A. Duyên khởi
Một thời, đức Thế Tôn du hóa Tỳ-xá-ly,[2] ở trong giảng đường, bên sông Di hầu.[3] Bằng vô số phương tiện, Phật giảng cho các tỳ-kheo thực hành (quán) bất tịnh,[4] khen ngợi sự thực hành (quán) bất tịnh, khen ngợi tư duy về sự thực hành quán bất tịnh.[5]
Các tỳ-kheo khởi lên ư nghĩ: “Nay đức Thế Tôn v́ chúng ta nói thực hành (quán) bất tịnh, khen ngợi sự thực hành (quán) bất tịnh, khen ngợi tư duy về sự thực hành quán bất tịnh.”
Bấy giờ, các tỳ-kheo liền dùng vô số phương tiện tu tập quán bất tịnh. Sau khi từ thiền định tỉnh giác, các vị ấy sinh ghê tởm thân mạng, sầu ưu, không an lạc. Cũng như con trai hay con gái yêu thích bản thân,[6] đem rắn chết, chó chết, người chết cột nơi cổ ḿnh, để rồi ghê tởm mùi hôi thối ấy. Các tỳ-kheo cũng như vậy, bằng vô số phương tiện tu tập quán bất tịnh, ghê tởm thân mạng, sầu ưu, không an lạc, bèn t́m dao muốn tự sát, khen ngợi sự chết, khuyến khích cho chết. Các tỳ-kheo ở trong một khu vườn, bên sông Bà-cầu,[7] khởi lên ư nghĩ: “Đức Thế Tôn đă từng dùng vô số phương tiện nói về sự thực hành (quán) bất tịnh, khen ngợi sự thực hành (quán) bất tịnh, khen ngợi tư duy về sự thực hành quán bất tịnh. Tỳ-kheo kia dùng vô số phương tiện tập tu quán bất tịnh, sinh ghê tởm thân mạng, sầu ưu, không an lạc, t́m dao muốn tự sát, khen ngợi sự chết, khuyến khích cho chết.” Bấy giờ, có tỳ-kheo tên là Vật-lực-già Nan-đề,[8] ḍng sa-môn xuất gia,[9] tay cầm dao bén vào trong vườn Bà-cừu.[10] Có một tỳ-kheo đang ghê tởm thân mạng ô uế bất tịnh,[11] từ xa thấy tỳ-kheo Vật-lực-già Nan-đề đến, bèn nói rằng: “Đại đức, hăy đoạn mạng tôi. Tôi đem y bát cho ông.” Vật-lực-già liền chịu thuê bằng y bát, tức th́ đoạn mạng vị tỳ-kheo ấy. Y đi đến bờ sông kia để rửa dao. Ḷng sinh hối hận, tự nói: “Hôm nay thật bất lợi cho ta; [576a1] thật chẳng lành cho ta. Tỳ-kheo kia không tội lỗi ǵ, ta lại nhận lời đoạn mạng căn của ông ấy.”
Vào lúc đó, có một Thiên ma[12] biết tâm niệm của tỳ-kheo này, liền dùng thần túc đến trước Vật-lực-già Nan-đề. Đứng trên mặt nước mà không ch́m;[13] khen ngợi, khuyến khích rằng:
“Lành thay, lành thay thiện nam tử! Hôm nay ông được công đức lớn; đă độ người chưa được độ.”
Tỳ-kheo Nan-đề nghe Thiên ma khen, sự hối hận kia tan biến, liền khởi lên ư nghĩ: “Nay ta đặng công đức lớn; độ người chưa được độ.” Nghĩ như vậy rồi, y lại cầm dao vào trong vườn[14] mà hỏi:
“Ai chưa độ, nay tôi sẽ độ cho.”
Khi ấy, có tỳ-kheo chưa ly dục, thấy tỳ-kheo Vật-lực-già Nan-đề, th́ quá kinh hoảng, lông trong người dựng ngược lên. Vật-lực-già Nan-đề thấy vậy, nói các tỳ-kheo rằng:
“Các ngài chớ sợ. Các căn chưa thuần thục, th́ chưa thể hóa kiếp được. Đợi đến lúc thành thục, tôi sẽ hoá kiếp cho.” Trong số các tỳ-kheo ái dục đă diệt tận, thấy Vật-lực-già Nan-đề, ḷng không sợ sệt, lông trong người không dựng ngược lên.
Khi ấy tỳ-kheo Vật-lực-già Nan-đề hoặc một ngày giết một tỳ-kheo, hoặc giết hai, ba, bốn, năm cho đến sáu mươi người. Xác chết trong vườn kia vất bỏ bừa băi, hôi thối, bất tịnh, giống như một băi tha ma.
Lúc bấy giờ, có các cư sĩ lễ bái các chùa. Lần hồi đến vườn kia, thấy vậy, ai nấy đều kinh sợ, lấy làm kỳ quái, cùng nhau chê bai: “Trong vườn này có sự đại biến. Sa-môn Thích tử không có ḷng từ mẫn, giết hại nhau. Tự xưng rằng ta tu chánh pháp. Như vậy đâu có ǵ là chánh pháp? Họ giết hại lẫn nhau. Các tỳ-kheo c̣n tự giết nhau huống là đối với người khác. Từ nay chúng ta chớ nên kính phụng, thừa sự, cúng dường sa-môn Thích tử nữa.”
Họ rao truyền trong thôn ấp, đừng cho cư trú và văng lai. Khi ấy các cư sĩ thấy trong vườn này uế ác như vậy nên không tới lui nữa.
Bấy giờ, tỳ-kheo trú tại Tỳ-xá-ly, có nhân duyên nhỏ, tập hợp lại một chỗ.[15] Lúc ấy, đức Thế Tôn quan sát số lượng các chúng tỳ-kheo giảm thiểu, và các đại tỳ-kheo có tiếng tăm đều không có mặt. Đức Thế Tôn tuy đă biết nhưng vẫn hỏi A-nan:
“Chúng Tăng tại sao giảm thiểu? Các Đại đức nổi tiếng ở đâu mà không thấy mặt hôm nay?”
Tôn giả A-nan đem nhân duyên đă xảy ra tŕnh bày đầy đủ với Phật:
“Thế Tôn trước đây dùng vô số phương tiện v́ các tỳ-kheo thuyết giảng một cách rộng răi về sự thực hành (quán) bất tịnh, khen sự thực hành (quán) bất tịnh, khen tư duy sự thực hành (quán) bất tịnh. Các tỳ-kheo nghe rồi tu tập, nhàm tởm thân mạng, t́m người đoạn mạng. [576b] Do vậy mà số lượng bị giảm thiểu. Cúi xin đức Thế Tôn v́ các tỳ-kheo mà phương tiện thuyết pháp khác, khiến cho tâm mọi người khai mở, vĩnh viễn không nghi hoặc.”
