CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA

QUYỂN 27.

TAM TẠNG PHÁP SƯ NGHĨA TỊNH PHỤNG CHẾ DỊCH

 

Học xứ thứ bảy: Đến người chưa thọ Viên cụ nói Thô tội.

 

Lúc bấy giờ, Bạc-già-phạm ở thành Thất-la-phạt, rừng Thệ-đa, vườn Cấp-cô-độc. Khi ấy, có một số đông Bí-sô trẻ có, già có, do chưa ly dục, phiền não có mặt, hành động phi pháp dẫn đến phạm Tăng-già-phạt-thi-sa. Sau đó, họ có điều kiện để nghe và học tập hiểu rõ được Luật tạng, biết mình phạm tội, trong họ đều sanh lòng ăn năn, muốn tìm cách trừ tội. Họ như pháp hành Biến trụ và Ma-na-ty, rồi vì chúng Tăng cung cấp nước uống, hoặc quạt hầu hoặc dùng Cù-muội-da mới lau chùi tháp thờ tóc và móng tay của đức Thế Tôn. Hoặc phục vụ bao nhiêu công tác khác.

Thế rồi, có Cư sĩ Bà-la-môn tín kính v.v... thấy vậy cùng nhau bàn rằng:

- Trong thế gian có người khéo phân biệt được ngọc quý, xem các vật quý báu không thể nhằm lẫn, để rồi thu dụng. Các Bí-sô này, cũng lại như vậy. Các Ngài khéo biết nhơn quả, tiếp thu các phước nghiệp, tuy tuổi đã già lớn, đích thân vì chúng Tăng cung cấp các nước uống, làm các việc vất vả mà không hề từ khước. Ngược lại, Lục chúng đây chỉ tự nuôi thân, không tu các thắng phước.

Mọi người nhận xét có ý kinh tiện như vậy và điều này cũng đến tai Lục chúng, Lục chúng bảo với mọi người rằng:

- Các ông cứ ngỡ là những người đó lòng vui với cái phước ấy mà cung cấp ư ? Thật ra, những người ấy không phải do hảo tâm tu các phước nghiệp, mà chỉ vì chúng Tăng trị phạt bắt họ phải lao tác.

Mọi người hỏi:

- Những vị ấy có tội gì mà chúng Tăng trị phạt ?!

Lục chúng trả lời:

- Bí-sô già này tự làm việc phi pháp như vậy, như vậy.

Các Cư sĩ Bà-la-môn kia khi nghe các Bí-sô lớn tuổi mà còn làm các điều phi pháp, đều sanh lòng hiềm sỉ. Nói như vậy: “Các Bí-sô tuổi già còn làm điều phi lý, huống là các vị tuổi trẻ kia, phạm tội là điều có gì phải nghi ngờ!”

Sau bửa ăn, các Bí-sô già lại cũng lau quét bảo tháp như trước. Khi ấy, Lục chúng lại đến chỗ đệ tử Cầu tịch của các Bí-sô già, hỏi:

- Hiện nay, hai thầy của các ông đi đâu ?

Đệ tử Cầu tịch trả lời:

- Thưa đại đức! Sư chủ của tôi hiện đang tu các phước nghiệp

Lục chúng lại hỏi:

- Tu phước nghiệp gì ?

- Nhị sư chúng tôi đang dùng phân trâu nhuyễn mịn lau chùi tháp thờ móng tay và tóc của đức Thế Tôn. - Đệ tử Cầu tịch trả lời.

Các đệ tử Cầu tịch lại hỏi Lục chúng:

- Đại đức! Tại sao Ngài không tu các phước nghiệp ?!

Lục chúng trả lời:

- Các ông biết không ? Chẳng phải nhị sư của các ông tự tâm cầu phước, cúng dường đối với bảo tháp như vậy, mà chúng Tăng dùng khổ hình trị phạt, khiến nhị sư các ông phải làm.

Đệ tử Cầu tịch nghe, sốt ruột hỏi:

- Sư chủ của chúng tôi đã phạm tội lỗi gì mà phải nhận lấy sự trị phạt ?

Lục chúng trả lời:

- Sư chủ của các ông đã làm việc phi pháp như vậy, như vậy!

Khi các Bí-sô già kia đã xuất tội rồi, khiến các Cầu tịch làm các việc của chúng, họ bèn trả lời:

- Sao các thầy không tự làm.

Vị thầy nói:

- Tôi không nên làm.

 Cầu tịch nói:

- Các thầy tại sao còn làm những việc phi pháp như vậy, như vậy! Việc làm này đâu không hợp lý đối với người có tội hay chăng ?

Hai thầy nói:

- Tuy có lỗi, chúng tôi đã như pháp sám trừ rồi. Xong, tội lỗi của chúng tôi, ai nói cho các ông biết ?

Đệ tử Cầu tịch trả lời:

- Lục chúng Bí-sô nói.

Các Bí-sô thiểu dục khi nghe như vậy sanh hiềm tiện:

- Tại sao các Bí-sô đem Thô tội của người khác nói với kẻ chưa thọ Viên cụ!?

Các Bí-sô đem nhơn duyên này bạch đầy đủ lên đức Phật. Đức Thế Tôn bảo các Bí-sô: ... (nói đầy đủ như trước) cho đến câu đức Thế Tôn hỏi Lục chúng:

- Này, các Bí-sô! Thật sự các ông có đến người chưa thọ Viên cụ, nói Thô tội của kẻ khác hay chăng ?

­- Kính bạch Đại đức Thế Tôn! Có thật sự như vậy. - Lục chúng thưa.

Đức Thế Tôn bằng mọi cách quở trách... cho đến câu: Chẳng phải việc làm của người xuất gia.

Quở trách rồi, Phật bảo các Bí-sô:

- Ta quán mười điều lợi, vì các Bí-sô chế Học xứ này như sau:

“Nếu lại có Bí-sô biết Bí-sô khác có tội Thô ác, đến người chưa thọ Cận viên nói, Ba-dật-để-ca”.

