CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠ-DA

QUYỂN 26.

TAM TẠNG PHÁP SƯ NGHĨA TỊNH PHỤNG CHẾ DỊCH.

 

Học xứ thứ hai: Mắng nhiếc (tiếp theo).

 

Trong vấn đề này tướng phạm thế nào ?

 

Nhiếp tụng chung:

Chủng tộc và công xảo

Nghiệp hình tướng, bệnh năm

Tội và phiền não loại,

Ác mạ là hậu biên.

Nhiếp tụng riêng:

Dòng họ dệt may lông

Thiết đồng và làm da

Thợ gốm và hớt tóc,

Làm cây tre, đầy tớ.

Bí-sô khởi ý hủy ta (mắng nhiếc), đến Bí-sô dòng họ Bà-la-môn nói như vầy:

- Cụ thọ! Ngài là dòng họ Bà-la-môn xuất gia, nay chẳng phải là Sa-môn, chẳng phải là Bà-la-môn. Bí-sô kia khi nghe lời nói như vậy rồi, tùy theo đó, sanh phiền não, hay không sanh phiền não, Bí-sô này phạm tội Ác tác.

Bí-sô khởi ý hủy ta, đến chỗ Bí-sô dòng Sát-đế-lỵ nói như vầy:

- Cụ thọ! Ngài là dòng Sát-đế-lỵ xuất gia, nay chẳng phải sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn. Bí-sô kia, khi nghe lời nói này rồi, tùy theo đó mà phiền muộn hay không phiền muộn, Bí-sô này phạm tội Ác tác.

Bí-sô khởi ý hủy ta, đến nơi Bí-sô dòng Bệ-xá nói lời như vầy:

- Cụ thọ! Ngài là dòng Bệ-xá xuất gia, nay chẳng phải là Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn. Bí-sô kia nghe nói như vậy rồi, tùy theo đó, mà phiền não, hay không sanh phiền não, Bí-sô này phạm tội Ba-dật-để-ca.

Bí-sô khởi ý hủy ta, đến chỗ Bí-sô dòng Thú-đạt-la nói như vầy:

- Cụ thọ! Ngài là Thú-đạt-la xuất gia, nay không phải là Sa-môn, không phải là Bà-la-môn. Bí-sô kia khi nghe the lời nói như vậy rồi, tùy theo đó, sanh phiền não hay không sanh phiền não, Bí-sô này phạm tội Ba-dật-để-ca.

Bí-sô khởi ý hủy ta, đến chỗ Bí-sô dòng thợ dệt nói như vầy:

- Cụ thọ! Ngài là dòng thợ dệt xuất gia, nay chẳng phải là Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn. Bí-sô kia khi nghe nói như vậy rồi, tùy theo đó, mà phiền não, hay không sanh phiền não, Bí-sô này phạm tội Ba-dật-để-ca.

Bí-sô khởi ý hủy ta, đến chỗ Bí-sô dòng họ làm nghề cạo lông nói như vầy:

- Cụ thọ! Ngài là dòng họ làm nghề cạo lông xuất gia, nay chẳng phải là Sa-Môn, chẳng phải Bà-la-môn. Bí-sô kia khi nghe nói như vậy rồi, tùy theo đó, mà phiền não, hay không phiền não, Bí sô này phạm tội Ba-dật-để-ca.

Bí sô khởi ý hủy ta, đến chỗ Bí sô dòng làm nghề thợ may nói như thế này:

- Cụ thọ! Ngài là dòng làm nghề thợ may xuất gia, nay chẳng phải là Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn. Bí-sô kia nghe nói như vậy rồi, tùy theo đó, sanh phiền não, hay không sanh phiền não, Bí-sô này phạm tội Ba-dật-để-ca.

Như vậy cho đến dòng làm thợ thiết, dòng làm thợ đồng, dòng làm thợ thuộc da, dòng làm thợ đồ gốm, dòng làm thợ hớt tóc, dòng làm thợ điêu khắc, dòng làm thợ mây tre lá, dòng làm đầy tớ, đều nên nói đầy đủ, chuẩn theo trên nên biết. Đây là luận về vấn đề chủng tộc rồi.

Bí-sô khởi ý hủy ta đến nơi Bí-sô dòng Bà-la-môn nói như vầy:

- Cụ thọ! Ngài là dòng Bà-la-môn xuất gia, nay chẳng phải là Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn. Nay, Ngài nên học các công xảo và các kỹ thuật, tức là oai nghi, pháp thức của Bà-la-môn cần có, cách cầm bình tẩy tịnh và lấy tro đất, đọc tụng quy củ của tiếng vò, tiếng bồng, sách bốn Bệ-đà, làm các phương pháp thí hội, thọ hội. Bí-sô kia nghe nói như vậy rồi, tùy theo đó sanh phiền não, hay không sanh phiền não, Bí-sô này phạm tội Ác tác.

Bí-sô khởi ý hủy ta đến chỗ Bí-sô dòng Sát-đế-lợi nói như vầy:

- Cụ thọ! Ngài là dòng Sát-đế-lợi xuất gia, nay chẳng phải là Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn. Nay, Ngài nên học công xảo và các kỹ thuật của mình, oai nghi pháp thức của Sát-đế-lợi cần có, như cỡi voi, ngựa xe, cầm cung tên xoay chuyển, tới lui, sử dụng các lại cung đàn, đâm chém, bắn tên tất cả các nghệ thuật. Bí-sô kia nghe như vậy rồi, tùy theo đó, mà phiền não, hay không phiền não, Bí-sô này phạm tội Ác tác.

Bí-sô khởi ý hủy ta, đến chỗ Bí-sô dòng Bệ-xá nói như vầy:

- Cụ thọ! Ngài là dòng Bệ-xá xuất gia, nay chẳng phải là Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn. Nay, Ngài nên học công xảo của mình. Oai nghi pháp thức của Bệ-xá cần có, như cầy ruộng, trâu bò, thời vụ v.v… Bí-sô kia khi nghe nói như vậy, tùy theo đó, mà phiền não, hay không sanh phiền não, Bí-sô này phạm tội Ba-dật-để-ca.

Bí-sô khởi ý hủy ta, đến chỗ Bí-sô dòng Thú-đạt-la nói như vầy:

- Cụ thọ! Ngài là dòng Thú-đạt-la xuất gia, chẳng phải là Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn. Nay, Ngài nên học công xảo của mình. Oai nghi pháp thức của Thú-đạt-la cần có, như vận chuyển cây củi, chăn nuôi cầm súc. Bí-sô kia khi nghe nói như vậy tùy theo đó, mà phiền não, hay không phiền não, Bí-sô này phạm tội Ba-dật-để-ca.

Bí-sô khởi ý hủy ta, đến chỗ Bí-sô dòng họ làm thợ dệt nói như vầy:

- Cụ thọ! Ngài là dòng họ thợ dệt xuất gia, chẳng phải là Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn. Nay, Ngài nên học công xảo của mình như đại điệp, tiểu điệp, phất lọng, y gai tơ... Bí-sô kia khi nghe nói như vậy, tùy theo đó, mà phiền não, hay không phiền não, Bí-sô này phạm tội Ba-dật-để-ca.

Bí-sô khởi ý hủy ta, đến chỗ Bí-sô dòng họ dệt lông nói như vầy:

- Cụ thọ! Ngài là dòng thợ dệt lông xuất gia, chẳng phải là Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn. Nay, Ngài nên học công xảo của mình, như thảm lớn, thảm nhỏ, hoặc dày, hoặc mỏng, nệm ngồi vuông tròn… Bí-sô kia khi nghe nói rồi, tùy theo đó, mà phiền não, hay không phiền não, Bí-sô này phạm tội Ba-dật-để-ca.

 Bí-sô khởi ý hủy ta, đến chỗ Bí-sô dòng họ thợ may nói như vầy:

- Cụ thọ! Ngài là dòng thợ may xuất gia, chẳng phải là Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn. Nay, Ngài nên học công xảo của mình như các kiểu mão, áo cụt, quần dài, quần cụt, áo dài... Bí-sô kia khi nghe nói như vậy, tùy theo đó, sanh phiền não, hay không sanh phiền não, Bí-sô này phạm tội Ba-dật-để-ca.