Đức Phật bảo Tôn giả A-nan:
“Nay hăy tập hợp các tỳ-kheo nơi giảng đường.”
Tôn giả A-nan vâng lời Phật dạy, tập hợp các tỳ-kheo nơi giảng đường; rồi đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi đứng qua một bên, thưa:
“Kính bạch đức Thế Tôn, nay chúng Tăng đă họp, nguyện đức Thánh biết thời.”
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn liền đến giảng đường, ngồi giữa đại chúng, bảo các tỳ-kheo:
“Có a-na-ban-na tam-muội,[16] tịch nhiên khoái lạc. Các pháp bất thiện đă sinh, nó có khả năng diệt trừ, vĩnh viễn không phát sinh trở lại. Ví như tiết trời mùa thu, sau cơn mưa th́ không c̣n bụi bẩn. Lại như một trận mưa lớn có khả năng chận đứng luồng gió mạnh. A-na ban-na tam-muội cũng lại như vậy, tịch tịnh khoái lạc. Với các pháp bất thiện đă sinh, nó có khả năng diệt trừ.”
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện v́ các tỳ-kheo nói a-na ban-na tam-muội, khen a-na ban-na tam muội, khen sự tu tập a-na ban-na tam-muội. Các tỳ-kheo liền khởi lên ư nghĩ: “Đức Thế Tôn hôm nay dùng vô số phương tiện v́ chúng ta nói a-na ban-na tam-muội, khen a-na ban-na tam muội, khen sự tu tập a-na ban-na tam-muội. Chúng ta hăy tinh cần tu tập.”
Rồi các tỳ-kheo liền bằng đủ phương tiện khác nhau tư duy, nhập a-na ban-na tam-muội. Sau khi từ a-na ban-na tam-muội tỉnh giác, họ tự biết ḿnh chứng đắc pháp tăng thượng thù thắng, an trụ nơi quả chứng.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, bằng vô số phương tiện quở trách các tỳ-kheo trong vườn Bà-cừu: “Việc làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp của sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, là việc không nên làm. Làm sao các tỳ-kheo trong vườn Bà-cừu này lại ngu si mà dứt mạng lẫn nhau?”
Đức Thế Tôn sau khi dùng vô số phương tiện quở trách rồi, bảo các tỳ-kheo: “Các tỳ-kheo trong vườn Bà-cừu là những người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay về sau, Ta v́ các tỳ-kheo mà kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, để chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Người muốn thuyết giới, nên thuyết như vầy:
B. Giới văn
Tỳ-kheo nào, cố ư tự tay dứt sinh mạng người,[17] cầm dao đưa người, khen ngợi sự chết, khuyến khích cho chết, nói: ‘Này nam tử, ích ǵ cuộc sống xấu ác này, thà chết c̣n hơn sống!’ Với tâm tư duy như vậy, dùng mọi phương tiện khen ngợi sự chết, khuyến khích cho chết; tỳ-kheo ấy là kẻ ba-la-di, không được sống chung.[18]
C. Thích nghĩa
[576c]Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Người:[19] từ khi thức đầu tiên[20] cho đến khi thức sau cùng, mà dứt mạng sống của nó.
Giết:[21] tự ḿnh giết, sai bảo người giết, sai sứ giết, sai người đi và về mà giết, hoặc trùng sứ mà giết, hoặc sai sứ luân chuyển giết, hoặc nhờ người đàn ông giết, hoặc sai người t́m người đàn ông giết, t́m cầu người cầm dao giết, sai người t́m cầu cầm dao giết, ra dấu bằng thân, miệng nói, thân miệng đều hiện tướng, hoặc gởi thư, sai khiến người đưa thư, giết bằng hầm hố, bằng ỷ phát,[22] cho uống thuốc, đặt dụng cụ giết.
- Tự ḿnh giết: dùng tay hoặc gạch đá, dao, gậy, và các vật khác để tự ḿnh giết. Người giết phạm ba-la-di. Phương tiện mà không giết được, phạm thâu-lan-giá.
- Sai bảo người giết:[23] khi giết, tự ḿnh giám sát việc giết,[24] sai người trước[25] ném vào trong nước, lửa; hoặc từ trên núi xô xuống hố sâu, hoặc khiến voi chà chết; hoặc khiến ác thú ăn, hoặc khiến rắn cắn, và các lệnh giết khác. Người (được lệnh) giết, (người ra lệnh) phạm ba-la-di. Phương tiện mà không giết được, thâu-lan-giá.
- Sai sứ giết: tỳ-kheo sai khiến sứ giả đoạn mạng người nào đó. (Người ấy) vâng lời mà đi,[26] nếu đoạn được mạng, (người sai khiến) thành ba-la-di. Phương tiện mà không đoạn được mạng, (người sai) thâu-lan-giá.
- Sai người đi và về mà giết:[27] tỳ-kheo sai sứ đi đoạn mạng người nào đó. Người đó vâng theo lời mà đi, muốn giết nhưng chưa được bèn trở về. Sau đó, người ấy lại vâng theo lời dạy trước mà đi giết lần nữa. Nếu giết được, (người sai) thành ba-la-di. Phương tiện mà không giết được, (người sai) thâu-lan-giá.
- Trùng sứ mà giết:[28] tỳ-kheo sai sứ giả, “Ngươi hăy đi đoạn mạng người đó.” Lại nối tiếp sai sứ như vậy, cho đến bốn, năm lần. Người được sai liền đến giết. Giết được, (người sai) thành ba-la-di. Phương tiện mà không giết được, (người sai) thâu-lan-giá.
- Sứ giả luân chuyển mà giết:[29] tỳ-kheo sai sứ, “Ngươi hăy đoạn mạng người đó.” Người bị sai lại sai người khác, cho đến một trăm hay một ngàn lần sai như vậy để đoạn mạng người kia. Đoạn được, (người sai) thành ba-la-di. Phương tiện mà không giết được, (người sai) thâu-lan-giá.
- T́m cầu nam tử giết: như nói, “Trong đây ai biết có người như vậy, có khả năng dùng dao, có phương tiện, học tập lâu, không sợ sệt, không bỏ cuộc, có thể đoạn mạng của người nào đó?” Người được sai liền đi đoạn mạng người kia. Đoạn được, (người t́m cầu) thành ba-la-di. Phương tiện mà không giết được, (người t́m cầu) thâu-lan-giá.
- Sai người t́m cầu nam tử giết: như sai người, “Trong đây ai biết có người như vậy, có khả năng dùng dao, có phương tiện, học tập lâu, không sợ sệt, không bỏ cuộc, có thể đoạn mạng của người nào đó?” Người bị sai liền đến đoạn mạng người kia. Đoạn được, (người sai t́m) phạm ba-la-di. Phương tiện mà không giết, (người sai t́m) phạm thâu-lan-giá.