Sau khi, Thế Tôn vì các Bí-sô chế Học xứ này rồi thì tại thành Thất-la-phạt có Bí-sô tên là Quảng Ngạch và Bí-sô-ni tên là Tùng Cán. Hai Bí-sô này, đối với nhà thế tục làm việc hoen ố, tướng bất thiện hiện rõ, làm cho mọi người không sanh kính tín. Các Bí-sô đem nhơn duyên này bạch đức Thế Tôn, đức Thế Tôn bảo:

- Các Bí-sô nên sai một Bí-sô đến các nhà thế tục nói:

“Bí-sô Quảng Ngạch cùng với Bí-sô-ni Tùng Cán làm việc phi pháp. Bí-sô không đủ năm đức, không nên sai. Nếu đã sai thì không nên đi. Những gì là không đủ năm đức: Có ái, nhuế, bố, si, không biết nên nói điều gì hay không nên nói điều gì. Nếu đủ năm đức thì nên sai, đã sai thì nên đi. Trải tòa, đánh kiền chùy, tập chúng cáo tri: Ai đủ khả năng, đến nhà thế tục nói Bí-sô Quảng Ngạch và Bí-sô-ni Tùng Cán làm việc phi pháp ?”

- Vị nào nói: Tôi.. có thể thì sau đó, một Bí-sô có khả năng Bỉnh pháp tác yết-ma, bạch như sau:

Đại đức Tăng-già, xin lắng nghe! Bí-sô Quảng Ngạch và Bí-sô-ni Tùng Cán này, đối với các nhà thế tục làm điều phi pháp, khiến mọi người không sanh kính tín. Bí-sô này tên là... có thể đến nhà thế tục nói Bí-sô Quảng Ngạch và Bí-sô-ni Tùng Cán làm hạnh phi pháp. Nếu, thời gian thích hợp đối với Tăng-già, Tăng-già hứa khả. Nay, Tăng-già sai Bí-sô tên... đến nhà thế tục nói đầy đủ việc làm phi pháp của Bí-sô Quảng Ngạch và Bí-sô-ni Tùng Cán”.

Đây là lời tác bạch. Kế tiếp tác yết-ma:

Đại đức Tăng-già, xin lắng nghe! Bí-sô Quảng Ngạch và Bí-sô-ni Tùng Cán, đối với các nhà thế tục làm các phi pháp, khiến mọi người không sanh kính tín. Bí-sô tên... có thể đến nhà thế tục nói hành động của Bí-sô Quảng Ngạch và Bí-sô-ni Tùng Cán. Nay, Tăng-già sai Bí-sô tên... đến nhà thế tục làm người nói lỗi; nói lên hành động phi pháp của Bí-sô Quảng Ngạch và Bí-sô-ni Tùng Cán. Nếu các Cụ thọ nào hứa khả, Bí-sô tên... đến nhà thế tục làm người nói lỗi, nói lên hành động của Bí-sô Quảng Ngạch và Bí-sô-ni Tùng Cán thì im lặng. Vị nào không hứa khả xin nói. Tăng-già nay đã hứa khả, sai Bí-sô tên... này đến các nhà thế tục nói những hành động phi pháp của Bí-sô Quảng Ngạch và Bí-sô-ni Tùng Cán, cho nên im lặng. Nay, tôi ghi nhận như vậy”.

- Này, các Bí-sô! Nay ta quy định pháp thức Bí-sô đến nhà thế tục công bố việc làm phi pháp của Bí-sô khác. Bí-sô kia đến nhà thế tục nói thế này:

“Quý vị nên nghe kỹ: Người làm hoen ố nhà người, người làm hoen ố người xuất gia, thí như lúa bắp xanh tươi mà bị sương mù mưa đá    khiến cho lúa bắp... bị hư hại hoàn toàn. Lại như cây mía thân đang lên mập khỏe gặp dịch bệnh đốt đỏ thì ruộng mía bị tổn họai mất trắng ngay. Các vị nên biết: Hai hạng người tội ác này cũng như vậy.

Quý vị chớ nên chung đụng cộng tác với họ để Thánh giáo không bị thương tổn.  Quý vị nên biết: Người này tự thân bị tổn hại, như các hạt giống bị khô cháy, không thể nảy mầm. Những người này sống trong Thánh giáo pháp luật không thể tăng trưởng thiện.

Quý vị nên hướng về đức Như Lai ứng cúng chánh biến tri và các Tôn giả Thượng tọa Liểu-giải-kiều-trần-như, Tôn giả Bà-đạp-ba, Tôn giả Vô Thắng, Tôn giả Hiền Thiện, Tôn giả Đại Danh, Tôn giả Danh Xưng, Tôn giả Viên Mãn, Tôn giả Vô Cấu, Tôn giả Ngưu Vương, Tôn giả Thiện Tý, Tôn giả Thân Tử, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, Tôn giả Câu-si-la, Tôn giả Đại-chuẩn-đà, Tôn giả Đại Ca-đa-diễn-na, Tôn giả Ốt-tần-loa-ca-nhiếp, Tôn giả Na-địa-ca-nhiếp, Tôn giả Già-na-ca-nhiếp, Tôn giả Đại-ca-nhiếp, Tôn giả Nan-đề. Quý vị hướng về thấy rõ như vậy cũng như các đại Bí-sô khác. Bí-sô sai đi khuyên bảo các nhà thế tục như vậy rồi liền chào họ ra về”.

Lúc ấy, Bí-sô Quảng Ngạch nghe sự việc như vậy, khởi ý nghĩ: “Chúng Tăng vì mình, sai Bí-sô đến nhà thế tục công bố tội lỗi của mình”. Thế thì, ta nên đến chỗ Bí-sô kia nói như vầy:

- Ngài đến nhà thế tục nói tội lỗi của tôi phải chăng ?

Bí-sô kia bảo:

- Vâng! Tôi được chúng Tăng như pháp sai bảo.

Quảng Ngạch Bí-sô sân si nói:

- Việc làm của tôi, hợp lý hay không hợp lý, tôi cũng sẽ mổ bụng Ngài, kéo ruột Ngài di quanh rừng Thệ-đa, khiến cho mọi người đều biết. Tôi sẽ lấy “thủ cấp” của Ngài treo nơi cửa chùa hoặc lấy dầu sôi đổ lên người của Ngài để cho mọi người đều thấy.

Vị Bí-sô được Tăng sai nghe nói, thất kinh hồn vía, báo cáo với các Bí-sô:

- Quảng Ngạch muốn giết tôi. Tôi xin báo động sự việc để chúng được biết. Nay, tôi không thể đến nhà tế tục để công bố việc kia nữa!

