Thành kính đảnh lễ đấng Thế-Tôn

Ngài là bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri

́

“Giới như đèn thắp sáng

Soi đêm dài tối tăm”

 

Ngày 16 tháng Bảy năm Mậu Th́n (DL.1988)

]

 

 

 

TỲ KHEO GIỚI BỔN SỚ NGHĨA

 

 

 

 

DUYÊN KHỞI PHẬT CHẾ GIỚI

 

 

Bấy giờ vào mùa Hạ, Đức Phật đang du hoá tại nước Tô-la-bà, Ngài dừng lại ở Tỳ-lan-nhă để an cư ba tháng mùa mưa.

Nhân đó, Tôn giả Xá-lợi-phất đem những suy nghĩ của ḿnh bạch lên đức Phật:

- Bạch đức Thế-Tôn, con vừa tĩnh toạ, tư duy, có vấn đề nghi vấn: Tại sao có các bậc Chánh giác tu phạm hạnh, Phật pháp lại được trường tồn, song cũng tu phạm hạnh như thế, đối với các bậc chánh giác khác, lại không làm cho Phật pháp trường tồn? Cúi xin đức Thế-Tôn chỉ dạy cho con.

- Này Xá-lợi-phất, Ta sẽ nói rơ điều này:

Đức Phật Tỳ Bà Thi, đức Phật Thi Khí, Đức Phật Câu Lưu Tôn, Đức Phật Ca Diếp, các Ngài tu phạm hạnh th́ Chánh pháp được cửu trụ. C̣n đức Phật Tỳ Diếp, Đức Phật Câu Na Hàm Mâu Ni cũng tu như thế nhưng Chánh pháp không được cửu trụ.

- Bạch đức Thế-Tôn, tại sao vậy? Tôn giả Xá-lợi-phất lại cung kính hỏi Phật.

Đức Phật lại bảo:

- Đức Câu Na Hàm Mâu Ni, Đức Tỳ Diếp v́ không giảng giải rộng mười hai bộ Kinh Cho các đệ tử cũng không biết kiết giới nên các đệ tử thiếu tinh tấn, buông thả, hậu quả Chánh pháp không được bền vững. Ngược lại, các đức Phật: Tỳ Bà Thi, Thi Khí, Câu Lưu Tôn và Ca Diếp Phật có giảng giải Kinh, Luật nên Phật pháp được trường tồn. Vấn đề là như thế, nên Tôn giả Xá-lợi-phất liền thỉnh Phật thuyết giới, song ngài lại khéo vạch rơ:

- Thôi đi! Xá-lợi-phất, nay chưa đúng lúc! Tại sao vậy? Xá-lợi-phất thấy không? Hiện các Tỳ-kheo rất thanh tịnh, không sống v́ lợi dưỡng riêng tư, chưa phạm phải các pháp hữu lậu. Tuy nhiên, việc thuyết giới sẽ được đặt ra một khi các Tỳ-kheo vi phạm các pháp hữu lậu, như vậy là đúng thời, đúng cách, đặt nền tảng để đoạn trừ sai phạm.

Chính v́ thế, suốt mười hai năm đầu, sau khi Phật thành đạo, Ngài đă không thuyết giới mà Ngài chỉ cùng với chúng Tỳ-kheo thanh tịnh, “vô sự Tăng” kia lược nói Giới kinh. Đến năm thứ mười ba, các pháp hữu lậu bắt đầu xuất hiện và đă xảy ra sai phạm trong số Tỳ-kheo rồi căn cứ vào sự vi phạm ấy Phật thuyết giới.

Trước khi kiết một giới nào, vị Tỳ-kheo vi phạm ấy bị quở trách rằng: “Việc ông làm như vậy là sai quấy, mất hết tư cách OAI NGHI, không c̣n là SA MÔN, không c̣n là TỊNH HẠNH và không phải HẠNH TUỲ THUẬN. Ông không được phép hành xử như thế!”.

Từ nay về sau sự kiết giới trong hàng Tỳ-kheo có đủ mười ư nghĩ được đúc kết như sau:

1. Chỉnh đốn chư Tăng.

2. Khiến cho Tăng hoan hỷ.

3. Khiến cho Tăng an lạc.

4. Khiến cho người chưa tin sanh ḷng tin.

5. Làm tăng trưởng tín lực cho người đă có ḷng tin.

6. Cảm hoá thuyết phục người khó điều phục.

7. Người biết xấu hổ nhận được an lạc.

8. Đời hiện tại đoạn hết nghiệp hữu lậu.

9. Đời vị lai đoạn hết nghiệp hữu lậu.

10. Chánh pháp được trường tồn.

 

* VẤN ĐỀ GIỚI TƯỚNG VÀ CHẾ ĐỊNH

Giới tướng của Tỳ-kheo có 250 điều, Tỳ-kheo-ni có 348 điều. Tất cả giới tướng này chính do kim khẩu Phật nói ra, đối với từng sự vi phạm, trong suốt quá tŕnh từ buổi đầu ở vườn Lộc Uyển đến lúc cuối cùng tại rừng Sa-la Hạc-thọ, nên tự thân chứa đựng sự thanh tịnh, giải thoát.

Giới điều này đă được tôn giả Ưu-ba-ly trùng tuyên đến 80 lần mới hoàn thành nên có tên gọi: “BÁT THẬP TỤNG LUẬT”.

Giềng mối này, trước hết được Tôn giả Ca-diếp hết ḷng giữ ǵn, trân trọng và truyền đạt, kế đến là Tôn giả A-nan đảm nhiệm, duy tŕ rồi lần lượt đến các Ngài: Mạt-điền-địa, Xá-na-ba, Ưu-ba-quật-đa tiếp nối truyền thừa kỷ cương đó. Qua một thời gian dài, “BÁT THẬP TỤNG LUẬT” tuần tự được năm vị Luật sư nêu trên giữ ǵn, thi hành một cách nghiêm túc.

Sau thời gian độ 200 năm, Luật tạng lại được phân chia thành 18 bộ, có 5 bộ làm cương lĩnh:

1/ Đàm Vô Đức (Tức là Pháp Mật, lấy tên người biên soạn để đặt tên, thường gọi là Luật Tứ Phần).

2/ Tát Bà Đa (Tức là Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ căn bản, Thập Tụng Luật).

3/ Ca Diếp Di (Tức là Trùng Không Quán, tên Luật là Giải Thoát, chỉ có quyển Giới Bổn mà thôi).

4/ Di Sa Tắc (Tức là Bất Trước Hữu Vô Quán, tên Luật là Ngũ Phần).

5/ Bà Ta Phú La (Gọi là Độc Tử Bộ, chưa truyền đến phương đông).

Vấn đề chế định năm bộ Luật này, tuy khác nhau về chi tiết, như văn: Có rộng, có hẹp. Sự: Có rơ, có lược, đến cả các điều: Khinh, Trọng, Khai, Giá cũng có sự giải thích không đồng nhất, song về mặt đại thể th́ hoàn toàn giống nhau, đó là nội dung các “Giới điều” do chính Phật nói ra được tôn trọng triệt để.

Điểm sai khác nữa của năm bộ này có thể nảy sinh từ đối tượng nhận thức bị hạn chế hay trong quá tŕnh biên chép các tư liệu thiếu chính xác dẫn đến sự nhầm lẫn, thậm chí mỗi bộ phái dựa vào lập trường riêng của ḿnh đă tạo nên sự sai biệt. Song trong tinh thần đa nguyên, trăm hoa đua nở ấy không hề tạo ra một chướng ngại nào nằm ngoài Pháp giới của chư Phật để đạt đến Đại Niết-bàn. Do vậy, nương tựa vào cương lĩnh chế định kia để tu hành ắt sẽ được giải thoát.

¯

Trong Kinh Di Giáo, phần mở đầu Đức Phật căn dặn chúng ta phải trân trọng, tôn kính BA LA ĐỀ MỘC XOA. Chính “Vô Tác Giới Thể” này là chỗ an trú tốt nhất  cho hàng con Phật hậu thế, để ngăn ngừa các điều ác, chấm dứt tội lỗi, tạo được đời sống thanh tịnh không ô nhiễm.

Không tường tận tướng của Tŕ, Phạm và dụng của Khai, Giá th́ đích giải thoát làm sao đạt được?!

 

Ung Chính, năm Ất Măo trước An cư ba ngày Hải Tràng, Sa-môn TUYỀN NGHIÊM thuật.

 

¯

 

 

TỨ PHẦN GIỚI BỔN

 

A- TỨ PHẦN là:

* Phần thứ nhất: Nói về giới của Tỳ-kheo.

* Phần thứ hai: Nói về giới của Tỳ-kheo ni.

* Phần thứ ba: Nói về an cư kiền độ[1].

* Phần thứ tư: Nói về pḥng xá kiền độ…

B- GIỚI BỔN:

Giới bổn là giới căn bản của Tỳ-kheo phải giữ ǵn, hành tŕ. Giới bổn này được rút từ bộ luật Đàm Vô Đức.

1. SỰ VIỆC MỞ ĐẦU

Ba mươi tám năm sau khi Phật thành đạo, Ngài đến thành Vương Xá. nhà vua thỉnh Phật ngọ trai. Dùng cơm xong, Ngài bảo ông La-hầu-la rửa b́nh bát. Vô ư, ông đánh rơi bát. B́nh bát vỡ thành năm mảnh.

Từ sự việc này, Phật tiên đoán rằng: “Sau khi ta diệt độ, các Tỳ-kheo sẽ chia luật của Như Lai thành năm bộ”.

Quả thật đúng như vậy, 100 năm sau khi Phật diệt độ, có năm vị Tỳ-kheo, đệ tử của Tôn giả Ưu-ba-cúc-đa phân chia Luật Phật thành năm bộ. Phần duyên khởi đă tŕnh bày năm bộ này rồi.

Phần sớ nghĩa này là do ngài Tuyên Luật sư sau định, chứ không phải rút ra từ nguyên bản trong tạng Luật.

2.- TỲ-KHEO GIỚI

Tỳ-kheo giới bao gồm: Giới thể và Giới tướng.

* Giới thể, đó là vô tác: Năng lực đoạn tận được ái dục th́ đó là Niết-bàn.

Giới thể có thể thụ đắc được hoặc mất đi.

+ Muốn thụ đắc giới thể th́ người cầu thọ phải chí thành lắng ḷng nghe “Tác pháp Yết-ma” dưới sự truyền trao của Tam sư, Thất chứng trên giới đàn. Chính sự cảm ứng của người cầu thọ từ Tác pháp Yết-ma mà sanh khởi giới thể: Đắc giới.

+ Trường hợp mất giới thể là khi xả giới, chủ thể có sự tương ưng giữa tâm và khẩu, nghĩa là tâm nghĩ miệng nói rằng: “Phật đối với tôi, Pháp đối với tôi, Tăng đối với tôi đều vô ích”. Đó là phép xả giới: Giới thể liền mất.

Như vậy, việc làm mất giới thể là hành động có ư thức tương ưng. C̣n được giới thể là sự sanh khởi do cảm ứng. Ư nghĩa dẫn dụ cho vấn đề giới thể là như vậy.

* Giới tướng:

Gồm có Năm thiên Bảy tụ.

* Năm thiên gồm:

- Thiên thứ nhất là Ba-la-di.

- Thiên thứ hai là Tăng-già Ba-thi-sa.

- Thiên thứ ba là Ba-dật-đề (gồm 30 sự cùng với 90 sự khác).

- Thiên thứ tư là Ba-la-đề đề-xá-ni.

- Thiên thứ năm là Chúng Học Pháp.

* Bảy tụ:

Bao gồm năm thiên trên cộng thêm Thâu-lan-giá và Ác thuyết.

+ Gọi là Thâu-lan-giá v́ đối với hai thiên đầu mức độ tội danh chưa hội đủ yếu tố.

+ Gọi Ác thuyết là do v́ lời nói ác mà đắc tội. Khác với Ác tác là hành động từ thân mà đắc tội. Do thế mà chia riêng ra như vậy.

+ Trong Năm thiên, Bảy tụ, phạm tội có ba loại: Tánh Giới và Nghiệp đạo.

a) Tánh giới

Tự tánh của tham, sân, si là tội. Khi phát ra nơi thân, khẩu hoạt động phạm th́ thật ác cho dù Đức Như Lai không cấm mà phạm nên vẫn gọi là Tánh giới.

b) Giá giới

Giá là đ́nh chỉ, ngăn chận tức là giới do Đức Như Lai chế cấm nhằm ngăn chận tội lỗi. Đă phát nguyện giữ giới này mà vi phạm th́ thành tội. Tội này không rơi vào tội nghiệp đạo ác tánh.

c) Nghiệp đạo

Nghĩa là hành động phạm th́ chịu quả báo, ví như phạm vào giới sát của tứ trọng giới th́ chịu đủ quả báo ba nghiệp. C̣n như phạm vào các giới thuộc oai nghi, chẳng hạn như ngủ mà ĺa y hay ăn quá ngọ v.v… th́ chỉ phạm Giá giới không phạm vào Nghiệp đạo ác tánh.

Các giới khác căn cứ theo đây mà nhận biết.

 

k

 

A. Ư NGHĨA DẪN NHẬP

* Khế Kinh th́ đức Phật và các vị Bồ Tát cùng nói. Riêng Luật th́ chỉ Đức Phật mới đủ oai lực nói ra, không một ai dám thêm bớt một câu, một lời. Ví như vua mới có quyền quyết định vấn đề chinh phạt hay lễ nhạc trong nước, chư hầu chỉ vâng lệnh thi hành. Đức Phật chế Luật cũng như vậy.

* Linh Sơn Thắng Hội là khu vườn Chiên-đàn không phải để dung nạp hạng người bê bối, thối nát, song khi nhận thấy đời mạt pháp, hàng Tỳ-kheo sẽ bị thoái hoá, sa sút, mất phẩm chất dẫy đầy. Đức Phật thấy trước vấn đề này và để thể hiện ḷng từ một cách rốt ráo, nên mới phương tiện thị hiện thiết lập ngay giới luật, chế định làm thành khuông mực cho đời sau. Đó là cách dẫn dắt khéo léo kẻ hậu học. Nên coi đây là khuông mực của tự tâm để không ngại ngần làm bậc Thánh cho đời.

B. TỤNG DẪN NHẬP THUYẾT GIỚI

Tụng:

Cúi đầu lễ chư Phật

Tôn Pháp, Tỳ-kheo Tăng

Nay diễn pháp Tỳ-ni

Để chánh pháp trường tồn

* Ư nghĩa của Tụng:

+ Khể thủ: Từ ngữ được rút ra phần đầu của sách “Châu lễ cửu bái”. Khi cúi đầu phải dừng lại một chút rồi mới đứng dậy. Thực hiện như vậy là động tác chí kính.

+ Lễ: Là phép tắc nghĩa là tới, lui có mức độ. Lớn, nhỏ có phân định.

+ Chư: Là tổng nêu mười phương ba đời Phật.

+ Phật: Là giác, tức tự giác, giác tha, giác hạnh viên măn, thấu suốt cùng cực là bậc tôn kính của trời, người.

+ Pháp: Là giáo pháp gồm Ba thừa, mười hai bộ Kinh do Đức Như Lai tuỳ căn cơ mà nói ra.

+ Tăng: Tức là Tăng chúng. Hai người không gọi là Tăng mà phải ba người trở lên mới gọi là Tăng (?).

+ Tỳ-kheo có ba Nghĩa:

a) Người lấy hạnh đi xin ăn để sống.

b) Phá trừ được ác pháp.

c) Làm cho ma quân phải sợ.

+ Tỳ-ni là dịch âm, dịch nghĩa là Luật, tức là pháp luật.

Do tác pháp Yết-ma mà nói giới mà Chánh pháp bất diệt, thường trụ. V́ thế, gọi Tỳ-ni tạng là mạng sống của Phật pháp, nên Luật tạng c̣n th́ Phật pháp c̣n. Đă có 60 vị tổ nương tựa vào giới pháp này mà đạt được Bồ-đề tâm.

