[5] 5. Trong mộng xuất tinh. Đó là năm điều tai hại. Khi ngủ với ư lành có năm công đức: 1. Không thấy ác mộng. 2. Chư thiên vệ hộ. 3. Tâm vào nơi pháp. 4. Cột ư nơi minh tướng. 5. Không bị


xuất tinh trong mộng. Đó là năm điều công đức. [579c] Trong mộng xuất tinh không phạm.”

Từ nay về sau giới này sẽ được thuyết như vầy:

B. Giới văn

Nếu Tỳ-kheo nào, cố ư vọc âm cho xuất tinh, trừ chiêm bao, tăng-già-bà-thi-sa.

C. Thích nghĩa

Tỳ-kheo: nghĩa như trên.

Vọc:[6] thật cố tâm làm cho xuất tinh. Tinh có bảy loại:[7] xanh, vàng, đỏ, trắng, đen, màu sữa,[8] màu sữa tương.[9] Tinh màu xanh là tinh của Chuyển luân thánh vương. Tinh màu vàng là tinh của Thái tử Chuyển luân thánh vương. Tinh màu đỏ là tinh phạm nhiều đến nữ sắc. Tinh màu trắng là tinh của người vác nặng. Tinh màu đen là tinh của đệ nhất Đại thần Chuyển luân thánh vương. Tinh màu sữa là ǵ? Là tinh của Tu-đà-hoàn. Tinh màu sữa tương là ǵ? Là tinh của Tư-đà-hàm.

Lúc bấy giờ, có một bà-la-môn ở chỗ nhàn tịnh tŕ tụng chú thuật. Kinh của ông nói, “Nếu ai cố ư làm xuất tinh th́ mạng chung sẽ sinh thiên.” Người kia muốn cầu thiên đạo, thường vọc âm xuất tinh. Khi người bà-la-môn xuất gia hành đạo, nghe theo lời nói này, v́ muốn sinh thiên, nên vọc âm xuất tinh. Vị kia nghi, nói với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch lên đức Phật. Phật nói, phạm tăng-già-bà-thi-sa.

Nếu v́ khoái lạc, v́ làm thuốc, v́ tự thí nghiệm sự xuất tinh, v́ cầu phước, v́ tế trời, v́ sinh thiên, v́ để cho, v́ nối gịng, v́ tự phóng túng (lung tánh), v́ tự thử sức, v́ nhan sắc đẹp, v́ những việc như vậy mà lộng xuất tinh,[10] tất cả đều phạm tăng-già-bà-thi-sa.

Nếu bằng ức niệm mà vọc cho xuất tinh, tăng-già-bà-thi-sa.[11] Nếu bằng ức niệm mà vọc, muốn cho xuất tinh màu xanh; tinh xuất, tăng-già-bà-thi-sa. Nếu bằng ức niệm mà vọc, muốn cho xuất tinh màu xanh nhưng tinh xuất màu vàng, đỏ, trắng, đen, sữa, tương sữa, tăng-già-bà-thi-sa. Nếu muốn xuất tinh màu vàng lại ra tinh màu đỏ, trắng, đen, sữa, sữa tương, màu xanh, tăng-già-bà-thi-sa. Màu đỏ, trắng, đen, sữa, sữa tương cũng như vậy.

V́ mục đích khoái lạc, bằng ức niệm mà vọc cho xuất bất tịnh,[12] tăng-già-bà-thi-sa. V́ mục đích khoái lạc, bằng ức niệm mà vọc, muốn cho xuất bất tịnh màu xanh, nếu xuất, tăng-già-bà-thi-sa. V́ mục đích khoái lạc, bằng ức niệm mà vọc, muốn cho xuất bất tịnh màu xanh lại thất màu vàng, đỏ, trắng, đen, sữa và sữa tương, tăng-già-bà-thi-sa. V́ mục đích khoái lạc, bằng ức niệm mà vọc, muốn cho xuất bất tịnh màu vàng, đỏ, trắng, đen, sữa, sữa tương và xanh cũng lại như vậy.

V́ muốn làm thuốc, v́ tự ḿnh thử, v́ cầu phước, v́ tế tự, v́ sinh thiên, [580a1] v́ để cho, v́ để lấy giống, v́ phóng túng, v́ tự thử sức, v́ nhan sắc tươi vui, cũng như vậy.

Hoặc đối với nội sắc, ngoại sắc, nội ngoại sắc, nước, gió, không.

- Nội sắc: là sắc có chấp thọ.[13]

- Ngoại sắc: là sắc không chấp thọ.[14]

- Nội ngoại sắc: là sắc có chấp thọ và không chấp thọ.[15]

- Nước: thuận gịng nước hay ngược ḍng nước, dùng nước rưới lên.

- Gió: là thuận chiều gió, nghịch chiều gió, hoặc dùng miệng thổi.

- Không: từ nơi hư không mà dao động thân.[16]

Nếu ở nơi nội sắc mà vọc cho xuất bất tịnh, tăng-già-bà-thi-sa. Nếu ở nơi nội sắc, bằng ức niệm mà vọc, muốn cho thất bất tịnh màu xanh, nếu xuất, tăng-già-bà-thi-sa. Nếu ở nơi nội sắc, bằng ức niệm mà vọc, muốn cho xuất bất tịnh màu xanh, lại xuất màu vàng, đỏ, trắng, đen, sữa, sữa tương, tăng-già-bà-thi-sa.

Nếu v́ khoái lạc nên ở nơi nội sắc mà vọc cho xuất bất tịnh, tăng-già-bà-thi-sa. Nếu v́ khoái lạc nên ở nơi nội sắc, bằng ức niệm mà vọc, muốn cho xuất bất tịnh màu xanh, nếu xuất, tăng-già-bà-thi-sa. Nếu v́ khoái lạc nên ở nơi nội sắc, bằng ức niệm mà vọc, muốn

 

cho xuất bất tịnh màu xanh, lại xuất màu vàng, đỏ, trắng, đen, sữa, sữa tương, tăng-già-bà-thi-sa. Nếu v́ khoái lạc cho đến v́ nhan sắc ḥa duyệt cũng như vậy. Đối với ngoại sắc cũng như vậy. Đối với nội sắc cũng như vậy. Đối với nước, gió, hư không cũng như vậy.