Các Bí-sô đem nhân duyên này bạch đầy đủ với đức Phật. Đức Thế Tôn bảo:

- Quảng Ngạch là người ngu si, có thể khi cá nhân, chứ không thể khi chúng Tăng được. Tăng-già nên Đơn bạch, trình bày rõ tội lỗi của Quảng Ngạch. Phương thức: Trải tòa đánh kiền chùy, tập hợp chúng, nên phổ biến, khiến một Bí-sô tác bạch như vầy:

Đại đức Tăng-già, xin lắng nghe! Bí-sô Quảng Ngạch và Bí-sô-ni Tùng Cán này, đến các nhà thế tục làm việc phi pháp, khiến nhiều người không sanh kính tín. Nay, không vị nào có thể dám đến nhà thế tục để công bố tội lỗi của họ. Nếu, thời gian thích hợp đối với Tăng-già, Tăng-già hứa khả. Nay, Tăng-già nếu thấy Bí-sô Quảng Ngạch và Bí-sô-ni Tùng Cán đến nhà thế tục làm việc phi pháp, liền nên đối với họ nói tội lỗi đó. Nói như vầy:

Quý vị nên biết: Tội ác của Bí-sô và Bí-sô-ni này, thương tổn đến Thánh giáo, phải biết người này tự thân bị tổn hoại, cũng như hạt giống bị cháy không thể sanh mầm được. Người này ở trong Thánh giáo pháp luật không thể sanh trưởng. Quý vị nên hướng về Như Lai ứng chánh biến tri và quý Thượng tọa Liễu-giải-kiều-trần-như v.v... cùng các Đại Bí-sô có đức độ”. Đây là lời tác bạch.

          Như lời Phật dạy, Đại chúng phổ cáo tội lỗi của hai Bí-sô kia nơi nhà thế tục. Khi ấy các Bí-sô đối với các nhà thế tục người biết, người không biết thảy đều phổ biến. Sự phổ biến rộng rãi này dẫn đến đa số người không sanh kính tín, khiến cho việc khất thực bị khó khăn. Các Bí-sô đem nhơn duyên này bạch đầy đủ với đức Phật, đức Thế Tôn bảo:

- Đối với nhà thế tục nào biết Bí-sô và Bí-sô-ni kia làm ác hạnh thì nói, ai không biết thì đừng nói. Nên biết “trừ Tăng Yết-ma”.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn khen ngợi người trì giới, đúng lúc tuyên nói pháp thiểu dục rồi, bảo các Bí-sô: Trước là sáng chế, đây là tùy khai... cho đến câu: Nên nói như vậy:

“Nếu, lại có Bí-sô biết Bí-sô kia có tội Thô ác, đến người chưa thọ Cận viên nói, trừ Tăng Yết-ma, Ba-dật-để-ca”.

+ Nếu lại có Bí-sô: Là Lục chúng. Các nghĩa khác đồng như trên.

Viên cụ có hai loại: Bí-sô và Bí-sô-ni, ngoài ra đều gọi là chưa Viên cụ.

Thô ác tội có hai loại: Nguyên nhân khởi lên Ba-la-thị-ca và Tăng-già-phạt-thi-sa.

Thô ác nơi đây có hai chủng loại: Một tự tánh Thô ác, hai nhơn khởi Thô ác.

Công bố: Nói rõ sự việc. Trừ Tăng Yết-ma: Tức là Đại chúng vì việc ấy tác pháp. Ba-dật-để-ca, nghĩa như trên.

+ Trong vấn đề này tướng phạm thế nào ?

Nếu, Bí-sô đối với nhà thế tục không biết, khởi ý tưởng không biết, nghi, đến người kia nói Thô ác tội của kẻ khác phạm tội Đọa.

Nếu, Bí-sô đối với nhà thế tục biết, khởi ý tưởng không biết, nghi, đến người kia nói, phạm tôi Ác tác.

Không phạm: Đối với nhà thế tục không biết, khởi ý tưởng họ đã biết rồi, hoặc Đại chúng nói rõ việc kia, hoặc mọi người đều nghe biết, như bức tranh treo nơi vách, ai nấy đều thấy, chẳng phải riêng mình biết thì nói, đều không có lỗi.

Lại, không phạm nữa là: Người phạm ban đầu, hoặc si cuồng tâm loạn, thống não bức bách.

 

Học xứ thứ tám: Thực sự chứng đặng pháp thượng nhơn đến người chưa thọ Viên cụ nói.

 Lúc bấy giờ, đức Phật ở tại thành Quảng Nghiêm, bên bờ ao Di-hầu,  trong tòa nhà Cao các. Vào khi ấy có năm trăm ngư dân ở bên sông Thắng Huệ sống tập thể. Số ngư dân này có hai tay lưới lớn, tay lưới thứ nhất gọi là Tiểu túc, tay lưới thứ hai gọi là Đại túc... (nói đầy đủ như Học xứ thứ tư, Ba-la-thị-ca) cho đến câu: năm trăm người dân chài lưới này thảy đều xuất gia, tinh cần tu tập đắc A-la-hán.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn ở trong tụ lạc Trúc Lâm. Thời ấy gặp lúc mất mùa, khất thực khó được. Phụng hành theo lời đức Thế Tôn dạy: “An cư nơi chỗ thuận tiện”. Các Bí-sô này về nơi thôn cũ của mình An cư. Mỗi người đều có ý nghĩ: “Chúng ta trước đây do không thực chứng mà cùng nhau khen ngợi nên bị quở trách. Nay, chúng ta gặp lúc mất mùa khất thực khó khăn. Với thật đức của mình, mỗi người cùng nhau khen ngợi, ngõ hầu đủ sống”.

Thế rồi các Bí-sô đến thân tộc nói như thế này:

- Tất cả quý vị trong quyến thuộc sẽ gặt hái được lợi ích lớn. Trong tụ lạc của quý vị được có Thắng diệu như vậy. Tăng chúng An cư nơi đó, Bí-sô này được vô thường tưởng, trong vô thường khởi ý tưởng khổ... cho đến đặng tám món giải thoát.

Thời gian sau, các quyến thuộc đến thăm, hỏi các Bí-sô. Thấy quyến thộc đến, các Bí-sô khen ngợi lẫn nhau và nói:

- Các quyến thuộc đặng thiện lợi lớn, gần nơi tụ lạc quý vị ở, có Thắng thượng như vậy, Tăng chúng An cư nơi đó, Bí-sô này đặng Vô thường tưởng... cho đến đặng A-la-hán, đặng tám giải thoát.

Các quyến thuộc nghe rồi, thưa:

- Thánh giả! Các Ngài có chứng đặng Thắng quả như vậy chăng ?

Các Bí-sô đáp:

- Tất cả đều chứng đắc!

Khi được nghe nói chứng quả, các người thế tục đều sanh ái kính. Do vậy, họ đối với cha mẹ, vợ con, thân quyến của họ không thể giúp đỡ mà đối với các Bí-sô đều cùng nhau đem thức ăn đến cung cấp.

