TỲ KHEO GIỚI BỔN SỚ NGHĨA

QUYỂN HẠ

Hải Tràng Từ Tổ, Sa-môn TRUYỀN NGHIÊM thuật và đúc kết

 

 

CHƯƠNG VI

BA LA ĐỀ ĐỀ XÁ NI

 

 

Chương này có bốn giới Ba-la-đề-đề-xá-Ni. Ba-la-đề-đề-xá-Ni là dịch âm từ phạn ngữ. Nguyên bản Hán văn không phiên dịch nghĩa là ǵ. Tuy nhiên, căn cứ vào hàm nghĩa của Điều giới th́ Ba-la-đề-đề-xá-Ni là hướng về người để sám hối, nghĩa là, nếu phạm tội này th́ phải mời Đại đức khác để phát lồ sám hối và xin được quở trách.

Điều 1: Tỳ-kheo vào thôn xóm, nếu không bệnh mà tự tay nhận thức ăn từ Tỳ-kheo-Ni không phải thân quyến và ăn; Tỳ-kheo ấy cần phải đối trước Tỳ-kheo khác mà phát lồ rằng: “Bạch đại đức, tôi phạm pháp đáng khiển trách, làm Điều không đáng làm. Nay đối trước Đại đức xin phát lồ sám hối”. Đây là pháp Hối quá.

a) Duyên khởi;

Đức Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc. Lúc bấy giờ, mùa màng bị mất mát, nên việc khất thực khó nhận được. Liên Hoa Sắc Tỳ-kheo-Ni, liên tiếp ba ngày, khất thực rồi đem cúng hết cho Tỳ-kheo, đến nỗi đói lả, té xỉu bên đường.

Trên đường qua, trưởng giả dừng xe hỏi và biết sự việc. Ông ta hiềm trách Tỳ-kheo không biết điều nghĩa để chia sẻ cho nhau. Ni được mời về nhà, trưởng giả cho giặt giũ y và cúng dường…

Các Tỳ-kheo bạch Phật và Ngài kiết giới như sau: “Nếu Tỳ-kheo vào trong thôn, tự nhận thức ăn của Tỳ-kheo-Ni và ăn. Tỳ-kheo ấy nên đến Tỳ-kheo khác nói: thưa Đại đức, tôi phạm pháp đáng quở trách, làm điều chẳng đáng làm, nay đến trước Đại đức xin phát lồ sám hối. Đây gọi là pháp hối quá”.

Từ điều giới này, khiến các Tỳ-kheo có điều nghi nên không dám nhận thức ăn từ Tỳ-kheo-Ni thân quyến. Phật dạy: “cho phép nhận”.

Lại có Tỳ-kheo bệnh không dám nhận thức ăn từ Tỳ-kheo-Ni không phải thân quyến. Phật dạy: “Cho phép Tỳ-kheo bệnh được nhận”.

Các Tỳ-kheo vẫn c̣n nghi, nên không dám nhận thức ăn được đặt trên đất, không phải của Tỳ-kheo-Ni thân quyến, và cũng không dám nhận thức ăn qua trung gian người nhận trao lại. Phật dạy: “Cho phép nhận thức ăn như vậy”. Phật kiết giới lại thêm câu: “Tỳ-kheo-Ni không phải thân quyến, nếu không tự nhận thức ăn” vào chánh văn.

b) Thích nghĩa:

Duyên khởi đă làm rơ nghĩa.

c) Phạm tướng:

Bốn chúng phạm đều mắc Ác tác.

Nếu cho nơi chùa Tăng, hoặc người ngoài thôn cho, hay cho tại chùa Ni, không phạm.

Điều 2: Nếu Tỳ-kheo ăn trong nhà bạch y, trong đó có một Tỳ-kheo-Ni, chỉ bảo rằng: “mang canh cho vị này, dâng cơm cho vị kia”. Các Tỳ-kheo nên nói với Tỳ-kheo-Ni ấy rằng: “Này sư cô, hăy thôi. Hăy để cho các Tỳ-kheo thọ thực”, nếu không có một Tỳ-kheo nào nói với Tỳ-kheo-Ni rằng: “này cô hăy thôi. Hăy để yên cho các Tỳ-kheo thọ thực”, th́ các Tỳ-kheo này cần đối trước một Tỳ-kheo khác mà phát lồ rằng: “Bạch Đại đức, tôi phạm pháp đáng khiển trách, làm điều không đáng làm. Nay đối trước Đại đức, xin phát lồ sám hối”. Đây gọi là pháp Hối quá.

a) Duyên khởi:

Đức Phật ở tại trú xứ như giới trước. Các Tỳ-kheo cùng với Lục quần thọ trai ở nhà bạch y. Lúc ấy, Lục quần Ni v́ Lục quần đ̣i cơm, canh, chỉ vẽ lăng xăng: “Mang canh đến cho vị này, mang cơm đến cho vị kia”, bỏ qua các vị ngồi giữa, thậm chí vượt cả thứ lớp mà sớt canh, cơm, khiến cho các vị ngồi ở đoạn giữa không thể ăn được. V́ thế đức Phật kiết giới trên.

b) Thích nghĩa:

+ Chỉ bảo, tức là chỉ vẽ chỗ để phân chia.

+ Cho, có nghĩa không cho b́nh đẳng.

+ Hăy thôi! Là lời quở trách bảo thôi đi.

+ Thôi đi, có nghĩa là dừng lại một chút để đợi các thầy Tỳ-kheo ăn xong.

+ Nếu không có Tỳ-kheo nào, nghĩa là trong chúng cho đến không có người nào quở trách cô Ni ấy thôi chỉ bảo.

c) Phạm tướng:

Nếu trong chúng không có ai quở trách Ni thôi chỉ bảo th́ các Tỳ-kheo có mặt trong bữa ăn đều phạm Bổn tội.

Nếu Ni là đàn việt, hoặc đàn việt nhờ Ni phân chia, hoặc chẳng phải có ư thiên lệch, không phạm.

Điều 3: Nếu có gia đ́nh mà Tăng đă tác pháp Yết-ma học gia; Tỳ-kheo nào biết đó là học gia, trước không được thỉnh, lại không bệnh, tự tay nhận thức ăn và ăn; Tỳ-kheo ấy cần đối trước Tỳ-kheo khác, phát lồ rằng: “Tôi phạm pháp đáng khiển trách, làm điều không đáng làm. Nay đối trước Đại đức xin phát lồ sám hối”. Đây gọi là pháp Hối quá.

a) Duyên khởi:

Đức Phật ở tại núi Kỳ-xà-quật. Lúc bấy giờ, các Tỳ-kheo thường hay đến nhà cư sĩ có tín tâm, mến đạo nhận phẩm vật cúng dường đến nỗi gia đ́nh họ thiếu thốn, nghèo xơ. Kẻ hàng xóm chê trách, hiềm ghét. Đức Phật bảo chúng Tăng bạch nhị Yết-ma, tác pháp “học gia” mà kiết giới này.

b) Thích nghĩa:

+ Học gia là ǵ? Chữ “học” tức chỉ cho sơ quả, nhị quả, tam quả, v́ lậu hoặc chưa hết, cần phải quay trở lại học để đoạn cho hết v́ thế gọi là học.

