VĂN HÓA A-LỢI-AN VÀ SỰ H̀NH THÀNH…
PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ
1. Phật
giáo và Chủ nghĩa khai thác A-lợi-an
Đức Phật
Thích-ca không những đản sinh tại vùng văn hóa A-lợi-an
mà c̣n thừa hưởng sự giáo dục và huấn luyện
bởi nền văn hóa này trong thời ḱ Ngài c̣n là Thái tử
Tất-đạt-đa. Sáu thiên trong Cổ đại Áo nghĩa thư[1] như “Bố-lợi-ha-đức-a-lăng-da-ca”(Brahadarancyada
– Quảng Sâm lâm thư), “Chiên-đa-cách-da” (Chandogya)... lúc bấy
giờ đă được hoàn chỉnh. Từ khi người
A-lợi-an từ Y-lăng (Iran) xâm nhập vào Ấn Độ
và trở thành kẻ chiến thắng, xâm chiếm vùng
Bàng-giá-phổ (Pañjāb) thuộc miền Bắc Ấn
Độ là thời kỳ thứ nhất trong lịch sử
thực dân Ấn Độ. Tiếp theo, kẻ thống trị
cư trú tại Câu-lâu, Bàng-giá-la, bắt đầu củng
cố thế lực để xác lập nên vùng đất
văn hóa An-lợi-an. Lúc bấy giờ, họ gọi A-lợi-an
là “Trung quốc” (Madhya-deśa)[2], “Thánh địa”(Āryāvarta), tức nói một cách khoa trương rằng,
đây là thời đại văn hóa Bà-la-môn mà hầu hết
“Thiên hạ đều phải quy phục vào ta”. Đây là
thời kỳ thứ hai trong lịch sử thực dân Ấn
Độ. Tiếp theo là thời đại Khai thác không ngừng
nghỉ, người A-lợi-an tiến về
phương Nam, xâm nhập những vùng ph́ nhiêu tại
lưu vực sông Hằng một cách ồ ạt. Đây là
thời kỳ thứ ba của Thực dân khai thác. Đức
Thích-ca xuất hiện vào thời kỳ thứ ba này.
Do
đó, tầng lớp Vương tộc hiểu được
sự thay đổi của thời thế và chiều
hướng tư tưởng, nên họ đứng lên nắm
địa vị lănh đạo. Trong số đó, xuất
hiện các nhà tư tưởng mới và các nhà trị kinh
thế[3] mới. Chiều
hướng mới này đă có sự nhảy vọt
đáng kể và tiếp tục xuất hiện trong triều
đại vua A-dục[4]. Lần đầu
tiên, vua Chiên-na-ca được thấy ghi lại trong Áo
nghĩa thư, đức Thích Tôn và Tổ sư Kỳ-na
giáo là Ma-ha-tỳ-la (Đại dũng)[5] đều là những
nhà tư tưởng mới xuất thân từ tầng lớp
Vương tộc. Một mặt, sự xuất hiện
của các nhà tư tưởng mới này chứng tỏ
chủ nghĩa dân tộc A-lợi-an cổ điển
đă tan ră; nhưng nh́n từ phương diện khác,
điều này chẳng qua chỉ là sự khuất phục
nhất thời của nền văn hóa A-lợi-an trong tiến
tŕnh khai thác không ngừng và tiếp tục tiến hành sự
khuếch đại của các nhà tư tưởng và kinh
thế mới mà thôi. Song, sự khuất phục này chẳng
phải là sự khuất phục ngoan ngoăn trước
đối phương mà là dùng chiêu bài “co một tấc
để duỗi dài thêm một thước” nên họ
đă mở rộng biên giới A-lợi-an sang đến
địa phương Ma-kiệt-đà (Magadha).
Nguyên
lư chỉ đạo của đức Phật gọi là
“Thánh trung đạo[6]”; con đường
tu tập thực tiễn của Ngài gọi là “Bát Thánh
đạo[7]”; cương cách
giáo lư của Ngài gọi là “Tứ Thánh đế”, Ngài
thường khích lệ mọi người sống phạm
hạnh, giáo hóa rất nhiều người thuộc tầng
lớp Bà-la-môn. Các đệ tử đức Phật
đều được gọi là các vị “Thánh Thanh
văn[8]”, những người
tu hành được gọi là “Thánh giả”. Đối với
những khái niệm lư tưởng này, đều có kèm theo
từ “Thánh” (S. ārya, P. ariya) để xưng hô. Do
đó, có thể nói, tín đồ Phật giáo cũng là những
sứ giả tự gánh vác và tiếp tục bảo tồn
nền văn hóa A-lợi-an. Mặc dù đức Thích Tôn
đă từng công kích “Chủ nghĩa khai thác dân tộc mang
nặng tinh thần Tự ngă” của người A-lợi-an
nhưng v́ chủ nghĩa này đă duy tŕ được
tinh thần tự do vô hạn và không làm cho mọi người
thất vọng, nên chủ nghĩa dân tộc A-lợi-an là
nền tảng của chủ nghĩa Phổ biến, mà nhân vật cách tân ấy chính là
đức Thích Tôn. Do giống dân A-lợi-an mở rộng
phạm vi hoạt động, đồng thời khuếch
trương nền kinh tế, mậu dịch nên các tầng
lớp hào tộc, trưởng giả giàu có phát huy
được thực lực của giai cấp tân
hưng này. Thậm chí, các quốc gia hiệp ḥa như
nước Tỳ-xá-ly[9] cũng
xuất hiện.
Giáo
đoàn đức Phật không chỉ thu nhận những
phụ nữ luân lạc hoặc người thuộc tầng
lớp nô lệ, mà đối với những kỹ nữ
nổi tiếng giàu có như An-ba-phạ-lư[10], ngay cả tên hung
tặc như Ương-quật-ma-la[11], đức Phật
cũng rũ ḷng từ bi giáo hóa bọn họ. Đồng
thời, từ vua Tần-tỳ-bà-la[12] xứ Ma-kiệt-đà
(Magadha), vua Ba-tư-nặc[13] xứ Câu-tát-la cho
đến tầng lớp vương tộc tại các
nước lớn, hoặc như trưởng giả
Tu-đạt-đa[14] là người
giàu ḷng bác ái, từ thiện đệ nhất cũng nhiệt
thành ủng hộ đức Phật. Như vậy, qua nhiều
năm truyền đạo, Tăng đoàn đức Phật
đă trở thành một giáo đoàn lớn mạnh nhất
ở Ấn Độ mà sự thật này đă được
lịch sử ghi nhận. Điều đó há chẳng phải
là chứng cứ rơ ràng mang tính thời đại hay sao?
Đức Thích Tôn là bậc đă hiểu rơ thời đại,
biết điều ḥa, dung hợp nét văn hóa truyền thống
và cách tân làm một, đồng thời, Ngài cũng là
người tiên phong cho thời đại mới.
Con
đường mà Thần thủ hộ[15] A-lợi-an soi sáng không
phải là con đường bằng phẳng, v́ nó là “Tinh
thần tiên phong” làm thành một chuỗi nhất quán xuyên suốt
có đủ tính khai thác, chinh phục, đồng thời cũng
mang tinh thần tự do cạnh tranh. Có những người
A-lợi-an được thần thoại hóa về thời
đại du mục được thể hiện trong
“thơ” và tính cách “dũng cảm”, cho đến thời
đại văn hóa “Trung quốc”[16] mới có được
vùng đất để an trú.
Trong Áo nghĩa thư đă phát sinh tư tưởng
quá độ trong thời kỳ chuyển tiếp giữa
cái mới và cái cũ. Phạm trù “Phạm-Ngă nhất
như” (Brahma-ātma-aikyam) là “Triết học Tri kiến”
(Darsana) vĩ đại được sản sinh từ
những người giác ngộ trước đây như
Hương-đế-lợi-na, Uất-đà-la-ca[17], Tế-ba-y-tiên... Mặc dù chưa đạt
đến nền triết học có tổ chức thực
sự, nhưng tư tưởng này vẫn là hạt nhân cho
tinh thần người dân Ấn Độ xuyên suốt
đến các thế hệ sau này, là sự kết hợp
trực tiếp giữa cái “Tuyệt đối” và “Tự
kỷ” trong tâm khảm người A-lợi-an. Do đó, sự
thành công của họ là đă trồng được cây
“đại quế” trong khu rừng của chủ nghĩa
Khai thác Ấn Độ, đồng thời c̣n phát triển
cho cành lá ngày một sum suê. Đây là sự thắng lợi
của nền triết học Tự ngă và cũng là vận
hội sinh thành bắt đầu hiểu ra được
thế nào là “Tự ḿnh phủ định”. V́ “Tự ngă”
phải trải qua sự phủ định mới có thể
trở thành “Chân ngă”, nên đă h́nh thành được dáng vẻ
huy hoàng chói lọi về nhân cách trong nghĩa lư thâm áo.
Uất-đà-la-ca[18] là nhà Triết học thuộc học phái
tư tưởng “Hữu ngă” theo truyền thống A-lợi-an.
Vị Tiên nhân này đề xướng ư nghĩa “Tự kỷ
tồn tại”, “Tự ḿnh phát triển”, nhưng Quan niệm
Giải thoát của Tế-ba-y-tiên lại mở đầu
cho tư tưởng “Vô ngă”, là sự mở màn cho chân lư
“Như thị” xưa nay. Tuy đức Thích Tôn có kế thừa
“Cổ đạo” thuộc Chủ nghĩa Khai thác của
các Thánh giả A-lợi-an nhưng Ngài đă chuyển hướng
tư tưởng “Cổ đạo” thành “Đại đạo”
trong thời đại mới. Song, đối với
tư tưởng Niết-bàn tối hậu th́ các Thánh giả
A-lợi-an không thể nào cảm nhận được.