Bằng ức niệm mà vọc cho xuất bất tịnh, tăng-già-bà-thi-sa. Không xuất, thâu-lan-giá. Nếu tỳ-kheo phương tiện vọc mà xuất bất tịnh, tăng-già-bà-thi-sa; không xuất, thâu-lan-giá.

Nếu tỳ-kheo dạy tỳ-kheo phương tiện vọc cho xuất bất tịnh; nếu xuất, thâu-lan-giá; không xuất đột-kiết-la. Nếu tỳ-kheo-ni dạy tỳ-kheo phương tiện vọc xuất bất tịnh; nếu xuất, thâu-lan-giá; không xuất, đột-kiết-la. Chỉ dạy cho người khác, ngoại trừ cho tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni, vọc mà xuất hay không xuất đều phạm đột-kiết-la.

Tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Sự không phạm: trong mộng bị xuất; tỉnh dậy, sợ bẩn thân, bẩn y, giường, chăn, dùng vật xấu tệ, lá cây hay vật ǵ đựng đem vất đi, hoặc dùng tay quẹt bỏ.

 Hoặc do dục tưởng mà xuất bất tịnh; hoặc thấy sắc đẹp, không xúc chạm mà xuất bất tịnh; hoặc khi đi, tự chạm hai bắp vế; hoặc chạm y, hoặc chạm niết-bàn-tăng[17] mà xuất bất tịnh; hoặc khi đại tiểu tiện xuất bất tịnh; hoặc tắm rửa bằng nước nóng, nước lạnh xuất bất tịnh; hoặc trong nhà tắm dùng da cây mịn, bột, thuốc, bùn, đất xoa chà, xuất bất tịnh; [580b] hoặc dùng tay kỳ, xoa nơi thân xuất bất tịnh; hoặc khi kêu la khóc lớn, hoặc khi dụng lực làm việc.

Tất cả trường hợp không có ư tạo nên mà xuất bất tịnh, đều không phạm.

Người không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.

 

 

II. Xúc chạm nữ nhân [18]

A. Duyên khởi

Phật trú tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Ca-lưu-đà-di nghe Phật chế giới cấm không được vọc âm cho xuất tinh, bèn cầm cây gài cửa, đứng ngoài cửa, chờ các phụ nữ, vợ các nhà cư sĩ, và các thiếu nữ đến,[19] nói rằng: “Này cô, cô có thể vào pḥng mà xem.”

Khi họ vào trong pḥng, Ca-lưu-đà-di nắm tay, rờ rẫm, hôn hít. Người nào ưa thích th́ vui cười với việc làm đó. Người không ưa thích th́ liền nổi giận mắng chửi, bỏ ra khỏi pḥng, nói với các tỳ-kheo:

“Đại đức nên biết, điều không lành, phi pháp, không thích hợp, không phải thời! Tôi thường nghĩ rằng đây là nơi an ổn, không có các hoạn nạn, không có tai biến, không có sợ hăi. Nay chính nơi đây tôi lại gặp phải tai biến, sợ hăi. Xưa nay nói nước có khả năng làm tắt lửa; nay trong nước lại sinh ra lửa. Ca-lưu-đà-di đưa chúng tôi vào trong pḥng rồi nắm tay, kéo, rờ mó, hôn hít chúng tôi. Phu chủ của chúng tôi, khi ở trong pḥng kéo níu như vậy, chúng tôi c̣n không chấp nhận được, huống nay là sa-môn Thích tử mà lại làm như vậy!”

Bấy giờ, các tỳ-kheo nghe, trong số đó có vị thiểu dục tri túc, sống với hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, quở trách Ca-lưu-đà-di, rằng: “Đức Thế Tôn chế giới không được vọc âm xuất tinh. Nay tại sao thầy cầm cây gài cửa, đứng trước cửa chờ các phụ nữ, hoặc vợ của nhà cư sĩ, vào pḥng xem rồi rờ mó, hôn hít ?”


Quở trách như vậy rồi, các vị ấy đi đến chỗ đức Thế Tôn, lạy dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên ấy bạch đầy đủ lên đức Phật. Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp các tỳ-kheo. Ngài biết mà vẫn hỏi:

“Ca-lưu-đà-di! Ngươi thật sự có làm như vậy không?”

Ca-lưu-đà-di thưa:

“Kính bạch đức Thế Tôn, sự thật đúng như vậy.”

Khi ấy, đức Thế Tôn quở trách Ca-lưu-đà-di:

“Việc làm của ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm.”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách rồi bảo các tỳ-kheo: “Kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người phạm giới này đầu tiên. Từ nay về sau v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, để chánh pháp tồn tại lâu dài.”

Muốn thuyết giới nên thuyết như vầy:

B. Giới văn

Tỳ-kheo nào, với ư dâm dục, cùng người nữ, thân xúc chạm nhau, hoặc nắm tay, hoặc nắm tóc, hoặc xúc chạm mỗi một thân phần, tăng-già-bà-thi-sa.

C. Thích nghĩa

[580c]Tỳ-kheo: nghĩa như trên.

Ư dâm dục: tức là tâm bị nhiễm ô bởi ái.[20]

Người nữ: như trên đă nói.[21]

Thân: tức là từ tóc cho đến (bàn) chân.

Thân xúc chạm nhau:[22] hoặc xoa nắm, hoặc xoa bóp khắp,[23] hoặc kéo, hoặc đẩy, hoặc xoa ngược, hoặc xoa xuôi, hoặc nâng lên, hoặc để xuống, hoặc nắm, hoặc bóp, hoặc ấn mạnh:[24]

- Xoa nắm: xoa chà phía trước hay phía sau trong thân.[25]

- Kéo: kéo ra phía trước.[26]

- Đẩy: đẩy nhau.

- Xoa ngược: từ dưới xoa lên.

- Xoa xuôi: từ trên xoa xuống.

- Nâng lên: ẵm mà nâng lên.

- Để xuống: đang đứng mà ẵm để ngồi xuống.