Bí-sô khởi ý hủy ta, đến chỗ Bí-sô dòng thợ thiết nói như vầy:

- Cụ thọ! Ngài là dòng thợ thiết xuất gia, chẳng phải là Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn. Nay, Ngài nên học công xảo của mình, như bát thiết lớn nhỏ, kim, da, dụng cụ cạo tóc, búa, rìu... Bí-sô kia khi nghe nói như vậy rồi, tùy theo đó, sanh phiền não, hay không sanh phiền não, Bí-sô này phạm tội Ba-dật-để-ca.

Bí-sô khởi ý hủy ta, đến chỗ Bí-sô dòng làm nghề đồng nói như vầy:

- Cụ thọ! Ngài là dòng làm nghề đồng xuất gia, chẳng phải là Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn. Nay, Ngài nên học công xảo của mình, như làm mâm đồng, bình đồng, chuông đồng... các vật. Bí-sô kia khi nghe nói như vậy rồi, tùy theo đó, sanh phiền não, hay không sanh phiền não, Bí-sô này phạm tội Ba-dật-để-ca.

Bí-sô khởi ý hủy ta, đến chỗ Bí-sô dòng làm nghề thuộc da nói như vầy:

- Cụ thọ! Ngài là dòng làm nghề thuộc da xuất gia, chẳng phải là Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn. Nay, Ngài nên học công xảo của mình như làm loại giày phú la, giày ống, dép... tất cả các lại guốc dép. Khi Bí-sô kia nghe nói như vậy, tùy theo đó mà phiền não, hay không phiền não, Bí-sô này phạm tội Ba-dật-để-ca.

          Bí-sô khởi ý hủy ta, đến chỗ Bí-sô dòng làm đồ gốm nói như vầy:

- Cụ thọ! Ngài là dòng làm thợ gốm xuất gia, chẳng phải là Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn. Nay, Ngài nên học công xảo của mình như các lại chậu, lu, bình, ghè... các vật. Khi Bí-sô kia nghe nói như vậy rồi, tùy theo đó mà phiền não, hay không phiền não, Bí-sô này phạm tội đồng như trước.

           Bí-sô khởi ý hủy ta, đến chỗ Bí-sô làm nghề thợ hớt tóc nói như vầy:

- Cụ thọ! Ngài là dòng làm nghề hớt tóc xuất gia, chẳng phải là Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn. Nay, Ngài nên học công xảo của mình, như hớt tóc đủ các kiểu, hớt móng tay, ráy tai... các việc. Khi Bí-sô kia nghe nói như vậy rồi, tùy theo đó mà phiền não, hay không sanh phiền não, Bí-sô này phạm tội đồng như trước.

          Bí-sô khởi ý hủy ta, đến chỗ Bí-sô dòng làm nghề gỗ nói như vầy:

- Cụ thọ! Ngài là dòng làm nghề gỗ xuất gia, chẳng phải là Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn. Nay, Ngài nên học công xảo của mình, như làm các lại giường, các lại ghế ngồi, song cửa, sườn nhà các việc. Khi Bí-sô kia nghe nói như vậy rồi, tùy theo đó mà phiền não, hay không sanh phiền não, Bí-sô này phạm tội đồng như trước.

          Bí-sô khởi ý hủy ta, đến chỗ Bí-sô dòng làm nghề mây tre nói như vầy:

- Cụ thọ! Ngài là người dòng làm nghề mây tre xuất gia, chẳng phải là Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn. Nay, Ngài nên học công xảo của mình, như làm rương, làm chiếu, làm quạt, làm lọng... Khi Bí-sô kia nghe nói như vậy rồi, tùy theo đó, sanh phiền não hay không, Bí-sô này phạm tội đồng như trước.

          Bí-sô khởi ý hủy ta, đến chỗ Bí-sô dòng làm nghề đầy tớ nói như vầy:

- Cụ thọ! Ngài là người dòng làm đầy tớ xuất gia, chẳng phải là Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn. Nay, Ngài nên học công xảo của mình, như rửa chân, tắm cho người ta, đấm bóp, phục dịch v.v... Khi Bí-sô kia nghe nói như vậy rồi, tùy theo đó, sanh phiền não hay không, Bí-sô này phạm tội đồng như trước.

Đây là luận về công xả xong.

Bí-sô khởi ý hủy ta, đến chỗ Bí-sô dòng Bà-la-môn nói như vầy:

- Cụ thọ! Ngài là người dòng Bà-la-môn xuất gia, chẳng phải là Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn. Nay, Ngài nên làm theo sự nghiệp của mình, nghĩa là thực hiện các ai nghi pháp thức của Bà-la-môn cần có. Như cầm cái bình tẩy tịnh v.v... các hạnh nghiệp (như trước đã nói rõ). Khi Bí-sô kia nghe nói như vậy, tùy theo đó mà phiền não hay không sanh phiền não. Bí-sô này Ác tác tội.

Như vậy cho đến dòng Sát-đế-lợi khiến làm theo hạnh nghiệp của họ (như trước đã rõ) phạm tội Ác tác.

Hoặc là đối với dòng Bệ-xá, Thú-đạt-la và các loài khác cho đến hạng đầy tớ, khiến làm theo hạnh nghiệp của họ (chuẩn theo trước đã nói về các khí cụ của họ). Bí-sô này phạm tội Ba-dật-để-ca.

Đây luận nói về công việc đã làm xong.

Bí-sô khởi ý hủy mạ nhục đến nơi Bí-sô què hai chân nói như vầy:

- Cụ thọ! Ngài là người què chân xuất gia, chẳng phải Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn. Khi Bí-sô kia nghe như vậy, tùy theo đó, sanh phiền não hay không, Bí-sô này phạm tội Ba-dật-để-ca.

Như vậy, cho đến đối với những Bí-sô mắt chột, mắt mù, gù lưng, câm, ngọng, chống gậy tướng mạo xấu xí v.v… Khi Bí-sô này đến những Bí-sô có tướng mạo xấu xí như trên nói, Bí-sô kia nghe rồi, tùy theo đó, sanh phiền não hay không, Bí-sô này phạm tội Ba-dật-để-ca.

          Đây là luận về hình tướng xong.

Bí-sô khởi ý hủy ta, đến nơi Bí-sô có bệnh hoạn nói như vầy:

- Cụ thọ! Ngài là người có bệnh hoạn xuất gia, chẳng phải là Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn. Khi Bí-sô kia nghe nói như vậy, tùy theo đó, sanh phiền não hay không, Bí-sô này phạm tội đồng như trước. Cho đến những vị có ghẻ lở, sói đầu, các loại bệnh nan y phù thủng…

Bí-sô khởi ý huỷ ta, đến những Bí-sô có bệnh như trên nói:

- Cụ thọ! Ngài mang những chứng bệnh nan y xuất gia, chẳng phải là Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn. Bí-sô kia khi nghe nói như vậy rồi, tùy theo đó, sanh phiền não hay không, Bí-sô này phạm tội đồng như trước.

Đây là luận về bệnh xong.

Thế nào gọi là tội ?

Nếu Bí-sô khởi ý huỷ ta, đến chỗ Bí-sô nói như vầy:

- Cụ thọ! Ngài phạm Ba-la-thị-ca, chẳng phải là Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn. Bí-sô kia khi nghe nói như vậy rồi, tùy theo đó, sanh phiền não hay không, Bí-sô này phạm tội đồng như trước.

Như vậy, cho đến nói: Ngài phạm Tăng-già-phạt-thi-sa, Tốt-thổ-la-để-dã, Ba-dật-để-ca, Ba-la-đề-đề-xá-ni, Đột-sắc-ngật-lý-đa, chẳng phải là Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn. Bí-sô kia nghe như vậy rồi, tùy theo đó sanh phiền não hay không, Bí-sô này phạm tội đồng như trước.

Đây là luận về tội xong.

Thế nào gọi là phiền não ?

Bí-sô khởi ý hủy ta, đến chỗ Bí-sô nói như vầy:

- Cụ thọ! Ngài ưa sân nhuế, chẳng phải Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn. Khi Bí-sô kia nghe nói như vậy rồi, tùy theo đó, sanh phiền não hay không, Bí-sô này phạm tội đồng như trước.

Như vậy, cho đến nói: Ngài có hận, phú, não, tật, xan, cuống, siểm, vô tàm quí, ác hạnh, tà kiến, phạm tội đồng như trước. Như vậy gọi là phiền não.

Thế nào gọi là ác mạ ?

