PHI LỘ
“Pháp quyển” mà Bổn
sư của tôi, Ḥa thượng Thích Huyền Tân ban cho
tôi như một điều khẳng định mở lối
để cho tôi chuyên tâm đi sâu vào việc học tập,
nghiên cứu giới luật, sau khi tôi thọ cụ túc
năm 1947.
Đă gần 50 năm qua, từ việc
học tập, hành tŕ đến việc giảng dạy,
dịch thuật nhiều bộ luật, song bộ Luật
Trùng trị đă gắn bó với tôi một cách mật
thiết, nó đă hằn sâu trong tôi, nó đă trở
thành một bản thể của bản thể trong
đời sống Bí-sô của tôi. Những việc mà
tôi sắp thuật lại sau đây, tôi xem như sự
trang trải tấm ḷng thù ân của tôi lên quá khứ cũng
như hiện tại đă trực tiếp hay gián tiếp
giúp tôi hội đủ khả năng để hoàn
thành bộ Luật Trùng trị bằng tiếng Việt
này.
Xin được bắt đầu
ghi lại:
Ngay sau khi thọ đại giới,
phần giới bổn của bộ Luật tôi tiếp
thu từ Bổn sư của tôi và chính đây là nền
tảng mà thầy tôi đă thiết lập cho tôi.
Sáu năm sau, tôi đến Nha Trang,
đến với Tăng Học Đường tại
chùa Long Sơn, trụ sở Tỉnh hội Phật học
Khánh Ḥa. Tôi nhớ rơ năm ấy là năm 1953, và càng
nhớ rơ hơn Ḥa thượng Giám Luật Thích Đôn
Hậu từ Tổng Trị Sự Huế vào phụ
trách dạy Luật cho trường hạ: Ngài dạy phần
Giải thích và Tướng trạng của tội, những
điểm căn bản của bộ Luật. Đây
là dấu ấn đức hạnh như tên gọi của
ngài đă đặt lên tôi nói riêng, cho quư thầy từ
bốn tỉnh: Khánh Ḥa, Ninh Thuận, B́nh Thuận và
Đà Lạt Tuyên Đức nói chung về tu học tại
Tăng Học đường trong mùa an cư năm
đó.
Sau đó vài năm, cứ mỗi mùa
an cư, tại Phật Học Viện Trung phần, chùa
Hải Đức Nha Trang, Ḥa thượng Luật sư
Thích Trí Thủ đều giảng dạy những vấn
đề thiết yếu: Khai, Giá, Tŕ, Phạm của bộ
Luật cho quư thầy sau những ngày hoằng hóa khắp
nơi quy tụ về an cư tu học, cũng như cho
anh em học Tăng đang học tập tại Phật
Học Viện. Có đến 20 mùa an cư, tại trú xứ
này, tôi được gần gũi ngài Ḥa thượng
Giám viện Thích Trí Thủ để tiếp thu những
điều Tác-Tŕ và kiến thức Luật học của
ngài.
Kiến thức sâu rộng về Luật
học là một lẽ, c̣n việc vận dụng vào
đời sống thực tế vào việc hành tŕ là một
lẽ khác, nhất là về mặt kiết giới và trị
phạm, cần có sự linh hoạt và thực tiễn
để Luật học không trở thành cứng nhắc.
Do vậy, cần có sự vận dụng uyển chuyển
theo sự phát triển của xă hội, song vẫn bảo
đảm đúng pháp, đúng luật, đúng như lời
Phật dạy. Nói khác hơn, phải nắm thật chắc
mọi tinh hoa đă được tập thành trong Luật
tạng để việc áp dụng không rơi vào lệch
lạc và sự hành tŕ không vướng bận chi ly.
Ngài Ḥa thượng Luật sư
Thích Thiện Ḥa đă tập thành được những
tinh hoa ấy... Tôi đă trực tiếp học ở
ngài các vấn đề quan yếu về Tác-Tŕ. Ngài
đă chỉ ra tính cách sâu sắc của Luật học
mà đằng sau nó là sự giải thoảt, điều
sau cùng của một Tỳ-kheo phải đạt
được.
Những điều tôi học hỏi
nghiên cứu về bộ Luật Trùng trị là như
thế. Tuy nhiên, những kiến thức có được
về Luật chưa phải là đủ, và không biết
bao giờ mới đủ được! Tôi tiếp tục
học hỏi qua việc giảng dạy và dịch thuật
Luật.
Về việc giảng dạy hay
trong việc thuyết tŕnh, tôi đă tham khảo nhiều
bộ Luật, song căn bản vẫn lấy bộ Trùng
trị làm tư liệu chính để soạn giáo án,
cô đọng những vấn đề thiết yếu
nhầm làm sáng tỏ phần giới bổn của bộ
Luật. Đây là phần chính tôi giảng dạy cho
các tân Tỳ-kheo sau mỗi kỳ Giới đàn tại
Phật Học Viện Nha Trang hay gần đây tại trường
Cơ Bản Phật Học Khánh Ḥa.
Tôi cũng được sự chỉ
định của Ḥa thượng Thích Trí Thủ vào
Sài G̣n dạy Luật cho lớp Cao Đẳng chuyên khoa
tại Quảng Hương Già-Lam, cũng như tại
Phật học Vạn Hạnh trong hai mùa an cư 1982 và
1983.
C̣n tại trú xứ chùa Long Sơn,
Tỉnh hội Phật giáo Khánh Ḥa, tôi được sự
giao phó của Ḥa thượng Giám Luật Thích Trí
Nghiêm giảng giải đến các đề tài về
Luật học sau những lần chúng Tăng tập hợp
Bố-tát. Cũng tại trú xứ này, qua suốt các
mùa an cư của thập kỷ 80 cho đến tận
hôm nay, tôi đảm trách thuyết tŕnh các vấn đề
chuyên biệt của giới luật, sự vận dụng
và hành tŕ trước Tăng, Ni thuộc thành phố Nha
Trang.
Song song với việc soạn và giảng
dạy, tôi đă dành trọn thời giờ cho niềm
vui trong việc thảo luận, bổ chính các vấn
đề có liên quan đến Luật học và tập
chú vào việc dịch thuật các bộ Luật từ
Hán tạng.
Đối với
việc thảo luận góp ư, tôi có diễm phúc cùng với
thân giáo sư của tôi, Ḥa thượng Thích Thiện
Siêu, giám định lại những điểm ngộ
nhận trong bộ Luật “Tỳ-kheo-ni sao” mà Ḥa thượng
Giám Luật Thích Đôn Hậu đă dịch ra Việt
ngữ và được ngài đồng ư cho sự giám
định này. Chính việc làm này dẫn đến việc
tôi nhận bổ chính bộ Luật Tứ phần Tỳ-kheo-ni
giới bổn chú giải do ngài Trí Minh dạy, Ni sư
Thích nữ Như Hoa ghi chép và đánh máy. Năm ấy
là năm Đinh Măo 1987, PL. 2530 và cũng trong năm này
tôi khởi dịch toát yếu phần Tác-Tŕ của bộ
Luật Trùng trị. Công việc này đă hoàn thành vào
ngày vía Xuất gia của đức Bổn Sư năm
Mậu Th́n 1988, PL. 2531.
Dịch xong phần
Tác-Tŕ, đây là phần thiết yếu, như vậy
cũng có nghĩa là soạn dịch xong phân nửa bộ
Luật rồi. Phần c̣n lại là phần “Chỉ-Tŕ”,
tôi tiếp tục dịch trong những tháng ngày đau yếu
chữa trị mắt bị đục thủy tinh thể.
Do bệnh huyết
áp cao và mắt mờ dần, mọi dự định gần
như bị đảo lộn... Trong 20 quyển của bộ
Luật, tôi dịch được 18 quyển thuộc phần
chính, c̣n hai quyển đầu và cuối tôi đành phải
nhờ Tâm Hạnh, đệ tử của cố Ḥa thượng
Thích Trừng San dịch hộ.
Sau cùng điều
c̣n lại là ḷng tri ân:
Trước hết con
xin thành kính đảnh lễ tri ân thân giáo sư: Ḥa thượng
Thích Thiện Siêu, đă hoan hỷ phủ chính cho bản
dịch bộ Luật Trùng trị này của con.
Tôi cảm ơn Ni sư Thích Nữ
Huệ Ân. Ni sinh Ni Viện Diệu Quang Nha Trang, học
tṛ cũ của tôi, từ nước Mỹ đă xin
phát nguyện cúng tịnh tài để in ấn bộ Luật
này.
Giờ đây, sau những tháng miệt
mài đọc lại bản dịch, chú thích và nhuận
văn của Đức Thắng đă đánh vi tính
xong, việc c̣n lại: in thành sách bộ Luật Trùng trị
này, một kết quả của nhiều năm
được tụ lại từ mọi nhân duyên đă
vừa hội dủ.
Xin gửi đến chư Tôn đức
và các vị trong giới Luật học bộ Luật
này như sự cúng dường, biết ơn muôn một.
Ngưỡng cầu Tam Bảo thùy từ
giám nạp.
Dịch giả Thích Đỗng
Minh
Cẩn Thuật*
(Lần khắc bản lại năm
1890)
Tạng Luật là kỷ cương
của Phật pháp, là mạch sống của Tăng già.
Tiếc thay vào khoảng đời Nguyên đến đời
Minh, Luật học không c̣n ảnh hưởng. Người
có chí thấy vậy đành thở ra, dậm chân tại
chỗ. Kẻ không hiểu giềng mối của luật
th́ tranh nhau truyền bá sai lầm.
Đến khi ngài Ngẫu Ích Đại
Sư xuất hiện, ba lần duyệt Luật tạng,
soạn thành bộ Tập yếu gồm 18 quyển, tóm
lược cương lĩnh của Luật học.
Đó là “Sơ trị”.
Từ đó, đến 13, 14 năm
sau, tuy cố gắng nhưng khả năng có hạn, lại
không có người để tham vấn, nên không viết
thêm được ǵ.
Nhân nghĩ đến số tài liệu
đă soạn trước, tuy các điều hay đă
thâu nhặt vào, nhưng chưa chọn lọc từng vấn
đề, và hai tập “vấn biện” cùng “âm nghĩa”
vẫn chưa khắc in, chi bằng hội chung với Tập
yếu, để người học khỏi phải thấy
sự mênh mông như biển cả của Luật học
mà than thở. Đó là “Trùng trị”. Và nghĩ rằng
hai tập này truyền đến nước ta không biết
từ thời nào. Đến khoảng niên đại Tự
Đức, nhân lúc thầy tôi hiệu đính bản Tỳ-kheo-ni
giới bổn, lại gặp được bản “Sơ
trị” của phương Bắc gồm 11 quyển
đầu. Sau đó, mặc dù hết sức t́m kiếm
nhưng không đủ bộ.
May mắn gặp được vật
quư giá như vậy làm sao bỏ qua. Thế nên bản
phương Bắc đă giao cho Đại đức Phổ
Tấn khắc bản. C̣n bản phương Nam th́ tra cứu
lại bản sao lần đầu, hiệu đính lại
từng phần, chép thành một bản riêng, ủy thác
cho Thanh Chí Cao Thiền thay mặt thầy tôi để khắc
lại. Khi ấy, công việc khắc in vừa xong, người
phụ trách việc kiểm soát, truyền bá Tỳ-ni vội
về nơi an dưỡng. Người chuyên trách việc
khắc bản đă cỡi bè giới đến Liên
Bang.
Than ôi đời mạt
pháp nên khiến ra như vậy!
Khởi công khắc bản vào đầu
mùa thu năm Ất Dậu (1885), hoàn tất vào cuối
mùa hạ năm Canh Dần (1890).
Ngày Rằm tháng Sáu năm Thành Thái
thứ hai, người vâng lệnh kiểm soát bản khắc,
chí thành đảnh lễ, thuật lại.
Giáo pháp của
Như Lai vang lừng khắp Đông Độ, trước
sau đều nhờ vào giới luật. Pháp âm từ bi
nhờ vậy ban bố cho chúng sanh, mở mang hưng thịnh
và hoàn bị đến ngày nay.
Giới luật
thịnh hay suy đều do con người, mà nay con người
đă đến lúc quá suy đồi!
Việc truyền
giới các nơi trong quốc độ này phần nhiều
chưa y vào Luật và Pháp. Nói đúng hơn, thậm chí
ngày nay, sự truyền giới và thọ giới trong nước
ta đều sai lầm. Thật là sự sai lầm cho cả
ḿnh và người. Tất cả tệ trạng này
đều do thầy tṛ truyền thừa cho nhau trái với
lời dạy của Phật đă chế định.
Ngài Thiên Thọ
Chấn Công Ḥa thượng tinh tường tu tập ba
tông, thấu triệt tận những chỗ vi tế.
Ngài chống tích trượng du hóa nơi đất Tần,
gặp cơ duyên trú ở Thiên Thọ. Ngài cảm thương
cho luật pháp không được hoằng truyền, nên
phát nguyện thay đổi tệ trạng này.
Hơn mười
năm, ngài lấy Luật làm đầu. Nên dưới
ngài có một số các vị có tâm chí muốn truyền
tŕ giới luật, trong đó Tỳ-kheo Tấn Liêu nhiệt
thành và có khả năng nhất. Tấn Liêu thiên tư
đặc biệt chuyên về Luật tông, xem hết
giáo lư Tỳ-nại-da (giới luật), nghiên cứu
cùng tận cương chỉ của năm thiên
[1]
.
Tiếc thay những
nhà chú thích Luật không nhiều, Tạng luật lại
phức tạp. Thế nên làm cho người học
cũng khó thấu triệt. Duy có bộ Trùng trị tỳ-ni
này là có khả năng thức tỉnh những tệ trạng
hiện nay, đủ để tŕnh bày rơ chỗ hướng
về. Do thế, tôi rất tha thiết mong được
khắc bản để lưu truyền ở đời,
hy vọng đáp ứng cho mọi người được
phần nào.
