TỨ PHẦN LUẬT

四分律

PHẦN THỨ NHẤT

Quyển 1

 

Hán dịch:

Tam tạng Phậtà Da-xá và Trúc-phật-niệm

Việt dịch:

Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh

Hiệu chính và chú thích:

Tỳ-kheo Thích Nguyên Chứng

Tỳ-kheo Thích Đức Thắng


 

Tán duyên khởi[1]  

[567b26]Cúi đầu lễ chư Phật,

Tôn Pháp, Tăng tỳ-kheo.

Nay diễn pháp T́-ni

Để Chánh pháp trường tồn.

Ưu-ba-li đứng đầu,[2]

Và các Thân chứng[3] khác,

Nay nói yếu nghĩa giới

Các hiền đều cùng nghe.

[567c]  Nay muốn nói thâm giới

Cho người ưa tŕ giới,

Cho người hay phúng tụng;

Lợi ích các trưởng lăo.

Nay nói mười cú nghĩa

Giới pháp của chư Phật:[4]

Khiến Tăng hỷ, an lạc,[5]

Và để nhiếp thủ Tăng,[6]

Người không tín sẽ tín,

Người đă tín tăng trưởng,

Dứt trừ kẻ phá giới,

Đưa tà đạo vào chánh,[7]

Người tàm quư an ổn,

Phật pháp được lâu dài.[8]

V́ vậy, Đấng Tối Thắng

Diễn nói Kinh Cấm giới.[9]

Các núi, Tu-di hơn;

Các sông, biển là nhất;

Các Kinh trăm ngàn ức,

Giới kinh là bậc nhất.

Muốn cầu điều tối thượng

Đời này và đời sau,

Phải tŕ giới cấm này

Trọn đời đừng hủy phạm.

Trừ kết, không chướng ngại,

Trói buộc do đây mở.

Dùng giới tự quán sát,

Như gương soi diện mạo.

Muốn tạo các pháp lành,

Đầy đủ ba món nghiệp.

Nên xét kỹ ư ḿnh

Như kinh La-vân nói.[10]

Sở dĩ lập ngôi vua,

Bởi do đời tranh tụng.

Nhân dân suy cử lên,

Pháp thường đời thượng cổ.[11]

Người phạm tội biết pháp,

Thuận theo pháp thành tựu.

Giới luật cũng như vậy;

Như vua Chánh pháp trị;

Như thầy thuốc xét bệnh,

Chữa trị tùy theo chứng.

Trị được th́ cho thuốc;

Không thể trị th́ buông.

Như sách thuốc đă nói: 

Bốn chứng không thể trị,

Mười ba có thể cứu.

Ngoài ra chẳng cần cứu.

Ví như có thây chết,

Biển cả không dung chứa,

Bị gió mạnh trôi dạt

Đưa nó lên trên bờ.

Các người làm ác hạnh

Cũng như thây chết kia

Đại chúng không dung chứa;

Do vậy nên tŕ giới.

Như giữ cửa kiên cố,

Khỏi lo mất của cải.

[568a] Nếu tường bị khoét, đổ;

Có của sẽ phải lo.

Giới Phật không khuyết, thủng;

Người phụng tŕ không lo.

Cấm giới không kiên cố

Người hủy phạm lo âu.

Chiếc bát sành lủng chảy,

Thợ gốm ḷng sầu lo.

Nếu dụng cụ hoàn bị,

Quyến thuộc đều hoan hỉ.

Tŕ giới có khuyết, thủng;

Người làm ác thường lo.

Kẻ không hủy cấm giới

Tâm thường được hoan hỉ.

Như đốm lửa tuy bé;

Đừng khinh nó là nhỏ.

Nếu gặp cỏ, cây khô

Nó đốt cháy không sót.

Ác ta làm tuy nhỏ,

Cẩn thận chớ xem thường.

Như rách y-la diệp[12],

Thường sinh làm thân rồng.

Như sư tử rống gầm,

Người say không biết sợ.

Thú nhỏ tiếng tuy bé,

Người tỉnh nghe vẫn sợ.

Người ba cấu[13] cũng vậy,

Tất cả ác không sợ.

Người trí việc ác nhỏ,

Thường ôm ḷng lo sợ.

Như khi bào chế thuốc,

Loại bỏ thứ không tốt;

Người bệnh uống được lành,

Thân khỏe được an lạc.

Người tu giới cũng vậy;

Hay tránh các ác hành,

Trừ các hoạn kết sử,

An ổn vào Niết-bàn.

Nếu muốn đi đường xa,

Phải tự bảo vệ chân.

Nếu chân bị thương tổn

Không thể đi xa được.

Cầu cơi trời, Niết-bàn;

Phương tiện thủ hộ giới.

Không hủy hoại như vậy,

Ắt vượt khỏi đường hiểm.

Như người muốn qua sông,

Dùng tay và phao nổi;

Nước sâu không sợ ch́m,

Có thể đến bờ kia.

Đệ tử Phật cũng vậy,

Tu hành gốc cấm giới,

Không bị cuốn ḍng tà,

Đắm ch́m biển sinh tử.

Ví như cung Đế Thích[14]

Các báu khắc chạm thành,

Thềm bậc bằng thất bảo,

Chỗ đi[15] của người, trời.

[568b] Điện chánh pháp[16] cũng vậy;

Bảy giác ư[17] trang nghiêm,

Cấm giới làm thềm bậc;

Chỗ đi của thánh hiền.

Như khéo học hết thảy

Các kỹ nghệ thế gian,

Sẽ được vua sủng ái;

Do vậy được sung sướng.

Người khéo hay tu học

Cấm giới do Phật nói,

Trọn không đọa ác thú,

Thường được nơi an ổn.

Như binh ḿnh đủ mạnh

Mới phá được binh người.

Chúng hiền thánh kiên cố

Sau đó phá quân ma.

Chúng Thánh nếu ḥa hợp,

Được Thế Tôn khen ngợi.

Do chúng ḥa hợp vậy

Phật pháp được lâu dài.

Như sữa mẹ từ ái

Nuôi dưỡng, giữ ǵn con;

Tất cả nạn nước, lửa,

Bảo vệ không xâm hại.

Cấm giới như từ mẫu

Giữ ǵn người hành giả

Trọn không đọa súc sinh,

Ngạ quỷ hay địa ngục.

Như có tướng dũng mănh

Khéo tập pháp chiến đấu,

Hàng phục kẻ địch kia,

Tử chiến không tiếc thân.

Con Phật cũng như vậy,

Khéo học các cấm giới;

Khi năm ấm tan hoại,

Trọn không sợ mạng hết.

Sinh ra từ giới Phật,

Mới là con chân thật.

Cũng như Ương-quật-ma,[18]

Được Như Lai kư biệt.

Nếu có người xả giới,

Đối Phật pháp là chết.

Tŕ giới như hộ mạng,

Giữ ǵn không để mất.

Ví như được ấn vua,

Đến đâu không trở ngại.

Khuyết th́ bị cật vấn;

Mất hết th́ bị trói.

Người toàn đủ giới-ấn

Đến đâu không trở ngại.

Hủy ít th́ bất định;

Hủy nhiều vào ba ác.

V́ tất cả mọi người

Hàng phục các ma quỷ,

Nên Tiên nhân ngũ thông[19]

Sáng tác các chú thuật.

V́ người tàm quư kia

Nhiếp người không tàm quư,

[568c] Nên Như Lai chế giới,

Nửa tháng thuyết một lần.

Đă thuyết ích lợi giới,

Cúi đầu lễ chư Phật.

(Đoạn kệ tụng này không phải được sáng tác khi Ca-diếp cùng Thánh chúng ngh́n vị kết tập Luật. Đây căn cứ theo sở truyền riêng của mỗi bộ trong năm bộ phân trương về sau. Tức được thuyết bởi vị đứng đầu của mỗi chúng. Nay v́ muốn phân biệt giải thích Luật tướng, cho nên trước tiên đọc kệ tán thán, sau đó giải thuyết.)[20]

 

 

  

Chương i

Ba-la-di[21]

I. Bất tịnh hạnh[22]

A. Duyên khởi

1. Sự kiện Tỳ-lan-nhã

[568c07]Một thời, đức Phật cùng đại chúng tỳ-kheo gồm năm trăm vị, du hóa đến nước Tô-la-bà,[23] tuần tự du hành đến Tỳ-lan-nhă,[24] và đêm ấy ngủ dưới bóng cây na-lân-la-tân-châu-man-đà-la.[25] Bấy giờ bà-la-môn Tỳ-lan-nhă[26] nghe sa-môn Cù-đàm, họ Thích, bỏ ḍng họ Thích đi xuất gia tầm đạo, đă từ nước Tô-la-bà dẫn chúng tỳ-kheo gồm năm trăm vị, tuần tự du hành đến Tỳ-lan-nhă này, và nghỉ đêm dưới bóng cây na-lân-la-tân-châu-man-đà-la. Sa-môn Cù-đàm này có danh xưng lớn như vầy: “Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sỹ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài ở giữa các chúng Thiên, Ma, Phạm, sa-môn, bà-la-môn công bố chánh pháp do tự thân chứng nghiệm bằng thắng trí.[27] Pháp ấy thiện xảo ở khoảng đầu, khoảng giữa, khoảng cuối, có nghĩa và vị;[28] phạm hạnh thanh tịnh, tự nhiên, được tu tập đầy đủ.[29] Lành thay! Chúng ta được chiêm ngưỡng con người Vô trước[30] như vậy. Nay ta nên đến thăm hỏi sa-môn Cù-đàm.”