Bí-sô khởi ý hủy ta, đến Bí-sô có các điều bỉ ổi nói những lời mạ nhục. Bí-sô khi nghe nói như vầy rồi, phạm tội đồng như trước.

Trường hợp không phạm: Một trú xứ có nhiều Bí-sô trùng tên với nhau. Nếu nói với người kia mà người kia không hiểu, bảo: Bí-sô chủng loại như vậy… những trường hợp trên đều không phạm.

Lại trường hợp không nữa: Người phạm ban đầu, hoặc si cuồng tâm loạn, thống não bức bách.

 

Học xứ thứ ba: Nói lời ly gián.

Lúc bấy giờ, đức Phật ở thành Thất-la-phạt, rừng Thệ-đa, vườn ông Cấp-cô-độc. Lúc ấy, Lục chúng Bí-sô đối với các Bí-sô nói lời ly gián. Các Bí-sô cùng nhau oán hận, rất xấu hổ, ai nấy đều ưu sầu, không an vui trong nếp sống, phế bỏ việc tụ tập chánh nghiệp, đọc tụng tư duy. Bao nhiêu tâm niệm ưu ái với nhau từ lâu bị đỗ vỡ. Các Bí-sô thiểu dục nghe sự việc như vậy rồi, tâm sanh hiềm tiện, phát biểu:

- Tại sao các Bí-sô lại đối với các Bí-sô nói lời ly gián.

Các Bí-sô đem vấn đề này trình bày đầy đủ với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn dùng nhân duyên này tập hợp các Bí-sô. Ngài biết mà vẫn hỏi Lục chúng Bí-sô :

- Thật sự các ông có nói lời ly gián hay không?.

Lục chúng thưa:

- Bạch Đức Thế Tôn! Sự thật chúng con có nói lời ly gián.

Đức Thế Tôn bảo:

- Các ông chẳng phải là Sa-môn, chẳng phải hạnh tùy thuận; các ông là những người không thanh tịnh, làm việc không nên làm, chẳng phải việc làm của người xuất gia làm.

Đức Thế Tôn bằng mọi cách quở trách rồi, bảo các Bí-sô :

- Nếu, các ông nói lời ly gián là các ông tự làm tổn hại mình và tổn hại kẻ khác. Các ông nên khéo lắng nghe:

Ngày xưa, có một con sư tử cái mang thai, sống trong khu rừng nguy hiểm. Theo lệ, trước khi sanh, sư tử mẹ, cần tập trung nhiều thịt để dành ăn. Vì nhu cầu tập trung thịt nên con sư tử tìm đến chỗ đàn bò và rình rập đi theo sau. Khi ấy, có một con bò cái vừa mới sanh một con bê con. Nhằm mục đích bảo vệ con của mình, nên con bò đó cùng con đi sau bầy bò. Con sư tử giết con bò cái mang về rừng Nguy hiểm, nơi nó ở. Thế là con bê con vì ham sữa nên lẻo đẻo đi theo thây chết của con bò mẹ đến nơi chỗ ở của con sư tử. Con sư tử thấy vậy có ý nghĩ: “Con bê con này ta nay cũng bắt giết luôn”. Sau đó, sư tử lại nghĩ: “Con bê con này ta không cần giết. Ta để nó sống, sau này nó vui chơi với con của ta”.

Sau khi con sư tử sanh con, con bê con cùng với con của con sư tử được nuôi chung bằng một vú sữa của con sư tử mẹ. Cả hai cùng khôn lớn. Thời gian sau, con sư tử mẹ lâm bệnh, gần đến lúc chết, nó kêu con bê con và con của nó đến khuyên dạy:

- Này, hai đứa con! Hai đứa con cùng được nuôi bằng một vú sữa của mẹ. Tình thương của mẹ đối với hai con như nhau, không hề có sự sai khác. Hai đứa con trở thành anh em với nhau. Hai đứa con nên biết người thế gian hay làm việc ly gián. Họ dùng lời siểm khúc hợp tác, cấu kết để làm cho cả cõi Thiệm-bộ này ly gián. Sau khi mẹ trút hơi thở cuối cùng, hai đứa con cần cẩn thận, cân nhắc từng lời nói của ta, đừng vội nghe theo một cách dễ dàng để rồi chuốc lấy sự nguy hiểm!

Dứt lời, sư tử mẹ trút hơi thở cuối cùng.

Đức Phật gọi các Bí-sô và nói:

- Này các Bí-sô các pháp thường là vậy.

Ngài nói kệ:

Tích tụ đều tiêu tán.

Tung càng cao, rớt nặng.

Hợp hội rồi biệt ly

Có thân đều phải chết.

Sau khi sư tử mẹ qua đời con của nó, khéo đánh bắt hưu nai. Thịt nóng, máu nóng của thú bắt được đã nuôi lớn sư tử rất nhanh. Còn con bò con kia thì nương vào sức mạnh của sư tử bảo vệ bò có khu vực cỏ tốt, tha hồ ăn uống thỏa thuê, bò khỏe mạnh, lớn nhanh.

          Khi ấy có một con Dã can già tuổi, thường đi theo con sư tử để kiếm ăn dư thừa. Mỗi khi con sư tử ăn thức ăn tươi sống rồi, liền trở về chỗ ở để cùng con đại ngưu vui chơi. Những thịt tươi sống của cầm thú còn thừa, con Dã can tận hưởng.

Một hôm nọ, con dã can già nảy ra ý nghĩ: “Ta thử xem con sư tử vương này cư trú nơi rừng nào”. Thế là, con Dã can đi theo sau con sư tử. Nó nhìn thấy sư tử và một khu rừng rồi cùng vui chơi với con Ngưu vương. Trông cảnh này nó nghĩ bụng: “Hai con vật này sẽ vào trong bụng của ta. Nay, ta cần đánh đòn ly gián để chúng tự giết nhau, rồi ta thụ hưởng.

Bữa nọ, con Dã can đợi sư tử ra đi, đến bên Ngưu vương đứng xũ tai. Pháp của nhà vua, người nhỏ kêu người lớn bằng cậu, người lớn gọi người nhỏ bằng cháu. Con bò thấy con Dã can lớn tuổi, chào và hỏi thăm:

- Chào cậu! Cậu có bị gió nóng thổi, thân hình khốn khổ nên tai bị xũ xuống phải chăng ?!

          Dã can trả lời:

- Này cháu! Không phải chỉ bị gió nóng thổi làm khổ sở thân thể ta mà lại còn có tin tức nóng bỏng như lửa đốt.

          Ngưu vương hỏi:

- Tin tức gì vậy ?

          Dã can trả lời:

- Cậu nghe con sư tử nói như vầy: “Ta nuôi con bò như để dành thịt, khi nào ta không tìm được thịt, ta sẽ giết nó để ăn !”

          Con bò liền trả lời:

- Thưa cậu! Cậu đừng nói lời ấy. Mẹ của tôi khi lâm chung đã di chúc cho chúng tôi Rằng: “Hai đứa con cùng được nuôi bằng một vú sữa của mẹ. Tình thương của mẹ đối với hai con như nhau, không hề có sự sai khác. Hai đứa con trở thành anh em với nhau. Hai đứa con nên biết: Người đời thường hay ly gián. Họ dùng lời siểm khúc, hợp tác, kết cấu làm cho cả cõi Thiệm-bộ này ly gián. Sau khi mẹ trút hơi thở cuối cùng, hai đứa con cần cẩn thận, cân nhắc từng lời nói của người ta, đừng vội nghe theo một cách dễ dàng, để rồi chuốc lấy sự nguy hiểm!”.

Dã can trả lời:

- Cháu phải nhận lấy cái chết một ngày không xa. Cậu muốn nói điều lợi ích mà cháu lại không nghe!

Con bò hỏi:

- Dựa và hiện tượng thế nào mà cậu biết con sư tử khi ấy sẽ giết cháu ?!

Con Dã can trả lời:

- Này, cháu! Khi nào con sư tử từ trong hang bước ra, với thân thể vậm vỡ, gầm, hét, rống ba tiếng, xoay ngó bốn phía. Theo thứ tự như vậy rồi bước đến trước cháu. Chính lúc ấy là lúc sư tử muốn giết cháu.

Dã can nói như vậy rồi, liền bỏ con bò mà đi. Dã can lại đến bên con sư tử đứng xũ tai. Sư tử thấy hỏi:

- Chào cậu! Cậu có bị gió nóng thổi, khiến cơ thể khốn khổ, tai bị xũ xuống phải chăng?!