Đức Phật còn tại thế, hằng năm có hai lần tập hợp các đệ tử: một là rằm tháng năm, gần An cư, hai là rằm tháng tám, khi lễ Tùy ý xong (nói đầy đủ như trước), cho đến câu: Các Bí-sô mãn ba tháng An cư, may y xong, nhan sắc tiều tụy, hình dung khô mòn, chấp trì y bát đến thôn Trúc  Lâm, để lễ chân Phật. Khi vừa đến thôn, Cụ thọ A-na-đà từ xa thấy các Bí-sô đồng phạm hạnh, khởi ý lân mẫn, xướng:

- Thiện lai!

A-nan-đà ra đón tiếp niềm nở, rước y bát, tích trượng, quân trì, cùng các tư cụ của Sa-môn chào hỏi:

- Cụ thọ! Các Ngài An cư ở đâu, đến ?

Chúng tôi ở tụ lạc Phật-lật-thị, An cư ba tháng mãn, nay đến đây để kính lễ đức Thế Tôn.

A-nan-đà hỏi:

- Các Ngài An cư nơi đó, trong ba tháng việc ẩm thực khất cầu có vất vả khó khăn lắm không ?

Các Bí-sô kia đáp:

- An cư nơi đó, tuy được an lạc, xong vấn đề khất thực hết sức khó khăn.

Cụ thọ A-nan liền bảo:

- Thật vậy! Nhìn vào sắc diện hình thể của các Ngài tiều tụy, khô mòn đủ để đoán định là vấn đề khất thực gặp phải khó khăn.

Trong khi ấy, năm trăm Bí-sô, mãn An cư nơi thôn người chài lưới, cũng chấp trì y bát, đến nơi thôn Trúc Lâm. Các Bí-sô thân hình mập béo, nhan sắc tươi nhuận hồng nào. Bấy giờ A-nan-đà cũng đón tiếp như trước, rồi hỏi:

- An cư nơi đó, vấn đề tìm cầu thức ăn dễ dàng, an lạc hạnh chứ ?

Các Bí-sô đáp:

- An cư nơi đó, thật sự được an lạc, tìm cầu thức ăn dễ, không khó.

A-nan-đà bảo rằng:

- Thật vậy, nhìn vào sắc diện hồng hào, mạnh khỏe của các Ngài, đủ biết tìm cầu thức ăn không khó.

Thế rồi, Tôn giả A-nan-đà lại xoáy sâu vào vấn đề, được các Bí-sô ấy trả lời:

- Chúng tôi đối với quyến thuộc của chúng tôi tự khen ngợi rằng: “Bí-sô này đắc vô thường tưởng, cho đến tám giải thoát”.

A-nan-đà nói:

- Những việc các Ngài trình bày là thật hay hư ?

Các Bí-sô đáp:

- Là thật!

A-nan-đà nói:

- Này, Cụ thọ! Các Ngài vì thức ăn nhỏ mọn mà đem Pháp thượng nhơn mình chứng, nói với người khác, như vậy có hợp lý không ?

Tôn giả đem nhơn duyên này bạch đầy đủ lên đức Phật. Đức Thế Tôn dùng duyên này tập hợp các Bí-sô, biết mà Ngài vẫn hỏi: ... (nói đầy đủ như trước) cho đến câu:

- Này, các Bí-sô! Có hay không, các ông vì miếng ăn mà đem những gì mà mình chứng được, nói với người chưa thọ Viên cụ phải không ?

- Các Bí-sô xác nhận là đúng như vậy.

Đức Thế Tôn bằng mọi cách quở trách các Bí-sô rồi... cho đến câu: chế Học xứ này như sau:

“Nếu, lại có Bí-sô, thật chứng được pháp thượng nhơn, đem nói với người chưa thọ Cận viên, Ba-dật-để-ca”.

+ Nếu, lại có Bí-sô: tức là năm trăm Bí-sô vốn là người chài lưới.

Ngoài ra, các nghĩa khác đều như trên. Thật chứng được: tức là sự việc đúng như vậy.

Pháp thượng nhơn: (như trước đã giải). Tha Thắng thứ tư và các Học xứ kế tiếp đã nói rõ.

Trong đây, vấn đề tướng phạm thế nào ?

Nhiếp tụng:

                             Thấy, tưởng A-lan-nhã.

                             Trong nhà nhận tòa tốt,

                             Hay biết đối tự tướng

                             Phương tiện rõ thân kia.

Nếu Bí-sô không có tâm hư vọng, khởi ý tưởng thật có, đối với người chưa Viên cụ, nói như vầy: Tôi thấy chư thiên, Rồng, Dạ xoa, Kiền-thác-bà, Khẩn-nại-la, Mạc-hô-lạc-già, A-tô-la, Tất-lệ-đa, Tất-xá-giá, Cưu-bàn-trà, Yết-tra-bổ-đơn-na, phạm Ba-dật-để-ca.

Nếu, nói: Tôi thấy quỹ Phấn tảo, phạm Đột-sắc-ngật-lý-đa..

Nếu Bí-sô không có tâm hư vọng khởi ý tưởng thật hiểu biết, đối trước người chưa thọ Viên cụ nói tôi nghe tiếng của trời cho đến tiếng của Yết-tra-bổ-đơn-na phạm Ba-dật-để-ca.

Nếu nói tôi nghe tiếng quỹ Phấn tảo, phạm tội Ác tác.

Nếu Bí-sô không có tâm hư vọng, khởi ý tưởng thật hiểu biết, nói: Tôi đến chỗ trời, cho đến chỗ Yết-tra-bổ-đơn-na, phạm tội Xả đọa.

Nếu, nói: Đến nơi chỗ quỹ Phấn tảo, phạm tội Ác tác.

Vấn đề này giống như Ba-la-thị-ca thứ tư, chỉ khác ở chỗ là giới trước thuộc tội Tha Thắng, giới này thuộc về tội Đọa, trước kia gọi là Thô tội đây nói là tội Ác tác.

Lại, trường hợp không phạm nữa là: người phạm ban đầu, hoặc si cuồng, tâm loạn, thống não bức bách.

 

Học xứ thứ chín: Chê bai xoay lợi vật của chúng.