Bấy giờ, bà-la-môn Tỳ-lan-nhă đi đến chỗ đức Thế Tôn. Khi đến nơi, sau khi hỏi chào thăm viếng nhau rồi, ông ngồi qua một bên.

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện thuyết pháp, khai hóa, khiến được hoan hỷ. Bà-la-môn sau khi nghe đức Phật nói pháp, ḷng sinh hoan hỷ, liền thưa: “Cúi xin đức Thế Tôn thương xót chấp thuận thỉnh cầu của con, cùng với chúng tỳ-kheo an cư ba tháng mùa mưa.”

Đức Thế Tôn và Tăng tỳ-kheo im lặng nhận lời. Bà-la-môn Tỳ-lan-nhă biết đức Thế Tôn đă im lặng nhận lời thỉnh của ḿnh, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, nhiễu Phật rồi cáo lui.

Thế Tôn cùng chúng tỳ-kheo gồm năm trăm vị nhận lời an cư ba tháng mùa mưa. Bấy giờ có người lái ngựa từ nước Ba-ly[31] lùa năm

 

trăm thớt ngựa đến Tỳ-lan-nhă và ở đây đóng trại chín mươi ngày mùa hạ.

Thời điểm này gặp lúc mất mùa, lúa gạo quư giá, nhân dân đói khát, xương trắng ngổn ngang, khất thực khó được. Bà-la-môn Tỳ-lan-nhă tuy thỉnh Như Lai và Tăng tỳ-kheo an cư ba tháng, nhưng hoàn toàn không cúng dường, cung cấp những nhu cầu cần thiết. Tại sao vậy? [569a] V́ bị ám bởi Ma Ba-tuần.

Bấy giờ, các tỳ-kheo ở Tỳ-lan-nhă khất thực không được, nên phải đến khất thực nơi người lái ngựa kia. Lúc ấy, người lái ngựa nghĩ: “Hiện nay mất mùa, lúa gạo khan hiếm, nhân dân đói khát, khất thực khó được, xương trắng ngổn ngang. Các tỳ-kheo kia khất thực không được nên đến đây. Nay ta có nên dùng lúa mạch của ngựa mỗi ngày bố thí cho tỳ-kheo năm thăng, Thế Tôn một đấu hay chăng?” Nghĩ như vậy rồi, mỗi ngày ông bố thí cho các tỳ-kheo năm thăng lúa mạch của ngựa, Thế Tôn một đấu.

Đức Thế Tôn nhận được phần lúa ngựa rồi, trao cho A-nan. A-nan khiến người xay làm cơm khô để dâng Phật. Đức Phật dùng cơm khô, c̣n các tỳ-kheo nấu chín rồi mới ăn. Do đó, giữa đức Phật cùng các tỳ-kheo thức ăn có khác.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Đại Mục-liên đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi lui ngồi một bên, thưa:

“Kính bạch Đại đức, hiện nay lúa gạo khan hiếm, nhân dân đói khát, khất thực khó được; thực phẩm của các tỳ-kheo rất là thô xấu, nên tất cả đều bị gầy ốm. Nếu đức Thế Tôn cho phép, các tỳ-kheo có thần túc đến nước Uất-đơn-việt[32] lấy thức ăn bằng gạo của loại lúa chín mọc tự nhiên,[33] th́ chúng con sẽ đi.”

Đức Phật bảo Tôn giả Mục-liên:

“Các vị tỳ-kheo có thần túc th́ có thể đến đó để lấy thức ăn bằng gạo lúa tự nhiên, c̣n các vị tỳ-kheo không có thần túc th́ thế nào?”

Tôn giả Mục-liên thưa:

“Kính bạch đức Thế Tôn, các vị có thần túc th́ họ tùy ư đến, c̣n các vị không có thần túc th́ con sẽ dùng sức thần túc của con để giúp các vị đến đó.”[34]

Đức Phật bảo Tôn giả Mục-liên: “Thôi đi, thôi đi, đừng nói vậy! Tại sao? Các ông là những con người[35] đă chứng đắc thần túc th́ có thể làm như vậy. C̣n các vị tỳ-kheo ở đời vị lai sẽ làm sao?

2. Xá-lợi-phất thưa hỏi

Lúc bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất ở nơi nhàn tĩnh, nghĩ như vầy: “Vị Đẳng Chánh Giác nào có phạm hạnh tu tập và Phật pháp tồn tại lâu dài? Vị Đẳng Chánh Giác nào có phạm hạnh tu tập và Phật pháp không tồn tại lâu dài?” Tôn giả Xá-lợi-phất từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y phục, đến chỗ Thế Tôn, đầu mặt đảnh lễ, rồi ngồi qua một bên. Một lát sau, Tôn giả rời chỗ ngồi, đứng dậy thưa:

“Kính bạch đức Thế Tôn, vừa rồi ở chỗ nhàn tĩnh, con nghĩ: ‘Vị Đẳng Chánh Giác nào có phạm hạnh tu tập và Phật pháp tồn tại lâu dài? Vị Đẳng Chánh Giác nào có phạm hạnh tu tập và Phật pháp không tồn tại lâu dài?’ Cúi xin đức Thế Tôn khai thị cho con.”

Đức Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:

“Đức Phật Tỳ-bà-thi, đức Phật Thức-khí, đức Phật Câu-lưu-tôn, đức Phật Ca-diếp, các vị Phật này có phạm hạnh tu tập và Phật pháp tồn tại lâu dài. Pháp của Phật Tùy-diếp, Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, th́ không tồn tại lâu dài.”


Tôn giả Xá-lợi-phất bạch Phật:

“Do nhân duyên ǵ mà [569b] Phật Tỳ-bà-thi,[36] đức Phật Thức,[37] đức Phật Câu-lưu-tôn,[38] đức Phật Ca-diếp,[39] các vị Phật này có phạm hạnh tu tập và Phật pháp tồn tại lâu dài; Do nhân duyên ǵ mà Pháp của Phật Tùy-diếp,[40] Phật Câu-na-hàm Mâu-ni,[41] có phạm hạnh tu tập th́ không tồn tại lâu dài?”[42]

Đức Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:

“Đức Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, đức Phật Tùy-diếp không công bố pháp rộng răi như: Khế kinh, Kỳ-dạ kinh, Thọ kư, Kệ kinh, Cú kinh, Nhân duyên kinh, Bản sinh kinh, Thiện đạo kinh, Phương đẳng kinh, Vị tằng hữu kinh, Thí dụ kinh, Ưu-bà-đề-xá kinh.[43] Không v́ người rộng nói Khế kinh, cho đến Ưu-bà-đề-xá kinh, không kết giới cũng không thuyết giới, cho nên các đệ tử mỏi mệt nhàm chán,[44] v́ vậy cho nên pháp không tồn tại dài lâu. Khi đức Thế Tôn kia biết tâm các đệ tự mỏi mệt nhàm chán th́ chỉ dạy như vầy:[45] ‘Điều này nên niệm; điều này không nên niệm. Điều này nên tư duy; điều này không nên tư duy. Điều này nên đoạn; điều này nên thành tựu và an trú.’

“Này Xá-lợi-phất, xa xưa về trước, đức Phật Tùy-diếp cùng với một ngàn tỳ-kheo sống trong rừng Kinh sợ.[46] Này Xá-lợi-phất, nếu có người nào chưa ĺa dục mà vào trong rừng kia, th́ lông trong người đều bị dựng ngược lên, cho nên gọi là rừng Kinh sợ.[47]

“Lại nữa, này Xá-lợi-phất, đức Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, đức Phật Tùy-diếp Như lai, là bậc Chí Chơn, Đẳng Chánh Giác, quán trong tâm một ngàn vị tỳ-kheo, thấy họ mỏi mệt nhàm chán, bèn nói pháp: ‘Điều này nên niệm; điều này không nên niệm. Điều này nên tư duy; điều này không nên tư duy. Điều này nên đoạn; điều này nên thành tựu và an trú.’

“Này Xá-lợi-phất, nên biết, lúc bấy giờ đức Phật kia và các vị Thanh văn c̣n ở đời th́ Phật pháp được truyền rộng răi. Nhưng sau khi đức Phật kia và các Thanh văn[48] diệt độ, mọi người trong thế gian đời sau, đủ mọi thành phần khác nhau, đủ các ḍng họ, đủ các gia tộc khác nhau xuất gia. Đó là lư do khiến cho Phật pháp mau diệt, không tồn tại lâu dài. Tại sao vậy? V́ không được thâu nhiếp bằng kinh pháp.

“Này Xá-lợi-phất, ví như các loại hoa rải trên mặt bàn, gió thổi th́ bay. Tại sao vậy? V́ không dùng sợi chỉ xâu nó lại, cho nên như vậy.

“Này Xá-lợi-phất, đức Phật kia và các chúng Thanh văn khi c̣n ở đời th́ Phật pháp lưu bố. Nhưng sau khi đức Phật kia và chúng Thanh văn diệt độ, người trong thế gian, đủ mọi thành phần khác nhau, đủ các ḍng họ, đủ các gia tộc khác nhau xuất gia khiến cho chánh pháp mau diệt, không tồn tại lâu dài. Tại sao? V́ không được thâu nhiếp bằng kinh pháp.”

