II. Bất dữ thủ [1]
Một thời, đức Thế Tôn du hóa nơi thành
La-duyệt, trong núi Kỳ-xà-quật.[2] Bấy giờ trong thành La-duyệt có tỳ-kheo tự
là Đàn-ni-ca,[3] con người thợ đồ gốm, lưu trú trong
một thảo am nơi chỗ khuất vắng.[4] Sau khi vị tỳ-kheo kia vào trong thôn khất thực,
có người lấy củi, phá thảo am của tỳ-kheo
đem về làm củi. Tỳ-kheo kia khất thực xong
trở về thấy thảo am không c̣n, bèn khởi lên ư nghĩ:
“Ta đă sống một ḿnh nơi khuất vắng; tự
ḿnh lấy cỏ cây làm am để ở. Khi vào thôn khất
thực, người lấy củi phá am thất của ta
đem đi. Bản thân ta có tay nghề; ta có thể trộn
bùn đất làm thành căn nhà toàn bằng gạch[5].”
Tỳ-kheo kia nghĩ xong, liền trộn
bùn đất làm thành căn nhà toàn bằng gạch; rồi
lấy củi và phân ḅ mà nung, căn nhà có màu sắc đỏ
tươi như lửa.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn từ trên núi Kỳ-xà-quật đi
xuống. Từ xa trông thấy cái nhà màu đỏ như lửa.
Thấy vậy, Ngài biết mà cố hỏi các tỳ-kheo:
“Cái ǵ màu đỏ vậy?”
Các tỳ-kheo bạch Phật: “Kính bạch đức Thế
Tôn, có một tỳ-kheo tên là Đàn-ni-ca, con người thợ
đồ gốm. Tỳ-kheo ấy một ḿnh ở nơi
khuất vắng, làm một cái thất bằng cỏ để
ở. Khi đi khất thực, bị những người lấy củi phá cái thất
mang đi. Vị tỳ-kheo ấy khi về, thấy thất
của ḿnh bị phá liền
nghĩ: ‘Ta có tay nghề, ta
có thể làm một cái thất toàn bằng gạch.’ Nghĩ
như vậy rồi liền làm. Cái nhà sắc đỏ
đó là của tỳ-kheo Đàn-ni-ca.”
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn dùng vô số
phương tiện để quở trách vị tỳ-kheo
kia: “Việc ngươi làm sai quấy, chẳng phải oai
nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh,
chẳng phải hạnh tùy thuận, làm điều không
nên làm. Tại sao, tỳ-kheo Đàn-ni-ca, con người thợ
gốm, tự ḿnh làm thất, tập trung với nhiều
số lượng củi, phân ḅ v.v... rồi
nung. Ta thường dùng vô số phương tiện nói
đến ḷng từ mẫn đối với chúng sinh. Tại
sao người ngu si này tự ḿnh trộn bùn đất làm
thất, dồn chứa gai củi và phân ḅ để nung? Từ
nay trở đi, các ông không được làm thất toàn bằng
gạch có màu đỏ như lửa như thế.[6]
Nếu làm, phạm đột-kiết-la.”
Lúc bấy giờ đức Thế Tôn ra lệnh cho các
tỳ-kheo: “Các ông tập hợp lại, cùng nhau nhanh chóng
đến chỗ thất của Đàn-ni-ca mà phá bỏ
đi.”[7]
Các tỳ-kheo vâng lời Phật dạy, đến
đập phá cái thất đó. Đàn-ni-ca thấy [572c]
các tỳ-kheo đập phá cái thất của ḿnh bèn hỏi:
“Tôi có lỗi ǵ mà đập phá thất của tôi ?”
Các tỳ-kheo trả lời:
“Thầy không có lỗi. Chúng tôi cũng không ghét Thầy.
Song chúng tôi vừa nhận lời dạy của đức
Thế Tôn, nên đến đây phá thất của Thầy.”
Tỳ-kheo Đàn-ni-ca nói:
“Nếu đức Thế Tôn đă dạy, các Thầy cứ
tùy nghi.”
Lúc bấy giờ B́nh-sa, vua nước Ma-kiệt[8],
có người giữ cây gỗ nhà nước,[9]
cùng với tỳ-kheo Đàn-ni-ca là bạn thân từ thời
c̣n nhỏ, nên tỳ-kheo Đàn-ni-ca đến chỗ
người giữ cây gỗ ấy nói rằng:
“Ông bạn có biết chăng, vua B́nh-sa cho tôi cây gỗ.
Nay tôi cần gỗ, ông bạn có thể cho tôi nhận
được không?”
Người giữ gỗ nói:
“Nếu nhà vua đă cho, th́ loại tốt hay loại xấu,
cần nhiều hay ít, cứ tùy ư lấy.”
Loại cây gỗ thiết yếu của nhà vua[10]
để dành, bị tỳ-kheo Đàn-ni-ca chặt mang
đi.
Khi ấy có một vị Đại thần tổng
giám sát các sự việc của thành,[11]
đến chỗ chứa gỗ, thấy những cây gỗ
thiết yếu, mà nhà vua lưu trữ, bị chặt lung
tung, liền hỏi người giữ gỗ rằng:
“Những cây gỗ thiết yếu này nhà vua lưu trữ
ở đây, ai chặt mang đi?”
Người giữ gỗ nói: “Tỳ-kheo
Đàn-ni-ca đến nơi tôi và nói, ‘Nhà vua cho tôi gỗ.
Nay tôi cần, có thể lấy được không?’ Tôi trả
lời: ‘Nhà vua cho th́ Thầy cứ lấy.’ Tỳ-kheo liền
vào vựa chứa cây lưu trữ chặt mang đi.”
Khi Đại thần nghe nói như vậy rồi, liền
phiền trách nhà vua rằng: ‘Tại sao đem loại gỗ
thiết yếu này cho tỳ-kheo? Trong khi c̣n có những thứ
gỗ khác có thể cho được, mà khiến tỳ-kheo
này chặt đứt gỗ thiết yếu mang đi!’ Rồi vị Đại thần đến
chỗ nhà vua tâu:
“Tâu Đại vương, số cây gỗ thiết yếu
được lưu trữ, tại sao nay lại cho tỳ-kheo
chặt mang đi? C̣n có nhiều thứ
gỗ khác có thể cho được, sao lại phá hoại
loại gỗ quí đó?”
Nhà vua bảo rằng: “Ta hoàn toàn không nhớ đă
đem gỗ cho ai. Nếu Đại thần có nhớ th́
nhắc lại cho ta.”
Khi ấy vị Đại thần liền cho đi bắt
người giữ cây gỗ đến chỗ nhà vua.