Lúc bấy giờ, đức Phật ở tại thành Vương-xá, ao Yết-lan-đạc-ca, trong vườn Trúc Lâm. Lúc ấy, Bí-sô Thật Lực Tử, được chúng sai phân chia ngọa cụ và mời Tăng thọ trai. Ngài có tín tâm ý lạc hiền thiện. Nhận làm việc cho chúng cẩn thận, chu đáo, không từ khó nhọc. Tất cả vật tư sanh mà Ngài có, đối với ruộng phước của Tam bảo và các Bí-sô hạnh nguyện cao, Ngài đều cúng dường. Do sự cúng dường như vậy mà bản thân Ngài ba y không còn được lành lặn. Các Bí-sô thấy vậy, cùng nhau bàn tính:

- Cụ thọ Thật Lực Tử, được chúng Tăng sai phân chia ngọa cụ và mời chúng thọ trai. Ngài có tín tâm, ý lạc hiền thiện. Ngài làm việc cho chúng cẩn thận và chu đáo, không từ khó khăn. Tất cả vật cần cho sự sống mà Ngài có, đối với ruộng phước của Tam bảo và các Bí-sô hạnh nguyện cao, Ngài đều cúng dường. Do sự cúng dường như thế mà bản thân Ngài ba y không được lành lặn. Nếu, có người thí y cho Tăng-già thì chúng ta sẽ dành y ấy cho Thật Lực Tử.

Sau đó Tăng-già nhận được Bạch điệp tốt, các Bí-sô đem nhơn duyên ấy bạch đầy đủ với  đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn bảo:

- Các Bí-sô nên hòa chúng Đơn bạch trao cho Thật Lực Tử. Như vậy y này trở thành vật không tội lỗi. Thể thức thực hiện: Trải tòa, đánh kiền chùy, tập Tăng như thường lệ, tác bạch:

Đại đức Tăng-già, xin lắng nghe! Thật Lực Tử này có tín kính, tâm ý ưa hiền thiện, vì chúng coi ngó công việc, không từ khó nhọc, những vật sở hữu, giúp cho sự sống của mình, đối với ruộng phước Tam bảo và các Bí-sô có hạnh nguyện cao, thảy đều cúng dường. Mức độ cúng dường đến nỗi tự thân chỉ còn ba y mà đều bị hư rách. Nay, Tăng-già có nhận được một Bạch điệp tốt. Nếu, thời gian thích hợp đối với Tăng-già, Tăng-già hứa khả, nay đem Bạch điệp này trao cho Thật Lực Tử”. Đây là lời tác bạch.

Các Bí-sô vâng lời Phật dạy, Đơn bạch, đem Bạch điệp của Tăng trao cho Thật Lực Tử. Xong, Cụ thọ Thật Lực Tử, cùng với hai Bí-sô Hữu và Địa, đời trước có oán cừu, nghiệp duyên chưa dứt, đối trước Bí-sô, nói lời cơ hiềm hủy báng:

- Tại sao các Cụ thọ, đem lợi dưỡng của Tăng nhận được, tùy theo sự thân quen của mình, trao cho họ.

Các Bí-sô nghe như vậy rồi, nói:

- Này, Cụ thọ! Khi tác bạch, Cụ thọ cũng nhất trí, đồng tâm trao, kia mà!

Hai Bí-sô Hữu và Đại nói:

- Vâng! Tôi có tập hợp.

Các Bí-sô nói:

- Như vậy, tại sao lại cơ hiềm hủy báng ?

Hai Bí-sô nói:

- Đâu có chuyện khóc la cũng không được hay sao ?!

Khi ấy, các Bí-sô thiểu dục nghe nói sanh tâm hiềm sỉ, cùng nhau chê bai:

- Tại sao Bí-sô trước cùng đồng tâm, sau lại nói ngược lại rằng: “Các Cụ thọ đem lợi vật của chúng Tăng nhận được, trao cho người quen thân riêng của mình!”

Các Bí-sô bèn đem nhơn duyên này bạch đầy đủ với đức Phật, đức Phật bảo:

- Này, hai Bí-sô Hữu và Địa! Thật sự hai ông có nói: “Các Cụ thọ đem lợi vật của chúng Tăng trao cho người quen biết riêng của mình hay không ?

- Hai Bí-sô công nhận có thật.

Đức Thế Tôn bằng mọi cách quở trách rồi... (nói đầy đủ như trước) cho đến câu: Nay, Ta vì các Bí-sô chế Học xứ này như sau:

 “Nếu, lại có Bí-sô trước đồng tâm hứa khả, sau lại nói: Các Cụ thọ dùng lợi vật của Tăng, trao cho người thân quen riêng của mình, Ba-dật-để-ca ”.

+ Nếu, lại có Bí-sô: Chỉ cho Bí-sô Hữu và Địa hai Bí-sô.

Ngoài ra, nghĩa như trên.

Trước đồng tâm hứa khả: Trước đồng ý với việc trao y ấy.

Sau lại nói: Thời gian sau lại nói trao cho người quen biết riêng.

- Thế nào gọi là Bí-sô thân hậu ?

Tức là đệ tử cùng một thân giáo sư, thầy trao cho trò, trò trao cho thầy. Quỹ phạm sư, Y chỉ sư cũng như vậy.

Chúng Tăng, là đệ tử của Phật.

Lợi vật có hai thứ: Y phục và ẩm thực. Nơi đây là y lợi. Dùng của chúng Tăng trao cho người thân quen, Ba-dật-để-ca.

Các nghĩa khác đồng như trước.

Trong vấn đề này, tướng phạm thế nào ?

- Nếu Bí-sô tùy theo lợi vật nhiều hay ít của chúng Tăng, trước đồng tâm hứa, sau lại nói: Các Cụ thọ đem lợi vật của chúng Tăng, trao cho người quen thân riêng của mình, đều phạm tội Ba-dật-để-ca.

Nếu, thật sự Tăng không trao mà tự mình đem cho riêng thì nói không phạm.

Lại, trường hợp không phạm nữa là: Người phạm ban đầu, hoặc si cuồng, tâm loạn, thống não bức bách.

 

Học xứ thứ mười: Khinh ha giới.

Lúc bấy giờ, đức Phật ở thành Thất-la-phạt, rừng Thệ-đa, vườn Cấp-cô-độc. Đức Phật bảo các Bí-sô:

- Các ông mỗi nửa tháng thuyết kinh Ba-la-đề-mộc-xoa. Các Bí-sô vâng lời Phật dạy, mỗi nửa tháng thuyết kinh Ba-la-đề-mộc-xoa.

Lục quần Bí-sô khi nghe nói bốn Ba-la-thị-ca, im lặng không nói gì; khi nói Tăng-già-phạt-thi-sa, nhị bất định, ba mươi Ni-tát-kỳ Ba-dật-để-ca, chín mươi Ba-dật-để-ca, bốn Ba-la-đề-đề-xá-ni, các điều học pháp, bảy Pháp Diệt tránh, Lục quần Bí-sô nói như vậy:

- Nếu, các Cụ thọ biết việc và hiểu người, tại sao đối với tôi có những ghẻ bứu lại làm thương tổn ? Các Ngài đối với tiểu tùy, tiểu giới, mỗi nửa tháng thường tuyên đọc, khiến các Bí-sô tâm sanh ưu não, phát khởi sự truy hối có ích gì ?