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:

“Đức Phật Tỳ-Bà-thi, đức Phật Thức, đức Phật Câu-lưu-tôn, đức Phật Ca-diếp v́ các đệ tử rộng nói kinh pháp, từ Khế kinh cho đến Ưu-bà-xá kinh, cũng kết giới, cũng thuyết giới. Khi tâm chúng đệ tử [569c] mỏi mệt nhàm chán; đức Phật biết tâm của họ mỏi mệt nhàm chán, chỉ dạy như vầy: ‘Điều này nên niệm; điều này không nên niệm. Điều này nên tư duy; điều này không nên tư duy. Điều này nên đoạn; điều này nên thành tựu và an trú.’

“Như vậy, này Xá-lợi-phất, các đức Phật kia và chúng Thanh văn khi c̣n ở đời th́ Phật pháp lưu bố. Nếu các đức Phật kia và chúng Thanh văn sau khi diệt độ; người trong thế gian đời sau, đủ mọi thành phần khác nhau, đủ các ḍng họ, đủ các gia tộc khác nhau xuất gia, không khiến cho Phật pháp mau diệt.”

Tại sao vậy? V́ được thâu nhiếp bằng kinh pháp.

“Này Xá-lợi-phất, ví như các loại hoa rải trên mặt bàn được xâu lại bằng sợi chỉ; tuy bị gió thổi nhưng không bị phân tán. Tại sao vậy? Nhờ sợi chỉ khéo xâu giữ lại. Cũng vậy, này Xá-lợi-phất, đức Phật kia cùng chúng Thanh văn ở đời rộng nói Phật pháp, như trên.”

“Này Xá-lợi-phất, do nhân duyên này mà Phật pháp thời đức Phật Tỳ-bà-thi, cho đến đức Phật Ca-diếp được tồn tại lâu dài, và cũng do nhân duyên này mà Phật pháp thời đức Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, đức Phật Tùy-diếp không tồn tại lâu dài.”

Lúc bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất từ chỗ ngồi đứng dậy, mặc y trống vai bên hữu, đầu gối hữu chấm đất, chắp tay bạch Phật:

“Kính bạch đức Thế Tôn, nay chính là lúc. Cúi xin đức Đại Thánh v́ các tỳ-kheo kết giới, thuyết giới, khiến cho phạm hạnh được tu tập, pháp được tồn tại lâu dài.” Đức Thế Tôn bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:

“Hăy thôi![49] Như Lai tự biết thời. Này Xá-lợi-phất, v́ sao Như Lai chưa v́ các tỳ-kheo kết giới? V́ trong chúng tỳ-kheo chưa có ai phạm pháp hữu lậu. Nếu có người nào phạm pháp hữu lậu, nhiên hậu Thế Tôn mới v́ các tỳ-kheo kết giới để đoạn pháp hữu lậu kia. Này Xá-lợi-phất, khi tỳ-kheo chưa được lợi dưỡng th́ chắc chắn chưa sinh pháp hữu lậu. Nếu tỳ-kheo được lợi dưỡng th́ pháp hữu lậu liền sinh. Nếu pháp hữu lậu đă sinh, Thế Tôn mới v́ các tỳ-kheo kết giới, v́ muốn khiến cho họ đoạn pháp hữu lậu vậy.

“Này Xá-lợi-phất, tỳ-kheo chưa sinh pháp hữu lậu chỉ v́ chưa có danh tiếng, chưa ai biết đến nhiều, chưa có tiếng tăm nhiều, chưa có tài nghiệp nhiều. Nếu tỳ-kheo được danh tiếng, cho đến nhiều tài nghiệp th́ pháp hữu lậu liền sinh. Nếu có pháp hữu lậu sinh, nhiên hậu Thế Tôn sẽ v́ đệ tử kết giới để đoạn pháp hữu lậu. Này Xá-lợi-phất, hăy thôi! Như lai tự biết thời.”

3. Nhân duyên Tu-đề-na: Kết giới lần thứ nhất

Bấy giờ Thế Tôn ở tại Tỳ-xá-ly. Khi ấy, có Tu-đề-na Tử ở thôn Ca-lan-đà.[50] Trong thôn này, ông là người có nhiều tiền của, lắm đồ châu báu, với tín tâm kiên cố, xuất gia hành đạo.

[570a1] Vào lúc bấy giờ, lúa thóc khan hiếm, các tỳ-kheo khất thực khó được. Tu-đề-na Tử tự nghĩ như vầy: “Hiện nay mất mùa, các tỳ-kheo khất thực khó được. Ta nên hướng dẫn các tỳ-kheo đến thôn Ca-lan-đà để khất thực. Các tỳ-kheo sẽ nhân bởi ta mà được lợi dưỡng lớn để có thể tu phạm hạnh. Cũng khiến cho ḍng họ ta tích cực hành bố thí, làm các phước đức.” Nghĩ như vậy rồi, Tu-đề-na Tử liền dẫn các tỳ-kheo về thôn Ca-lan-đà.

Mẹ của ông Tu-đề-na nghe con ḿnh dẫn các tỳ-kheo về lại bổn thôn, liền đến đón. Khi đến chỗ con, bà nói với con trai của ḿnh:

“Con nên bỏ đạo, trở về làm người bạch y. Tại sao vậy? V́ cha con đă qua đời, mẹ sống đơn độc, sợ gia tài sẽ rơi vào cửa nhà quan. Của cải của cha con vốn đă nhiều, huống là tài sản của tổ phụ để lại vô lượng. Thật là đáng tiếc! Do vậy, nay con hăy bỏ đạo để trở về đời.”

Tu-đề-na trả lời mẹ:

“Con không thể bỏ đạo để làm những việc phi pháp này. Hiện tại con rất thích phạm hạnh, tu đạo vô thượng.”

Ba lần người mẹ bảo như vậy, cũng ba lần người con thưa:

“Không thể bỏ đạo để trở về thế tục được!”

Bà mẹ liền bỏ ra về. Bà ta đến chỗ người con dâu, nói:

“Khi nào nguyệt kỳ của con đến, tin cho mẹ biết.”

Người dâu tự biết nguyệt kỳ sắp đến, nên đến thưa với mẹ chồng:

“Thưa đại gia, nguyệt kỳ của con sắp đến.”

Bà mẹ chồng bảo: “Con nên dùng y phục và nữ trang của ngày cưới trang điểm thân con rồi đến đây.”

Người con dâu theo lời mẹ chồng dạy, liền tự trang điểm thân ḿnh; rồi cùng mẹ đến chỗ người chồng. Đến nơi, bà mẹ chồng nói với con bà:

“Nay đă đến lúc, con phải bỏ đạo về đời. Tại sao vậy? V́ nếu con không bỏ đạo, tài vật của nhà ta sẽ bị thu vào cửa nhà quan.”

Người con thưa với mẹ: “Con không thể bỏ đạo!”

Sau khi ba lần nói như vậy, bà nói với con trai:

“Hôm nay hoa thủy của vợ con đă xuất. Con nên lưu lại đứa con để ḍng dơi của con không bị đứt.”

Người con thưa: “Việc này rất dễ. Con có thể làm được.”

Lúc bấy giờ, trước khi Phật chế giới, Ca-lan-đà Tử không thấy được dục là ô uế, liền nắm tay người vợ cũ dẫn vào trong vườn, nơi chỗ khuất vắng, ba lần làm việc bất tịnh. Ngay khi ấy, trong vườn có con quỷ vừa mệnh chung liền gá vào thai. Nương nơi thai đủ chín tháng, sinh ra một hài nhi nam, dung mạo đoan chánh, có một không hai trên đời, được đặt tên là Chủng Tử,[51] các căn đầy đủ. Theo thời gian, Chủng Tử khôn lớn, cạo tóc, mặc cà sa, với tín tâm vững chắc xuất gia học đạo, tinh cần không biếng nhác, đắc quả A-la-hán, thần thông biến hóa, oai đức vô lượng, cho nên có hiệu là Tôn giả Chủng Tử.[52]

Tu-đề-na tập oai nghi của sa-môn, không việc ǵ không biết, gặp việc ǵ cũng làm được; [570b] và cũng có thể dạy bảo người khác.

Từ khi Tu-đề-na làm việc bất tịnh rồi, về sau thường ôm ḷng sầu ưu. Các đồng học thấy vậy hỏi:

“Thầy có điều ǵ sầu ưu phải chăng? Thầy tu phạm hạnh lâu, oai nghi lễ tiết không việc ǵ không biết, tại sao sầu ưu? Hay là không thích sống đời sống phạm hạnh nữa?”

Tu-đề-na nói: “Tôi rất thích đời sống phạm hạnh. Nhưng gần đây, nơi chỗ khuất vắng, tôi đă phạm ác hạnh; cùng vợ cũ[53] làm việc bất tịnh, nên ưu sầu.”

Các tỳ-kheo nói với Tu-đề-na:

“Tại sao thầy lại làm việc xấu như vậy? Trong pháp thanh tịnh của đức Như Lai, ở trong dục mà không dục, ở trong cấu bẩn mà không cấu bẩn, hay đoạn trừ khát ái, phá bỏ hang ổ,[54] trừ các trói buộc, ái diệt tận chứng Niết-bàn. Tại sao nay ở trong pháp thanh tịnh này Thầy lại cùng vợ cũ làm việc bất tịnh ?”

Lúc bấy giờ, các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, cúi đầu lễ dưới chân, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này tŕnh bày đầy đủ lên đức Thế Tôn. Lúc ấy đức Thế Tôn do nhân duyên này mà tập hợp các tỳ-kheo.