Ư muốn là một
việc, nhưng thời gian không cho phép, nên chưa thực
hiện được. May thay gặp các vị Tỳ-kheo:
Cốc Ấp, Triêu Dương, Truyền Giới, Tự
Luật cũng đều nghĩ rằng: Nếu khắc
bản được bộ Trùng trị tỳ-ni đề
lưu hành th́ lợi ích cho Luật học và người
đi sau có chỗ học hỏi.
Khi ấy các vị:
Cửu Thánh, Tuệ Thạch, Phật Bích, Thiên Thọ,
Trí Đài cùng một số vị Thượng tọa
tŕ luật khác đồng ư cử người lo tài
chánh đề khởi công in. Tất cả đều một
ḷng quyết chí với nhau, lao khổ không sờn, chông
gai chẳng ngại. Khắc bản luôn hai năm, công việc
mới xong.
Ngưỡng mong những vị
được thấy được nghe đều hoan
hỷ thọ tŕ, ngơ hầu treo mặt trời Giới
giữa hư không, dựng lại Chánh pháp trong thời
mạt vận. Thứ nữa, không phụ ḷng thương
v́ pháp của Tổ và báo đáp ân đức của
Phật, như một giọt nước trong biển cả!
Luật học Tỳ-kheo Trí Đài
soạn
|
Quyển đầu |
: |
- |
Tự bạt. |
||
|
|
|
- |
Tổng vấn biện. |
||
|
|
|
- |
Phàm lệ. |
||
|
|
|
- |
Đề cương. |
||
|
|
|
- |
Tổng mục của Tứ phần. |
||
|
|
|
- |
Phẩm mục của Tứ phần. |
||
|
|
|
- |
Các kinh luật liên hệ. |
||
|
|
|
|
|
||
|
Quyển I |
: |
- |
Tỳ-kheo giới từ dề mục
đến kệ tán. |
||
|
|
|
|
|
||
|
Quyển II |
: |
- |
Tiếp theo từ phần vấn
đáp khải bạch đến giới dâm. |
||
|
|
|
|
|
||
|
Quyển III |
: |
- |
Từ giới ăn trộm đến
giới làm mai mối. |
||
|
|
|
|
|
||
|
Quyển IV |
: |
- |
Từ giới làm nhà quá lượng
đến giới ĺa y ngủ. |
||
|
|
|
|
|
||
|
Quyển V |
: |
- |
Từ giới chứa y quá tháng
đến giới chứa bát mới. |
||
|
|
|
|
|
||
|
Quyển VI |
: |
- |
Từ giới dệt y, không phải
bà con đến giới dị ngữ. |
||
|
|
|
|
|
||
|
Quyển VII |
: |
- |
Từ giới hiềm mắng
đến giới ăn phi thời. |
||
|
|
|
|
|
||
|
Quyển VIII |
: |
- |
Từ giới ăn đồ cách
đêm đến giới cùng đi với giặc. |
||
|
|
|
|
|
||
|
Quyển IX |
: |
- |
Từ giới không bỏ ác kiến
đến giới chúng học. |
||
|
|
|
|
|
||
|
Quyển X |
: |
- |
Từ chúng học đến kệ
tán hồi hướng. |
||
|
|
|
|
|
||
|
Quyển XI |
: |
- |
Tổng biện Yết-ma. |
||
|
|
|
- |
Kiết giới. |
||
|
|
|
- |
Thọ giới. |
||
|
|
|
|
|
||
|
Quyển XII |
: |
- |
Y chỉ. |
- |
Làm thầy. |
|
|
|
- |
Đệ tử thờ thầy. |
- |
Thượng tọa. |
|
|
|
- |
Đồng học. |
- |
Lễ kính – An cư. |
|
|
|
- |
Tự tứ. |
- |
Y công đức |
|
|
|
|
|
||
|
Quyển XIII |
: |
- |
Sáu pháp trị tội. |
||
|
|
|
|
|
||
|
Quyển XIV |
: |
- |
Y bát – Ăn – Thuốc. |
||
|
|
|
- |
Thọ thực – Khám bệnh –
Pḥng xá. |
||
|
|
|
- |
Ngọa cụ – Đồ vật. |
||
|
|
|
- |
Tích trượng – Pháp của
Tùng lâm. |
||
|
|
|
|
|
||
|
Quyển XV |
: |
- |
A-lan-nhă – Đại chúng họp. |
||
|
|
|
- |
Chia vật – Nói pháp. |
||
|
|
|
- |
Đọc tụng – Ngồi thiền. |
||
|
|
|
- |
Tạp pháp – Kinh phạm giới
tội. |
||
|
|
|
- |
Nặng nhẹ – bài tụng giới
tướng. |
||
|
|
|
|
|
||
|
Quyển XVI |
: |
- |
Tỳ-kheo-ni giới từ đầu
đến giới thứ 115 Ba-dật-đề. |
||
|
|
|
|
|
||
|
Quyển XVII |
: |
- |
Tiếp theo cho đến hết và
tạp pháp. |
||
|
|
|
- |
Bạt ngữ. |
||
|
|
|
|
|
||
|
Quyển XVIII |
: |
- |
Lược thích đại tiểu
tŕ giới kiền độ. |
||
Nguyên bài tựa
bộ Tỳ-ni sự nghĩa tập yếu và bản mục
lục này lần khắc bản đầu tiên không có.
Sau khảo cứu thấy ở trường Viễn
Đông Bác Cổ Hà Nội, nguyên bản của Nhật
Bổn đầy đủ toàn bộ, sửa chữa bản
khắc rất hoàn mỹ. Bộ này đủ từ
đầu đến cuối. Từ phần “Lời tiểu
dẫn...” từ cuốn đầu cho đến phần
“hồi hướng” cuốn 18, tất cả là 595 tờ,
nay kính cẩn ghi lại.
Bản lưu tại chùa Bửu
Khám, xă Tế Xuyên, huyện Nam Xương, phủ Lư
Nhân, Tỉnh Hà Nam.
Tôi sanh vào giờ
Hợi, ngày mồng 3 tháng Năm, năm Kỷ Hợi, niên
hiệu Vạn Lịch thứ 27, đời nhà Minh (1599).
Đến
năm 24 tuổi, tôi cạo tóc xuất gia, ngày mồng 7
tháng Năm, năm Nhâm Tuất, tức năm 1622.
Năm sau, ngày mồng
8 tháng Chạp, tôi thọ giới Cụ túc trước
tượng ngài Ḥa thượng Vân Thê. Năm sau nữa,
tôi thọ giới Bồ-tát trước tháp ngài Ḥa thượng
Vân Thê. Các vị A-xà-lê đều là bậc Cổ
đức Pháp sư.
Năm 27 tuổi,
vào mùa Xuân tôi xem qua bộ Luật, soạn “Tập sự
nghĩa yếu lược”, chỉ được
hơn 100 tờ.
Năm 30 tuổi,
vào mùa Hạ tôi nghiên cứu Luật lần thứ hai
soạn thêm được bốn tập nữa.
Năm 31 tuổi,
vào mùa Đông tôi lại nghiên cứu Luật lần thứ
ba, soạn thành sáu tập, gồm 18 cuốn.
Năm 32 tuổi,
vào mùa Hạ tôi lại dạy cho 3 người bạn là
Tịch Cốc, Như Thị và Tuyết Hàng, giảng
qua một lần rất kỹ. Năm đó, tôi thêm vào
hai tập đầu và cuối, thành ra 8 tập.
Năm 33 tuổi, vào mùa Đông tôi
chỉ giảng bảy quyển cho Kim Đài pháp chủ,
người cùng quê, ở chùa Phật Nhật, núi Cao
Đ́nh, tại Linh Phong.
Mùa Hạ năm sau, tôi tiếp tục
giảng cho 10 vị, một cách đầy đủ.
Trong 10 vị đó có Tỳ-kheo Triết Nhân là người
có khả năng thực hành.
Năm 35 tuổi, tôi kiết hạ
tại Kim Đ́nh Tây, chùa Tiểu Hồ, giảng qua một
lần cho 9 vị Tỳ-kheo, trong số đó có 3 vị
Đại đức: Triết Nhân, Tự Quán, Duyên Huyễn
là thuộc hạng đáng quan tâm.
Năm 36 tuổi, mùa Đông, tại
Ngô Môn, nơi am Huyễn Trú, tôi lại giảng qua một
lần nữa. Người nghe độ 5, 6 vị, hai Tỳ-kheo
Tự Quán và Tăng Tụ có khả năng thực hành.
Năm 38 tuổi, tôi vào núi Cửu
Hoa, năm 40 tuổi, tôi vào đất Mân Trung. Năm 44
tuổi tôi đến Điều Thành. Từ đó
đến 13, 14 năm sau, tôi tự thấy không thể
thực hiện được ǵ thêm v́ không có người
để trao đổi mà khả năng ḿnh th́ có hạn.
Ba vị Triết Nhân, Tự Quán và Tăng Tụ đều
quá văng cả. Luật học thật đă không phát huy
được.
Năm 51 tuổi, mùa Đông tôi từ
Kim Lăng về khu ḿnh ở Linh Phong; mùa an cư năm
sau, mới có chừng 10 vị phát tâm học Luật và
họ yêu cầu tôi giảng lại bộ Luật này.
Nhân nghĩ đến số tài liệu đă soạn trước,
tuy các điều hay đă thâu
vào, nhưng chưa chọn lọc từng vấn đề.
Hơn nữa, hai phần “vấn biện” và “âm
nghĩa” chưa khắc in, chi bằng gom vào bộ Tập
yếu này mà chỉnh đốn lại. Sau đó, tôi
san định, loại bỏ những chỗ rườm
rà, giữ lại những phần thiết yếu và gọn
gàng, để những người căn độn khỏi
phải than phiền trước sự mênh mông như biển
cả của Luật học.
Ngày 21 tháng Sáu năm Canh Dần
(1650), Cổ Ngô, Ngẫu Ích, Sa-môn Trí Húc tự viết
bài tựa này.
Tạng luật
là kỷ cương của Phật pháp, là mạng sống
của Tăng-già, là bến lành nơi bể khổ, là
đường chính đưa đến Niết-bàn. Khởi
đầu từ Kê Viên
[2]
, đức Thế Tôn đă đề xướng Luật
học, bằng cách Ngài gọi: “Thiện lai Tỳ-kheo”
th́ người được gọi, giới thể thành
tựu, cho đến khi Thế Tôn thị tịch tại
Sa-la song thọ, chính Ngài dặn ḍ rằng: “Giới luật
là quan trọng nhất”.
Tuy rằng do người
vi phạm mới chế giới, nhưng giới thể
hiệp Ngay với vô tác; nên tùy duyên mở ra, tùy trường
hợp ngăn cấm, đó chính là nêu cao sự sống
động vi diệu và bao quát của Luật học.
Giới luật
là con đường chung của cả Đại thừa
và Tiểu thừa, đâu phải chỉ là nẻo riêng
của Thanh văn.
Buồn thay! Cuối
đời tượng pháp, con người mù mờ,
không đạt được chơn tông; Kẻ ngu muội
bởi kiến văn hẹp ḥi, người cuồng trí
th́ rơi vào ngạo nghễ; hoặc có người dựa
vào thiền cơ để trốn tránh, lại có kẻ
lấy Phương Quảng
[3]
, để sơn thếp cách nói năng. Các vị
ấy đều bị lệ thuộc vào văn tự,
mấy ai hiểu được thật nghĩa. Như
ngài Huệ Năng đắc tâm ấn nơi Hoàng Mai ngũ
Tổ, tại sao ngài không ra hoằng hóa ngay ở Tào
Khê mà cần phải đăng đàn thọ giới Cụ
túc, Quốc sư Trừng Quán hoằng dương giáo
lư Hoa nghiêm nơi núi Ngũ Đài, là bậc mô phạm
cho cả triều đ́nh đến dân gian mà c̣n lập
ra mười lời thề để giữ thân. Khi
đức Đại Hùng c̣n tại thế, Pháp bảo
và Tăng bảo đều do bậc Chánh Giác phát huy, nhưng
khi Thế Tôn thị tịch th́ Phật bảo và Pháp bảo
đều được kiến lập từ Tăng-già.
Nếu Tăng-già chỉ có 10 giới trọng và 48 giới
khinh th́ khác nào kẻ tại gia, và nếu không có Năm
thiên Bảy tụ
[4]
th́ làm sao biết được sự thoát ly thế
tục là cao cả?
Thế nên biết
rằng, kinh Phạm vơng bao gồm cả năm đạo,
chỉ trừ địa ngục, v́ xuyên suốt nhau nên
thành ra rộng lớn. Tạng luật chỉ áp dụng
cho loài người ngăn ngừa các nạn. V́ chế
như vậy nên trở thành tôn quư. Ắt hẳn có người
ngưỡng mộ Đại thừa nên không chịu lệ
thuộc vào tiểu tiết, tự ḿnh để tóc,
không mặc pháp y, muốn làm đóa sen trong biển lửa.
Nếu như các vị ấy có ḷng thương đời
mạt pháp, có chí làm bậc trụ cột, sao lại
buông lung phóng túng theo ư ḿnh, cam làm con gịi trong thân con sư
tử vậy?
Trí Húc tôi, tự
nghĩ ḿnh nghiệp chướng nặng nề không thể
tu hành theo lư huyền diệu được, lại buồn
v́ tuổi đă lớn, mà chưa được gần
gũi các bậc Hiền triết. Đau đớn nhất
là không níu kéo được thời gian, nên tôi từ
giă mẹ hiền đi xuất gia, và nghĩ rằng Tịnh
độ có thể về. Tôi ái mộ đại sư
Liên Tŕ nhưng chỉ được học với ngài
qua sách vở để lại.