Khi nghe như vậy, các Bí-sô liền trả lời:

- Này, Cụ thọ! Nay tôi không vì các Ngài mỗi nửa tháng nói kinh Biệt giải thoát mà chúng tôi vâng lời Đại sư dạy, cho nên nói.

Khi ấy, Lục chúng tuy nghe nói như thế nhưng vẫn cơ hiềm hủy báng không thôi và nói:

- Tại sao dụng ý nói tiểu tùy, tiểu giới này, khiến các Bí-sô sanh tâm ưu não, phát khởi sự truy hối ?

Các Bí-sô trả lời:

- Quý vị có nghe, mới biết trước đây làm điều gì tội lỗi; để sanh tâm truy hối chứ!

Thế là, các Bí-sô thiểu dục đều sanh tâm cơ hiềm xấu hổ, nói:

- Tại sao quý vị, trong mỗi nửa tháng, khi nghe nói bốn Ba-la-thị-ca thì im lặng, khi nói Tăng-già-phạt-thi-sa cho đên bảy Pháp Diệt tránh lại nói: Nếu các Cụ thọ biết việc và hiểu người... (nói đầy đủ như trước) cho đến câu:... phát khởi truy hối.

Bấy giờ, các Bí-sô đem nhơn duyên này bạch đầy đủ lên đức Phật, đức Phật bảo:

- Này, các Lục chúng, khi nói giới, thật sự các ông có nói như vậy hay chăng ?

Lục chúng Bí-sô thưa:

- Kính bạch đức Thế Tôn! thật sự, chúng con có nói như vậy.

Đức Thế Tôn bằng mọi cách quở trách... cho đến câu: ... chế Học xứ này như sau:

“Nếu, lại có Bí-sô, mỗi nửa tháng, khi nói Giới Kinh, nói như vậy: Cụ thọ! Phiền gì nói các Học xứ tiểu tùy, tiểu giới này. Khi nói các giới này, khiến các Bí-sô tâm sanh các Ác tác, ôm lòng não hối lo âu. Người nói như vậy là khinh chê giới, phạm Ba-dật-để-ca.”

          + Nếu, lại có Bí-sô: Tức Lục chúng Bí-sô. Các nghĩa khác như trên đã nói.

Nửa tháng: Là một nửa của tháng.

Giới: Từ bốn Tha thắng, cho đến bảy Diệt tránh.

Kinh: Tức là cái nghĩa theo thứ lớp tương ưng.

Thuyết là tuyên nói.

Các Cụ thọ v.v.. tức là chỉ các Bí-sô lòng ôm ưu não.

Khinh chê giới: Nói ra lời hủy báng trước mọi người.

Đọa nghĩa như trước.

Trong vấn đề này, tướng phạm thế nào ?

- Nếu, Bí-sô mỗi nửa tháng khi nói bốn Ba-la-thị-ca, Tăng-già-phạt-thi-sa, cho đến bảy Pháp Diệt tránh, nói như vầy: Cụ thọ! Phiền gì phải nói tiểu tùy, tiểu giới ấy, khiến các Bí-sô tâm sanh ác tác, thì phạm tội Ba-dật-để-ca.

Hoặc sanh não hối buồn lo, nóng nảy, hoặc nói rằng: Suy nghĩ nhớ việc đời, hoặc nói rằng: Không ưa xuất gia hoặc nói rằng: Trở về thế tục, nói các lời như vậy đều phạm tội Đọa.

Như vậy nên biết: Đối với mười sáu việc còn lại và tạp sự, Ny-đà-na, Mục-đắc-ca v.v...Và đối với Luật giáo, Tương ưng kinh, bao nhiêu kinh khác, khi nói các thứ này, Bí-sô nói: Cụ thọ! Phiền gì nói tiểu tùy, tiểu giới, khi nói như thế khiến các Bí-sô sanh tâm ác tác, phạm Ba-dật-để-ca.

Khi tuyên thuyết các thứ kinh khác, nói: Cụ thọ! Phiền gì y vào kinh này, nói việc như vậy, khiến người não hối v.v... Phạm tội Ác tác.

Không phạm: Người phạm ban đầu, hoặc si cuồng tâm loạn, thống não bức bách.

 

Nhiếp tụng thứ hai:

Chủng tử khinh não giáo

An sàng thảo nhục khiên

Cưỡng trụ thoát cước sàng

Kiêu thảo ưng tam nhị.

 

Học xứ thứ mười một: Phá hoại mầm sống.

Lúc bấy giờ, đức Phật ở tại thành Thất-la-phạt, rừng Thệ-đa, vườn Cấp-cô-độc. Lúc ấy, có một Mạc-ha-la Bí-sô, ngu muội vô thức, muốn vì Tăng-già tạo lập chùa lớn, bèn chặt cây đại thọ Thắng Diệu. Bấy giờ vị Thiên thần nương nấu nơi cây đó, sau phần đầu của đêm, với thân hình có ánh sáng tuyệt vời, đến chỗ ở của đức Phật, đảnh lễ chân Phật, ngồi qua một bên. Ánh sáng nơi thân của vị Thiên thần này chiếu rực cả rừng Thệ-đa. Vị Thiên thần bạch đức Phật:

- Kính bạch đức Thế Tôn: Có một vị Bí-sô tuổi già, ngu muội vô thức, không hiểu rõ thời nghi, muốn vì Tăng-già tạo lập chùa lớn, bèn chặt cây đại thọ Thắng Diệu. Cây này là ngôi nhà mà từ lâu tôi nương nấu cư trú. Thưa Đại đức (Phật) nay đã vào tiết Đông thiên, gió lạnh buốt người, trẻ con nam nữ, đêm không chỗ nương tựa, cúi xin đức Thế Tôn từ bi cứu xét, tôi nên lập kế hoạch thế nào!?

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bèn ra lệnh cho các vị Thọ thần khác rằng:

- Nơi nương nấu của quý vị có thể dung nạp vị Thiên thần, không có chỗ ở này không ?    

Các vị Thọ thần kia vâng lời đức Phật, sắp xếp cho vị Thiên thần đó có nơi nương nấu.