Người giữ cây gỗ từ xa thấy tỳ-kheo
Đàn-ni-ca, liền kêu nói:
“Đại đức, v́ thầy lấy gỗ mà tôi bị
bắt. Đại đức hăy v́ tôi, đi đến
đó để giải quyết. Xin thương xót tôi.”
Tỳ-kheo trả lời: “Ông cứ đến đó.
Tôi cũng đi ngay đây.”
Sau đó tỳ-kheo Đàn-ni-ca đến chỗ nhà
vua, đứng im lặng trước mặt vua.
Nhà vua liền hỏi: “Đại đức, có thật
là tôi cho thầy gỗ hay không?”
Tỳ-kheo đáp: “Sự thật nhà vua có cho tôi gỗ.”
Nhà vua nói:
“Tôi không nhớ là có cho người gỗ. Thầy hăy nhắc
lại để tôi nhớ.”
Tỳ-kheo nói rằng:
“Đại vương c̣n nhớ chăng? Khi mới
đăng vị, từ miệng nhà vua nói ra rằng, ‘Trong
thời tôi c̣n trị nước, [573a1] trong phạm vi quốc
giới, có các sa-môn, bà-la-môn nào biết tàm quư, ưa học
giới, cho th́ lấy, không cho không lấy; cho th́ dùng, không
cho không dùng; kể từ hôm nay, các sa-môn, bà-la-môn được
phép tùy ư dùng cỏ, cây và nước. Không được
không cho mà dùng. Từ nay về sau cho phép sa-môn, bà-la-môn tùy ư
dùng cỏ, cây và nước.’”
Nhà vua nói:
“Này Đại đức, khi tôi mới đăng vị,
thật sự có nói như vậy. Đại đức,
tôi nói đối với vật vô chủ chứ không nói
đối với vật có chủ.[12]
Tội của Đại đức đáng chết.”
Nhà vua lại tự nghĩ: “Ta là Vua Quán đỉnh, ḍng
Sát-lợi,[13] đâu có thể chỉ v́ một
ít gỗ mà đoạn mạng người xuất gia.
Điều ấy không nên.”
Bấy giờ, nhà vua dùng vô số phương tiện
quở trách tỳ-kheo, rồi ra lệnh các thần thuộc
phóng thích tỳ-kheo. Các thần thuộc y lệnh Vua, phóng
thích tỳ-kheo.
Sau đó các thần thuộc này lớn tiếng b́nh luận,
bất b́nh, rằng, ‘Nhà vua nghĩ sao? Tội
đáng chết như vậy mà chỉ khiển trách rồi
thả.’
Lúc ấy, trong thành La-duyệt có các cư sĩ không
tin ưa Phật pháp, họ đều chỉ trích rằng,
“Sa-môn Thích tử không có tàm quư, không biết sợ là ǵ, nên lấy
vật không cho. Bên ngoài tự nói ta biết chánh pháp. Như
vậy làm ǵ có chánh pháp! Gỗ của nhà vua c̣n lấy, huống
là của người khác? Chúng ta từ nay về sau đừng
gần gũi với sa-môn Thích tử, lễ bái hỏi
chào, cúng dường cung kính. Đừng cho vào thôn ta, cũng
đừng cho nghỉ ngơi.”
Bấy giờ có các tỳ-kheo nghe chuyện ấy. Trong
số đó có những vị thiểu dục tri túc, sống
hạnh đầu-đà, biết tàm quư, ưa học giới,
hiềm trách Đàn-ni-ca: “Sao lại ăn trộm cây gỗ
của Vua B́nh-sa?”
Các tỳ-kheo đến chỗ đức Phật,
đảnh lễ dưới chân rồi ngồi qua một
bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức
Thế Tôn. Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp
Tăng tỳ-kheo; tuy biết vẫn cố hỏi tỳ-kheo
Đàn-ni-ca:
“Có thật ngươi lấy gỗ mà nhà vua không cho?”
Đàn-ni-ca thưa: “Bạch Thế Tôn, thực sự
đúng như vậy.”
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện
quở trách tỳ-kheo Đàn-ni-ca:
“Việc ngươi làm sai quấy, chẳng phải oai
nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh,
chẳng phải pháp tùy thuận, làm điều không nên làm.
Này, Đàn-ni-ca, sao lại lấy gỗ mà nhà vua không cho? Ta
dùng vô số phương tiện khen ngợi sự lấy
những ǵ đă được cho. Nay ngươi sao lại
lấy gỗ mà nhà vua không cho?”
Khi ấy có một tỳ-kheo tên là Ca-lâu, vốn là Đại
thần của nhà vua,[14] rành về thế pháp, ngồi
trong chúng, [573b] cách đức Thế Tôn không xa. Đức
Thế Tôn biết mà vẫn hỏi tỳ-kheo Ca-lâu:
“Theo pháp luật của nhà vua, không cho mà lấy, vật
trị giá bao nhiêu phải tội chết?”[15]
Tỳ-kheo Ca-lâu bạch Phật:
“Nếu lấy năm tiền[16]
hay vật trị giá năm tiền sẽ bị tội chết.”
“Tỳ-kheo Đàn-ni-ca, sao lại lấy gỗ mà nhà vua
không cho?”
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách tỳ-kheo
Đàn-ni-ca, rồi bảo các tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo Đàn-ni-ca là kẻ ngu si, là nơi trồng
nhiều giống hữu lậu, là người đầu
tiên phạm giới. Từ nay về sau Ta v́ các tỳ-kheo kết
giới, gồm mười cú nghĩa,... cho đến để chánh pháp tồn tại lâu dài.”
Muốn thuyết giới nên thuyết như vầy:
Tỳ-kheo nào, nơi thôn xóm hay chỗ trống vắng,
với tâm trộm cắp, lấy vật không được
cho. Tùy theo vật không
được cho mà lấy, hoặc bị vua hay Đại
thần của vua bắt, hoặc giết, hoặc trói, hoặc
đuổi ra khỏi nước, rằng ‘Ngươi là
giặc, ngươi ngu si, ngươi không biết ǵ.’ Tỳ-kheo
ấy là kẻ ba-la-di, không được sống chung.[17]
Tỳ-kheo: nghĩa như trên.
Thôn:[18] có bốn loại, 1. Chung quanh đều có tường
xây thấp. 2. Chung quanh có hàng rào. 3. Có rào và tường
nhưng không giáp ṿng. 4. Chung quanh đều có nhà.[19]
Chỗ trống vắng:[20] khoảng đất trống và vắng vẻ ở
ngoài thôn.
Vật không được cho: vật mà người khác không vất
bỏ.[21]
Trộm cắp: lấy với tâm trộm
cắp.[22]
Tùy theo vật[23] không được cho mà lấy: là năm tiền hay trị giá năm tiền.[24]
Vua: là người tự tại,
không lệ thuộc ai.