Tụng:

Giới như biển không bờ

Như báu cầu không chán

Muốn hộ tài sản Thánh

Chúng họp nghe tôi tụng

* Ư nghĩa của Tụng:

+ Giới tức 250 giới Ba-la-đề-mộc-xoa của Tỳ-kheo. Trong những giới Ba-la-đề-mộc-xoa này đều chứa mười công đức, có khả năng làm cho Tăng đạt được các thiện pháp ấy, như gồm năm thiện căn là: Tín, Tấn… Ba thiện căn là: Không tham, sân, si và khống chế được thân khẩu. Chính do Giới mà thành tựu được biển phước vô bờ bến. Cho nên gọi: Giới như biển không bờ.

+ Như báu cầu không chán:

Trong biển phước thanh tịnh này lại sanh ra ngọc bảo châu Như Ư, c̣n trong biển Phật pháp sanh ra diệu tánh bảo minh là Căn, Lực, Giác đạo. Đây là loại ngọc quư báu như ngọc bảo châu. Đi t́m cầu các loại ngọc này sẽ không bao giờ nhàm chán.

+ Tài sản Thánh:

Tài sản Thánh, đó chính là tài sản pháp gồm có phẩm chất của Thắng, Thiện và các pháp: Tín, Văn, Xả, Huệ, Tàm, Quư… Gia tài này, chỉ có Giới mới giữ ǵn được mà thôi.

+ Chúng họp nghe tôi tụng:

Chúng: Chính là hiền tiền Tăng thanh tịnh như pháp, thân tâm hoà hiệp, quy tụ lại đúng chỗ, đúng cách, nghe nói giới để hành tŕ, tu tập ngơ hầu ǵn giữ được tài sản của Phật khỏi bị mai một, mất mát.

Tụng:

Muốn trừ bốn tội Khí

Và diệt tội Tăng tàn

Ngăn ba mươi xả đoạ

Chúng họp nghe tôi tụng.

* Ư nghĩa của Tụng:

+ Bốn tội Khí là bốn giới căn bản: Dâm, Đạo, Sát, Vọng. Phạm một trong bốn giới này là phá tất cả hạt giống đạo Bồ-đề, vĩnh viễn vứt ra ngoài biển Phật pháp, không được ở cùng với chúng thanh tịnh.

+ Tăng là chúng: Chỉ có Tăng mới diệt trừ được tội này.

+ Phạm mười ba điều này, c̣n có thể cứu văn được bằng cách như pháp sám hối giữa hai mươi Tăng.

+ Xả đoạ có 30 sự việc: Bởi do chứa để tài vật mà sanh tội. Người phạm giới này phải đến trước chúng xả bỏ vật đă cất chứa sau đó sám hối tội. Gọi là tội Đoạ v́ đă phạm tội này mà không sám trừ th́ bị đoạ vào ba đường ác, nhận đủ các khổ nạn.

+ Chúng cần phải họp lại để cùng nhau nghe giới, đừng để phạm điều tội đă ghi trong ba thiên.

Tụng:

Tỳ Bà Thi, Thi Khí

Tỳ Xá, Câu Lưu Tôn

Câu Na Hàm Mâu Ni

Ca Diếp, Thích Ca Văn

Các Đại đức Thế Tôn

V́ tôi, dạy việc này

Tôi nay muốn nhắc rơ

Các Ngài thảy cùng nghe

* Ư nghĩa của Tụng:

+ Tỳ Bà Thi cũng gọi là Duy Vệ, Hán dịch là Thắng Quan.

+ Thi Khí cũng gọi là Thức Khí, Hán dịch là Hoả.

+ Tỳ Xá gọi là đủ Tỳ Xá Phù, Hán dịch là Biến Nhất Thiết Tự Tại (ba Đức Phật này ra đời vào kiếp quá khứ Trang Nghiêm).

+ Câu Lưu Tôn, Hán dịch là Sở Ưng Đoạn lại gọi là Tác Dụng Trang Nghiêm (Trong tiểu kiếp thứ 9 thuộc Hiền kiếp, khi tuổi thọ con người giảm xuống c̣n 6 vạn tuổi, Phật Câu Lưu Tôn ra đời trước nhất trong ngàn đức Phật).

+ Câu Na Hàm Mâu Ni, Hán dịch là Kim Tịch cũng gọi là Kim Tiên (khi người sống 4 vạn tuổi, xuất hiện ở đời).

+ Ca Diếp gọi là Ca Diếp Ba, Hán dịch là Ẩm Quang (người sống 2 vạn tuổi, khi ấy Ngài ra đời).

+ Thích Ca Văn, Hán dịch là Năng Nhu cũng gọi là Thích Ca Mâu Ni, dịch là Năng Nhơn Tịch Mặc (khi người sống 100 tuổi, Ngài ra đời. Bốn Đức Như Lai trên, theo thứ tự xuất hiện ở vào giai đoạn đầu của Hiền kiếp).

+ Thế Tôn: Là Đấng được loài người, trời, phàm, Thánh, thế gian, xuất thế gian cùng cung kính tôn trọng.

+ Đại đức: Là mười hiệu đầy đủ, người đời không ai bằng.

+ Hai hiệu: Đại đức Thế-Tôn, đây chỉ cho sự tôn xưng đối với bảy Đức Phật đă đề cập trên.

+ Câu “V́ tôi, dạy việc này”, là nói rơ thầy, tṛ, tuần tự truyền thọ với nhau, minh bạch không nói mơ hồ phỏng đoán.

+ Việc này: Chỉ cho Giới Kinh.

+ Nhắc rơ: Là sự xác định rơ ràng điều đă nói là đúng như pháp, lời lẽ chính xác.

+ Các Ngài: Chỉ cho chúng Thanh-văn.

+ Thảy cùng nghe: Là chúng đă hoà hợp thanh tịnh, quy tụ tại chỗ, hết ḷng lắng nghe.

Tụng:

Thí như người què chân

Không thể đi dâu được

Người phá giới cũng vậy

Không thể sanh trời, người

Muốn được sanh cơi trời

Hoặc sanh vào cơi người

Thường phải giữ chân giới

Đừng để bị thương tổn.

* Ư nghĩa của Tụng:

+ Thí như là ví dụ là giả thiết cho vấn đề đặt ra: Người què chân.

+ Què chân là chân bị khuyết tật què quặt không thể đi đâu được.

+ Phá giới là chân giới bị què quặt không thể sanh vào cơi trời, người. Cơi trời, người là cơi không lấy ǵ làm tốt đẹp, song lại không thể sanh vào được th́ làm sao cầu được Niết-bàn! Đại Luật nói rơ: “Cầu lên cơi trời đó chính là Niết-bàn.”

+ Cần phải tôn trọng giữ ǵn Giới. Chân giới không bị thương tổn th́ mới vượt qua đường hiểm (Tam đồ) để đạt giải thoát. Ở đây, Phật nói giữ ǵn Giới để sanh lên cơi trời là cách nói tuỳ thuận, uyển chuyển theo quan niệm người Ấn Độ ưa sanh vào cơi trời, làm phương tiện dẫn dắt họ. Nên hiểu “Cơi trời” là “Giải thoát, Niết-bàn” và đây là chủ đích của Luật. Chính v́ thế, trong Kinh Lăng Nghiêm đă nói: “Biết có Niết-bàn th́ không c̣n lưu luyến ba cơi nữa”.

Tụng:

Như xe vào đường hiểm

Lo hư chốt, găy trục

Phá giới cũng như vậy

Khi chết ḷng sợ hăi.

* Ư nghĩa của Tụng:

+ Trục là bộ phận quan trọng để xe chuyển động.

+ Chốt là cái niêm ở đầu trục.

+ Lo sợ hư chốt, găy trục, xe sẽ bị đổ nhào khi vào đường hiểm là tất yếu. Cũng như vậy, người phạm giới như chốt hư, trục găy, tâm đầy lo sợ. Khi lâm chung, họ biết chắc sẽ đoạ vào đường ác nên ḷng càng sợ sệt lo buồn.

Tụng:

Như người tự soi kiếng

Đẹp, xấu sanh vui, buồn

Thuyết giới cũng như vậy

Vẹn, hỏng sanh mừng, lo.

* Ư nghĩa của Tụng:

+ Người cầm gương soi mặt: Mặt đẹp th́ vui mừng, mặt xấu th́ buồn lo. Người nghe giới cũng giống như vậy, nghe giới là soi gương thấy rơ được giới thể. Nếu giới thể thanh tịnh hoàn toàn th́ bên trong tâm thanh thản vui mừng, bên ngoài không hổ thẹn với ai. Nếu giới thể bị hoen ố: Bên trong lo sợ, buồn rầu; bên ngoài xót xa xấu hổ với kẻ khác.

Tụng:

Như hai trận xáp chiến

Gan, nhát có tiến thối

Thuyết giới cũng như vậy

Tịnh, nhiễm sanh vui sợ.

 * Ư nghĩa của Tụng:

+ Hai bên đánh nhau: Người mạnh th́ vững tâm tiến tới, kẻ yếu th́ sợ sệt rút lui. Nay chúng Tăng tập hợp nói giới chính là cùng ma vương đánh nhau. Giới tịnh như người mạnh: Thân tâm an lạc, hàng phục ma quân. Giới thể bị huỷ như kẻ hèn yếu, tâm hồn sợ sệt, lo âu bị ma vương đánh bại.

Tụng:

Thế gian vua là lớn

Sông, ng̣i, biển rộng hơn

Các sao, trăng sáng nhất

Các Thánh, Phật trên hết

Trong tất cả các Luật

Giới kinh là tối thượng

Như Lai lập cấm giới

Nửa tháng, tụng một lần.

* Ư nghĩa của Tụng:

+ Giới Kinh tức Kinh Biệt Giải Thoát, là Luật nghe của Tỳ-kheo. Y cứ vào Kinh này để hành tŕ, tu tập th́ dần dần đoạn trừ được chín phẩm tư hoặc và các phiền năo, đạt được giải thoát. Lại nữa, phải thấy rơ phiền năo th́ muôn vàn, để nỗ lực tu hành. Kinh biệt giải thoát là nền tảng vững chắc cho sự tu tập vậy. Kinh được chia ra nhiều phẩm, mà mỗi phẩm có năng lực đoạn trừ trong muôn vàn phiền năo kia. Mỗi phẩm của Kinh tự nó mang lại giải thoát riêng biệt cho sự hành tŕ, v́ thế, gọi là biệt biệt giải thoát. Tính ưu việt của Giới Kinh hơn hẳn các kinh khác chính ở đặc điểm đó. Phẩm nào cũng đều có công năng làm cho giải thoát đường khổ, chứng quả Niết-bàn.

Nói đến Luật là đề cập đến Năm giới, Tám giới, Mười giới, Mười thiện luân vương giới… Về Kinh th́ bao gồm mười hai bộ… gọi chung là Ba tạng. Trong Ba tạng này, giáo nghĩa giống nhau, song Giới Kinh là hơn hết. V́ vậy, Đại Luật nói: “Các Kinh có trăm, ngàn, ức th́ Giới Kinh là tối thượng hơn cả”.

+ Như Lai lập cấm giới: Là làm rơ thẩm quyền của Như Lai. Chỉ có Như Lai mới lập cấm giới, không có vị Thánh nào khác đủ tư cách này. Như lễ, nhạc, ngoài Thiên tử không ai được quyền chế. Phép tắc xuất thế ngoài Phật không ai được phép lập.

+ Nửa tháng tụng một lần.

“Hắc”, “Bạch” tức là “Đen”, “Trắng”, tiêu biểu cho hai nghiệp: Thiện, ác. Thời điểm “Hắc”, “Bạch” ở trong tháng. V́ muốn cho “Đen” xoá sạch và “Trắng” tṛn đầy, nên mỗi nữa tháng phải nói giới nhằm làm cho các Tỳ-kheo phản tỉnh những điều tự thân đă phạm để đúng như pháp sám hối xoá đi các “Ác” để cho “Thiện” tṛn đầy.

C. YẾT MA THUYẾT GIỚI

+ Tăng hợp chưa?

Phàm tác pháp Yết-ma Bố-tát, Tỳ-kheo trong cùng một giới, tất cả phải tập hợp lại một chỗ để tránh biệt chúng phá Tăng, cho nên phải hỏi trước: Tăng nhóm chưa?

+ Hoà hiệp không?

Phàm Tỳ-kheo hoà hiệp nhóm họp lại để tác Yết-ma th́ quyết không để tâm, khẩu, xảy ra tranh căi nhau. Người không đến được phải “dữ dục”. Người có mặt đủ tư cách ngăn chận mà không ngăn chận, đề pḥng nhân duyên đấu tranh có hại cho pháp sự. Cho nên phải hỏi: Hoà hiệp không?

+ Người chưa thọ Cụ túc đă ra chưa?

Người chưa thọ cụ túc tức là không đúng cách Tỳ-kheo như pháp. Phật dạy: “Không được phép tác pháp thuyết giới trước người chưa thọ Đại giới” nên phải bảo họ đi ra.

+ Các Tỳ-kheo không đến có thuyết dục và thanh tịnh không?

Không đến tức là thời gian ấy có lư do Phật sự hay đau ốm…, không thể đến họp được. Trong vấn đề tác Yết-ma pháp sự, để thành hoà hợp th́ đích thân các cá nhân phải có mặt. Nếu v́ duyên sự vắng mặt, cho phép đương sự nhờ pháp hữu chuyển sự hoà hợp, tán đồng của ḿnh đến trước chúng Tăng. Như vậy, công việc mới được ổn thoả, không có lỗi biệt chúng.

+ Thuyết dục

Thuyết dục là tự nói lên tấm ḷng tán thán, hoan hỷ, tuỳ thuận của ḿnh đối với việc làm đúng Chánh pháp của chúng Tăng trong tinh thần cộng đồng hoà hợp.

+ Thanh tịnh tức là tự thân không phạm tội

Nên nói dữ dục và thanh tịnh chứ không được chỉ nói thanh tịnh, để rồi làm trở ngại việc của chúng; cũng không được chỉ nói dữ dục trong vấn đề nào đó, mà phải nói rằng: “Từ trong tâm hồn thanh tịnh, tôi rất hoan hỷ đối với việc làm như pháp của chúng Tăng ”. Có như vậy, việc Yết-ma của Tăng mới được tốt đẹp.

Nếu có duyên sự cần nói dữ dục, nên đến trước người truyền dục thưa như sau:

Đại đức một ḷng ghi nhận cho: Tôi Tỳ-kheo (mỗ, giáp) như pháp Tăng sự dữ dục thanh tịnh” (thưa một lần).

Đợi khi Yết-ma, vị Tỳ-kheo nhận dục, trong oai nghi tề chỉnh của ḿnh nói: “Xin Đại đức lắng nghe, Tỳ-kheo (mỗ, giáp). Tôi nhận sự gởi dục thanh tịnh của vị ấy, đă v́ công việc như pháp của Tăng gởi dục với một tâm hồn trong sạch” (thưa một lần).

Nếu một trú xứ nào hội tủ bốn vị Tỳ-kheo th́ tập hợp lại để cùng thuyết giới, không nên dữ dục.

+ Có ai sai Tỳ-kheo ni đến thỉnh giáo giới không?

Bẩm sanh của Ni chúng thường thiếu vốn liếng học vấn, cần phải mỗi nửa tháng đến trước Tăng cầu sư dạy bảo. Đây là lời Phật dạy, song phần lớn Ni không phụng hành lời dạy này. Hơn nữa, cách Phật đă xa, khiến Ni coi thường việc học hỏi, sanh ḷng ngă mạn, cống cao. Phải chăng họ sống như Bà-la-môn? Đáng thương vậy!

+ Tăng hoà hợp để làm ǵ?

Cụ thể hơn, câu hỏi phải đặt đúng như thế này: “Tăng nay hoà hợp để làm pháp sự ǵ?”. Bởi v́ giải quyết mỗi pháp sự phải hội đủ một số lượng Tăng phù hợp. Cho nên, đối với từng vấn đề, Tăng phải hỏi: Pháp sự ǵ?

Ở đây sự việc là: THUYẾT GIỚI YẾT-MA

Nếu không phải thuyết giới, mà là thọ sám hối hay kiết giới xứ phần, ly y… th́ phải đúng theo sự việc diễn ra mà trả lời.

+ Yết-ma là ǵ?

Yết-ma là dịch âm dịch nghĩa theo Hán là “Biện sự”, tức là tất cả Tăng sự đều do vấn đề Yết-ma mà thành tựu.