Đây là “Quan niệm Nhất như mang tính nền tảng”
và “Nhiếp thọ vô duyên” (trực ngộ) được
thể nghiệm sâu sắc trong đời sống của
một người phi A-lợi-an được giáo dục
lâu dài tại mái nhà của thế giới, tức đỉnh
núi Tuyết Sơn, và tại cánh đồng trù phú của
lưu vực sông Hằng. Giải thoát là “Thực tiễn
đời sống” liên quan đến phạm trù thời
gian; c̣n Niết-bàn là khái niệm mang “Tính cách vô vi” siêu việt
thời gian và ḥa cùng với “Tính chủ thể nhân gian” .
Trong Phương pháp
luận về sự tổng hợp triết học
Đông Tây, giáo sư Northrop trường đại học
Yale đă dịch khái niệm Niết-bàn sang Anh ngữ thành
“The undifferentiated anesthetic continuance”[19]. Cụm từ này ngầm mang ư nghĩa là
“Quá tŕnh tồn tại liên tục bởi sự trực chứng
mang tính vô định h́nh”. Đối với sự nỗ
lực của ông, chúng ta nên tôn trọng, nhưng nói rằng
phạm trù Niết-bàn chỉ mang tính cách Giải thoát của
“nhân gian” không thôi th́ e rằng ư kiến này c̣n nhiều chỗ
chưa hoàn thiện. Về phạm trù Giải thoát, nếu
không phát hiện ra tính cứu cánh của sự tiêu diệt
phiền năo lậu hoặc th́ sẽ không c̣n ư nghĩa của
Niết-bàn. Phạm vi miêu tả phạm trù Niết-bàn mặc
dù có sự hợp nhất với quan niệm Giải thoát
mang tính thực tại của những người theo chủ
nghĩa Khai thác tự do A-lợi-an, nhưng “Giải thoát”
được nói đến trong đó là khái niệm mang
đầy đủ hai mặt Dung nạp và Loại trừ.
2. Chủ nghĩa Phổ biến và tư
tưởng cứu
tế
Hai trung tâm văn hóa
lớn của Phật giáo sơ kỳ là Ma-kiệt-đà
(Magadha) và Câu-tát-la (Kośala). Câu-tát-la là trung tâm văn hóa A-lợi-an,
nhưng đến khi đức Thích Tôn đản sinh tại
thành Ca-tỳ-la-vệ[20] th́ Câu-tát-la lại thuộc nước
chư hầu. Khi nói Ma-kiệt-đà
và Câu-tát-la nằm trong trung tâm văn hóa A-lợi-an, th́
đó là thành phần áp đảo và mang sắc thái bị
chiếm hữu của những người phi A-lợi-an.
Khoảng 100 năm sau, vùng Ma-kiệt-đà trở thành thủ
đô Ba-tra-ly-tử (Pāṭaliputra) thuộc vương
quốc A-dục lúc bấy giờ. Nh́n từ quan điểm
chính trị, kinh tế, xă hội th́ đây là địa
phương tân hưng giàu có. Đối với cố
hương phương Tây của A-lợi-an
th́ vùng Ma-kiệt-đà được gọi là các nước
phương Đông. Trong giai đoạn hưng khởi, mặc
dù vùng này có nhiều thay đổi nhưng về sau vùng này
bị chia cắt thành 16 nước lớn.
Khi đức Phật
Di-đà c̣n làm Bồ-tát Pháp Tạng[21], Ngài nhập định trong năm kiếp,
trọn kiếp tu hành, mới thành tựu được
cơi Tịnh độ để cứu độ chúng sinh
và đại hạnh niệm Phật bản nguyện. Sự
thành tựu này được biểu hiện rất rơ
không ngoài quá tŕnh tích luỹ “Hành vi văn hóa ” của những
“Người thắng lợi”. Trong tuyên ngôn truyền đạo,
đức Thích Tôn có nói: “Này các Tỳ-kheo! V́ lợi ích cho số
đông, v́ an lạc cho số đông, v́ t́nh thương
đối với mọi người, v́ nghĩa lư, lợi
ích, an lạc cho chư Thiên và loài người mà các
ngươi hăy du hành các nơi, chớ hai người cùng
đi một chỗ!” Nếu đối chiếu ḷng quyết
tâm cứu độ chúng sinh mà đức Thích Tôn đă tha
thiết bày tỏ với tinh thần tôn giáo hùng tráng th́ tất
nhiên sẽ thấy được ư nghĩa lấy sự
sáng tạo, khai thác mang tính nhất quán của Phật giáo
làm thứ văn hóa chỉ điểm. Ở phương
diện tôn giáo mang tính cứu tế, th́ thứ văn hóa
trong sự sáng tạo và khai thác này là hoàn toàn dựa vào bản
nguyện và tu hành của Bồ-tát Pháp Tạng. Trong đạo
Phật có nói, cần phải bao hàm cả hai phương
diện tín tâm cứu tế và văn hóa th́ mới có khả
năng giữ được bản chất vốn có
xưa nay của Phật giáo. Song, đưa ra diện mạo
tôn giáo mới trong Phật giáo mang yếu tố văn hóa –
nh́n từ vấn đề tôn giáo, có một đấng
tuyệt đối siêu nhiên ra tay cứu độ nhân gian–
th́ đây mới chính là vấn đề quan trọng nhất.
3. Phương diện văn hóa và tôn giáo của
đạo Phật
Không cần phải
dài ḍng, từ “Văn hóa ” đă bao hàm sắc thái “Đế
vương hóa của người thống trị” rất
rơ nét. Do đó, muốn t́m hiểu đạo nghĩa và tôn
giáo th́ chúng ta phải chú ư các ngôn từ như “Thánh hóa”, “Phật
hóa” th́ ư nghĩa Văn hóa mới có giá trị. Trong Thắng Man kinh nghĩa sớ,
Thái tử Thánh Đức[22]
xây dựng nên sức mạnh cần thiết cho một quốc
gia Chính pháp, trong đó có hai sức mạnh là “Thế lực”
và “Đạo lực”. Hai sức mạnh này tương
đương với hai khái niệm “Chiết phục” và
“Nhiếp thọ”[23].
Như nói: “Khi ta có được sức mạnh, sức mạnh
này có hai: một là Thế lực; hai là Đạo lực. Ở
tất cả mọi nơi, nếu có người hành thiện
th́ các con đường lưu chuyển trong sinh tử,
luân hồi trong lục đạo đều được
đóng kín. Do đó, dù ở bất kỳ nơi đâu,
Đại sĩ cũng đều gặp hạng người
này. Nếu họ phạm những tội nặng, Đại
sĩ dùng thế lực để chiết phục; Nếu
họ phạm những tội nhẹ, Đại sĩ
dùng đạo lực để nhiếp thọ. Nếu
chúng sinh dứt hẳn điều ác, tu tập điều
lành th́ cảnh Thánh hóa sẽ trụ măi tại thế gian.
Nếu cảnh Thánh hóa ấy luôn luôn hiện hữu tại
thế gian này th́ có nghĩa điều ác đi nhường
chỗ cho điều thiện đến. Cho nên Trời
người đông đúc, ác đạo giảm dần. Những
người có tâm huyết với đạo ngày càng
tăng th́ bánh xe Chính pháp của đức Phật sẽ
luôn quay măi”.
Đạo lực, thể hiện
được nét văn hóa mà trong ấy xóm giềng thân
thiện, các nước cùng tồn tại cùng phát triển;
Thế lực, dùng để đánh dẹp bọn giặc
ngoại xâm, pḥng vệ đất nước, tố cáo những
hạng người chuyên dụng quyền lực và vũ
lực. Khi nói về ư niệm giữ ǵn ḥa b́nh, tăng
cường quân bị để pḥng vệ đất
nước là hành vi gần với phạm trù “Thánh hóa” nói
trên, không ngoài thao tác mà nhân loại kết hợp giữa
hai sức mạnh Thế lực và Đạo lực.
Đối với phạm trù “Phật hóa”, một mặt
là thừa nhận ư nghĩa văn hóa đời sống của
nhân gian; mặt khác, thể hiện được một
thế giới ḥa b́nh măi măi, ḷng từ bi vô hạn và lư
tưởng “Vạn thiện đồng quy” vô cùng cao đẹp.
Tuy
nhiên, phạm trù “Phật hóa” biểu hiện hoàn hảo nhất,
trong kinh Đại Vô lượng
thọ nói: “Gót chân du hóa, đức Phật đi qua, xóm
ấp nước nhà, chỗ nào cũng được, thi
ân giáo hóa, thiên hạ thuận ḥa, nhật nguyệt sáng
trong, mưa gió đúng thời, không bị tai nạn, nước
giàu dân an, chiến tranh không khởi, mộ Đức chuộng
Nhân, gắng tu theo Lễ”.
Từ
đó, chúng ta có thể thấy được thế giới
của Phật khá ḥa b́nh và an lạc, là quốc gia lư tưởng
của các bậc Thánh Hiền cư trú. Thế giới này
chỉ dừng lại ở lĩnh vực văn hóa thế
gian mà c̣n mang tính lư tưởng như vậy huống ǵ
siêu việt thế gian! Trong sự biểu hiện của
kinh Đại Vô lượng
thọ, các đức tính được nói như “Nhân”,
“Lễ”, “Đức”, cộng thêm nền tảng văn hóa
Ấn Độ, xu hướng hành động và phát triển
của xă hội Trung Á nên đă tỏa ra hương vị
văn hóa cao thượng của “Thánh Hiền Trung quốc”.
Cần phải chú ư chi tiết này!