- T́m cầu người cầm dao giết: tự ḿnh t́m cầu, nói “Ai là người dũng kiện có khả năng cầm dao đoạn mạng người nào đó?” Người kia liền đến giết. Giết được, (người t́m cầu) thành ba-la-di, không giết được, (người t́m cầu) phạm thâu-lan-giá.
- Sai [577a1] người t́m cầu kẻ cầm dao giết: cũng như vậy.
- Ra dấu bằng thân:[30] thân làm dấu hiệu giết. Như làm cho rớt vào trong nước, trong lửa, từ trên cao rớt xuống đáy hang sâu; hoặc khiến voi chà chết, khiến ác thú ăn, độc xà cắn. Người kia do nơi dấu hiệu bằng thân này mà tự ḿnh giết, (người ra dấu) phạm ba-la-di. Phương tiện mà không giết được, (người ra dấu) phạm thâu-lan-giá.
- Miệng nói:[31] hoặc nói thế này, “Ngươi đă làm điều ác, không có tâm nhân từ, ḷng ôm sự độc hại, không làm các điều thiện; ngươi không làm việc cứu hộ. Ngươi sống sẽ chịu nhiều tội báo, không bằng chết.” Hoặc là nói như vầy: “Ngươi không làm các điều bạo ác, có nhân từ, không ôm ḷng độc hại, ngươi đă làm các điều thiện như vậy, ngươi đă làm công đức, ngươi đă làm việc cứu hộ. Ngươi sống để chịu các khổ. Nếu ngươi chết sẽ sinh Thiên.” Nhân lời nói này, người kia tự sát; thành ba-la-di. Phương tiện mà không sát được, phạm thâu-lan-giá.
- Ra dấu bằng thân và miệng: cũng như vậy.
- Sai sứ:[32] sai sứ đến người kia nói, “Ngươi đă làm điều ác,... điều thiện”, nói đầy đủ như trên. Nhân nơi miệng của người sứ khen sự chết này, mà người kia tự sát; thành ba-la-di. Phương tiện mà không chết được, phạm thâu-lan-giá.
- Gởi thư:[33] viết thư[34] nói, “ngươi đă làm điều ác,... điều thiện”, nói đầy đủ như trên.
- Sai bảo khiến sứ viết thư: cũng như vậy.
- Hầm hố:[35] xét biết người kia sẽ đi qua lại trên tuyến đường đó; giữa đường đào một cái hầm sâu, trong hầm để lửa hoặc dao, hoặc rắn độc, hoặc chông nhọn, hoặc dùng thuốc độc bôi lên vật nhọn bén. Người kia rơi vào trong đó, nếu chết, thành ba-la-di. Phương tiện mà không giết được, phạm thâu-lan-giá.
- Ỷ phát:[36] biết người kia sẽ đứng tựa[37] nơi chỗ nào đó, hoặc nơi cây, nơi tường, nơi rào; bên ngoài đó để lửa, dao, chông, rắn độc, bôi chất độc nơi vật nhọn bén, bẫy gài, khiến người kia rơi vào đó; nếu chết, thành ba-la-di. Phương tiện mà không chết, phạm thâu-lan-giá.
- Cho uống thuốc: biết người kia bệnh, cho loại thuốc không đúng[38], hoặc tạp độc, hoặc quá hạn, cùng các loại thuốc khiến cho chết, thành ba-la-di. Cho thuốc mà chẳng chết, thành thâu-lan-giá.
- Đặt dụng cụ giết:[39] trước đă biết người kia vốn đă nhàm chán cái thân hèn hạ này nên đem dao, đồ độc, hoặc dây và các thứ dụng cụ làm cho chết để đó. Người kia dùng một trong những vật này để tự sát; nếu chết, (người đặt) ba-la-di. Phương tiện mà không chết, (người đặt) thành thâu-lan-giá.
Nếu làm các việc như vậy, cho đến các phương tiện khác để giết, người kia do đó mà chết, thành ba-la-di. Phương tiện mà không chết, phạm thâu-lan-giá.
Nếu con của trời, con của rồng, con của a-tu-la, con của kiền-thát-bà, con của dạ-xoa, ngạ quỷ; hoặc trong loài súc sinh mà con nào có trí hiểu biết được tiếng người, [577b] hoặc lại có khả năng biến h́nh; phương tiện t́m cầu giết nó cho chết. Người giết, thâu-lan-giá. Phương tiện mà không chết, đột-kiết-la. Súc sinh không thể biến h́nh, giết nó thành ba-dật-đề. Phương tiện mà không chết, đột-kiết-la. Thật người, tưởng là người mà giết, ba-la-di. Nghi là người, thâu-lan-giá. Người, tưởng chẳng phải người, thâu-lan-giá. Chẳng phải người tưởng là người, thâu-lan-giá. Nghi chẳng phải người, thâu-lan-giá.
Tỳ-kheo-ni, ba-la-di. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la, diệt tẫn, Đó là trường hợp phạm.[40]
Sự không phạm: là ném dao, gậy, gạch, đá nhầm trúng người kia chết. Xây cất pḥng xá, làm rơi đá, gỗ, cây, đ̣n tay... chết người. Người bệnh nặng mà d́u, đỡ nằm, ngồi, đi, đứng, tắm rửa, khi uống thuốc, từ chỗ lạnh đến chỗ nóng, từ chỗ nóng đến chỗ lạnh, vào pḥng, ra pḥng, đến nhà xí, trở về... tất cả không có tâm sát hại mà (người bệnh) chết th́ (người đỡ) không phạm.
Người không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách.
A. Duyên khởi
1. Kết gới lần thứ nhất
Một thời, đức Thế Tôn du hóa tại Tỳ-xá-ly,[42] ở trong giảng đường Cao-các bên sông Di hầu. Bấy giờ gặp lúc lúa gạo quư hiếm,[43] nhân dân đói khổ, khất thực khó được. Đức Thế Tôn bảo Tôn giả A-nan:
“Hăy tập họp tất cả tỳ-kheo trú ở Tỳ-xá-ly vào giảng đường.”
Tôn giả A-nan vâng lời Phật dạy, tập hợp các tỳ-kheo tại giảng đường. Chúng Tăng tập hợp xong, Tôn giả đảnh lễ dưới chân Phật, rồi đứng lui qua một bên, thưa:
“Tất cả các tỳ-kheo có mặt tại Tỳ-xá-ly đă tập hợp tại giảng đường. Cúi xin đức Thánh biết thời.”