Tuỳ theo Tăng sự có ba loại Yết-ma: Đơn bạch, bạch nhị và bạch tứ.

a) Việc thông thường th́ đơn bạch.

b) Việc có tầm mức vừa th́ bạch nhị.

c) Việc mang tính chất quan trọng th́ bạch tứ.

Ba loại Yết-ma này sẽ xuyên suốt được hết tất cả pháp sự.

D. VĂN TÁC BẠCH THUYẾT GIỚI

1/ Văn tác bạch thuyết giới

Đại đức Tăng, xin lắng nghe: Hôm nay là bạch (hay hắc) nguyệt, ngày 15 (hoặc 14), chúng Tăng thuyết giới, nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận hoà hợp thuyết giới. Đây là lời tác bạch.

Giải thích ư nghĩa:

+ Đại đức Tăng xin lắng nghe, đây là lời nhắc nhở cho toàn thể Tăng hiện diện tập trung tư tưởng, lắng ḷng nghe. Đối với vấn đề đương nghe phải ghi nhớ thấu đáo để thực hiện.

+ Bạch nguyệt: Ngày thứ 15, tức chỉ cho nửa tháng trước.

+ Hắc nguyệt: Ngày thứ 15 (hoặc 14) là nửa tháng sau (tháng thiếu 14 ngày).

+ Chúng Tăng thuyết giới: Việc làm rơ ràng là thuyết giới không phải mục đích nào khác.

Xét theo bản dịch “Giới bổn” của ngài Da-xá: Gọi đủ nghĩa là “Bố-tát thuyết giới”. Nay chỉ nói gọn là “thuyết giới”.

+ Thế nào là Bố-tát thuyết giới?

- Thuyết giới là sự tŕnh bày thẳng vấn đề giới chứ chưa nói lên nội dung ích lợi của giới.

- Bố-tát có hai nghĩa: Tẩy trừ phiền năo và nuôi lớn công đức thanh tịnh.

Ch́nh v́ vậy, chúng tập hợp thuyết giới là nhằm đạt mục đích: Nuôi lớn công đức và rửa sạch phiền năo và các pháp bất thiện khác.

+ Câu: Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng nghĩa là khi nói giới, đúng giờ Tăng đều đến.

+ Tăng chấp thuận tức là số Tăng có mặt đều nhất trí vấn đề thuyết giới.

+ Đây là lời tác bạch: Đây là lời công bố rơ rằng pháp sự phải thực hiện để tất cả tri tường.

2/ Tựa của giới kinh

Thưa các Đại đức, nay tôi sẽ tụng giới Ba-la-đề-mộc-xoa. Các Tỳ-kheo cùng tập hợp một chỗ, hay lắng nghe suy nghiệm kỹ. Nếu ai tự biết có phạm, hăy tự phát lồ. Ai không phạm th́ im lặng, tôi biết các Đại đức thanh tịnh, như một người được kẻ khác hỏi riêng điều ǵ th́ như thật trả lời. Cũng vậy, Tỳ-kheo nào ở trong chúng sau khi đă ba lần hỏi, nhớ nghĩ ḿnh có tội mà không phát lồ. Vị ấy mắc tội cố ư vọng ngữ. Phật dạy: Cố ư vọng ngữ là pháp chướng đạo. Tỳ-kheo nào nhớ nghĩ ḿnh có tội, muốn cầu thanh tịnh, hăy tự phát lồ, do phát lồ mà an lạc.

Giải thích ư nghĩa:

Đây là tựa của Giới Kinh, công bố cho chúng biết. Biết để các Tỳ-kheo không phân tâm tán loạn, chí thành phát lồ sám hối để thanh tịnh được ba nghiệp.

+ Ba-la-đề-mộc-xoa như trước đă giải thích.

+ Các Đại đức lắng nghe tức là sự đánh thức thính giác họ tập trung nghe để nhận rơ ư nghĩa và lời nói của sự việc một cách tường tận làm cho văn huệ thành tựu.

+ Suy nghĩ kỹ: Do nơi đă có được văn huệ nên mới đạt sự suy xét kỹ tức là làm cho tu huệ thành tựu.

+ Nếu ai biết có phạm… tức là do nghe và suy nghĩ đă có rồi th́ thiện và ác tự hiện nơi tâm. Loại bỏ được các điều ác, chọn lấy các điều thiện để tu hành thanh tịnh tức là làm cho tu huệ thành tựu. Một khi tu huệ thành tựu th́ giới châu trong suốt, sáng ngời, lực dụng nhất như, đạt hiệu quả toàn hảo.

+ Có phạm, tức là xác định được chỗ tội, cần phải sám hối để tiêu diệt tội.

+ Nếu không phạm th́ im lặng. Do im lặng nên biết được thanh tịnh, không có tội.

+ Như một người được kẻ khác hỏi riêng điều ǵ th́ như thật trả lời tức là nếu như ở một thời điểm nào đó có ai nêu lên vấn đề ǵ riêng với ḿnh th́ như sự thật mà trả lời.

+ Tỳ-kheo nào ở trong chúng ba lần hỏi: Ba lần hỏi tức là lời lẽ lập lại một cách rơ ràng đầy đủ, người nghe không thể nhận biết được.

+ Đă biết có phạm mà không chịu phát lồ th́ mắc tội cố ư vọng ngữ: Cố ư vọng ngữ, Phật nói đó là pháp trở ngại đạo. Nếu tự biết có tội, muốn cầu thanh tịnh th́ phải phát lồ sám hối. Do sám hối mà thân, tâm được tịch định để chứng quả Niết-bàn. Cho nên nói do sám hối mà được an lạc.

3/ Văn tác bạch đúc kết

Thưa các Đại đức, tôi đă thuyết xong tựa Giới Kinh. Nay hỏi các Đại đức trong đây có thanh tịnh không? (ba lần)

Các Đại đức trong đây thanh tịnh. V́ im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.

Ư nghĩa:

+ Tựa là đầu mối.

+ Ghi nhận là biết rơ ư nghĩa vấn đề.

+ Đă ba lần gạn hỏi, Chúng đều im lặng, do sự im lặng mà biết là thanh tịnh. V́ thế tôi có thể thuyết giới được.

 

 

 

 

TỲ-KHEO GIỚI BỔN SỚ NGHĨA

QUYỂN THƯỢNG

 

Hải Tràng Từ Tổ, Sa-môn Truyền Nghiêm thuật và đúc kết

 

CHƯƠNG I

THIÊN BA LA DI

 

Thiên Ba-la-di có bốn điều giới: DÂM, ĐẠO, SÁT, VỌNG.

Ba-la-di là dịch âm của Phạn ngữ, Hán dịch là Khí, tức vứt đi. Vĩnh viễn vứt bỏ ra khỏi biển Phật pháp.

Một nghĩa khác là Cực ác. V́ Cực ác nên mất sạch tư cách, phẩm chất Tỳ-kheo và con đường dẫn đến đạo quả bị tắt lối.

1- Giới cấm Ba-la-di thứ nhất: DÂM

Tỳ-kheo nào đă thọ tŕ học xứ và chấp nhận đời sống của Tỳ-kheo, chưa hoàn giới, giới sút kém nhưng không phát lồ mà hành pháp dâm dục, cho đến cùng với súc sanh, Tỳ-kheo ấy là kẻ Ba-la-di, không được sống chung.

a) Duyên khởi:

Sự việc này xảy ra lúc Phật ở tại nước Tỳ-xá-ly, thôn Ca-lan-đà, có người con mang tên cha là Tu-đề-na, theo Phật xuất gia cầu đạo với ḷng tin vững chắc.

Nhân gặp lúc mất mùa, việc khất thực của các Tỳ-kheo gặp lúc khó khăn. Tu-đề-na cùng với các Tỳ-kheo về thẳng thôn Ca-lan-đà của ḿnh để khất thực. Tại quê nhà, Tu-đề-na bị bà mẹ của ḿnh thuyết phục, áp đặt… Ông cùng với vợ giao hợp đến ba lần và từ đó, ông thể hiện ḷng buồn rầu hối hận… Do vậy, các bạn đồng tu học vặn hỏi Tu-đề-na, nên biết rơ sự việc.

Các Tỳ-kheo đem sự việc này bạch lên Phật. Đức Phật liền tập hợp chúng. Trước hết, Ngài dùng nhiều phương tiện quở trách Tu-đề-na. Sau đó, Phật thuyết mười cú nghĩa của vấn đề rồi cùng các Tỳ-kheo kiết giới. Văn giới như sau:

Nếu Tỳ-kheo nào phạm hạnh bất tịnh, hành pháp dâm dục, Tỳ-kheo ấy là kẻ Ba-la-di, không được sống chung”.

Bổ sung cấm giới:

* Tỳ-kheo Bạt-xà-đề do ḷng ưu sầu, buồn chán, niềm vui với đời sống đạo không c̣n. Ông ta trở về nhà cùng với vợ làm việc bất tịnh. Các Tỳ-kheo bạch lên Phật, Ngài dạy:

Ông là người ngu si, phạm Ba-la-di không được sống chung. Nếu Tỳ-kheo nào không thích đời sống tịnh hạnh, cho phép xả giới về nhà. Về sau nếu muốn xuất gia lại để tu phạm hạnh th́ nên độ cho họ xuất gia thọ Đại giới. Do vậy, lại kiết giới, thêm vào chánh văn câu: “Chưa hoàn giới, giới sa sút nhưng không phát lồ sám hối”.

* Có một Tỳ-kheo sống trong rừng cùng với con khỉ cái hành dục. Các Tỳ-kheo đem sự việc này bạch Phật. Đức Phật lại kiết giới thêm câu: “Cho đến cùng với loài súc sanh”.

Như vậy giới cấm này được kiết ba lần mới thành văn giới như trên.

b) Thích nghĩa:

+ Tỳ-kheo nào: Tức chỉ cho những người đă thọ giới, bạch tứ Yết-ma đúng cách, trụ vững trong các pháp Tỳ-kheo. Đó là ư nghĩa cùng với giới Tỳ-kheo.

+ Thế nào gọi là đồng giới? Nghĩa là cùng với các Tỳ-kheo khác đồng tôn trọng hành tŕ một giới.

+ Không xả giới: Nghĩa là không nói rơ, tôi xả giới về lại đời sống tục.

+ Sao gọi giới sút kém? Đối với giới Tỳ-kheo, không đủ khả năng ǵn giữ, tâm sanh nhàm chán, buông thả nên gọi là giới sa sút, uể oải.

+ Không chịu phát lồ là không tự ḿnh đến trước chúng để nói lên sự hối hận trong việc làm cho giới đă thọ bị sa sút.

Tóm lại: Đă không xả giới, không ăn năn, hối hận, lại không đủ năng lực hành tŕ đến nỗi hành bất tịnh tức là phạm Ba-la-di vậy.

Sao gọi là Ba-la-di? Giống như người bị chặt đầu không thể sống lại được. Tỳ-kheo phạm Ba-la-di như đầu bị chặt th́ không thể sống, không thành Tỳ-kheo nữa được.

+ Không được sống chung: Tức là phải đuổi đi, không được cùng ở chung với Tăng chúng.

+ Nghĩa của cộng trú: Có hai nghĩa là đồng một Yết-ma, đồng một thuyết giới.

c) Phạm tướng:

Tỳ-kheo có tâm dâm dục với các đối tượng: Người, không phải người, súc sanh, nam, nữ, kẻ lưỡng tính, hành dâm dục nơi đường đại tiện, tiểu tiện hay miệng, dù chỉ đạt mức sâu trên đầu một sợi lông phạm Ba-la-di.

Sử dụng các phương tiện mà không tiến hành th́ phạm Thâu-lan-giá.

Với các đối tượng chấp nhận cảnh hành dâm trên và trong phương cách thực hiện được bao trùm dưới h́nh thức nào đi nữa đều mắc tội Ba-la-di.

Không phân biệt người, súc sanh, trời, rồng… Nếu bị cưỡng bức thô bạo, oan nghiệt, đem dương căn đưa vào đường đại, tiểu tiện: Lúc mới đặt vào, lúc đưa sâu vào, lúc lấy ra, trong ba động tác này, có một động tác nào mà cảm nhận được khoái lạc đều mắc Bổn tội.

Trong trường hợp ngủ mê say, dương vật cương cứng tự phát, bị người khác từ bên trên hành dâm mà tự thân không hay biết th́ không phạm tội này.

Nếu Tỳ-kheo bày vẽ Tỳ-kheo hành bất tịnh, Tỳ-kheo này thực hiện th́ Tỳ-kheo chỉ vẽ phạm Thâu-lan-giá. Nếu không làm th́ người dạy phạm tội Đột-kiết-la.

Tỳ-kheo ni chỉ bày cho Tỳ-kheo bất tịnh hạnh, nếu Tỳ-kheo làm th́ Ni phạm Thâu-lan-giá. Không làm, Ni phạm tội Đột-kiết-la.

Trừ Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, ba chúng kia dạy nhau làm bất tịnh, có làm hay không đều phạm tội Đột-kiết-la.

Hành dâm với thây người chết, cái lỗ trên mặt đất hay đống bùn, miệng b́nh và các lỗ khác nơi thân thể đều phạm Thô tội.

Do dâm ư, hành dục nơi đường hành dâm, hay nghĩ là đúng chỗ, hoặc lại sai nghi, hay khởi lên ư nghĩ chẳng phải đúng chỗ đều phạm Bổn tội

Nếu không phải chỗ, nghĩ là phải chỗ, hoặc nghi, mắc Thâu-lan-giá.

Tỳ-kheo tiến hành phương tiện để làm việc phi pháp, thành th́ phạm Bổn tội, không thành th́ phạm Thâu-lan-giá.

Từ khi bắt đầu tiến hành phương tiện sửa soạn y phục cho đến chưa xúc phạm vào thân thể đều mắc tội Ác tác.

Tóm lại, giới cấm này cần phải hội đủ bốn yếu tố mới thành phạm tội:

1) Tỳ-kheo đúng pháp.

2) Đúng đối tượng.

3) Vào quá đầu sợi lông.

4) Tâm cảm nhận hoan lạc, thích thú.

Hội đủ bốn yếu tố này tức phạm Ba-la-di không thể cứu được.

* Trường hợp ngủ mê không hay biết, tâm không cảm nhận khoái lạc, tất cả đều không có tâm dâm dục, sự việc xảy ra trước khi chế giới, buồn phiền rối loạn v́ bệnh hoạn đều không phạm tội.

* Trường hợp người có ḷng tin vào giới mạnh mẽ và tâm đầy sợ sệt, xấu hổ, không một ư niệm che giấu, quanh co, nước mắt ràn rụa trong nỗi buồn năo ruột. Thệ nguyện không bao giờ xa ĺa pháp phục, có thể được nhận ăn năn Ba-la-di, cho phép người ấy đến trước Tăng tha thiết ba lần cầu xin. Tăng bạch tứ Yết-ma ban cho “Học giới”. Suốt đời vị ấy phải phụng hành ba mươi lăm việc được quy định như sau:

1. Không được phép trao giới Cụ túc cho bất cứ người nào.

2. Không được cho bất cứ ai y chỉ.

3. Không được nuôi Sa-di.

4. Không được giáo giới Tỳ-kheo ni.

5. Nếu có sai rồi cũng không được dạy.

6. Không được v́ Tăng thuyết giới.

7. Không được vấn đáp Tỳ-ni trong Tăng.

8. Không được làm người tri sự của Tăng.

9. Không được làm người đoán sự của Tăng.

10. Không được làm người sứ mạng cho Tăng.

11. Không được vào sớm làng, tu lạc sớm và về tối.

12. Phải gần gũi Tỳ-kheo.

13. Không được gần gũi với bạch y, cư sĩ.

14. Phải thuận theo phép Tỳ-kheo.

15. Không được nói chuyện thế sự.

16. Không được trong chúng tụng Luật, nếu có người tụng.

17. Không được phạm lại tội này.

18. Không được phạm vào các tội khác.

19. Không được ngăn chúng Tăng Yết-ma.

20. Không được chê người làm Yết-ma.

21. Không được ngồi lên toạ cụ do Tỳ-kheo thanh tịnh trải ra.

22. Không được nhận nước rửa tay, chân nơi thầy Tỳ-kheo thanh tịnh.

23. Không được nhận nước uống nơi thầy Tỳ-kheo thanh tịnh.

24. Không được để thầy Tỳ-kheo thanh tịnh lau giày, guốc.

25. Không được nhận sự thoa chà nơi thân, do thầy Tỳ-kheo thanh tịnh.

26. Không được nhận lễ bái của thầy Tỳ-kheo thanh tịnh.

27. Không được nhận sự đưa đón của thầy Tỳ-kheo thanh tịnh.

28. Không được nhận sự xá chào của thầy Tỳ-kheo thanh tịnh.

29. Không được để thầy Tỳ-kheo thanh tịnh cầm y.

30. Không được nhận sự bưng bát của thầy Tỳ-kheo thanh tịnh.

31. Không được cử tội, hay làm pháp ức niệm, tự nói sám hối đối với thầy Tỳ-kheo thanh tịnh.

32. Không được làm chứng cho người.

33. Không được ngăn Tỳ-kheo thanh tịnh thuyết giới.

34. Không được ngăn Tỳ-kheo thanh tịnh Tự tứ.

35. Không được cùng Tỳ-kheo thanh tịnh tranh căi.

Nếu tái phạm th́ dứt khoát đuổi ra khỏi chùa.