+ Chữ “gia” là chỉ cho nhà của bốn họ và người học trên cư ngụ nơi ngôi nhà này, cho nên gọi là học gia.

+ Nếu là A-la-hán, các lậu hoặc đă hết, việc cần làm đă làm xong nên gọi là vô học.

+ Yết-ma nghĩa là vợ chồng người này đều chứng Thánh quả, đối với Tam bảo không hề tiếc của, dù gia nghiệp có nghèo thiếu. Tăng đă v́ thế, tác pháp ngăn việc hộ pháp này, không đến nhà học gia để nhận thức ăn và phẩm vật.

+ Nhà học gia như vậy là sao? Tức là nhà Tăng đă tác pháp Yết-ma học gia.

+ Thế nào là trước không thỉnh? Nghĩa là tuy đă tác Yết-ma mà thọ thỉnh không phạm.

+ Không bệnh là nếu có bệnh thọ không phạm.

c) Phạm tướng:

Nếu trước không thỉnh và không bệnh, đối với nhà học gia như vậy mà tự tay nhận ẩm thực th́ mỗi miếng phạm một Ba-la-đề-đề-xá-Ni.

Bốn chúng khác phạm, tội Ác tác.

Trường hợp không phạm: Nếu để trên đất cho, hoặc từ nơi người thọ nhận, hoặc nhà học gia tài vật được phục hồi, họ đến xin Tăng giải Yết-ma học gia, Tăng nên bạch nhị Yết-ma tác pháp giải cho họ, giải rồi đến nhận thức ăn không phạm.

Điều 4: Tỳ-kheo sống tại A-lan-nhă xa xôi hẻo lánh, chỗ đáng nghi ngờ có sợ hăi. Tỳ-kheo sống tại trú xứ A-lan-nhă như vậy, trước không nói cho đàn việt biết, không thọ nhận thức ăn bên ngoài Tăng già lam, trái lại, không bệnh mà ở bên trong Tăng già lam, tự tay nhận thức ăn, Tỳ-kheo ấy cần phải đối trước Tỳ-kheo khác mà phát lồ rằng: “Bạch Đại đức, tôi phạm pháp đáng khiển trách, làm điều không đáng làm. Nay đối trước Đại đức xin phát lồ sám hối”. Đây gọi là pháp Hối quá.

a) Duyên khởi:

Đức Phật ở tại vườn Ni-câu-loại. Lúc bấy giờ, trong thành Xá-di, các phụ nữ đến Tăng già lam cúng dường, trên đường đi bị giặc nhiễu hại. Đức Phật bảo các Tỳ-kheo thông báo cho các phụ nữ đừng ra khỏi thành v́ trên đường có giặc khủng bố. Nếu ra khỏi thành th́ đừng đến chùa nữa. Đức Phật v́ thế mà kiết giới trên.

b) Thích nghĩa:

Câu: “Trước không nói với đàn việt” và câu: “Không bệnh tự tay nhận thức ăn và ăn” không có trong lần kiết giới đầu, song khi các đàn việt đă biết trước có nghi ngờ khủng bố mà vẫn quyết tâm đem thức ăn đến. Các Tỳ-kheo nghi sợ phạm, không dám thọ nhận. Phật dạy: “Cho phép nhận”. Lúc bấy giờ, có thí chủ đem thức ăn đặt lên đất để cho, hoặc dạy người cho, Tỳ-kheo cũng nghi phạm, không dám nhận, Phật dạy: “cho phép nhận”. Phật kiết giới lại mới thành chánh văn trên.

c) Phạm tướng:

Chánh văn đă rơ.

- Nếu đến thọ giáo sắc, khi nghe pháp, Tỳ-kheo tự có thức ăn riêng nay trao cho th́ không phạm.

Kết vấn:

Thưa các Đại đức, tôi đă tụng xong bốn pháp Ba-la-đề-đề-xá-Ni. Nay hỏi các Đại đức trong đây có thanh tịnh không? (ba lần)

Các Đại đức trong đây thanh tịnh. V́ im lặng. Việc ấy tôi xin ghi nhận như vậy.

 

 

 

 

 

CHƯƠNG VII

MỘT TRĂM PHÁP THỨC XOA CA LA NI[1]

 

 

Thức-xoa Ca-la-Ni hay Thi-xoa Kế-lại-Ni, là dịch âm từ Phạn ngữ có nghĩa cần phải học. Nếu cố ư làm th́ phạm ưng sám Đột-kiết-la. Nếu không cố ư làm th́ phạm Đột-kiết-la. Bốn chúng khác làm đều phạm Đột-kiết-la.

1. VỀ TÁC PHONG Y PHỤC

Điều 1: phải bận Niết-bàn-tăng cho tề chỉnh, cần phải học.

a) Duyên khởi:

Đức Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc. Lục quần mặc Niết-bàn-tăng (đây là loại quần cụt mặc bên trong). Có khi mặc cao, có khi mặc thấp, có khi làm như mũi con voi (tức tḥng một góc) hoặc làm như lá cây đa-la (tức tḥng hai góc) hoặc có khi th́ xếp thành nhiều đường (quấn xung quanh thành nhiều nếp gấp). Cư sĩ rất bất măn hiềm chê: Chẳng khác quốc vương, trưởng giả, đại thần, chẳng khác nào kẻ đi phó hội cười đùa huyên náo với nhau. Đức Phật quở trách rồi kiết giới.

b) Thích nghĩa:

Duyên khởi đă làm rơ chánh văn.

c) Phạm tướng:

Nếu không y lời Phật dạy mà cố ư làm th́ phạm: Ưng sám Đột-kiết-la v́ chủ tâm cố làm. Phạm phi oai nghi: Đột-kiết-la nếu không cố ư làm.

Tất cả các giới c̣n lại chuẩn theo đây mà biết, không đề cập lại.

Bốn chúng khác cũng phạm tội Đột-kiết-la.

Nếu nơi rún có ghẻ phải mặc thấp xuống, dưới chân có ghẻ phải mặc cao lên, hoặc trong chùa, bên ngoài làng xóm, hoặc khi làm việc, hoặc trên đường đi tùy mặc cao, thấp không phạm.

Một trăm pháp này Ni học giống như Tăng, tuy nhiên có một hai giới không đồng sẽ có ghi chú bên dưới giới đó.

Điều 2: Phải khoác ba y cho chỉnh tề, cần phải học.

Duyên khởi:

Khai, giá đều giống giới trước.

Điều 3: Không nên vắt ngược y khi đi vào nhà bạch y, cần phải học.

+ Y chỉ cho ba y, tức là bên mặt, bên trái, lật ngược lên trên vai.

+ Nếu nơi nách có ghẻ th́ không phạm.

 

2. OAI NGHI ĐI, NGỒI.

Điều 4: không nên vắt ngược y khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.

+ Giới trước là oai nghi đi, giới này là oai nghi ngồi. Mười một giới tiếp sau đây cũng giống như vậy.

Điều 5: Không nên quấn y nơi cổ khi đi vào nhà bạch y, cần phải học.

+ Quấn nơi cổ nghĩa là túm hai chéo y quấn lên vai.

+ Nếu vai hay cánh tay có ghẻ th́ không phạm.

Điều 6: Không nên quấn y nơi cổ khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.

Điều 7: Không nên trùm đầu khi đi vào nhà bạch y, cần phải học.