Khi ấy, đức Thế Tôn liền đến giảng đường, ngồi giữa đại chúng, bảo các tỳ-kheo:
“Các ngươi nên biết, hiện nay gặp lúc lúa gạo quư hiếm, nhân dân đói khổ, khất thực khó được. Các ngươi ai có thân hữu tri thức đồng Ḥa thượng, cùng thầy, ở gần Tỳ-xá-ly này, th́ đến đó nương nhờ, cùng tùy theo sự thích hợp mà an cư. Ta cũng sẽ an cư nơi này. Tại sao vậy? V́ thức ăn khó khăn, nên khiến cho chúng Tăng mệt nhọc.”
Các tỳ-kheo nghe đức Thế Tôn dạy rồi, mỗi người đều theo thân hữu tri thức đồng Ḥa thượng, đồng thầy, ở gần Tỳ-xá-ly mà an cư. Đức Thế Tôn cũng an cư trong thành Tỳ-xá-ly.
Khi ấy, có số đông tỳ-kheo an cư ở trong Tăng-già-lam bên sông Bà-cừu, khởi lên ư nghĩ: “Như hiện nay trong nước này lúa gạo quư hiếm, nhân dân đói khổ, khất thực khó được. Chúng ta nên dùng phương tiện thế nào để khỏi khổ sở v́ ẩm thực?” Họ nghĩ ra phương tiện như sau: “Nay ta nên đến các nhà cư sĩ nói: ‘Tôi đạt được pháp thượng nhân. [577c] Tôi là A-la-hán, đạt được thiền, đạt được thần thông, biết được tâm người khác.’ Rồi lại khen tỳ-kheo nào đó chứng đắc A-la-hán, đắc thiền, đắc thần thông, biết được tâm người khác. Trong đó có những cư sĩ tin ưa, có thức ăn uống ǵ không dám tự ăn riêng, không cho vợ con, mà lại mang đến cúng dường chúng ta. Các cư sĩ kia cũng sẽ khen ngợi chúng ta: ‘Các vị tỳ-kheo này thật sự là ruộng phước, đáng tôn kính.’ Như vậy chúng ta có thể nhận được thức ăn uống ngon bổ, có thể sống an lạc, không bị vấn đề khất thực gây khó khổ.”
Lúc bấy giờ, các tỳ-kheo ở bên sông Bà-cừu suy nghĩ như vậy rồi liền đến nhà các cư sĩ, tự nói:
“Tôi chứng đắc pháp thượng nhân. Tôi là A-la-hán, đắc thiền, đắc thần thông, biết được tâm người khác.”
Lại khen vị tỳ-kheo nào đó chứng đắc A-la-hán, đắc thiền, đắc thần thông, biết được tâm người khác.
Khi ấy các cư sĩ tin ưa, tin nhận lời nói kia, liền đem thức ăn uống có được và phần của vợ con không dám cho ăn hết, mang đến cúng dường cho các tỳ-kheo và nói: “Đây là bậc đáng tôn kính của thế gian.”
Các tỳ-kheo này nhờ thọ sự cúng dường của các vị cư sĩ nên nhan sắc sáng sủa, tươi vui, khí lực đầy đủ. Các tỳ-kheo khác an cư tại Tỳ-xá-ly nhan sắc tiều tụy, h́nh thể khô héo, y phục rách rưới. An cư xong, họ thu xếp y bát đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn hỏi các tỳ-kheo:
“Các ngươi đi đứng có được ḥa hiệp an lạc chăng? Không khổ v́ ẩm thực chăng?”
Các tỳ-kheo thưa: “Kính bạch đức Thế Tôn, chúng con đi đứng ḥa hiệp, an lạc; nhưng gặp lúc lúa gạo quư hiếm, nhân dân đói khổ, khất thực khó được. V́ vậy mà khổ.”
Trong khi đó, các tỳ-kheo an cư trong Tăng-già-lam, bên sông Bà-cừu th́ nhan sắc sáng sủa, tươi vui, khí lực đầy đủ. An cư xong, thu xếp y bát, họ đi đến chỗ đức Thế Tôn. Đến nơi, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên.
Bấy giờ, đức Thế Tôn hỏi các tỳ-kheo:
“Các ngươi đi đứng có được ḥa hiệp an lạc chăng? Không khổ v́ ẩm thực chăng?”
Các tỳ-kheo bạch Phật: “Kính bạch đức Thế Tôn, chúng con đi đứng ḥa hợp an lạc; không gặp phải khó khăn về ẩm thực.”
Đức Phật hỏi:
“Hiện nay gặp lúc lúa gạo quư hiếm, nhân dân đói khổ, khất thực khó được. Các ngươi dùng phương tiện nào mà không gặp phải khó khăn v́ vấn đề ẩm thực?”
Các tỳ-kheo liền đem nhân duyên trước tŕnh bày đầy đủ với đức Thế Tôn và thưa:
“Nhờ vậy chúng con không gặp phải khó khăn về ẩm thực.”
Đức Thế Tôn hỏi các tỳ-kheo:
“Sự thật các ngươi có chứng đắc như vậy không?”
Các tỳ-kheo thưa:
“Hoặc có người chứng thật. Hoặc có người không chứng thật.”
[578a1] Đức Phật bảo các tỳ-kheo:
“Các ngươi, những kẻ ngu si, thật có mà c̣n không nên nói với người, huống là không thật mà lại đến nói với người!”
Đức Thế Tôn bảo các tỳ-kheo:
“Trong đời có hai hạng giặc:[44] một là thật chẳng phải tịnh hạnh mà tự xưng là tịnh hạnh. Hai là v́ miệng và bụng nên không chơn thật, chẳng phải ḿnh có mà ở trong chúng cố ư nói lời vọng ngữ, tự xưng rằng đạt được pháp thượng nhân. Trong hai hạng giặc này, kẻ v́ miệng và bụng nên không chơn thật, chẳng phải ḿnh có mà ở trong đại chúng cố ư nói lời vọng ngữ: tự xưng ḿnh đạt được pháp thượng nhân, là kẻ giặc lớn nhất không ǵ bằng. Tại sao vậy? V́ chúng ăn trộm thức ăn uống của người.”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách các tỳ-kheo an cư trong Tăng-già-lam bên sông Bà-cừu rồi, bảo các tỳ-kheo:
“Đây là những người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này. Từ nay về sau Ta v́ các tỳ-kheo mà kết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu, để chánh pháp tồn tại lâu dài.’’
Người muốn thuyết giới, nên thuyết như vầy:
“Tỳ-kheo nào, thật không sở tri mà tự xưng rằng: ‘Tôi chứng đắc pháp thượng nhân, tôi biết như vậy, tôi thấy như vậy.’ Vào lúc khác, tỳ-kheo ấy hoặc bị người cật vấn, hoặc không người cật vấn, muốn tự thanh tịnh nên nói như vầy: ‘Tôi thật không biết, không thấy, mà nói có biết có thấy, nói lời hư dối vọng ngữ.’ Tỳ-kheo ấy là kẻ ba-la-di, không được sống chung.”