Tỳ-kheo ni phạm tội cũng giống như trên.

Thức-xoa, Sa-di, Sa-di-ni phạm, tội Đột-kiết-la nên diệt tẫn.

2- Giới cấm Ba-la-di thứ hai: ĐẠO

Tỳ-kheo nào, hoặc từ làng xóm, hoặc từ rừng vắng lấy vật không cho với tâm trộm cắp. Tỳ-kheo lấy vật không cho ấy mà vua hay đại thần của vua, hoặc bắt, hoặc giết, hoặc trói, hoặc đuổi khỏi nước, hoặc khiển trách: “Người là kẻ trộm, người là kẻ ngu si, hoặc là kẻ không biết ǵ”. Tỳ-kheo ấy là kẻ Ba-la-di không được ở chung.

a) Duyên khởi:

Đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật và Ngài đang du hoá nới thành La-duyệt. Trong thời gian này, có Tỳ-kheo Đàn-di-ca dối gạt người giữ cây gỗ của vua B́nh-sa, lấy cây gỗ để cất thất. Đại thần tấu tŕnh lên vua sự việc. Vua nghĩ: Không nên v́ một số ít gỗ mà giết chết kẻ xuất gia, bèn quở trách Đan-di-ca rồi cho phóng thích.

Các Tỳ-kheo bạch lên Phật sự việc này. Đức Phật hỏi Tỳ-kheo Ca-lâu: Pháp nhà vua lấy trộm bao nhiêu th́ bị xử tử?

Tỳ-kheo Ca-lâu thưa: Lấy năm tiền hoặc trị giá vật đủ năm tiền th́ bị xử tử. Đức Phật liền y theo pháp của nhà vua mà thuyết giới: Trộm đủ năm tiền phạm Ba-la-di.

b) Thích nghĩa:

+ Lấy vật không cho với tâm trộm cắp nghĩa là vật có sở hữu chủ, không được chủ trao cho mà lại cố tâm trộm cắp để lấy.

+ Tuỳ theo pháp lấy vật không cho, nghĩa là theo pháp của vua chế định.

+ Lấy năm tiền hoặc vật lấy đáng giá năm tiền th́ thành tội. Tội này gọi là tội “Khí” vậy.

+ Bắt trói, đuổi, giết là tội trạng.

+ Nói: Kẻ ngu si không biết ǵ là lời quở mắng.

+ Vua và đại thần không biết kính Sa-môn th́ hành phạt; v́ biết kính Sa-môn nên chỉ quở mắng mà thôi.

c) Phạm tướng:

Tự tay lấy hay chứng kiến người lấy, sai người lấy, vật có chủ, tưởng rằng vật có chủ, lấy đủ năm tiền, mang đi khỏi chỗ cũ và nghĩ rằng đă thuộc về ḿnh. Khi vừa đem đi khỏi vị trí cũ liền mắc tội Ba-la-di.

Nếu t́m cách đưa đi mà chưa được, kể cả việc xúc phạm, nh́n thấy vật, trong lúc tác động chuyển dịch, rờ mó đều mắc Thô tội.

Nếu vật mang khỏi vị trí cũ và nghĩ là thuộc về ḿnh, sau đó hối hận trả vật lại chỗ cũ cũng bị mắc Bổn tội.

Nếu nhận thấy vật đáng giá năm tiền, nghĩ nói sẽ lấy, sau đó ḷng hối hận thôi không lấy nữa th́ mắc Thô tội.

Mục đích cố lấy đủ năm tiền trở lên song chỉ lấy được dưới năm tiền, mắc Thô tội.

Ước muốn lấy dưới năm tiền nhưng lại lấy đủ năm tiền, mắc tội Ba-la-di.

Cầu mong lấy dưới năm tiền và đạt được mục tiêu, mắc Thô tội. Không đạt được đích mắc Ác tác.

Chỉ vẽ người t́m cách lấy năm tiền trở lên: Lấy được, cả hai đều mắc Bổn tội. Lấy không được, cả hai đều phạm Thô tội.

Chỉ bày người t́m cách lấy dưới năm tiền song lại lấy được năm tiền: Người đích thân lấy phạm Bổn tội, người chỉ vẽ mắc Thô tội. Lấy không được, cả hai đều mắc Ác tác.

Chỉ dạy người t́m cách lấy năm tiền trở lên song thực hiện lại lấy vật khác hay lấy vật khác vị trí chỉ định: Người lấy phạm Bổn tội, người chỉ dạy phạm Thô tội.

Nếu người nhận sự chỉ bày không có tâm trộm cắp th́ không phạm. Ngược lại, người chỉ dạy kia sẽ căn cứ theo hiện vật lấy được mà thành tội. Nếu người dạy lấy vật, không có tâm trộm cắp th́ không có tội, ngược lại người đích thân lấy cắp phạm tội.

Nếu nhiều Tỳ-kheo bảo một người lấy cắp năm tiền rồi chia nhau: Mỗi người trong số đó đều mắc Bổn tội. Khi sai sử lại có người ngăn chận, người ngăn chận mắc Thô tội.

Không luận, nơi này vật cắp đó trị giá năm tiền song nơi khác lại trị giá dưới năm tiền. Người ăn cắp vẫn phạm Bổn tội. Ngược lại, chỗ kia vật lấy cắp trị giá dưới năm tiền đến chỗ này lại trị giá hơn năm tiền: Người lấy cắp phạm Thô tội.

Trước hứa với người khác đến lấy trộm vật đó, sau ḷng lại hối hận không thực hiện: mắc tội Ác tác.

Ư đồ trộm vật của người khác nhưng nhầm lẫn lại lấy vật của chính ḿnh: mắc Thô tội.

Người khác trộm lấy vật , đoạt lấy vật ấy lại: mắc Bổn tội.

Nếu dùng tâm trộm cắp để đánh tráo phần vật của kẻ khác đă có sắp đặt tính toán th́ liền phạm Bổn tội.

Nếu lấy trước sau cộng lại đủ năm tiền: phạm Bổn tội.

Nếu có ư làm hao hụt, phá hoại, hoặc đốt, hoặc chôn vật dụng nào đó mà trị giá năm tiền: mắc Bổn tội.

Trong việc chia đất đai nếu với tâm trộm cắp, dời trụ mốc của người khác lấn chiếm mà trị giá đủ năm tiền: mắc Bổn tội.

Nếu lấy thức ăn trong hang, ổ của kiến, chim, căn cứ cào trị giá của thức ăn mà thành tội. Nếu là vàng, bạc, loài vật kia không sử dụng được th́ không tội.

Vật có chủ, nghĩa là có sở hữu chủ, lấy cắp năm tiền trở lên mắc Bổn tội. Năm tiền trở xuống mắc Thô tội.

Nghi là có chủ: Lấy năm tiền trở lên mắc Thô tội. Năm tiền trở xuống mắc Ác tác.

Không có chủ, tưởng là có chủ hoặc lại sanh ḷng nghi: Lấy năm tiền trở lên mắc Thô tội. Năm tiền trở xuống mắc Ác tác.

* Trường hợp không phạm: Nhầm tưởng người khác cho, vật vô chủ vứt bỏ. Có ư nghĩ tạm lấy mượn hay nghĩ rằng của người thân thiết…

Sáu yếu tố kết thành tội phạm:

- Một là Tỳ-kheo đúng như pháp.

- Hai là có tâm trộm cắp.

- Ba là hoặc tự ḿnh lấy hay bảo người ta lấy.

- Bốn là vật của người khác hay nghĩ rằng vật có chủ.

- Năm là giá trị đủ năm tiền.

- Sáu là rời khỏi vị trí cũ và nghĩ là thuộc về của ḿnh.

Hội đủ sáu điều trên th́ phạm Ba-la-di. Nếu không đủ th́ phạm Thâu-lan-giá.

3- Giới cấm Ba-la-di thứ ba: SÁT

Tỳ-kheo nào, cố ư tự tay ḿnh làm dứt sanh mạng loài người, hoặc cầm dao đưa người khác giết, hoặc khen ngợi sự chết, hoặc khích lệ cho chết, nói rằng: “Ôi! Này bạn, ích ǵ đời sống xấu xa ấy. Bạn nên chết đi tốt hơn”. Hoặc với tâm ư như vậy, bằng mọi phương tiện, khen ngợi sự chết, khích lệ cho chết. Người kia nếu do thế mà chết, Tỳ-kheo ấy là kẻ Ba-la-di không được sống chung.

a) Duyên khởi:

Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn du hoá trong nước Tỳ-xá-ly. Tại giảng đường bên sông Di-hầu, Ngài nói pháp bất tịnh cho chúng Tỳ-kheo nghe… Sau đó, các Tỳ-kheo tu tập theo pháp quán bất tịnh và thấy rơ thân xác đáng ghê tởm, ḷng ưu sầu bi quan, t́m dao tự sát, khen ngợi, cổ vũ sự chết. Trong khi ấy, có Tỳ-kheo Vật-lực Ca-nan-đề tay cầm dao bèn vào vườn Bà-cầu… Một Tỳ-kheo nói với Vật-lực rằng: “Đây y, bát tôi cho ông, ông hăy cắt đứt mạng sống của tôi đi!”. Nan-đề giết vị đó. Giết xong, ông ta đến mé sông rửa dao, ḷng đầy hối hận… Ḷng hối hận này liền đối diện trước sự xuất hiện của một thiên ma. Thiên ma khen ngợi ngay công đức giết người của Nan-đề rằng: “Tốt lắm, ông đă độ cho người không thể tự độ rồi đó!”.

Với lời ca tụng này của thiên ma, Nan-đề vào lại trong vườn tiếp tục giết người. Tất cả có đến 60 người bị giết. Tôn giả A-nan hay việc xảy ra liền bạch Phật. Phật kiết giới trên.

b) Thích nghĩa:

+ Cố ư tự tay ḿnh làm giết sanh mạng loài người nghĩa là cố ư chứ chẳng phải có sự nhầm lẫn nào trong sự giết. Tự tay giết sanh mạng người, tức là chính tay ḿnh giết khiến cho sanh mạng kia bị chết.

+ Cầm dao đưa người tức bảo người giết. Khen ngợi sự chết là khen ngợi cái chết được như vậy sẽ sanh lên cơi trời. Cổ vũ khích lệ sự chết tức là hô hào ca ngợi cái chết như vậy th́ điều ác khỏi tăng thêm.

+ Bạn ơi! Ích ǵ đời sống xấu xa này, thà chết đi c̣n hơn, bạn ạ! Đây ngụ ư chê trách huỷ báng, sự khiêu khích. Trước, khích lệ không nghe theo, bây giờ vạch lẽ chê trách, đánh thẳng vào tự ái: Cái sống xấu xa, ông sống có ích ǵ? Thà chết c̣n hơn sống! Tư duy như vậy là tiếp tục dùng sát tâm để giết người, nghĩ t́m pháp sát khác. Khéo dùng các thiện xảo khích lệ như dùng thơ ca để khuyên, hoặc thuyết phục bằng những lư luận có lư, khiến cho người ấy phải chết.

c) Phạm tướng:

Dùng các phương pháp khác như: gạch, đá, dao, gậy, sập hầm, gài bẫy, thuốc độc… và các cách giết hại khác. Kẻ ấy chết là phạm Ba-la-di, c̣n đă sử dụng mọi phương tiện mà chưa chết, phạm Thô tội.

Nếu làm cho đoạ thai: Mẹ chết con sống th́ phạm Thô tội v́ chẳng phải cố tâm vậy.

Nếu Tỳ-kheo sai khiến người đoạt mạng của người khác, trong số đồng loă này có người ái ngại ngăn việc làm đó. Người ngăn phạm Thô tội, c̣n các người khác không ngăn đều phạm Ba-la-di.

Nếu Tỳ-kheo v́ mục đích nào đó muốn tự giết mắc Thô tội.

Nếu là trời, rồng, quỷ thần và súc sanh, hiểu được tiếng nói của người, có thể biến h́nh, giết chết th́ mắc Thô tội. Không giết chết th́ mắc Ác tác.

Đúng thật là người hay tưởng rằng người mắc Ba-la-di.

Đúng thật là người mà sanh ḷng nghe và nảy sinh ư nghĩ không phải người, đều mắc Thô tội.

Chẳng phải người tưởng là người đều mắc Thâu-lan-giá.

Trường hợp không phạm: Nhầm sát, tất cả vô tâm sát.

Giới này phải hội đủ năm yếu tố mới thành tội:

1. Tỳ-kheo như pháp.

2. Đối tượng là người.

3. Cố ư sát.

4. Tưởng là người.

5. Mạng kia bị đứt hẳn.

Thiếu yếu tố không thành tội này.

4-Giới cấm Ba-la-di thứ tư: VỌNG NGỮ

Tỳ-kheo nào không thật sự chứng ngộ, mà tự ḿnh tuyên bố rằng: “Tôi đă chứng đắc pháp của bậc thượng nhân, tôi đă chứng nhận pháp thù thắng của Thánh trí. Tôi biết pháp này, tôi thấy pháp này”. Vị ấy vào một lúc khác, bị người cật vấn hay không bị cật vấn, muốn cho ḿnh được thanh tịnh nói như vầy: “Tôi thật sự không biết, không thấy, nhưng đă nói là có biết, có thấy. Đó là lời nói hư dối”. Ngoại trừ tăng thượng mạn, Tỳ-kheo ấy là kẻ Ba-la-di, không được sống chung.

a) Duyên khởi:

Lúc bấy giờ, đức Thế-Tôn du hoá nơi nước Tỳ-xá-ly, Ngài đang ở trên gác cao của giảng đường, bên bờ sông Di-hầu. Gặp lúc mất mùa, việc khất thực khó được, các Tỳ-kheo trong chùa bên sông Bà-cầu đến các nhà cư sĩ cùng tán thán với nhau rằng: “Các Tỳ-kheo đều đắc pháp thượng nhân”. Các cư sĩ tin theo sự ca ngợi ấy nên đem thức ăn cúng dường. Do đó, các Tỳ-kheo không gặp khó khăn trong việc ăn uống. Phật biết được sự việc lừa dối này, Ngài quở trách:

Các ông là người ngu si, giá như đúng sự thật như vậy cũng không nên nói với ai làm ǵ, huống hồ sự đắc pháp là không có thật. Rồi đức Thế-Tôn bảo các Tỳ-kheo: Trong đời có hai kẻ giặc ăn trộm thức ăn của người:

Một là không phải người tịnh hạnh, tự xưng là tịnh hạnh.

Hai là v́ bụng và miệng mà hư dối tự xưng là đắc pháp thượng nhân.

Sau khi quở trách, Ngài kiết giới trên.

* Lại một sự việc khác, liên hệ đến kiết giới: Có một Tỳ-kheo tu tập chỉ quán, hàng phục được các phiền năo rồi nói với mọi người rằng: “Tôi đă đắc đạo”. Sau đó đi du hoá trong nhân gian, không chế ngự được các căn, phiền năo lại khởi lên song tự biết xấu hổ, tinh tấn, nhờ vậy chứng quả La-hán. Bấy giờ, nghĩ lại lời nói trước kia nghi là mắc tội vọng ngữ liền bạch với Phật. Phật dạy: Không phạm. Do vậy trong văn giới có ghi thêm câu: “Trừ Tăng thượng mạn”.

b) Thích nghĩa:

+ Thế nào là pháp thượng nhân? Đó là pháp của Thánh hiền tu và chứng.