+ Trùm đầu nghĩa là: Hoặc dùng y, hoặc lá cây, hay vật ǵ để trùm đều phạm. Nếu v́ lạnh, bệnh ghẻ, mạng nạn, phạm hạnh nạn th́ không phạm.

Điều 8: Không nên trùm đầu khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.

Điều 9: Không nên nhảy nhót khi đi vào nhà bạch y, cần phải học.

+ Phàm Tỳ-kheo khi đi đều phải nhiếp oai nghi. Nếu nhảy nhót mà đi th́ không phải tướng của đại nhân, nên phải chế cấm.

Điều 10: Không nên nhún nhảy khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.

Điều 11: Không nên ngồi chồm hổm trong nhà bạch y, cần phải học.

+ Ngồi chồm hổm tức là ngồi trên giường hay trên đất mà xương khu không đụng đến giường hay đất.

+ Nếu có ghẻ hay đưa vật ǵ, hoặc lễ bái, hoặc sám hối, hoặc thọ giáo ngồi chồm hổm, không phạm.

Điều 12: Không nên chống nạnh khi đi vào nhà bạch y, cần phải học.

+ Nếu dưới hông có ghẻ, hoặc trong Tăng già lam, hoặc bên ngoài thôn xóm, hoặc khi làm việc, khi đi đường chống nạnh th́ không phạm.

Điều 13: Không nên chống nạnh khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.

Điều 14: Không nên uốn éo thân ḿnh khi đi vào nhà bạch y, cần phải học.

+ Uốn éo thân ḿnh tức là nghiêng bên tả, bên hữu theo nhịp chân đi.

+ Nếu người bị đánh, hoặc tránh thú dữ thân uốn éo không phạm.

Điều 15: Không nên uốn éo thân ḿnh khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.

Điều 16: Không nên đánh đằng xa khi đi vào nhà bạch y, cần phải học.

+ Đánh đằng xa: Tay đánh lui tới theo nhịp chân đi.

+ Có duyên sự phải sử dụng động tác này không phạm.

Điều 17: Không nên đánh đằng xa khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.

Điều 18: Phải trùm kín thân thể khi đi vào nhà bạch y, cần phải học.

+ Trùm kín thân thể tức là không để thân thể lộ ḿnh.

+ Nếu bị gió thổi, y bị rớt ra khỏi thân th́ không phạm.

Điều 19: Phải trùm kín thân thể khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.

Điều 20: Không nên nh́n ngắm ngang dọc khi đi vào nhà bạch y, cần phải học.

+ Ngắm nh́n hai bên tức lá mắt không định thần, ngó láo liên khắp nơi.

+ Có duyên sự, mắt phải quan sát t́m vật th́ không phạm.

Điều 21: Không nên ngắm nh́n ngang dọc khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.

+ Phàm tại nhà thế tục, tâm phải đoan chánh nh́n thẳng, ư  tỉnh giác để mà ngồi.

Điều 22: Phải khẽ tiếng khi vào nhà bạch y, cần phải học.

+ Phàm vào nhà bạch y, nên im lặng như Thánh. Có hỏi th́ tùy đó mà trả lời, không nên cao giọng lớn tiếng.

+ Nếu gọi thức ăn th́ không phạm.

Điều 23: Phải khẽ tiếng khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học.

Điều 24: Không được cười cợt khi vào nhà bạch y, cần phải học.

+ Cười cợt tức nhe răng giỡn cười.

+ Nếu v́ tâm  đến pháp mà hoan hỷ th́ không phạm.

Điều 25: Không được cười cợt khi ngồi trong nhà bạch y, cần phải học

 

3. TÁC PHONG TRONG ĂN UỐNG

Điều 26: Phải dụng ư thọ nhận thức ăn, cần phải học.

+ Lục quần không dụng ư khi thọ nhận thức ăn, nên rơi rớt cơm, Phật kiết giới.

Điều 27: Thọ nhận thức ăn vừa ngang bát, cần phải học.

+ Không ngang bát tức là quá đầy. Quá đầy không thể nhận canh nên chế cấm.

Điều 28: Thọ nhận canh vừa ngang bát, cần phải học.

+ Ngang bát th́ sau có thể nhận canh.

+ Nếu như bát nhỏ Phật muốn dùng canh, quá ngang bát th́ không phạm.

Điều 29: Ăn cơm và canh đồng đều, cần phải học.

+ Đức Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc. Chúng Tăng được mời đi thọ thực. Cơm dọn ra nhưng canh chưa kịp dọn. Ăn hết cơm và trường hợp ngược lại. Phật kiết giới.

+ Nếu bệnh hoặc cần cơm, không cần canh. Hoặc cần canh không cần cơm. Hoặc gần quá nửa ngày, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn, cần ăn mau, không phạm.

Điều 30: Theo thứ tự mà ăn, cần phải học.

+ Không thứ tự, tức t́m các chỗ trong bát có thức ăn ngon để ăn.

+ T́m chỗ nguội để ăn, hoặc giờ ăn sắp hết, ăn không thứ tự, không phạm.

Điều 31: Không nên moi giữa bát mà ăn, cần phải học.

+ Nghĩa là moi chính giữa để xung quanh lại, ăn cạn để lộ đáy bát trống không.

+ Như sợ cơm nóng, xới thông bên trong cho nguội, không phạm.

Điều 32: Tỳ-kheo không bệnh, không được v́ ḿnh yêu sách cơm canh, cần phải học.

+ Như người v́ ḿnh yêu sách, ḿnh v́ người yêu sách không phạm.

Điều 33: Không nên dùng cơm che lấp canh để mong được thêm, cần phải học.

+ Dùng cơm che canh, ư muốn cầu cho được nhiều, nên chế giới.

Điều 34: Không nên liếc nh́n vào trong bát người ngồi cạnh, sanh tâm tỵ hiềm, cần phải học.

+ Xem trong b́nh bát người ngồi gần để biết ai nhiều, ai ít, hiện tướng tham, cho nên không cho phép nh́n.

Điều 35: Phải chú tâm vào bát mà ăn, cần phải học.

+ Lục quần nhận cơm canh rồi, xoay nh́n hai bên, không ngờ người ngồi gần lấy canh giấu đi, nên Phật kiết giới.

Điều 36: Không nên ăn vắt cơm lớn, cần phải học.

+ Lục quần vắt cơm quá lớn, miệng không tiếp nhận được nên Phật chế cấm.

Điều 37: Không nên há miệng lớn đợi cơm mà ăn, cần phải học.

+ Há miệng đợi cơm nghĩa là cơn chưa đến mà há miệng trước để chờ.

Điều 38: Không nên ngậm cơm mà nói, cần phải học.

+ Ngậm cơm mà nói ắt nghe không rơ, người nghe không hiểu. Chẳng phải oai nghi của Tỳ-kheo, nên cấm.

Điều 39: Không nên vắt cơm thảy vào miệng, cần phải học.

+ Nghĩa là trước há miệng rồi vắt cơm thảy vào để ăn.

Điều 40: Không nên để cơm rơi rớt khi ăn, cần phải học.

+ Rơi rớt tức là nửa trong miệng nửa ở ngoài hay ăn một nửa, để lại một nửa.