- Nắm: nắm phía trước, nắm phía sau, nắm vú, nắm đùi.

- Bóp: bóp phía trước, bóp phía sau, bóp vú, hoặc bóp đùi.[27]

Thảy đều tăng-già-bà-thi-sa.

C. Phạm tướng

Hoặc nữ tưởng là nữ; nữ nhân rờ mó thân tỳ-kheo, hai thân xúc chạm nhau, (tỳ-kheo) với ư dục nhiễm trước, có cảm giác khoái lạc trong khi xúc chạm, tăng-già-bà-thi-sa.

Người nữ khởi nữ tưởng. Người nữ ấy dùng tay rờ mó, tỳ-kheo động thân, dục ư nhiễm trước, có cảm giác khoái lạc khi xúc chạm, tăng-già-bà-thi-sa. Cũng vậy, cho đến nắn, bóp. Nếu nghi là nữ, thâu-lan-giá.

Nếu là người nữ, (tỳ-kheo) có ư tưởng đó là nữ; thân xúc chạm áo, đồ anh lạc của người nữ kia, với dục tâm nhiễm trước, có cảm giác khoái lạc khi xúc chạm, thâu-lan-giá. Nếu là người nữ, (tỳ-kheo) có ư tưởng đó là nữ; thân xúc chạm áo, đồ anh lạc của người nữ kia, với dục tâm nhiễm trước, không có cảm giác khoái lạc khi xúc chạm, thâu-lan-giá.

Nếu là người nữ, (tỳ-kheo) có ư tưởng đó là người nữ. Người nữ ấy dùng y, đồ anh lạc nơi thân xúc chạm trên thân tỳ-kheo; (tỳ-kheo) với dục tâm nhiễm trước, có cảm giác khoái lạc khi xúc chạm, thâu-lan-giá. Nếu là người nữ, (tỳ-kheo) có ư tưởng đó là người nữ. Người nữ dùng y, đồ anh lạc, xúc chạm thân tỳ-kheo, (tỳ-kheo) với dục tâm nhiễm trước, không có cảm giác khoái lạc khi xúc chạm, thâu-lan-giá. Nếu là người nữ, (tỳ-kheo) có ư tưởng đó là người nữ, dùng thân xúc chạm y, anh lạc của người nữ, (tỳ-kheo) với dục tâm nhiễm trước, động thân, nhưng không có cảm giác khoái lạc khi xúc chạm, thâu-lan-giá. Nếu là người nữ, (tỳ-kheo) có ư tưởng đó là người nữ, (tỳ-kheo) dùng thân xúc chạm y, đồ anh lạc của người nữ, với dục tâm nhiễm trước, không động thân nhưng có cảm giác khoái lạc khi xúc chạm, thâu-lan-giá. Nếu là người nữ, (tỳ-kheo) có


ư tưởng đó là người nữ; người nữ này dùng y, đồ anh lạc nơi thân xúc chạm thân tỳ-kheo, (tỳ-kheo) với dục tâm nhiễm trước, động thân, nhưng không có cảm giác khoái lạc khi xúc chạm, thâu-lan-giá. Người nữ, (tỳ-kheo) có ư tưởng đó là người nữ; người nữ này dùng y, đồ anh lạc nơi thân xúc chạm, (tỳ-kheo) có dục tâm nhiễm trước, dù không động thân, thâu-lan-giá. Người nữ, (tỳ-kheo) có ư tưởng đó là người nữ, thân xúc chạm nhau, với dục tâm nhiễm trước, có cảm giác khoái lạc xúc chạm, dù không động thân, thâu-lan-giá. Cũng vậy, nắm, xoa cho đến nắn, bóp, thảy đều thâu-lan-giá. Nếu là nữ mà nghi, phạm đột-kiết-la.

Nữ, (tỳ-kheo) có ư tưởng đó là nữ, dùng y nơi thân xúc chạm y, đồ anh lạc nơi thân,[28] [581a] với dục tâm nhiễm trước, có cảm giác khoái lạc khi xúc chạm, phạm đột-kiết-la. Nữ, (tỳ-kheo) có ư tưởng đó là nữ, dùng y nơi thân xúc chạm y, đồ anh lạc nơi thân, với dục tâm nhiễm trước, dù không có cảm giác khoái lạc khi xúc chạm, phạm đột-kiết-la. Nữ, (tỳ-kheo) có ư tưởng đó là nữ, dùng y nơi thân xúc chạm y, đồ anh lạc nơi thân, với dục tâm nhiễm trước, dù không có cảm giác khoái lạc khi xúc chạm, phạm đột-kiết- la. Nữ, (tỳ-kheo) có ư tưởng đó là nữ, dùng y nơi thân xúc chạm, y đồ anh lạc nơi thân, với dục tâm nhiễm trước, dù không có cảm giác khoái lạc khi xúc chạm, động thân phạm đột-kiết-la. Nữ, (tỳ-kheo) có ư tưởng đó là nữ, dùng y nơi thân xúc chạm y, đồ anh lạc nơi thân, với dục tâm nhiễm trước, có cảm giác khoái lạc khi xúc chạm, dù không động thân, đột-kiết-la. Nữ, (tỳ-kheo) có ư tưởng đó là nữ, dùng y nơi thân xúc chạm y, đồ anh lạc nơi thân, với dục tâm nhiễm trước, không có cảm giác khoái lạc khi xúc chạm, không động thân, đột-kiết-la. Nữ, (tỳ-kheo) có ư tưởng đó là nữ, dùng y nơi thân xúc chạm y, đồ anh lạc nơi thân, với dục tâm nhiễm trước, có cảm giác khoái lạc khi xúc chạm, động thân, đột-kiết-la. Cho đến nắn, bóp, tất cả đều phạm đột-kiết-la. Là người nữ mà nghi, phạm đột-kiết-la.