+ Tôi đă chứng nhập: Tức là đă chứng đắc rồi vậy.   

+ Thánh: Là chỉ cho Phật và Thanh-văn.

+ Trí là biết bốn Thánh đế: Khổ, tập, diệt, đạo và các trí khác. Trí này là pháp tối thượng, thù thắng có khả năng chứng đắc Tam thừa, Tứ quả.

+ Tôi biết việc này: Tức là biết bốn Thánh đế: Khổ, tập, diệt, đạo.

+ Tôi thấy việc này: Nghĩa là thấy lư của bốn Thánh đế và được thiên nhăn thanh tịnh.

+ Biết: Là thuộc về Ư căn. Chứng đắc Ư căn thanh tịnh là vào ḍng Thánh trí.

+ Thấy: Thuộc về Nhăn căn. Chứng đắc Nhăn căn thanh tịnh là không c̣n lậu hoặc để tái sanh vào ba cơi.

+ Vào thời điểm khác: Là thời gian sau khi nói.

+ Cật vấn: là bị người tra hỏi. Hoặc không bị cật vấn là tự phát lồ, là c̣n hy vọng được thanh tịnh, song như vậy là đă muộn rồi.

+ Hư dối: Tức lời nói, sự việc không đúng sự thật.

+ Dối gạt: Lấy sự quanh co dối trá để gạt gẫm người.

+ Vọng ngữ: Lời nói không phù hợp với tâm.

+ Trừ tăng thượng mạn: Trừ hạng người tăng thượng mạn tức là hạng người không có tâm dối gạt, không nên xếp vào loại tội vọng ngữ. Do họ tu đạo nên phiền năo tạm dứt rồi nhầm tưởng là đă chứng quả Thánh. Cho nên đối với pháp xuất thế khởi tâm trong sạch chơn chánh chứ không phải là hư cấu dối gạt.

c) Phạm tướng:

Các trường hợp phạm giới này:

Tỳ-kheo hư dối không thật như vậy lại khéo dùng lời thuyết phục người, hoặc ra dấu hiệu, hoặc sai người nói, hoặc viết thư, hoặc làm điệu bộ mà tín đồ tin theo, cho là thật th́ Tỳ-kheo ấy phạm Ba-la-di. Nếu họ không biết rơ th́ phạm Thô tội.

Nếu tự ḿnh ở chỗ vắng hay nghĩ là chỗ vắng, hoặc không phải chỗ vắng mà nghĩ là chỗ vắng rồi nói vọng ngữ đều phạm Thâu-lan-giá.

Đến với trời, rồng, quỉ, súc sanh nói lời vọng ngữ. Các loài này biết được: phạm Thô tội, không biết phạm Ác tác.

Nếu thật đắc đạo, đến với các Tỳ-kheo mà họ không đồng ư nói: mắc tội Ác tác.

Nếu v́ mọi người mà nói pháp tướng vọng ngữ rằng: “Tôi đắc” phạm Bổn tội. Người hoặc tưởng là người nói vọng ngữ với họ, mắc Bổn tội.

Nghi là người, người mà tưởng chẳng phải người và không phải người tưởng là người, hoặc nghi ngờ nói vọng ngữ với họ đều mắc Thâu-lan-giá.

Trường hợp không phạm: Nói pháp cho người nghe, không nói “tôi chứng đắc”, hoặc nói giỡn chơi, nói một ḿnh chỗ vắng, nói trong mộng, nhầm nói… đều không có vọng tâm th́ không phạm.

Giới này hội đủ năm yếu tố sau mới thành tội phạm:

1. Tỳ-kheo như pháp.

2. Đối tượng là người.

3. Dụng tâm, cố ư nói dối.

4. Hiện tướng bằng thân, khẩu.

5. Người nghe hiểu rơ.

Hội đủ năm điều này phạm Ba-la-di. Thiếu yếu tố tuỳ theo mức độ mà kết tội.

+ Luật Ngũ Phần nói: V́ lợi dưỡng làm dáng vẻ trịnh trọng, nói năng thể hiện sự hiểu biết am tường, cố ư hiển tướng rằng ḿnh đắc đạo khiến mọi người hiểu như vậy th́ mắc tội Thâu-lan-giá.

+ Luật Thập Tụng nói: Có người hỏi Tỳ-kheo rằng: “Ngài là bậc A-la-hán phải không?”. Nếu làm thinh không trả lời phạm Thâu-lan-giá.

+ Luận Lặc Già nói: Nếu hỏi: Đắc quả rồi phải không? Lại chỉ cái quả trong tay thay cho lời đáp: phạm Thâu-lan-giá. Nếu nói tội không đoạ tam đồ cũng mắc Thâu-lan-giá.

+ Luận Tát Bà Đa nói: Cho đến việc nói tŕ giới thanh tịnh, không khởi tâm dâm dục, không đúng thật như vậy: phạm Thâu-lan-giá. Nếu không tụng kinh mà nói tụng kinh, chẳng phải Luận sư mà nói Luận sư, chẳng phải Luật sư mà nói Luật sư, chẳng toạ thiền nói toạ thiền. Nói tổng quát: không có Tụng tập mà xưng có tụng tập đều mắc tội Thâu-lan-giá.

Kết vấn:

Các Đại đức, tôi đă tụng xong bốn pháp Ba-la-di. Tỳ-kheo nào phạm bất cứ một pháp nào không c̣n được sống chung với các Tỳ-kheo. Cũng như trước kia, sau khi phạm cũng vậy, Tỳ-kheo ấy là kẻ Ba-la-di, không được sống chung.

+ Nay hỏi các Đại đức trong đây thanh tịnh không? (ba lần)

+ Các Đại đức trong đây thanh tịnh v́ im lặng. Việc ấy tôi ghi nhận như vậy.

Giải thích

- Phạm mỗi một pháp: Nghĩa là trong bốn tội Ba-la-di này, phạm bất cứ tội nào liền chẳng phải Tỳ-kheo, không được cùng với chúng thanh tịnh đồng ở.

- Như trước: Tức lúc chưa thọ Đại giới là người thế tục, nên không gọi Tỳ-kheo. Sau khi phạm giới này th́ hoàn toàn giống người thế tục trước kia, song v́ là Tỳ-kheo nên phạm Ba-la-di tội.

Không được ở chung, v́ sao vậy? V́ đă phạm pháp này th́ liền chiêu lấy tội lỗi mà tội này là tội phải vứt bỏ ra ngoài biển Phật pháp. Không được ở chung là vậy.

 

 

 

 

 

CHƯƠNG II

THIÊN TĂNG GIÀ BÀ THI SA

 

Nghĩa của Tăng-già Bà-thi-sa:

Nếu phạm vào giới này như người bị chặt đầu mà c̣n lại cái yết hầu, có thể cứu chữa được. Cốt yếu là phải nương vào Tăng già mà thực hiện pháp sám hối và nương tựa vào Tăng già để xuất tội.

Thiên Tăng-già Bà-thi-sa có 13 điều giới:

Điều 1: Tỳ-kheo nào, cố ư làm xuất tinh, trừ chiêm bao: Tăng-già Bà-thi-sa.

a) Duyên khởi:

Sự việc xảy ra lúc đức Phật du hoá nơi thành Xá-vệ như sau:

Tỳ-kheo Ca-lưu-đà-di, do dục tâm dồn nén kích dục xuất tinh. Các Tỳ-kheo bạch Phật. Phật quở trách rồi kiết giới trên.

Một trường hợp khác: Có một Tỳ-kheo ngủ mê, loạn tưởng, mộng mị xuất tinh. Nghi là phạm Tăng tàn, đem việc ấy bạch Phật. Phật dạy: Không phạm. Cho nên, kiết giới lại thêm vào chánh văn câu: Trừ chiêm bao.

Như vậy văn giới trên được kiết hai lần.

b) Thích nghĩa:

+ Cố ư là hành động chủ tâm để đạt theo ư muốn, nên thuộc ư nghiệp.

+ Làm xuất tinh là thân nguyệt.

+ Trong mộng tức không thật, không có sự can thiệp của ư nghiệp và thân nghiệp cho nên không phạm.

c) Phạm tướng:

Với mục đích thích thú, thưởng thức, v́ đ̣i hỏi, v́ nhan sắc thúc dục. Tất cả v́ chủ đích như vậy làm cho xuất tinh nên phạm Tăng tàn. Không làm xuất tinh mắc tội Thâu-lan-giá.

Những h́nh thức dẫn đến xuất tinh như: Thủ dâm hoặc nhờ sự thuận, nghịch của sức gió hay sức nước hoặc tác động quơ, lắc nam căn giữa hư không. Như vậy là cố ư làm cho xuất tinh đều phạm Tăng tàn.

Nữ nhân gần gũi thân Tỳ-kheo khiến thân kích động xuất tinh phạm Tăng tàn. Thân không động mà xuất tinh phạm Ác tác.

Tỳ-kheo dạy Tỳ-kheo làm xuất tinh mắc Thô tội. Không xuất tinh phạm Ác tác. Chỉ dạy người khác làm xuất tinh hay không xuất tinh đều phạm Ác tác.

Tỳ-kheo-ni làm kích thích xuất tinh phạm Ba-dật-đề. Ba chúng c̣n lại thực hiện như vậy, phạm Ác tác.

Điều 2: Tỳ-kheo nào, do dục tâm dồn nén, xúc phạm thân người nữ, hoặc nắm tay, hoặc nắm tóc, hoặc xúc phạm bất cứ một phần nào của thân: Tăng-già Bà-thi-sa.

a) Duyên khởi:

Việc xảy ra lúc Phật ở nước Xá-vệ. Cũng lại Ca-lưu-đà-di, ông ta nghe Phật cấm không làm cho xuất tinh, bèn nghĩ cách khác. Ông đợi phụ nữ đi qua cửa pḥng t́m cách dụ họ vào pḥng rồi rờ mó, hun hít… Các Tỳ-kheo bạch Phật. Phật quở trách rồi kiết giới như trên.

b) Thích nghĩa:

+ Dâm dục là ư nghiệp.

+ Nữ nhân là đối tượng có thể hành dâm.

+ Thân là từ tóc đến chân.

+ Tương xúc là thân này xúc phạm thân kia.

c) Phạm tướng:

Trong giới này phạm:

Nếu Tỳ-kheo với tâm dục ô nhiễm, xúc chạm người nữ hoặc người nữ xúc chạm Tỳ-kheo, không có y hoặc vật ǵ ngăn cách: Tuỳ theo xúc chạm nhiều ít, mỗi một đều phạm Tăng tàn.

Nếu có y ngăn cách th́ mắc Thô tội.

Sự tương xúc mà cả hai bên đều có sự ngăn cách bằng y áo hay vật ǵ th́ phạm Ác tác.

Nếu xúc chạm giới nữ của trời, rồng, quỷ thần, súc sanh, có thể biến h́nh, hai h́nh đều mắc Thô tội.

Cùng với thân nam tử tương xúc và xúc chạm súc sanh, không thể biến h́nh, đều phạm Ác tác.

Nếu có ư tưởng rằng người nữ cùng với nam thân tương xúc hoặc ngược lại đều phạm Tăng tàn.

Đối với người nữ này mà ư tưởng cho là người nữ khác hoặc trường hợp ngược lại đều phạm Tăng tàn.

Tuỳ theo chỗ mà người nữ dựa vào, việc đó làm cho Tỳ-kheo kích động tâm dục th́ mắc tội Thô ác.

Nếu người nữ đảnh lễ nắm lấy chân Tỳ-kheo tạo ra cảm giác rung động thích thú nơi thân th́ phạm Tăng tàn. Thân không rung động th́ phạm Ác tác.

Đánh người nữ phạm Đột-kiết-la.

Với tâm dục xúc chạm y, bát, toạ cụ… cho đến chạm lấy thân ḿnh, tất cả đều phạm Ác tác.

Người nữ hoặc tưởng rằng người nữ: phạm Tăng tàn.

Nghi là người nữ và khởi lên ư tưởng chẳng phải người nữ và ngược lại sanh ḷng nghi ngờ đều mắc Thô tội.

Tỳ-kheo-ni phạm Ba-la-di.

Ba chúng c̣n lại phạm như thế là mắc tội Ác tác.

Điều 3: Tỳ-kheo nào, do dục tâm dồn nén nói lời thô tục về dâm dục với người nữ, tuỳ theo lời nói về dâm dục: Tăng-già Bà-thi-sa.

a) Duyên khởi:

Đức Phật ở tại trú xứ như giới trước. Sau khi Phật kiết xong giới trước. Ca-lưu-đà-di đứng bên ngoài cửa đợi người nữ đi qua, ông ta rủ rê phỉnh vào pḥng, với tâm dâm dục, nói lời trêu tục thô bỉ để thoả thích dục tâm. Phật lại quở trách và kiết giới trên.

b) Thích nghĩa:

+ Nói lời thô tục về dâm dục tức là nói lời nham nhở, xấu xa, bất tịnh như diễn tả đẹp, xấu đường đại tiện, tiểu tiện…

c) Phạm tướng:

Trong giới này có tám cách phạm:

1. Tự ḿnh t́m cầu.

2. Dạy người khác t́m cầu.

3. Đặt vấn đề.

4. Giải đáp vấn đề.

5. Giải thích vấn đề.

6. Tŕnh bày vấn đề.

7. Học tập vấn đề.

8. Mạ nhục vấn đề.

Giải thích:

1. Tự ḿnh t́m cầu: Nghĩa là hăy cùng tôi giao hợp như thế này, như thế này.

2. Dạy người khác t́m cầu: Tức Tỳ-kheo nói rằng: Trời, thần đă phù hộ tôi, nên cô và tôi cùng hành sự như thế này… như thế này.

3. Đặt vấn đề: Tức hỏi hai đường của người nữ kia khi cùng với phu chủ và ngoại nhân tư thông với nhau ra sao?

4. Giải đáp vấn đề: Tức giải đáp hai đường của người nữ kia, vấn đề khi cùng với phu chủ tư thông thế nào?

5. Giải thích vấn đề: Là làm rơ vấn đề như trên đă đề cập.

6. Tŕnh bày vấn đề: Có thể đi thẳng hoặc qua ví dụ thực tế vấn đề đă nêu trên.

7. Học tập vấn đề: Chỉ vẽ hướng dẫn người nữ kia biết làm “đẹp” nhị đạo khiến cho phu chủ và người khác ngưỡng mộ, yêu dấu.

8. Mạ nhục vấn đề: Là vấn đề huỷ báng, chê bai hai đường của người nữ kia là thô kệch, xấu xa.

Đề cập những vấn đề như trên một cách lộ liễu, rơ ràng tức là phạm Tăng tàn. Không rơ ràng phạm Thô tội.

Nếu dùng tay ra dấu hiệu, viết thư, sai người, khiến cho người nữ kia biết ư đồ, phạm Tăng tàn. Không biết phạm Thô tội.

Phân tích tốt xấu chỗ nào khác ngoài hai đường trên th́ phạm Ác tác.

Hướng về giới nữ của trời, rồng, quỷ thần và kẻ lưỡng tính mà nói vấn đề trên, nếu họ biết: Mắc Thô tội. Không biết mắc Ác tác.

Hướng đến loài súc sanh cái không thể biến h́nh mà nói, phạm Ác tác.

Nếu Tỳ-kheo với ư dâm dục, nói lời thô ác, ư tưởng nói lời thô ác th́ phạm Tăng tàn.

Nghi là lời nói thô ác và chẳng phải là thô ác, ư tưởng là thô ác, hoặc lại sanh nghi đều mắc tội Thâu-lan-giá.

Người nữ hay tưởng người nữ phạm Tăng tàn. Nghi là người nữ hoặc tưởng chẳng phải người nữ và ngược lại, hoặc sanh ḷng nghi, hoặc người nữ mà tưởng là nam, nam tưởng là nữ đều phạm Thâu-lan-giá.

Người nữ này mà tưởng là người nữ khác và ngược lại đều phạm Tăng tàn.

Nếu tánh ưa nói lời thô ác mà không với tâm dâm dục th́ mắc tội Đột-kiết-la.

Tỳ-kheo-ni phạm những điều đă đề cập mắc tội Thâu-lan-giá. Ba chúng c̣n lại phạm, mắc Đột-kiết-la.