Phật
giáo cho rằng, thế giới các Thần của A-lợi-an
tại Ấn Độ c̣n nằm trong lĩnh vực đời
sống thế tục, nên Phật giáo nh́n nhận giá trị
của các vị Thần rất thấp. Song, đối với
vị thế của đức Phật, Phật giáo nh́n nhận
Ngài như là bậc “Xuất thế gian” (Lokottara), cực lực
đề cao tính siêu việt của Ngài. Về vấn
đề này, một mặt, được chọn lọc
từ nền tảng của Ấn Độ và nét văn
hóa Thánh Hiền của Trung quốc; nhưng mặt khác, lại
nh́n nhận “Phật hóa” là sự “Sự điều ḥa thế
giới đại tự nhiên của vũ trụ và cuộc
sống an b́nh, ḥa hiệp của thế giới nhân sinh”.
Trong suy nghĩ, chúng ta có thể thấy được rằng,
sự mở rộng Phật giáo Đại thừa tại
Đông Âu đă trở thành vấn đề then chốt
trong lịch sử h́nh thành tư tưởng.
Nhưng bản thân Phật giáo
th́ cho rằng, không những “Phật hóa” cần phải
siêu việt văn hóa Ấn Độ, văn hóa Trung Quốc,
mà c̣n siêu việt cả sắc thái văn hóa Nhật Bản,
văn hóa Đông Á th́ mới có khả năng biểu hiện
rơ ràng được “Thế giới Phật giáo”. Đây
là vấn đề quan trọng và cũng là mục đích
chính của “Phật hóa”. Bởi lẽ, một mặt,
đề cao tính lư tưởng của nhân gian; nhưng mặt
khác, xem “Phật hóa” là chủ nghĩa Phổ biến
được duy tŕ một cách kiên định. Song, ư nghĩa
chính của Phật giáo lại nằm ở phương diện
rộng lớn này. Nếu được như vậy th́
mới có thể gọi Phật giáo là một “Tôn giáo của
thế giới”. Một tôn giáo thế giới đích thực
th́ tôn giáo đó phải được nhận định
là chủ nghĩa Phổ biến siêu thế giới. Nếu
không có được tính chân thật này, th́ dù có gọi là
tôn giáo thế giới cũng không làm sao gạt bỏ
được cảm giác dựa vào tôn giáo để chinh
phục thế giới, và chẳng qua tôn giáo ấy cũng
chỉ tồn tại ở lĩnh vực văn hóa thế
gian mà thôi.
Lấy mối quan hệ
giữa “Văn hóa ” trong “Đạo lực” và “Vũ lực”
trong “Thế lực” tết thành một khối cụ thể,
khéo biểu thị được tinh thần truyền thống
của A-lợi-an là ư nghĩa mà kinh Chính pháp niệm xứ[24]
đă đề cập. Bản kinh này miêu tả cuộc
pháp chiến của thế giới chính pháp. Nội dung bản
kinh được kết cấu đại ư như sau:
Thiên Đế Thích (Śakra
Devānām-indra) trụ tại Thiện Pháp đường
ở thành Đại Thiện Kiến, dẫn đầu
các Thiên Thiện Long ủng hộ nhân dân tuân phụng chính
pháp, đánh phá kịch liệt quân A-tu-la hành việc phi
pháp, để tỏ rơ ḷng bao dung, cao cả của người
thắng lợi. Cuộc chiến đấu dữ dội,
oanh liệt này được miêu tả giống như cuộc
chiến tranh khốc liệt thời cận đại khi
sử dụng chiến xa, bom đạn, pháo cao xạ, vũ
khí phun lửa và đầu đạn nguyên tử. Thiên
Đế Thích ra lệnh cho quân lính của ḿnh rằng:
“Ta v́ bảo hộ
chính pháp, v́ cứu chính pháp, tu hành theo chính pháp, lấy chính
pháp làm cờ biểu, cầu chính pháp, vui với chính pháp,
không vui với cái phi pháp. V́ ta có công đức như vậy
nên có khả năng phá trừ được quân A-tu-la
(Asura). Ta là người sẽ chiến thắng, không ai thắng
nỗi ta, các ngươi chớ nên sợ hăi! Nay ta dẫn
đại quân đến chỗ ở của A-tu-la, các
ngươi chớ sinh tâm yếu hèn, khiếp sợ!” Nh́n
chung, đây là thứ văn hóa chiến mănh liệt muốn
cùng với hết thảy dân chúng thủ hộ chính pháp,
thông qua đó đă chủ trương tính chính đáng của
cuộc chiến tranh. Nói cách khác, đây là nguyên nhân của
cuộc chiến tranh dựa trên Đạo lực của
nhân dân tôn kính ba ngôi báu Phật, Pháp, Tăng, nên một thế
lực được vận dụng để biện
minh cho cuộc chiến tranh chính nghĩa (Justification), đặt
cuộc chiến tranh trên tinh thần chính nghĩa mà tác chiến.
So sánh sự kiện này với Pháp sắc (sắc lịnh
dựa trên đạo Phật) “Sự thắng lợi của
chính pháp mới là sự thắng lợi tối thượng”
của vua A-dục tuyên thuyết, th́ ư nghĩa của lịch
sử h́nh thành kinh Chính pháp niệm
xứ có sự khác nhau rất rơ.
Do đó, Pháp
(Dharma) là phương diện văn hóa nhân gian có đầy
đủ sức mạnh. Không chỉ có thế mà Pháp c̣n
bao hàm cả hai lĩnh vực tương đối cao là
“Văn hóa và Phật hóa”, tức là hai phương diện
“Văn hóa và Tôn giáo”. Đây là vấn đề quan trọng
mà chúng ta cần phải chú ư. Vả lại, nếu không chấp
vào hai phương diện này mà lại làm cho chúng được
quân b́nh th́ “Văn hóa và Phật hóa” cùng với Trung đạo,
Niết-bàn trở thành Phật pháp mang tính Nhất thể cả
h́nh thức lẫn nội dung. “Pháp” của A-lợi-an; pháp
của Tứ đế, Duyên khởi; pháp của vua A-dục;
pháp của kinh Chính pháp niệm
xứ; pháp của kinh Pháp
hoa; pháp của “Pháp vốn như vậy”; pháp của
Trung đạo, Niết-bàn... cho đến pháp trong Phật
pháp, nếu xét trên quan điểm lịch sử thành lập
Phật giáo th́ c̣n nhiều đề tài nghiên cứu thú vị
cho các học giả ngày nay.
Từ
“Văn hóa ” hiện nay chúng ta đang sử dụng
được bắt nguồn từ chữ “Kultur”,
“Culture” và đây là sự thật mà ai cũng biết. Nhờ
đứng trên quan điểm văn hóa để nghiên cứu
mà chúng tôi đựơc biết, Phật giáo thuộc về
văn hóa A-lợi-an. Giai cấp Vương tộc (kṣatriya) trong bốn chủng tính, chỉ
cho người khai thác đất đai, tổ chức quốc
chính và nắm quyền thống trị, là những người
gánh vác đời sống văn hóa nông nghiệp.
Vương tộc là chủ thể của nền văn
hóa A-lợi-an, đại biểu cho những người
thắng lợi. Điều quan trọng là chính đức
Thích Tôn đă thể hội sâu sắc nền văn hóa Khai
thác, nhưng Ngài thoát khỏi văn hóa này lại mang giá trị
quan trọng hơn gấp bội phần. Tức là, từ
triết học Tự ngă, đức Phật đă mở
ra “Quan niệm vô ngă” và “Quan niệm duyên khởi”, cho nên có
thể nói đây là bước đường xâm nhập
âm thầm mang tính khế cơ của đức Phật.
Cách nh́n nhận về Trung đạo cùng với quan niệm
Trung đạo Niết-bàn của Phật giáo c̣n mang tính chủ
thể của văn hóa được tiến hành mở
rộng sang lộ tuyến mới. Đây là sự thật
không thể phủ nhận.
Xét theo “Quan điểm
văn hóa hiện đại được người
Âu– Mỹ lănh đạo” th́ tính chủ thể của
văn hóa chính là quan điểm văn hóa Phật giáo
được mọi người tiếp nhận. Từ
“Nông nghiệp” (Agriculture), “Chăn nuôi” (Catch breeding) của
A-lợi-an theo tiếng Âu-Mỹ tương
đương với tiếng Ấn Độ là
“Kasi-go-rakkha”. Nhưng lúc bấy giờ từ “Thương
nghiệp” (Vanijja) lại không thuộc lĩnh vực
văn hóa , v́ đă được con người kiểm
chứng. Kasi là cấy cày; go là ḅ; rakkha là lo liệu, chăm bón, nuôi dưỡng,
chăn dắt mà đă biểu thị được sự
“Định cư”(Settlement) của người A-lợi-an
Ấn Độ.
Trong Kinh A-hàm, có cuộc pháp thoại giữa
đức Phật với người nông dân
Kasibkāradvōja và mở đầu bằng tiền
đề 11 pháp chăn trâu. Hai người tùy theo từng
vấn đề mà lần lượt luận bàn. Tóm lại,
cốt tủy của văn hóa Phật giáo nằm ở lư
niệm mở rộng và ḥa ái trong thế giới tự nhiên;
mở rộng xă hội và sự đồng ḷng của
nhân gian. Do mối quan hệ như vậy nên tư tưởng
tri ân cũng được biểu hiện rơ từ lĩnh
vực “Văn hóa ” đến “Phật hóa”. Chúng ta không nên
xem nhẹ v́ do có mặt tư tưởng tri ân nên có sự
mở rộng lịch sử về quan niệm “Tha lực”
trong tôn giáo. Trong Phật giáo Nguyên thủy, không những có
“Ngành sản xuất của giai cấp nông dân lo việc
gieo trồng, chăn nuôi” và “ngành giao dịch của giai cấp
thương nhân tân hưng” làm đối trọng cho
văn hóa , mà c̣n có đối trọng cho việc sản xuất
của người thế gian và việc phi sản xuất
của bậc xuất gia. Khi có “Phật giáo” xuất hiện,
người ta thường không chấp nhận vấn
đề “hành vi tạo tác” của giới xuất gia mà
“Thuyết phân biệt Trung đạo” được chú trọng,
trong khi thông qua Thế gian và Xuất thế gian mà t́m ra sự
chân thật một cách như thật, tùy thuận giáo lư Từ
bi mang tính căn bản và chân thật. Từ bi là cái lư của
giáo pháp, làm sao cho tinh thần này được thấm nhuần
vào đời sống để nhân loại được
b́nh an.