2. Kết giới lần thứ hai
Khi đức Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy rồi, lúc ấy có một tỳ-kheo tăng thượng mạn nói với người rằng: “Tôi đắc đạo.” Thời gian sau, vị ấy tinh tấn không giải đăi, cần cầu phương tiện, chứng đắc pháp thù thắng tối thượng. Vị ấy nghĩ như vầy: “Đức Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới: ‘Tỳ-kheo nào, thật không sở tri mà tự xưng rằng: ‘Tôi chứng đắc pháp thượng nhân, tôi biết như vậy, tôi thấy như vậy.’ Vào lúc khác, Tỳ-kheo ấy hoặc bị người cật vấn, hoặc không người cật vấn, muốn tự thanh tịnh nên nói như vậy: ‘Tôi thật không biết, không thấy, mà nói có biết có thấy, nói lời hư dối vọng ngữ.’ Tỳ-kheo ấy là kẻ ba-la-di, không được sống chung.’ Với tâm kiêu mạn, tôi đă tự nói tôi đắc đạo. Thời gian sau với tâm siêng năng, phương tiện tinh tấn, không giải đăi, chứng đắc pháp thù thắng tối thượng. Như vậy tôi há không phạm ba-la-di? Nay phải làm thế nào?” Vị ấy t́m các tỳ-kheo đồng tâm ư:[45] “Đức Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới: ‘Tỳ-kheo nào, thật không sở tri mà tự xưng rằng: ‘Tôi chứng đắc pháp thượng nhân, tôi biết như vậy, tôi thấy như vậy.’ Vào lúc khác, Tỳ-kheo ấy hoặc bị người cật vấn, hoặc không người cật vấn, muốn tự thanh tịnh nên nói như vậy: ‘Tôi thật không biết, không thấy, mà nói có biết có thấy, nói lời hư dối vọng ngữ.’ Tỳ-kheo này là kẻ ba-la-di, không được sống chung.’ [578b] Tôi với tâm tăng thượng mạn tự xưng là tôi đắc đạo. Thời gian sau do sự siêng năng, phương tiện tinh tấn không giải đăi, chứng đắc pháp thù thắng tối thượng. Như vậy tôi há không phạm ba-la-di sao? Lành thay, Đại đức v́ tôi bạch Phật. Tùy theo lời Phật dạy, tôi sẽ vâng làm.”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đem nhân duyên này tŕnh bày đầy đủ lên đức Thế Tôn. Lúc ấy, đức Thế Tôn do nhân này tập hợp tỳ-kheo Tăng, v́ các tỳ-kheo tùy thuận thuyết pháp, dùng vô số phương tiện tán thán đầu-đà, tán thán[46] thiểu dục tri túc, ưa xuất ly, và bảo các tỳ-kheo:
“Người tăng thượng mạn không phạm.”
Từ nay về sau nên nói giới như vầy:
B. Giới văn
Tỳ-kheo nào, thật không sở tri mà tự xưng rằng: ‘Tôi chứng đắc pháp thượng nhân, tôi biết như vậy, tôi thấy như vậy.’ Vào lúc khác, tỳ-kheo ấy hoặc bị người cật vấn, hoặc không người cật vấn, muốn tự thanh tịnh nên nói như vầy: ‘Tôi thật không biết, không thấy, mà nói có biết có thấy, nói lời hư dối vọng ngữ,’ trừ tăng thượng mạn, Tỳ-kheo ấy là kẻ ba-la-di, không được sống chung.
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Không biết không thấy:[47] thật sự không thấy biết.
Tự xưng: tự ḿnh xưng nói có tín, giới, thí, văn, trí tuệ, biện tài.
Pháp của người: uẩn[48] của con người, giới của con người, xứ[49] của con người.[50]
Pháp thượng nhân: các pháp có khả năng thành tựu xuất ly.[51]
Tự nói:[52] tự nói niệm tại thân, tự nói chánh ức niệm, tự nói tŕ giới, tự nói có dục, tự nói không buông lung, tự nói tinh tấn, tự nói đắc định, tự nói đắc chánh thọ, tự nói có đạo, tự nói tu tập, tự nói có huệ, tự nói kiến, tự nói đắc, tự nói quả.
- Tự nói niệm tại thân:[53] có niệm có khả năng dẫn đến xuất ly; chuyên cần, thân cận pháp này, tu tập và phát triển rộng lớn, như điều khiển cỗ xe, thủ hộ và quán sát, khéo đạt được b́nh đẳng, đă được quyết định, không c̣n khó khăn, được[54] tự tại. Như vậy gọi là tự ḿnh nói đạt được thân niệm xứ.
- Tự nói chánh ức niệm: có niệm có khả năng dẫn đến xuất ly; chuyên cần, thân cận pháp này, tu tập và phát triển rộng lớn, như điều khiển cỗ xe, thủ hộ và quán sát, khéo đạt được b́nh đẳng, đă được quyết định, không c̣n khó khăn, được tự tại. Như vậy gọi là tự ḿnh nói chánh ức niệm.
- Tự nói đắc giới, tự nói có dục, tự nói không buông lung, tự nói tinh tấn, cũng được nói như trên.
- Tự nói đắc định: nói chứng đắc tam-muội có giác có quán;[55] tam-muội không giác có quán;[56] tam-muội không giác không quán;[57] tam muội không - vô tướng - vô tác;[58] chuyên cần, thân cận tư duy định này. Ngoài ra [578c] như trên đă nói.
- Tự nói đắc chánh thọ:[59] chánh thọ có tưởng, chánh thọ không tưởng, chánh thọ tùy pháp, chánh thọ tâm tưởng, chánh thọ trừ sắc tưởng, chánh thọ không trừ sắc tưởng, chánh thọ trừ nhập,[60] chánh thọ nhất thiết nhập,[61] làm quen, học tập, gần gũi, tư duy chánh thọ này. Ngoài ra như trên đă nói.
- Tự nói có đạo: từ đạo có một chi đạo cho đến đạo có mười một chi; chuyên cần, thân cận tư duy đạo này. Ngoài ra như trên đă nói.
- Tự nói tu: tu giới, tu định, tu trí, tu giải thoát huệ, tu kiến giải thoát huệ, chuyên cần, thân cận. Ngoài ra như trên đă nói.
- Tự nói có trí: pháp trí,[62] tỉ trí,[63] đẳng trí,[64] tha tâm trí làm quen, học tập, gần gũi, tư duy trí này. Ngoài ra như trên đă nói.