Trường hợp không phạm: V́ người nữ nói về pháp bất tịnh quán, nói Tỳ-ni, khi thuyết giảng phải đề cập vấn đề trên th́ không phạm.

Điều 4: Tỳ-kheo nào, do dục tâm dồn nén, đối trước người nữ, tự khen thân ḿnh: “Này cô! Tôi tu phạm hạnh, tŕ giới tinh tấn, tu tập thiện pháp, nên đêm pháp dâm dục ấy cung phụng tôi, sự cung phụng này là bậc nhất”: Tăng-già Bà-thi-sa.

a) Duyên khởi:

Đức Phật trú xứ giống như trước. Do Phật kiết ba giới trước cấm như vậy. Ca-lưu-đà-di nảy sinh ra cách khác. Ông lại đứng ngoài cửa chờ phụ nữ đi qua, ru rê họ vào pḥng rồi tự khen công hạnh của ḿnh để đ̣i hỏi họ cung phụng vấn đề dâm dục. Biết việc này Phật liền quở trách rồi kiết giới trên.

b) Thích nghĩa:

+ Tự khen thân ḿnh: Tức là khen tướng mạo đoan chánh, con nhà quư tộc.

+ Tu phạm hạnh: Tức là tu tịnh hạnh.

+ Tŕ giới tinh tấn: Nghĩa là không một khiếm khuyết, không ô nhiễm, không biếng nhác.

+ Tu tập thiện pháp: Tức là tu tập mười hai công đức của hạnh đầu đà, hay tụng kinh, đa văn, thuyết pháp, tŕ luật, toạ thiền… các pháp.

c) Phạm tướng: Trong giới này phạm:

Nếu trước người nữ, một lần tự khen thân ḿnh là phạm một Tăng tàn. Tuỳ theo khen thân nhiều ít, một cách lộ liễu th́ tất cả sự khen này đều phạm Tăng tàn. Nếu sự khen đó không lộ liễu rơ ràng th́ phạm Thô tội.

Nếu tự tay viết thư tín hay sai người biểu lộ ước muốn mà người nữ biết đều phạm Tăng tàn. Không biết phạm Thô tội.

Trừ hai đường, đ̣i hỏi cung phụng các chỗ khác th́ phạm Thâu-lan-giá.

Hướng về người nữ của trời, rồng, súc sanh có thể biến h́nh mà nói lời đ̣i hỏi một cách rơ ràng th́ mắc Thô tội. Không rơ ràng th́ mắc Ác tác.

C̣n hướng sự đ̣i hỏi này với phía nam giới, súc sanh th́ mắc Đột-kiết-la.

Người nữ mà tưởng là không phải người nữ, hoặc nghi và bốn chúng khác, mắc tội nặng, nhẹ, giống như giới trước.

Nếu khen mà đ̣i hỏi cúng dường nhưng không nói đến việc dâm dục, mắc Thô tội.

Trường hợp không phạm: Đến trước người nữ, khen Tỳ-kheo khác là hiền thiện rằng cô nên dùng thân, khẩu, ư nghiệp giúp đỡ cúng dường hoặc khi nói Tỳ-ni cũng tŕnh bày tượng tự, cho đến nói giỡn, hay nhầm nói th́ không phạm giới này.

Điều 5: Tỳ-kheo nào, qua lại người này, người kia làm mai mối, đem ư người nam nói với người nữ, đem ư người nữ nói với người nam, hoặc để thành việc vợ chồng hoặc để cho tư thông dù chỉ trong chốc lát: Tăng-già Bà-thi-sa.

a) Duyên khởi:

Đức Phật chế giới này lúc Ngài ở tại thành La-duyệt, nhân có Tỳ-kheo Ca-la-bổn v́ các cư sĩ đứng ra làm mai mối. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Ngài quở trách rồi kiết giới trên.

b) Thích nghĩa:

+ Đem: Hoặc tự ḿnh đem, hoặc sai người đem, tội như nhau.

+ Nói: Hoặc tự ḿnh nói, hoặc viết thư, chỉ định, ra dấu, hoặc một lần mối lái, hoặc nhiều lần mối lái khác nhau, tội là một.

+ Qua lại mối lái cả ba giai đoạn: Ban đầu nhận lời bên này kế đến sang bên kia nói lại, sau cùng báo kết quả cho nơi ban đầu.

c) Phạm tướng:

Tỳ-kheo làm đủ ba giai đoạn như vậy th́ phạm Tăng tàn. Làm hai giai đoạn mắc Thô tội. Làm một giai đoạn mắc Ác tác.

Thành vợ: Tức là thành vợ chồng. Tư thông là tạm thời cùng người ấy giao hội liền mắc Bổn tội.

Một lần mối lái là mắc một lần Tăng tàn.

Tuỳ theo sự mai mối nhiều ít, tŕnh bày rơ ràng, mỗi một lần đều mắc một tội Tăng tàn. Nói không rơ ràng th́ mắc Thô tội.

Dùng thư từ, sứ giả, ấn tín, tỏ bày qua dấu hiệu, qua lại thuyết phục đều mắc Bổn tội.

Nếu nói mà đối tượng không hiểu mắc Thô tội.

Trừ hai đường sanh dục, đề cập đến bất cứ bộ phận nào trong thân thể với mục đích mai mối đều phạm Thô tội.

Nếu mai mối cho loài nữ của trời, rồng, quỷ thần, súc sanh, biến h́nh, kẻ lưỡng tính đều mắc Thô tội. Mai mối giữa hai loại đực, cái súc sanh mắc Ác tác.

Người nữ hay tưởng người nữ đều mắc Tăng tàn. Nghi người nữ và tưởng chẳng phải là người nữ. Không phải là người nữ, tưởng không phải là nữ và nghi đều mắc Thâu-lan-giá.

Nếu đem thư người khác đi mà không kiểm soát xem lại hoặc nếu v́ bạch y làm sứ giả đều mắc Ác tác tội.

Tỳ-kheo ni làm việc mai mối như trên tội phạm giống nhau. Ba chúng c̣n lại phạm Ác tác.

Trường hợp không phạm: V́ biệt ly mà hoà hợp, vợ chồng căi lộn nhau, hoà hợp bảo sám hối, v́ cha mẹ bệnh và bị nhốt trong tù, v́ kẻ tín tâm Ưu-bà-tắc bệnh và ở trong ngục, v́ Tam Bảo, v́ Tháp, v́ Tỳ-kheo bệnh, xem thư đem đi, không phạm.

Điều 6: Tỳ-kheo nào, tự khất cất thất, không có thí chủ, tự làm cho ḿnh, cần phải làm đúng lượng. Trong đây đúng lượng là dài 12 gang tay Phật, bên trong rộng 4 gang tay Phật. Phải mời các Tỳ-kheo đến chỉ định nơi chốn. Các Tỳ-kheo ấy cần chỉ định nơi chốn, là nơi không có nguy hiểm, nơi không bị bít lối. Nếu Tỳ-kheo, nơi có nguy hiểm, nơi bị bít lối, tự khất cầu để cất thất không có thí chủ, tự làm cho ḿnh, không mời các Tỳ-kheo đến chỉ định nơi chốn, hoặc làm quá lượng: Tăng-già Bà-thi-sa.

a) Duyên khởi:

Đức Phật ở nơi thành La duyệt, trong núi Kỳ-xà-quật. ngài cho phép các Tỳ-kheo làm pḥng xá riêng để ở. Sự cho phép này được các Tỳ-kheo ở nước Khoáng-dă lợi dụng, xin nhiều cây gỗ, công thợ làm pḥng lớn riêng cho ḿnh khiến cho các cư sĩ phê trách, tránh xa. Lại có một Tỳ-kheo muốn cất pḥng xá, tự chặt cây làm mất chỗ nương tựa của thọ thần…

Khi ngài Ca-diếp đến khất thực nơi thành Khoáng-dă, các cư sĩ đều tự tránh cả. Ngài Ca-diếp hỏi ra mới biết rơ nguyên nhân vấn đề. Ngài liền đem sự việc bạch lên Phật. Đức Phật quở trách rồi kiết giới, Ngài bảo các Tỳ-kheo rằng:

Xưa kia Loa-kế phạm chí xin hạt châu của con rồng, con rồng lặn luôn không trở lại. Trong vườn ông Cấp Cô Độc, một Tỳ-kheo xin hai cánh của con chim, con chim bay luôn không đến nữa. Huống là con người mà con đ̣i hỏi nhiều nơi họ, họ không ghét, sợ sao được? Loại Tra-ba-la xuất gia làm đạo, đối với cha mẹ c̣n không dám xin, huống là xin nhiều nơi cư sĩ ư! Cầu xin không hợp lúc, cầu xin không giới hạn, cầu xin không chánh đáng đều không nên làm vậy.

b) Thích nghĩa:

+ Tự cầu: Tức là tự ḿnh xin cây gỗ và công thợ…

+ Cất thất: Hoặc tự làm, hoặc sai người làm.

+ Không có chủ: Tức là không có thí chủ.

+ Tự: Làm cho ḿnh chứ chẳng phải v́ đại chúng làm.

+ Gang: Là sải ngón tay ra. Một gang Phật bằng ba gang người thường.

+ Dài: Là bề sâu của thất, rộng: Là bề ngang của thất.

+ Chỉ: Là chỉ vẽ. Thọ: Là trao cho.

+ Chỗ hiểm nguy: là chỗ có hổ lang, sư tử, ác thú cho đến mối, chông gai, hầm hố, nước độc, đất của người ta.

+ Không bị bít lối: Là chỗ xe ḅ có thể ṿng quanh qua lại.

+ Vị Tỳ-kheo ấy phải xem xét trước, nơi không nguy hiểm, không bít lối rồi đến trước Tăng quỳ gối, chắp tay bạch:

Đại đức Tăng, xin lắng nghe, tôi Tỳ-kheo (mỗ, giáp) tự cầu xin cất thất, không có thí chủ, tự làm cho ḿnh. Nay đến xin Tăng chỗ không nguy hiểm, chỗ không bít lối” (thưa như vậy ba lần).

Chúng Tăng phải xem xét vị ấy có thể tin cậy không. Nếu có thể tin cậy th́ cho phép. Nếu không thể tin cậy, chúng Tăng nên đến chỗ đó xem kỹ lại. Nếu chúng Tăng không đến th́ sai một, hai Tỳ-kheo có thể tin cậy đến tận nơi xem xét. Nếu có nguy hiểm, hay không có bít lối th́ Tăng nên bạch nhị Yết-ma chấp thuận. Văn bạch như sau:

“Đại đức Tăng xin lắng nghe, Tỳ-kheo (mỗ, giáp) tự cầu cất thất, không có thí chủ, tự làm cho ḿnh, nay đến xin Tăng chỉ cho nơi không có nguy hiểm, không bị bít lối. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận sẽ cho Tỳ-kheo… nơi không có nguy hiểm, nơi không bít lối. Đây là lời tác bạch”.

“Đại đức Tăng xin lắng nghe, Tỳ-kheo… tự cầu xin cất thất, không có thí chủ, tự làm cho ḿnh. Nay đến xin Tăng chỉ chỗ không có nguy hiểm, không bị bít lối. Tăng nay sẽ cho Tỳ-kheo… cất thất nơi không có nguy hiểm, không bị bít lối, Trưởng lăo nào bằng ḷng cho Tỳ-kheo… cất thất chỗ không nguy hiểm, không bị bít lối th́ im lặng. Vị nào không chấp thuận xin cho ư kiến. Tăng đă chấp thuận Tỳ-kheo… cất thất nơi không có nguy hiểm, không bị bít lối. V́ im lặng, việc này tôi ghi nhận như vậy. Đây là bạch nhị Yết-ma”.

c) Phạm tướng:

Trong giới này phạm:

Hai nặng, hai nhẹ: Nếu không xin Tăng nơi chốn và làm quá lượng mắc hai tội Tăng tàn.

Chỗ cất có nguy hiểm, có bít lối: mắc hai tội Ác tác.

Sai người làm cũng mắc hai tội.

Nếu làm mà không thành mắc hai Thô tội, hai Ác tác. Nếu v́ người khác cất thành th́ mắc hai Thô tội, hai tội Ác tác. Không thành th́ mắc bốn tội Ác tác.

Nếu Tăng không chỉ chỗ hay khởi tưởng là không cầu xin chỉ chỗ th́ phạm Tăng tàn. Sanh nghi… đều mắc Thô tội. Quá lượng cũng vậy.

Nếu có ách nạn, tưởng có ách nạn và nghi… đều mắc Ác tác. Có bị bít lối cũng mắc tội như vậy.

Tỳ-kheo ni phạm như đă nêu, phạm Thâu-lan-giá. Ba chúng c̣n lại phạm tội Đột-kiết-la.

Nếu v́ Tăng, v́ Phật cất giảng đường, am bằng cỏ, am bằng lá, chỉ đủ dung thân… không phạm.

Điều 7: Tỳ-kheo nào, muốn cất tịnh xá lớn, có thí chủ làm cho ḿnh, cần phải mời các Tỳ-kheo đến chỉ định nơi chốn. Các Tỳ-kheo ấy chỉ định nơi chốn là nơi không có nguy hiểm, không có bít lối. Nếu Tỳ-kheo, nơi có nguy hiểm, nơi có bít lối, cất tịnh xá lớn, có thí chủ làm cho ḿnh, không mời các Tỳ-kheo đến chỉ định nơi chốn: Tăng-già Bà-thi-sa.

a) Duyên khởi:

Đức Phật chế giới này lúc Ngài ở nước Câu-diệm-di, sự việc như sau: Vua Ưu-điền nói với Tỳ-kheo Xiển-đà rằng: Tuỳ ư mà cát pḥng xá. Xiền-đà bèn chặt cây “Câu-luật thọ thần” lấy gỗ làm tịnh xá lớn. Cư sĩ cơ hiềm. Các Tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật quở trách rồi kiết giới trên.

b) Thích nghĩa:

+ Tịnh xá lớn có hai loại: Một là bố thí lớn, dùng nhiều cây gỗ… hai là h́nh thể lớn, làm quá hạng lượng.

+ Có chủ: Tức có người làm thí chủ.

+ Giới này khác giới trước ở chỗ là có thí chủ. Cho phép làm quá lượng.

+ Văn  tác bạch xin chỉ chỗ và văn Tăng Yết-ma chỉ đổi chữ “tịnh xá lớn” mà thôi.

c) Phạm tướng:

Vấn đề phạm tội chỉ một lần Tăng tàn hai Ác tác. Ngoài ra đều giống như giới trước.

Điều 8: Tỳ-kheo nào, v́ giận hờn ấp ủ, đối với Tỳ-kheo không phải Ba-la-di mà vu không bằng pháp Ba-la-di không căn cứ để huỷ hoại đời sống phạm hạnh của vị ấy. Về sau dù bị cật vấn hay không bị cật vấn, song sự việc ấy được biết là vô căn cứ rồi Tỳ-kheo này nói: “Tôi v́ thù hận mà nói như vậy”. Tỳ-kheo nào nói như vậy: Tăng-già Bà-thi-sa.

a) Duyên khởi:

Phật chế giới này trong lúc Ngài ở trong núi Kỳ-xà-quật. Tôn giả Đạp-bà-ma-la-tử đă chứng A-la-hán, rồi tự nghĩ nên phục vụ Tăng chúng, bèn bạch Phật ư nghĩ đó. Đức Phật sai Đạp-bà-ma-la-tử chia ngoạ cụ cho Tăng và theo thứ tự mời Tăng đi thọ thực. Nhân lúc ấy lại có Tỳ-kheo Từ-địa là bậc hạ toạ mới đến, theo thứ tự nên nhận được pḥng và ngoạ cụ loại thường. Ông bèn sanh tâm sân hận.

Ngày hôm sau, mời Tăng đi thọ thực. Từ-địa được mời đến nhà đàn việt theo sự sắp xếp tôn trọng lẫn nhau. Nghe Từ-địa đến, gia chủ trải toạ cụ thường và dọn thức ăn đạm bạc. Từ-địa rất bất b́nh, ḷng đầy sân nhuế, ôm hận…

Từ Tỳ-kheo ni là em ruột Từ-địa, được anh sai trả hận. Nhân khi Đức Phật và Tăng nhóm họp. Từ Tỳ-kheo ni vu báng Tôn giả rằng: “Đạp-bà-ma-la-tử xúc phạm tôi”.