Đại thần: chỉ chung cho các vị Đại thần trợ giúp
nhà vua.
Ba-la-di không được sống chung: như trên đă nói.
Có ba trường hợp lấy vật không được
cho phạm ba-la-di: tự tay lấy, giám sát sự lấy,
khiến người lấy.
Lại có ba trường hợp lấy vật không
được cho phạm ba-la-di: lấy vật với ư
tưởng không phải của ḿnh, lấy vật với ư chẳng phải tạm dùng, lấy vật không được
đồng tâm ư.
Lại có ba loại[25]
lấy: lấy vật của người, tưởng vật
của người, dời khỏi nguyên vị trí.
Lại có ba loại lấy: lấy vật có chủ,
tưởng là có chủ, di chuyển khỏi nguyên vị
trí.
Lại có ba loại lấy: lấy vật có người
khác giám hộ, tưởng có người khác giám hộ, dời
khỏi nguyên vị trí.
Lại có bốn loại lấy vật không cho thành
ba-la-di:[26] tự tay ḿnh lấy, giám sát sự
lấy, sai người lấy, dời khỏi nguyên vị
trí.
Lại có bốn loại lấy thành ba-la-di: lấy vật
với ư tưởng chẳng phải của ḿnh, không phải
lấy tạm, không được đồng tâm ư mà lấy,
và dời khỏi nguyên vị trí.
Lại có bốn loại lấy: lấy vật của
người, tưởng vật của người, trọng
vật,[27] dời khỏi nguyên vị
trí.
Lại có bốn loại lấy: có chủ, tưởng
là có chủ, trọng vật, dời khỏi nguyên vị
trí.
Lại có bốn loại lấy: người khác giám hộ,
tưởng có người khác giám hộ, trọng vật,
dời khỏi nguyên vị trí.
[573c] Lại có năm loại không cho mà
lấy thành ba-la-di: tự tay ḿnh lấy, giám sát người
khác lấy, khiến người khác lấy, trọng vật,
dời khỏi nguyên vị trí.
Lại có năm loại: lấy vật với ư tưởng
chẳng phải của ḿnh, không có ư tạm lấy, chẳng
phải đồng tâm ư mà lấy, trọng vật, dời
khỏi nguyên vị trí.
Lại có năm loại lấy: lấy vật của
người, tưởng là vật của người, trọng
vật, với tâm trộm, và dời khỏi nguyên vị
trí.
Lại có năm loại: có chủ,
tưởng có chủ, trọng vật, với tâm trộm,
dời khỏi nguyên vị trí.
Lại có năm loại lấy: vật có người
khác giám hộ, tưởng có người khác giám hộ, trọng
vật, với tâm trộm cắp, dời khỏi nguyên vị
trí.
Lại có sáu loại không cho mà lấy thành ba-la-di: tự
tay ḿnh lấy, giám sát người lấy, sai người lấy,
trọng vật, với tâm trộm cắp, và dời khỏi
chỗ cũ. Chẳng phải vật của ḿnh, tưởng
là chẳng phải vật của ḿnh, có sáu loại như
vậy. Đó gọi là sáu loại lấy trộm phạm
tội ba-la-di.
Vị trí:[28] vị trí trong ḷng đất, vị trí trên đất,
vị trí trên cộ, vị trí trong gánh, vị trí trong hư
không, vị trí trên cây, vị trí thôn, vị trí a-lan-nhă, vị
trí ruộng, vị trí xứ sở, vị trí ghe thuyền,
vị trí nước. Hoặc lén qua ải mà không đóng
thuế. Hoặc lấy vật của người khác kư
thác. Hoặc lấy nước; lấy tăm, trái cây, thảo
mộc, chúng sinh không chân, hai chân, bốn chân, nhiều chân, sản
nghiệp chung. Hoặc cùng hẹn,[29] hoặc ŕnh chờ,[30] hoặc canh giữ,[31] hoặc chặn lối đường hiểm. Như
vậy gọi là vị trí.[32]
Vị trí trong ḷng đất:[33] các kho tàng chôn dưới đất chưa ai phát hiện,
như bảy báu gồm vàng, bạc, lưu ly, trân châu, bích
ngọc, xa cừ, mă năo; các thứ vàng ṛng,[34] vật báu làm bằng vàng, áo, chăn; hoặc lại có
những nhu yếu phẩm khác có chủ và được
chôn trong ḷng đất. Những vật này có giá trị
năm tiền hoặc quá năm tiền, nếu lấy với
tâm trộm cắp; lấy bằng cách lôi kéo đi chỗ
khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi
nguyên vị trí; vật vừa rời khỏi nguyên vị
trí, thành ba-la-di. Nếu phương tiện muốn nhấc
lên, nhưng không nhấc nổi, phạm thâu-lan-giá.
Vị trí trên đất:[35] các thứ không chôn dưới đất như bảy
báu gồm vàng, bạc, v.v… cho đến, áo, chăn; hoặc
những nhu yếu phẩm khác có chủ và ở trên mặt
đất. Những vật này có giá trị năm tiền
hoặc quá năm tiền, nếu lấy với tâm trộm
cắp; lấy bằng cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc
chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị
trí. Vật vừa rời khỏi nguyên vị trí, thành
ba-la-di. Nếu phương tiện muốn nhấc lên,
nhưng không nhấc nổi, phạm thâu-lan-giá.
Vị trí trên cộ:[36] cộ
có bốn loại, cộ voi, cộ ngựa, cộ xe, cộ
đi bộ. Hoặc lại có các phương tiện chuyên
chở khác đều gọi là cộ. Các thứ trên cộ
như bảy báu gồm vàng, bạc, v.v… cho đến, áo,
chăn; hoặc những nhu yếu phẩm khác có chủ.
Những vật này có giá trị năm tiền hoặc quá
năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp; lấy
bằng cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu
đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị trí; vật vừa
rời khỏi nguyên vị trí, thành ba-la-di. Nếu
phương tiện muốn nhấc lên, [574a1] nhưng không nhấc, phạm thâu-lan-giá. Hoặc dẫn
xe cộ từ đường chính đến đường
chính, từ đường chính đến đường
phụ, từ đường phụ đến đường
chính, từ trong hầm lên trên bờ hầm, từ trên bờ
hầm đến trong hầm, như vậy lấy cộ
rời khỏi nguyên vị trí. Vừa rời khỏi nguyên
vị trí, phạm ba-la-di. Nếu phương tiện muốn
lấy mà không lấy, phạm thâu-lan-giá.