II. MỞ RỘNG THẾ GIỚI QUAN PHẬT
GIÁO
1. Văn hóa
A-lợi-an và văn hóa Phật giáo
Người A-lợi-an
vượt sông Ấn Độ để xâm nhập vào
địa phận Ngũ hà (Pañjāb) và vùng Thượng
lưu sông Ấn là nơi đầu tiên họ chiếm cứ.
Đây là miền Bắc Ấn Độ gồm hai nước
Kiền-đà-la25 và
Ca-thấp-di-la26 vào thời
đại Phật giáo hưng khởi. Người A-lợi-an
vào Ấn Độ xây dựng nên một lănh thổ quốc
gia cho dân tộc ḿnh. Từ đây, họ tiến sâu vào
đồng bằng Câu-lâu, Bàng-giá-la và gọi các địa
phương này là “Trung quốc”. Đây là đất nước
Bhāratavorsa do Bhārata quản lư. Dân tộc A-lợi-an
và dân tộc Hán gọi lănh thổ quốc gia dân tộc ḿnh
là “Trung quốc”, xưng nền văn hóa của ḿnh là
“Trung hoa”. Cả người A-lợi-an và người Hán
đều đi trên một lộ tŕnh như nhau, mặc
dù họ là hai dân tộc khác nhau nhưng đều là những
người thắng lợi.
Tại Nhật Bản,
“dân tộc Đại Ḥa” là người thắng lợi
nên rập khuôn theo dân tộc A-lợi-an và dân tộc Hán, gọi
quốc gia ḿnh là “Trung châu” hoặc “Phong vĩ nguyên trung tân
quốc”27. Thế nhưng, bất
luận là dân tộc A-lợi-an hay dân tộc Hán khi xác định
lănh thổ quốc gia, ổn định đời sống,
khai thác văn hóa , chỉnh lư tổ chức xă hội...
đều biểu thị thế lực của những
người thắng lợi muốn xây dựng một
đất nước trung tâm cho dân tộc ḿnh. Dù họ có
khoa trương đến mức nào th́ tại
phương Đông, hai nền văn hóa lớn Ấn
Độ và Trung Quốc vẫn được xem là hoàn hảo
nhất và duy tŕ măi cho đến ngày nay. Song, kết hợp
hai nước cứ điểm [Trung Quốc, Ấn Độ]
này th́ vấn đề được bàn tới không phải
ở lĩnh vực khác mà chính là “Phật giáo”. Đây là sự
khảo nghiệm lớn nhất xác định Phật
giáo có đầy đủ thực chất của một
tôn giáo thế giới.
Nhưng, Phật
giáo đă trải qua quá tŕnh như thế nào để
thành tựu được thực chất ấy? “Trung quốc”
thuộc văn hóa của dân tộc [A-lợi-an], vậy sự
kiện nào đă khiến cho Phật giáo trở thành chiếc
nôi văn hóa đại diện cho toàn đất nước
Ấn Độ, thậm chí c̣n đề cao Phật giáo
lên tầm quốc tế?
Đây là vấn
đề vô cùng thú vị mà chúng ta cần phải nói. Phật
giáo, một mặt kế thừa văn hóa “Trung quốc
A-lợi-an”, nhưng mặt khác lại mở rộng ảnh
hưởng đến địa vực tân hưng phía
Đông Ấn Độ. Đương thời, cho thấy
đời sống các vùng tân hưng như Ma-kiệt-đà,
Vi-đề-ha... vô cùng sung túc, dựa vào “Trung quốc A-lợi-an”
làm căn cứ địa, rồi xây dựng nên một
trung tâm “Trung quốc Phật giáo”. Nhưng, vùng đất
trung tâm văn hóa Phật giáo này chính là thành Vương Xá
(P. Rājagaha) thuộc nước Ma-kiệt-đà. Về
sau, văn hóa Phật giáo lại xuất hiện khắp
các vùng như: thành Ba-tra-lí-tử (thủ đô vương
quốc A-dục, ngày nay là Patana), thành Xá-vệ
(Śrāvastī) thuộc nước Câu-tát-la (Kośala),
Vārāṇasī (Bà-la-na-thi) thuộc nước Ca-thi
(Kasa), tức ngày nay là vùng Benares (Bách-na-lai-tư)... Địa
bàn Takṣaśilā (Tha-khắc-sa-thi-la) thuộc nước
Kiền-đà-la miền Bắc Ấn Độ cũng là
đô thị văn hóa mà Bác sĩ Jivaka (Kỳ-bà)28 đă từng lưu học tại
đó. Như vậy, văn hóa Phật giáo sơ kỳ
đă mở rộng lănh thổ Trung quốc A-lợi-an
đến các nước phương Đông.
Sau khi đức
Thích Tôn diệt độ, đại vương A-lịch-sơn-đại
(Alexandre)29 đem quân xâm
lược Ấn Độ ḥng mong thống nhất nước
này. Trải qua ba đời vua Chandragupta (Cấp-bất-đa),
Bimbisāla (Tần-tỳ-sa-la), Asoka (A-dục) đều lấy
Pāṭaliputra (Pha-đa-lư-phổ-đắc-la) tại
Ma-kiệt-đà làm căn cứ địa cho vương
triều Māurya (Khổng Tước) và đă trở
thành vương quốc cho toàn đất nước Ấn
Độ. Đến khi vua A-dục quy y Phật giáo,
“Vương quốc Dharma” (Pháp) có đủ tính cách của
một đất nước mang tầm cỡ thế giới.
Sự kiện này đă khắc thành văn bản có tên gọi
“Pháp sắc” (Dharma Edit). Đồng thời, vua phái các sứ
giả truyền đạo của Phật giáo sang các
nước Hy Lạp, Tự-lợi-á, Ai Cập, Bắc Ấn
Độ, vùng thực dân Hy Lạp, Tích-lan, Miến Điện...
để truyền đạo. Do đó, Phật giáo đă
trở thành một tôn giáo có mặt khắp các nước
trên thế giới mà trung tâm Phật giáo Trung quốc A-lợi-an
là cố hương trong lịch sử Phật giáo.
Mặc dù Trung quốc
A-lợi-an thuộc thời đại Bà-la-môn với chủ
nghĩa Tế tự cao nhất nhưng lĩnh vực
văn hóa có ảnh hưởng rộng khắp các vùng,
như: phía Bắc, đến núi Hy-mă-lạp-nhă; phía Nam
đến núi Tần-xà-da; phía Tây đến
Thánh-hà-sa-la-tư-bà-để; phía Đông, đến vùng
A-la-ha-ba-đức, tức nơi hợp lưu của hai
con sông Hằng và sông Diêm-mâu-na và lấy A-cách-lạp-thị
tại Tha-cơ-mạ-ha-nhĩ-miếu, hoặc lấy thủ
đô Đức-lư-thị của Ấn Độ làm trung
tâm. Song Trung quốc Phật giáo sơ kỳ lấy cánh rừng
lớn Bà-la-thọ tại tụ lạc30 Kajangala (Ca-tương-ca-la)
làm giới tuyến phía Đông, lấy sông Sallavati
(Tát-la-bà-đế) làm giới tuyến phía Đông Nam; lấy
tụ lạc Setakannika (Thế-đạt-kham-ni-ca) làm giới
tuyến phía Nam; lấy thôn Bà-là-môn Thuna (Đồ-na) làm giới
tuyến phía Tây và lấy núi Asiraddhaja (Ưu-thi-la-đa-giá)
làm giới tuyến phía Bắc. Ngoài các vùng này th́ những
vùng khác được gọi là Biên quốc
(Paccantimajanapada). Do đó, cách tác pháp thọ giới của
Trung quốc Phật giáo cũng thừa nhận “Lược
thức”31 của Biên quốc.
Sau khi đức
Thích Tôn diệt độ, ḍng chủ lưu thuộc truyền
thống giáo đoàn Phật giáo do ngài Đại Ca-diếp
(Mahākāsyapa) và A-nan (Ānanda) kế thừa. Chi nhánh
ngài Xá-lợi-phất (Sāriputta) hoặc Ưu-Ba-li
(Upāli) cũng có truyền thừa nhưng vị đệ
tử đức Phật sở trường về biện
luận là ngài Ma-ha Ca-chiên-diên-na (Māhahacāyana) từ rất
sớm đă tách biệt, truyền đạo tại cố
hương của Ngài là Ujjent (Ưu-tỷ-ni). Sau khi đức
Phật diệt độ khoảng 100 năm, Phật giáo
chia thành hai phái lớn: 1. Phái phương Đông Pācinaca
(Bà-thi-na-ca) lấy Vesali làm trung tâm; 2. Phái phương Tây
Pātheyaka (Bà-đề-da-ca) lấy Kosambi (Câu-tam-t́) làm
trung tâm và địa phương Avanti (A-bàn-để) lấy
Ujjent làm trung tâm.
Phái phương
Đông mang tính tiến bộ, gọi là Đại chúng bộ;
phái phương Tây, là phái của những Trưởng lăo,
mang tính bảo thủ, gọi là Thượng tọa bộ.