Điều 41: Không nên búng má mà ăn, cần phải học.

+ Búng má ăn tức là hai bên má phồng lên v́ thức ăn, giống như loài khỉ ăn.

Điều 42: Không nên nhai cơm có tiếng mà ăn, cần phải học.

+ Nhai nghĩa là động tác trước khi nuốt.

+ Nhai cơm cháy, bánh khô, cơm dừa… không phạm.

Điều 43: Không nên hớp cơm có tiếng mà ăn, cần phải học.

+ Hớp là mở miệng hớp cơm từ khoảng cách ngắn.

Điều 44: Không nên lấy lưỡi liếm khi ăn, cần phải học.

+ Lấy lưỡi liếm tức là dùng lưỡi gom cơm từ môi mép vào miệng.

Điều 45: Không nên rảy tay khi ăn, cần phải học.

+ Rảy tay: Lấy tay rảy cho văng ra. Như trong cơm có cỏ hoặc trùng rảy cho ra sạch, không phạm.

Điều 46: Không nên dùng tay lượm cơm rơi mà ăn, cần phải học.

+ Cơm rơi là cơm rơi rớt trên bàn hay dưới đất.

+ Không phạm: Giống như giới trước.

Điều 47: Không nên tay dơ cầm đồ đựng thức ăn, cần phải học.

+ Tay dơ là tay có dính đất và các thứ dơ khác.

+ Thọ trên lá cây hay trên cỏ, không phạm.

 

4. KHÔNG ĐỔ NƯỚC RỬA BÁT TRONG NHÀ

Điều 48: Không nên đổ nước rửa bát trong nhà bạch y, cần phải học.

+ Lục quần ăn xong, rửa bát đổ nước rửa bát và thức ăn dư tứ tung dưới đất, nên cấm.

 

5. VỆ SINH, TƯ CÁCH OAI NGHI

Điều 49: Không nên đại tiểu tiện, hỉ, nhổ trên rau, cỏ tươi, trừ bệnh, cần phải học.

+ Giới này, Tỳ-kheo cần phải học.

+ Ni phạm, mắc tội Đọa.

Điều 50: Không được đại, tiểu tiện, hỉ, nhổ trong nước sạch, trừ bệnh, cần phải học.

+ Nếu chẳng phải nước để dùng và nước trong biển cả, không phạm.

Điều 51: Không nên đứng mà đại, tiểu tiện, trừ bệnh, cần phải học.

+ Nếu bệnh sức quá yếu, không thể ngồi xổm được th́ không phạm.

 

6. ĐỐI TƯỢNG KHÔNG NÊN THUYẾT PHÁP

Điều 52: Không nên thuyết pháp cho người vắt ngược áo không cung kính, trừ người bệnh, cần phải học.

+ Lật ngược y là mất sự cung kính nên chế cấm.

Điều 53: Không nên thuyết pháp cho người quấn áo nơi cổ, trừ người bệnh, cần phải học.

+ Áo quấn nơi cổ là h́nh thức không đoan chính, không nên thí pháp.

Điều 54: Không nên thuyết pháp cho người trùm đầu, trừ người bệnh, cần phải học.

+ Trùm đầu là lấy y hay vật khác phủ trên đầu.

Điều 55: Không nên thuyết pháp cho người quấn khăn trên đầu, trừ người bệnh, cần phải học.

+ Quấn là bao trùm quấn lại khác với nghĩa phủ trùm lại.

Điều 56: Không nên thuyết pháp cho người chống nạnh, trừ người bệnh, cần phải học.

+ Chống nạnh một tay hay hai tay đều mất sự chí kính.

Điều 57: Không nên thuyết pháp cho người mang dép da, trừ người bệnh, cần phải học.

+ Dép da là dép làm bằng da.

Điều 58: Không nên thuyết pháp cho người mang guốc gỗ, trừ người bệnh, cần phải học.

+ Guốc gỗ c̣n gọi là guốc đi mưa, tức khi mưa mới mang.

Điều 59: Không nên thuyết pháp cho người ngồi trên ngựa, trừ người bệnh, cần phải học.

+ Nói chung cỡi voi, ngựa, ḅ hay đi bằng xe, đều mất sự cung kính nên không cho phép nói pháp.

 

7. TÔN KÍNH GIỮ G̀N VỆ SINH THÁP PHẬT.

Điều 60: Không nên ngủ nghỉ trong tháp Phật, trừ v́ canh giữ, cần phải học.

Điều 61: Không nên chôn giấu tài vật trong tháp Phật, trừ muốn cho chắc chắn, cần phải học.

+ Đức Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc. Lục quần phạm giới này nên Phật kiết giới.

Điều 62: Không được mang dép da vào tháp Phật, cần phải học.

+ Ở Ấn Độ xem việc đi chân không, đầu trần là chí kính, nên cấm không được mang dép da vào tháp Phật.

Điều 63: Không được cầm dép da vào trong tháp Phật, cần phải học.

Điều 64: Không được mang dép da đi nhiễu trong tháp Phật, cần phải học.

+ Giới này cấm mang dép da đi nhiễu trong tháp Phật.

Điều 65: Không được mang giày phú-la vào trong tháp Phật, cần phải học.

+ Phú-la là giày ủng ngắn.

Điều 66: Không được xách giày phú-la vào trong tháp Phật, cần phải học.

+ Giới trước cấm mang, giới này cấm xách.

Điều 67: Không được ngồi trước tháp mà ăn, lưu lại cỏ và thức ăn làm dơ đất, cần phải học.

+ Lục quần ngồi ăn dưới tháp; vứt bỏ lại thức ăn dư và cỏ làm dơ đất, nên cấm.

Điều 68: Không được khiêng tử thi đi qua dưới tháp, cần phải học.

+ Lục quần khiêng tử thi đi ngang qua dưới tháp. Thần hộ tháp giận. Phật kiết giới.

+ Hoặc gặp lúc cần phải đi trên con đường có tháp, hoặc bị cường lực dẫn đi, không phạm.

Điều 69: Không được chôn tử thi dưới tháp, cần phải học.

+ Tức là chôn thây ma. Tăng nên hỏa thiêu. Nếu chôn cất ở nơi chùa tháp là trái lời Phật dạy.

Điều 70: Không được thiêu tử thi dưới tháp, cần phải học.

+ Điều học này và ba điều kế tiếp (70, 71, 72, 73) v́ đề pḥng xú khí bay vào tháp Phật nên chế cấm.

Điều 71: Không được đối diện tháp thiêu tử thi, cần phải học.

Điều 72: Không được thiêu tử thi quanh bốn phía tháp, khiến cho mùi hôi bay vào, cần phải học.

Điều 73: Không được mang áo và giường người chết đi qua dưới tháp, trừ đă giặt nhuộm, xông hương, cần phải học

+ Lục quần đem áo và giường người chết đi qua dưới tháp, vị thần hộ trú xứ ấy giận, Phật kiết giới.

Lúc bấy giờ, có Tỳ-kheo không dám mang y phấn tảo[2] đi ngang qua dưới tháp v́ nghi sợ phạm. Phật dạy: “Cho phép tẩy nhuộm xông hương rồi mang vào tháp”. Phật tái kiết giới.

Điều 74: Không được đại, tiểu tiện dưới tháp Phật, cần phải học.