Lúc trời vừa sáng, đức Thế Tôn tập hợp các Bí-sô, Ngài ngồi chỗ ngồi như thường lệ, an tọa xong, bảo các Bí-sô:

- Trong đêm vừa qua, có một vị Thọ thần ánh sáng tuyệt vời, đến chỗ Ta, kính lễ xong, ngồi qua một bên. Thế rồi ánh sáng tỏa ra từ thân của vị Thiên thần chiếu sáng khắp rực rỡ rừng Thệ-đa, vị Thiên thần bạch rằng: “Kính bạch đức Thế tôn! Có một Bí-sô Mạc-ha-la tuổi già, ngu muội vô tri thức, không hiểu rõ thời nghi, muốn vì Tăng-già làm chùa lớn, bèn chặt cây đại thọ Thắng Diệu. Cây này, từ lâu là nhà cửa nơi nương nấu của tôi. Thưa Đại đức Thế Tôn! Nay, thời tiết thuộc Đông thiên, gió lạnh buốt xương, trẻ con nam nữ, đêm không chỗ nương, cúi xin Thế Tôn từ bi cứu xét, bấy giờ tôi phải làm thế nào ?!”. Này, các Bí-sô! Bí-sô Mạc-ha-la này làm việc phi pháp, chặt cây đại thọ Thắng Diệu, nơi nương ở của vị Thọ thần kia, khiến các Thiên thần cùng nhau hiềm tiện, trái với pháp của Thích tử.

Đức Thế Tôn lại khởi ý niệm: “Do Bí-sô này chặt cây đại thọ, cho nên sanh tội lỗi”. Vì vậy, từ nay về sau Bí-sô không nên chặt cây. Nếu chặt, phạm tội Việt pháp. Đây là duyên khởi nhưng chưa chế giới.

Đức Phật ở nơi rừng Khoáng Dã. như đức Thế Tôn dạy: “Không cho Bí-sô chặt các cây đại thọ”. Bởi vậy các Bí-sô thọ sự (Tri sự) đang công tác xây cất, đều phải gác lại hoặc bỏ đi. Đức Thế Tôn biết mà vẫn hỏi Cụ thọ A-nan-đà:

- Tại sao Bí-sô Thọ sự, đang trong việc xây dựng lại đình chỉ tất cả phải không ?

A-nan-đà bạch Phật:

- Kính bạch đức Thế Tôn! Đức Thế Tôn ở nơi thành Thất-la-phạt, bảo các Bí-sô không nên chặt các cây. Do nhơn duyên này cho nên không có gỗ để làm, công tác phải bị đình trệ.

Đức Phật bảo A-nan-đà:

- Có biện pháp dành cho Bí-sô trong việc xây dựng, nay ta nói đây:

“Phàm khi vị Thọ sự muốn chặt cây để lấy gỗ xây cất thì trước đó bảy, tám ngày nên thiết Mạn-trà-la ở dưới gốc cây, bày biện hương hoa, thiết lập phẩm vật cúng tế, tụng Tam khải kinh, Bí-sô kỳ cựu nên chú nguyện đặc biệt nói: Nói Thập thiện đạo, khen ngợi thiện nghiệp. Lại nên nói rằng: nếu ở nơi cây này, từ lâu có Thiên thần nào nương nấu, nên tìm đến chỗ khác để nương ở, cây này nay vì Phật, Pháp, Tăng bảo xây cất, nên chặt để sử dụng. Sau bảy, tám ngày thì chặt. Nếu, khi chặt có hiện tướng nào khác lạ thì nên đem lời, khen ngợi công đức thí xả, nói rõ tội lỗi của lòng xan tham tiếc rẻ. Nếu, vẫn còn hiện tướng kỳ lạ thì không nên chặt. Nếu không có hiện tướng nào thì mới chặt. Bí-sô làm công tác xây cất phải thực hiện theo Ta chế pháp này. Nếu không, phạm tội Việt pháp. Đây là duyên khởi nhưng chưa chế giới”.

Đức Phật ở tại thành Thất-la-phạt, rừng Thệ-đa vườn Cấp-cô-độc. Lúc ấy, Lục chúng Bí-sô tự làm hoặc bảo người chặt cây gỗ và phá bỏ các loài cây cỏ tươi sống, cho đến hái cả bông trái để sử dụng. Thời ấy, các ngoại đạo thấy việc làm như vậy đều sanh cơ hiềm:

- Các Sa-môn Thích tử này tự làm hoặc bảo người khác chặt phá cây cỏ. Chúng ta là người thế tục, Bà-la-môn v.v... cho dến những người làm thuê, tự chặt và bảo người chặt cây cỏ là việc dĩ nhiên. Sa-môn Thích tử cũng làm như vậy thì tuy xuất gia mà cùng người đời đâu có khác gì ?! Ai là người cúng dường cho hạng Sa-môn trọc đầu như vậy!

Các Bí-sô đem nhơn duyên này bạch đầy đủ với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn lấy việc này làm nhơn duyên tập hợp các Bí-sô, hỏi, đáp, quở trách như các giới trước, cho đến câu: vì các Bí-sô chế Học xứ này như sau:

“Nếu lại có Bí-sô tự phá hoại chủng tử, thôn xóm của hữu tình và khiến người khác phá hoại, Ba-dật-để-ca”.

+ Nếu, lại có Bí-sô : tức Lục chúng. Ngoài ra, các nghĩa đồng như trước.

Chủng tử thôn: Có năm loại chủng tử: Căn chủng, Hành chủng, Tiết chủng, Khai chủng và tử chủng.

Căn chủng là sao ?

- Tức như các loài hương phụ tử, Xương Bồ, Hoàng cương, Bạch cương, Ô Đầu phụ Tử v.v... Các vật này đều do chủng căn mà sanh, cho nên gọi là Căn chủng.

Hành chủng là sao ?

- Như cây Thạch Lựu, cây Liễu, cây Bồ Đào, cây Bồ-đề, cây Ô-đàm-bát-la, cây Lô-đà... Đều do cành mà sanh, cho nên gọi là hành chủng.

Thế nào gọi là Tiết chủng ?

- Như cây Mía, Trúc vĩ v.v... Đều do nơi lóng mắt mà sanh, nên gọi là Tiết chủng.

Thế nào gọi là Khai chủng ?

- Như cây Lan hương, Vân tuy, cây Quít v.v... Đều do lột vỏ, xé vỏ mới sanh, cho nên gọi là Khai chủng.

Thế nào gọi là Tử chủng ?

- Như các loại Lúa , loại Đậu v.v... Đều do hột mà sanh, nên gọi là Tử chủng. Gọi chung là Chủng tử thôn.