- Tự nói kiến:[65] thấy khổ, thấy tập, thấy tận và thấy đạo. Hoặc lại nói như vầy: thiên nhăn thanh tịnh quán các chúng sinh, hoặc sinh, hoặc tử, hoặc có sắc đẹp, hoặc có sắc xấu, hoặc thiện thú, ác thú; hoặc biết có tốt xấu, quư tiện, tùy theo nghiệp báo của chúng sinh. Biết điều đó đúng như thật, chuyên cần, thân cận.
Ngoài ra như trên đă nói.
- Tự nói đắc: đắc Tu-đà-hoàn, đắc Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, làm quen, học tập, gần gũi. Ngoài ra như trên đă nói.
- Tự nói quả: Tu-đà-hoàn quả, Tư-đà-hàm quả, A-na-hàm quả, A-la-hán quả, làm quen, học tập, gần gũi... ngoài ra như trên đă nói.
Với những sự hư vọng, không thiệt như vậy; không biết, không thấy mà nói với người: “Tôi đạt được pháp thượng nhân.” Tự miệng ḿnh nói với người mà người ấy hiểu, phạm ba-la-di. Nói mà người ấy không hiểu, phạm thâu-lan-giá.
Hoặc dùng tay làm dấu, hoặc sai sứ, hoặc viết thư, hoặc ra dấu hiệu cho biết, mà người ấy biết, phạm ba-la-di, không biết phạm thâu-lan-giá.
Tự ḿnh ở chỗ vắng người, khởi ư tưởng là không vắng người, miệng nói: “Tôi đạt được pháp thượng nhân”, phạm thâu-lan-giá. Chỗ không vắng khởi ư tưởng là vắng, miệng ḿnh nói: “Tôi đạt được pháp thượng nhân”, phạm thâu-lan-giá. Nói với chư Thiên, A-tu-la, Càn-thát-bà, Dạ-xoa, ngạ quỷ, súc sinh có thể biến h́nh, có trí, là ḿnh đắc pháp thượng nhân, mà những hạng ấy hiểu, phạm thâu-lan-giá; chúng không hiểu, phạm đột-kiết-la. Làm dấu bằng tay, sai sứ, viết thư, ra dấu mà người kia hiểu, phạm thâu-lan-giá; không hiểu, phạm đột-kiết-la. Nói với súc sinh không thể biến h́nh, là ḿnh đắc pháp thượng nhân, phạm đột-kiết-la.
Nếu thật sự người đắc đạo mà nói với vị đại tỳ-kheo không đồng tâm ư, ḿnh đạt được pháp thượng nhân, phạm đột-kiết-la. Nếu giảng cho người về căn, lực, giác ư, giải thoát, tam-muội, chánh thọ mà lại nói rằng: “Tôi đạt được”, [579a1] phạm ba-la-di. Người, khởi ư tưởng là người, phạm ba-la-di. Nghi là người, phạm thâu-lan-giá. Người mà tưởng chẳng phải người, phạm thâu-lan-giá. Chẳng phải người mà tưởng là người, phạm thâu-lan-giá. Chẳng phải người mà nghi cũng phạm thâu-lan-giá.Tỳ-kheo-ni, ba-la-di. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, phạm đột-kiết-la, tẫn xuất. Đó gọi là phạm.
Sự không phạm: người tăng thượng mạn tự nói là nghiệp báo nhân duyên chứ chẳng phải tu đạt được, hoặc hướng đến vị đại tỳ-kheo đồng tâm ư[66] mà nói pháp thượng nhân. Hoặc giảng cho người về căn, lực, giác ư, giải thoát, tam-muội, chánh thọ mà không tự xưng là “Tôi đạt được.” Hoặc vui đùa mà nói; hoặc nói nhanh vội;[67] nói chỗ vắng, nói một ḿnh, nói trong mộng, muốn nói việc này nói nhầm việc kia th́ không phạm.
Người không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người si cuồng loạn tâm, thống năo bức bách.
[1] Tứ phần, quyển 2 (tr.575c6); Ngũ phần 2 (tr.7a27); Tăng-kỳ 4 (tr.253c9); Căn bản 3 (tr.518a21); Thập tụng 2 (tr.7b21). Vin. iii. 68.
[2] Tỳ-xá-ly 毘舍離; Sk. Vaiśālī (Pl.) Vesāli.
[3] Di hầu giang biên 獼猴江邊; Thập tụng 2, Bạt-kỳ quốc Bạt-cầu-ma hà thượng 跋耆國跋求摩河上 tức Pāli, sông Vaggumudā, thuộc nước Vajji, gần chỗ Phật nhập Niết-bàn. Căn bản: Phật tại thành Quảng Nghiêm 廣嚴城, bên bờ sông Thắng Tuệ 勝慧河, rừng Sa-la-trĩ 娑羅雉林. Pāli, Vn.iii.70, Vesāliyam viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṃ, trú tại Vesālī, trong rừng Đại Lâm, trong một ngôi nhà sàn.
[4] Thuyết bất tịnh hành 說不淨行. Ngũ phần 2, nt., tu bất tịnh quán 修不淨觀; Pāli, Vn.iii.nt., asubhabhāvana.
[5] Xem Tạp A-hàm 29 kinh 809. S. 54. 9 Vesāli.
[6] Nguyên Hán: tự hỉ nam tử...自喜男子; Thập tụng 2, nt., niên thiếu tự hỷ nghiêm sức 年少自喜嚴飾; Vn.iii.dd., maṇḍanajātiko, thích trang điểm.
[7] Bà-cầu hà 婆裘河; tức Pāli, sông Vaggumudā.
[8] Vật-lực-già Nan-đề 物刀伽難提 (Sk. Mṛga-nandī?); Ngũ phần (tr.7b5), Di-lân chiên-đà-la 彌鄰旃陀羅, một người chiên-đà-la tên là Di-lân; Thập tụng 2 (tr.7c4), Lộc Trượng phạm chí 鹿杖梵志, một người phạm chí tên Lộc Trượng (Skt. Mṛgadaṇḍa, tức Pāli Migadaṇḍa, thay v́ Migalaṇḍa). Pāli, Vn.iii.68, Migalaṇḍika samaṇakuttaka, một người giả trang Sa-môn tên là Migalaṇḍa.
[9] Phụ chú trong bản Hán: “Nói Sa-môn chủng, chỉ ḍng họ.” Tức Pāli samaṇa-kūla: ḍng họ Sa-môn, thay v́ samaṇakuttaka, giả trang Sa-môn.