+ Giới này và ba giới tiếp theo sau (74, 75, 76, 77) cũng v́ đề pḥng hơi hôi thúi của đại, tiểu tiện bay vào trong tháp Phật, nên chế cấm.

Điều 75: Không được đi đại, tiểu tiện trước tháp Phật, cần phải học.

Điều 76: Không được đại, tiểu tiện quanh bốn phía tháp Phật, khiến mùi hôi bay vào, cần phải học.

Điều 77: Không được mang tượng Phật đến chỗ đại, tiểu tiện, cần phải học.

+ Giới này cấm mang Phật tượng, suy ra th́ biết kinh, pháp cũng cấm như vậy.

Điều 78: Không được nhăm nhành dương dưới tháp Phật, cần phải học.

+ Phàm nhăm nhành dương chi th́ phải hướng về chỗ vắng. Không những không được hướng đến tháp, tượng mà trước hai thầy Thượng tọa cũng không được nhăm.

Điều 79: Không được nhăm nhành dương đối diện tháp Phật, cần phải học.

+ Giới này cấm hướng đến tháp Phật mà nhăm.

Điều 80: Không được nhăm nhành dương quanh bốn phía tháp Phật, cần phải học.

+ Giới này cấm nhăm xung quanh tháp.

Điều 81: Không được hỉ, nhổ dưới tháp Phật, cần phải học.

+ Giới này cấm hỉ, nhổ trong tháp Phật.

Điều 82: Không được hỉ, nhổ đối diện tháp Phật, cần phải học.

+ Điều này cấm hướng đến tháp Phật hỉ, nhổ.

Điều 83: Không được hỉ, nhổ quanh bốn phía tháp Phật, cần phải học.

+ Giới này cấm hỉ, nhổ quanh tháp Phật.

Điều 84: Không được ngồi duỗi chân về phía tháp Phật, cần phải học.

+ Nếu có vật che khuất tháp làm trung gian th́ được phép duỗi, hoặc bị cường lực bắt co duỗi không phạm.

Điều 85: Không được thờ tháp Phật ở pḥng dưới, ḿnh ở pḥng trên, cần phải học.

+ Phàm thờ Phật phải thờ nơi cao đẹp trang nghiêm, ngược lại là phạm.

 

8. KHÔNG THUYẾT PHÁP CHO NHỮNG ĐỐI TƯỢNG THIẾU TÔN KÍNH.

Điều 86: Không được thuyết pháp cho những người ngồi mà ḿnh đứng, trừ người bệnh, cần phải học.

+ Phàm thỉnh thuyết pháp phải hết ḷng thành kính.

Giới này và sáu giới kế tiếp (86, 87, 88, 89, 90, 91, 92) đều thiếu ḷng thành kính, cho nên không nhận thuyết pháp.

Điều 87: Không được thuyết pháp cho những người nằm mà ḿnh ngồi, trừ người bệnh, cần phải học.

Điều 88: Không được thuyết pháp cho người ngồi chính giữa, c̣n ḿnh ngồi một bên, trừ người bệnh, cần phải học.

Điều 89: Không được thuyết pháp cho người ngồi chỗ cao, c̣n ḿnh ngồi chỗ thấp, trừ người bệnh, cần hải học.

Điều 90: Không được thuyết pháp cho người đi trước, c̣n ḿnh đi phía sau, trừ người bệnh, cần hải học.

Điều 91: Không được thuyết pháp cho người ở chỗ kinh hành cao, c̣n ḿnh ở chỗ kinh hành thấp, trừ người bệnh, cần phải học.

Điều 92: Không được thuyết pháp cho người ở giữa đường, c̣n ḿnh ở bên đường, trừ người bệnh, cần phải học.

 

9. TÁC PHONG ĐI ĐƯỜNG.

Điều 93: Không nên nắm tay khi đi đường, cần phải học.

+ Nếu Tỳ-kheo bị mù phải d́u đi, không phạm.

 

10. CẤM LEO CÂY.

Điều 94: Không được leo lên cây cao quá đầu người, trừ khi có nhân duyên, cần phải học.

+ Đức Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc. Có một Tỳ-kheo Hạ an cư trên cây đại thọ. Từ trên đại, tiểu tiện xuống. Lúc bấy giờ, vị thọ thần giận, chờ lúc Tỳ-kheo đi tiện, muốn đoạn mạng căn vị này. Phật do vậy mà chế cấm và văn giới chưa có câu: “Trừ nhân duyên”. Về sau, có Tỳ-kheo trên đường đi gặp ác thú khủng bố, không dám leo lên cây và bị ác thú hại. Phật dạy: “Nếu mạng nạn, phạm hạnh nạn, được leo lên cây quá đầu người”. Phật kiết giới lại mới thành văn đầy đủ như trên.

 

11. CẤM CỘT ĐĂY ĐỰNG BÁT TRÊN ĐẦU GẬY QUẨY ĐI.

Điều 95: Không được bỏ b́nh bát vào đăy đựng bát xỏ vào đầu gậy quảy đi, cần phải học.

+ Do Nan-đà dùng đăy đựng bát xỏ vào đầu gậy, quảy đi. Cư sĩ chê trách, cho nên Phật chế cấm.

 

12. KHÔNG THUYẾT PHÁP CHO CÁC ĐỐI TƯỢNG CẦM GẬY VÀ CÁC VŨ KHÍ.

Điều 96: Không được thuyết pháp cho người cầm gậy, không cung kính, trừ người bệnh, cần phải học.

Nếu là bệnh nhân hay quốc vương đại thần th́ không phạm.

Điều 97: Không thuyết pháp cho người cầm gươm, trừ người bệnh, cần phải học.

Điều học này và ba điều học kế tiếp (97, 98, 99, 100) có cùng duyên khởi: Khi vua Ba-tư-nặc đến với chúng Tăng cầm bốn loại vũ khí: gươm, mâu, dao, dù cho nên đức Phật đều chế cấm luôn.

Điều 98: Không được thuyết pháp cho người cầm mâu, trừ người bệnh, cần phải học.

Điều 99: Không được thuyết pháp cho người cầm dao, trừ người bệnh, cần phải họ.

Điều 100: Không được thuyết pháp cho người cầm dù, trừ người bệnh, cần phải học.

Kết vấn:

Thưa các đại đức, tôi đă tụng xong một trăm Pháp chúng học. Nay hỏi các Đại đức trong đây có thanh tịnh không? (ba lần)

Các đại đức trong đây thanh tịnh. V́ im lặng. Việc ấy tôi ghi nhận như vậy.

 

 

 

 

 

CHƯƠNG VIII

BẢY PHÁP DIỆT TRÁNH

 

 

Ư nghĩa của tránh sự và diệt tránh.

Đối với Tỳ-kheo có bốn tránh sự khởi lên. Phải dùng bảy pháp như Pháp, như Luật, như Phật dạy mà diệt trừ, cho nên gọi là bảy pháp diệt tránh. Bốn tránh sự là: Ngôn tránh, mích tránh, phạm tránh, sự tránh.

a) Thế nào là ngôn tránh?

Tỳ-kheo cùng với Tỳ-kheo tranh căi nhau, dẫn 18 sự việc, pháp, phi pháp, đến thuyết hay không thuyết. Trên cơ sở ấy, rồi bằng lời lẽ tranh căi nhau. Sự đấu tranh của hai bên như thế gọi là ngôn tránh.

b) Thế nào gọi là mích tránh?