Trong đó, nhân vật trung tâm của Tăng đoàn là
Śāṇa-vāsin (Sa-na-bà-thi)32
thuộc phái phương Tây. Mặc dù xuất thân từ
thành Xá-vệ nước Câu-tát-la nhưng Ngài sang Mathurā
(Ma-thâu-la) truyền “pháp” cho Upaguta (Ưu-bà-cúc-đa). Theo
truyền thuyết của Nhất thiết hữu bộ
th́ Ưu-bà-cúc-đa là vị thầy cố vấn tôn giáo
cho vua A-dục. Ngài cùng mẫu thân cư trú tại vùng
Ưu-tỷ-ni và được Ma-ha Ca-chiên-diên, vị chân
tu nổi tiếng thuộc Phân biệt thuyết bộ giáo
hóa. Vương tử Mahinda (Ma-sẩn-đà) con vua A-dục
cũng đem Phật giáo từ vùng Ưu-tỷ-ni truyền
sang Tích-lan, h́nh thành nên Phân biệt thuyết bộ
(Vibhajjavadin). Tại Kashmir (Ca-thấp-di-la), Mạt-điền-địa
đă kiến lập nên cơ sở Phật giáo. Dhītika33 (Để-đế-ca, c̣n gọi
là Đế-tu) xuất thân từ Ưu-tỷ-ni, là người
thọ pháp từ Ưu-ba-cúc-đa do Mạt-điền-địa
truyền thừa. Có người cho rằng, Dhītika là
người giáo hóa vua Menander (Di-nan-đà) tại nước
Tukhāra (Đột-ca-la) và vương tử Hermaior tại
miền đất thực dân Hy Lạp.
Theo Nhất thiết hữu bộ
th́ không những Phật giáo đă kiến lập nên căn
cứ địa vững chắc từ vùng Bắc Ấn
như Ca-thấp-di-la, Kiền-đà-la, Đột-ca-la
đến vùng Trung ương Á-tế-á (Kucīna), mà c̣n mở
mang thế lực lớn mạnh từ vùng Mathurā
(Ma-đột-la) đến địa phương Assam
(A-tát-mỗ) thuộc miền Đông Ấn Độ. Nhiều
người đều biết rằng, “Long Thọ
(Nāgārjuna) là người xây dựng nên tổ chức
Phật giáo Đại thừa” nhưng ít người có thể
biết được “Ngài cũng là một học giả
nổi danh của Nhất thiết hữu bộ và
được liệt vào vị Tổ thứ 13 của
Ācariya-parampara, tức Thượng tọa tương
thừa”.
Vào khoảng thời
đại vua A-dục, Phật giáo đă phân chia làm nhiều
phái, ước lượng khoảng 20 “Bộ phái khác
nhau”. Do hệ thống truyền pháp có sự khác biệt giữa
các bộ phái nên có ít nhiều chi tiết không trùng hợp.
Trong phần Hữu bộ mục lục, quyển 12 trong
Xuất Tam tạng kư tập34,
tuy có nói đến 53 hoặc 54 vị Tổ được
truyền thừa, nhưng căn cứ vào Phó pháp tạng
nhân duyên truyện35 th́
được biết sự tương thừa của
Thượng tọa bộ ở Ấn Độ gồm
23 vị như sau:
1.
Mahākāsyapa
2.
Ānanda
3. Sāṇavàsika

4.
Madhyāntika
5.
Dhītika
6.
Mecaka
7.
Buddhanandin
8.
Buddhamitra
9. Parsvabhikṣu
10.
Purnāsa
11.
Asvaghoṣa Bodhisattva
12.
Kapimāla bhikṣu
13.
Nāgārjuna Bodhisattva
14.
Kāṇadeva (āryadeva)
15.
Ārya Rāhula
16.
Ārya Samghanandin
17.
Saṃghayasas
18.
Kumāralāta
19.
Jayata
20.
Vasubandhu
21.
Manula
22.
Haklenayasas
23.
Siṃha bhikṣu mihirakula (Bị vua Hung Nô sát hại)
Quá tŕnh phát triển
của văn hóa Ấn Độ từ miền Tây Bắc
đến các vùng phía Đông và c̣n mở rộng sang vùng
trung tâm Ấn Độ. Quá tŕnh này biểu hiện sự
di chuyển từ Trung quốc A-lợi-an cổ đại
đến Trung quốc Phật giáo tân hưng rồi sau
đó là vương quốc “Pháp” thời đại vua A-dục.
Vương quốc Ma-kiệt-đà tại miền Trung Ấn
Độ là vùng văn hóa của vương quốc A-dục,
nguyên do người Hy Lạp đánh chiếm vùng phía Bắc
Ấn Độ và làm cho vùng này hưng thịnh. Tiếng
vang ấy đă trở thành thế lực tất nhiên cho
Phật giáo mở rộng đến các địa
phương miền Bắc Ấn. Xưa nay, tất cả
mọi thứ đều do bên ngoài đưa vào, nhưng từ
lúc sự kiện “Truyền đạo bằng Pháp” của
vua A-dục phát động th́ văn hóa Ấn Độ mới
bắt đầu trở thành bảo vật của bản
quốc truyền ra nước ngoài.
Tất cả những
sản phẩm được đưa ra nước
ngoài đều mang đủ điều kiện cần
thiết của nó, tức là sản vật đó là đặc
sản của một quốc gia và đáp ứng được
thị hiếu của số đông. Tuy Phật giáo xuất
phát từ Ấn Độ nhưng tự bản thân nó
đă mang đầy đủ tính cách của một tôn
giáo siêu việt Ấn Độ. Vậy, đất nước
Hy Lạp đă ban cho Ấn Độ những ǵ? Ấn
Độ đă cung cấp cho Hy Lạp những ǵ? Ấn
Độ đă ban tặng cho Trung ương Á-tế-á và
Trung Quốc những ǵ? Và ngược lại, Trung Á và
Trung Quốc đă ban tặng cho Ấn Độ những
ǵ?
Trong vấn đề
giao lưu văn hóa từ xưa đến nay, chúng ta cần
phải quán triệt các điều mục quan trọng có
liên quan. Có thể kết luận rằng, Hy Lạp đă
chịu ảnh hưởng bởi thực tiễn và
phương pháp tư duy của người Ấn Độ,
c̣n Hy Lạp đă cung cấp nghệ thuật Phật giáo
Greco-gandhāra (Cách-lễ-khoa Kiền-đà-la) cho Ấn
Độ. Cần lưu ư rằng, mặc dù Trung Quốc
có tiếp nhận Phật giáo, đă dịch được
Tam tạng Thánh điển Đại, Tiểu thừa,
biên tập thành Đại tạng kinh điển đồ
sộ, nhưng chẳng ban tặng một thứ ǵ cho Ấn
Độ. Đây là vấn đề cần lưu ư. V́ vậy,
chúng ta có thể đặt câu hỏi, Hy Lạp và Ấn
Độ đều có chung “Tính chất gần gũi về
văn hóa” nhưng trong mối quan hệ giữa Trung Quốc
và Ấn Độ tại sao có sự ban tặng một
chiều như vậy?
Theo tôi nghĩ, dân
tộc A-lợi-an tại Ấn Độ và dân tộc Hán
tại Trung Quốc có “Những cái tự chủ” riêng nên cả
hai không có sự giao lưu nào. Chính v́ Phật giáo sở hữu
chủ nghĩa Phổ biến để vượt thoát
tính tự chủ dân tộc nên mới có thể thành tựu
nhiệm vụ trong mối liên hệ giữa hai nước.
Song, Phật giáo tại Ấn Độ đă khắc phục
được chủ nghĩa Tự kỷ được
coi như trung tâm của dân tộc A-lợi-an; c̣n Phật
giáo tại Trung Quốc th́ khắc phục được
những ǵ của dân tộc Hán?
Ban đầu, Phật
giáo được dân tộc Hán tiếp nhận và các dân tộc
ở miền biên giới phía Bắc Trung Quốc tín phụng
Phật giáo trước tiên. Họ kết hợp hai tư
tưởng “Không” của Bát-nhă và tư tưởng “Vô vi”
của Lăo Trang, nên không thể không vận dụng h́nh thức
“Phật giáo Cách nghĩa”36.
Đây là sự thật không thể phủ nhận.
Nhưng từ ngài Đạo An trở về sau, các tác phẩm
của ngài La Thập (344 – 413) truyền lại, giáo lư Trung
quán, Pháp hoa, Thành thật được các đệ tử
của Ngài triển khai, cuối cùng h́nh thành nên Tam Luận
tông của ngài Cát Tạng, đến Thiên Thai tông của
ngài Trí Khải th́ Trung Quốc đă xây dựng nên một nền
giáo lư Phật giáo Trung Quốc riêng biệt.
Sau này, không luận là Thiền của
Bồ-đề Đạt-ma, Tịnh độ giáo của
Đàm Loan hoặc Thiện Đạo, cho đến giáo lư
Hoa nghiêm của Pháp Tạng... đều chiếm vị trí
rất cao trong lĩnh vực văn hóa thế giới ngày
nay, v́ giáo nghĩa Phật giáo đă xây dựng đầy
đủ những nét văn hóa sáng tạo, độc lập
cho Phật giáo Trung Quốc. Từ những yếu tố
đó, Trung Quốc đă chứng minh được sự
vĩ đại của nền văn hóa Phật giáo mà ḿnh
đang sở hữu. Bên cạnh đó, Ấn Độ
không có được ǵ từ Trung Quốc nên không thể
biểu thị được “Nét văn hóa Trung Quốc”.
Từ thời Trung Đường trở về sau, Ấn
Độ đă mất hẳn vết tích Phật giáo nên
hai dân tộc không thể liên kết được các mối
quan hệ với nhau. V́ vậy, khi khảo sát tính cách
văn hóa phương Đông và những vấn đề
tương lai, chúng ta cần phải chú trọng sự kiện
lớn này.
2. Giai đoạn tiến dần về
phương Đông của Phật giáo Đại thừa
Theo Thiện kiến luật Tỳ-bà-sa
(Samantapāsādikā), quyển 2 ghi: “Vua A-dục phái sứ
giả truyền đạo là Makarakkhita (Ma-ha-la-cơ-đạt)
đem “Pháp” truyền đến Yonaloka (Du-na Thế giới)
hoặc Yavana, tức vùng đất thực dân Hy Lạp.