Dã can trả lời:

- Này cháu! Cậu, không phải chỉ bị gió nóng thổi và cơ thể mà lại có nghe lời nói ác, tai hại đồng như lửa đốt.

Sư tử hỏi:

- Lời nói ác ấy thế nào, thưa cậu!

Dã can tỏ vẻ buồn, nói:

- Này, cháu! Cậu nghe Ngưu vương nói thế này: “Con sư tử này là kẻ thù của ta, vì trước đây mẹ nó giết mẹ ta! Nay, ta phải đâm thủng bụng nó bằng sừng nhọn của ta”.

Con sư tử vừa nghe liền nói:

- Thưa cậu! Cậu đừng nói lời ấy. Mẹ của chúng tôi khi gần trút hơi thở cuối cùng, nói với chúng tôi rằng: “Hai đứa con cùng nuôi bằng một vú sữa của mẹ. Tình thương của mẹ đối với hai đứa con như nhau, không hề có sự sai khác. Hai đứa con trở thành anh em với nhau. Hai đưa con nên biết: Người đời hay ly gián. Họ dùng lời siểm khúc hợp tác, cấu kết làm cho cả cõi Thiệm-bộ này ly gián. Sau khi mẹ trút hơi thở cuối cùng, hai đứa con cần phải cẩn thận, cân nhắc kỹ lời nói của người ta, đừng vội nghe the một cách dễ dàng, để rồi chuốc lấy sự nguy hiểm!”.

Dã can trả lời:

- Cháu phải nhận lấy cái chết một ngày không xa. Cậu muốn trình bày việc lợi ích mà cháu lại không nghe !

Sư tử lại trả hỏi:

- Cậu dựa và hiện tượng nào để biết khi ấy bò sẽ giết cháu ?!

Dã can trả lời:

- Này, cháu ! khi nào Ngưu vương từ trong hang bước ra, thân thể rung động, rống lên tiếng rống, rồi lấy móng chân cào xuống đất. Bò hành động theo thứ tự như vậy, rồi đi đến trước cháu. Chính lúc ấy lúc bò muốn giết cháu.

Dã can nói như vậy rồi, bỏ đi.

- Này, các Bí-sô: Ngưu vương cùng với sư tử, mỗi lần ra khỏi hang, thường có những động tác như vậy, mà đều không hề có một dự tính gây một tội lỗi nào.

Sau một thời gian, sư tử ra khỏi hang, với thân thể vậm vỡ gầm, hét, rống ba tiếng, ngó bốn phía, rồi bước đến trước con bò. Con bò cũng ra khỏi hang, lay động thân thể, rống lên tiếng rống, rồi lấy móng chân cào xuống đất, bước đến trước con sư tử. Đây là việc làm hằng ngày mà không hề để ý. Nay, trong tâm của hai bên có ý tưởng ly gián nên mới để ý theo dõi hành động của bên kia. Con bò thấy con sư tử hiện tướng trạng như vậy rồi bước đến, bèn nghĩ là nó muốn giết mình. Con sư tử thấy con bò hiện tướng trạng, như vậy rồi bước đến, bèn cũng có ý nghĩ là nó giết mình. Con sư tử liền lấy cái móng nhọn “đóp” phía sau cổ họng con bò, con bò cũng dùng cái sừng đâm vào bụng con sư tử. Trong giây lát cả hai đều bỏ mạng. Khi ấy có chư thiên từ trên hư không nói bài kệ:

Nếu nghe lời kẻ ác

Ắt không việc hiền thiện

Sư tử, bò thương nhau

Dã can xúi đấu chết.

Này, các Bí-sô ! Đây là loài Bàng sanh, do nghe lời ly gián, không nghe lời bà mẹ dặn, đến nỗi phải giết nhau, huống là đối với người mà nói lời ly gián. Do vậy, các ông không nên đối với người làm việc ly gián. Đây là duyên khởi nhưng chưa chế Học xứ.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn lại bảo các Bí-sô :

- Này, các Bí-sô ! Các ông nên chăm chú nghe:

Xưa kia trong khu rừng Đại hiểm có một con sư tử mẹ và một con cọp mẹ, mỗi con đều có nuôi một đứa con. Hai con thú trên cùng ở trong khu rừng này mà không gặp nhau. Một hôm nọ, con sư tử mẹ đi ra ngoài tìm thức ăn. Khi ấy, con của sư tử đi dạo chơi trong rừng, bất ngờ đi đến chỗ ở của con hổ. Hổ mẹ từ xa thấy con sư tử con bèn nghĩ: “Ta sẽ giết con vật bé này để làm thức ăn”. Nhưng rồi nó lại nghĩ: “Không nên giết, sẽ để con của ta, làm bạn với nó, cùng nhau vui chơi”.

Lúc ấy, con sư tử con vì sự đói bức bách, nên đến chỗ con hổ cùng bú sữa.

Sau đó, con sư tử mẹ trở về trú xứ của mình, không thấy sư tử con, đi tìm kiếm khắp núi non, lại thấy con của mình đang bú sữa bên con hổ. Trông thấy con sư tử đến, con hổ mẹ muốn bỏ chạy. Con sư tử liền kêu nói:

- Này, chị em đừng nên chạy, chị em đối với con của tôi có lòng lân mẫn. Nay, tôi với chị em hãy cùng ở một chỗ. Khi tôi đi ra ngoài thì chị trông nom hai đứa con. Khi chị đi tìm thức ăn thì tôi chăm sóc hai đứa nó. Chia bùi xẻ ngọt, hài hòa chung sống nhau, đó là điều tốt đẹp!

Hai bên bàn bạc trù tính mọi việc xong, bèn cùng sống chung. Việc làm trước tiên là đặt tên cho hai con thú con. Sư tử con được đặt tên là Thiện Nha, cọp con được đặt tên Thiện Bác. Cả hai đều được nuôi dưỡng như nhau, dần dần trưởng thành. Sau một thời gian lâu, cả hai con thú mẹ đều nghĩ đến chuyện sau khi mình qua đời nên kêu hai con thú con đến dặn:

- Này, hai đứa con! Hai đứa con đều được nuôi bởi một vú sữa như nhau. Tình thương của hai mẹ đối với hai con không có sự sai khác. Hai đứa con là hai anh em với nhau. Hai đứa con nên biết: “Bọn người ly gián đầy nhẫy giữa thế gian này. Sau khi hai mẹ qua đời, hai con cần cẩn thận, cân nhắc lời nói của người khác, không nên nghe theo một cách dễ dàng”. Hai con thú mẹ nói như vậy rồi, sau đó mạng chung.

Này, các Bí-sô ! Các pháp thường là như vậy. - Nói bài tụng như trước.

Sau khi hai con thú mẹ qua đời, sư tử con đi ra ngoài liền tìm được thức ăn; ăn no bằng thịt tươi sống rồi về lại rừng. Còn, hổ con khi đi ra ngoài thì phải thời gian lâu mới về. Hôm nọ, hổ con đi ra ngoài tìm thức ăn. Nó ăn thức ăn bữa trước còn lại nên quay trở về rất mau. Sư tử con thấy vậy lấy làm lạ hỏi:

- Mỗi lần ông anh em đi tìm thức ăn mất nhiều thời gian mới về, tại sao nay về nhanh thế ?

Hổ con trả lời:

- Tôi ăn thức ăn, bữa trước còn dư cất lại, nên về mau.

Sư tử hỏi:

- Như vậy là ông bạn ăn thịt hôi thúi à!

Hổ con trả lời:

- Chính vậy!

- Sư tử con nói: mỗi lần đi ra ngoài, tôi đều lấy được thức ăn hưu nai tươi sống rất tốt. Với thức ăn ngon bổ như vậy, tôi ăn xong rồi trở về. Những thứ còn thừa tôi không thèm ngó lại.

Hổ con thủ phận nói:

- Dòng họ người anh em có một sức mạnh phi thường, mới có được khả năng để làm như vậy. Chúng tôi không đủ năng lực nên thường phải ăn thịt cũ dư thừa.

Sư tử con nghe, thương tâm nói:

- Nếu, như vậy thì khi nào tìm thức ăn, cùng đi với tôi. Thịt mới tươi sống ngon bổ tìm được chúng ta cùng ăn với nhau.