Tỳ-kheo cùng Tỳ-kheo t́m tội lẫn nhau. Sử dụng ba sự việc để nêu tội như: Phá giới, phá kiến, phá oai nghi hay kiến, văn, nghi. Với cơ sở ấy mà t́m tội lẫn nhau. Làm như vậy gọi là mích tránh.

c) Thế nào là phạm tránh?

Đó là phạm bảy tụ: Ba-la-di, Tăng tàn, Ba-dật-đề, Hối quá pháp, Thâu-lan-giá, Ác tác, Ác thuyết. Kết tội như vậy là phạm tránh.

d) Thế nào gọi là sự tránh?

Đó là cách xử lư của ngôn tránh, cách xử lư của mích tránh, cách xử lư của phạm tránh, bằng nhưng xử lư như thế gọi là sự tránh (thân phạm gọi là Ác tác, khẩu phạm gọi là Ác thuyết).

Bảy pháp diệt tránh gồm có:

1. Hiện tiền diệt tránh pháp

Cần giải quyết bằng hiện tiền Tỳ-Ni, phải giải quyết bằng hiện tiền Tỳ-Ni.

a) Duyên khởi:

Đức Phật ở tại nước Xá-vệ. Ca-lưu-đà-di cùng với nhóm của ḿnh tắm trong sông. Ca-lưu-đà-di tắm xong trước, lên bờ, mặc nhằm y của Lục quần mà đi. Sau đó Lục quần thôi tắm, lên bờ nhận ra y bị mất liền đổ tội Ca-lưu lấy cắp.

Bị nhóm Yết-ma diệt tẫn trong lúc vắng mặt Ca-lưu. Ca-lưu-đà-di phân vân, đến bạch Phật. Phật hỏi:

- Khi ông lấy với tâm  thế nào?

- Nghĩ là của con, không hề có tâm trộm cắp.

“Không có tâm trộm cắp th́ không phạm. Không thể không cẩn thận xem xét y mà mặc. Không nên tác Yết-ma mà không có đương sự trong các Yết-ma quở trách, Yết-ma đuổi đi, Yết-ma ngăn không cho đến nhà bạch y, Yết-ma cử tội, Yết-ma diệt tẫn. Nếu tác Yết-ma như vậy là không thành, mắc tội Đột-kiết-la. Nay kiết hiện tiền Tỳ-Ni diệt tránh, gọi là hiện tiền Tỳ-Ni”. Đức Phật đă dạy như vậy.

b) Thích nghĩa:

+ Thế nào gọi là hiện tiền?

Đó là: Pháp, Tỳ-Ni, Nhân, Tăng, Giới.

+ Thế nào gọi là pháp hiện tiền?

Đó là nắm vững giáo pháp để diệt tránh.

+ Thế nào là Tỳ-Ni hiện tiền?

Đó là nắm vững Tỳ-Ni để diệt tránh.

+ Thế nào là nhân hiện tiền?

Đó là ư nghĩa ngôn từ trong đối chất của hai bên.

+ Thế nào gọi là Tăng hiện tiền?

Đó là Tăng ḥa nhập tại một trú xứ, người vắng mặt phải chúc thọ. Người có mặt được quyền ngăn chận.

+ Thế nào gọi là giới hiện tiền? Đó là thực hiện Yết-ma trong cương giới được hạn định.

c) Phạm tướng:

Nếu tránh sự diệt rồi lại phát khởi, phạm tội Đọa.

Nếu Tỳ-kheo đến sau, người mời thọ giới, gọi đó là lần đầu tranh căi, nhưng rồi bùng phát trở lại, đă dữ dục rồi sau lại hối tiếc, đều phạm tội Đọa.

Bảy pháp này, Ni đồng phải học.

 2. Ức  diệt tránh pháp

Cần giải quyết bằng ức  Tỳ-Ni, phải giải quyết bằng ức  Tỳ-Ni.

a) Duyên khởi:

Đức Phật ở tại thành Vương Xá. Đạp-bà-la-ma-tử không phạm các trọng tội: Ba-la-di, Tăng tàn, Thâu-lan-giá. Các Tỳ-kheo đều nói Tôn giả phạm, hỏi rằng: “Phạm trọng tội mà thầy không nhớ sao?” Điều nhớ không phạm, khiến Đạp-bà khẳng định: “Không phạm trọng tội, tôi nhớ đúng như vậy. Trưởng lăo đừng cật vấn tôi măi”. Tuy nhiên, các Tỳ-kheo vẫn cố cật vấn không thôi. Tỳ-kheo Đạp-bà bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép tác ức niệm Tỳ-Ni, bạch tứ Yết-ma”.

Vị ấy phải đến trước Tăng tha thiết thưa rằng: “Đại đức Tăng, xin lắng nghe, tôi Tỳ-kheo (mỗ, giáp) không phạm trọng tội: Ba-la-di, Tăng tàn, Thâu-lan-giá. Các Tỳ-kheo hỏi tôi rằng: “Thầy có nhớ phạm trọng tội không?”. Tôi không nhớ phạm trọng tội nên trả lời: “Tôi không nhớ phạm trọng tội, như vậy các trưởng lăo không nên nạn vấn, hỏi tôi măi, song các Tỳ-kheo vẫn cố nạn vấn không thôi. Tôi nay không nhớ nghĩ ra, đến Tăng xin cầu Tỳ-Ni nhớ nghĩ. Nguyện Tăng cho tôi Tỳ-Ni nhớ nghĩ, thương xót vậy”. Phải ba lần cầu xin như thế rồi, Tăng nên bạch tứ Yết-ma cho.

b) Thích nghĩa:

+ Thế nào gọi là ức  Tỳ-Ni? V́ Tỳ-kheo kia, với tội này, không nên cử, không nên tác ức . Nếu tránh sự như pháp diệt rồi, sau lại phát khởi, phạm tội Đọa. (Do các Tỳ-kheo cứ cật vấn măi làm cho vị ấy ức  không thôi. V́ thế, Phật chế tác ức niệm Tỳ-Ni, khiến cho người khác không cật vấn nữa).

3. Bất si diệt tránh pháp

Cần giải quyết bằng bất si Tỳ-Ni, phải giải quyết bằng bất si Tỳ-Ni.

a) Duyên khởi:

Đức Phật ở tại thành Vương Xá. Tỳ-kheo Nan-đà si cuồng loạn tâm, phạm nhiều tội. Về sau tâm thần ổn định lại, các Tỳ-kheo cật vấn không thôi. Phật dạy: “Cho phép Tăng bạch tứ Yết-ma tác pháp bất si Tỳ-Ni”.

Vị ấy đến trước Tăng cầu thưa rằng: “Đại đức Tăng, xin lắng nghe, tôi Tỳ-kheo (mỗ, giáp)khi điên cuồng tâm loạn, phạm các tội khá nhiều. Vào, ra, lui, tới không đúng oai nghi. Về sau tâm thần ổn định lại, các Tỳ-kheo hỏi: Phạm trọng tội mà ngươi không nhớ sao?