Vị trí gánh: vật đội trên đầu, vật vác trên vai, vật
cơng sau lưng, hay ôm trước ngực; hoặc lại có
các vật khuân vác khác. Trên những gánh này có các vật
như bảy báu gồm vàng, bạc, v.v… cho đến, áo,
chăn; hoặc những nhu yếu phẩm khác có chủ.
Những vật này có giá trị năm tiền hoặc quá
năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp; lấy
bằng cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu
đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật vừa
rời khỏi nguyên vị trí, thành ba-la-di. Nếu
phương tiện muốn nhấc lên, nhưng không nhấc,
phạm thâu-lan-giá. Hoặc mang gánh từ đường
chính đến đường chính, từ đường
chính đến đường phụ, từ đường
phụ đến đường chính, từ trong hầm
lên trên bờ hầm, từ trên bờ hầm đến
trong hầm. Như vậy với tâm trộm mà mang khỏi
chỗ cũ; vừa rời khỏi vị trí của vật,
thành ba-la-di. Nếu phương tiện muốn lấy mà không
lấy mắc tội thâu-lan-giá.
Vị trí trong không:[37] những vật mà gió thổi bay như lông, kiếp-bối,
câu-giá-la, sai-la-ba-ni, sô ma, gai, bông, bát-đam-lam-bà, đầu-đầu-la,
chim nhạn, chim hạc, chim khổng tước, chim anh vơ,
chim bồ câu. Lại có vật hữu dụng khác, có chủ.
Những vật này có giá trị năm tiền hoặc quá
năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp; lấy
bằng cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu
đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật vừa
rời khỏi nguyên vị trí thành ba-la-di. Nếu
phương tiện muốn nhấc lên, nhưng không nhấc
nổi, phạm thâu-lan-giá.
Vị trí bên trên: [38] vật được nhấc lên để trên cây, trên
tường, trên rào, trên vực, trên cọc bằng ngà voi,[39] trên giá móc áo, trên vơng, trên giường gỗ, trên nệm
lớn nhỏ, trên gối, trên chiếu trải trên đất.
Trên những thứ này mà có vàng, bạc, v.v... cho
đến, áo, chăn; hoặc những nhu yếu phẩm
khác có chủ. Những vật này có giá trị năm tiền
hoặc quá năm tiền, nếu lấy với tâm trộm
cắp; lấy bằng cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc
chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị
trí. Vật vừa rời khỏi nguyên vị trí thành
ba-la-di.
Nếu phương tiện muốn nhấc lên, nhưng
mà không nhắc nổi, phạm thâu-lan-giá.
Vị trí thôn: Có bốn loại thôn xóm như trên đă nói.[40] Trong thôn xóm này, có vàng, bạc, v.v… cho đến, áo,
chăn; hoặc những nhu yếu phẩm khác có chủ.
Những vật này có giá trị năm tiền hoặc quá
năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp; lấy
bằng cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu
đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật vừa
rời khỏi nguyên vị trí thành ba-la-di. Nếu
phương tiện muốn nhấc lên, nhưng không nhấc
nổi, phạm thâu-lan-giá. Dùng máy móc công kích, phá hoại thôn
xóm; hoặc cho nước ngập, hoặc dựa vào
cường lực của người quen thân, hoặc
dùng lời lẽ biện bác mê hoặc lừa dối mà lấy;
vừa lấy được, thành ba-la-di; phương tiện
[574b] muốn lấy mà không lấy
được, mắc tội thâu-lan-giá.
Vị trí a-lan-nhă: vùng đất trống ở ngoài thôn mà có chủ.
Nơi chỗ đất trống này mà có vàng, bạc, v.v…
cho đến, áo, chăn; hoặc những nhu yếu phẩm
khác có chủ. Những vật này có giá trị năm tiền
hoặc quá năm tiền, nếu lấy với tâm trộm
cắp; lấy bằng cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc
chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị
trí. Vật vừa rời khỏi nguyên vị trí, thành
ba-la-di. Nếu phương tiện muốn nhấc lên,
nhưng không nhấc, phạm thâu-lan-giá.
Hoặc bằng phương tiện phá hoại vùng
đất trống của người khác, hoặc cho
nước ngập, hoặc dựa vào cường lực
của người quen thân, hoặc dùng lời lẽ biện
luận, mê hoặc, lừa dối để lấy. Vừa
lấy được, thành ba-la-di. Phương tiện muốn
lấy mà không lấy được, mắc tội
thâu-lan-giá.
Vị trí ruộng: ruộng trồng lúa dé, ruộng trồng lúa mạch,
ruộng trồng mía. Hoặc lại có các loại ruộng
khác mà nơi đó có vàng, bạc, v.v… cho đến, áo,
chăn; hoặc những nhu yếu phẩm khác có chủ.
Những vật này có giá trị năm tiền hoặc quá
năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp; lấy
bằng cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu
đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật vừa
rời khỏi nguyên vị trí, thành ba-la-di. Nếu dùng
phương tiện phá hoại ruộng của người
hoặc cho nước ngập, hoặc dựa vào cường
lực của người quen thân, hoặc dùng lời lẽ
biện luận, mê hoặc, lừa dối để lấy.
Vừa lấy được, thành ba-la-di. Phương tiện
muốn lấy mà không lấy được, mắc tội
thâu-lan-giá.
Xứ sở:[41] hoặc là khu vực của nhà, hoặc khu vực chợ
quán, hoặc là vườn cây, hoặc là vườn rau, hoặc
ao hồ, hoặc sân trước, hoặc sau nhà, hoặc là
những nơi khác mà ở đó có vàng, bạc, v.v… cho
đến, áo, chăn; hoặc những nhu yếu phẩm
khác có chủ. Những vật này có giá trị năm tiền
hoặc quá năm tiền, nếu lấy với tâm trộm
cắp; lấy bằng cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc
chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị
trí. Vật vừa rời khỏi nguyên vị trí, thành
ba-la-di. Nếu dùng phương tiện phá hoại xứ sở
của người, hoặc cho nước ngập, hoặc
dựa vào cường lực của người quen thân,
hoặc dùng lời lẽ biện luận, mê hoặc, lừa
dối để lấy. Vừa lấy được,
thành ba-la-di. Phương tiện muốn lấy mà không lấy
được, mắc tội thâu-lan-giá.