Đức Thế Tôn có khi biết mà vẫn hỏi, có khi biết mà không hỏi; đôi khi đúng lúc th́ hỏi, đôi khi đúng lúc mà không hỏi; chỉ hỏi khi nào hợp nghĩa[55], không hợp nghĩa th́ không hỏi. Bấy giờ đức Thế Tôn biết đúng thời, hợp nghĩa, cho nên hỏi Tu-đề-na: “Thật sự ông có cùng vợ cũ làm hạnh bất tịnh hay không?”

“Đúng như vậy, bạch Thế Tôn. Con đă phạm bất tịnh hạnh.”

Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách:

“Việc ông làm là sai, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận. Ông đă làm điều chẳng nên làm.

“Tu-đề-na, tại sao ở trong pháp thanh tịnh này, (như trên, cho đến) ái diệt tận chứng Niết-bàn, lại cùng vợ cũ làm hạnh bất tịnh?”

Đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Thà để nam căn vào trong miệng con rắn độc, không nên để vào nữ căn. Tại sao vậy? V́ duyên này không đọa nơi đường ác, c̣n nếu phạm vào người nữ th́ thân hoại

 

mạng chung, đọa vào ba đường ác. Tại sao vậy? Ta đă dùng vô số phương tiện nói pháp đoạn dục, đoạn dục tưởng, diệt dục niệm, trừ tan sức nóng của dục, vượt ra khỏi sự kết buộc của ái. Ta đă dùng vô số phương tiện nói, dục như lửa, dục như bó đuốc cỏ khô trong tay, cũng như trái cây, lại như vật tạm mượn, cũng như xương khô, như cục thịt, như cảnh mộng, như mũi dao nhọn được dẫm lên, như đồ gốm mới làm đựng nước để dưới nắng sáng giữa ngày, như đầu con rắn độc, như con dao xoay ṿng, như trên cọc nhọn, như ngọn lao bén đâm.[56] Dục rất là nhớp nhúa, rất là xấu ác, là điều mà Phật quở trách.

“Tu-đề-na, ngươi ở trong giáo pháp thanh tịnh của Ta, (như trên, cho đến) ái diệt tận chứng Niết-bàn, lại cùng vợ cũ làm hạnh bất tịnh.”

[570c01] Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách, rồi bảo các tỳ-kheo: “Tu-đề-na là người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ phạm giới đầu tiên. Từ nay trở đi, Ta v́ các tỳ-kheo kết giới, nhắm đến mười cú nghĩa:[57] 1. Nhiếp thủ đối với Tăng. 2. Khiến cho Tăng hoan hỷ. 3. Khiến cho Tăng an lạc. 4. Khiến cho người chưa tín th́ có tín. 5. Người đă có tín khiến tăng tưởng. 6. Để điều phục người chưa được điều phục. 7. Người có tàm quư được an lạc. 8. Đoạn hữu lậu hiện tại. 9. Đoạn hữu lậu đời vị lai. 10. Chánh pháp được tồn tại lâu dài.[58]

“Muốn thuyết giới, nên thuyết như vầy:

Tỳ-kheo nào, phạm bất tịnh hạnh, làm pháp dâm dục, tỳ-kheo ấy là kẻ ba-la-di, không được sống chung.”

Đức Thế Tôn đă kết giới như vậy cho các tỳ-kheo.

4. Nhân duyên Bạt-xà Tử: Kết giới lần thứ hai

Bấy giờ, tỳ-kheo Bạt-xà Tử[59] sầu ưu không muốn sống tịnh hạnh, trở về nhà cùng với vợ cũ làm việc bất tịnh. Sau đó suy nghĩ, “Đức Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới:

‘Tỳ-kheo nào phạm bất tịnh hạnh, hành pháp dâm dục, tỳ-kheo ấy là kẻ ba-la-di, không được sống chung.’ Song ta v́ sầu ưu, không muốn sống tịnh hạnh, trở về nhà cùng vợ cũ làm việc bất tịnh. Như vậy ta có phạm ba-la-di không? Ta sẽ làm như thế nào đây?” Bèn nói với các đồng học:

“Thưa Trưởng lăo, đức Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới: ‘Tỳ-kheo nào, phạm bất tịnh hạnh, làm pháp dâm dục, Tỳ-kheo ấy là kẻ ba-la-di, không được sống chung.’ Song tôi v́ sầu ưu, không muốn sống tịnh hạnh, trở về nhà cùng vợ cũ hành bất tịnh hạnh. Như vậy tôi có phạm ba-la-di không? Tôi sẽ làm như thế nào đây? Lành thay, Trưởng lăo v́ tôi đem việc này bạch lên đức Phật. Tùy theo đức Phật dạy như thế nào, tôi sẽ phụng hành như thế ấy.”

Lúc bấy giờ, các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn.

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn v́ nhân duyên này tập hợp các Tăng tỳ-kheo. Ngài dùng vô số phương tiện quở trách tỳ-kheo Bạt-xà Tử:

“Việc ông làm là sai, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận. Ông đă làm điều chẳng nên làm.

“Thế nào, người ngu si, không thích tịnh hạnh, trở về nhà cùng vợ cũ làm việc bất tịnh? Vừa mới để vào là ba-la-di. Ông là người ngu si, phạm ba-la-di, không được sống chung. Cho nên, này các tỳ-kheo, nếu có ai không thích tịnh hạnh, cho phép xả giới về nhà. Sau đó, muốn xuất gia lại, ở trong Phật pháp tu tịnh hạnh, nên độ cho xuất gia, thọ đại giới. Từ nay về sau [571a01] nên thuyết giới như vầy:

“Tỳ-kheo nào, cùng với tỳ-kheo đồng giới, không xả giới, giới sút kém không tự phát lồ,[60] phạm bất tịnh hạnh, làm pháp dâm dục, tỳ-kheo ấy là kẻ ba-la-di, không được sống chung.”

Thế Tôn v́ các tỳ-kheo kết giới như vậy.

5. Nhân duyên vượn cái: Kết giới lần thứ ba

Tỳ-kheo khất thực[61] sống ở trong rừng.

Trong khu rừng này, trước đó có một con vượn cái[62] đă ở. Tỳ-kheo khất thực này mỗi khi vào thôn khất thực, rồi trở về lại rừng, ăn xong, mang thức ăn c̣n dư cho con vượn cái này ăn. Cứ như vậy, dần dần thuần phục được nó. Nó đi theo sau tỳ-kheo, thậm chí dùng tay bắt, nó vẫn không chạy. Tỳ-kheo này liền bắt con vượn cái cùng làm việc bất tịnh.

Bấy giờ, có một số đông tỳ-kheo đi xem xét các trú xứ,[63] tuần tự đến khu rừng này. Lúc ấy, con vượn cái ở trước mặt các tỳ-kheo, xoay lưng lại, bày tỏ dấu hiệu hành dâm. Các tỳ-kheo suy nghĩ:

“Con vượn cái này ở trước mặt chúng ta, xoay lưng lại, bày tỏ dấu hiệu hành dâm, đâu không cùng với tỳ-kheo khác làm việc bất tịnh hay chăng?” Các tỳ-kheo cùng bảo nhau ẩn ḿnh nơi chỗ vắng để ŕnh xem.

Tỳ-kheo khất thực kia trở lại khu rừng, ăn xong, dùng thức ăn dư cho con vượn. Con vượn ăn rồi, cùng làm việc bất tịnh. Các tỳ-kheo thấy vậy, liền đến nói với tỳ-kheo khất thực ấy rằng:

“Đức Như Lai há không chế cấm tỳ-kheo không được làm việc bất tịnh hay chăng?”

Vị tỳ-kheo kia bảo:

“Đức Như Lai chế cấm nam phạm với nữ chứ không chế cấm với súc sinh.”

Các tỳ-kheo nghe nói lời như vậy rồi, đến chỗ đức Phật, đảnh lễ, đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn v́ nhân duyên này liền tập hợp Tăng tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện quở trách vị tỳ-kheo khất thực kia:

“Tỳ-kheo, sao lại cùng với vượn cái làm việc bất tịnh? Vừa để vào liền phạm ba-la-di. Nay muốn thuyết giới, nên thuyết như vầy:

B. Giới văn

Tỳ-kheo nào, cùng với tỳ-kheo đồng giới, không hoàn giới, giới sút kém không tự phát lồ, cho đến cùng với loài súc sinh, phạm bất tịnh hạnh; Tỳ-kheo ấy là kẻ ba-la-di, không được sống chung.

C. Thích nghĩa

Tỳ-kheo nào: gồm có tỳ-kheo danh tự, tỳ-kheo tương tợ, tỳ-kheo tự xưng, tỳ-kheo thiện lai, tỳ-kheo khất cầu,[64] tỳ-kheo mặc y cát tiệt,[65] tỳ-kheo phá kết sử, tỳ-kheo thọ đại giới do bạch tứ yết-ma như pháp thành tựu hợp cách.[66] Trong số các tỳ-kheo này, tỳ-kheo ở đây đề cập đến là tỳ-kheo thọ đại giới bạch tứ yết-ma như pháp thành tựu hợp cách. Trụ trong pháp tỳ-kheo đó gọi là tỳ-kheo.

Cùng với tỳ-kheo:[67] ở đây chỉ các tỳ-kheo khác thọ đại giới bạch tứ yết-ma [571b1] như pháp thành tựu hợp cách, trụ trong pháp tỳ-kheo. Đó là nghĩa ‘cùng với tỳ-kheo.’

Thế nào gọi là đồng giới?[68] Đối với giới mà Ta (Phật) đă kết cho các đệ tử, thà chết chứ không phạm. Trong đây, cùng với các tỳ-kheo khác duy nhất giới, đồng nhất giới, b́nh đẳng giới; đó gọi là đồng giới.