Sư tử và hổ trù tính như vậy rồi thường cùng đi với nhau. Khi chưa cùng đi, có con Dã can già, thường đi theo sau con sư tử, chực ăn những thứ dư thừa. Sau khi thấy con hổ cùng đi với con sư tử, con Dã can sanh ý nghĩ: “Hai con này, rồi đây, đều sẽ phải vào trong bụng của ta. Nay ta nên đánh đòn ly gián, khiến cho nó tự giết nhau”. Con Dã can đợi khi không có con hổ, đến bên con sư tử, xũ tai, đứng. Sư tử thấy vậy bèn hỏi:

- Thưa cậu, cậu bị gió nóng thổi, khiến cho thân thể khốn khổ, bị xũ tai phải không ?

Dã can trả lời:

- Này cháu! Đâu phải chỉ bị gió nóng thổi, khiến cho thân thể cậu bị khốn khổ mà cậu lại nhận được nguồn tin, xem ra như lửa đốt.

Sư tử hỏi vội:

- Cậu nói như vậy, có nghĩa là gì?!

Dã can trả lời:

- Cậu nghe con mãnh hổ nói như vầy: “Khả năng sư tử nhắm đến chỗ nà thì ở đó phải ăn cỏ. Mỗi lần như thế, sư tử này thường bắt ta ăn thịt dư. Nếu có cơ hội ta sẽ giết nó”.

Sư tử vừa nghe liền nói:

- Cậu đừng nói như vậy: “Mẹ của chúng tôi, trước khi trút hơi thở cuối cùng có dặn dò chúng tôi rằng: Này, hai đứa con! Hai đứa con cùng được nuôi bằng một vú sữa như. Tình thương hai mẹ đối với hai con như nhau. Hai đứa con là anh em với nhau. Hai đứa con phải biết rằng: Bọn người ly gián đầy nhẫy giữa thế gian này. Sau khi hai mẹ qua đời, hai đứa con cần cẩn thận, cân nhắc lời nói của kẻ  khác, không nên vội tin”.

Dã can lại nói:

- Này, cháu! Không bao lâu nữa cháu phải bị giết, cậu muốn nói việc lợi ích cho cháu mà cháu lại không nghe.

Sư tử hỏi:

- Cậu dựa vào hiện tượng nào mà biết hổ sẽ giết tôi ?

Dã can nói:

- Này, cháu! Khi hổ ra khỏi hang, khua động thân thể, gầm hét ba tiếng, quay vòng ngó bốn bên. Lần lượt qua các động tác như vậy rồi, hổ bước đến trước cháu, chính là lúc trong tâm của hổ có ý muốn giết cháu.

Dã can nói như vậy rồi, bỏ chỗ sư tử đi. Sau đó, Dã can đến chỗ hổ cũng đứng xũ tai. Hổ thấy vậy hỏi:

- Thưa cậu! Cậu bị gió nóng, khiến cho thân thể cậu bị khổ sở nên cậu đứng xũ tai phải không ?

Dã can trả lời:

- Này cháu! Cậu không những bị gió nóng, bức bách thân cậu mà còn nhận được lời ác, xem ra như lửa đốt!

Hổ liền hỏi:

- Tin tức gì vậy, thưa cậu ?

Dã can trả lời:

- Này, cháu! Cậu nghe con sư tử nói như vậy: “Hổ kiếm đâu ra được thức ăn dư kia! Ta đã cực khổ tìm kiếm để cho nó ăn. Nếu, có cơ hội, ta sẽ giết nó để làm thức ăn”.

Hổ liền ngắt lời Dã can, nói:

- Cậu! Đừng nói như vậy! Mẹ của chúng tôi, trước khi trút hơi thở cuối cùng, nếu nói với chúng tôi: “Này, hai đứa con! Hai đứa con cùng nuôi bằng một vú sữa. Tình thương hai mẹ với hai con như nhau. Hai đứa con là hai anh em với nhau. Hai đứa con nên biết: Bọn người ly gián đầy nhẫy giữa thế gian này. Sau khi hai mẹ qua đời, hai đứa con phải cẩn thận, cân nhắc lời nói của kẻ khác, không nên vội tin”.

Dã can lại nói:

- Này, cháu! Không bao lâu nữa cháu sẽ bị giết, cậu nói việc lợi ích cho cháu mà cháu lại không nghe!

Hổ hỏi :

- Cậu dựa và hiện tượng nào mà nói sư tử sẽ giết tôi ?

Dã can nói:

- Này, cháu! Khi sư tử ra khỏi hang, với thân hình khẻo mạnh, nó rống lên ba tiếng, ngó bốn phía, bước đến trước cháu. Chính lúc ấy, trong tâm của sư tử muốn giết cháu.

Dã can nói như vậy rồi bỏ đi.

Này các Bí-sô! Sư tử cùng với hổ, khi ra khỏi hang thường có những hành động như vậy, mà không hề có toan tính một tội lỗi nà.

Sau một thời gian khác, khi sư tử ra khỏi hang, với thân hình mạnh khẻo, rống lên ba tiếng, ngó bốn phía, bước đến trước con hổ. Cùng lúc ấy, hổ cũng ra khỏi hang, khua động thân thể gầm hét ba tiếng, quay vòng ngó bốn bên, bước đến trước con sư tử. Những động tác này cả hai con thú, xảy ra hằng ngày mà không hề để ý lẫn nhau. Lần này, trong tâm của hai chúng nó, có ý tưởng ly gián, cho nên cả hai đều để ý lẫn nhau. Hổ thấy sư tử hiện tướng như vậy bước đến, bèn khởi ý nghĩ: “Sư tử muốn giết mình”. Sư tử thấy hổ hiện tướng như vậy bước đến, cũng khởi ý nghĩ: “Hổ muốn giết mình”. Khi ấy, sư tử lại suy nghĩ: “Ta có một sức mạnh vô địch, làm gì có chuyện hổ có thể giết ta”. Nay ta nên hỏi ngay hổ: Vì lý do gì hổ muốn giết ta.

Sư tử liền nói kệ:

Hình dung rất thù diệu,

Dũng kiện nhiều sức mạnh

Thiện Bác ngươi không nên

Ác tâm đến hại ta.

Hổ nghe rồi cũng nói kệ:

Hình dung rất thú dịêu,

Dũng kiện nhiều sức mạnh

Thiện Nha ông không nên

Ác tâm đến hại ta

Nói kệ xong, Thiện Nha hỏi Thiện Bác rằng:

Ai nói với em rằng:

- Anh có tâm muốn giết em?!

Thiện Bác trả lời:

- Ông Dã can già nói như vậy.

Khi ấy, Thiện Bác cũng hỏi Thiện Nha:

Ai nói với anh:

- Em có tâm muốn giết anh ?!

Thiện Nha cũng nói:

- Lão Dã can nói.

Thiện Nha liền nói:

- Do tên khốn nạn này, gây nên việc nguy hại đây. Nếu không kịp thời tìm hiểu, chúng ta phải giết nhau.

Sư tử liền kêu Dã can đến, giết chết ngay!

Khi ấy, chư thiên nói kệ:

Không nên vì lời người

Vất bỏ tình thân hữu

Khi nghe lời người khác

Cẩn thận phải xét suy

Dã can ở trong hang

Khởi ác tâm ly gián

Cho nên người có trí

Không nên vội tin theo.

Dã can ngu ác này

Ngụy tạ lời giết nhau

Ly gián tình thân hữu

Giết chết mới an vui.

 

Này, các Bí-sô ! Đây là loài Bàng sanh, khi tạo việc ly gián tự nhận lấy sự mất mạng, huống là đối với người. Vậy các ông không nên đối với người làm việc ly gián.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bằng mọi phương tiện quở trách các Bí-sô  Lục chúng…(nói đầy đủ như trước) cho đến câu: Ta quán mười điều lợi, vì các Thanh-văn đệ tử chế Học xứ này như sau:

“Nếu lại có Bí-sô cố nói lời ly gián, Ba-dật-để-ca”.

+ Bí-sô nghĩa như trên. Nơi đây là chỉ có Lục chúng Bí-sô, với các đồng bọn.

Lời ly gián: Bí-sô đối với Bí-sô khác cố ý gây ly gián, phạm tội Ba-dật-để-ca.

Trong vấn đề này phạm tướng thế nào?