Vị trí ghe thuyền: thuyền nhỏ, thuyền lớn, thuyền bầu,[42] thuyền độc mộc,[43] thuyền bành, thuyền buồm, thuyền h́nh con rùa,
thuyền h́nh con ba ba, thuyền bằng da, thuyền bằng
phao nổi, thuyền bằng trái cây,[44] thuyền treo,[45] thuyền cánh bè; hoặc những loại thuyền khác
mà nơi đó có vàng, bạc, v.v… cho đến, áo, chăn;
hoặc những nhu yếu phẩm khác có chủ. Những
vật này có giá trị năm tiền hoặc quá năm tiền,
nếu lấy với tâm trộm cắp; lấy bằng
cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc
di chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật vừa rời
khỏi nguyên vị trí, thành ba-la-di. Phương tiện muốn
lấy mà không lấy được, mắc tội
thâu-lan-giá. Hoặc từ bờ này đến bờ kia, từ
bờ kia đến bờ này; hoặc ngược ḍng, hoặc
xuôi ḍng; hoặc cho ch́m dưới đáy nước, hoặc
dời lên trên bờ; hoặc cởi (thuyền) rồi dời đi chỗ khác, thành
ba-la-di. Phương tiện muốn lấy mà không
được, mắc tội Thâu-lan-giá.
[574c] Vị trí nước: kho tàng chứa vàng bạc bảy báu và các thứ áo
chăn ch́m dưới đáy nước, hoặc con rái cá,
hoặc cá, hoặc ba ba, hoặc cá sấu,[46] hoặc hoa ưu-bát-la, hoa bát-đầu-ma, hoa câu-vật-đầu,
hoa phân-đà-lợi,[47] và các vật khác ở trong nước, có chủ. Những
vật này có giá trị năm tiền hoặc quá năm tiền,
nếu lấy với tâm trộm cắp; lấy bằng
cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc
di chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật vừa rời
khỏi nguyên vị trí, thành ba-la-di. Phương tiện muốn
lấy mà không lấy được, mắc tội
thâu-lan-giá. Nếu dùng phương tiện phá hoại chỗ
nước của người... cho đến, mắc tội
thâu-lan-giá, như trên đă nói.
Không đóng thuế:[48] theo pháp luật, tỳ-kheo không phải đóng thuế.
Nếu vật của bạch y cần phải đóng thuế
mà tỳ-kheo với tâm ăn trộm mang hộ cho người
khác qua khỏi chỗ đóng thuế, hoặc ném ra ngoài cửa
ải, vật trị giá năm tiền hay trên năm tiền,
hoặc chôn dấu, di chuyển, hoặc dùng lời lẽ
biện luận, mê hoặc, lừa dối, hoặc dùng chú
thuật để đưa qua... cho đến,
phương tiện, th́ phạm thâu-lan-giá, như trên.
Lấy vật kư thác của người: vật của người gởi mang đi mà đem
tâm trộm cắp, trị giá năm tiền hay trên năm
tiền; từ trên đầu dời xuống vai, từ
trên vai dời lên đầu;[49] từ bên vai hữu dời qua bên vai tả, từ bên
vai tả dời qua bên vai hữu; từ nơi tay tả dời
qua tay hữu, từ tay hữu dời qua tay tả; hoặc
ôm trong ḷng, hoặc để nơi đất mà dời khỏi
nguyên vị trí. Vừa dời khỏi vị trí cũ, thành
ba-la-di. Phương tiện... thâu-lan-giá.
Nước: các loại nước thơm, hoặc nước thuốc,
được đựng trong các đồ đựng
nước như lu, vại lớn nhỏ, hoặc các loại
dụng cụ chứa nước khác, có giá trị năm
tiền hoặc hơn năm tiền, nếu lấy với
tâm trộm cắp; lấy bằng cách lôi kéo đi chỗ
khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi
nguyên vị trí; vật vừa rời khỏi nguyên vị
trí thành ba-la-di. Phương tiện muốn lấy mà không lấy
được mắc tội thâu-lan-giá.
Tăm:[50] hoặc một hoặc hai, hoặc nhiều cây, hoặc
một nắm, một bó, một ôm, một gánh; hoặc có
ướp hương, hoặc có thoa thuốc, có giá trị
năm tiền hoặc hơn năm tiền, nếu lấy với tâm trộm
cắp; lấy bằng cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc
chôn dấu đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị
trí. Vật vừa rời khỏi nguyên vị trí, thành ba-la-di. Phương tiện muốn lấy mà
không lấy được, mắc tội thâu-lan-giá. Vườn: tất cả cỏ cây rừng rú hoa quả có chủ,
có giá trị năm tiền hoặc hơn năm tiền, nếu
lấy với tâm trộm cắp; lấy bằng cách lôi kéo
đi chỗ khác, hoặc chôn dấu đi, hoặc di chuyển
khỏi nguyên vị trí. Vật vừa rời khỏi nguyên
vị trí, thành ba-la-di. Phương tiện muốn lấy
mà không lấy được, mắc tội thâu-lan-giá.
Chúng sinh không chân: như rắn, cá, và tất cả các loài chúng sinh không
có chân khác có chủ, có giá trị năm tiền hoặc
hơn năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp;
lấy bằng cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu
đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật vừa
rời khỏi nguyên vị trí, thành ba-la-di. Phương tiện
muốn lấy mà không lấy được, mắc tội
thâu-lan-giá.
Chúng sinh hai chân: loài người, loài phi nhơn, chim và các loại chúng
sinh hai chân có chủ, có giá trị năm tiền hoặc
hơn năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp;
lấy bằng cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu
đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật vừa
rời khỏi nguyên vị trí, thành ba-la-di. Phương tiện
muốn lấy mà không lấy được, mắc tội
thâu-lan-giá.
Chúng sinh bốn chân: [575a1] như voi, ngựa,
ḅ, lạc đà, lừa, nai, dê và các loại chúng sinh bốn
chân, có chủ, có giá trị năm tiền hoặc hơn
năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp; lấy
bằng cách lôi kéo đi chỗ khác, hoặc chôn dấu
đi, hoặc di chuyển khỏi nguyên vị trí. Vật vừa
rời khỏi nguyên vị trí, thành ba-la-di. Phương tiện
muốn lấy mà không lấy được, mắc tội
thâu-lan-giá.
Chúng sinh nhiều chân: như ong, uất-châu-long-già,[51] hoặc rết,[52] hay chúng sinh nhiều chân khác, có chủ, có giá trị
năm tiền hoặc hơn năm tiền, nếu lấy
với tâm trộm cắp, phạm ba-la-di. Phương tiện
muốn lấy mà không lấy được, mắc tội
thâu-lan-giá.
Sản nghiệp chung:[53] tài vật kiếm được do sự nghiệp
chung cần phải chia chung, có giá trị năm tiền hoặc
hơn năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp,
phạm ba-la-di. Phương tiện muốn lấy mà không
lấy được, mắc tội thâu-lan-giá.