Nếu tỳ-kheo cùng người nữ hai thân xúc chạm nhau, mỗi một lần xúc chạm là phạm một tăng-già-bà-thi-sa. Tùy theo sự xúc chạm nhiều ít, một lần xúc chạm là phạm một tăng-già-bà-thi-sa. Nếu thiên nữ, A-tu-la nữ, rồng cái, ngạ quỷ cái, súc sinh cái, có thể biến h́nh, hai thân xúc chạm nhau phạm thâu-lan-giá. Súc sanh không thể biến h́nh, hai thân xúc chạm nhau phạm đột-kiết-la. Nếu cùng người nam hai thân xúc chạm nhau, đột-kiết-la. Nếu cùng với người lại cái,[29] thân xúc chạm nhau, thâu-lan-giá. Nếu người nữ khi làm lễ nắm chân, tỳ-kheo có cảm thấy thích thú do sự xúc chạm, nhưng không động thân, đột-kiết-la. Nếu tỳ-kheo có dục tâm, xúc chạm y, bát, ni-sư-đàn, ống đựng kim, cọng cỏ rỗng,[30] cho đến tự ḿnh xúc chạm thân, tất cả đều phạm đột-kiết-la.

Nữ nhân tưởng là nữ nhân, tăng-già-bà-thi-sa. Nữ nhân, sinh nghi, thâu-lan-giá. Nữ nhân, tưởng chẳng phải nữ nhân, thâu-lan-giá. Chẳng phải nữ nhân tưởng là nữ nhân, thâu-lan-giá. Chẳng phải là nữ nhân, sinh nghi, thâu-lan-giá. Tỳ-kheo-ni, ba-la-di. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó là phạm.

Sự không phạm: xúc chạm nhau khi nhận đồ vật ǵ; xúc chạm nhau chỉ v́ đùa giỡn; xúc chạm nhau khi cởi mở (trói) th́ không phạm.

Người không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng loạn tâm, thống năo bức bách.*  

 

 

III. Nói lời thô tục[31]

A. Duyên khởi

[581b7] Một thời, đức Phật ở nước Xá-vệ.[32] Bấy giờ Ca-lưu-đà-di nghe đức Thế Tôn chế giới: ‘Không được vọc âm cho xuất tinh’; ‘Không được thân xúc chạm người nữ’, bèn cầm cây gài cửa ra đứng bên ngoài, chờ các phụ nữ, vợ các nhà cư sĩ, và các thiếu nữ đến, nói rằng: 

“Mời các cô vào pḥng tôi xem.”

Khi dẫn họ vào trong pḥng rồi, Ca-lưu-đà-di, do dục tâm, nói với họ những lời thô tục bỉ ổi. Những người nữ bằng ḷng th́ vui vẻ trước những lời nói đó, c̣n những người không bằng ḷng th́ nổi sân mắng chửi, bỏ ra khỏi pḥng, nói với các tỳ-kheo:

“Đại đức nên biết, nay tôi thấy điều sai quấy, điều không lành, phi pháp, không thích hợp, không phải thời! Tôi thường nghĩ rằng đây là nơi an ổn, không có các hoạn nạn, không có tai biến, không có sợ hăi. Nay lại chính nơi đây tôi lại gặp phải tai biến, sợ hăi. Xưa nay nói nước có khả năng làm tắt lửa; nay trong nước lại sinh ra lửa. Tại sao tôi nói như vậy? Ca-lưu-đà-di mời chúng tôi vào pḥng, với ư dâm dục, nói lời thô bỉ xấu ác đối với chúng tôi. Khi ở tại nhà, phu chủ tôi nói lời thô bỉ xấu ác như vậy, tôi c̣n không thể chấp nhận, huống chi nay là người xuất gia, mà lại nói những lời tồi tệ như thế.”

Các tỳ-kheo nghe; trong số đó có vị thiểu dục, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, quở trách Ca-lưu-đà-di... (nói đầy đủ như trên); rồi đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp các tỳ-kheo. Ở giữa đại chúng, đức Thế Tôn biết mà cố hỏi Ca-lưu-đà-di:

“Có thật ngươi đă làm sự việc như vậy chăng?”

Ca-lưu-đà-di thưa: “Kính bạch đức Thế Tôn, đúng như vậy.”

Đức Thế Tôn quở trách:

“Việc làm của ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm.”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách rồi bảo các tỳ-kheo:

“Kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người phạm giới này đầu tiên. Từ nay về sau v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, để chánh pháp trường tồn.”

Muốn thuyết giới [581c] nên thuyết như vầy:

B. Giới văn

Tỳ-kheo nào, với ư dâm dục, nói lời dâm dục thô ác với người nữ; tùy theo lời nói dâm dục thô ác,[33] tăng-già-bà-thi-sa.

C. Thích nghĩa

Tỳ-kheo: nghĩa như trên.

Ư dâm dục,[34] như trên.

 Người nữ: cũng như trên.

Thô ác: là chẳng phải phạm hạnh.

Lời nói dâm dục: là nói đến hai đường tốt xấu.[35]

D. Phạm tướng

Hoặc tự ḿnh yêu cầu, hoặc nhờ người yêu cầu, hoặc hỏi, hoặc trả lời, hoặc giải thuyết,[36] hoặc chỉ dẫn, hoặc mắng.[37]

- Tự ḿnh yêu cầu:[38] như nói, cùng tôi nơi hai đường làm việc như vậy, như vậy; hoặc dùng nhiều lời nói khác nhau nữa.

- Nhờ người yêu cầu:[39] như nói, ‘Cầu mong Trời, Phạm, thủy thần, Ma-hê-thủ-la thiên... hỗ trợ tôi cùng cô làm việc như vậy, như vậy.’ Hoặc nói những lời tương tự khác.

- Hỏi: như hỏi, ‘Đường đại tiểu tiện của cô ra sao? Cô với chồng cùng làm việc thế nào? Cô cùng người ngoài tư thông thế nào?’ Hoặc nói những lời tương tự khác.

Đáp:[40] ‘Đường đại tiểu tiện của cô như vậy. Cô cùng chồng, người ngoài tư thông như vậy.’ Hoặc nói những lời tương tự khác.

Giải bày:[41] nói năng cũng như vậy. Chỉ dẫn: như nói, ‘Tôi chỉ cho cô chăm sóc hai đường như vậy, cô có thể khiến cho chồng, người ngoài kính ái.’ Hoặc nói những lời tương tự khác.