Biện biệt
về kỷ cương của Tông mỗi khi nhớ
đến phong thái của ngài Tư Bá, hộ pháp quên
thân, nguyện kế tục theo phái Khuông Sơn, mà thấy
kẻ lưu tục đương thời nên than thở,
đọc kinh Di giáo lại càng thêm buồn tủi.
Măi đến
cuối mùa Đông năm Giáp Tư, tôi làm lễ tháp Vô Lượng
Quang, ḷng càng bội phục nên phát tâm tăng thượng,
cầu xin các bậc Cổ đức Xà-lê chứng minh,
để học giới Bồ-tát. Sau đó, tôi tham khảo
Luật bộ của cả Đại thừa và Tiểu
thừa, lấy Tứ phần luật làm chuẩn, và
tham khảo luật của những bộ phái khác, soạn
thành bộ Sự nghĩa yếu lược. Tôi làm việc
này với cái khả năng nhận thức ngu muội
quê mùa, do đó, không thể tŕnh bày hết sự cao rộng
của Luật học được, nhưng việc làm
này là để tạo tư lương cho ḿnh với sự
vô tâm không vụ lợi.
Mùa Xuân năm Mậu
Th́n, tôi gặp Tuyết Hàng Tiếp Công, ḷng rất mừng
vui v́ ngài nghiêm tịnh Tỳ-ni. Nhân đó tôi có ư muốn
vào núi gấp để tra cứu lại những chỗ
trích lục (ghi chép) vẫn c̣n nhiều sơ sót. Tôi
đến hang Thiền Long Cư, xem lại văn trong Tạng,
không luận bộ phái ḿnh hay tông phái khác, những vấn
đề nào chính yếu tôi đều trích lục cả,
tra cứu những chỗ khinh trọng của Luật rất
tận tường, để xác định rơ ràng tiêu
chuẩn của sự khai, giá. Đồng thời, tôi
tra cứu Đại luật, t́m cho được nguồn
gốc sự đồng dị, và hết sức tránh những
ư kiến riêng tư, nên không mắc phải cái sai là
chê Tiểu thừa, do đó những kẻ thích sự
thẳng mực, khó có cớ mượn lư Đại thừa
để phê phán. Tôi khảo đính thành một pho,
đặt tên là “Tỳ-ni sự nghĩa tập yếu”.
Tôi tham khảo
ư kiến của các bậc Chân Tịch, Bốc Lăo nhân,
thiền sư Bác Sơn Vô Dị th́ các ngài đều
khuyến khích khắc bản lưu thông.
Sau đó, tôi lại
cùng với hai pháp hữu Bích Như và Quy Nhất xem xét
thảo luận lại cho chắc chắn, và bổ túc
cho hoàn chỉnh.
Kim Đài Pháp
Chủ ở chùa Phật Nhật rất hoan hỷ và cho
khắc bản. Cơ duyên hưng khởi của Phật
pháp chắc chắn nhờ vào lúc này.
Nhưng than ôi!
Tập yếu lược đây ví như hạt bụi
nhỏ, đối với thể của Luật như núi
cao mầu nhiệm. Đây là kết quả do khả năng
kém cỏi của tôi, nhưng có thể nói là hết sức
ḿnh.
Tôi tự hận,
sự hiểu biết của ḿnh quá thô sơ, hành tŕ lại
thiếu kém, nh́n lên rất thẹn với bậc Hiền
triết đi trước, nh́n xuống thêm tủi hổ
với hàng hậu tấn. Rất mong các bạn lành
đồng học, xét chỗ tâm thành của tôi, thương
cho sự không bén nhạy lạc hậu của tôi, cùng
một ḷng, một trí pḥ tŕ vận mệnh của Phật
pháp, báo đáp phần nào ân đức Phật.
Đầu mùa Xuân năm Tân Mùi,
Trí Húc viết tại chùa Cao Đ́nh Cổ Vĩnh Khánh.
Luật Ma-ha Tăng kỳ nói:
“Thiện nam tử nào muốn xây
dựng Phật pháp, cần phải quyết tâm thọ
tŕ Luật này. Vị nào muốn cho Phật pháp cửu
trụ tại thế gian, cần phải quyết tâm thọ
tŕ Luật này. Vị nào tâm sợ sệt v́ phạm tội,
muốn t́m chỗ nương tựa, cần phải quyết
tâm thọ tŕ Luật này. Vị nào muốn không c̣n có
nghi hối để khỏi phải hỏi người
khác, cần phải quyết tâm thọ tŕ Luật này. Vị
nào muốn đi du hóa khắp nơi, không bị trở
ngại th́ cần phải thọ tŕ Luật này”.
Luận Tát-bà-đa
nói:
“Tỳ-ni
có bốn nghĩa mà kinh khác không có:
-
Một là vùng đất bằng của Phật pháp,
các thiện pháp đều sanh trưởng từ đó.
-
Hai là tất cả đệ tử của Phật
đều y vào luật để sinh hoạt, và tất
cả chúng sanh do giới mà có.
-
Ba là cửa ngơ đầu tiên để đến
Niết-bàn.
-
Bốn là xâu chuỗi ngọc để trang nghiêm
Phật pháp.
Do đủ bốn
nghĩa này nên không có ǵ quư bằng Luật”.
Than ôi! Lợi ích của giới
đâu phải là nhỏ, tại sao cách Phật đă
xa, việc nhầm lẫn lại nhiều, và chúng sanh
đời mạt pháp ít gặp bậc chơn phong?
Từ
khi giới luật truyền vào Trung Quốc, khởi
đầu từ ngài Tăng Khải đời Tào Ngụy,
ngài Tự Huy và Hoài Tố Luật sư đến nay,
những bậc am tường về luật thật là
hiếm. Đôi khi có một hai vị Đại sĩ thông
suốt hoằng truyền th́ đă không được
như sư tử ra khỏi hang, chẳng khác nào như
con ngỗng chúa chọn sữa uống (chừa nước),
gần th́ bỏ cương tôn của 5 bộ, mà nhận
lấy những cương mục hỏi đáp bên cạnh,
chú trọng gấp điều đáng hoăn, hoăn lại
điều đáng gấp, tự mâu thuẫn nhau, mất
dê ngày càng dài. Do đó, bậc hào kiệt chưa từng
hỏi đến. Vậy th́ biết nhờ đâu cho mặt
trăng giới sáng giữa đêm sâu, duy tŕ giềng mối
cũ khỏi bị đứt tuyệt.
Thọ
Trù tôi, đọc kỹ những tài liệu để lại,
phát sinh nhiều mối cảm
xúc. Tôi thấy sư huynh Trí Húc, nặng t́nh với
Chánh pháp, ḷng bi nguyện rất sâu, tham khảo hết
chỗ kín đáo của Luật tạng. Tự chọn
Tứ phần làm cương lĩnh và dựa vào các bộ
khác để soi sáng, t́m tận nguồn nước
để lấy được cam lồ, góp lại
thành nhiều quyển, đều tuân theo lời dạy
của Cổ đức, không phải những lời
nói ngoa, mong sao ai uống được một giọt, có
thể trị hết những bệnh lâu ngày; ai uống
no đủ th́ bệnh mới không phát sinh. Biển giới
sẽ được trong sáng là chính nhờ ở hành
động này.
Không biết
nhờ đời trước tôi đă làm nhân tốt
ǵ mà nay được dự phần trong pháp tịch Tỳ-ni?
V́ quá vui mừng nên vội nếm trước, và gởi
vài lời vào cuối sách này. Người biết Chánh pháp, ắt không phải v́ mưu
tính mà làm; kẻ bất tiếu, th́ không hùa theo
cái đẹp của người khác.
Mùa
Xuân năm Canh Ngọ, người em trong Luật học,
hậu học U Khê Thọ Trù kính ghi.
(Bài bạt
này nằm ở cuối quyển thứ 18 của bộ
Tỳ-ni sự nghĩa tập yếu, nay để vào nơi
đây cũng theo sự sắp xếp của bản Trùng
trị cũ).
HỎI: - Luật
học chú trọng đến chỗ tin chắc, và nỗ
lực hành tŕ. Ai giữ được Năm thiên, chắc
sanh vào cơi trời cơi người; nhưng khi phước
của họ nếu hết, tương lai sẽ ra sao?
Người nào tu theo Tông, Giáo: trước hết, phải
biết mở mắt ra, sau đó đạo cộng giới
[5]
mới sanh, đó là việc cần gấp. Nguời xưa
có nói: Quư ở chỗ thấy tánh, không quư ở hành
tŕ, há không đúng hay sao?
ĐÁP: - Luật học là nhân chánh để xuất thế.
Thành tựu giới Ba-la-mật mới đạt đến
địa vị Phật-đà. Vậy Luật học
đâu phải chỉ là phước báo của cơi trời,
cơi người! Sự kiến tánh của Tông, Giáo tuy rằng
giống nhau, nhưng muốn rời giới luật để
nói riêng về Giáo và Tông th́ đó chỉ là bỏ sự
cầu lư, rơi vào ác tri kiến.
Ngài Qui Sơn có nói: “Chưa thân cận
và học hỏi theo giới luật th́ chơn nghĩa của
Tối thượng thừa làm sao thấu triệt
được?”
Tôn giả Kinh Khê nói: “Bốn giới
đầu làm cảnh, sáu giới sau quán chung, sự lư
tương tức”
[6]
.
Nên biết rằng:
Thiên và Tụ không thể thiếu sót. Người đời
coi thường Sự mà lại muốn đạt đến
Lư sâu, xét ra quan niệm này rất hư huyễn, không
có cơ sở ǵ cả. Đă thiếu cảnh quán th́
lấy ǵ để quán? Nhưng dù Tông hay Giáo đều
có răn dạy rơ ràng, tại sao không nghĩ đến
điều ấy?
Người
xưa sở dĩ nói: “Quư ở chỗ thấy tánh,
không quư ở hành tŕ”. Chính v́ có thấy tánh tức
có hành tŕ, nhưng có hành tŕ chưa chắc đă thấy
tánh. Nay ta lại cho rằng giới pháp Vô thượng
của đức Phật thuộc nhơn, thiên, bỏ cả
Luật nghi, chỉ nói suông về Đạo cộng giới,
chánh kiến đă bị phá th́ hành tŕ sai là lẽ dĩ
nhiên. Như vậy chắc
chắn bị đọa trong ba đường ác, tuy muốn
sanh vào trời, người nhưng cũng không thể
được.
HỎI:
- Đời mạt pháp con người căn tánh chậm
lụt, chỉ nên nói gọn. Tứ Phần Luật v́
ai cũng sợ sự phức tạp chi ly của nó, nên
chỉ đặt lên chỗ cao mà thờ. Nay bộ Tập
yếu này lại trích dẫn thêm các bộ Luật
khác càng thêm phiền toái. Tại sao không lấy ngay Giới
bổn Tứ phần để giải thích gọn
các chỗ nghi ngờ, có hay hơn không?
ĐÁP: - Đời mạt pháp, con người căn tánh chậm
lụt, chỉ thích gọn không ưa rộng là một
chứng bệnh, cố thủ sự ngu si, không hiểu
biết. Càng theo xu hướng ấy càng đi xuống
mà thôi, cuối cùng không bao giờ giải tỏa
được sự nghi ngờ. Nay muốn cứu văn
cái khổ nạn ấy, cần phải học rộng,
phá bỏ sự hẹp ḥi, mới có thể có chỗ y
cứ. Nếu chỉ đem Giới bổn Tứ phần
giải thích sơ qua th́ làm sao phân tích cho rơ các vấn
đề khai, giá, tŕ, phạm; người ưa chuộng
Phật pháp c̣n khó thông đạt được, huống
chi kẻ theo thói biếng nhác, không chịu để ư
đến, tới lui sai quấy, có ích lợi ǵ!
HỎI: - Pháp
môn niệm Phật, rộng lớn lại dễ dàng, chỉ
tin theo và hành tŕ là được. Hành giả cố gắng
nhất tâm niệm Phật tự nhiên ngăn được
điều sai quấy, chận đứng các điều
ác, phiền ǵ phải cần cù cả năm học pháp
luật này, danh tướng mênh mông phiền toái, không
đơn giản chút nào. Quả vị do tŕ giới,
cao lắm là Thanh văn, rộng lớn ǵ đâu; như
vậy sợ rằng không bằng chuyên chú phát triển
một pháp môn vi diệu của Tịnh độ?
ĐÁP: - Tŕ giới và niệm Phật vốn là một pháp
môn chứ không phải hai đường; tịnh giới
là nhân, Tịnh độ là quả. Nếu ta gọi việc
niệm Phật là đường tắt c̣n Luật học
là đi quanh th́ chính ta đă đi ngược lại lời
giáo huấn tha thiết cuối cùng của đức Phật
th́ làm sao thành tựu được niệm Phật
tam-muội? Lại nữa, giới như biển không bờ,
như báu cầu không chán, sao lại không rộng lớn?
Làm là phạm, đ́nh chỉ là tŕ, bảo đảm
giải thoát, sao lại không đơn giản; Thế nên
người nhất tâm niệm Phật, tuy có thể ngừa
điều sai, chận việc ác, nhưng người
chuyên tinh Luật học, thật là kẻ giữ lấy
lời dạy sáng ngời của đức Phật. Hiện
tại làm hưng thịnh ngôi Tam bảo, khi lâm chung sanh
lên cảnh giới thượng thượng phẩm. Sự
vi diệu của pháp môn nào, làm sao hơn thế
được!