Cùng hẹn:[54] cùng với người khác giao ước, lúc nào đó
đi, lúc nào đó đến; hoặc đục vách lấy
của, hoặc giữa đường cướp lấy,
hoặc đốt cháy; từ đó được tài vật
chung. Những vật ấy có giá trị năm tiền hoặc
hơn năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp,
phạm ba-la-di. Phương tiện muốn lấy mà không
lấy được, mắc tội thâu-lan-giá.
Ḍ xét: “Tôi sẽ đến quan sát thôn
kia; hoặc thành ấp, chỗ thuyền đ̣, hang núi, hoặc
chỗ dân cư, chỗ chợ quán, nơi làm việc.” Những
tài vật thu được từ những nơi đó
thành của chung, có giá trị năm tiền hoặc hơn
năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp, phạm
ba-la-di. Phương tiện muốn lấy mà không lấy
được, mắc tội thâu-lan-giá.
Canh giữ: “Tôi sẽ canh giữ tài vật kiếm được
từ bên ngoài. Những vật kiếm được chia
chung.” Những vật ấy có giá trị năm tiền hoặc
hơn năm tiền, nếu lấy với tâm trộm cắp,
phạm ba-la-di. Phương tiện muốn lấy mà không
lấy được mắc tội thâu-lan-giá.
Canh đường: “Tôi sẽ canh gác
nơi đường. Nếu có quân của nhà vua đến,
quân của giặc đến, quân của trưởng giả
đến sẽ báo cho nhau biết. Tài vật kiếm
được sẽ chia chung.” Những vật ấy có
giá trị năm tiền hoặc hơn năm tiền, nếu
lấy với tâm trộm cắp, phạm ba-la-di.
Phương tiện muốn lấy mà không lấy
được mắc tội thâu-lan-giá.
Nếu phương tiện t́m cầu hơn năm tiền,
được hơn năm tiền, thành ba-la-di. Nếu
phương tiện t́m cầu hơn năm tiền mà
được năm tiền, thành ba-la-di. Nếu
phương tiện t́m cầu hơn năm tiền
được dưới năm tiền, thâu-lan-giá. Nếu
phương tiện t́m cầu hơn năm tiền mà không
được, thâu-lan-giá. Nếu phương tiện t́m cầu
năm tiền mà được hơn năm tiền, thành
ba-la-di. Nếu phương tiện t́m cầu năm tiền
mà được năm tiền, thành ba-la-di. Phương
tiện t́m cầu năm tiền mà được dưới
năm tiền, thành thâu-lan-giá. Phương tiện t́m cầu
năm tiền mà không được, thành thâu-lan-giá.
Phương tiện t́m cầu dưới năm tiền,
được hơn năm tiền, thành ba-la-di.
Phương tiện t́m cầu dưới năm tiền
mà được năm tiền, thành ba-la-di. Phương
tiện t́m cầu dưới năm tiền, được
dưới năm tiền, thành thâu-lan-giá. Phương tiện
t́m cầu dưới năm tiền mà không được,
đột-kiết-la.
Sai người phương tiện t́m cầu hơn
năm tiền, [575b] được
hơn năm tiền, cả hai đều phạm ba-la-di.
Phương tiện sai người t́m cầu hơn
năm tiền, được năm tiền, cả hai
đều phạm ba-la-di. Phương tiện sai người
t́m cầu hơn năm tiền, được dưới
năm tiền cả hai đều phạm thâu-lan-giá.
Phương tiện sai người t́m cầu hơn
năm tiền mà không được, cả hai đều
phạm thâu-lan-giá. Phương tiện sai người t́m cầu
năm tiền, được hơn năm tiền, cả
hai đều phạm ba-la-di. Phương tiện sai
người t́m cầu năm tiền, mà được
năm tiền, cả hai đều phạm ba-la-di.
Phương tiện sai người t́m cầu năm tiền,
mà được dưới năm tiền, cả hai
đều phạm thâu-lan-giá. Phương tiện sai
người t́m cầu năm tiền, mà không được,
cả hai đều phạm thâu-lan-giá. Phương tiện
sai người t́m cầu dưới năm tiền mà
hơn năm tiền, người lấy phạm ba-la-di;
người dạy phạm thâu-lan-giá. Phương tiện
sai người t́m cầu dưới năm tiền,
được năm tiền; người lấy phạm
ba-la-di; người dạy phạm thâu-lan-giá. Phương
tiện sai người t́m cầu dưới năm tiền,
được dưới năm tiền, cả hai đều
phạm thâu-lan-giá. Phương tiện sai người t́m cầu
dưới năm tiền mà không được, cả hai
đều phạm đột-kiết-la. Phương tiện
sai người t́m cầu năm tiền hoặc hơn
năm tiền; nhưng người được dạy
lấy vật khác; người lấy phạm ba-la-di,
người dạy phạm thâu-lan-giá. Phương tiện
sai người t́m cầu năm tiền, hoặc hơn
năm tiền; nhưng người nhận lời dạy
lại lấy vật ở chỗ khác, người lấy
phạm ba-la-di, người dạy phạm thâu-lan-giá.
Phương tiện sai người t́m cầu năm tiền
hoặc hơn năm tiền; người nhận lời
dạy là người bị sai chứ không có tâm trộm cắp,
lấy được năm tiền hoặc hơn năm
tiền, người dạy phạm ba-la-di, kẻ bị
sai không phạm. Nếu sai người lấy vật,[55] người nhận lời dạy hiểu là dạy lấy
trộm; nếu lấy được trị giá năm tiền
hoặc hơn năm tiền, người nhận lời
dạy phạm ba-la-di, người dạy không phạm. Có
chủ, biết rơ là có chủ, không cho mà lấy, trị giá
năm tiền hay hơn năm tiền, phạm ba-la-di. Nghi
là có chủ, lấy năm tiền hoặc hơn năm tiền,
phạm thâu-lan-giá. Không chủ, tưởng có chủ, lấy
năm tiền hoặc hơn năm tiền phạm
thâu-lan-giá. Nghi vật không chủ tưởng có chủ, lấy
năm tiền hoặc hơn năm tiền phạm
thâu-lan-giá. Lấy vật có chủ, tưởng có chủ,
dưới năm tiền phạm thâu-lan-giá. Lấy vật
có chủ, mà nghi, dưới năm tiền, phạm đột-kiết-la.
Không chủ tưởng là có chủ lấy dưới
năm tiền phạm đột-kiết-la. Nghi là vật
không chủ lấy dưới năm tiền phạm đột-kiết-la.Tỳ-kheo-ni,
ba-la-di. Thức-xoa-ma-na, sa-di, Sa-di-ni: đột-kiết-la,
tẫn xuất. Đó là phạm.
Sự không phạm: lấy với ư tưởng được cho, tưởng
là của ḿnh, với ư tưởng là đồ vất bỏ,
với ư tưởng tạm lấy, với ư tưởng
là thân hữu... tất cả những trường hợp
trên [575c] không phạm.
Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách. Đó là không phạm.[56]
[1] Ngũ phần, tr. 5b1; Tăng-kỳ, tr. 238a27; Thập tụng, tr. 3b8; Căn bản, tr. 635c24; Vin. iii. tr. 41.
[2] La-duyệt thành Kỳ-xà-quật sơn 羅閱城耆闍崛山. Ngũ phần (tr.5b1), Phật tại thành Vương-xá 王舍城. Căn bản (tr.635c24): Phật tại Vương-xá, bên bờ ao Yết-lan-đạc-ca, trong vườn Trúc lâm 王舍城羯闌鐸迦池竹林園中. Pāli, Vni.iii.41: rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate.
[3] Đàn-ni-ca đào sư tử 檀尼迦陶師子. Ngũ phần, Thập tụng: Đạt-ni-ca 達尼迦. Tăng kỳ: ngoă sư tử trưởng lăo Đạt-nị-già 瓦師子長老達膩伽. Căn bản: Đản-ni-ca bí-sô đào sư tử 但尼迦苾芻陶師子. Pāli: dhaniyo kumbhakāraputto, con trai người thợ gồm tên Dhaniya.
[4] Nhàn tĩnh xứ 閑靜處, cũng nói là a-lan-nhă (Pāli: arañña), thường chỉ khu rừng vắng, không thú dữ. Ngũ phần: Ất-la sơn 乙羅山. Căn bản: tại a-lan-nhă 阿蘭若. Pāli: Isigilipassa, hang Tiên nhân.
[5] Hán: toàn thành ngơa ốc 全成瓦屋. Pāli: sabbamattikāmayaṃ kūṭikaṃ, căn nhà làm toàn bằng đất sét.
[6] Ngũ phần (tr.5b21): Tỳ-kheo làm nhà toàn bằng gạch nung, phạm thâu-lan-giá.
[7] Pāli c̣n thêm: mā pacchimā janatā pāṇesu pātavyataṃ āpajjati, chớ để người sau gây hại cho các sinh vật.
[8] Ma-kiệt quốc B́nh-sa vương 摩竭國瓶沙王. Thập tụng: Ma-kiệt quốc chủ Vi-đề-hi Tử A-xà-thế vương 摩竭國主韋提希子阿闍世王. Căn bản: Ma-yết-đà quốc Thắng Thân chi tử Vị Sinh Oán Vương 摩揭陀國勝身之子未生怨王. Pāli, Vin.iii.43, chuyện xảy ra dưới triều vua Seniya Bimbisāra vua nước Magadha.
[9] Thủ tài nhân 守材人. Ngũ phần: điển tài lệnh 典材令. Tăng kỳ: mộc tượng đại thần Da-thâu-đà 木匠大臣耶輸陀. Thập tụng: tài mộc sư 材木師. Căn bản: chưởng mộc đại thần 掌木大臣. Pāli: dārugaha gaṇaka, người quản lư lâm sản.
[10] Cf. Vin.iii. 43: devagahadārūni nagarapaṭisaṅkhārikāni, gỗ được giữ cho Vua để tu sửa thành.
[11] Ngũ phần: Vũ Xá đại thần 雨舍大臣. Pāli: Vassakāra, đại thần của nước Magadha.
[12] Pāli: araññe apariggahitaṃ, vật vô chủ (không được ai thủ hộ) ở trong rừng (a-lan-nhă).
[13] Sát-lợi vương Thủy kiêu đầu chủng 剎利王水澆頭種.
[14] Ca-lâu 迦樓. Ngũ phần: Ma-kiệt đại thần 摩竭大臣. Thập tụng Căn bản: Phật sai A-nan đi hỏi những người hiểu biết trong thành về mức tội phạm theo luật Vua. V.iii. 45: purāṇavohāriko mahāmatto, (tỳ-kheo) nguyên là đại thần tư pháp.
[15] Vin. nt., ... coraṃ gahetvā hanati vā bandhati vā pabbājeti vā, “... sau khi bắt tên trộm hoặc sát hại, hoặc cột trói, hoặc trục xuất.”
[16] Vin.nt., pādena... tena kho pana samayena rājagahe pañcamāsako pādo hoti, “bằng 1 pāda... thời bấy giờ, ở Rājagaha, 1 pāda = 5 māsaka. Ngũ phần, Thập tụng: 5 tiền 五錢. Căn bản: 5 ma-sái 磨灑. Tăng-kỳ 3, Phật trực tiếp hỏi vua B́nh-sa. Vua trả lời: “19 tiền là 1 kế-lị-sa-bàn. Phân 1 kế-lị-sa-bàn (Pāli: kahāpaṇa) thành 4; trộm 1 phần, hay vật trị giá 1 phần, tội chết. “
[17] Ngũ
phần,
giới này được kết hai lần. Tăng kỳ, giới
được kết ba lần; thời gian kết giới:
Thành đạo năm thứ 6, mùa đông, nửa tháng phần
hai, ngày 10 (tức ngày 20 tháng âm lịch), sau bữa trưa,
lúc bóng sáng ngả về đông dài bằng 2 người
rưỡi. Thập
tụng, Căn bản, cũng
như Tứ phần, giới kết
một lần. Pāli, giới kết hai lần.
[18] Thôn, hay thôn lạc, tụ lạc. Pāli: gāma,
làng xóm.
[19] Pāli c̣n thêm yếu tố:
chỗ mà một thương đội đóng trại
hơn 4 tháng cũng được gọi là làng (gāma).
[20] Nhàn tĩnh xứ. Ngũ phần, Tăng kỳ, Thập tụng:
không địa 空地. Căn bản:
không nhàn xứ 空閑處. Ngũ phần:
ngoài tụ lạc, và đường đi của tụ lạc,
c̣n lại đều được gọi là không địa.
Tăng-kỳ: trừ giới của tụ lạc,
ngoài ra thảy đều là không địa. Pāli,
Vin.iii.48: araññaṃ,
khu rừng, và giải thích, trừ làng và các khu phụ cận
làng, c̣n lại đều là arañña (ṭhapetvā gāmañ ca gāmūpacārañ ca avasesaṃ araññaṃ nāma).
[21] Bất dữ thủ 不與取. Pāli: adinnaṃ nāmaṃ yaṃ
adinnaṃ anissaṭṭhaṃ apariccattaṃ rakkhittaṃ
gopitaṃ mamāyitaṃ para-pariggahitaṃ (Vin.iii.46),
vật không được cho, là những ǵ không được
cho, không được tặng, không bị vất bỏ,
được bảo vệ, được canh chừng.