Thế nào gọi là không xả giới? Xả giới khi đang điên cuồng; xả giới trước người điên cuồng; xả giới khi đau đớn; xả giới trước người đau đớn; xả giới khi điếc; xả giới khi câm; xả giới khi câm điếc; xả giới trước người câm; xả giới trước người điếc; xả giới trước người câm điếc. Người trung quốc xả giới trước người biên địa; người biên địa xả giới trước người trung quốc. Chỗ không tĩnh, tưởng là tĩnh mà xả giới. [69] Tĩnh tưởng là không tĩnh mà xả giới. Giỡn cười xả giới. Trước trời, rồng, dạ xoa, ngạ quỷ, người ngủ, người chết, người không biết ǵ, không tự nói hoặc nói mà người nghe không hiểu..., các trường hợp như vậy không gọi là xả giới.

Thế nào gọi là xả giới? Nếu tỳ-kheo không thích tu phạm hạnh, muốn được trở về nhà, nhàm chán pháp tỳ-kheo, thường ôm ḷng hổ thẹn,[70] tham thú vui tại gia, tham muốn pháp ưu-bà-tắc, hoặc chỉ niệm tưởng pháp sa-di,[71] hoặc ưa pháp ngoại đạo, ưa pháp đệ tử ngoại đạo,[72] ưa pháp phi sa-môn, phi Thích tử, bèn nói lên lời nói như vầy: “Tôi xả Phật, xả Pháp, xả tỳ-kheo Tăng, xả Ḥa-thượng, xả đồng Ḥa-thượng, xả A-xà-lê, xả đồng A-xà-lê, xả các phạm hạnh,[73] xả giới, xả luật, xả học sự, nhận pháp tại nhà. Tôi làm tịnh nhân. Tôi làm ưu-bà-tắc. Tôi làm sa-di. Tôi làm ngoại đạo. Tôi làm đệ tử ngoại đạo. Tôi làm phi sa-môn, phi Thích tử.”

Hoặc lại nói như vầy: “Thôi, không cần Phật. Phật đối với tôi đâu có ích ǵ. Tôi ĺa bỏ chỗ Phật.” Cho đến đối với học sự cũng nói như vậy. Hoặc lại nói những lời hủy báng Phật, Pháp và Tăng cho đến học sự; khen ngợi gia nghiệp, cho đến phi sa-môn, phi Thích tử. Bằng lời nói như vậy một cách rơ ràng để nói th́ gọi là xả giới.

Giới sút kém:[74] hoặc có giới sút kém mà không xả giới, hoặc có giới sút kém mà xả giới.

Tại sao gọi là giới sút kém mà không xả giới? Nếu tỳ-kheo sầu ưu, không thích phạm hạnh, muốn được về nhà, nhàm chán pháp tỳ-kheo, ôm ḷng xấu hổ, ư muốn ở nhà, cho đến ưa muốn làm pháp phi sa-môn, phi Thích tử, bèn nói như vầy: “Tôi nghĩ đến cha mẹ, anh em, chị em, vợ con, xóm làng, thành ấp, [571c1] ruộng vườn, ao hồ. Tôi muốn xả Phật, Pháp, Tăng, cho đến học sự.” Liền muốn thọ tŕ gia nghiệp, cho đến, phi sa-môn, phi Thích tử. Như vậy gọi là giới sút kém mà không xả giới.

Thế nào gọi là giới sút kém mà xả giới? Nếu khởi tư duy như vầy: ‘Tôi muốn xả giới.’ Rồi xả giới. Như vậy gọi là giới sút kém mà xả giới.

Bất tịnh hạnh:[75] là pháp dâm dục.

Cho đến cùng với súc sinh: là chỉ đối tượng có thể hành dâm.

Thế nào là ba-la-di?[76] Ví như cái đầu của con người đă bị chặt th́ không thể mọc trở lại. Tỳ-kheo cũng như vậy, người phạm pháp này không c̣n thành tỳ-kheo nữa, cho nên gọi là ba-la-di.

Thế nào gọi là không được sống chung?[77] Có hai trường hợp gọi là được sống chung: đồng một yết-ma, đồng một thuyết giới. Không được cùng chung làm hai việc này cho nên gọi không được sống chung.

D. Phạm tướng

Có ba trường hợp hành bất tịnh hạnh thành ba-la-di: loài người, phi nhơn, súc sinh.

Lại có năm loại hành bất tịnh hạnh phạm ba-la-di: thuộc loài người là phụ nữ, đồng nữ, có hai h́nh,[78] huỳnh môn,[79] người nam. Nơi năm đối tượng này hành bất tịnh hạnh phạm ba-la-di.

Đối với ba loại giống cái hành bất tịnh hạnh, thành ba-la-di. Những ǵ là ba? Người nữ, phi nhân[80] nữ, súc sinh cái. Đối với ba đối tượng này hành bất tịnh hạnh, thành ba-la-di. Ba loại đồng nữ, ba loại nhị h́nh, ba loại bất năng nam, ba loại người nam; đối với những loại này hành bất tịnh hạnh, thành ba-la-di. Cũng như vậy, phạm ba nơi của người phụ nữ, thành ba-la-di. Ba nơi là, đường đại tiện, đường tiểu tiện và miệng. Cũng vậy, ba nơi của loài phi nhân cái, súc sinh giống cái, đồng nữ loài người, đồng nữ loài phi nhơn, súc sinh mới lớn, người nhị h́nh, phi nhân nhị h́nh, súc sinh nhị h́nh.

Hành bất tịnh hạnh ở hai nơi của người huỳnh môn, thành ba-la-di. Hai nơi là đường đại tiện và miệng. Phi nhân huỳnh môn, súc sinh huỳnh môn cũng vậy. Ở hai nơi loại bất năng nam, súc sinh đực cũng như vậy.

Tỳ-kheo với tâm dâm, hướng đến nơi đường đại tiện, đường tiểu tiện và miệng của người phụ nữ; vừa vào th́ phạm; không vào không phạm. Hai bên có vật cách; hoặc bên có vật cách, bên kia không; hoặc bên kia không có vật cách, bên này có; hoặc cả hai bên đều không có vật cách; thảy đều thành ba-la-di.

Nếu tỳ-kheo với ư dâm, hướng đến ba nơi của hạng phi nhân nữ, súc sinh cái, đồng nữ người, đồng nữ phi nhân, súc sinh nhị h́nh cũng như vậy. Hay hướng đến hai nơi của người huỳnh môn, phi nhân huỳnh môn, súc sinh huỳnh môn; người nam, phi nhân nam; súc sinh đực lại cũng như vậy.

Nếu tỳ-kheo với ư dâm hướng đến đường đại tiện, đường tiểu tiện và miệng của người phụ nữ đang ngủ hoặc chết [572a] mà h́nh chưa hư hoại hay phần nhiều chưa hư hoại, vừa để vào liền phạm, không vào th́ không phạm. Có vật ngăn cách hay không vật ngăn cách cũng vậy... cho đến, người nam cũng như vậy.

Nếu tỳ-kheo bị oan gia áp bức đưa đến chỗ người phụ nữ, cưỡng đem nam căn đặt vào trong ba nơi. Khi mới để vào có cảm giác thích thú, khi vào rồi, khi ra cũng như vậy, phạm ba-la-di. Khi mới vào, và khi vào rồi có cảm giác thích thú, nhưng khi ra th́ không, vẫn phạm ba-la-di. Khi mới vào, khi vào rồi không cảm thấy thích thú, nhưng khi ra có cảm thọ lạc, cũng phạm ba-la-di. Khi vào thọ lạc, khi vào rồi và khi ra không thọ lạc cũng mắc tội ba-la-di. Khi mới vào không thọ lạc, khi vào rồi và khi ra có thọ lạc, mắc tội ba-la-di. Khi mới vào và khi vào rồi không thọ lạc, khi ra thọ lạc, mắc tội ba-la-di. Có vật ngăn cách, không vật ngăn cách cũng như vậy... từ giống cái chẳng phải người cho đến người nam cũng như vậy.

Nếu tỳ-kheo bị oan gia áp bức đưa đến chỗ người phụ nữ đang ngủ, hoặc là thây chết chưa hoại, hay phần lớn chưa hư hoại... mà có cảm giác thọ lạc cũng như vậy. Có vật cách hay không vật cách cũng như vậy. Từ giống cái phi nhân cho đến người nam cũng như vậy.

Nếu oan gia cưỡng nắm nam căn của tỳ-kheo đặt vào trong đường đại tiện để làm việc bất tịnh, khi đặt vào có cảm giác thọ lạc, mắc tội ba-la-di. Khi vào rồi thọ lạc, khi ra thọ lạc cũng như trên đă nói, cho đến có vật cách hay không vật cách cũng như vậy.

Từ đạo vào đạo; từ đạo vào phi đạo;[81] từ phi đạo vào đạo. Hoặc vào có chừng mức, hoặc vào hết; hoặc nói hoặc không nói. Nếu, với tâm dâm, cho đến chỉ vào như sợi lông, đều phạm ba-la-di. Phương tiện mà không vào, phạm thâu-lan-giá.[82]

Nếu tỳ-kheo phương tiện muốn t́m cầu làm việc bất tịnh, thành th́ phạm ba-la-di, không thành th́ phạm thâu-lan-giá.