Theo phẩm Tát-đà-ba-luân Bồ-tát
trong Đạo hạnh Bát-nhă
kinh, quyển 9 nói: “Bồ-tát Sadāprarudita (Tát-đà-phổ-đa-lâu-đề-đạt)
đi về phương Đông hai vạn dặm đến
nước Kiền-đà-la (Gandhāra), gặp Bồ-tát
Đàm-vô-kiệt (Dharmodgata) và được ngài truyền
trao cho “pháp Bát-nhă”, c̣n có cuộc pháp thoại như sau:
“Đối với sự cúng dường của Phật
giáo, mặc dù các vị Thần không ẩn trụ trong
tượng, nhưng v́ khiến người được
phước nên mới có ư nghĩa tạo tượng”.
Trong kinh Na Tiên Tỳ-kheo (Milindapañhā),
vua Di-lan-đa-la-tư (Menandros) mang tư duy của người
Hy Lạp với cách suy nghĩ có tính dân gian, đưa ra
nghi vấn với Tỳ-kheo Nagasena về các vấn đề
như 32 tướng tốt, thân sắc vàng...của đức
Phật. Lúc bấy giờ, các tín đồ Phật giáo quyết
định từ bỏ truyền thống mô tả tượng
Phật không mang tính cụ thể nữa, mà phỏng theo
cách thức điêu khắc của người Hy Lạp, bắt
đầu tạo tượng Phật để chiêm bái.
Qua sự kiện này, có thể nói Phật giáo đă tiếp
nhận được những nhân tố quan trọng từ
các dân tộc vùng Trung ương Á-tế-á (Kucīna).
Năm 399, pháp sư
Pháp Hiển37 từ Trường
An ra đi. Trong Phật quốc
kư của Ngài có nói, tại Đạt-lễ-như38 thuộc biên giới phía Bắc
Ca-thấp-di-la, lễ bái tượng đức Bồ-tát
Di-lặc39. Năm 402, sứ
giả Trương Mạch nhà Tiền Hán đă kinh lược
sang các nước phương Tây như Đại Nguyệt
Thị và Ô-tôn, và Cam Anh thời Hậu Hán cũng đi sứ
nhiều nơi xa hơn, đến tận nước La
Mă nhưng cả hai vị sứ giả nhà Hán này chưa từng
đến sông Đạt-lễ-như.
Trong Phật quốc kư nói rằng, tại vùng đất
ấy, tương truyền từ rất lâu, sau khi dựng
lên bức tượng Bồ-tát Di-lặc, th́ các Sa-môn Thiên
Trúc mới mang được Kinh, Luật qua sông này. Sự
kiện dựng “tượng” vào khoảng 300 năm sau khi
đức Phật nhập Niết-bàn, nên có thể nói,
Đại giáo của đức Phật được
tuyên lưu bắt đầu từ khi có bức tượng
này.
Đại Đường Tây Vực kí, quyển 3, ngài Huyền
Trang cũng nói: “Tượng Di-lặc tại Đạt-lệ-la40 do La-hán Mạt-điền-địa
tạo. Sau khi có bức tượng này, chính pháp lưu truyền
sang Đông độ”. Sự kiện được ghi lại
trong tác phẩm này trở thành điển cứ được
ghi chép trong các sử sách Trung Quốc sau này, các khẩu hiệu
nổi tiếng như “Đại pháp Đông tiệm”,
“Pháp môn Đông tiệm” đều từ đó mà ra. Ấn
Độ ở phương Tây, Trung Quốc ở
phương Đông, nên lộ tuyến di chuyển dần
về phương Đông của Phật giáo đă cho chúng
ta thấy rất rơ điều đó trong lịch sử.
Mặc dù nói Phật
giáo chỉ lan truyền sang phương Bắc như miền
Bắc Ấn Độ, Trung Ương Á-tế-á (Kucīna), nhưng khi truyền
đến đây, Phật giáo lại di chuyển dần
sang phía Đông để vào Trung Quốc. Trong Đại phẩm và Tiểu phẩm của kinh Bát-nhă, bản dịch của
ngài La Thập đều nói rằng, sau khi Phật diệt
độ 500 năm, [chính pháp] “lưu bố phương Bắc”,
nhưng phẩm Nan văn công
đức trong phần đầu kinh Đại Bát-nhă do ngài Huyền Trang dịch th́ lại
đổi thành [chính pháp] “lưu bố tại phương
Đông, Bắc”. Đem hai bản dịch này đối chiếu
với bản văn tiếng Phạn th́ bản văn tiếng
Phạn ghi “lưu hành phương Bắc”, chứ không phải
“phương Đông, Bắc”. Ngài Huyền Trang dịch
thành “phương Đông, Bắc” và trong phần thứ hai
của kinh Đại Bát-nhă
lại sắp xếp riêng một chương gọi là “Đông Bắc phương phẩm”
đều không ngoài việc hưởng ứng khẩu hiệu
“Đông và Đông” trong “Đại pháp Đông tiệm” mà
thôi!
Thế giới quan của
Ấn Độ gồm có hai loại h́nh là Thánh điển
Purāṇa41 và Khởi
thế kinh42, Thi thiết luận43 của Phật giáo. Thế
giới quan của Purāṇa
lấy núi Himālaya làm cơ sở, có đủ tính cách của
một lục địa Ấn Độ. Thế giới
quan của Phật giáo lấy Himālaya làm trung tâm, có đủ
tính chất của một lục địa Ấn Độ.
Thế giới quan của Phật giáo lấy Himālaya làm
trung tâm nên đă trở thành thế giới quan siêu việt
của Ấn Độ. Đây là tính chất đặc
trưng của thế giới quan Phật giáo.
Khi Phật giáo lấy
thế giới này làm cơi Diêm-phù-đề, so với
vương quốc Bharatavorsa của Trung quốc A-lợi-an
th́ cơi này tương đương với núi Tu-di (Sumeru)
trong dăy Himālaya. Trong lịch sử, nếu lấy thủ
đô Delhi ngày nay làm trung tâm th́ vùng đất này trở
thành điểm mấu chốt cho Thế giới quan của
Bà-la-môn cũng là lẽ đương nhiên. Nhưng theo thế
giới quan Phật giáo được tưởng tượng
bởi toàn bộ đất nước Ấn Độ
th́ những tên gọi như Bhārata...cũng chỉ là
địa vực mang tính cách địa phương hóa mà
thôi.
Xét
theo Tứ châu kinh trong Trung A-hàm, quyển 11; Khởi thế kinh; Câu-xá luận, quyển 11; Diêm Phù Đề Châu phẩm
trong Trường A-hàm, quyển 18; Khởi thế nhân bản kinh, quyển 1, th́ bốn
châu của núi Tu-di được sắp xếp theo sơ
đồ sau:
Utara-kuru Bắc
Câu-lô châu
Pūrva-videha Đông
Thắng Thần châu Apara-godānīya Tây
Ngưu Hoá châu Sumeru Tu Di
sơn
Jambu-dvīpa Nam Thiệm
bộ châu
“Kuru” là danh xưng
mang tính Thần thánh hóa các vùng Câu-lâu, Bàng-giá-la trong dân tộc
A-lợi-an, nhưng thế giới quan trong Phật giáo
đă siêu việt cảnh Thần bí của núi Hy-mă-lạp-nhă.
Vi-đề-ha của phương Đông coi Ma-kiệt-đà
là đại biểu cho Thế giới quan, có nghĩa là
đất nước mà nơi đó được sáp nhập
lĩnh vực phi A-lợi-an vào văn hóa A-lợi-an. Vùng
này tương đương với các địa
phương tân hưng. Tại Jambu-dvīpa (Diêm-phù-đề)
có địa h́nh phía Bắc rộng, phía Nam hẹp, tức
đất nước Ấn Độ ngày nay. Trên đỉnh
núi Tu-di có cơi trời Tam thập tam44
cư ngụ, do vị Trời Đế Thích (Śakra
Devānām-indra) thống lĩnh. Cơi trời này biểu
thị quyền uy là một mái nhà của thế giới,
v́ nó mang tính Thần bí nên hiếm có dấu chân con người
đặt tới. Nhưng, Phật giáo đă siêu việt
thế giới này, nên trong tư tưởng đă h́nh thành
một thế giới lư tưởng mang tính “vô hạn” và
“vĩnh hằng”. V́ vậy, Phật giáo xem cơi “U huyền”
là h́nh thái của tư tưởng. Song, một điều
không hề khoa trương, Phật giáo là tôn giáo coi hiện
thực của đời sống nhân sinh là vấn đề
quan trọng nên Hy-mă-lạp-nhă mang đầy tính Thần bí
là điều hiển nhiên. Do vậy, nếu ai không hiểu
vấn đề này th́ sẽ mờ mịt trước Thế
giới quan của Phật giáo. Không những thế, chúng
ta có thể thẳng thắn nói rằng, Phật giáo cũng
siêu việt tư duy b́nh thường của nhân gian và mong
muốn chính mỗi người trong chúng ta phải thể
hội được tính đặc trưng của tất
cả các phạm trù như Chân, Thiện, Mỹ và Thánh một
cách trọn vẹn.