Mắng: như nói, ‘Cô hư hoại, mục nát, teo tóp, đọa lạc. Cô cùng với con lừa làm chuyện như vậy.’ Hoặc bằng những lời khác chửi mắng người.

Nếu tỳ-kheo cùng với người nữ một phen nói lời thô ác th́ phạm một tăng-già-bà-thi-sa. Tùy theo lời nói thô ác nhiều hay ít, nói rơ ràng, th́ mỗi mỗi đều phạm một tăng-già-bà-thi-sa. Nói không rơ ràng th́ phạm thâu-lan-giá. Nếu dùng dấu tay,[42] thư, sai sứ giả, làm hiệu, khiến cho người nữ kia hiểu, phạm tăng-già-bà-thi-sa; không hiểu, phạm thâu-lan-giá. Trừ đường đại tiểu tiện ra, nói đẹp hay nói xấu về những chỗ khác, phạm thâu-lan-giá. Đối với Thiên nữ, A-tu-la nữ, Dạ-xoa nữ, Long nữ, súc sinh cái có thể biến h́nh, huỳnh môn, có hai h́nh, mà nói lời thô ác khiến cho đối tượng hiểu, phạm thâu-lan-giá; không hiểu, phạm đột-kiết-la. Nếu dùng dấu tay, thư, sai sứ giả, làm hiệu, khiến cho các hạng nữ kia hiểu, phạm thâu-lan-giá; không hiểu, phạm đột-kiết-la. Hướng đến súc sinh không thể biến h́nh nói lời thô ác phạm đột-kiết-la. Nếu hướng về đàn ông nói lời thô ác, phạm đột-kiết-la. Nếu tỳ-kheo với ư dục nói lời thô ác, tưởng là nói lời thô ác, phạm tăng-già-bà-thi-sa. Nói lời thô ác, sinh nghi phạm thâu-lan-giá. Chẳng phải lời thô ác, tưởng là lời thô ác, phạm thâu-lan-giá. Chẳng phải lời thô ác, mà nghi, phạm thâu-lan-giá.

Nữ loài người, có ư tưởng đó là nữ loài người, tăng-già-bà-thi-sa. Nữ loài người, nghi thâu-lan-giá. [582a1] Nữ loài người, tưởng nữ loài phi nhơn, thâu-lan-giá. Nữ loài phi nhơn, tưởng là nữ loài người, thâu-lan-giá.

Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.

Sự không phạm: nếu v́ người nữ mà giảng pháp bất tịnh quán,[43] như nói, “Này cô, nên biết, thân này có chín mụt ghẻ, chín lỗ, chín nơi rỉ chảy, chín ḍng nước chảy. Chín lỗ là: hai mắt, hai tai, hai mũi, miệng, đại, tiểu tiện đạo.” Khi nói điều bất tịnh này, người nữ kia cho là lời thô ác. Hoặc khi nói Tỳ-ni, theo thứ tự nói đến việc này, người kia gọi là nói lời thô ác. Hoặc cầu học kinh, hoặc hai người đồng thọ; hoặc người kia hỏi, hoặc đồng tụng, hoặc vui giỡn nói chơi, hoặc nói một ḿnh, hoặc nói gấp gáp, hoặc nói trong mộng, hoặc muốn nói việc này, nhầm nói việc kia. Tất cả đều không phạm.

Người không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách. 

 

 

IV. Yêu sách cúng dường [44]

A. Duyên khởi

Một thời, đức Phật ở nước Xá-vệ. Bấy giờ, Ca-lưu-đà-di nghe đức Thế Tôn chế giới: “không được vọc âm xuất tinh”, “không được xúc chạm người nữ”, “không được nói với người nữ những lời thô ác”, bèn cầm cây gài cửa đứng ngoài cửa, chờ các phụ nữ, vợ các nhà cư sĩ, và các thiếu nữ đến, nói rằng:

“Các cô có thể vào pḥng tôi xem.”

Khi dẫn họ vào pḥng rồi, Ca-lưu-đà-di tự tán thân ḿnh, nói:

“Các cô biết không, trong số người có học, tôi là người hạng nhất. Tôi là người phạm hạnh, tŕ giới, tu thiện pháp. Các cô có thể đem sự dâm dục cúng dường tôi.”

Khi ấy, những người nữ bằng ḷng th́ vui vẻ trước những lời nói đó, c̣n những người không bằng ḷng th́ nổi sân mắng chửi, bỏ ra khỏi pḥng, nói với các tỳ-kheo:

“Đại đức nên biết, nay tôi thấy điều sai quấy, điều không lành, phi pháp, không thích hợp, không phải thời! Tôi thường nghĩ rằng đây là nơi an ổn, không có các hoạn nạn, không có tai biến, không có sợ hăi. Nay lại chính nơi đây tôi lại gặp phải tai biến, sợ hăi. Xưa nay nói nước có khả năng làm tắt lửa; nay trong nước lại sinh ra lửa. Khi ở tại nhà, chồng tôi nói lời như vậy, tôi c̣n không thể chấp nhận, huống chi nay là người xuất gia, mà lại nói những lời như thế.”

Các tỳ-kheo nghe; trong số đó có vị thiểu dục, sống hạnh đầu-đà, ưa học giới, biết tàm quư, quở trách Ca-lưu-đà-di, “Thầy há không nghe Thế Tôn chế giới, ‘không được vọc âm xuất tinh’, ‘không được xúc chạm người nữ’, ‘không được nói với người nữ những lời thô ác’ (nói đầy đủ như trên)...” Họ bèn đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, [582b]đem nhân duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp các tỳ-kheo. Ở giữa đại chúng, đức Thế Tôn biết mà cố hỏi Ca-lưu-đà-di:

“Có thật ngươi đă làm sự việc như vậy chăng?”

Ca-lưu-đà-di thưa: “Kính bạch đức Thế Tôn, sự việc đúng như vậy.”

Đức Thế Tôn quở trách: “Việc làm của ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm.”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo: “Kẻ ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người phạm giới này đầu tiên. Từ nay về sau v́ các tỳ-kheo kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, để chánh pháp tồn tại lâu dài.’’