Thế nào gọi là Hửu tình thôn ?

- Tức chỉ cho các loài mòng muỗi, trùng kiến, v.v... Các loài này nương nơi cây cỏ để ở.

Nếu Bí-sô chặt phá cỏ cây đều phạm Ba-dật-để ca.

Trong vấn đề này, tướng phạm thế nào ?

 

Nhiếp tụng:

Gốc rể... sanh, chủng tưởng

Chặt cây cỏ và hoa

Cây và chỗ kinh hành

Thanh, đài, bình và giá.

Nếu Bí-sô đối với căn chủng khởi ý tưởng căn chủng; sanh tác khởi tưởng sanh, tự mình chặt, dạy người chặt, phạm Ba-dật-để-ca.

Nếu nghi, Ba-dật-để-ca. Nếu, vật khô, khởi ý tưởng là sống, nghi, khi chặt phá đều phạm tội Ác tác.

Nếu Bí-sô đối với căn chủng khởi ý tưởng là hành chủng, tưởng sống và nghi, tự mình chặt, dạy người chặt, đều phạm Ba-dật-để-ca.

Nếu là vật khô, khởi ý tưởng là sống, nghi, khi chặt phá đều phạm tội Ác tác.

Xét Căn chủng như vậy, thì rõ Tiết chủng, Thai chủng và Tử chủng đều có bốn phen, chuẩn theo đó nên biết.

Lại, dùng Hành chủng để tự xem vấn đề thì cũng sẽ rõ được bốn loại kia mỗi loại cũng đều có bốn phen. Nếu tưởng hay nghi đều phạm tội Đọa và Ác tác.

Chuẩn theo sự việc nói đầy đủ. Nếu Bí-sô đối với năm chủng tử tự làm hay bảo người khác làm, ném vào trong lửa, khởi ý niệm: khiến năm chủng tử này đều bị tổn hoại thì phạm năm tội Đọa, không tổn hại thì phạm năm tội Ác tác.

Nếu Bí-sô đối với năm chủng tử, tự làm hay bảo người làm, bỏ vào trong nước cũng như trước đã nói.

Nếu Bí-sô đối với năm chủng tử, bỏ vào trong cối, nghiền giã khiến cho các phần tử bị tổn hoại, phạm năm tội Đọa, không tổn hoại, phạm năm tội Ác tác.

Nếu Bí-sô lấy năm chủng tử để nơi chỗ đất khô ráo, hoặc để nơi chỗ nóng, chỗ tro, chỗ Cù-muội-da và chỗ đất cằn khô, dồn đống lại khiến cho nó bị tổn hoại, phạm tội đồng như trước.

Nếu Bí-sô lấy năm chủng tử hòa trộn làm bánh, nấu canh, khiến cho nó bị tổn hoại, phạm tội đồng như trước.

Nếu Bí-sô dùng mọi phương tiện chặt cây, khi chặt đứt, phạm tội Ác tác, một tội Đọa.

Nếu chặt một nhát mà đứt hai cây, thì phạm một Ác tác, hai tội Đọa.

Bí-sô dùng một lần chặt mà đứt nhiều cây thì phạm một Ác tác nhiều tội Đọa.

Nếu hai lần chặt đứt một cây thì phạm hai Ác tác, một tội Đọa.

Nếu hai lần chặt mà đứt hai cây thì phạm hai Ác tác, hai tội Đọa.

Nếu chặt hai lần mà đứt nhiều cây, phạm hai Ác tác, nhiều tội Đọa.

Nếu chặt nhiều lần mà đứt một cây thì phạm nhiều Ác tác, một tội Đọa.

Nếu chặt nhiều lần mà đứt hai cây , phạm nhiều Ác tác, hai tội Đọa.

Nếu chặt nhiều lần đứt nhiều cây, phạm nhiều Ác tác, nhiều tội Đọa.

Đối với cây như vậy, đối với sanh thảo và liên hoa v.v... chuẩn theo việc đắc tội nhiều hay ít, đồng như trước.

Nếu Bí-sô nhổ gốc cây, phạm tội Đọa. Nếu làm cho da cây bị nứt, bị đứt hư hoại, phạm Ác tác.

Nếu phá hoại phần cứng chắc, thương tổn đến cây, đều phạm tội Đọa.

Bí-sô làm tổn hoại cây cỏ tươi sống, phạm tội Đọa. Nếu tổn hoại lá vàng, phạm Ác tác.

Nếu tổn hoại đến hoa chưa nở, phạm tội Đọa, hoa đã nở phạm Ác tác.

Nếu phá hoại trái chưa chín, phạm tội Đọa, trái đã chín, phạm Ác tác.

Nếu chỗ đất có mọc cỏ, dùng nước sôi đổ lên trên hay lấy phân bò, bùn đổ lên trên, khiến cho nó bị tổn hoại, đều phạm tội Đọa, không tổn hoại phạm Ác tác.

Nếu, làm nghiêng đổ vật gì, tâm không có ý làm tổn hoại, không phạm.

Nếu Bí-sô đi kinh hành trên chỗ đất có cỏ, khởi ý nghĩ: khiến cho cỏ tổn hoại, tùy theo sự tổn hoại của nó, đều phạm tội Đọa.

Nếu, tâm chỉ nghĩ đến chuyện đi kinh hành thì không phạm.

Nếu chỗ đất có cỏ, kéo gai qua, hay lấy chiếu phủ lên trên, khiến cho nó bị hư hoại, phạm tội Đọa, không có tâm làm cho hư hoại thì không phạm.

Nếu đi kinh hành trên chỗ đất có rong xanh, có phạm, không phạm đồng như trước.

Trên khoảng đất có rong xanh này, kéo gai qua hay phủ chiếu, và các vật khác phạm tội đồng như trước.

Nếu, bèo, rong nổi trên nước, kéo nó, chưa lìa khỏi nước phạm Ác tác, lìa khỏi nước phạm tội Đọa.

Nếu nhổ mầm mọc trên đất, phạm Ác tác.

Nếu Bí-sô đối với bình chậu v.v... và trên y phục, hoặc mền, nệm, chiếu, chỗ máng y, có meo xanh, meo trắng dụng tâm làm tổn hoại, đều phạm Ác tác.

Nếu khiến người “tri tịnh” rồi mới thọ dụng thì không phạm.

Nếu, đối với năm món sanh chủng, khiến người “tri tịnh” cũng đều không phạm.

Lại trường hợp không phạm nữa là: Người phạm ban đầu, hoặc si cuồng tâm loạn, thống não bức bách.

 

CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA

QUYỂN 27- (hết)