Thế-Tôn đem vấn đề hỏi trước Tăng, dù Ngài đă biết rơ sự việc… Tôn giả thưa: “Suốt cuộc đời, kể cả trong mộng con c̣n không có việc ấy, huống chi khi thức”.

Phật bảo các Tỳ-kheo: “Có hai hạng người nhất định phải hướng vào địa ngục. Đó là: Hạng người không phải là phạm hạnh tự xưng là phạm hạnh và hạng người chơn phạm hạnh mà lại sử dụng cái phi phạm hạnh để huỷ báng vị ấy một cách vô căn cứ. Tai hại của hai người này là ở chỗ đó”.

Đức Phật quở trách rồi kiết giới đă nêu trên.

b) Thích nghĩa:

+ Giận hờn ấp ử: Giận người là sân, giận ḿnh là nhuế. V́ sân nhuế nên ḷng bị che lấp lẽ phải giữa ta và tha nhân và cũng từ đó tạo ra sự phỉ báng.

+ Tỳ-kheo không phải Ba-la-di: Tức không phạm vào bốn tội khí lại sử sụng pháp phi Ba-la-di không căn cứ để vu báng.

+ Căn cứ ba nghĩa: Là kiến, văn, nghi.

-Kiến là do mắt thấy, thấy vị ấy phạm bốn tội Khí.

-Văn là do tai nghe, nghe biết vị ấy phạm bốn tội Khí hoặc nghe từ người khác nói.

-Nghi là nghi vấn, đặt vấn đề. Có hai loại nghi: Do thấy sanh nghi tức thấy vị ấy cùng với người nữ ra vào, loă thân; tay cầm dao cùng người ác kết bạn… Do nghe sanh nghi: Nghe tiếng giường kêu, tiếng chuyển ḿnh, tiếng th́ thầm, tiếng giao hội, nghe trộm năm tiền. Nghi vị ấy nói: “Tôi đặng pháp thượng nhân”.

+ Nếu không hội đủ ba căn cứ này tức là vô căn báng. Do dùng ác pháp vô căn cứ này mà tung ra huỷ báng cho nên gọi là vô căn báng.

+ Về sau tức là thời điểm sau khi huỷ báng xảy ra rồi.

+ Người kia tức chỉ cho người sân nhuế.

+ Có người gạn hỏi, hay không gạn hỏi, tự biết việc phỉ báng của ḿnh là vô căn cứ, tâm sanh hối hận, mong cầu sự thanh tịnh rồi tự thân phát lồ, nói với người khác rằng: “Tôi v́ thù hận mà nói như vậy, chứ chẳng phải vị kia có phạm”.

c) Phạm tướng:

Đă có sự huỷ báng thiếu căn cứ th́ liền mắc Bổn tội, không phải do v́ đă bộc lộ ăn năn mà tránh khỏi được tội này.

Không luận người kia thanh tịnh hay không thanh tịnh, đă không hội đủ ba yếu tố trên mà vọng nói tội người kia một cách trắng trợn th́ phạm Tăng tàn. C̣n vọng nói không rơ ràng mắc Thâu-lan-giá.

Hoặc lúc đầu có căn cứ, sau quên căn cứ, vọng huỷ báng có căn cứ, mắc tội giống như trước.

Nếu dùng thư từ, sứ giả hay dùng dấu ấn hoặc sự tác động nhận biết qua biểu tướng để huỷ báng, có rơ ràng hay không rơ ràng tội đều giống như thế.

Trừ bốn tội Khí, dùng bảy giá tội hoặc dùng tất cả các pháp không đúng sự thật mà huỷ báng, tội cũng giống như vậy.

Nếu dùng tám tội Khí huỷ báng Tỳ-kheo ni, phạm tội giống như trên.

Huỷ báng người khác mắc tội Ác tác.

Tỳ-kheo ni đồng phạm, tội giống như Tỳ-kheo.

Ba chúng c̣n lại phạm, mắc tội Ác tác.

Trường hợp không phạm: Có căn cứ kiến, văn, nghi, nói đúng sự thật, nói giỡn, nhầm nói… không phạm.

Điều 9: Tỳ-kheo nào, v́ giận hờn, dựa lấy tiểu tiết trong phận sự khác, đối với Tỳ-kheo không phải là Ba-la-di mà vu không bằng pháp Ba-la-di không căn cứ, muốn huỷ hoại đời sống phạm hạnh của người ấy. Về sau, dù bị cật vấnhay không bị cật vấn, sự việc ấy được biết là dựa lấy tiểu tiết trong phận sự khác, Tỳ-kheo này tự nói rằng: “Tôi v́ hận thù nên nói như vậy.” Tỳ-kheo nào nói như vậy: Tăng-già Bà-thi-sa.

a) Duyên khởi:

Đức Phật chế giới này tại trú xứ chế giới trước. Chuyện xảy ra cũng lại do Từ-địa Tỳ-kheo: Ông ta từ trên núi Linh Thứu đi xuống, thấy con dê đực lớn cỡi dâm con dê mẹ. H́nh ảnh này khiến cho Từ-địa có sự liên hệ so sánh độc ác: Dê đực là Tôn giả Đạp-bà và dê mẹ là Từ Tỳ-kheo ni. Trước đây huỷ báng vô căn cứ, nay th́ chính mắt ông ta trông thấy chúng như thế…

Trước sự rêu rao này, các Tỳ-kheo cật vấn Từ-địa… Ông ta lại bảo: Sự việc tương tợ so sánh thôi. Các Tỳ-kheo bạch Phật và Phật kiết giới trên.

b) Thích nghĩa:

+ “Phận sự khác là thế nào?”. Nghĩa là từ trong phận sự riêng biệt rút lấy một mẫu nhỏ tương tợ cùng loài để  huỷ báng. Như sự việc duyên khởi cho thấy từ hai sự kiện khác nhau: Người và dê hay nam, nữ và đực, cái. Từ-địa lấy ra một phần tương tợ mà giữa hai loài đều có để rồi nhân h́nh ảnh dê đực cỡi dâm dê cái thành cái h́nh ảnh của Tôn giả Đạp-bà và Từ Tỳ-kheo ni. V́ sân nhuế mà có sự huỷ báng và Từ-địa huỷ báng tôn giả Đạp-bà la dễ hiểu vậy.

Có thể lấy một phần sự kiện tương tợ khác để huỷ báng, chẳng hạn thấy người kia cùng với người nữ nói, cười rồi huỷ báng người kia phạm Ba-la-di. Hoặc người nào đó tập trung vật phấn tảo, giết súc sanh, thuyết được pháp Thượng nhân rồi huỷ báng quy kết phạm ba-la-di. Rơ ràng cười, nói, tập trung, giết súc vật… là một phần tiểu tiết của “phận sự khác”. Đến cả thấy người kia phạm Tăng tàn, phạm Đột-kiết-la, Ác thuyết rồi huỷ báng người kia phạm trọng tội. Đây cũng gọi là điều thủ phiến vậy.

c) Phạm tướng:

Trong giới này phạm là:

Hoặc tương tợ, đồng tên đồng họ, tướng mạo giống nhau, lấy người này huỷ báng người kia. Hoặc thấy nghe người kia khi c̣n tại gia phạm việc như vậy, nay lấy đó để huỷ báng. Nói chung, tất cả các cách huỷ báng bằng cách này, nói rơ ràng hay không rơ ràng, mắc tội nặng nhẹ, có phạm hay không phạm đều giống như giới trước.

Điều 10:Tỳ-kheo nào, muốn phá hoại hoà hiệp Tăng, tiến hành phá hoà hiệp Tăng, chấp chặt pháp phá hoại hoà hiệp Tăng, kiên tŕ không bỏ. Các Tỳ-kheo nên can gián Tỳ-kheo này rằng: “Đại đức chớ phá hoà hiệp Tăng, chớ tiến hành phá hoại hoà hiệp Tăng, chớ chấp chặt pháp phá hoại hoà hiệp Tăng, kiên tŕ không bỏ. Đại đức nên cùng Tăng hoà hợp. V́ cùng Tăng hoà hợp, hoan hỷ, không tranh chấp, đồng học một thầy, hoà hợp như sữa với nước, th́ ở trong Phật pháp mới có sự tăng ích, sống an lạc”. Tỳ-kheo ấy khi được can gián như vậy, vẫn kiên tŕ không bỏ, các Tỳ-kheo nên can gián ba lần cho bỏ sự ấy. Cho đến ba lần can gián, bỏ th́ tốt, nếu không bỏ: Tăng-già Bà-thi-sa.

a) Duyên khởi:

 Đức Phật chế giới này tại trú xứ trước. Sự việc xảy ra như sau; Đề-bà-đạt-đa, em chú bác với Phật, theo Phật xuất gia. V́ lợi căn thông minh học được thần thông, hoá phục được Thái tử A-xà-thế tin theo. Ngoài Phật ra, Đề-bà được sự cúng dường lớn tuy không bằng Phật, tâm sanh kiêu ngạo, ganh ghét, liền mất thần thông. Đề-bà nuôi riêng đồ chúng rồi đến bạch đức Thế-Tôn, cầu Phật trao phó quyền lănh chúng. Nhân đó, Phật quở trách, tâm Đề-bà đâm ra bất măn, sai người hại Phật nhưng không thành. Ông ta lại làm quân sư cho A-xà-thế giết vua cha. Chính ông, đích thân lên núi, rồi từ xa ném đá Đức Thế-Tôn. Tiếng xấu ác đồn khắp, lợi dưỡng bị cắt đứt. Ông ta toa rập nhóm năm người của ông đến nhà khất thực. Phật cấm chỉ không được biệt chúng thực. Ḷng ông càng phẫn nhuế, oán thề: “Đức Thế-Tôn cắt đứt sự sống của con người. Thà ta phá nát Tăng luân để sau khi chết c̣n được nổi tiếng”. Ông cùng với bốn Tỳ-kheo kết bạn tâm đắc, đề ra năm pháp sau đây để dạy các Tỳ-kheo:

1. Trọn đời ăn xin.

2. Mặc áo phấn tảo.

3. Ngồi nơi đất trống.

4. Không ăn muối, sữa.

5. Không ăn thịt cá.

Các tân Tỳ-kheo vô trí tin theo. Sự việc này được các Tỳ-kheo bạch lên Phật. Phật nói: Phá hoà hiệp Tăng phạm đại trọng tội, một kiếp thọ khổ trong địa ngục không thể cứu được. Sau khi quở trách, Ngài khiến Tăng bạch tứ Yết-ma, tác pháp “Ha gián, tiếp đến Ngài kiết giới trên.

b) Thích nghĩa:

+ Hoà hợp: Là không biệt chúng, đồng một Yết-ma, đồng một thuyết giới.

+ Tăng tức là chúng: Phải từ bốn đến vô số Tỳ-kheo. Ba người không được gọi là Tăng. Bảy người không được gọi là phá Tăng, phải tám người trở lên, chia ra làm hai phía mới gọi là phá Tăng. Phá Tăng có hai loại:

1. Phá Yết-ma Tăng nghĩa là trong cùng một phạm vi cương giới lại Yết-ma Bố-tát riêng.

2. Phá pháp Tăng luân phải từ chín người trở lên trong đó có một người tự xưng là Phật. Chế lập giáo pháp cho bên trong và bên ngoài giới. Dạy chúng Tăng bỏ thánh đạo theo tà đạo.

+ Phá Tăng có 18 sự:

1. Pháp nói là phi pháp.

2. Phi pháp nói là pháp.

3. Luật nói là phi luật.

4. Phi luật nói là luật.

5. Phạm nói không phạm.

6. Không phạm nói phạm.

7. Khinh nói là trọng.

8. Trọng nói là khinh.

9. Tội sám hối được nói không sám hối được.

10. Tôi không sám hối được nói sám hối được.

11. Tội thô ác nói là phi thô ác.

12. Tội phi thô ác nói là thô ác.

13. Thường sở hành nói là phi thường sở hành (Chánh pháp nói là phi Chánh pháp).

14. Phi thường sở hành nói là thường sở hành (Phi Chánh pháp nói là Chánh pháp).

15. Chế cấm nói phi cấm.

16. Phi chế cấm nói là chế cấm.

17. Thuyết nói là phi thuyết.

18. Phi thuyết nói là thuyết.

+ Có trường hợp rút thăm để phá hay hành trù để phá.

+ Dùng phương tiện thọ pháp để phá hoà hiệp Tăng nghĩa là khuyến dụ bạn bè mượn 18 sự làm phương tiện để phá Tăng.

+ Kiên tŕ không bỏ nghĩa là chấp chặt 18 tà tôn, không chịu xả bỏ.

+ Tỳ-kheo kia nghĩa là người giữ ǵn Chánh pháp phải can gián riêng vị Tỳ-kheo phá Tăng này rằng: “Đại đức chính là người phá Tăng, song chắc chắn không một ai có thể phá được sự hoà hợp này của Tăng! Nếu quyết phá, nhất định đoạ vào địa ngục nhận lấy một kiếp khổ đau. C̣n gác bỏ phá Tăng cùng hoà hợp sống với nhau không những không đoạ địa ngục mà c̣n trụ vững trong an lạc, trong sự tăng trưởng lợi ích nữa”.

Đă có sự can gián riêng như thế, song Đại đức kia vẫn ngoan cố giữ chặt tà pháp không bỏ th́ vị Tỳ-kheo này nên đủ ba lần can gián tức là một lần bạch ba lần Yết-ma để can gián.

c) Phạm tướng:

Vị Tỳ-kheo kia đă can gián rằng: “Đại đức đă rơ, chỉ ở trong Phật pháp mới có sự tăng ích và an lạc, đừng v́ một lẽ ǵ mà Đại đức nhẫn tâm phá hoà hiệp Tăng. Đại đức nên bỏ việc này, đừng để Tăng tác pháp ha gián mà phạm trọng tội”.

Nếu vị ấy nghe theo th́ tốt, c̣n không nghe theo th́ vị Tỳ-kheo kia nhờ đến: Hoặc vua, đại thần, kẻ dị đạo hoặc các tri thức. Với uy tín của bốn hạng người này sẽ thuyết phục và khuyến dụ được vị Đại đức đó nghe theo. Nếu có nghe theo th́ càng tốt, c̣n không th́ Tăng phải tác pháp can gián. Tuy đă tác pháp can gián rồi song phải tiếp tục tha thiết cần cầu: “Đại đức hăy v́ Tăng! Tăng đă tác bạch rồi, Tăng sẽ tác Yết-ma. Đại đức nên bỏ việc này, đừng để Tăng v́ Đại đức tác Yết-ma, lại phạm trọng tội”. Nếu vị ấy nghe theo th́ tốt, không nghe theo nên Yết-ma lần thứ nhất rồi lần thứ hai. Trong hai lần Yết-ma, lần nào rồi cũng phải cần cầu, tha thiết nói như trên. Nếu vị ấy không chịu bỏ, Yết-ma lần thứ ba… không kết quả, phạm tội Tăng tàn.

Tác pháp hai lần Yết-ma mới bỏ th́ phạm ba Thô tội.

Tác pháp một lần Yết-ma rồi mới bỏ th́ phạm hai Thô tội.

Tác bạch rồi mới bỏ phạm một Thô tội.

Vừa bạch chưa xong bỏ, phạm một Đột-kiết-la.

Tất cả khi chưa bạch: bằng mọi phương tiện phá hoà hiệp Tăng, kiên tŕ bám phá Tăng, pháp không bỏ. Tất cả đều phạm Đột-kiết-la.

Nếu khi Tăng tác pháp ha gián có Tỳ-kheo nào bảo: “Đừng bỏ”. Vị ấy mắc Thô tội.

Chưa tác pháp ha gián mà bảo: “Đừng bỏ” th́ mắc Ác tác.

Tỳ-kheo ni bảo th́ đồng phạm. Ngoài ra, các người khác bảo như vậy đều phạm Ác tác.

Trường hợp không phạm: Mới can gián bèn bỏ. Tăng tác Yết-ma phi pháp, phi luật, phi Phật giáo. Nếu tất cả chưa tác pháp ha gián. Nếu v́ phá bạn ác và Yết-ma phi pháp phi luật… th́ không phạm.