[10] Bà-cừu viên 婆裘園; Thập tụng 2 (tr.7b21), Bạt-cầu-ma hà 跋求摩河; Pāli, Vn.iii.68: Vaggumudā nadī, sông Vaggumudā
[11] Tăng-kỳ 4 (tr.253c9): một tỳ-kheo bệnh lâu ngày, đau đớn không chịu nổi, bèn nhờ tỳ-kheo nuôi bệnh giết giùm.
[12] Thập tụng (tr.7c7): Ma thiên thần 魔天神; Ngũ phần (tr.7b9): Tự tại thiên ma 自在天魔. Pāli, Vn.iii.69: mārakāyikā devatā, một thiên thần thuộc hạ của Māra.
[13] Vin. iii. 69: abhijjamāne udake gantvā, đi trên nước mà nước không bị chẻ ra.
[14] Thập tụng: đến trú xứ kia. Pāli, Vn.iii.69: vihārena vihāraṃ pariveṇena pariveṇaṃ, từ tinh xá đến tinh xá, từ pḥng đến pḥng.
[15] Thập tụng 2 (tr.7c15): ngày 15 trong tháng, lúc thuyết giới.
[16] A-na-ban-na tam-muội 阿那般那三昧; Thập tụng 2 (tr.8a13): a-na ban-na niệm 阿那般那念; Ngũ phần 2 (tr.7c6): an-ban niệm 安般念; Pāli, Vn. iii. 70: ānāpānassati-samādhi, sự tập trung trên hơi thở ra vào.
[17] Hán: đoạn nhân mạng 斷人命; Pāli: manussaviggahaṃ jīvitā voropeyya, tước đoạt sinh mạng của con người.
[18] Ngũ phần 2, giới này được kết bởi ba lần: Lần thứ nhất, tỳ-kheo giết người, nhân duyên cũng gần như Tứ phần với một vài chi tiết khác biệt. Lần thứ hai, tỳ-kheo bệnh muốn tự sát, nhân v́ có giới cấm giết người nên các tỳ-kheo đưa dao cho người bệnh tự sát; Phật kết thêm lần nữa. Thứ ba, tỳ-kheo bệnh muốn tự sát nhưng các tỳ-kheo không dám giúp phương tiện, bèn đi t́m thợ săn, khuyến khích giết giùm; Phật kết thêm lần nữa. Pāli, Phật kết hai lần; lần thứ nhất, giết và giúp phương tiện tự sát; thứ hai, khuyến khích người tự sát. Tăng-kỳ và Thập tụng, kết một lần như Tứ phần. Đại tỳ-kheo giới bản (tr. 549c15): giới được kết sau khi thành Phật năm thứ sáu, ngày 9, nửa tháng phần thứ ba, mùa đông.
[19] Hán: nhân 人. Pāli, Vin. iii. tr. 73: manussaviggaha (thân thể con người): tâm đầu tiên trong sinh khởi thai mẹ, thức tối sơ xuất hiện, cho đến khi chết, trong khoảng giữa đó gọi là thân người. Ngũ phần: “nhược nhân, nhược tợ nhân 若人若似人. Sau khi nhập thai mẹ, trong ṿng 49 ngày, gọi là tợ nhân. Từ đó về sau, gọi là nhân.’’ Thập tụng: nhược nhân nhược loại nhân 若人若類人 (người và loại tợ của người). Căn bản: “nhược nhân, nhược nhân thai. Nhân (người), trong thai mẹ, đă đủ 6 căn. Nhân thai, mới nhập thai mẹ.’’
[20] Hán: sơ thức 初識. Pāli: paṭhaṃ paṭisandhicittaṃ, kết sanh tâm đầu tiên.
[21] Hán: sát 殺. Văn kết giới nói: đoạn nhân mạng 斷人命, không nói từ sát. Pāli: jīvitā voropeyya, tước đoạt sinh mạng, là làm đoạn tuyệt mạng căn, hủy diệt nó, chặn đứng ḍng tương tục.
[22] Ỷ phát 倚發; bản Thánh: ỷ bát 倚撥, xem cht. sau
[23] Giáo sát 教殺. Pāli: adhiṭṭhāyā, bằng sự giám thị (giám sát giết), tức giết bằng sự ra lịnh, hay chỉ đạo.
[24] Bản Cao Ly: ... khán giáo 看教...; bản Tống-Nguyên-Minh: ... khán sát 看殺...
[25] Hán: tiền nhân 前人; đây chỉ thuộc hạ.
[26] Hán: tùy ngữ trụ 隨語住; có lẽ chính xác là tùy ngữ văng 隨語往, đi theo lời (chỉ đạo).
[27] Hán: văng lai sứ 往來使; Pāli: gatapaccāgatena dūtena, bởi sứ giả đi và quay trở lại.
[28] Hán: trùng sứ 重使. Pāli: dūtaparamparāya, sứ giả này tiếp theo sứ giả khác, một chuỗi sứ giả.
[29] Hán: triển chuyển sứ 展轉使. Pāli: visakkiyena dūtena, bởi sứ giả lần lượt giết nhau (để phi tang thủ phạm).
[30] Thân hiện tướng 身現相. Đây chỉ sự ra dấu để khuyến khích người tự sát. Pāli, Vin.i.76: kāyena saṃvaṇṇeti.
[31] Khẩu thuyết 口說; khuyên người tự sát bằng lời nói. Pāli: vācāya saṃvaṇṇeti.
[32] Khiển sứ 遣使; tức là sai người đi khuyến khích người kia tự sát. Pāli: dūtena saṃvaṇṇeti, khuyến khích (chết) bằng sứ giả.
[33] Khiển thư 遣書. Pāli: lekhāya saṃvaṇṇeti, khuyến khích (chết) bằng cách viết (thư).
[34] Hán: chấp thư 執書, nghĩa đen “cầm thư.” Pāli: lekhaṃ chindati, “khắc văn tự;” VA. 452 giải thích: paṇṇe vā potthake vā akkharāni likkhati, “viết các chữ cái lên lá hay sách.” Văn luật, Vin.i.76, c̣n nói: akkharakkharāya āpatti dukkaṭassa, mỗi âm tiết là một tội đột-kiết-la.
[35] Khanh hăm 坑陷; Ngũ phần 2 (tr.9a1): ưu-bà-đầu 優婆頭 Tăng kỳ 4 (tr. 256a6): ô-măn-thổ 烏滿吐; Pāli: opāta.
[36] Ỷ phát 倚發; bản Tống-Nguyên-Minh: ỷ bát 倚撥. Thập tụng 2: cơ bát 機撥 (phát động bằng máy móc hay bẫy cài); Ngũ phần 2: a-ba-xa 阿波奢. Pāli: apassena: vật để tựa, bẫy ngụy trang.
[37] Hán: ỷ phát..
[38] Phi dược 非藥.