Nếu tỳ-kheo xúi tỳ-kheo làm việc bất tịnh; tỳ-kheo kia làm theo lời xúi (th́ tỳ-kheo xúi) phạm thâu-lan-giá; (tỳ-kheo kia) không làm theo lời xúi (th́ tỳ-kheo xúi) mắc đột-kiết-la. Tỳ-kheo-ni xúi tỳ-kheo làm việc bất tịnh, nếu tỳ-kheo làm th́ ni phạm thâu-lan-giá, không làm th́ mắc đột-kiết-la. Trừ tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, các chúng khác xúi nhau làm hạnh bất tịnh, làm hay không làm đều mắc đột-kiết-la. Nếu tử thi phân nửa bị hư hoại mà làm việc bất tịnh, khi để vào liền phạm thâu-lan-giá. Nếu phần lớn bị hư hoại, hay bị hoại hết th́ phạm thâu-lan-giá. Nơi kẽ hở của xương làm hạnh bất tịnh, phạm thâu-lan-giá. Đào đất làm thành lỗ, hoặc nơi miệng b́nh, phạm thâu-lan-giá. Tưởng là đạo hay nghi như vậy, tất cả đều phạm thâu-lan-giá.

Nếu nơi đạo mà khởi ư tưởng là đạo, phạm ba-la-di. Nếu nghi là đạo, phạm ba-la-di. Nếu nơi đạo mà tưởng phi đạo, phạm ba-la-di. Phi đạo mà [572b] tưởng là đạo, phạm thâu-lan-giá. Phi đạo mà nghi, phạm thâu-lan-giá. Tỳ-kheo-ni, ba-la-di. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni mắc đột-kiết-la diệt tẫn. Đó là phạm.[83]

Sự không phạm: khi ngủ không hay biết, không thọ lạc, hoàn toàn không có ư dâm th́ không phạm.

Người không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng, loạn tâm, thống năo bức bách th́ không phạm.[84]

 



[1] (T22n1428, tr.567b26)

[2] Tứ phần 54, tr.968a4 “Tập pháp t́-ni ngũ bách nhân”: trong đại hội kết tập tại Vương-xá, Ưu-ba-li được chấp thuận làm thuyết tŕnh viên về Luật tạng.

[3] Thân chứng (Skt. kāya-sākṣin, Pāli: kāya-sakkhin), Câu-xá 24, tr.126a17: vị Bất-hoàn khi chứng đắc diệt định, chuyển danh là thân chứng 得滅定不還轉名為身證. Trong đây, thân chứng có thể không chỉ đến vị A-na-hàm, mà chỉ là diễn tả sự chứng ngộ tự thân của A-la-hán.

[4] Thập cú nghĩa 十句義, xem cht. Ch.i sau

[5] Hán: hỉ vĩnh an 喜永安; cú nghĩa 2&3: khiến Tăng hoan hỷ và an lạc.

[6] Cú nghĩa 1.

[7] Cú nghĩa 6: điều phục những ai chưa được điều phục.

[8] Trong đây không đề cập hai cú nghĩa 8 & 9: đoạn trừ hữu lậu hiện tại, đoạn trừ hữu lậu vị lai.

[9] Cấm giới kinh 禁戒經, hay Giới kinh, chỉ Ba-la-đề-mộc-xoa 波羅提木叉 (Skt. Prātimokṣa-sūtra, Pāli: Pāṭimokkha-sutta).

[10] Trung A-hàm 3, “14. kinh La-vân,” (T1, tr.436a-437b). Pāli, M. 61. Ambalaṭṭhikā-Rāhulovāda-sutta (M.i.414-424): Phật hỏi Rāhula, cái gương để làm ǵ?

[11] Trường A-hàm 6, “kinh Tiểu duyên,” (T1, tr.36tt). Pāli: D. 24. Aggañña-suttanta (D.iii.tr. 93): Vào thời thái cổ, do tranh chấp ruộng đất, nhân dân bầu lên một người để giải quyết, gọi là vị trọng tài được bầu lên bởi đại hội (Mahāsammato-rājā; Hán dịch: Đại b́nh đẳng vương 大平).

[12] Y-la diệp 伊羅葉; Skt. erapatra, hoặc elāpattra, H: hương diệp 香葉, hoắc hương diệp 藿香葉, một loại tiểu đậu khấu (Cardamom). Ở đây chỉ tên một con voi chúa, hay rồng, Pāli: erakapatta. Tiền thân là Tỳ-kheo thời Phật Ca-diếp (Pāli: Kassapa), bị té thuyền, vớ nhằm lá eraka. Ông chết đuối với tâm ưu uất nên tái sinh làm thân rồng. (Pháp cú truyện giải, Dh.A.iii.230-6). Theo tài liệu Hán, Phúc cái chánh hạnh sở tập kinh 11 (T32n1671): tiền thân là tỳ-kheo phạm 2 tội, ngắt lá y-la và khất thực sau giờ ngọ, do đó sinh làm thân rồng với 7 đầu trên đó mọc cây y-la.

[13] Tam cấu nhân 三垢人, ba hạng người dơ bẩn: như cái chậu rửa chân c̣n lưu một ít nước dơ; cái chậu đă đổ hết nước dơ, và cái chậu dơ bị lật úp. Xem, Trung A-hàm 3, La-vân kinh,” (T1, tr.436a). Pāli, M. i. 141-424. Tam cấu, cũng thường chỉ tham, sân, si.

[14] Đế Thích đường 帝釋堂. Đây chỉ Chánh pháp điện 正法殿, cũng gọi là Thiện pháp đường hay Thiện pháp giảng đường 善法講堂, Hội trường của chư thiên Tam thập tam (Đao-lị thiên). Pāli: Sudhammāsabhā. Đế Thích c̣n có cung điện riêng khác nữa, gọi là Tối thắng giảng đường (Pāli: Vejayanta-pāsāda)

[15] Sở hành 所行, cũng thường nói là sở hành cảnh giới 所行境界, hay hành xứ 行處; Skt. (=Pāli) gocara, môi trường hay phạm vi nhận thức và hành động.

[16] Chánh pháp đường 正法堂, xem cht. trước.

[17] Giác ư 覺意, hay giác chi 覺支, bồ-đề phần 菩提分; Pāli: bojjhaṅga (Skt. bodhyaṅga).

[18] Ương-quật-ma-(la) 鴦崛魔(=), Pāli: Aṅgulimāla (Skt. Aṅgulimālya) dịch: Chỉ Man 指鬘, tên tướng cướp lừng danh thời Phật. Sau được Phật hóa độ thành tỳ-kheo và đắc quả A-la-hán. Xem Tạp A-hàm 36.16 (T2, tr.280c); Hiền ngu kinh 11 (T4, tr. 423b); Ương-quật-ma kinh (T2, tr.508b); Ương-quật-ma-la kinh (T2, tr.512b); Avadāśataka (Skt.) No.27; DhpA (Pāli).i. tr.146; iii.185; Therag. 864-891.

[19] Hán: thần tiên ngũ thông nhân 神仙五通人.

[20] Đoạn phụ chú của vị truyền luật. Không thuộc chính văn của Luật.

[21] (T22n1428, tr.568c6 四波羅夷法之一)

[22] Ngũ phần 1 (T22n1421, tr.1a08); Tăng kỳ 1 (T22n1425, tr.227a08); Thập tụng 1 (T23n1435, tr.1a09); Căn bản 1 (T23n1442, tr.627c27). Pāli, Suttavibhaṅga, Vin. iii. 1.

[23] Tô-la-bà quốc 蘇羅婆國; Ngũ phần: Tu-lại-bà quốc 須賴婆國; cả hai phiên âm từ Skt. Śūrasena (Pāli: Sūrasena), 1 trong 16 đại quốc thời Phật; xem Trường A-hàm 5, “Kinh Xà-ni-sa”; D.18.  Javasabha. Tăng kỳ: Xá-vệ quốc 舍衛國, (Skt. Śrāvasti, Pāli: Sāvatthī). Thập tụng: Phật tại Tỳ-da-li 毘耶離, Skt. Vaiśāli (Pāli: Vesālī): Căn bản: Phật tại nước Lật thị 栗氏國.

[24] Tỳ-lan-nhă 毘籣若. Pāli: Verañjā, thị trấn gần Sāvatthī, trên đường đi Vesālī.

[25] Na-lân-la-tân-châu-man-đà-la 那隣羅濱洲曼陀羅; Pāli: Naḷeru-pucimanda, cây pucimanda (Nimba, Azadirachta Indica) có miếu thờ dạ-xoa Naḷeru (Sớ giải, i. 109). Ngũ phần: trú lâm thọ hạ 住林樹下.

[26] Tỳ-lan-nhă bà-la-môn 毘蘭若婆羅門. Xem Trung A-hàm, kinh 157 (Hoàng lô viên). Pāli: Verañjo brāhmaṇo.

[27] Pāli, thành cú: So imaṃ lokaṃ  sadevakaṃ  samārakaṃ  sabrahmakaṃ  sassamaṇabrāhmaṇiṃ  pajaṃ  sadevamanussaṃ  sayaṃ abhiññā sacchikatvā pavedeti. “Sau khi tứ thân chứng nghiệm bằng thắng trí, Ngài thuyết minh thế giới này bao gồm Thiên, Ma, Phạm, cùng với sa-môn, bà-la-môn, sanh loại, cùng với chư thiên và loài người.”

[28] Pāli, thành cú: So  dhammaṃ  deseti ādikalyāṇaṃ majjhe-kalyāṇaṃ pariyosānakalyāṇaṃ   sātthaṃ   sabyañjanaṃ. “Ngài diễn thuyết pháp; pháp ấy thiện xảo phần đầu, thiện xảo phần giữa, thiện xảo phần cuối, có nghĩa, có văn.”