Muốn thuyết giới nên thuyết như vầy:

B. Giới văn

Tỳ-kheo nào, với ư dâm dục, đối trước người nữ tự khen thân ḿnh, nói: ‘Này cô, tôi tu phạm hạnh, tŕ giới tinh tấn, tu tập pháp lành; cô nên đem sự dâm dục cúng dường tôi. Đó là sự cúng dường bậc nhất’; tăng-già-bà-thi-sa.

C. Thích từ

Tỳ-kheo: nghĩa như trên.

Ư dâm dục: như trên đă nói.

Người nữ: như trên đă nói.

Khen thân ḿnh:[45] khen thân đoan chánh, nhan sắc đẹp; “Tôi là Sát-đế-lợi, trưởng giả, cư sĩ, bà-la-môn.”

Phạm hạnh: siêng tu ĺa uế trược.

Tŕ giới: không khuyết, không thủng, không nhiễm ô.

Pháp lành: ưa ở nơi nhàn tịnh,[46] đến giờ khất thực,[47] mặc y phấn tảo; tác pháp dư thực[48] cũng không ăn; ăn một lần ngồi,[49] ăn một nắm; ngồi nơi băi tha ma, nơi đất trống, dưới gốc cây, luôn luôn ngồi, chỉ ngồi; tŕ ba y; bối-nặc,[50] đa văn, hay thuyết pháp; tŕ tỳ-ni, tọa thiền.

C. Phạm tướng

Sau khi tự khen ngợi ḿnh như vậy rồi, nói rằng, “Hăy đến đây cúng dường tôi”, trong đó không nói đến việc dâm dục, phạm thâu-lan-giá; có nói việc dâm dục phạm tăng-già-bà-thi-sa. Nếu trước người nữ, một lần tự khen thân ḿnh là một tội tăng-già-bà-thi-sa. Tùy theo sự tự khen thân ḿnh nhiều hay ít, và nói một cách rơ ràng, mỗi mỗi đều phạm tăng-già-bà-thi-sa. Nói không rơ, phạm thâu-lan-giá. Nếu dùng dấu tay, thư tín, sai sứ, làm hiệu khiến cho người kia hiểu, tăng-già-bà-thi-sa. Họ không hiểu, thâu-lan-giá.

Trừ hai đường, đ̣i hỏi cung phụng nơi khác, thâu-lan-giá.

Đối với thiên nữ, A-tu-la nữ, long nữ, Dạ-xoa cái, ngạ quỷ cái, súc sinh cái có thể biến h́nh, mà tự khen thân ḿnh, nếu các hạng nữ kia hiểu, phạm thâu-lan-giá; chúng không hiểu, đột-kiết-la.

Nếu dùng dấu tay thư tín, sứ giả, ra dấu hiệu để tự khen thân ḿnh mà người kia hiểu, phạm thâu-lan-giá.

Khen nói mà họ không hiểu, phạm đột-kiết-la.

Đối với súc sinh không thể biến h́nh mà [582c] tự khen thân ḿnh, phạm đột-kiết-la.

Nữ nhân, tưởng là nữ nhân, tăng-già-bà-thi-sa. Nữ nhân, nghi, phạm thâu-lan-giá. Nữ nhân, có ư tưởng là nữ loài phi nhơn, phạm thâu-lan-giá. Nữ phi nhân, nghi, phạm thâu-lan-giá.

Tỳ-kheo-ni phạm thâu-lan-giá. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó là phạm.

Sự không phạm: nếu tỳ-kheo nói với người nữ: “Đây là chỗ diệu tôn tối thắng. Tỳ-kheo này tinh tấn tŕ giới, tu thiện pháp, các cô nên dùng thân nghiệp từ, khẩu nghiệp từ, ư nghiệp từ cúng dường bằng sự từ hoà của thân nghiệp, bằng sự từ hoà của khẩu nghiệp, bằng sự từ hoà của ư nghiệp.”

Ư của các người nữ kia cho rằng tỳ-kheo v́ ta nên tự khen thân ḿnh; hoặc khi nói tỳ-ni, ngôn thuyết có vẻ tương tự, mà người kia nói là tự khen ngợi thân ḿnh; hoặc từ việc thọ kinh, tụng kinh; hoặc hai người cùng thọ tụng kinh;  hoặc hỏi đáp; hoặc đồng tụng; hoặc nói giỡn; hoặc nói nhanh vội,[51] nói trong mộng; hoặc muốn nói việc này nhầm việc khác, đều không phạm.

Người không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng loạn tâm, thống khổ bức bách.



[1] Ngũ phần 2, tr. 10b2; Tăng-kỳ 5, tr. 262a20; Thập tụng 3, tr. 13c27; Căn bản 11, tr. 680b25. Vin. iii. tr. 110.

[2] Ca-lưu-đà di; Ngũ phần 2: trưởng lăo Ưu-đà-di 長老優陀夷; Tăng-kỳ 5: Tỳ-kheo Thi-lị-da-bà 時有比丘名尸利耶婆. Pāli: Udāyin hành thủ dâm, rồi bảo Seyyasaka làm theo. Sớ giải nói Udāyin này là Lāḷudāyi, Hoà thượng của Seyyasaka.

[3] Hán: dục ư xí thạnh 欲意熾盛.

[4] Ngũ phần 2. tr.10b22: không có tâm giác pháp 無覺法心.

[5] Minh tướng 明相; Ngũ phần: minh tưởng 明想. Đây chỉ tướng ánh sáng (quang minh tưởng).

[6] Hán: lộng . Tứ phần: cố lộng âm xuất tinh 故弄陰出精. Ngũ phần: cố xuất bất tịnh 故出不淨; Tăng kỳ, Thập tụng: cố xuất tinh 故出精. Pāli: sañcetanikā sukkavisaṭṭhi, cố ư làm xuất tinh.

[7] Ngũ phần: 10 loại. Thập tụng: 5 loại. Pāli, 10 loại: nīlaṃ pītakaṃ lohitaaṃ oḍātaṃ takkavaṇṇaṃ dakavaṇṇaṃ telavaṇṇaṃ khīravaṇṇaṃ dadhivaṇṇaṃ sappivaṇṇaṃ; không giải thích chi tiết.