HỎI: -
Đức Như Lai giáng sanh ở Ấn Độ, những
giới luật thuộc về giá tội đều chế
cấm do sự chê trách của cư sĩ đời này,
song cũng tùy theo địa phương mà giới luật
có thay đổi. Nay ở xứ ta, nếu không tuân
hành, chưa chắc cư sĩ đă chê trách. Giả sử
bỏ đi các giới vi tế, có ǵ sai với luật
Phật dạy đâu? Lại nữa, nay thời mạt
pháp, ngoại duyên hỗ trợ không nhiều, chính nhân
bên trong lại mỏng và ít, nên muốn giữ lại tất
cả các giới để không phạm, th́ làm sao diễn
giảng giáo pháp cho rộng răi. Giữ ǵn trọn vẹn
các tiểu tiết để mất sự lợi ích lớn
lao, đâu phải là bản tâm của Bồ-tát, kẻ
chơn chánh học Nhất thừa như vậy sao?
ĐÁP:
- Đức Như Lai với tri kiến
sâu rộng, Ngài v́ chúng sanh khắp trên đại thiên
thế giới chế ra giới luật. C̣n lục quần
Tỳ-kheo đều là bậc đại quyền Bồ-tát
thị hiện, tự đặt ḿnh vào h́nh thái của
chúng sanh đời mạt pháp, nên tạo ra các nhân
duyên phạm giới. Chính do tính người lười
biếng, không giữ những giới trọng và giới
khinh nên làm cho pháp của Phật suy đồi. Nay muốn
hoằng truyền Tông, diễn thuyết Giáo nghĩa
đều phải lấy tŕ giới làm gốc. Vị
nào giới luật tinh nghiêm th́ chánh nhân bên trong đôn
hậu, phụ duyên bên ngoài tự đầy đủ;
trong tướng bạch hào
[7]
một phần sáng rực, quả
quyết không phải là lời nói hư cuồng. Nếu
ta cho giới là tiểu tiết, tứùc hủy báng
Chánh pháp. Người như vậy th́ giảng về
Tông, thuyết về Giáo đều là chuyện vu vơ
vô ích. Nếu có thu hoạch được ảnh hưởng
ngoại duyên nào, th́ tất cả đều là ma nghiệp
có ích lợi ǵ cho Chánh pháp.
HỎI: - Chư
Tổ ở Tây Trúc đều tinh thông tam học. Tại
đất nước thô lậu này, thời gian cách Phật
lại xa, tri kiến mọi người lại hẹp ḥi,
từ đời Đường, Tống trở lại
đây có vài vị Tôn túc, đạo phong sáng tỏ dưới
rừng cây, bên ḍng suối nước, núp dưới vài
tấm phên, với một cây cuốc tự sống một
đời thuần tịnh. Đến khi các vị
ấy ra lănh chúng th́ đưa ra quy tắc: “Một ngày
không làm, một ngày không ăn”, đến lúc độ
người th́ lại dùng tiếng hét và gậy làm phương
tiện để đưa người hướng
thượng. Tất cả những phương tiện
ấy đều không tương ưng với giới
luật. Thế mà những người hảo tâm xuất
gia đều theo lối hành cước
[8]
vào núi, rồi sau đó lên ṭa đắp y, những
người sau này đều bắt chước theo cách
ấy. Ngày nay bao nhiêu người làm theo như Tổ, họ
có thật là Tỳ-kheo không? Nếu không phải là Tỳ-kheo
th́ làm sao kế thừa được địa vị
của chư Tổ? Nếu họ là Tỳ-kheo tại
sao không tuân theo Luật chế? Lại nữa, những
người kế thừa địa vị của
chư Tổ xem nhẹ Luật học, không biết chư
Tổ đi trước có xem nhẹ Luật học như
vậy hay không? Lại nữa, ngày nay những người
kế thừa địa vị chư Tổ, tuy không
tuân theo giới luật nhưng họ lại truyền giới
cho người; không rơ chư Tổ đi trước có
truyền giới cho người đi theo kiểu đó
hay không?
ĐÁP:
- Chư Tổ đi trước có 3
hạng:
- Bậc thứ nhất, nghiêm tŕ giới luật
thanh tịnh làm mô phạm cho ba cơi, như các ngài: Huệ
Viễn, Trí Giả, Tả Khê, Vĩnh Gia, Kinh Khê, Đại
Mai, Vĩnh Minh, Giác Phạm, Cao Phong, Trung Phong, Sở Thạch
v.v... Ngài Giác Phạm không ăn phi thời, ngài Trung Phong
mùa Đông mùa Hạ chỉ mặc một y. Những tấm
gương sáng đó được ghi đầy đủ
rơ ràng trong sử sách. Từ xưa đến nay, những
bậc Tri thức như vậy cũng nhiều, là chỗ
đáng kính ngưỡng để chúng ta bắt chước
theo.
- Bậc thứ hai, sống
trong đời mạt pháp, ở vào hoàn cảnh bất
đắc dĩ, tuân theo di mệnh của Phật, song lại
lược bỏ các giới vi tế, ở chùa thời
cày cấy trồng trọt, lănh chúng thời khai khẩn
ruộng đất. Nhưng đối với các giới
không ăn phi thời v.v... các vị ấy vẫn tuân
hành đầy đủ. Trong Bách Trượng thanh quy
gọi bữa ăn chiều là thuốc chữa bệnh
mà không gọi là ăn cháo, chỉ cho là uống thuốc
phi thời, thuốc bảy ngày, thuốc trọn đời
mà thôi.
Lại
nữa, ngài Đức Sơn đem cất b́nh bát v́ thấy
mặt trời đă xế. Từ những chi tiết
đó, nên biết rằng vấn đề không ăn
phi thời đă được sáng tỏ; nhưng những
bậc Tri thức ấy đâu dám v́ người truyền
giới. Cho nên, từ đời Đường, Tống
trở lại, Thiền sư th́ có chùa của Thiền
sư, Giảng sư th́ có chùa của Giảng sư, Luật
sư th́ có chùa của Luật sư. Những người
khi mới xuất gia phần đông học luật đầu
tiên, ai có sở đắc về luật th́ lấy luật
làm tông phái của ḿnh, nếu ai không có sở đắc
về luật th́ theo học giáo thuyết hay tham thiền,
nhưng họ chỉ bỏ các giới nhỏ nhặt chứ
không bỏ các trọng giới và tánh giới. Nếu ai
không học luật th́ t́m đến Thiền giáo để
tham học, đây gọi là thừa gấp giới hoăn,
nhưng vẫn giữ ǵn 5 giới căn bản, tránh việc
không hủy báng hay phạm trọng giới, các vị
ấy vẫn không dám xưng là Tỳ-kheo và chắc chắn
không dám khinh thường người học luật, họ
tự thẹn là không thể hành tŕ theo giới luật,
lấy đó làm đức tàm quư. Những vị ấy
khi nhập thế tiếp độ mọi người
th́ họ thọ giới lại, để tánh giới
và giá giới
[9]
đều thanh tịnh như đức Lục Tổ
Huệ Năng v.v... Hoặc tự tu tự chứng, gặp
cơ duyên chỉ tiếp độ một lần như
ngài Thọ Xương. Có người hỏi ngài Thọ
Xương:
“Phật chế Tỳ-kheo không
được đào đất, tổn thương cây
cỏ. Tại sao ngày nay ngài tự cày, tự gieo cây hạt,
tự làm cỏ, tự gặt hái?”
Ngài đáp:
“Chúng tôi chỉ ngộ được
tâm Phật, truyền thừa ư chỉ của chư Tổ
sư, chỉ bày cho người có duyên thấy
được tâm tánh. Nếu đem Chánh pháp mà xét th́
chúng tôi chỉ có thể gọi là cư sĩ trọc
đầu, chứ đâu xứng danh Tỳ-kheo”.
Lại hỏi:
“Giả như ngày nay có người
hành tŕ được giới Tỳ-kheo đúng như
Pháp th́ ngài đối với vị ấy thế nào?”
Ngài đáp:
“Nếu thật có hạng người
như vậy, nên kính họ như Phật, hầu hạ
đúng như pháp thờ thầy. Chúng tôi không phải
không làm, mà thật sự chưa thể làm được
vậy”.
Lại như, Đại sư Tử
Bá suốt đời chỉ ăn cháo buổi sáng,
ăn cơm buổi trưa, ngoài ra không ăn tạp,
hơn 40 năm không nằm, hành tŕ như vậy mà ngài
c̣n cho rằng chưa giữ được các giới
vi tế, nên trọn đời không dám truyền giới
Sa-di hay Tỳ-kheo cho người khác. Trường hợp
bất đắc dĩ, ngài chỉ truyền 5 giới
mà thôi.
Than ôi! Các vị Tổ sư trên
đă tôn trọng giới luật như vậy, đâu
dám xem thường, nếu ai khinh thường giới luật
chắc chắn thuộc loại tà kiến, chẳng phải
chơn thật là bậc mô phạm.
- Bậc thứ ba, th́ đại vận dụng
phương tiện, xem xét các cơ duyên lợi ích, phá
nghi chấp cho người, nên không câu chấp vào quy tắc
thường áp dụng. Như ngài Văn-thù Bồ-tát cầm
gươm bức Phật
[10]
ba nơi phá hạ. Tỳ-kheo Trùng Thắng cùng người
đồng nữ ngồi khiến cho họ chứng quả
Vô sanh. Đến như Hàn Sơn, Thập Đắc mắng
cả Luật chủ, Quy Tông Nam Tuyền chặt rắn,
giết mèo... Những hành động ấy, vào lúc quyền
hiện không thể không làm. Như thầy thuốc giỏi
dùng vị tỳ sương
[11]
để chữa bệnh. Đại tướng lập
trận đồ để dẹp giặc, chẳng qua là
chỉ dùng trong nhất thời, không thể đưa vào
quy tắc của sách vở cần yếu hàng ngày.
Lại như những hành động
la Phật, mắng Tổ, đánh thật đau, hét thật
lớn, đều là việc bất đắc dĩ phải
sử dụng. Thường gọi: “Binh là vật bất
tường" chính là nghĩa đây vậy. Không phải
như dùng gạo, đậu, lúa, bắp để so sánh
được. Cách sử dụng h́nh như ngược
lại với luật, nhưng người tŕ luật chơn
chánh đă nắm được ư chỉ của luật.
Trường hợp như Mạt-lợi phu nhơn uống
rượu để cứu người khỏi chết;
đức Phật tán thán phu nhơn là người giữ
trai giới chơn thật.
Bồ-tát giới bổn chép: Bồ-tát thấy việc thiết yếu
phải làm th́ được phép sát sanh, ăn trộm...
hành động có mục đích lợi ích như vậy,
Bồ-tát không bị phạm giới, mà c̣n sanh trưởng
nhiều phước đức. Nếu như sử dụng
sai chỗ th́ sẽ tạo ra nhận định sai lầm
cho người đi sau, tai hại không nhỏ, như
Ưu Mạnh bắt chước Thúc Ngao
[12]
.
Những kẻ Tông chẳng phải
Tông, Luật lại không phải Luật, hủy báng
Đại Bát-nhă, gây nghi ngờ, tạo sai lầm cho người
hậu thế, quả báo trong ba đường ác làm
sao tránh khỏi; giả như v́ khuyến dụ kẻ
ngu si hướng về Tam bảo, mà làm các phước
nghiệp tà mạng, do phước lực này giữ ǵn
không bị đọa lạc ngay, nhưng cuối cùng vẫn
là quyến thuộc của ma vương ngoại đạo,
không phải là đệ tử của Phật.
Trong đời mạt pháp loại
ma tà như vậy rất nhiều. Chúng dối gạt thế
gian, lại nhờ sức hỗ trợ của ma vương
nên được cúng dường đầy đủ.
Chúng thường tụ tập cả trăm ngàn quyến
thuộc con cháu của chúng, phân bổ khắp thế
gian, chúng hủy giới luật của Như Lai. Người
ngu không hiểu biết tham muốn danh tiếng của
chúng nên tranh nhau bắt chước, làm cho những người
hảo tâm xuất gia đều bị đọa lạc
vào bè đảng của chúng, họ muốn cầu
thoát ra, lại bị rơi vào, thật đau ḷng biết
bao! Song những người ấy, nhờ Tam bảo làm
cảnh sở duyên, nên khi tội báo hết lại nhờ
vào năng lực của Phật Pháp Tăng độ
thoát. Như người bị té trên đất nhờ
dựa vào đất được đứng dậy.
Những người này so với những người không
nghe danh hiệu Tam bảo c̣n hơn một bậc. Thế
nên Ma vương nói với đức Phật:
“Chúng
tôi ở trong đời mạt pháp của Ngài, sẽ
sai quyến thuộc của chúng tôi, ăn cơm của
Ngài, mặc áo của Ngài, ở nhà của Ngài để
phá hoại giáo pháp của Ngài”.
Đức
Phật bảo Ma vương rằng:
“Các
ngươi chỉ tự phá lấy ḿnh chứ pháp của
Ta không thể bị phá hoại được”.
Nay ai muốn
không bị đọa vào ba đường ác, đi thẳng
lên quả Thánh, th́ tŕ giới là việc làm hàng đầu.
Nếu ai không thể giữ giới được, nên
tán thán giới, tự thân phải tàm quư.
Ai
tự ḿnh đă mang danh thọ giới, sao lại xem thường
giáo pháp? Tự thân không giữ giới tinh nghiêm mà lại làm thầy
truyền giới cho người, đă v́ người
truyền giới, lại không dạy người học
giới đúng như pháp, thế mà những vị này
c̣n nói: “Giới luật là Tiểu thừa, không cần
phải học tập”. Những người này chắc
chắn phải đọa vào tam đồ, làm quyến
thuộc của ma, tự ḿnh thọ lấy cái khổ
đă tạo ra, không ai có thể cứu được.
Tuy vậy, cuối cùng ai cũng có thể thành Phật
được. Tôi đâu dám khinh thường họ!