[29] Pāli, thành cú: kevalaparipuṇṇaṃ  parisuddhaṃ  brahma-cariyaṃ  pakāseti; “Ngài hiển thị phạm hạnh tuyệt đối hoàn bị, hoàn toàn thanh tịnh.”

[30] Vô trước nhân 無著人, một dịch nghĩa khác của từ A-la-hán.

[31] Ba-ly quốc 波離國; Ngũ phần: Ba-lị quốc 波利國. Pāli (Vin.iii. 6): Uttarāpathakā assavāṇijā, những người buôn ngựa từ Uttarāpatha, địa danh chỉ chung vùng Bắc Ấn.

[32] Uất-đơn-việt 鬱單越; Skt.(=Pāli): Uttarāpatha.

[33] Tự nhiên canh mễ 自然粳米, một thứ lúa tự nhiên mọc, không do người trồng; xem Trường A-hàm 6, kinh Tiểu duyên, Đại 1 tr. 38a1. Cf., D.iii.88 (Aggañña-suttanta): akaṭṭha-pāko sāli pātur ahosi akaṇo athuso, xuất hiện loại lúa chín tự nhiên không do gieo trồng, không vỏ, không cám.

[34] Pāli (Vin.iii. 7), Mahāmoggallāna bạch Phật: “Phần dưới kia của đại địa này rất sung túc. Con sẽ chuyển ngược đại địa để các tỳ-kheo có thể có thức ăn.”

[35] Nguyên Hán: trượng phu 丈夫.

[36] Tỳ-bà-thi Phật 毘婆尸佛; Ngũ phần: Duy-vệ Phật 維衛佛. Pāli: Vipassī.

[37] Thức Phật 式佛; Ngũ phần: Thi-diếp Phật 尸葉佛. Pāli: Sikhī.

[38] Câu-lưu-tôn Phật 拘留孫佛; Ngũ phần: Câu-lâu-tôn Phật 拘樓孫佛. Pāli: Kakusandha.

[39] Ca-diếp Phật 迦葉佛. Pāli: Kassapa.

[40] Tuỳ-diếp Phật 隨葉佛. Pāli: Vissabhu.

[41] Câu-na-hàm Mâu-ni Phật 拘那含牟尼佛. Pāli: Konāgamana.

[42] Pāli, Vin. iii, tr.7: các Thế Tôn Vipassī, Sikkhī và Vessabhu, phạm hạnh không tồn tại lâu dài. Các Thế Tôn Kakusandha, Koṇāgamana, Kassapa có phạm hạnh tồn tại lâu dài. Ngũ phần (tr.1b26) cũng nói như Pāli.

[43] 12 bộ phận Thánh điển: Khế kinh 契經, Kỳ-dạ kinh 祇夜經, Thọ kư 授記經, Cú kinh 句經, Nhân duyên kinh因緣經, Bản sanh kinh 本生經, Thiện đạo kinh 善道經, Phương đẳng kinh 方等經, Vị tằng hữu kinh 未曾有經, Thí dụ kinh 譬喻經, Ưu-bà-đề-xá kinh 優波提舍經. Liệt kê theo Pāli, chỉ có 9: suttaṃ geyyaṃ veyyākaraṇaṃ gāthā udānaṃ itivuttakaṃ jātakaṃ abbhuta-dhammaṃ vedallaṃ.

[44] Có điểm ngữ pháp đáng lưu ư trong bản Hán dịch. Trong bản Pāli (Vin. iii. 8): (...) kilāsuno ahesuṃ sāvakānaṃ vitthārena dhammaṃ desetuṃ, “(Các đức Thế Tôn này) không tích cực (=mệt mỏi) thuyết pháp một cách rộng răi cho các đệ tử.” Tính từ kilāsuno (mệt mỏi = không tích cực, chủ cách, số nhiều, Hán: b́ yếm 疲厭) phẩm định danh từ Thế Tôn (bhagavā ) chứ không phẩm định cho danh từ sāvakānaṃ (chỉ định cách, số nhiều, Hán: chư đệ tử 諸弟子) như trong Hán dịch.

[45] Ngũ phần (tr.1c10): “Thuyết pháp cho đệ tử bằng tâm niệm chứ không nói ra miệng rằng...”

[46] Khủng úy lâm 恐畏林. Ngũ phần: khủng bố lâm 恐怖林. Pāli.: aññtarasmiṃ bhiṃsanake vanasaṇḍe, trong một khu rừng có nhiều sự kinh sợ kia. H́nh như không chỉ khu rừng có tên là Kinh sợ (Khủng bố hay Khủng uư). Trong thời Thích tôn, cũng có một khu rừng mang tên như vậy, Pāli: Bhesakalāvana (Khủng bố lâm) thuộc nước Bhagga (Bà-kỳ); Cf. A.ii. 61, iii. 295; S.iii. 1, iv. 116.

[47] Pāli kết luận: “Do nguyên nhân này, phạm hạnh (brahmacariya) của các Thế Tôn Vipassī, Sikkhī, Vessabhu không tồn tại lâu dài (na ciraṭṭhitikaṃ ahosi).”

[48] Pāli: buddhānubhānaṃ sāvakānaṃ, các đệ tử đă giác ngộ theo Phật, chỉ các đại đệ tử đă đắc quả A-la-hán.

[49] Hán: thả chỉ 且止. Pāli: āgamehi tvaṃ Sāriputta, “Hăy chờ đợi, này Xá-lợi-phất.”

[50] Con trai của Tu-đề-na ở thôn Ca-lan-đà 迦蘭陀村須提那子. Ngũ phần: con trai của trưởng giả Na-lan-đà tên là Tu-đề-na. Tăng kỳ: thành Tỳ-da-ly có con trai trưởng giả tên là Da-xá 耶舍. Thập tụng: Con trai trưởng giả tên là Tu-đề-na Gia-lan-đà 加蘭陀 Căn bản: Con trai của Yết-lan-đạc-ca tên là Tô-trần-na 羯蘭鐸迦子蘇陳那. Pāli (Vin.iii. 11): Sudinno nāma Kalanda(ka)putto seṭṭhiputto, Sudinna, con trai của phú hộ Kalandaka.

[51] Tứ phần, Căn bản: Chủng Tử 種子. Tăng kỳ, Thập tụng: Tục Chủng 續種. Pāli: Bījaka.

[52] Pāli, Vin.iii.19, về sau, Bījaka và mẹ đều xuất gia, và cả hai đều đắc quả A-la-hán.

[53] Nguyên Hán: cố nhị 故二. Pāli: purāṇadutiyakā.

[54] Sào quật 巢窟; một dịch nghĩa của a-lại-da (ālaya). Nghĩa thông dụng: chấp, dục cầu, khát vọng. Phá hoại sào quật, Pāli: anālaya, cf. D.ii. tr. 310, Vin. i. 10: Thế nào là Khổ diệt thánh đế?  Đối với khát ái mà hoàn toàn ly dục, diệt tận, xả bỏ, giải thoát, không chấp tŕ (taṇhāya asesavirāganirodho cāgo paṭinissago mutti anālayo).

[55] Nghĩa ; đây hiểu là phù hợp với mục đích giải thoát.

[56] Các thí dụ về tai hại của dục, xem Trung A-hàm 54 (T1, tr.763c17); Cf. Pāli, M.22. Alagaddūpama.

[57] Tập thập cú nghĩa 集十句義. Ngũ phần, Thập tụng: dĩ thập lợi cố 以十利故; Tăng-kỳ: thập sự lợi ích 十事利益. Pāli: dasa atthavase paṭicca, căn cứ trên 10 ư nghĩa (mục đích).

[58] Ngũ phần (tr.3c1): 1. Tăng hoà hiệp; 2. Tăng đoàn kết; 3. Chế ngự người xấu; 4. Để cho người biết hổ thẹn được yên vui; 5. Đoạn hữu lậu đời này; 6. Diệt hữu lậu đời sau; 7. Khiến người chưa tin có tín tâm; 8. Khiến người có tín tâm được tăng trưởng; 9. Để Chánh pháp lâu dài; 10. Phân biệt t́-ni phạm hạnh tồn tại lâu dài. Tăng kỳ (tr.228c24): 1. Nhiếp Tăng; 2. Cực nhiếp Tăng; 3. Để Tăng an lạc; 4. Chiết phục người không biết hổ thẹn; 5. Để người có tàm quư sống yên vui; 6. Người chưa tin được tin; 7. Người đă tin th́ tin thêm; 8. Trong đời này được lậu tận; 9. Các lậu đời vị lai không sinh; 10. Để chánh pháp cửu trụ. Căn bản (tr.629b22), như Pāli. Pāli, Vin.iii. tr.32: saṅghasuṭṭhutāya (v́ sự ưu mỹ của Tăng); saṅghaphāsutāya (v́ sự an lạc của Tăng); dummaṅkūnaṃ puggalānaṃ niggahāya (để chế phục hạng người không biết hổ thẹn) ; pesalānaṃ bhikhūnaṃ phāsuvihārāya (để các tỳ-kheo nhu ḥa sống an lạc); diṭṭhadhammikānaṃ āsavānaṃ saṃvarāya (để ngăn chặn hữu lậu đời này); sampāratikānaṃ āsavānaṃ paṭighātāya (để đối trị hữu lậu đời sau); appasannānaṃ pasādāya (v́ tịnh tín của người chưa có tín); pasannānaṃ bhiyyobhāvāya (v́ sự tăng trưởng của người có tín); saddhammaṭṭhitiyā (v́ sự trường tồn của chánh pháp); vinayānuggahāya (để nhiếp hộ t́-ni).