[8] Lạc sắc 酪色, tức Pāli dadhivaṇṇamṃ, màu sữa đặc.

[9] Lạc tương sắc 酪漿色, tức Pāli sappivaṇṇaṃṃ, màu thục tô hay đề hồ, màu bơ trong.

[10] Ngũ phần: 10 mục đích cố ư xuất tinh, đại để như Tứ phần. Căn bản T́-nại-da, có 5 mục đích.

[11] Tăng kỳ 5: Mắt thấy, v.v…, sanh ư tưởng dâm dục; sau đó, bằng sự hồi tưởng (ức niệm), dục tâm phát sanh. Thập tụng 3: ba yếu tố thành phạm: phát tâm, thân động, xuất tinh.

[12] Hán: thất bất tịnh 失不淨, “làm thất thoát cái bất tịnh,” tức xuất bất tịnh hay xuất tinh. Các bản: thất ; bản Thánh: xuất .

[13] Nguyên Hán: thọ sắc 受色: sắc nào ở trong thân hữu t́nh làm sở y cho cảm thọ khởi lên, sắc ấy gọi là sắc có chấp thọ. Ngũ phần: nội sắc chỉ cho tự thân 己身. Thập tụng: nội thọ sắc 內受色 sắc có chấp thọ thuộc nội thân (xem Câu-xá 1, tr.2c), chỉ sự thủ dâm bằng cách dùng tay, chân, miệng, v.v… Cf. Tăng kỳ: thân, thân phần, thân hiệp 身身分身合 thân: tất cả dao động của thân làm xuất tinh; thân phần; dùng tay hay chân, hay một bộ phận của thân ḿnh làm xuất tinh; thân hiệp: dùng các phương tiện ngoài như đất, nước, chăn, gối... Pāli, Vin.iii.112: ajjhatarūpe moceti, xuất trong nội sắc; thích từ: ajjhatarūpeti ajjhattaṃ upādinne rūpe, nội sắc, sắc được chấp thủ nội thân.

[14] Thập tụng: ngoại bất thọ sắc 外不受色. Ngũ phần, ngoại sắc: thân người khác 他身.

[15] Trong thân hữu t́nh, những thứ như lông, móng mà phần gốc c̣n liên hệ căn có thể nhận cảm thọ, được gọi là sắc có chấp thọ; phần bị tách rời khỏi căn, không có cảm giác là sắc không có chấp thọ.

[16] Pāli, id., ākāse kaṭiṃ kampento moceti, xuất trong khi làm dao động phần mông trong không gian.

[17] Niết-bàn-tăng 涅槃僧; Skt.=Pāli: nivāsana, quần, hạ y 下衣, nội y 內衣.

[18] Ngũ phần 2, tr. 10c25; Tăng-kỳ 5, tr. 264a13; Thập tụng 3, tr. 14c22; Căn bản 11, tr. 681c19. Vin. iii. 119.

[19] Tăng kỳ 5: Phật tại Vương-xá, Ca-lan-đà Trúc viên. Sa-di-ni Chi-lê 支梨, đệ tử của tỳ-kheo-ni Ưu-bát-la 優钵羅, được sai mang y đến cho Ưu-đà-di; bị Ưu-đà-di dẫn vào pḥng riêng rồi ôm. Tiếp theo, một chuỗi sự kiện với nhiều người khác nhau.

[20] Dâm dục ư 淫欲意; Ngũ phần 2 (tr.11a28): dục thạnh biến tâm 欲盛變心. Tăng kỳ 5 (tr.265c23): dâm dục biến tâm 淫欲變心; thích từ: tâm quá khứ diệt tận, biến dịch, nói là biến. Nhưng biến dịch ở đây chỉ cho sự biến dịch đối với căn, lực, giác chi, đạo chủng. Pāli, Vin.iii.120: otiṇṇo vipariṇatena cittena, bị ức chế bởi dục, với tâm biến đổi (biến chất); thích từ: otiṇṇo, chỉ tâm tham ái bị buộc chặt bởi sự khát vọng dục t́nh.

[21] Ngũ phần, nt.: người nữ, kể cả trẻ mới sinh. Pāli, ibid, người nữ, kể cả trẻ mới sinh, chỉ loài người chứ không phải dạ-xoa, quỷ, súc sinh.

[22] Hán: thân tương xúc 身相觸; Ngũ phần: thân tương ma xúc 身相摩觸. Pāli, Vin.iii.119: kāyasaṃsaggaṃ samāpajjeyya, tiến đến chỗ giao hội của thân thể. Sớ giải: hatthaggahaṇādi kāyasampayogaṃ, sự kết hợp thân thể bằng sự nắm tay v.v…

[23] Hán: trùng ma 重摩, không có giải thích. Xem Phần II, Ni luật, ba-la-di 5. Căn bản: cực xúc 極觸. Pāli: parāmasanā. xoa bóp cùng khắp; Sớ giải: parāmasanā nāma itocito ca saṃpaṇā, xoa bóp cùng khắp, nghĩa là sờ mó chỗ này, chỗ kia.

[24] Căn bản 11, tr.683c, 9 động tác, tăng-già-bà-thi-sa: xúc , cực xúc 極觸, bằng , tróc , khiên , duệ , thướng , há , biến băo 遍抱. So sánh Pāli, Vin.iii.121, các động tác xúc chạm: āmasanā parāmasanā omasanā ummasanā olaṅghaṇā ullaṅghaṇā kaḍḍhanā patikaḍḍhanā abhiniggahaṇā abhinippīḷaṇā gahaṇaṃ chupaṇaṃ, vuốt ve, vuốt khắp, vuốt xuống, vuốt lên, khom xuống, ngửa lên, ôm chặt, áp sát, cầm nắm, sờ mó.

[25] Ma . Ngũ phần: ma xúc 摩觸. Thập tụng: ma tróc 摩捉. Căn bản: xúc . Pāli: āmasanā, do động từ masati (Skt. mṛś): sờ mó, vuốt ve.