[39] An sát cụ 安殺具. Ngũ phần: ưu-ba-hại 優波害; Tăng-kỳ: a-ba-khâm-măn 阿波欽滿; Pāli: upanikkhipana (skt, upanikṣepana)
[40] Tăng-kỳ (tr.257c4): hội đủ 5 yếu tố, phạm ba-la-di: 1. người; 2. có ấn tượng đó là người; 3. phương tiện để giết; 4. cố ư giết chết; 5. người ấy chết.
[41] Ngũ phần 2, tr. 9a11; Tăng-kỳ 4, tr. 257c16; Thập tụng 2, tr. 11a6; Căn bản 9, tr. 668c22; Vin. iii. tr. 87.
[42] Tăng-kỳ 4 (tr.257c16): Phật tại Xá-vệ thành. Thập tụng 2 (tr.11a6): Phật an cư mùa hạ tại Duy-da-li. Pāli, Vin. iii.87: trú tại Vesāli, trong rừng Mahāvana, trong một ngôi nhà sàn (Trùng các giảng đường).
[43] Pāli, nt: nạn đói kém tại Vajjī.
[44] Ngũ phần (tr.9b17): năm đại tặc 五大賊. Thập tụng (tr.12a12): ba đại tặc 三大賊. Pāli: pañca mahācorā, năm đại tặc.
[45] Đồng tâm ư tỳ-kheo 同心意比丘. Pāli (Vin. iii. 159): sabhāgānān bhikkhūnaṃ, những tỳ-kheo chung trong một nhóm.. Ngũ phần 2, Pāli: hỏi ư kiến A-nan.
[46] Để bản: đoan nghiêm 端嚴. Bản Thánh: đoan nghiêm vi diệu pháp 端嚴微妙法. Nhưng đây là do từ tán thán bị chép nhầm.
[47] Bất tri bất kiến 不知不見. Thích từ trong giới văn, nhưng từ trong giới văn nói: thật vô sở tri. Ngũ phần, Thập tụng: bất tri bất kiến 不知不見. Tăng-kỳ: vị tri vị liễu 未知未了: Căn bản: thật vô tri vô biến tri 實無知無遍知. Pāli: anabhijānaṃ, không chứng tri, không chứng đắc, không thắng tri.
[48] Nguyên Hán: ấm 陰; nay từ quen dùng đọc là uẩn. Pāli: khandha.
[49] Nguyên Hán: nhập 入; từ thông dụng là xứ. Pāli: āyatana.
[50] Nhân pháp 人法 đồng nghĩa với nhân ấm 人陰: pháp ở đây được hiểu là uẩn, xứ và giới. Tăng kỳ (tr.260c24): nhân pháp, chỉ ngũ dục, 5 hạ phần kết... cho đến, 10 thiện và bất thiện nghiệp đạo.
[51] Ngũ phần (tr.9c24): quá nhân pháp 過人法, chỉ hết thảy pháp xuất yếu, tức các thiền, giải thoát, tam-muội, chánh thọ, các Thánh đạo và Thánh quả. Tăng kỳ (tr.261a7): quá nhân pháp, chỉ 10 trí,... vô sanh trí,... cho đến 10 vô học pháp, 10 lậu tận lực. Pāli, Vin.i.91: uttaramanusadhammo nāma jhānaṃ vimokkho samādhi samāpatti ñāṇadassanaṃ..., “Pháp của bậc thượng nhân, chỉ cho thiền, giải thoát, chánh định, chánh thọ, tri kiến...”
[52] Hán: tự ngôn 自言, tức nói những điều liên hệ đến ḿnh, nói gợi ư về ḿnh. Pāli: attupanāyikam
[53] Niệm tại thân 念在身; đây chỉ thân niệm xứ. Tham chiếu, Trường A-hàm 9 (T1, tr.50c9), Trung A-hàm 24 (T1, tr.582b20), Pháp uẩn túc luận 5 (T26, tr.475c27); Pāli, D.ii. tr. 94, 290 (No 22. Mahāsatipaṭṭhāna, i. tr.56 (Satipaṭṭhāna).
[54] Đắc 得, bản Thánh: phục 復.
[55] Hữu giác hữu quán tam-muội 有覺有觀三昧 hay hữu tầm hữu tứ tam-ma-địa (đẳng tŕ; Pāli: savitakka-savicāra-samādhi), chánh định với sự có mặt của tầm và tứ; chỉ trạng thái sơ thiền. Cf. Câu-xá 28, (T29, tr.149c5).
[56] Vô giác hữu quán tam-muội 無覺有觀三昧, hay vô tầm duy tứ tam-ma-địa, trạng thái trung gian tĩnh lự, giữa sơ và nhị thiền. Cf. Câu-xá 28, (T, tr.149c5).
[57] Chỉ các trạng thái định từ nhị thiền trở lên.
[58] Không, vô tướng, vô tác tam-muội 空無相無作三昧, hay không, vô tướng, vô nguyện tam-ma-địa, chỉ ba giải thoát môn. Cf. Câu-xá 28, (T29, tr.149c22).
[59] Chánh thọ, cũng dịch là đẳng chí (Pāli. samāpatti: tam-ma-bát-để).
[60] Trừ nhập chánh thọ 除入正受, chỉ 8 thắng xứ (Pāli: aṭṭha abhibhāyatanāni); Cf. Câu-xá 29, (T29, tr.151c12); Cf. Pāli, D.iii. tr.260, Saṅgīti-suttanta.
[61] Nhất thiết nhập 一切入, chỉ 10 biến xứ định (Pāli: dasa kasiṇāyatanāni). Cf. Câu-xá 29 (T29, tr.151c24); D.iii. 268 (Saṅgītisuttanta).
[62] Pháp trí 法智 (skt. dharma-jñāna), trí tuệ nhận thức bốn Thánh đế thuộc Dục giới. Xem Câu-xá 26, (T29, tr. 135b6).
[63] Tỉ trí 比智 hay loại trí (Skt. anvaya-jñāna), trí nhận thức bốn Thánh đế thuộc thượng giới. Xem Câu-xá 26, (T29, tr. 135b6).
[64] Đẳng trí 等智, có lẽ chỉ hiện quán biên thế tục trí (Skt. abhisamayāntyākhya-laukika-jñāna), tức trí thuộc phàm phu địa tu quán 16 hành tướng của bốn Thánh đế. Xem Câu-xá 26, (T29, tr. 183b15).
[65] Kiến 見, chỉ tri kiến trong giai đoạn kiến đạo (Skt. darśana-mārga).
[66] Các luật khác không nói đến trường hợp không phạm này.
[67] Tật tật thuyết 疾疾說. Đoạn sau, trong các ba-dật-đề: nhân ngữ thứ thất khẩu thuyết, nói lỡ lời v́ nói lộn thứ tự lời.