Nhiếp tụng chung:

Chủng tộc và công xảo

Nghiệp tướng bệnh có năm

Tội và phiền não loại

Ác mạ là hậu biên.

Nhiếp tụng riêng:

Chủng tộc là bốn họ

Cho đến dòng ở tớ

Công xảo việc đều đồng

Tác nghiệp cũng như vậy

Trong đó có tạp loại,

Thợ dệt lông làm kim.

Người thợ thiết khắc đồng

Thuộc da, dòng đồ sứ

Cạo tóc và đồ gỗ,

Cho đến nghề mây tre

Mười một loại khác nhau

Đầy tớ hạng sau cùng.

Nếu Bí-sô khởi ý ly gián đến chỗ Bí-sô dòng Bà-la-môn nói như vầy:

- Cụ thọ! Có Bí-sô nói: Cụ thọ là dòng Bà-la-môn xuất gia, chẳng phải Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn. Nếu nói: Đó là ai ?

Trả lời: Đó là Bí-sô tên… nói rõ tên thì phạm tội Ác tác. Nói chủng tộc cũng phạm tội Ác tác. Dòng Sát-đế-lợi; tội cũng đồng như đây.

Nếu dòng Bệ-xá v.v… cho đến đối với nô tỳ, nói rõ tên, cho đến chủng tộc đều phạm tội Ba-dật-để-ca. Vấn đề này nói đầy đủ, như giới huỷ ta (mắng nhiếc nhục mạ) đã trình bày.

Trường hợp không phạm là: Người phạm ban đầu, hoặc si cuồng tâm loạn, thống não bức bách.

 

Học xứ thứ bốn: phát khởi lại…

Lúc bấy giờ, đức Phật ở thành Thất-la-phạt, vườn ông Cấp-cô-độc. Vào thời gian nọ, lúc chúng sáu Bí-sô biết chúng hòa hiệp đã giải quyết vấn đề tranh cãi như pháp rồi, lại đối với Yết-ma ấy phát khởi lại, bằng cách nói:

-Tránh sự này đã trừ diệt một cách không khéo léo, đoán sự xấu, cần phải hội họp xem xét lại để giải quyết vấn đề ấy một lần nữa, khiến phế bỏ các thiện phẩm, đọc tụng tư duy.

Bí-sô thiểu dục bèn sanh hiềm tiện:

- Tại sao các Bí-sô biết tránh sự ấy đã được chúng hòa hiệp để giải quyết đúng như pháp rồi, lại đối vớiYết-ma ấy phát khởi trở lại… các Bí-sô đem nhơn duyên này bạch lên đức Phật cặn kẽ vấn đề xảy ra…  cho đến câu: Ta quán 10 điều lợi, vì các Thanh-văn đệ tử, chế Học xứ này như sau:

“Nếu, lại có Bí-sô biết Tăng-già hòa hiệp đã giải quyết vấn đề tranh cãi ấy như pháp rồi. Sau, đối với Yết-ma ấy lại phát khởi lại, Ba-dật-để-ca.”

+Bí-sô: Nghĩa như trên. Bí-sô ở đây là chỉ cho Lục chúng Bí-sô và đồng bọn.

Biết: có nghĩa là mình hiểu rõ lời nói của kẻ khác.

Hòa hiệp: tức là đồng một mùi vị.

Chúng: đệ tử của đức Phật. Giải quyết như pháp: tức là, như pháp, như luật, như lời dạy của đấng Đại sư.

Tránh: có bốn lọai: Bình luận tránh, Phi ngôn tránh, Phạm tội tránh, Tác sự tránh.

Đã giải quyết: tức là sự việc đã chấm dứt. Đối với Yết-ma lại phát khởi lại: khơi động lại, khiến cho sự việc không chấm dứt.

Trong vấn đề này, tướng phạm của nó thế nào ? Bí-sô đối với Bình luận tránh sự, khởi lên ý tưởng Bình luận tránh sự, biết việc đã giải quyết xong, khởi ý tưởng đã giải quyết xong. Hoặc lại sanh nghi, lại phát khởi trở lại, Ba-dật-để-ca.

Sự việc chưa giải quyết, khởi ý tưởng đã giải quyết, nghi, lại phát khởi trở lại, phạm Đột-sắc-ngật-lý-đa.

Bí-sô đối với Bình luận tránh sự, khởi ý tưởng phi ngôn tránh sự, biết việc đã giải quyết xong, khởi ý tưởng đã giải quyết xong. Hoặc lại sanh nghi, lại phát khởi trở lại, Ba-dật-để-ca.

Ngoài ra, các tội phạm khác đồng như trước. Bí-sô đối với Bình luận tránh sự, khởi ý tưởng phạm tội tránh sự, biết vịêc đã giải quyết xong, khởi ý tưởng đã giải quyết xong. Hoặc lại sanh nghi, phát khởi trở lại, Ba-dật-để-ca.

Các tội phạm khác đồng như trước. Bí-sô đối với Bình luận tránh sự, việc chẳng đáng tranh cãi, nghĩ cách để tranh cãi biết việc đã giải quyết xong, khởi ý tưởng đã giải quyết xong. Hoặc lại sanh nghi, phạm tội đồng như trước.

Lấy Bình luận tránh sự làm đầu, hợp với ba tránh kia, lập thành bốn câu. Ngoài các tránh làm đầu, phải biết lọai kết hợp này rộng ra có đến mười sáu câu được tổng hợp.

Có năm lọai người riêng biệt, năm loại ấy là:

Người chủ, Người Yết-ma, Người Dữ dục, Người nói tự thấy, Người khách.

Người chủ: đối với tranh sự hiểu rõ từ đầu đến cuối.

Người làm Yết-ma: Đối với tránh sự này Bỉnh-pháp-yết-ma.

Người Dữ dục: đối với đương thời gởi ý muốn của họ.

Người nói tự thấy: khi tác Yết-ma nói họ tự thấy sự kiện.

Người khách: đối với tránh sự không hiểu biết gì cả. Trong năm hạng người này, ba hạng đầu biết chúng hòa hiệp đối với tránh sự kia, như pháp trừ hết, lại phát khởi trở lại, phạm Ba-dật-để-ca.

Hai hạng người sau đối với hòa hợp đoán sự, lại phát khởi lại, phạm Đột-sắc-ngật-lý-đa.

Vấn đề cú tưởng v.v… như thường lệ nên biết. Trường hợp không phạm: Người phạm ban đầu, hoặc si cuồng tâm loạn, thống não bức bách.

 

Học xứ thứ năm:

Nói pháp riêng cho người nữ quá năm, sáu lời.

Lúc bấy giờ, đức Phật ở tại thành Thất-la-phạt, rừng Thệ-đa, vườn Cấp-cô-độc. Lúc ấy, Cụ thọ Ô-đà-di rành về môn xem hình tướng. Một hôm nọ, phần đầu của ngày chấp trì y bát, vào thành Thất-la-phạt, theo thứ tự khất thực, đến nơi nhà Cư sĩ Bà-la-môn, thấy một thiếu phụ hỏi:

- Mẹ chồng cô thế nào ?

Thiếu phụ trả lời:

- Mẹ chồng tôi bạo ác cấp tính như con thỏ bị tên bắn.

Ô-đà-di nói:

- Mẹ chồng cô đâu có lỗi gì, do bởi hai cái vú sữa và chỗ ẩn mật có tướng bạo ác. Gọi đó là Hắc yếm (mụt ruồi) hay Xích yếm, lông xoay quanh.

Tội lỗi do từ đó. Ô-đà-di nói vậy rồi lấy thức ăn mà đi. Sau, thời gian khác lại đến nhà đó, Ô-đà-di hỏi bà mẹ chồng:

- Con dâu mới cưới của bà, tánh hạnh thế nào ?

Bà mẹ chồng nói:

- Con dâu mới cưới của nhà tôi, tánh tình nhác lười, không siêng năng đối với công việc, xấu ác, ưa sân, ăn nói thô bạo.

Ô-đà-di nói:

- Người dâu mới của bà đâu có lỗi gì. (Về hình tướng xấu nói như trước).

Tội lỗi do từ đó. Ô-đà-di nói như vậy rồi, lấy thức ăn ra đi. Rồi một ngày khác, Ô-đà-di vào thành Thất-la-phạt khất thực theo thứ tự. Nhơn nói pháp cho một gia đình Cư sĩ Bà-la-môn khác nghe rồi, hỏi bà mẹ chồng kia:

- Con dâu mới cưới của bà thế nào ?