Tôi đáp rằng: Trước đây tôi bị điên cuồng loạn tâm, phạm các tội khá nhiều. Vào, ra, lui, tới không đúng oai nghi, chẳng phải tôi cố ư làm, mà v́ tâm điên cuồng vậy. Các trưởng lăo đừng nên nạn vấn, vặn măi tôi như thế, song các Tỳ-kheo vẫn cứ nạn vấn không thôi. Tôi nay không si cuồng, đến Tăng cầu xin pháp bất si Tỳ-Ni. Nguyện Tăng cho tôi pháp bất si Tỳ-Ni. Xin thương xót cho”. Ba lần xin như vậy rồi, Tăng nên bạch tứ Yết-ma.

b) Thích nghĩa:

+ Thế nào gọi là bất si Tỳ-Ni? V́ Tỳ-kheo kia, với tội này, không nên cử, không nên tác ức  vậy.

+ Nếu tránh sự đă như pháp diệt rồi, sau phát khởi lại phạm tội Đọa.

4. Tự ngôn diệt tránh pháp

Cần giải quyết bằng tự ngôn trị, phải giải quyết bằng tự ngôn trị.

a) Duyên khởi:

Đức Phật ở tại thành Chiêm-bà. Lúc bấy giờ là ngày Rằm Bố-tát, chúng Tăng xoay quanh ngồi, có một người phạm tội, ngồi chung trong chúng. Đầu đêm trôi qua, A-nan thỉnh Phật thuyết giới. Phật im lặng. Đến lúc minh tướng hiện ra, A-nan lại đến thỉnh. Phật dạy: “Chúng Tăng không thanh tịnh. Muốn Như Lai Yết-ma thuyết giới trong một chúng không thanh tịnh là điều không được”.

A-nan lặng thinh trở về chỗ ngồi. Mục-liên dùng thiên nhăn thấy biết được vị không thanh tịnh. Tôn giả nắm tay kéo ra rồi trở lại bạch Phật. Phật dạy: “không nên làm như vậy, muốn trao tội cho họ th́ phải làm cho họ nhận tội. Không nên trao tội cho họ mà họ không nhận tội”.

b) Thích nghĩa:

+ Thế nào gọi là tự ngôn? Nêu tội danh, tội chủng sám hối vậy.

+ Thế nào gọi là trị? Bằng ngôn ngữ, tự trách lấy tâm ḿnh. Sanh khởi điều thiện thoát ly điều xấu.

5. Mích tội diệt tránh pháp

Cần giải quyết bằng mích tội tướng, phải giải quyết bằng mích tội tướng.

a) Duyên khởi:

Lúc bấy giờ, đức Phật ở tại nước Thích-sí-sậu. Tỳ-kheo Tượng lực rất khéo luận nghị. Khi tranh luận với ngoại đạo, gặp câu hỏi hóc búa, trước sau lời lẽ mẫu thuẫn nhau. Trong chúng, khi đặt vấn đề, lời lẽ Tượng lực, trước sau cũng trái ngược nhau như thế. Cố ư vọng ngữ trước chúng. Ngoại đạo cơ hiềm, các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật bảo chúng bạch tứ Yết-ma tác pháp tội xứ sở cho Tượng lực.

Tập tăng rồi cử tội, cử tội rồi tác ức, tác ức rồi trao tội, bạch rằng: “Đại đức Tăng, xin lắng nghe, Tỳ-kheo (mỗ, giáp) này ưa nghị luận, cùng ngoại đạo tranh biện, khi gặp câu hỏi hóc búa lời lẽ trước sau mâu thuẩn nhau. Ở trong chúng có đặt vấn đề, lời lẽ trước sau cũng trái ngược nhau như thế, cố ư nói láo trước chúng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nên chấp thuận, Tăng nay Yết-ma tác pháp tội xứ sở cho Tỳ-kheo (mỗ). Ông (mỗ, giáp) không ích lợi ǵ, ông không hay ho ǵ, khi ông gặp câu hỏi hóc búa, lời nói trước sau mâu thuẫn nhau, khi trong chúng đặt vấn đề, cũng lập lại như vậy, cố ư nói láo trước chúng. Đây là lời tác bạch”  (Theo như văn Yết-ma để tác pháp. Tác pháp Yết-ma rồi, Tỳ-kheo ấy phải tuân hành 35 pháp).

b) Thích nghĩa:

+ Mích tội tướng cũng gọi là kiết tội xứ sở. Tại sao gọi là tội xứ sở? Tỳ-kheo kia, với tội này nên trao cho họ vấn đề cử tội, tác ức niệm vậy.

6. Đa nhân ngữ diệt tránh pháp

Cần giải quyết bằng đa nhân mích tội tướng, phải giải quyết bằng đa nhân mích tội tướng.

a) Duyên khởi:

Lúc bấy giờ, đức Phật ở tại nước Xá-vệ. Các Tỳ-kheo cùng nhau tranh tụng, chúng Tăng như pháp diệt tránh. Tỳ-kheo tranh tụng kia không chấp nhận việc diệt tránh của Tăng, bèn đến bạch Phật, đức Phật liền tập Tăng quở trách vị Tỳ-kheo kia rồi bảo các Tỳ-kheo nên diệt tránh sự này bằng sử dụng đa nhân ngữ (sử dụng nhiều người hiểu biết pháp nói, làm cho tâm họ chấp nhận vấn đề giải quyết). Cho phép hành trù-Phạn ngữ là Xá-la-Bạch nhị Yết-ma, sai người hành trù.

b) Thích nghĩa:

Có năm pháp không nên sai hành Xá-la, đó là: Ái, bố, nhuế, si, không biết đă hành Xá-la hay chưa hành Xá-la. Ngược lại năm pháp trên th́ nên sai.

Có ba loại hành trù: Một là bỏ phiếu công khai, hai là bỏ phiếu kín, ba là phiếu rỉ tai.

+ Thế nào gọi là bỏ phiếu (hành trù) công khai? Trong chúng tuy Tỳ-kheo phi pháp nhiều song “nhị sư” đều là hai vị thầy như pháp là bậc Thượng tọa, người của trí tuệ, nắm vững Tam tạng đó là tiếng nói như pháp th́ nên bỏ phiếu công khai.

+ Nên làm hai loại phiếu thẻ: Một loại thẻ chẻ, một loại thẻ nguyên. Phải nói rơ: Vị nào cho rằng làm như vậy là như pháp th́ bóc thẻ nguyên và ngược lại th́ xin bóc thẻ chẻ. Hành trù rồi phải đến chỗ cách biệt để kiểm thẻ. Nếu như pháp nhiều th́ liền tác bạch: Thể nguyên đa số và công bố tránh sự chấm dứt. Nếu thẻ như pháp thiểu số, vị Thượng tọa ấy tác lễ rồi đi. Phải bảo người có uy tín sang trú xứ Tỳ-kheo gần bạch giữ Tăng rằng: “trú xứ của chúng tôi, Tỳ-kheo phi pháp nhiều, lành thay, Trưởng lăo có thể đến với trú xứ, bằng lời của ngài, làm cho Tỳ-kheo như pháp nhiều, tránh sự được chấm dứt, công đức ấy thật lớn”. Vị trưởng lăo này ghi nhận và phải đến, nếu không đến th́ như pháp xử trị.

+ Thế nào là bỏ phiếu kín?