[22] Đạo tâm thủ 盜心取; Ngũ phần (tr.6a22): vật sở thuộc
của người khác, được người khác bảo
vệ, không được cho mà lấy, gọi là đạo
tâm 盜心. Pāli: theyyasaṅkhātan ti theyyacitto avaharaṇa-citto,
với tâm lén trộm, với tâm cướp giựt, gọi
là (lấy) bằng cách lén trộm.
[23] Nên hiểu là “bất cứ vật ǵ.”
[24] Ngũ tiền 五錢; Tăng kỳ (tr.244b1): Vương pháp
không nhất định. Hoặc trộm nhỏ mà chết.
Hoặc trộm lớn mà không chết. Theo phép vua B́nh-sa, 19
tiền là 1 kế-lị-sa-bàn (Pāli: kahāpaṇa); 1 kế-lị-sa-bàn
phân làm tư; trộm vật giá trị ¼ th́ bị tội
chết. Căn
bản: ngũ
ma-sái 五摩灑. Pāli, Vin.iii. tr.48: pañcamāsakaṃ.
Theo nghĩa đen, 1 māsaka
(Skt. māṣaka)
là vật có giá trị trao đổi bằng 1 hạt đậu
(đỗ).
[25] Hán: tam chủng 三種, khác với trên chỉ 3
trường hợp; từ đây trở xuống, chủng
(loại), chỉ các yếu tố hội đủ để
cấu thành tội phạm.
[26] Nên hiểu là 4 yếu
tố hội đủ để cấu thành tội phạm.
[27] Thập tụng: trọng vật 重物, chỉ vật giá trị 5
tiền hoặc quá 5 tiền.
[28] Hán: xứ 處, xác định nguyên vị
trí của vật trộm để xác định yếu
tố cấu thành tội phạm.
[29] Pāli: saṅketakammaṃ, hẹn nhau ăn trộm.
[30] Pāli: ocarako, trinh sát.
[31] Pāli: oṇirakkho, người canh giữ
tài vật (do người khác kư thác), lấy trộm vật
ḿnh canh giữ.
[32] Tăng kỳ 3
(tr.245a28), 16 vật: đất, vật trong đất,
nước, vật trong nước, thuyền, vật trong
thuyền; cộ, vật trong cộ; loài bốn chân, vật
trên (thân) loài bốn chân; hai chân, vật trên (thân) loài hai chân;
không chân, vật trên (thân) loài không chân; hư không, vật
trong hư không.
[33] Địa xứ 地處. Pāli: bhūmaṭṭhaṃ.
[34] Nguyên Hán: sanh tượng
生像, Pāli, theo nghĩa
đen: jātarūpa.
[35] Địa thượng
xứ 地上處. Pāli: thalaṭṭhaṃ,
vật trên đất liền.
[36] Hán: thừa 乘, cũng đọc là thặng.
Ngũ phần: thừa thừa
vật 乘乘物, xe cộ và vật
trong xe cộ. Pāli: yānaṃ
yānaṭṭhaṃ xe cộ và vật
trong/trên xe cộ.
[37] Không xứ 空處; Ngũ phần: hư không vật 虛空物, chỉ vật
được đặt vào hư không do bởi thần lực,
hoặc vật ngậm bởi chim có chủ, hoặc vật
có chủ mà gió thổi đến. Tăng kỳ: hư không hư không trung vật
虛空虛空中物, chỉ các loại cây
lá, hoa quả. Thập tụng: các loại vải quư
giá, vải ba-đầu-ma, đầu-cầu-la,
cưu-la-xà, những thứ này được treo mà
chưa rơi xuống đất. Pāli: ākāsaṭṭhaṃ, vật
trong hư không, chỉ những vật phi hành trong hư
không (ākāsagataṃ):
chim chóc, giải lụa, vải vóc, cho đến vàng (từ
trên người) bị rơi xuống đất.
[38] Thượng xứ 上處; trong liệt kê nói là thọ
thượng 樹上. Pāli: vehāsaṭṭhaṃ,
nghĩa gần như trong hư không, nhưng được
giải thích là vật trên giường, trên ghế, trên
tượng, trên cọc, v.v...
[39] Nguyên Hán: long nha dặc 龍牙杙. Pāli: nāgadanta, ngà voi (hay gạc nai) gắn vào vách tường để máng đồ.
[40] Pāli: gāmaṭṭhaṃ, trong thôn xóm, vật được cất tại bốn chỗ: trong đất (bhūmaṭṭhaṃ), trên đất liền (thalaṭṭhaṃ), trong hư không (ākāsaṭṭhaṃ), trong khoảng trống (vehāsaṭṭhaṃ).
[41] Xứ sở 處所, chỉ phạm vi cư trú của người. Pāli: vihāraṭṭhaṃ, vật trong khu vực cư trú, có bốn chỗ, như trong thôn xóm, xem cht. trước.
[42] Bản Cao Ly: đài thuyền 臺船; Tống-Nguyên-Minh: hồ thuyền 壺船. Pāli: nāvā nāma yāya tarati, thuyền, chỉ phương tiện qua sông.
[43] Nhất mộc thuyền 一木船, loại ghe thuyền được làm từ một khúc cây/gỗ.
[44] Quả thuyền 果船.
[45] Huyền thuyền 懸船.
[46] Nguyên Hán âm: thất-thâu ma-la 失收摩羅; Pāli: suṃsumāra (Skt. śiśumāra), cá sấu.
[47] Các loại hoa trong nước: ưu-bát-la 優钵羅 (Pāli: uppala, Skt. utpala, sen/súng xanh, thanh thụy liên hoa); bát-đầu-ma 钵頭摩 (Pāli: paduma, Skt. padma, sen/súng đỏ); câu-vật-đầu 拘勿頭 (Pāli=Skt. kumuda, sen trắng, hay hồng), phân-đà-lị/lợi 分陀利 (Pāli=Skt. puṇḍarīka, sen trắng).
[48] Pāli: suṅkaghāṭa, trạm thuế (tại các cửa khẩu biên giới).
[49] Các thủ đoạn đánh tráo vật kư thác để sang đoạt.
[50] Hán: dương chi 楊支. Pāli: dantapoṇaṃ, đồ chà răng, thường được làm bằng gỗ thông.
[51] Hán: uất-châu-long-già 鬱周隆伽; Pāli: uccāliṅga, loại mao trùng (sâu róm).
[52] Hán: bách túc 百足; Pāli: satapadī.
[53] Đồng tài nghiệp 同財業.
[54] Cộng yếu 共要; Pāli: saṃketakamma.
[55] Giáo thủ vật 教取物, dạy đi lấy vật không nhất thiết bảo đi ăn trộm.
[56] Bản Hán, hết quyển 1.