[26] Khiên . Căn bản: khiên, từ xa kéo lại gần (ḿnh).

[27] Hán: nại . Pāli: chupanaṃ nāma phuṭṭhamattaṃ, sờ mó, chỉ xúc chạm thôi.

[28] Hán: thân y xúc thân y anh lạc cụ 身衣觸身衣瓔珞具. Tham chiếu, Vin.iii.122: ...itthiyā kāyapaṭibaddhena kāyapaṭibaddhaṃ āmasati, bằng trang phục nơi thân (của tỳ-kheo) mà xúc chạm trang phục nơi thân của người nữ...

[29] Nhị h́nh 二形; Ngũ phần, Tăng-kỳ, Thập tụng: hoàng môn 黃門; Pāli: paṇḍaka.

[30] Thảo cốc  [/]; Tống-Nguyên-Minh: thảo nghiết 草秸. Đây chỉ cây cỏ rỗng ruột có thể gợi dục. Các luật khác không nói các trường hợp đột-kiết-la này.

* Bản Hán, hết quyển 2.

[31] Ngũ phần, quyển 2 (tr.11b23); Tăng-kỳ, quyển 5 (tr.267c19); Thập tụng, quyển 3 (tr.15c18); Căn bản, quyển 11 (tr.684a15); Tát-bà-đa, quyển 3 (tr.520b9); Pāli, Saṅghādisesa 3, mātugāmaṃ dutthullāhi vācāhi obhāseyya,Vin. iii. 127.

[32] Tăng kỳ: Phật tại Vương-xá.

[33] Tăng kỳ: “nói lời xấu xa, tuỳ thuận pháp dâm dục, như nam nữ thiếu niên.” Căn bản: “nói lời thô bỉ xấu xa, không đứng đắn, liên hệ pháp dâm dục, như vợ chồng.” Pāli, Vin.iii.128: duṭṭhullāhi vācāhi obhāseyya, yathā taṃ yuvā yuvatiṃ methunūpasaṃhitāhi, nói những lời thô tục giống như thiếu niên nam nữ.

[34] Căn bản, nhiễm triền tâm 染纏心.

[35] Pāli, Vin.iii.128: duṭṭhullā nāma vācā vaccamaggapassāmagga-methunadham-mappaṭisaṃyuttā vācā, những lời thô bỉ, là những lời liên hệ đến pháp dâm dục, liên hệ các đường đại, tiểu tiện.

[36] Hoặc giải hoặc thuyết, Hán chép dư một chữ hoặc; xem đoạn giải thích.

[37] Thập tụng (tr.16a16), 9 trường hợp phạm: tán (khen ngợi), hủy (chê bai), khất (xin), nguyện (yêu cầu), vấn (hỏi), phản vấn (hỏi ngược), biện (biện giải), giáo (chỉ dẫn), mạ (mắng chửi) 讚毀乞願問反問辦教罵. Căn bản (tr.684b4), 9 trường hợp 九事: nói đẹp, nói xấu, trực tiếp yêu cầu, phương tiện yêu cầu, hỏi thẳng, hỏi quanh co, dẫn sự, tán thán, sân chửi 謂善說惡說直乞方便乞直問曲問引事讚歎瞋罵. Pāli, liên hệ đến hai đường, có 9 sự, như hai Luật bộ trên.

[38] Pāli: yācati, yêu cầu: dehi me, arahasi me dātṃ, hăy cho tôi; nên xứng đáng cho tôi.

[39] Pāli: āyācati: nài nĩ, Vin. iii. 129. kadā te mātā pasīdissati, kadā te pitā pasīdissati, kadā te devatāyo pasīdissanti… kadā te muthunaṃ dhammaṃ labhissāmi, khi nào mẹ cô vui ḷng? Khi nào cha cô vui ḷng? Khi nào chư thiên của cô vui ḷng? Khi nào tôi được pháp dâm dục của cô?

[40] Ngũ phần: phản vấn 反問. Pāli: paṭipucchati, phản vấn.

[41] Pāli: ācikkhati, giải thuyết, diễn giải; khi được hỏi, nói như vầy: Hăy cho như vậy; cho như vậy th́ chồng cô sẽ yêu thương cô.

[42] Hán: chỉ ấn 指印, tức Pāli: aṅgulimuddikā, nhẫn dùng làm tín vật.

[43] Nguyên Hán: bất tịnh ố lộ quán 不淨惡露觀, xem Trường A-hàm 9, kinh 10 Thập thượng (T1, tr.52a7, 8); Pāli: asubha-bhāvanā.

[44] Ngũ phần 2, tr. 11c25; Tăng-kỳ 5, tr. 269c20; Thập tụng 3 tr. 16c18; Căn bản 11 tr. 685a25. Vin. iii. 131.

[45] Tự thán thân 自歎身. Ngũ phần: tự tán cúng dường thân 自讚供養身. Tăng-kỳ: thán tự cúng dường thân 歎自供養身. Thập tụng: tán thán dĩ thân cúng dường. Căn bản: tự thán thân 自歎身. Pāli: attakāmapāricariyāya vaṇṇaṃ bhāseyya, tán thán sự cúng dường dục cho ḿnh.

[46] Đây chỉ tỳ-kheo a-lan-nhă, chỉ sống trong rừng, một trong 12 hạnh đầu-đà.

[47] Đây chỉ tỳ-kheo tŕ pháp khất thực, chỉ ăn bằng không thất, không thọ thỉnh của cư sĩ; một trong 12 hạnh đầu-đà.

[48] Dư thực pháp 餘食法, Tứ phần 14 (tr.660a) ba-dật-đề 35: Tỳ-kheo ăn xong, được mời ăn thêm; không tác dư thực pháp mà ăn thêm, ba-dật-đề.

[49] Nhất tọa thực 一坐食, mỗi ngày chỉ ăn một buổi trong một lần ngồi. Tứ phần 14, tr.660a: ba-dật-đề 35.

[50] Bối nặc 唄匿; Pāli. bhāṇaka, (người) đọc tụng, ca vịnh.

[51] Tật tật ngữ 疾疾. Xem ba-la-di 4.