Luật thập Tụng nói: Không dùng lời nhu nhuyến, cần cầu tha thiết nói trước bèn bạch tứ Yết-ma, người tác Yết-ma mắc tội Đột-kiết-la. Chưa bạch tứ Yết-ma mà tẫn xuất, vị tác Yết-ma mắc tội Đột-kiết-la. Chưa cần cầu can gián riêng ba lần lại biệt thỉnh người ở trong giới tác pháp Yết-ma mắc tội Thâu-lan-giá.

Luật Tăng Kỳ nói: Với tâm sân nhuế đập bát, xé y, phá tháp, phá pḥng Tăng, phá giới (cương giới) đều mắc tội Thâu-lan-giá.

Điều 11: Tỳ-kheo nào có bè đảng, từ một hoặc hai, hoặc ba đến vô số Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo bè đảng ấy nói với chúng Tỳ-kheo rằng: “Đại đức chớ can gián Tỳ-kheo ấy. Tỳ-kheo ấy là Tỳ-kheo nói đúng pháp. Tỳ-kheo ấy là Tỳ-kheo nói đúng luật. Những điều Tỳ-kheo ấy nói chúng tôi ưa thích. Những điều Tỳ-kheo ấy nói chúng tôi chấp nhận”. Chúng Tỳ-kheo nên can gián các Tỳ-kheo bè đảng ấy rằng: “Đại đức chớ nên nói như vậy. Tỳ-kheo ấy là Tỳ-kheo nói đúng pháp. Tỳ-kheo ấy là Tỳ-kheo nói đúng luật. Những điều Tỳ-kheo ấy nói chúng tôi ưa thích. Nhũng điều Tỳ-kheo ấy nói chúng tôi chấp nhận, nhưng Tỳ-kheo ấy là Tỳ-kheo nói phi pháp, là Tỳ-kheo nói phi luật. Đại đức chớ phá hoại hoà hiệp Tăng. Các ngài nên hoan hỷ hoà hiệp Tăng. Đại đức cùng Tăng hoà hiệp, hoan hỷ không tranh chấp, đồng một thầy học, hoà hiệp như sữa với nước, ở trong Phật pháp mới có sự tăng ích, sống an lạc”. Các Tỳ-kheo bè đảng được can gián như vậy mà kiên tŕ không bỏ, chúng Tỳ-kheo nên can gián ba lần cho bỏ việc ấy. Cho đến ba lần can gián, bỏ th́ tốt nếu không bỏ: Tăng-già Bà-thi-sa.

a) Duyên khởi:

Đức Phật vẫn ở tại trú xứ Kỳ-xà-quật. Sự việc như sau: Bè đảng của Đề-bà-đạt-đa bằng mọi phương tiện hỗ trợ phá hoà hiệp Tăng. Các ông ấy nói với các Tỳ-kheo rằng: “Ngài đừng quở trách những lời Đề-bà-đạt-đa nói. Đề-bà-đạt-đa nói là pháp ngữ, là luật ngữ, chúng tôi chấp nhận”. Các Tỳ-kheo đem lời nói này lên bạch Phật. Phật khiến Tăng bạch tứ Yết-ma tác pháp ha gián rồi kiết giới trên.

b) Thích nghĩa:

+ Pháp ngữ: Là nói tạng Kinh (Tu-đa-la). Pháp ngữ c̣n có nghĩa là ngôn từ, lư luận chặt chẽ, đầy đủ.

+ Luật ngữ: Là nói tạng Luật . Luật ngữ c̣n có nghĩa là giải thích, cân nhắc vấn đề nhẹ, nặng, khai, giá một cách chính xác.

Lại nữa, Pháp ngữ là nói về nghĩa vô sanh. Luật ngữ là tŕnh bày rơ ràng cách chế ngự ba độc.

c) Phạm tướng:

Các tướng trạng phạm tội này chuẩn theo giới mà suy xét.

Điều 12: Tỳ-kheo nào sống nương tựa xóm làng hay thành ấp mà làm hoen ố nhà người, mọi người đều thấy đều nghe. Hành vi xấu mọi người đều thấy đều nghe. Các Tỳ-kheo nên nói với Tỳ-kheo ấy rằng: “Đại đức là người làm hoen ố nhà người, có hành vi xấu. Sự làm hoen ố nhà người mọi người đều thấy, đều nghe. Hành vi xấu mọi người đều thấy đều nghe. Đại đức, ngài làm hoen ố nhà người, có hành vi xấu, nay nên lánh xa xóm làng này không nên sống ở đây nữa!”. Tỳ-kheo ấy nói với các Tỳ-kheo rằng: “Đại đức, các Tỳ-kheo có thiên vị, có thù nghịch, có sợ hăi, có bất minh. V́ có Tỳ-kheo đồng tội như vậy mà có người bị đuổi, có người không bị đuổi”[2]. Các Tỳ-kheo nên trả lời Tỳ-kheo ấy rằng: “Đại đức chớ nên nói rằng: Các Tỳ-kheo có thiên vị, có thù nghịch, có sợ hăi, có sợ hăi, có bất minh, v́ có Tỳ-kheo đồng tội như vậy mà có người bị đuổi, có người không bị đuổi. Nhưng các Tỳ-kheo không có thiên vị, không có thù địch, không có sợ hăi, không có bất minh. Mà v́ Đại đức là người làm hoen ố nhà người, có hành vi xấu. Sự làm hoen ố nhà người, mọi người đều thấy, đều nghe. Hành vi xấu mọi người đều thấy đều nghe”. Tỳ-kheo ấy được can gián như vậy, mà kiên tŕ không bỏ; các Tỳ-kheo nên can gián ba lần cho bỏ việc ấy. Cho đến ba lần can gián, bỏ th́ tốt, nếu không bỏ: Tăng-già Bà-thi-sa.

a) Duyên khởi:

Đức Phật chế giới này lúc Ngài ở nơi vườn Cấp Cô Độc. Khi ấy, có hai Tỳ-kheo trú tại ấp Kỳ Liên:

Một vị tên là Thấp-bà, một vị tên là Phú-na-bà-sa. Hai ông hành xử không đúng pháp; Đích thân trồng bông, tưới bông, hái bông, kết thành tràng hoa rồi tự tay trao cho người. Chưa hết, lại cùng phụ nữ ngồi một giường, đồng ăn một bát đến cả cùng ca hát, múa may, chơi giỡn, bông đùa…

Một hôm, ấp Kỳ Liên có các Tỳ-kheo đến khất thực oai nghi tề chỉnh, trang nghiêm nhưng bị các cư sĩ phản đối cho là việc làm quấy, không dâng cúng thức ăn. Các Tỳ-kheo hỏi ra mới vỡ lẽ và bạch lên Phật đầy đủ sự việc.

Đức Phật bảo hai ngài Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên đến đó tác pháp Yết-ma khu tẫn. Hai Tôn giả vâng lời Phật về ấp Kỳ Liên đến chỗ Tăng họp nêu tội hai vị ấy rồi tác ức niệm; tác ức niệm rồi bạch tứ Yết-ma hành tẫn. Hai vị Thấp-bà và Phú-na không tuân theo, nói:

Chúng Tăng có ái, có nhuế, có bố, có si, có Tỳ-kheo đồng tội, có người bị đuổi, có người không bị đuổi, sao lại đuổi chúng tôi?

Hai Tôn giả trở lại bạch Phật. Phật khiến Tăng bạch tứ Yết-ma tác ha gián rồi kiết giới trên.

b) Thích nghĩa:

+ Nơi có đường sá, có người ở gọi là tụ. Ngoài tụ gọi là lạc, gọi chung là xóm làng.

+ Chỗ vua ở gọi là thành ấp.

+ Nương: Là nương nơi đó mà sống.

+ Nhà người: Là nhà của nam nữ ở.

+ Hoen ố nhà người: Là làm hoen ố nhà người có tiếng tăm, trong sạch.

+ Dùng một vật ǵ trao tặng: Người được trao tặng th́ ái kính, người không được trao tặng th́ không có ḷng ái kính. Như vậy tức là tấm ḷng kính tín của người tịnh tín bị ta làm hoen ố. Có bốn loại làm hoen ố nhà người:

- Một là y gia ô gia (được vật một nhà đem cho một nhà).

- Hai là lợi dưỡng ô gia (dùng y bát, lợi dưỡng dư thừa cho cư sĩ).

- Ba là y thân hữu ô gia (nương nơi thế lực vua quan quen biết can thiệp cho cư sĩ).

- Bốn là nương nơi Tăng già làm ô gia (dùng phẩm vật bông, trái của chùa cho cư sĩ).

+ Hành ác hạnh: Tức là hoạt động không phải oai nghi như Thấp-bà, Phú-na tự tay trồng bông, chơi giỡn, chung vạ với kẻ tục nam nữ.

+ Các Tỳ-kheo: Là chỉ cho những người tŕ giới.

+ Nói như vầy: Tức là lời can gián.

+ Tỳ-kheo ấy: Là chỉ cho người phi pháp.

+ Nay nên lánh xa xóm làng này, không nên ở đây là lời xua đuổi vậy.

+ Câu nói: “Các Tỳ-kheo có nhuế, ái, bố, si cho đến có người không bị đuổi” là lời không phục tùng vấn đề xua đuổi vậy.

+ Câu: “Các Tỳ-kheo trả lời: Đừng nói như vậy cho đến cũng thấy, cũng nghe” là lời can riêng. Tam gián là trước Tăng tác pháp tam Yết-ma.

+ Không bỏ là văn kết tội.

c) Phạm tướng:

Trong giới này phạm là:

Tỳ-kheo nương ở nơi tụ lạc làm hoen ố nhà người cho đến cũng thấy, cũng nghe. Các Tỳ-kheo nên can gián như trên, rồi mới nói: Đại đức nên bỏ việc ấy, đừng để Tăng ha gián, lại phạm trọng tội. Nên ở trong Tăng, một lần bạch, ba lần Yết-ma. Mỗi lần bạch hay Yết-ma xong, nên nói tha thiết cần cầu cho vị ấy bỏ. Nếu không nghe lời cho đến Yết-ma lần thứ ba mắc tội Tăng tàn. Ngoài ra, mắc tội nhẹ, nặng, đều đồng như giới trước.

Nếu trước khi chưa tác bạch mà nói: Tăng có ái, nhuế, bố, si tất cả đều phạm Đột-kiết-la.

Nếu có lư do đối với cha mẹ, người bệnh, trẻ con, người có thai, người trong ngục tù không phạm ô tha gia. Nếu v́ cúng dường Tam Bảo dạy người trồng bông, làm tràng hoa phải trao đổi chỉ bày mà tới lui, không phạm ác hành.

Điều 13: Tỳ-kheo nào, có tánh ngoan cố, không nghe người khuyên, đă được các Tỳ-kheo khuyên can như pháp những điều trong học giới. Tự thân không nhận lời can gián, lại nói: “Các Đại đức chớ nói với tôi điều ǵ hoặc tốt, hoặc xấu, tôi cũng không nói với các Đại đức điều ǵ hoặc tốt, hoặc xấu. Các Đại đức hăy thôi chớ can gián tôi”. Các Tỳ-kheo can gián Tỳ-kheo ấy rằng: “Đại đức, chớ tự thân không nhận lời can gián. Đại đức hăy tự thân nhận lời can gián. Đại đức như pháp can các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo cũng như pháp can gián Đại đức. Như vậy, chúng đệ tử Phật được tăng ích, can gián lẫn nhau, chỉ bảo cho nhau, phát lồ với nhau”. Tỳ-kheo ấy được can gián như vậy, kiên tŕ không bỏ, các Tỳ-kheo nên ba lần can gián cho bỏ sự ấy; cho đến ba lần can gián, bỏ th́ tốt, nếu không bỏ: Tăng-già Bà-thi-sa.

a) Duyên khởi:

Lúc bấy giờ, Đức Phật ở nước Câu-diệm-di. Có sự việc sau: Tỳ-kheo Xiển-đà v́ ác tánh, không nhận lời khuyên của mọi người. Các Tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật bảo Tăng tác Yết-ma ha gián, rồi kiết giới trên.

b) Thích nghĩa:

+ Như pháp can gián: Tức là khuyên can như pháp, như luật, như lời Phật dạy. Gián nghĩa là ngăn việc vô ích. Giáo là cho có được lợi ích. Hối là bỏ ác tu thiện.

c) Phạm tướng:

Giới này phạm căn cứ vào giới trước để xét định.

Kết vấn:

Các Đại đức, tôi đă tụng xong mười ba pháp Tăng-già Bà-thi-sa. Chín giới đầu, lần đầu làm là phạm; bốn giới sau cho đến ba lần can gián. Tỳ-kheo nào phạm bất cứ một pháp nào, biết mà che giấu, cần phải cưỡng bức cho Ba-lợi-bà-sa. Hành Ba-lợi-bà-sa xong, cho thêm sáu đêm Ma-na-đoả. Hành Ma-na-đoả xong, c̣n phải xuất tội. Cần phải giữa Tăng gồm hai mươi vị để xuất tội Tỳ-kheo ấy. Nếu thiếu một vị, không đủ chúng hai mươi người mà xuất tội Tỳ-kheo, th́ tội của Tỳ-kheo ấy không được trừ, các Tỳ-kheo cũng bị khiển trách. Như thế là hợp thức.

Nay hỏi các Đại đức trong đây có thanh tịnh không? (ba lần)

Các Đại đức trong đây thanh tịnh. V́ im lặng. Việc ấy tôi ghi nhận như vậy.

Giải thích ư nghĩa:

+ Chín giới lần đầu làm là phạm: Tức là chín giới đầu khi làm là phạm tội này, chớ không đợi người khác can gián mới thành tội phạm.

+ Đối với bốn giới sau, đều có sự can gián: Có đến ba lần can gián, ba lần tác bạch Yết-ma can gián xong mới thành tội phạm.

+ Phạm bất cứ một pháp nào: Tức là đối với mười ba pháp, nếu phạm một pháp.

+ Biết mà che giấu: Là trong tâm biết ḿnh có phạm mà cố tâm che giấu không chịu đến người khác phát lồ.

+ Phải cưỡng bức cho Ba-lợi-bà-sa: Cưỡng là sự áp đặt dù không vui ḷng.

+ Ba-lợi-bà-sa: Là dịch âm, nghĩa là biệt trụ, nghĩa là tuỳ thời gian người kia che giấu bao nhiêu, Tăng bắt họ phải ở riêng bấy nhiêu mặc dù họ không ưa thích.

+ Hành Ba-lợi-bà-sa rồi: Tức là che giấu bao nhiêu ngày phải thi hành biệt trú bấy nhiêu ngày.

+ Trong khoảng thời gian đó không tái phạm, phụng hành đúng như pháp rồi cho thêm sáu đêm Ma-na-đoả.

+ Ma-na-đoả: Là dịch âm, dịch nghĩa là ư hỷ (ḷng vui) nghĩa là hành biệt trụ rồi lại phải thi hành thêm sáu đêm ư hỷ nữa. Khi hành pháp này tội được thanh tịnh, tự tâm hoan hỷ, cũng làm cho Tăng chúng hoan hỷ.

+ Tăng biết người này ăn năn, hối hận, không phát sanh phiền năo trở lại, thành người thanh tịnh, mới cho họ xuất tội… Nếu không che giấu th́ khỏi phải hành biệt trụ mà đi ngay vào việc thi hành sáu đêm ư hỷ.

+ V́ ngày gồm trong đêm nên chỉ gọi là sáu đêm Ma-na-toả.

+ Hành sáu đêm Ma-na-đoả xong tức đạt được thời gian không bị phá hỏng th́ mới cho xuất tội.

+ Phải đủ hai mươi vị Tỳ-kheo mới xuất tội ấy được. Nếu thiếu một người th́ tác pháp không thành. Tội người kia cũng không được diệt trừ, c̣n Tăng th́ chiêu lấy việc làm phi pháp.

+ Hợp thức tức là thi hành đúng pháp xuất tội vậy.

 

k

 



[1] Kiền độ là dịch âm, có nghĩa là pháp tụ, tức là những pháp cùng loại tương đồng th́ gom lại một.

[2] Có ái nên không đuổi. Có nhuế nên mới đuổi. Có sợ nên không dám đuổi. Có si nên không biết nên đuổi hay không đuổi. Do đồng phạm tội kẻ bị đuổi, người không.