Bà mẹ chồng trả lời:

- Thưa Thánh giả! Con dâu mới cưới của nhà tôi, hiếu thuận như con đẻ, hoặc như con gái.

Ô-đà-di nói:

- Chẳng phải cái đức của cô ta, do khoảng giữa hai vú sữa của cô ta và chỗ ẩn mật có tướng lương thiện, gọi đó là tướng Bỉnh ngư văn tự bàn khuất v.v… Chính đó là cái đức. Lại một hôm nọ thấy cô dâu bà ta, Ô-đà-di hỏi:

- Mẹ chồng cô thế nào ?

Cô ta trả lời:

- Mẹ chồng của tôi, như mẹ đẻ hay chị ruột.

Ô-đà-di nói:

- Chẳng phải cái đức của bà ta mà là do khoảng giữa hai vú sữa… (như trước).

Ô-đà-di nói đầy đủ tỷ mỉ về tướng mạo của bà mẹ chồng rồi cáo lui. Sau một thời gian, cô dâu và mẹ chồng, nhơn lúc tắm gội thân thể, xoa chà, lau khô cho nhau, để ý chỗ ẩn mật của nhau, thấy tướng lương thiện đúng như lời Tôn giả Ô-đà-di nói. Sau đó, nhơn một cuộc cãi lộn lời qua tiếng lại giữa mẹ chồng và nàng dâu, bà mẹ chồng nói:

- Ngươi dám nặng lời đối với ta phải không ? Ngươi không tự biết: Ngươi có ngoại tình với nam tử khác, ngoài con của ta hay sao ?!

Nàng dâu quả quyết thề:

- Con xin thề là con không có điều đó.

Bà mẹ chồng khẳng định:

- Nếu, mi không có, tại sao có nam tử khác, biết được chỗ ẩn của mi là có tướng này, tướng kia, một cách rõ ràng!

Lúc ấy, trong thế “chẳng đặng đừng” cô nàng dâu cũng “phản pháo” với mẹ chồng rằng:

- Thật sự con không dám xúc phạm chỉ trích mẹ, nhưng mẹ là đạo gia trưởng cũng đã với người ngoài giao thông ngoài cha của con. Chính vì thế mà nam tử biết được ẩn tướng của mẹ. Con yêu cầu mẹ nên chấm dứt vấn đề này.

Mẹ chồng và nàng dâu cùng nhau xin lỗi rồi hỏi với nhau:

- Ai nói với con biết được ẩn tướng của mẹ ?

Cô dâu nhỏ nhẹ thưa:

- Thánh giả Ô-đà-di nói.

Mẹ chồng cũng tự nói:

- Thánh giả cũng nói với mẹ về ẩn tương của con!

Thế là cả mẹ lẫn con đều cùng cơ hiềm:

- Vì sao Đại đức lại gây não cho chúng ta ?!

Khi ấy, có kỳ lão Bí-sô, nhân đi khất thực, tuần tự đến gia đình ấy, bà mẹ chồng hỏi:

- Ô-đà-di là người thế nào ?

Vị Bí-sô trả lời:

- Ô-đà-di là con của một vị Đại thần, bỏ thế tục xuất gia thành một Bí-sô trì giới.

Bà gia chủ nói:

- Nếu là Bí-sô trì giới tại sao biết được chỗ ẩn của người nữ có tướng này, tướng kia ?

Bí-sô trả lời:

- Ngài rành về tướng số v.v...

Bà gia chủ bất mãn nói:

- Đâu có chuyện đem ẩn tướng của người ta nói cho mọi người biết.

Bí-sô nghe rồi, trở về chùa, báo cáo với các Bí-sô. Các Bí-sô đem nhơn duyên này bạch Phật. Đức Phật dạy:

- Do nói pháp nên mới có lỗi lầm như vậy! Từ nay không nên vì người nữ thế tục nói pháp.

Do đức Phật dạy: “Không nên vì người nữ nói pháp”, nên vào dịp nọ, các Bí-sô vào trong thôn khất thực, người nữ thưa:

- Yêu cầu Thánh giả vì con nói pháp.

Các Bí-sô trả lời:

- Này, chị em! Thế Tôn không hứa cho phép, vì người nữ nói pháp.

Người nữ lại nói:

- Ngài không vì con nói pháp thì cũng không thể vì Ngài cúng thức ăn được.

Các Bí-sô đem nhơn duyên này bạch Phật. Đức Phật dạy:

- Này, các Bí-sô! Các ông nên vì người nữ nói năm câu pháp: Bảo người nữ rằng:

-“Này các chị em! Sắc vô thường, thọ, tưởng, hành, thức cũng vô thường.”

Bí-sô vào thôn khất thực, người nữ yêu cầu nói pháp. Bí-sô nói năm câu như trên. Người nữ yêu cầu nói thêm. Bí-sô nói:

- Đức Phật không hứa cho nói nhiều.

Người nữ lại nói:

- Chúng tôi cũng chỉ thí một ít thức ăn mà thôi.

Các Bí-sô đem vấn đề này bạch với Phật. Đức Phật cho phép nói pháp sáu câu: “Nhãn vô thường, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý cũng vô thường”. Bí-sô vào thôn khất thực, nữ nhơn yêu cầu nói pháp. Bí-sô nói pháp sáu câu như trên. Nữ nhơn yêu cầu nói thêm.

Bí-sô nói:

- Đức Phật không hứa cho nói thêm.

Nữ nhơn cũng nói:

- Chúng tôi cũng chỉ hứa thí một ít thức ăn thôi.

Các Bí-sô lại đem vấn đề thưa với đức Phật.

Đức Phật dạy:

- Nếu có nam tử thì tùy ý nói nhiều, theo yêu cầu.

Bí-sô vào thôn khất thực, người nữ yêu cầu Bí-sô nói pháp. Bí-sô bảo phải kêu người nam đến. Người nữ hỏi:

- Tại sao phải cần đến trượng phu ?

Bí-sô nói:

- Đức Thế Tôn chế giới nên đối với nam tử, vì người nữ nói pháp thì được tùy ý nói nhiều, theo yêu cầu.

Nữ nhơn nói:

- Tốt lắm! Nhưng tôi có người bảo hộ rồi, Ngài khỏi phải lo ngại. Thế là đủ điều kiện để Ngài nói nhiều theo yêu cầu.

Nữ nhơn bèn kêu nam tử đến. Bí-sô nói pháp rồi đi. Khi ấy, Lục chúng Bí-sô tuần tự khất thực, đi đến chỗ nữ nhơn nói:

- Chị em ngồi lại tôi nói pháp cho nghe!

Người nữ yêu cầu Lục chúng Bí-sô đợi một chút, để kêu nam tử đến.

Lục chúng Bí-sô nói:

- Tại sao phải cần nam tử, chỉ có một con khỉ lớn, con gà, con chó, con bê, đứa nhỏ là được.

Lục chúng Bí-sô vì người nữ nói pháp rồi đi. Sau đó, có một Bí-sô tuổi già khất thực đến nơi đó, người nữ yêu cầu nói pháp. Bí-sô bảo kêu nam tử đến mới nói pháp được.

Người nữ nói thưa Thánh giả, tại đây có con khỉ lớn, con gà, con chó, con bê, đứa trẻ, một trong những thứ này có mặt tức Ngài được phép nói pháp kia mà!

Bí-sô nói:

-Tôi không thể đối với những thứ nam tử như thế mà vì người nữ nói pháp được.

Bí-sô lại hỏi:

- Ai bảo các chị em đem những loài đực (nam tử) như thế thay nam tử để chúng tôi vì các chị em nói pháp ?

Người nữ trả lời:

- Thánh giả ! Lục chúng dạy chúng tôi như thế.

Bí-sô lớn tuổi nói:

- Nếu, chẳng phải Lục chúng thì không ai có thể làm ác hạnh đó. Các Bí-sô đem vấn đề này bạch Phật.

Đức Phật dạy:

- Nên đối nam tử có hiểu biết, mới có thể nói pháp.

Do Đức Thế Tôn dạy: “Vì người nữ nói pháp nên nói năm, sáu câu”. Khi ấy lục Chúng Bí-sô vì người nữ nói năm câu lại cố ý nói đến sáu câu, khi nói sáu câu, lại cố ý nói đến bảy câu.