1)
Văn dịch trong Luật tạng rất phức tạp,
nay muốn cho người học dễ nắm được,
nên tôi nhằm vào ư nghĩa chủ yếu, lược bớt
văn tự. Văn tuy được rút gọn, nhưng
ư nghĩa chính vẫn giữ nguyên, nếu vị nào
không tin, xin cứ đem Luật tạng ra đối chiếu.
2)
Sau khi đức Như Lai diệt độ, Luật tạng
được kiết tập, ban đầu không có chủ
trương riêng của từng bộ phái. Sau này do kiến
giải sai khác, nên phân thành nhiều bộ, khi đă
phân thành bộ phái, tất nhiên ai đi theo chủ
trương nấy. Như ngài Nghĩa Tịnh chỉ hoằng
dương luật Căn bản, ngài Hoài Tố đề
cao Luật Tứ phần, cho nên khó mà hội thông
được.
Sợ
rằng: Có học xứ bị bên này bỏ ra, lại
được bên kia thu dụng, hoặc bỏ giới
giá lấy giới khai, đưa đến t́nh trạng
chú trọng giới khinh, xem thường giới trọng.
Tôi phỏng theo ư chỉ của Luật sư Nam Sơn
để đả thông tất cả sự dị đồng
của các bộ. Chính yếu là sử dụng những
ư kiến hợp lư nhất, không dựa vào cơ sở
nào hết, như tránh né, thu dụng hoặc loại bỏ.
Mục đích chính là hoàn thành việc tổng hợp
những quan điểm đúng của các bộ phái.
Ngơ hầu khế hợp được bản ư của
Như Lai.
HỎI:
- Tuyên luật sư sử dụng các
bộ phái c̣n bị Hoài Tố luật sư chê.
Nay y cứ vào đâu để làm cơ sở cho việc
lấy, bỏ, đúng, sai? Nếu dựa vào sự suy luận
của phàm phu th́ liệu có đúng với quy định
của Phật không?
ĐÁP:
- Do sự tranh chấp nên sanh ra nhiều
bộ phái, hiện tượng đó là sự suy thoái của
đạo pháp. Sử dụng những sở trường
của các bộ, chính là ư muốn tập thành. Tuy Hoài
Tố chê, có chỗ cũng có căn cứ, nhưng chẳng
lẽ Luật học của Tuyên luật sư sai hết
hay sao? Huống chi Phật có dạy rơ: “Người nhiều
trí tuệ có thể bỏ, có thể lấy, nhưng kẻ
ngu si không thể phân biệt được”. Thế nên
ở đây, lấy sự phân minh để tập
đại thành là nghĩ đến người đi
sau. Cho nên bộ Tập yếu này sử dụng sở
trường của các bộ, là để đủ
điều kiện tham khảo. Hơn nữa, v́ ngược
ḍng t́m đến tận nguồn, nên đâu phải căn
cứ trên những suy luận riêng tư để lấy
hay bỏ một cách tùy tiện.
3) Riêng Luật Thiện Kiến phân giá tội
và tánh tội
[13]
nhưng bên dưới mỗi giới có chỗ phân
có chỗ không. Nay tôi theo nguyên bản không dám thêm vào,
ai muốn đối chiếu nguyên bản th́ có thế
thấy rơ. Lại nữa, theo Luật Thiện Kiến
gọi là chế tội, th́ ở đây gọi là giá tội,
chữ dùng tuy khác, ư nghĩa như nhau.
4)
Theo sau mỗi giới, đều có các phần: Duyên
khởi, thích nghĩa, đưa ra sự khinh trọng của
tướng tội, hỏi và đáp để nêu lên lẽ
đúng, lẽ sai. Sau hết dẫn chứng các bộ Luật
oai nghi khác, những điều tương tự giới
đó cũng phụ lục vào. Sáu phần này có khi nêu
ra hết, có khi giảm bớt, v́ thấy không cần
thiết, nên không liệt kê chi tiết mà chỉ sử
dụng sáu từ: Duyên, thích, tướng, biện, chứng
và phụ, để nêu lên từng phần muốn nói.
5)
Xét về mặt dịch thuật các bộ Luật,
có trường hợp sử dụng từ ngữ khác
nhau nhưng ư nghĩa đồng, hoặc lời văn
khó hiểu. Những trường hợp như vậy có
thể chú thích được th́ chú thích, nếu không
thể chú thích th́ đưa vào cuối mỗi quyển
để tiện tham khảo.
6)
Giá tội của Thanh-văn, Đại thừa đồng
học. Cho đến những điều v́ chúng sanh nên
phương tiện mở ra, đều có chứng cứ
rơ ràng trong kinh, không thể lẫn lộn được.
Nay y cứ kinh Phạm vơng và Từ thị giới bổn,
mỗi giới chỉ thuyết minh phần chính. Đó
là phỏng theo ư của Sớ giải Thiên
1)
Năm phần Pháp thân đều y cứ theo giới,
ba môn học Vô lậu, lấy giới làm đầu, không
một đức Như Lai nào không đủ giới thể,
không một Bồ-tát nào không tu giới Ba-la-mật,
không một kinh điển nào không đề cao giới
pháp, không vị Thánh, bậc Hiền nào không giữ giới
hạnh trang nghiêm. Tŕ giới giống như đất,
tất cả thiện pháp đều từ đó mà sanh
trưởng. Tŕ giới như thành quách, dựa vào
đó mà xa ĺa được ma chướng. Luận về
sự thù thắng siêu việt của giới th́ một
người phàm phu khi được thọ giới, liền
được gọi ngay là phước điền của
thế gian; c̣n đạt đến chỗ cùng tận của
giới th́ chỉ có Phật mới được gọi
là bậc tṛn đầy về giới.
Bốn
tầng lầu cao, mỗi bậc là cảnh giới viên
đốn. Tám vạn tế hạnh, mỗi hạnh cùng
pháp giới tương ưng. Nếu không tŕ giới
th́ dù có học tập giáo lư, tọa thiền, tạo
các phước nghiệp đều là nếp sống của
ma và rơi vào bè đảng của chúng. Thế nên ngườí
hảo tâm, xuất gia, nhất thiết phải bắt
đầu từ tŕ giới, và sau đó việc tự
lợi lợi tha, các pháp mới thành tựu. Nếu bỏ
con đường thông suốt này, th́ không c̣n lối
đi nào ngắn hơn nữa.
HỎI:
- Tạng luật của Tỳ-kheo vốn
thuộc Thanh văn, giới kinh Phạm vơng mới là
đại giáo, nay lại nói rằng: Bốn cấp bậc
đều là cảnh viên đốn, làm sao phân rơ
được Đại và Tiểu thừa? Lại nữa,
đă gọi là viên đốn th́ một cấp bậc
là đủ rồi, cần ǵ phải bốn cấp bậc.
ĐÁP:
- Người viên, khi thọ pháp,
không pháp nào không viên. Ai đă nhận chân được
chỉ thú của kinh Pháp hoa mở bày th́ nhất sắc,
nhất hương đều là trung đạo. Như vậy,
có giáo pháp nào là không viên đốn? Pháp hoa huyền
nghĩa nói: Khai thô (hiển) th́ Luật học là Đại
thừa. Thức xoa, Thức xoa tức là nghĩa thứ
nhất của Đại thừa. Ánh sáng không phải
là xanh, vàng, đỏ, trắng, đen. Tam quy, Ngũ giới,
Thập thiện, 250 giới đều là Đại thừa.
Như vậy, sao lại có thô giới khác với diệu
giới? Giới đă diệu th́ người thọ giới
cũng diệu, nên câu “Ngươi thật là con ta”
chính là nghĩa này. Đây gọi là diệu giới,
không c̣n đối đăi.
Than ôi! Do đây,
quán sát từng cấp bậc đều là viên đốn,
một và nhiều không ngại nhau, mới thành bất
khả tư ngh́. Nếu cho rằng một loạt là
đủ, th́ như kinh Hoa nghiêm có bảy chỗ, chín hội
[14]
. Vậy, ta có thể đặt vấn đề là một
chỗ, một hội là đủ có được không?
HỎI:
- Năm giới, mười giới,
Tỳ-kheo giới, Bồ-tát giới dụ như bốn
cấp bậc vào nhà lầu. Thế nên nói rằng:
Không thọ năm giới mà thọ mười giới,
cho đến không thọ Tỳ-kheo giới mà thọ Bồ-tát
giới, việc làm ấy không đúng. Ư nghĩa thứ
lớp đă rơ ràng như vậy, huống chi ngày nay,
cho Sa-di thọ giới Bồ-tát, há không tự làm ngược
lại và vượt lên lời dạy chơn thật của
Phật hay sao?
ĐÁP:
- Dụ về nhà lầu, chẳng
qua thuyết minh tiến tŕnh của một lần đi
lên, nhưng nếu chấp hành một cách cứng ngắt
như vậy th́ Ưu-bà-tắc cũng không được
thọ Bồ-tát giới. Sự thật th́ Ưu-bà-tắc
có thể thọ giới được vậy tại
sao không cho phép Sa-di thọ? không lẽ Sa-di lại không bằng
Ưu-bà-tắc hay sao? Giới Bồ-tát theo Nghĩa sớ
th́ cộng thông cả bảy chúng, mà các chùa đại
và tiểu ở Tây Trúc chia riêng, như vậy chẳng
lẽ các chùa của Đại thừa lại không có
Sa-di hay sao?
HỎI: - Ba
môn, Thiền, Giáo, Luật cũng như lan mùa Xuân, cúc
mùa Thu, đều phô trương cái đẹp của ḿnh.
Nay chỉ lấy giới làm đường đi chung, tại
sao từ xưa lại lập ra ba Tông?
ĐÁP: - Hai mươi tám vị Tổ ở Tây Vực đều
bảo tŕ ba Tạng, khi Phật pháp lưu truyền
đến Đông Độ th́ mới phân chia thành môn
phái, nhưng không một vị Thiền sư nào, một
vị Giảng chủ nào không lấy giới luật
để thúc liễm thân tâm, ngơ hầu không gây ác nghiệp.
2) Người chưa học giới, phần nhiều sợ
giữ khó khăn, nguyên nhân chính là họ không hiểu
giới pháp nên sanh ḷng thối thất. Nếu ai học
giới này, mới thấy rằng đức Như Lai
trí tuệ vô cùng, hiểu tận ḷng người. Ngài
ngăn ngừa và mở ra rất đúng chỗ, nên sự
giữ giới không khó khăn ǵ cả.
Tôi nhớ lúc mới
xuất gia, tự thị cho rằng căn bản ḿnh
thanh tịnh, rất sợ sự hành tŕ bó buộc với
nhiều chi tiết, nên mười giới Sa-di tôi c̣n chẳng
chịu thọ, huống chi là giới Tỳ-kheo. Sau này,
nhân theo đại chúng ở Tùng lâm nên gượng thọ
mười giới. Sau đó xem qua giới bổn, cho
đến học Luật tạng mới tin rằng: muốn
được tự tại không c̣n sợ ǵ, th́ cần
phải thông suốt giới luật.
Người
chưa học luật, gặp việc ǵ cũng bế tắc
cả. Nhà Nho nói: “Người không học lễ,
không thể lập thân.” Lời nói ấy đúng thay!
3) Xứ Tây Trúc khí hậu nóng và ẩm, cây cỏ không
sanh trưởng được, nên đức Phật
cho phép Tỳ-kheo ăn 5 thứ tịnh nhục. Xứ này
rau trái rất nhiều, quyết định không đuợc
ăn thịt. Lại nữa, các nước ở Tây Vực,
nếu thực hành theo pháp Tiểu thừa mới ăn
5 thứ tịnh nhục, c̣n các người hành tŕ theo
Đại thừa, đều cấm không cho ăn.
Nay tại xứ
này giáo pháp Đại thừa đă truyền khắp, nếu
Tỳ-kheo ăn thịt, nhất định tăng thêm sự
hủy báng. Để ngăn sự chê bai của thế
gian, nên chú trọng việc này, dù ai chưa thọ giới
Bồ-tát cũng không được ăn thịt, nếu
ăn thịt th́ không phải nếp sống của
Sa-môn.
4) Hai tạng Kinh và Luận quư ở chỗ lưu thông,
riêng có tạng Luật rất quư giá và kín đáo, v́
luật là pháp của Đại Tăng không phải
dành cho người ngoài.
Luật Căn bản
chép: “Người tại gia chỉ được nghe
hai tạng Kinh và Luận, tạng Luật là phép tắc
của người xuất gia không được xem”.
Bài tựa của
kinh Giới nhân duyên chép: “Tại Thiên Trúc, luật
được giữ kín, chỉ có bậc Đầu-đà
và những vị có trí tuệ vững chắc mới
được phép mở xem và cùng truyền cho nhau”.
Ngài Da-xá dặn
đi dặn lại rất kỹ việc này: “Con người
nên bảo họ làm chứ không nên cho họ biết”.
Câu nói này thật là chí lư chí thiết, cần lưu
ư và cẩn thận mong rằng những vị đồng
giới phải cẩn thận vấn đề truyền
thọ. Ai chưa đủ năm hạ, chẳng phải
người tŕ luật, chớ nên cho họ biết. Xem
rơ hai Luật đều nói như vậy, nên biết việc
này phải cẩn thận, nếu để Sa-di hiểu
rơ Năm thiên th́ sẽ thành già nạn khi họ thọ
Cụ túc giới.
Bộ Tập yếu này đặc
biệt dành cho người thích gọn, tiện dụng
khi hành tŕ. Chớ nên cho người chưa thọ giới
xem trước. Nếu Sa-di trao cho nhau xem, phải trách họ
và ngăn cản ngay, nếu không làm như vậy ta và
họ đều có tội.