Xét về Thế giới
quan Ấn Độ, lấy sông Hằng làm ḍng chủ
lưu và gộp các nhánh sông Yamuna, Aciravati, Sarabhn, Mahi45 thành Ngũ hà Paucanadi (?) để
xây dựng nên địa lư văn hóa mới của Phật
giáo. Do đó, các kinh thường nói đến Thế giới
quan Ấn Độ như Thế
gian phước kinh, Thất
nhật kinh S.N.XIII 3; A.N.VII.62; Milindapanha46 VII.2.20... trong Trường A-hàm chính là tài liệu thuộc chế
ước của xă hội lúc bấy giờ. Ngược
lại, kinh Đại lâu thán;
kinh Khởi thế trong Trường A-hàm, quyển 30;
Đại trí độ luận,
quyển 7; Câu-xá luận, quyển
11, Tây Vực kư, quyển 1; Đại Tỳ-bà-sa luận,
quyển 1 so sánh chế ước của bốn chủng
tính như ḍng nước của bốn con sông khi chảy
vào đại dương đều mang một vị mặn
như nhau, tức chỉ cho bốn sông Hằng (Gaṅgā),
sông Tín-độ (Sindhu), sông Tỷ-đà (Śītā) và
sông Phược-sô (Vakṣu).
Có người nói,
sông Hằng là đại biểu cho đất nước
Ấn Độ, sông Tín-độ47
biểu thị cho cương giới các vùng phía Bắc Ấn
Độ; sông Phược-sô (Vakṣu) chảy vào biển
Aralsea (Hàm Hải), tức sông Oxus ngày nay; sông Tỷ-đà
(Śītā) là sông Tra-khả-tát-đề (Jaxartes) c̣n có
tên gọi là sông Tích-nhĩ (Sir-daria). Theo tài liệu ghi lại
của ngài Huyền Trang th́ đây là sông Yarkand (Diệp-nhĩ-khương)
chảy vào sông Tarim thuộc nước Lopnor (Bố-nặc-nhĩ).
Các tài liệu ghi chép về thế giới quan Ấn Độ,
Trung Ương Á-tế-á (Kucīna), vùng biên giới
Trung Quốc chính là những thông tin do người đời
sau ghi lại. Dường như không có ǵ nghi ngờ khi nhận
định rằng, Thế giới quan của “Tứ
đại hà”48 là lấy
địa vực như đă tŕnh bày trên làm sản vật
cho vương quốc Ca-nị-sắc-ca trong lịch sử
dân tộc của họ sau này. Nhưng thế giới quan
Phật giáo lại mở rộng hơn rất nhiều, tức
vượt ra ngoài lănh thổ Ấn Độ.
Vua Ca-nị-sắc-ca
(Kaniṣka) thuộc vào vương triều Quư Sương
(Kuṣāna), một trong những nước chư hầu
của Đại Hạ (Bactria) nhưng ông không quy phục
sự lănh đạo của tộc Đại Nguyệt Thị
mà muốn độc lập. Ông đă kế thừa Khâu-tựu-khước
đệ Nhất (Kujura Kadphises), Diêm-cao-trân đệ Nhị
(Wema Kadphises)49 lên lănh đạo
một đất nước hưng thịnh. Vương
quốc này, phía Tây giáp với An Tức (Arsakides); phía
Đông đến lưu vực sông Ba-mê-la (Pamir) thuộc
Thông Lĩnh; phía Bắc giáp sông Tra-khả-tát-đề
(Jaxartes); phía Nam trải dài đến vùng Ngũ hà thuộc
Bắc Ấn. Từ khi kế vị, vua Ca-nị-sắc-ca
xây dựng vương quốc này ngày càng lớn mạnh và
thủ đô được dời về Bố-lộ-sa-bố-la
(Puruṣapura), nay là thành phố Bạch-ha-ngơa (Peshawa). Do
đó, cái tên vương quốc Kiền-đà-la là nằm ở
đây.
Theo suy đoán của
đại sứ Iran tại Pháp là Chirshman th́ niên đại
Ca-nị-sắc-ca trị v́ khoảng năm 145 Tây lịch.
Ngụy thư, quyển 3
trong Tam Quốc chí có ghi:
“Tháng 12 năm thứ 3 niên hiệu Đại Ḥa triều
đại Nguỵ Minh đế (năm 229 Tây lịch), vua
nước Đại Nguyệt Thị là Ba-điều
(Vāsudeva, tức cháu của vua Ca-nị-sắc-ca) sai sứ
sang triều cống nước Ngụy”. Lấy sự kiện
này đối chiếu với lời suy đoán của
đại sứ Chirshman th́ cả hai đều có sự
thống nhất rằng, Ca-nị-sắc-ca sinh vào giữa
thế kỷ thứ II Tây lịch.
Theo khảo cứu th́ dân tộc
Đại Nguyệt Thị vốn cư trú tại miền
Bắc Trung Quốc, bị quân Hung Nô đánh đuổi nên
họ di chuyển về hướng Tây, ra khỏi Trung
Ương Á-tế-á (Kucīna), tiêu diệt nước Đại
Hạ, một nước do người Hy Lạp dựng
nên. Tộc Quư Sương (Kuṣāna) là một trong những nước
chư hầu của Đại Hạ (Bactria), nên họ
đă liên kết giao lưu với các nước Trung Quốc,
Trung Á, Bắc Ấn. Do vua Ca-nị-sắc-ca xác lập
được con đường giao lưu
văn hóa với các nước này, đồng thời vua
cũng là người nhiệt thành hộ tŕ Phật giáo
nên sự giao lưu trên đă trở thành con đường
cho Phật giáo dần dần du nhập vào các nước
phương Đông.
Sở dĩ Thế
giới quan Phật giáo đối lập với Thế giới
quan Bà-la-môn giáo là v́ thế giới quan Phật giáo mang tính
toàn cầu. Xét về nguyên nhân, từ thời sơ kỳ,
Phật giáo chỉ có mặt tại trung tâm Ấn Độ,
nhưng về sau, Phật giáo đă dần dần có ảnh
hưởng sâu rộng, vượt khỏi Ấn Độ
để tiến xa hơn và trở thành một tôn giáo mang
tính chất Đông Á. Chúng ta sẽ thấy được
h́nh bóng siêu việt trong tư tưởng h́nh thành nên “Bốn
con sông lớn” này của Phật giáo. Và khi đối chiếu
sự kiện này với sự kiện kinh lược từ
Đại Đường đến vùng Á-tế-á th́ sự
thật sẽ được rơ ràng hơn. Trong Tây Vực kư của ngài Huyền
Trang, ḍng đầu tiên đă có tên “Đại Đường”,
chứng tỏ lần kinh lược này, không những ngài
Huyền Trang ghi lại những điều tai nghe mắt
thấy của một vị “Tam tạng pháp sư” khi sang
Tây Trúc cầu pháp mà c̣n phát huy được uy quyền của
nước Đại Đường nơi ngài sinh ra và lớn
lên. Do đó, Thế giới quan trong tác phẩm Đại
Đường Tây Vực kư đă bao hàm ư đồ chính trị
nhằm phô trương uy quyền của Đại
Đường cho thế giới biết về đất
nước Trung Quốc đương thời. Bốn
châu của núi Tu-di tuy được cấu thành trong tư
tưởng người Ấn Độ nhưng trong bài tựa
tác phẩm Đại Đường Tây Vực kư của
ngài Huyền Trang được sắp xếp như sau:
Nước Hàn Kính
Mă chủ50

Trên đây là Thế giới quan
của Ấn Độ, nhưng lại theo cách sắp xếp
của ngài Huyền Trang. Theo cách sắp xếp này, một
mặt, là để thay h́nh đổi dạng; nhưng mặt
khác, Ngài đă xây dựng nên một thế giới quan mà
hoàn toàn lấy Trung Quốc làm trung tâm. Trong bốn nước
chủ (Tứ chủ quốc), đặt biệt Ngài nói về
nước Nhân chủ ở phương Đông như sau:
“Nhiều người ḥa vui,... thuần phong mỹ tục,
nhân nghĩa sáng ngời, đội mũ mang đai, trật
áo bên phải, xe cộ thứ lớp, đất đai yên
ổn, ưa chuộng đổi mới, tài sản dồi
dào. Trong phong tục sống, của ba “Nước chủ”,
phương Đông đứng đầu. Nhà ở của
họ, trổ cửa hướng Đông, mỗi buổi
sáng sớm, lễ bái phương này. Lănh thổ Nhân chủ,
mặt Nam được chuộng, phong ngay tục chính,
đại khái như vậy. Cho đến vua tôi trên dưới
đều lấy Lễ tiết đối xử, văn
hiến pháp chế đều trọng Lễ nghi, chẳng
thua kém ǵ đất nước Nhân chủ. Con người
nơi đây, giáo dục đàng hoàng, tấm ḷng trong sạch,
thư thái khoan dung, luôn nuôi chí hướng, xuất ly sinh tử.
Nền tảng đạo lư, của nước Tượng
chủ, thật hoàn mỹ thay! Ở các nước này, mọi
người đều biết, sáng tác kinh văn, phong tục
các vùng, đều hiểu biết hết, quán thông kim cổ,
thấy biết tinh tường. Thế nhưng, Phật
thịnh phương Tây, pháp lưu Đông quốc”.
“Đông quốc” được
nói đến ở đoạn văn trên đương
nhiên là chỉ cho nước Trung Quốc. Nếu “từ
ngày Tam chủ mà hành động”, th́ sự định
hướng Orientation (về phương Đông) thích hợp
với vị trí ở phương Đông (Orient). Giống
như người Nhật Bản tự cho quê hương
ḿnh là nước “Mặt trời mọc”. Ấn Độ
là một quốc gia tôn trọng loài voi nên tôn xưng đức
Thích Tôn là “Tượng vương”. Nhưng gọi Trung Quốc
là “nước Nhân chủ” th́ có thể nói cách gọi này
hoàn toàn chỉ cho thế giới quan lấy nước
Đại Đường làm trung tâm. Cho rằng Ấn
Độ là phương Tây th́ trong đó cũng đă ngầm
chỉ Trung Á là Tây Vực vậy!
Trong tác phẩm Sơn gia học sinh thức của
Tối Trừng51 có nói:
“Một phật tử có đạo tâm, phương Tây gọi
là Bồ-tát; c̣n phương Đông gọi là quân tử”.