Bí-sô thấy như vậy nói:

- Cụ thọ! Như đức Thế Tôn dạy: “vì người nữ nói pháp nên nói năm, sáu câu, tại sao Ngài cố ý nói đến sáu, bảy câu ?”

Lục chúng trả lời:

- Đâu phải nói đến sáu, bảy câu để mà được ăn hành tỏi, uống rượu hay sao ?

Bí-sô thiểu dục nghe như vậy, sanh hiềm tiện nói:

- Đức Thế Tôn dạy: “Vì người nữ nói pháp không nên nói quá năm, sáu câu”. Tại sao Lục chúng Bí-sô lại cố ý nói đến sáu, bảy câu!

Các ngài đem nhơn duyên này bạch Phật. Đức Phật lấy việc này làm nhơn duyên, tập hợp các chúng Bí-sô... cho đến hỏi Lục chúng:

- Ta chế, vì người nữ nói pháp, chỉ nên nói năm, sáu câu, các ông cố tâm nói đến sáu, bảy câu phải không ?

- Lục chúng Bí-sô xác nhận sự thật là như vậy.

Đức Phật bằng mọi cách quở trách (nói đầy đủ như trước) cho đến câu: Nay, ta vì các Thanh-văn đệ chế Học xứ này như sau:

“Nếu, lại có Bí-sô vì người nữ nói pháp quá năm, sáu câu, trừ khi có người nam có trí, Ba-dật-để-ca”.

+ Bí-sô: Nghĩa như trước. Đối tượng giới này là Lục chúng Bí-sô và đồng bọn.

Nữ nhơn: Người có được sự hiểu biết đối với lời nói tốt, xấu. Không được quá năm, sáu câu:

Nếu, khi nói năm câu pháp, cố ý nói đến sáu câu, khi nói sáu câu pháp lại cố ý nói đến bảy câu.

Pháp: Lời Phật nói hay lời Thanh-văn nói.

Nói: Là từ miệng tuyên nói. Nam tử có trí: Là chẳng phải là kẻ vô tri nam tử. Ba-dật-để-ca: như trước đã giải.

Trong đây, vấn đề tướng phạm thế nào ?

- Bí-sô ở trên lầu trên dùng năm, sáu câu, vì người nữ nói pháp, cố tâm nói đến sáu, đến bảy đều phạm Ba-dật-để-ca.

Nếu, ở trên gác, vì người nữ nói pháp, rồi đến lầu dưới hay lầu giữa, người nữ kia cũng theo đến lầu dưới, yêu cầu Bí-sô nói pháp.

Bí-sô trả lời:

- Đã nói rồi ! 

Người nữ lại yêu cầu nói nữa.

Khi ấy, Bí-sô kia nên dùng năm, sáu câu để nói pháp. Nếu nói đến sáu, bảy câu, phạm Ba-dật-để-ca.

Như vậy cho đến lầu dưới, hoặc lại đến nơi cửa, hoặc trước mái tranh, nói quá, đều phạm tội Đọa.

Dạy người nữ tụng, hoặc họ hỏi lại, hoặc người nữ có trí, chuyển đổi câu hỏi sau mỗi lần hỏi theo một cách khác thì tùy theo câu hỏi, trả lời đều không phạm.

Lại không phạm: Người phạm ban đầu, hoặc si cuồng tâm loạn, thống não bức bách.

 

* Học xứ thứ sáu:

Cùng người chưa thọ Viên cụ, đọc tụng đồng một câu

Lúc bấy giờ, đức Phật ở tại thành Thất-la-phạt rừng Thệ-đa. Vào thời ấy, Lục chúng Bí-sô cùng với người chưa thọ Viên cụ, đồng một câu đọc tụng, làm cho trú xứ kia ồn ào náo nhiệt, giống như Bà-la-môn tụng các ngoại luận, như học trò trong một trường học cùng nhau tập đọc. Đức Thế Tôn nghe tiếng ồn, hỏi A-nan-đà:

- Tại sao trú xứ kia ồn, như Bà-la-môn tụng các ngoại luận, như học trò trong một trường học, học tập đọc tập thể.

A-nan-đà bạch Phật:

- Kính bạch đức Thế Tôn ! Tiếng ồn trong trú xứ đó là do Lục chúng Bí-sô cùng với người chưa thọViên cụ, đọc tụng chung một câu, trong chùa âm thanh cộng hưởng này tạo ra tiếng rền như Bà-la-môn... đọc tụng.

Đức Phật hỏi A-nan-đà:

- Lẽ nào, các Bí-sô cùng với người chưa thọ Viên cụ, đọc tụng đồng một câu hay sao ?!

A-nan-đà thưa:

- Bạch đức Thế Tôn ! Đúng vậy họ cùng câu một đọc tụng.

Do vậy, đức Thế Tôn dùng nhơn duyên này... (nói đầy đủ như trước) cho đến câu: Thế Tôn hỏi các Bí-sô Lục chúng rằng:

- Thật sự, các ông có cùng với người chưa thọ Viên cụ, cùng câu một, đồng đọc tụng hay khộng ?

Lục chúng Bí-sô xác nhận:

- Kính bạch đức Thế Tôn! Đúng sự thật như vậy.

Đức Thế Tôn bằng mọi cách quở trách... cho đến câu: Nay, Ta vì các đệ tử chế Học xứ này như sau:

“Nếu lại có Bí-sô cùng với người chưa thọ Cận viên, làm giáo thọ pháp cùng với họ đọc tụng chung một câu Ba-dật-để-ca”.

+ Lại, có Bí-sô: Tức Lục chúng và đồng bọn.

Người chưa thọ Viên cụ: Có hai loại Viên cụ: Bí-sô và Bí-sô-ni.

Ngoài ra gọi là kẻ chưa Viên cụ.

Cú (câu): có đồng cú và tiền cú.

Thế nào gọi là đồng cú ?

- Đồng cú là vị Viên cụ đọc: Chư ác mạc tác. Người chưa thọ Viên cụ đồng loạt đọc: Chư ác mạc tác. Như vậy gọi là đồng cú.

Thế nào gọi là tiền cú ?

- Tiền cú là vị thọ Viên cụ đọc “Chư ác mạc tác”, âm thanh chưa chấm dứt, người chưa thọ Viên cụ đồng thanh đọc: “Chúng thiện phụng hành”. Như vậy gọi tiền cú.

Thế nào gọi là đồng tự ?

- Khi vị Viên cụ nói chữ: “ác”, người chưa thọ Viên cụ đồng thanh nói chữ “ác”. Như thế gọi là đồng tự.

Thế nào gọi là tiền tự ?

- Khi vị Viên cụ mới nói chữ “ác”, âm thanh chưa dứt, người chưa thọ Viên cụ đồng thanh rập theo chữ: “ác”. Đọc lại lời chưa kịp dứt như vậy gọi là tiền tự.

Đọc tụng:

- Tụng là lãnh thọ. Pháp là pháp của Phật và Thanh-văn nói. Ba-dật-để-ca: Như trước đã giải.

+ Trong vấn đề này, tướng phạm thế nào ?

Bí-sô đối với người chưa thọ Viên cụ, khởi ý tưởng chưa thọ Viên cụ và nghi cùng đồng cú, tiền cú đọc tụng, phạm Căn bổn tội.

Nếu, đối với người chưa thọ Viên Cụ, khởi ý tưởng chưa thọ Viên cụ và nghi cùng đọc tụng đồng hoặc trước một cú từ, phạm tội Căn bổn.

Nếu, đối với người chưa thọ Viên cụ mà tác khởi tưởng thọ Viên cụ và nghi cùng với họ đọc tụng đồng hay trước một chữ đối với pháp, phạm Ác tác tội.

Nếu đối với người thọ Viên cụ mà tác khởi tưởng chưa thọ Viên cụ và nghi cùng với họ đọc tụng đồng hay trước chữ đối với pháp, phạm Ác tác tội.

Nếu, đối với người thọ Viên cụ, khởi ý tưởng thọ Viên cụ không phạm.

Nếu nói lặp, nói gấp, nói nhanh đều không phạm. Hoặc khi dạy tụng, vấn đáp đều không phạm.

Lại, không phạm: Người phạm ban đầu, hoặc si cuồng tâm loạn, thống não bức bách.

 

CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA

QUYỂN 26 - (hết).