HỎI: - Đức
Thế Tôn giảng pháp như một trận mưa làm
thấm ướt khắp nơi, người nào thấm
nhuần đều được lợi ích. Ngày xưa
có người nghe nửa bài kệ trong kinh, được
thoát khỏi tội đầu thai làm chó, và trâu chở
đại kinh, đời sau được sanh làm
Sa-môn. Như vậy, tại sao Tạng luật lại cho
là quư báu và giữ kín? Chẳng lẽ luật không có lợi
ích cho người, hay là quư vị không muốn đem luật
làm lợi ích cho mọi người? Lại nữa, giả
như có người chưa thọ Cụ túc giới,
phát tâm duyệt Tạng luật, không biết Phật cấm
chỗ nào không được đọc. Lại như
những người viết chép, khắc bản in... th́
phải xem qua, giả như sau này họ phát tâm thọ
giới, nếu v́ những người ấy cho thọ
giới th́ họ có mắc trọng nạn hay không? Nếu
điều đó là trọng nạn th́ trong Phật pháp
cũng có những hạn chế và tác dụng ngược
lại “
ĐÁP: - Kinh điển quư ở chỗ lưu thông, nhờ thế
nên thành chủng tử của văn huân, c̣n Luật
quư báu ở chỗ giữ kín nên ngăn ngừa
được cái nạn của tặc trụ. Một
bên là giữ kín, một bên là phơi bày, đều là
nằm trong Tứ tất-đàn của Như Lai, cho
đến như người không biết ǵ mà lầm
xem hay xem qua khi chép, khắc, in... th́ đâu có tâm trộm
pháp, tất nhiên không liệt vào trường hợp bị
trọng nạn. Nhưng những người chép hay khắc
chưa hiểu rơ được th́ c̣n có thể dung thứ,
c̣n như người xem mà hiểu rơ th́ phải ngăn
cấm. V́ vậy, đối với những người
biết pháp cần phải khéo léo hướng dẫn
cho họ.
HỎI: - Các
thiên và tụ của luật đă không cho Cư sĩ và
Sa-di được biết, tại sao trên hội Niết-bàn
đức Thế Tôn nói với đại chúng trời,
người về 5 thiên 7 tụ và phó chúc cho đời
sau không được vi phạm, chẳng lẽ trong kinh
Niết-bàn nói riêng cho Tỳ-kheo và không thể lưu
thông trong thế gian hay sao?
ĐÁP: - Hội Niết-bàn thuần là chúng đại Bồ-tát,
chắc chắn không có kẻ ác trộm pháp, nên đức
Phật đối với tên của thiên và tụ không
kiêng cữ. Tuy nhiên Phật chỉ nói ra tên chứ không
tŕnh bày sự nghĩa, nếu ai muốn giảng kinh Niết-bàn
cũng không nên giải thích chi tiết.
HỎI: - Sa-di
hiểu được 5 thiên th́ thành già nạn khi thọ
giới Cụ túc. Nay giả như có người muốn
thọ giới Cụ túc nhưng trước đây lỡ
đọc 5 thiên th́ có thành già nạn không?
ĐÁP: - Giới pháp của Tỳ-kheo chỉ cho phép hành tŕ
sau khi thọ. Trước khi thọ giới không
được đọc giới bổn, nếu không biết
mà xem nhầm th́ có thể tha thứ được, c̣n
biết mà cố ư vi phạm th́ khó có thể bỏ qua.
5) Giới
thể của Tỳ-kheo rất tôn quư, nếp sống của
người thế tục rất ô nhiễm. Tụng
kinh, lễ sám c̣n có thể gọi là pháp thí, nhưng thổi
tiêu, đánh bạt th́ khác ǵ kẻ xướng ca?
Trường hợp trong kinh Pháp hoa cho phép làm như vậy
để cúng dường Phật th́ vốn là bảo
người khác làm, chứ đă mang h́nh dáng trang nghiêm
của Tăng sĩ, sao lại tự ḿnh làm những
điệu bộ khó coi như vậy! Nếu am viện
nào muốn thay đổi nếp sống, theo Thiền tông
th́ cũng không được sử dụng các loại
âm nhạc, nếu ai không từ bỏ th́ trái với những
quy định của Phật.
HỎI: - Nếu
cho rằng việc thổi tiêu, gơ bạt cũng giống
như hát xướng, nhưng truyện Kư qui có ghi: “Đại
hội Tự tứ có gơ nhạc, đánh trống,
treo tràng hoa, đi hành hương các miếu thờ”.
Như vậy, xét về nội dung th́ khác ǵ thổi
tiêu, gơ bạt, tại sao lại không cho? Giả sử bảo
người khác làm, có khác ǵ ḿnh làm mà lại không phạm
tội?
ĐÁP: - Tội ngũ nghịch, thập ác là tánh tội của
thế gian, nên bảo người khác làm hay tự ḿnh
làm đều chịu quả báo như nhau. Nay việc ca
hát, xướng múa là Giá tội của người xuất
gia, c̣n bảo người đánh nhạc để cúng
dường th́ đó là phước nghiệp, việc này
không thể xem là tánh tội được.
6) Giới
không ăn phi thời, tất cả kinh, luật đều
nghiêm cấm rơ ràng và đầy đủ, không một
bộ luật nào khai cho giới này. Câu nói: “Ăn quá
ngọ là dược thạch”, không phải lời của
Phật dạy, đó là quyền xảo của người
xưa, nếu thân thể yếu ớt nhiều bệnh
th́ cho dùng nước phi thời, nước bảy ngày,
thuốc trọn đời, có thể đáp ứng sự
suy yếu của cơ thể. Tại sao lại cam tâm
phá giới này? Trừ trường hợp v́ nhân duyên mất
mạng không c̣n cách nào để bảo tồn sinh mạng
th́ hoặc là xả giới Tỳ-kheo, Sa-di, chỉ làm một
người cận trú Bồ-tát, hoặc cứ 15 ngày
hàng tháng thành khẩn sám hối, nguyện không làm Giới
sư th́ có thể được.
HỎI: - Giới
không ăn phi thời c̣n gọi là trai, chắc chắn
không được phạm rồi. Nhưng những bậc
Tri thức xưa nay, phần nhiều không thể giữ
được. Nếu như người nào, các giới
căn bản đă thanh tịnh, chẳng lẽ bị
đọa v́ các giới khác không thanh tịnh hay sao?
ĐÁP: - Phá giới phá trai đều gọi là ác pháp, nếu
chỉ giữ giới căn bản, thà đừng thọ
dụng của tín thí. Từ xưa đến nay, những
bậc Tri thức chơn chánh theo khuynh hướng “Thừa
cấp giới hoăn”, đều biết đức tàm
quư, không làm Giới sư như ngài Tử Bá, Thọ Xương.
Những bậc Tri thức gần đây không tuân theo giới
vi tế, đă làm thầy mọi người một cách
sai lầm, nếu họ chưa bị đọa lạc
có thể nhờ phước nghiệp đặc biệt
nào đó bảo tŕ. Ngài Huệ Viễn cương quyết
từ chối uống nước mật, ngài Cao Phong chỉ
ăn một bữa, ngài Đạt Quán quá ngọ không
nếm một thứ ǵ cả. Các ngài danh túc về Thiền
giáo từ trước, giữ ǵn trai giới thanh tịnh
rất nhiều, chính là giữ ǵn giáo. Ta không thể học
theo kẻ Tri thức đời sau, cầu lợi một
cách bẩn thỉu.
7)
Trong luật quy định Tỳ-kheo
chưa đủ 10 hạ không được phép làm
Ḥa thượng hay y chỉ A-xà-lê, nếu vị nào vội
vă làm thầy, đó là người biết pháp mà lạm
pháp.
HỎI: - Bây
giờ thời mạt pháp, mạng người vô thường,
thân như sương buổi sớm, làm sao có thể chờ
đợi đúng lúc? Hoăïc là có thể nào mở ra
một trường hợp ngoại lệ để
Tăng bảo không bị đoạn tuyệt hay không?
ĐÁP: - Do đời mạt pháp không y theo luật định,
Tăng luân suy đồi, nên thành suy giảm như thế.
Nay muốn phục hưng lại phải tuân theo sự
quy định của Phật. Ai muốn độ người
xuất gia, ít nhất phải đủ 10 hạ, biết
rơ hai bộ luật của Tăng và Ni.
8) Theo luật,
mỗi ngày chia làm ba thời, cho phép hai thời học nội
điển, một thời c̣n lại học sách vở
khác, thuộc sách ngoài. Những người lợi
căn, có thể dựa vào đó để hàng phục
ngoại đạo, v́ các nước ở Tây Vực rất
nhiều ngoại đạo chống đối Phật
pháp. Ở xứ này, việc ấy không đối
tượng, nên vị nào chỉ chuyên tâm theo việc
chính của ḿnh th́ hàng Cư sĩ càng thêm kính trọng.
Như ai đắm nhiễm thơ văn th́ người
giỏi được đời thương cảm tổn
và kẻ dở bị chê bai. Tôi chỉ thấy họ bị
người ngoài hàng phục họ, chứ nào thấy họ
hàng phục được ai đâu. Vị nào căn
cơ có hạn, th́ giờ không nhiều, phải mau học
việc chánh yếu, cho rơ ràng thông suốt, c̣n sợ
không kịp th́ giờ. Nếu tham đắm thơ
văn chắc chắn không là người giới tử
chơn thật.
9) Luật
này là nền tảng của định tuệ, là gốc
của giải thoát. Nền móng xây xong, nhà cửa làm
theo thiết kế, gốc cây đă vững th́ đến
khi trổ hoa kết trái lẽ tất nhiên hơn nhiều.
Nếu không rèn luyện nội tâm, mà chỉ trang sức
h́nh tướng bên ngoài th́ ngược với nhơn
chánh thọ giới, vĩnh viễn đoạn tuyệt
diệu quả Niết-bàn.
HỎI: -
Giới là nền móng của định tuệ, là gốc
của giải thoát. Không xây nền móng, tất nhiên
không xây nhà được. Nhưng nếu chỉ có nền
móng th́ chưa phải là hoàn thành toàn bộ, nên cần
phải lấy việc học giáo nghĩa, tham thiền
để đạt đến cứu cánh, chẳng lẽ
chỉ có luật mới đạt đến cứu cánh
hay sao?
ĐÁP: - Thọ được Luật nghi, đó chính là nền
móng, để Định cộng giới
[15]
và Đạo cộng giới hoàn thành, cho nên mới
nói: Cần phải rèn luyện nội tâm. Như phần
đại tiểu Kiền-độ tŕnh bày: Ban đầu
hành giả tu tập Thánh giới để đạt
đến Ngũ thông, Tam minh, tất cả đều
thuộc về thật nghĩa của giới. Như vậy,
lại có thể t́m cầu cứu cánh nào bên ngoài luật
hay sao?
10) Giới
luật không hạn chế ở Thanh-văn, nếu ai phát
tâm ắt bằng bậc Đại sĩ. Vả lại,
đủ các giới hạnh mới là chánh nhơn của
thượng phẩm.
Niệm
Phật được độ thoát, thời nay chính
là lúc tin vào sự ghi chép, nếu không về được
nơi an lạc th́ chưa hoàn toàn tuân theo lời Phật
dạy. Mong rằng những vị đồng tu hăy biết
rơ nơi hướng về.
HỎI: - Đầy
đủ các giới hạnh, tất nhiên là đủ
điều kiện để được sanh thượng
phẩm thượng sanh và sanh vào một trong ba loại
chúng sanh. Tŕ giới giống như mặt đất, tất
cả thiện pháp đều sanh thành từ đóù. Nếu
Định cộng và Đạo cộng đều bao hàm
đầy đủ th́ cần ǵ phải niệm Phật?
Lại nữa, niệm Phật là pháp môn ngắn nhất
để ra khỏi ba cơi, khi lâm chung chỉ cần 10 niệm,
tức được văng sanh, cần ǵ phải hành tŕ
giới tướng cho phiền phức? Cả hai pháp
môn đều là đường tắt, chỉ cần
đi một đường là đến đích, cần
ǵ phải bước cả hai đường mới gọi
là hoàn toàn tuân theo lời Phật dạy?
ĐÁP: - Định cộng và Đạo cộng tất nhiên
có khả năng thoát khỏi sanh tử, nhưng nếu
không nguyện sanh về Tịnh độ th́
đương nhiên chỉ sanh về cơi phương tiện
uế độ mà thôi. C̣n nếu tŕ giới kiêm niệm
Phật, có thể đoạn được thông hoặc
(kiến tư hoặc) và biệt hoặc (trần sa, vô
minh), đương nhiên có thể sanh vào ba cơi Tịnh
độ: Phương tiện, Thật báo và Tịch
quang Tịnh độ. Giả như chưa đoạn
được hoặc, cũng có thể sinh vào cơi Đồng
cư Tịnh độ. Lại nữa, niệm Phật
để tâm được tịnh, đó là Vô thượng
diệu giới. Nếu không tuân theo lời dạy “niệm
Phật được giải thoát” th́ cũng chính là
đi ngược lời dạy của Phật, giới
luật cũng chê trách điều đó. Nhưng nếu
ỷ lại vào con đường tắc, 10 niệm văng
sanh khinh thường giới tướng cho là phiền
phức, cũng không phải là người niệm Phật
chơn chánh, 10 niệm lúc lâm chung khó thành tựu. Thế
nên người tu cần phải lấy Tịnh giới
làm nhân, Tịnh độ làm quả, mới lấy việc
chính yếu để giải thoát; đây chính là một
con đường thanh tịnh sao gọi là hai đường
ư?