+ Trong chúng, Tỳ-kheo như pháp nhiều mà nhị sư kia và các Thượng tọa không như pháp. Nếu bỏ phiếu công khai, các Tỳ-kheo v́ chỗ lệ thuộc vào nhị sư, các bậc Thượng tọa của họ mà bóc thẻ chẻ. Nên phải hành trù kín.

+ Thế nào là hành trù rỉ tai?

+ Trong chúng, tuy Tỳ-kheo như pháp nhiều song nhị sư kia… lại nói phi pháp, nên phải hành trù rỉ tai. Khi hành trù, vị Tỳ-kheo hành trù ngồi cách mé chỗ vừa đủ, một người đi, dùng vật che phớt qua. Vị này rỉ tai rằng: “Ḥa thượng… của thầy đă bóc thẻ nguyên rồi. Lành thay thầy cũng phải bóc thẻ ấy. Từ mẫn cố! Nếu Tỳ-kheo như pháp nhiều, tránh sự được chấm dứt công đức thật lớn lắm”.

+ Hành trù rồi, sang một bên kiểm thẻ. Nếu tránh sự như pháp dứt rồi, sau phát khởi lại và kẻ đến sau mới thọ giới, gọi đó là mới tranh căi lần đầu mà phát khởi lại, dữ dục rồi sau ăn năn, đều mắc tội Đọa.

Có mười trường hợp hành trù phi pháp:

1/ không biết cách rút thẻ (tức không hiểu rơ nội dung tranh chấp, không biết vấn đề đó như pháp hay phi pháp).

2/ Không đứng về phía với người tốt (người tốt rút thẻ chẻ ḿnh lại rút thẻ nguyên).

3/ Muốn cho Tỳ-kheo phi pháp chiếm đa số (tiếp tay với kẻ phá Tăng).

4/ Biết Tỳ-kheo phi pháp nhiều (cố ư tán trợ phe phi pháp).

5/ Dụng ư muốn Tăng bị vỡ (đồng lơa với phi pháp).

6/ Biết tăng sẽ bị vỡ (biết mà đồng ư).

7/ Biết Yết-ma phi pháp mà bóc thẻ (bạch nhị th́ lại bạch tứ Yết-ma, văn bạch một đường, Yết-ma một nẻo).

8/ Biệt chúng bóc thẻ (cùng một cương giới Yết-ma không đến tập hợp, phải chúc thọ nhưng lại không chúc thọ, hiện tiền nên ngăn đă ngăn).

9/ Việc không quan trọng cũng bóc thẻ (phạm tội nhỏ nhặt hoặc nghĩ tội phạm mơ hồ, hoặc không cố ư phạm hoặc chỉ mới móng tâm làm).

10/ Biết đồng quan điểm mà rút thẻ (khác nhận thức không phù hợp với chánh pháp)

Ngược lại mười pháp trên th́ gọi là mười trường hợp rút thẻ như pháp.

7. Thảo phú địa diệt tránh pháp

Cần giải quyết bằng như thảo phú địa, phải giải quyết bằng như thảo phú địa.

a) Duyên khởi:

Đức Phật ở tại nước Xá-vệ. Các Tỳ-kheo tranh căi nhau, phạm khá nhiều các điều giới không đúng pháp Sa-môn nhưng cũng làm, cũng nói, ra vào không chừng mực. Sau đó các Tỳ-kheo bằng hành động có suy nghĩ, rằng: Nếu chúng ta trở lại t́m hiểu việc này do ai, v́ đâu, th́ có thể khiến cho tránh sự càng sâu nặng, trải nhiều năm tháng không diệt trừ đúng như pháp, khiến cho Tăng không được an lạc. Do vậy, bạch Phật, Phật dạy: “Phải diệt tránh sự này như dùng cỏ che đất”.

Trong chúng một, có vị Tỳ-kheo trí tuệ lại đủ năng lực kham nhận việc khó, từ chỗ ngồi đứng dậy, trống vai hữu, gối bên phải sát đất, chắp tay bạch: “Thưa các trưởng lăo, tránh sự này của chúng ta, phạm khá nhiều các tội, chẳng phải pháp Sa-môn. Nói năng không chừng mực. Ra, vào, lui, tới không đúng oai nghi. Nếu chúng ta t́m kiếm căn nguyên của việc này, e tội càng sâu nặng, không thể như pháp, như Tỳ-Ni, như lời Phật dạy để diệt được, khiến các Tỳ-kheo sống ở đây không an lạc. Nếu trưởng lăo cho phép, tôi nay v́ các trưởng lăo, tác pháp sám hối lấp che lại như cỏ che trên đất vậy”.

Trong chúng hai cũng giải bày như vậy. Các Tỳ-kheo kia phải tác bạch như sau: “Đại đức Tăng, xin lắng nghe, nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, Tăng nay tác pháp sám hối như lấy cỏ che trên đất cho tránh sự này. Đây là lời tác bạch”. Sau khi tác bạch là tác pháp sám hối “như thảo phú địa”.

Trong chúng một, vị nào có năng lực trí tuệ và nhũn nhặn từ chỗ ngồi đứng dậy, gối bên hữu sát đất, chắp tay tác bạch: “thưa các tưởng lăo, từ các tránh sự này, nay tôi đă phạm nhiều tội nhưng không phải trọng tội, Yết-ma cấm không cho đến nhà bạch y, nếu các trưởng lăo cho phép v́ các Tỳ-kheo và tôi, tác pháp sám hối như thảo phú địa”.

Trong chúng hai cũng tác bạch như thế (Đối với phạm tránh này, dùng hai pháp để diệt: Hiện tiền Tỳ-Ni và Như thảo phú địa, không sử dụng Tự ngôn trị).

b) Thích nghĩa:

+ Thế nào gọi là như thảo phú địa? Không nêu cụ thể tội danh và tội chủng mà sám hối.

+ Nếu tránh sự đă dứt sau phát khởi lại, mắc tội Đọa.

+ Kính Tỳ Ni Mẫu nói: “Nếu Tỳ-kheo căi nhau, muốn diệt trừ tội, trước hết người tranh căi lấy sám hối che lấp tội như cỏ trải che lên bùn, khiến cho người có thể qua được mà không nhớp, cùng ḥa hợp sám hối, che lên các điều ác để thiện pháp được sanh. Sau đó sẽ sám hối tội đă phạm”.

Kết vấn:

Thưa các Đại đức, tôi đă tụng xong bảy pháp diệt tránh. Nay hỏi các Đại đức trong đây có thanh tịnh không? (ba lần)

Các Đại đức trong đây thanh tịnh. V́ im lặng. Việc ấy tôi ghi nhận như vậy.


 

 



[1] Một trăm pháp này xuất từ giới kinh. Duyên khởi cho mỗi giới ghi lại đầy đủ Giới kinh này. Phần lớn Lục quần làm tác nhân chính để Phật kiết giới. Ở đây chỉ ghi chánh văn của điều giới mà không đặt nặng chi tiết duyên khởi và giải thích, thậm chí có Giới điều không đề cập đến phần này, bởi lẽ vấn đề của tổng hợp hơn là phân tích. Muốn rơ xin đọc lại Giới kinh (lời dịch giả).

[2] Y phấn tảo của người chết, Tỳ-kheo lượm y này phải giặt, nhuộm, xông hương…