[59] Bạt-xà Tử 跋闍子. Tăng kỳ (tr.231b24), Phật trụ T́-xá-li, có hai người Li-xa 離車子. Thập tụng (tr.1c22), Phật tại Xá-vệ, tỳ-kheo tên Bạt-ḱ Tử 跋耆子. Ngũ phần (tr.4a1), một số đông các tỳ-kheo; nhưng sự kiện được đề cập sau nhân duyên vượn cái. Pāli, Vin.iii.23, sambahulā vesālikā vajjiputtakā bhikkhū, một số đông các tỳ-kheo người Vajji ở Vesālī. Nhưng sự kiện đề cập sau nhân duyên vượn cái như Ngũ phần.

[60] Nguyên Hán: Giới luy bất tự hối 戒羸不自悔. Thập tụng: giới luy bất xuất 戒羸不出. Pāli: dubbalyaṃ anāvikatvā, không tuyên bố sự bất lực của ḿnh (không kham nổi đời sống tỳ-kheo).

[61] Khất thực tỳ-kheo 乞食比丘; Tỳ-kheo sống chỉ bằng khất thực; một trong 12 hạnh đầu-đà. Ngũ phần (tr.3c6): a-luyện-nhă tỳ-kheo 阿練若比丘; Thập tụng (tr.2a1), một tỳ-kheo sống một ḿnh trong rừng, ở Câu-tát-la. Pāli (Vin. iii. 22), một tỳ-kheo sống trong rừng Đại lâm (Mahāvana), Vesāli.

[62] Hán: thư di hầu 雌獼猴; Pāli: makkaṭī.

[63] Hán: án hành trú xứ 案行住處; Ngũ phần: án hành ngoạ cụ 案行臥具. Pāli, nt., senāsanacarikaṃ āhiṇḍantā, du hành để t́m chỗ ngủ nghỉ.

[64] Khất cầu tỳ-kheo 乞求比丘; Ngũ phần: khất tỳ-kheo 乞比丘; Thập tụng (tr.2b30): khất tỳ-kheo, v́ xin ăn nơi người khác. Như bà-la-môn khi đi xin ăn cũng tự nói ‹Ta là tỳ-kheo.› Pāli: bhikkhakoti bhikkhu, bhikkhācaryaṃ ajjhupagatoti bhikkhu, tỳ-kheo, là người hành khất, là người chấp nhận sống cuộc đời hành khất.

[65] Cát tiệt y 割截衣; Ngũ phần: hoại sắc cát tiệt y 壞色割截衣. Pāli: bhinnapaṭadharoti bhikkhu, tỳ-kheo, là người mặc y từ những miếng vải rách (khâu lại).

[66] Pāli: samaggena saṅghena ñatticatutthena kammena akuppena ṭhānārahena upasampanno ti bhikkhu, tỳ-kheo, là người thọ cụ túc (=đă thành tựu) với sự hợp cách không di động do bạch tứ yết-ma bởi Tăng hoà hiệp.

[67] Hán: cộng tỳ-kheo 共比丘. Pāli: bhikkhūnaṃ, sở hữu cách số nhiều của bhikkhu: (học xứ) của các tỳ-kheo. Bản Hán hiểu là chỉ định cách: ‹đối với (=dành cho) các tỳ-kheo›.

[68] Đồng giới 同戒; Ngũ phần: đồng học giới pháp 同學戒法; Thập tụng: đồng nhập tỳ-kheo học pháp 同入比丘學法 ; Căn bản: đồng đẳng học xứ. Pāli: sikkhāsājīvasamāpanno, đă chấp nhận đời sống và học xứ (của các tỳ-kheo); giải thích (Vin. iii. 23): sikkhā (học) chỉ cho ba học: tăng thượng giới, tăng thượng tâm, tăng thượng tuệ (adhisīla, adhicitta, adhipaññā); sājīvaṃ (đời sống): chỉ các học xứ mà Phật đă qui định (bhagavatā paññattaṃ sikkhāpadaṃ).

[69] Ngũ phần: độc tưởng 獨想: tưởng chỉ có một ḿnh; Căn bản: độc tĩnh xứ 獨靜處, chỗ vắng vẻ một ḿnh.

[70] Nghĩa là, cảm thấy xấu hổ khi nghĩ ḿnh là tỳ-kheo. Cf. Pāli, Vin.iii.24: bhikkhubhāvaṃ aṭṭīyamāno harāyamāno, khó chịu và xấu hổ v́ ḿnh là tỳ-kheo.

[71] Cf. Pāli, nt., sāmaṇerabhāvaṃ patthayamāno, ước muốn làm sa-di (hơn là làm tỳ-kheo).

[72] Cf. Pāli, nt., titthayasāvakabhāvaṃ patthayamāno, ước muốn làm đệ tử của ngoại đạo

[73] Chư phạm hạnh 諸梵行; cũng nói là đồng phạm hạnh (Pāli: sabrahmacārin) đây chỉ các tỳ-kheo đồng học, hay bạn đồng tu.

[74] Hán: giới luy 戒羸. Pāli, nt., dubbalyaṃ, sự yếu đuối (của ḿnh).

[75] Bất tịnh hạnh (hành) 不淨行, cũng nói là phi phạm hạnh. Phạm hạnh (Skt.=Pāli: brahmacariya) nguyên nghĩa, sống cuộc đời (đoạn dục để) phụng sự Phạm thiên. Trong Phật giáo, chỉ sự đoạn trừ dâm dục. Luận trí độ 20: “Chư thiên đoạn trừ dâm dục đều được gọi là Phạm.” Hán dịch “tịnh hạnh” theo nghĩa ly dục thanh tịnh.

[76] Ngũ phần (tr.4c21): “Ba-la-di, gọi là đọa pháp, là ác pháp, là đoạn đầu pháp.” Tăng kỳ (tr.237b24): “Ba-la-di, là đối với pháp trí mà thối thất, đọa lạc, không có đạo quả phần.” Thập tụng (tr.4b13): “Ba-la-di, là đọa lạc, không bằng 墮不如; là tội cực ác, sâu nặng.” Căn bản (tr.630c6): “Ba-la-thị-ca 波羅市迦, là tội cực trọng, rất đáng ghê tởm, rất đáng bị ruồng bỏ... mất thể tính Bí-sô, trái ngược với thể tính Niết-bàn; là sự đọa lạc, sụp đổ, bị kẻ khác đánh bại không c̣n cứu được nữa.” Pāli, Vin.iii.28: pārājiko hotī ti seyyathāpi nāma puriso sīrascchinno abhobbo tena sarīrabandhanena jīvituṃ, “Pārājika, người phạm ba-la-di, như một người mà cái đầu đă bị chặt không thể sống với thân được ráp nối lại.”

[77] Bất cộng trú 不共住. Pāli, nt., asaṃvāso ti saṃvāso nāma ekakammaṃ ekuddeso samasikkhatā, “Bất cộng trú: đồng nhất yết-ma, đồng nhất thuyết giới, đồng đẳng học xứ, đó là cộng trú.”

[78] Nhị h́nh 二形. Ngũ phần, Thập tụng: nhị căn 二根. Pāli: ubhatovyañjana, lưỡng tính, ái nam ái nữ.

[79] Huỳnh môn 黃門, bất năng nam 不能男. Căn bản: bán-trạch-ca 半擇迦. Pāli: paṇḍaka, người bị hoạn/ thiến.

[80] Phi nhân 非人, chỉ các loại trời, thần, và tương tự. Pāli: amanussa.

[81] Đạo , chỉ các đường đại và tiểu tiện; phi đạo 非道, chỉ các đường khác. Pāli: magga: passāva-magga, vacca-magga.

[82] Thâu-lan-giá 偷蘭遮. Ngũ phần: thâu-la-giá 偷羅遮. Pāli: thulla/thūlaccaya; Skt. sthūlātyaya, dịch: thô tội, đại tội, trọng tội; Thiện kiến 9: “Thâu-lan (Pāli: thulla, thūla; Skt. sthūla), nghĩa là lớn. Giá , chỉ sự chướng ngại đạo, về sau đọa ác đạo.”

[83] Thập tụng (tr.2c29), nhân duyên Nan-đề: Phật tại Xá-vệ. Bấy giờ Nan-đề tu thiền trong rừng, bị Ma thiên thần dụ, dẫn đến chỗ hành dâm với con ngựa cái đă chết. Ngay sau đó tức th́ tỉnh ngộ, chạy thẳng về tinh-xá, khẩn thiết xin Tăng đừng diệt tẫn. Phật khiến các tỳ-kheo tác pháp bạch tứ yết-ma cho Nan-đề sám tội ba-la-di, gọi là “Yết-ma dữ học pháp 與學法.” Nhân đó, Phật quy định các điều kiện và các phận sự cho tỳ-kheo được dữ học pháp. Cf. Tứ phần 35 (tr.809a8), về yết-ma dữ học pháp cho Nan-đề.

[84] Tăng kỳ (tr.238a23) phần kết, “Thế Tôn trú tại thành Tỳ-da-ly, sau thành đạo năm thứ 5, nửa tháng thứ năm, ngày 12, sau bữa ăn trưa, bóng ngả về phía đông cỡ nửa người đang ngồi, nhân trường hợp Trưởng lăo Da-xá Ca-lan-đà Tử, chế giới này.”