11) Bộ
Tập yếu này chỉ đáp ứng cho việc tự
lợi, nếu vị nào muốn hoằng truyền luật
th́ cần phải tham khảo hết Tạng luật, mới
có thể hiểu rơ hết nguồn gốc, mà chỉ
bày lại cho người sau. Đă là bậc thầy mô
phạm, đâu có thể cho phép chỉ chọn sự
tóm lược mà bỏ đi sự rơ ràng đầy
đủ. Nay nếu vị nào y cứ giới luật
làm cơ sở, riêng tu giáo quán Thiền tông v.v... trước
hết cần phải thuộc ḷng chánh văn của giới
bổn, sau đó y cứ giới bổn nghiên cứu cho
thấu triệt những chỗ vi tế. Những vị
như thế không bị chê là dê câm. Nếu ai quyết
chí hoằng dương giới luật tiếp dẫn
người sau, trước hết căn cứ vào bản
Tập yếu này nghiên cứu cho rơ ràng nhuần
nhuyễn, sau đó cần phải tham khảo toàn Tạng
luật th́ mang danh Luật sư mới không hổ thẹn
vậy.
|
1) TỨ
PHẦN LUẬT TẠNG: 60 quyển - Đời Diêu
Tần - Kế Tân - Tam Tạng Phật-đà-da-xá
và Trúc Phật Niệm cùng dịch. |
|
2) TỨ
PHẦN GIỚI BỔN: 1 quyển - Tam tạng Phật-đà-da-xá
dịch. |
|
3) TỨ
PHẦN GIỚI BỔN: 1 quyển. |
|
TỲ-KHEO-NI GIỚI BỔN: 1 quyển -
Đường, chùa Tây Thái Nguyên, Sa-môn Hoài Tố
y luật tập xuất. |
|
4)
ĐÀM-VÔ-ĐỨC LUẬT TẠP YẾT-MA: 1 quyển
- Tiền Ngụy, Tam Tạng Thiên Trúc Khương
Tăng Khải dịch. |
|
5) YẾT-MA - Tào Ngụy - Sa-môn Đàm-đế
tập. |
|
6) TỨ
PHẦN TỲ-KHEO-NI YẾT-MA PHÁP: 1 quyển - Lưu
Tống - Tam Tạng nước Kế Tân Cầu-na-bạt-ma
dịch. |
|
7) TỨ
PHẦN LUẬT SAN BỔ TÙY CƠ YẾT-MA: 2 quyển
- Kinh Triệu - chùa Sùng Nghĩa, Sa-môn Đạo
Tuyên soạn. |
|
8) TỨ
PHẦN TĂNG YẾT-MA: 3 quyển. |
|
TỨ PHẦN NI YẾT-MA: 3 quyển - Đường,
chùa Tây Thái Nguyên, Sa-môn Hoài Tố y luật tập
xuất. |
|
9)
MA-HA TĂNG KỲ LUẬT: 40 quyển - Đông Tấn
- Tam Tạng Pháp sư Phật-đà-bạt-đà-la
cùng Sa-môn Pháp Hiển dịch. |
|
10)
BA-LA-ĐỀ-MỘC-XOA TĂNG KỲ GIỚI BỔN:
1 quyển - Phật-đà-bạt-đà-la dịch. |
|
11)
TỲ-KHEO-NI TĂNG KỲ LUẬT BA-LA-ĐỀ-MỘC-XOA
GIỚI KINH
[16]
: 1 quyển - Đông Tấn, Sa-môn Pháp Hiển, người
B́nh Dương cùng Giác Hiền dịch. |
|
12)
DI-SA-TẮC NGŨ PHẦN LUẬT: 30 quyển - Tống,
Tam Tạng nước Kế Tân Phật-đà-thập
và Trúc Đạo Sanh dịch. |
|
13)
NGŨ PHẦN GIỚI BỔN: 1 quyển. |
|
TỲ-KHEO-NI GIỚI BỔN: 1 quyển - Lương,
chùa Kiến Sơ - Sa-môn Minh Huy biên tập. |
|
14)
NGŨ PHẦN LUẬT YẾT-MA BỔN: 1 quyển -
Đại Đường, chùa Khai Nghiệp,
Sa-môn Ái Đồng ghi chép. |
|
15)
THẬP TỤNG LUẬT: 58 quyển - Diêu Tần, Tam
Tạng Phất-nhă-đa-la, Cưu-ma-la-thập cùng
dịch. |
|
16)
THẬP TỤNG TỲ-NI TỰ: 3 quyển - Đông Tấn,
Tam Tạng Tỳ-ma-la-xoa dịch tiếp theo. |
|
17)
THẬP TỤNG LUẬT TỲ-KHEO GIỚI BỔN: 1
quyển – Cưu-ma-la-thập dịch. |
|
18)
THẬP TỤNG LUẬT TỲ-KHEO-NI GIỚI BỔN:
1 quyển – Tống, chùa Trường Can, Sa-môn
Pháp Dĩnh tập xuất. |
|
19)
TÁT-BÀ-ĐA TỲ-NI TỲ-BÀ-SA: 6 quyển,
thêm một quyển tiếp theo. Mất tên người
dịch. Phụ vào thời Tam Tần sao chép. |
|
20)
TÁT-BÀ-ĐA TỲ-NI MA-ĐẮC-LẶC-GIÀ: 10 quyển
- Tống, Tam Tạng Pháp sư Tăng-già-bạt-ma
dịch. |
|
21)
ĐẠI SA-MÔN BÁCH NHẤT YẾT-MA PHÁP: 1 quyển
- Mất tên người dịch. Phụ vào thời
Tống sao chép. |
|
22)
THẬP TỤNG YẾT-MA TỲ-KHEO YẾU DỤNG: 1
quyển - Lưu Tống, Thích Tăng Cừ y luật
soạn. |
|
23) CĂN
BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA:
50 quyển. |
|
24) (Như trên
[17]
) BÍ-SÔ-NI TỲ-NẠI-DA: 20 quyển. |
|
25) (Như trên) TỲ-NẠI-DA TẠP SỰ: 40
quyển. |
|
26)
(Như trên) TỲ-NẠI-DA PHÁ TĂNG SỰ: 20 quyển. |
|
27)
(Như trên) TỲ-ĐÀ-NA: 5 quyển. |
|
28)
(Như trên) BÁCH NHẤT YẾT-MA: 10 quyển. |
|
29)
(Như trên) GIỚI KINH: 1 quyển. |
|
30)
NY-ĐÀ-NA-MỤC-ĐẮC-CA NHIẾP TỤNG
[18]
, TẠP SỰ NHIẾP TỤNG
[19]
: 1 quyển - Đường, Tam Tạng Pháp sư
Nghĩa Tịnh phụng dịch. |
|
31) CĂN
BẢN TÁT-BÀ-ĐA BỘ LUẬT NHIẾP: 14 quyển
– Tôn giả Thắng Hữu tạo. Nghĩa Tịnh
dịch. |
|
32) CĂN
BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA
TỤNG: 3 quyển - Tôn giả Tỳ-xá-khư tạo.
Pháp sư Nghĩa Tịnh dịch. |
|
33) (Như trên) XUẤT GIA THỌ CẬN
VIÊN YẾT-MA NGHI QUỸ: 1 quyển. |
|
34)
BÍ-SÔ TẬP LƯỢC PHÁP:
1 quyển - Nguyên, Đế sư
[20]
Bí-sô Bạt-hiệp-tư-ba tập. |
|
35)
GIỚI NHÂN DUYÊN KINH
[21]
: 10 quyển - Diêu Tần, Tam Tạng Trúc Phật Niệm
dịch. |
|
36)
GIẢI THOÁT GIỚI BẢN KINH: 1 quyển – thuộc
Ca-diếp-tỳ bộ – Nguyên Ngụy, Bà-la-môn
Cù-đàm Bát-nhă-lưu-chi dịch. |
|
37)
THIỆN KIẾN TỲ-BÀ-SA LUẬT: 18 quyển Tiêu
Tề - Sa-môn ngoại quốc Tăng-kỳ-bạt-đà-la
[22]
dịch. |
|
38) TỲ-NI
MẪU KINH: 8 quyển - Mất tên người. Phụ
vào thời Tần sao chép. |
|
39)
PHẬT A-TỲ-ĐÀM KINH: 2 quyển – Đời
Trần, Tam Tạng Pháp sư Chơn Đế dịch. |
|
40)
XÁ-LỢI-PHẤT VẤN KINH: 1 quyển – Đông Tấn,
mất tên người dịch |
|
41)
ƯU-BA-LY VẤN KINH: 1 quyển - Lưu Tống, niên
hiệu Nguyên Gia, Cầu-na-bạt-ma dịch. |
|
42)
CA-DIẾP CẤM GIỚI KINH: 1 quyển – Tống, Cư
sĩ Thư Cừ Kinh Thanh dịch. |
|
43)
PHẬT THUYẾT PHẠM GIỚI TỘI KHINH TRỌNG
KINH: 1 quyển - Hậu Hán, Tam Tạng An Thế Cao
người An Tức dịch. |
|
44)
PHẬT THUYẾT MỤC-LIÊN SỞ VẤN KINH: 1 quyển
- Đồng như kinh trên, Tam tạng dịch kinh
Triêu tán đại phu thí hồng lô thiếu khanh
truyền giáo đại sư
[23]
Pháp Thiên người Tây Thiên phụng
chiếu dịch. |
|
Xét hai bản dịch 43 và 44 đều là một
phẩm đầu của kinh Ngũ bách vấn
đang lưu truyền. |
|
Theo ư của
kinh Ngũ bách vấn, người sau dựa vào
đó thêm vào. Tôi (tác giả) đă từng xem kỹ,
không những ngược với luật Tứ phần
mà c̣n mâu thuẫn hầu hết tất cả luật
luận 5 bộ phái. Tuy nói rằng: Thánh ư không thể
xét bừa băi kinh điển, không nên bàn luận một
cách khinh xuất. Nhưng hành tŕ theo th́ rơ là ngược
với các bộ luật đang hiện có. Chẳng
lẽ bỏ tất cả những nguyên tắc cộng
thông để giữ lấy pháp môn đang c̣n nghi
ngờ. Không rơ các vị Luật chủ trong cận
đại, đang lưu thông kinh này, đă từng
tham khảo toàn Luật tạng chưa? Nay tôi đă
nghiên cứu kỹ nguồn gốc của 5 hệ thống
luật không thể không nêu ra những nghi ngờ
này được. |
|
45)
LUẬT NHỊ THẬP NHỊ MINH LIỄU LUẬN: 1
quyển - Chánh lượng bộ - Pháp sư Phật-đà-đa-la-đa
tạo. Trần, Tam Tạng Pháp sư Chơn Đế
dịch. |
|
46)
ĐẠI TỲ-KHEO TAM THIÊN OAI NGHI: 2 quyển - Hậu
Hán, An Thế Cao dịch. Ngài Tăng Hựu nói mất
tên người dịch. |
|
47)
SA-DI THẬP GIỚI PHÁP VÀ OAI NGHI: 1 quyển - Mất
tên người dịch. Phụ vào thời Đông Tấn
sao chép. |
|
48)
SA-DI OAI NGHI: 1 quyển – Tống, Tam Tạng Thiên
Trúc Cầu-na-bạt-ma dịch. |
|
49)
SA-DI-NI GIỚI KINH: 1 quyển - Mất tên người
dịch, thời Hán sao chép. |
|
50)
SA-DI-NI LY GIỚI VĂN: 1 quyển - Mất tên dịch. |
|
51)
ƯU-BÀ-TẮC NGŨ GIỚI TƯỚNG KINH: 1 quyển
- Tống, Tam Tạng Thiên Trúc Cầu-na-bạt-ma dịch. |
|
52)
GIỚI TIÊU TAI KINH: 1 quyển – Ngô, Ưu-bà-tắc
Chi Khiêm người Nhục Chi dịch. |
|
53)
NAM HẢI KƯ QUI NỘI PHÁP TRUYỆN: 4 quyển. |
|
|
- Thọ
dụng tam thủy yếu hành pháp.
-
Hộ mạng phóng sanh nghi quỹ pháp.
-
Tuyết tội yếu hành pháp.
3 pháp
trên hiệp một quyển.
Đường, Tam Tạng Sa-môn Nghĩa
Tịnh dịch.
TỨ PHẦN LUẬT TẠNG PHẨM MỤC
1)
Phần thứ nhất: 21 quyển.
Tỳ-kheo giới
2)
Phần thứ hai: 15 quyển.
Tỳ-kheo-ni
giới. Kiền-độ Thọ giới.
Kiền-độ Thuyết giới.
3)
Phần thứ ba: 13 quyển.
An
cư - Tự tứ - B́ cách - Y dược - Y công đức
- Câu-thiểm-di - Chiêm-ba - Quở trách - Nhân Che giấu -
Ngăn phá tăng - Diệt tránh - Kiền-độ Tỳ-kheo-ni
- Kiền-độ Pháp.
4)
Phần thứ tư: 11 quyển.
Pḥng
xá - Tạp - Ngũ bách kiết tập - Thất bách kiết
tập Tỳ-ni - Điều bộ Tỳ-ni - Tỳ-ni
tăng nhất.
MỤC LỤC DẪN CÁC KINH LUẬN
– Đại bát-niết-bàn kinh - Tạ Linh Vận
trùng trị.
– Đại
Bát-nhă kinh - Huyền Trang pháp sư dịch.
– Bồ-tát thiện giới kinh - Cầu-na-bạt-ma
dịch.
– Ưu-bà-tắc giới kinh - Đàm-vô-sấm
dịch.
– Pháp giới thứ đệ sơ môn - Trí giả
đại sư soạn.
– Quán Tâm Luận Sớ - Chương An Tôn giả
soạn.
– Tri Môn Cảnh Huấn -
Chưa rơ người tập thành.
*
Lời Phi lộ này tôi thuật
lại, Phước Thắng ghi.
[1]
Năm thiên (ngũ
thiên) gồm có:
a) Tội Ba-la-di 波羅夷 (Skt=Pāli.
pārājika), dịch là
đứt đầu. Tội này rất nặng như
người bị đứt đầu không thể
sanh trở lại được. Tỳ-kheo cũng thế,
phạm vào là không thể làm Tỳ-kheo trở lại
được (Tỳ-kheo có 4 giới, Tỳ-kheo-ni có 8
giới).
b) Tội Tăng-già-bà-thi-sa
僧伽婆尸沙 (Skt. Saṃghāvaśeṣa,
Pāli. Saṃghādisesa), Trung Hoa dịch là Tăng tàn, phạm vào tội này
cũng như người bị chém cổ, chỉ c̣n
lại cuống họng cần phải cấp cứu mới
có thể sống lại được. Tỳ-kheo
cũng vậy muốn trở lại làm Tỳ-kheo thanh
tịnh, th́ cần phải có sự cứu chữa của
Tăng bằng cách hướng về Tăng chúng sám hối
tội này (Tỳ-kheo có 13 giới, Tỳ-kheo-ni có 17 giới).
c) Ba-dật-đề
波逸提 (Skt. Pāyattika,
Pāli. pācittika),
Trung Hoa dịch là đọa, là Tỳ-kheo nào phạm
vào tội này th́ bị đọa vào địa ngục.
Ở đây có 2 loại đơn đọa và xả
đọa (hai loại này cộng lại th́ đối
với Tỳ-kheo có 120 giới, Tỳ-kheo-ni có 208 giới).
d) Đề-xá-ni, gọi đủ là Ba-la-đề
đề-xá-ni 波羅提提舍尼 (Skt. Pratideśanīya, Pāli.
pātidesanīya), dịch
là “huớng vào người khác mà sám hối”, nghĩa
là Tỳ-kheo nào phạm vào tội này phải hướng
về Tỳ-kheo khác mà sám hối, th́ tội này mới
tiêu diệt (Tỳ-kheo 4 giới, Tỳ-kheo-ni 8 giới).
e) Đột-kiết-la 突吉羅 (Skt. duṣkṛta, Pāli.
dukkaṭa), dịch là
“ác tác”, nghĩa là chỉ cho những hành động
tạo tác ác. Tội này thuộc loại nhẹ.
[2]
Kê Viên: Ở
Tây Trúc có chùa Kê-đầu-ma cách Lộc Uyển (vường
nai) không xa. Cho nên kinh Đại Phật đảnh nói:
“Ta ở Lộc Uyển, cũng ở Kê Viên”. (Xem Như
Lai Tối Sơ Thành Đạo)
[3]
Phương quảng:
là tên chỉ chung cho kinh điển Đại thừa,
với 12 bộ kinh th́ kinh Phương quảng nếu theo thứ tự
là thứ 10 trong 12 bộ.
[4]
Bảy tụ (thất
tụ): Căn cứ vào sự khác biệt của năm
thiên đă kết thành quả tội, cùng cái nghĩa
cấp yếu của nó
để thiết lập Bảy tụ. Trong những
trường hợp tội quả sít soát với
Ba-la-di hay Tăng tàn, v́ chúng chưa thành nên ở đây
gọi là Thâu-lan-giá và tội Đột-kiết-la của
hai nghiệp thân, khẩu được phân định
trở lại là Đột-kiết-la, chỉ cho thân gọi
là ác tác, c̣n khẩu gọi là ác thuyết. Do đó bảy
tụ gồm có: Ba-la-di, Tăng tàn, Thâu-lan-giá, Ba-dật-đề,
Đề-xá-ni, ác tác, ác thuyết.
[5]
Đạo cộng
giới: là 1 trong 3 loại luật nghi của Thánh giả
Tam thừa. Khi hành giả nhập vào sắc giới th́ sẽ phát ra
định Vô lậu, cùng với trí Vô lậu, ở
trong thân tự phát ra được giới thể pḥng
phi chỉ ác (luật nghi Vô lậu), đó gọi là luật
nghi Vô lậu hay cũng gọi là Đạo cộng giới.
V́ luật nghi Vô lậu cùng với Đạo vô lậu
cùng phát sanh và cùng diệt, cho nên gọi là Đạo
cộng giới.
[6]
Mười giới:
Theo đại Kinh th́ có 10 loại: 1. Cấm giới; 2.
Thanh tịnh giới; 3. Thiện giới; 4. Bất khuyết giới;
5. Bất chiết giới; 6. Đại thừa giới;
7. Bất thối giới; 8. Tùy thuận giới; 9. Tất
cánh giới; 10. Cụ túc Ba-la-mật giới. 4 giới
đầu thuộc về sự là cảnh để quán.
C̣n 6 loại sau th́ dùng lư sự tương tức quán.
Trong 6 giới này th́ giới thứ năm là giới
không quán tương ưng, giới thứ 6, thứ 7 và
8 thuộc về giới giả quán tương ưng,
giới thứ 9 và thứ 10 thuộc về giới
trung quán tương ưng.
[7]
Tướng bạch hào: là 1
trong 32 tướng của đức Như Lai. Tướng
của nó là một cái lông sắc trắng ở giữa hai
đường lông mày của đức Thế Tôn,
xoáy tṛn về phía hữu như mặt trời giữa
trưa, phóng ra ánh sáng. Lúc mới sanh ánh sáng dài cỡ
một thước, lúc thành đạo dài cỡ một
trượng năm thước, cho nên gọi là tướng
lông trắng.
[8]
Hành cước:
là từ chuyên môn dành cho các thiền Tăng, trước
khi chưa chứng ngộ phải lấy việc đi
tham học nơi các Thiền sư làm sự nghiệp
cho ḿnh, nên vấn đề đi tham học là sự
nghiệp chính. Tổ đ́nh sự uyển có nói rằng:
“Nguời hành cước là nguời xa ĺa làng xóm
đi hành cước trong thiên hạ, dứt bỏ
t́nh cảm trói buộc, tầm phỏng thầy bạn
để cầu pháp chứng ngộ, bởi v́ học
vô thượng sư nên phải trải khắp”.
[9]
Tánh giới và
giá giới: Tánh giới là giới của chính tự
tánh, ví như tự tánh của sát, đạo, dâm là giới không đợi Phật chế mới có giới
nên gọi là tánh giới. Giá giới là ngược lại
với tánh giới, nghĩa là những giới này do tướng
phạm mà căn cứ vào đó đức Phật chế
ra để răn cấm không cho phạm.
[10]
Văn-thù Bồ-tát cầm gươm
bức Phật: (Truyền thuyết) theo kinh Đại bảo
tích quyển 105 nói: “Khi 500 vị Bồ-tát
được trí Túc mạng biết về nhiều kiếp
trước đă tạo nhiều trọng tội, v́ vậy
nên lo tu hối hận khiến không thể chẳng
được Vô sanh pháp nhẫn. Lúc bấy giờ,
ngài Văn-thù biết được tâm niệm của
họ, ở trong đại chúng trịch áo vai phải, tay cầm kiếm bén
hướng thẳng về đức Thế Tôn muốn
hại ngài, đức Phật bảo ngài Văn-thù chớ
hại Ta, nhưng nếu muốn hại th́ nên hại
một cách khéo léo. V́ sao vậy? V́ tất cả các
pháp như mộng huyễn, không ngă không nhơn, bị
ai sát hại mà thọ tai ương? Lúc ấy, các vị
Bồ-tát biết rằng các tội kiếp trước
của ḿnh đều như huyễn hóa nên đạt
được Vô sanh pháp nhẫn, khắp miệng
đồng nói kệ rằng:
Văn Thù người đại trí,
Đạt sâu nguồn gốc pháp.
Tự tay cầm kiếm báu,
Quyết bức thân Như Lai.
Như kiếm Phật không khác,
Một tướng không có hai.
Không tướng không chỗ sanh,
Ở đây sao gọi sát.”
[11]
Tỳ sương
砒霜:
cũng gọi là thạch tín là một loại thuốc
độc, uống vào chết nguời.
[12]
Ưu Mạnh là nhạc công của
Sở Trang Vương trước đời Tần, giỏi
khôi hài can gián. Tể tướng Tôn Thúc Ngao rất coi trọng phẩm
đức của ông, lúc lâm chung di chúc cho con sau này có
ǵ khó khăn nên t́m đến Ưu Mạnh. Sau này, quả
nhiên con Tôn Thúc Ngao nghèo đến nỗi phải
đi đốn củi để sống qua ngày, bèn
t́m Ưu Mạnh xin giúp đỡ.
Ưu Mạnh mặc quần áo của Tôn Thúc
Ngao, mô phỏng động tác và lời nói của Tôn
Thúc Ngao… Luyện tập bắt chước hơn một
năm, ông cải trang thành Tôn Thúc Ngao. Một lần,
Trang Vương mở tiệc, Ưu Mạnh bước
lên dâng rượu, khiến Trang Vương tưởng
Tôn Thúc Ngao tái sanh, muốn mời về làm Tể tướng
lần nữa… Ưu Mạnh trả lời: “Vợ
con của thần làm Tể tướng nước Sở
là không xứng đáng, như Tôn Thúc Ngao trung thành
liêm khiết cai trị quốc gia, làm cho nước Sở
xưng bá trong thiên hạ, thế mà đến khi chết
con cái nghèo không có cơm ăn….” Rồi Ưu Mạnh
hát khúc ca, đại ư…. Làm quan sạch th́ nghèo khổ…
Trang Vương nghe khúc ca tỉnh ngộ, cho gọi con
trai Tôn Thúc Ngao ban thưởng đất đai và nô bộc.
(Bách khoa thư văn hoá cổ điển Trung Quốc
– Nxb Văn hoá thông tin).
[13]
Tánh tội và giá tội: Tánh
tội là tội ác không cần đức Phật chế
ra mà phạm vào là mắc tội như các
điều ác của sát, đạo, dâm, nếu phạm
vào những điều này là mắc tội. C̣n giá tội
là tội đă phạm vào những điều đă
được đức Phật ngăn cấm đối
với những người xuất gia, Phật muốn
giữ ǵn mọi điều cơ hiềm của thế
gian có thể xảy ra, nên đức Phật chế ra
giới pháp để ngăn ngừa không cho phạm, nếu
phạm phải những điều cấm đó th́ mắc
tội như các loại chứa dư y, ăn đồ
cách đêm, đào đất, hại cỏ v.v...
[14]
Bảy chỗ
chín hội: theo Thập bát hoa nghiêm kinh một bộ
có 39 phẩm th́ có 7 chỗ nói và gồm có 9 hội.
7 chỗ: - Nhân gian gồm có 3 chỗ: 1. Bồ-đề
đạo tràng, 2. Phổ Quang Minh điện, 3. Trùng
Các giảng đường,
- Thiên
thượng gồm có 4 chỗ: 1. Đao-lợi thiên,
2. Dạ-ma thiên, 3. Đâu-suất thiên, 4. Tha Hóa thiên.
Đó là 7 chỗ nói kinh Hoa nghiêm. Và gồm có 9 hội:
1. Thế chủ diệu nghiêm phẩm, 2. Như Lai
danh hiệu phẩm, 3. Thăng Đao-lợi thiên cung phẩm,
4. Thăng Dạ-ma thiên cung phẩm, 5. Thăng Đâu-suất
thiên cung phẩm, 6. Thập địa phẩm, 7. Thập
định phẩm, 8. Ly thế gian phẩm, 9. Nhập
pháp giới phẩm. Đó là chín hội nói kinh Hoa
nghiêm của đức Phật.
[15]
Định cộng giới: c̣n
gọi là Tịnh lự sanh luật nghi. Khi nhập vào
sơ thiền, nhị thiền cùng các thiền định khác,
th́ cùng với thiền định, giới thể pḥng
phi chỉ ác tự nhiên cùng sanh, tất cả những
động tác của thân và khẩu đều kết
hợp với luật nghi. Câu-xá luận 14 nói: “Tịnh
lự sanh nghĩa là luật nghi từ nơi tịnh lự
sanh ra, hoặc y vào tịnh lự. Nếu đạt
được tịnh lự th́ định thành ra luật
nghi này.”
[16]
Tỳ-kheo-ni Tăng
kỳ luật Ba-la-đề-mộc-xoa giới kinh: là
Ma-ha Tăng kỳ Tỳ-kheo-ni giới bổn, tr. 556, Đại22n1427.
[17]
Căn Bản Thuyết
Nhất Thiết Hữu Bộ.
[18]
Căn Bản Thuyết
Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ-Nại-Da Ni-Đà-Na-Mục-Đắc-Ca
Nhiếp Tụng.
[19]
Căn Bản Thuyết Nhất
Thiết Hữu Bộ Lược Tỳ-Nại-Da Tạp
Sự Nhiếp Tụng.
[20]
Đế sư:
thầy của vua.
[21]
Giới Nhân Duyên
Kinh: tên khác Tỷ-nại-da, Tỷ-nại-da Kinh,
Giới Quả Nhân Duyên Kinh – tr. 851, Đại
24n1464.
[22]
Tăng-kỳ-bạt-đà-la
僧祇跋陀羅: Bản nguyên tác in nhầm chữ
(Trùng trị tỳ-ni sự nghĩa tập yếu quyển đầu, tr. 347c22, Vạn ‘Tục
tạng’ 40n719). Đính chính: Tăng-già-bạt-đà-la
僧伽 跋陀羅
(skt. Saṃghabhadra – dịch là Tăng Hiền, Chúng Hiền), người
Tây Vực. Ngài đến Quảng
Châu năm Vĩnh Minh (483-493) thời Nam Tề. Ngài dịch
bộ Thiện kiến luật tỳ-bà-sa tại chùa
Trúc Lâm, Quảng Châu, năm thứ 7 (có thuyết nói năm
thứ 6), niên hiệu Vĩnh Minh (489).
[23]
Triêu tán đại
phu thí hồng lô thiếu khanh truyền giáo đại
sư: là tước hiệu do vua ban cho ngài
Pháp Thiên.