Trong Giáo hạnh tín chứng tổng
tự của Thân Loan52 th́ lại
nói: “Thánh điển của tộc Nguyệt Thị tại
Tây-phiên từ khi được nhà sư Hạ-nhật-vực
tại phương Đông giải thích th́ điều khó gặp
nhưng nay đă được gặp, điều khó nghe
nhưng nay đă được nghe”. Hoặc Hoàng Thái tử Thánh Đức phụng
tán, bài 45 nói: “Tập Hành lễ
của Thái tử A-tá tại Bách Tế (Nhật Bản)
nói: Thành tâm kính lễ Bồ-tát Quan Âm v́ ḷng thương vô hạn
mà cứu khổ chúng sinh. Giáo pháp vi diệu được
lưu truyền đến nước Nhật Bản tại
phương Đông, là giáo lư được truyền
đăng diễn thuyết trong suốt 49 năm khi Ngài
c̣n tại thế”. Tất cả những tư liệu này
đều cho rằng Ấn Độ nằm ở
phương Tây, Trung Quốc ở phương Đông, mà
Nhật Bản th́ nằm ở chính Đông. Do đó, trong Đông chinh truyện53 nói về sự kiện “Phật
giáo dần dần truyền sang phương Đông đến
Nhật Bản” như sau: “Phật pháp lưu hành
phương Đông, rồi truyền đến Nhật Bản,
mặc dù có giáo pháp [của đức Phật] nhưng
không có người truyền pháp”. Người cung thỉnh
đại Ḥa thượng Giám Chân đến Nhật Bản
là hai vị Sa-môn Vinh Duệ và Phổ Chiếu. Từ khi có
sự kiện này mới được gọi là Đông
lưu, Đông độ, Đông chinh, Đông du, Đông
quy, quá hải, hướng Đông hải... mà trước
đây người ta chỉ gọi Nhật Bản là
Đông châu, Đông thành, Đông quốc. Theo Tục Nhật Bản kí th́
tác phẩm Đại Phật
khai nhăn kí c̣n lưu giữ tại chùa Đông Đại
có nói: “Phật pháp đến Đông quy, phép tắc chỉnh
tề, đầy đủ. T́nh h́nh hưng thịnh
như vậy trước đây chưa từng có”.
Phật pháp từ
khi lưu hành ở phương Đông đến Nhật
Bản th́ cùng lúc đó nó đă mang tên là “Đông lưu”.
Đến nay, Phật giáo Đông quy Nhật Bản vẫn
được bảo lưu nơi đảo quốc Nhật
Bản này là điều không thể không thừa nhận.
Đến thời cận đại, vào năm thứ 9
đời Minh Trị, từ phương Đông nước
Nhật Bản có Tiến sĩ Nam Điều Văn Hùng
cùng với Lạp Nguyên Nghiên Thọ sang học tại
nước Anh phương Tây. Lúc bấy giờ, ông mới
bắt đầu đem tập thơ của ḿnh đặt
thành tên Tây chinh thi cảo.
Năm thứ 4
niên hiệu Đại Chính, Tiến sĩ Tân Thôn Xuất
đă biên tập 36 bài thi ca của các vị Tăng sang cầu
pháp tại Đại lục như Viên Trân, Điêu Nhiên, Tịch
Chiếu, Thành Tầm, Vinh Tây, Khánh Chính, Giới Giác, Chí
Đạt, Nguyên Yếu... lấy tựa đề là Tây chinh cầu pháp ca tập.
Năm thứ 24
niên hiệu Chiêu Ḥa sau khi đến dự hội nghị
do các nhà triết học Đông Tây tổ chức tại
Hawaii, tiến sĩ Linh Mộc Đại Chuyết nhận
lời mời của các trường Đại học tại
nước Mỹ đến thuyết giảng giáo lư Phật-đà.
V́ có đề cập đến Phật giáo tại
Đông quy Nhật Bản nên khiến cho mọi người
càng chú ư đến người đầu tiên của Phật
giáo “Đông tiệm”. Những ư tưởng mới mẻ
được gọi là “Đông” của Đông tiệm Phật
giáo và “Tây” của Đông tiệm phương Tây được
tập hợp lại để san hành. Như các luận
đề Triết học
Đông Tây (Philosophy East and West) của đại học
Hawaii, hoặc Đại hội
Đông Tây (The meeting of the East and West) được thử
nghiệm bởi giáo sư Northrop đại học Yale. Hoặc
trong tác phẩm Bồ-tát đạo
(Maitreyan way) của giáo sư Charles Morris tại Đại
học Chicago, hay Giáo đoàn Phật
giáo Tây phương (Western Budhitst Orden) lấy Trung đạo (Middle way) làm
trung tâm của giáo sư Christmas Humahreys tại đại học
London... Tất cả những dữ liệu trên trở
thành tiêu điểm quan trọng trong sự nghiên cứu lịch
sử h́nh thành Phật giáo.
(Đế Quán dịch sang Hán từ tác phẩm
“Nghiên cứu lịch sử
thành lập Phật giáo Đại thừa”)
[1]. Cổ đại Áo
nghĩa thư 古代奧義書: Tác phẩm này
được hoàn thành khoảng từ 800 năm đến
600 năm trước Tây lịch.
[2]. Trung quốc 中國:
Là trung tâm của nền văn minh Bà-la-môn giáo, nằm ở
vị trí Trung du sông Hằng, Ấn Độ, c̣n gọi là
Bà-la-môn quốc (S. Brahmāvarta), Nhă-lợi-an bang (S.
Āryāvarta).
[3]. Nhà kinh thế 經世家: Tức những nhà hoạch định
đường lối trị nước an dân.
[4]. Vua A-dục: S.
Aśoka, P. Asoka. Dịch ư là Vô ưu vương (vua Không lo), c̣n có tên là Thiên
ái hỷ kiến vương (S. Devānaṃpriya
priyadraśi – Trời
thương yêu thấy th́ mừng). Vua ra đời khoảng
thế kỷ thứ III tr.Tây Lịch, có công thống nhất
Ấn Độ, là nhà bảo hộ Phật giáo mạnh mẽ
nhất.
[5]. Ma-ha-tỳ-la 摩呵毗羅: Vị khai Tổ của
Ḱ-na giáo là Ni-kiền-đà-nhă-đề-tử
(S.Nirgrantha-jñātaputra), c̣n gọi là Đại Hùng, Đại
Dũng (S. Mahāvīra), Phạt-đà-ma-da (S.
Vardhamāna), Thắng giả (S.Jina), người sống
cùng thời với đức Phật Thích-ca Mâu-ni.
[6]. Thánh Trung đạo 聖中道: S. madhyamā-pratipad, P. majjhima-paṭipadā,
c̣n gọi là Trung lộ, tức con đường chính giữa,
xa ĺa hai bên cực đoan, tà chấp, không thiên về bất
cứ phía nào, quan điểm nào hoặc phương pháp nào.
Trung đạo là lập trường căn bản của
Phật giáo, cả Tiểu thừa lẫn Đại thừa
đều coi trọng.
[7]. Bát Thánh đạo 八聖道: S. āryāṣṭāṅgika-mārga,
là tám con đường chân chính tiến thẳng đến
Niết-bàn, cũng gọi là Bát chính đạo. Là pháp môn thực
tiễn tiêu biểu nhất cho lời Phật dạy trong
37 đạo phẩm, tức tám con đường thông suốt
tới Niết-bàn giải thoát, đó là Chính kiến, Chính
tư duy, Chính ngữ, Chính nghiệp, Chính mạng, Chính tinh
tiến, Chính niệm và Chính định.
[8]. Thánh Thanh văn 聖聲聞: S. śrāvaka, P. sāvaka, chỉ cho các
đệ tử xuất gia nghe âm thanh thuyết pháp của
Phật mà chứng ngộ.
[9]. Tỳ-xá-li 毘舍離: S. Vaiśāli, thành đô miền Trung Ấn
Độ, nằm ở Bắc ngạn sông Hằng.
[10]. An-ba-phạ-lư:
S.Āmrapālī, P. Ambapālī, c̣n gọi là Nại
nữ. Theo kinh Nại nữ
Ḱ-bà chép th́ người con gái này là do cây Nại (cây xoài)
sinh ra, nên gọi là Nại nữ. Bà là vợ vua
Bimbisāra, mẹ của lương y Ḱ-bà. Bà đă dâng
cúng đức Phật vườn Am-một-la.
[11]. Ương-quật-ma-la: S.Aṅguli-mālya, hoặc Aṅguli-mālīya,
P. Aṅguli-māla, tên của một vị đệ tử
Phật. Ban đầu, Ương-quật-ma-la
ở thành Thất-la-phạt-thất-để, từng
thờ tà sư Ma-ni-bạt-đà-la làm thầy, kính thuận
khiêm cung, theo lời thầy mà phải giết 1000 người,
lấy một ngón tay của mỗi người xâu lại
thành tràng hoa đeo trên cổ th́ thầy ông mới truyền
pháp Niết-bàn. Sau khi giết được 999 người
rồi, và mẹ ông là người cuối cùng mà ông chuẩn
bị giết. Đức Phật nghe tin bèn tới hoá
độ ông, Ương-quật-ma-la
ăn năn sám hối và thời gian sau tu hành chứng quả
vị A-la-hán.
[12]. Tần-tỳ-bà-la: S. Bimbisāra, là vị
quốc vương sống cùng thời với đức
Phật, phu nhân là Vi-đề-hy (P.Vedehī). Vua và phu nhân
đều quy y đức Thích Tôn, tin sâu Phật pháp, xây dựng
tinh xá Trúc Lâm ở Ca-lan-đà dâng cúng Phật và các vị
Thánh đệ tử. Tần-tỳ-bà-la là vị vua ngoại
hộ đầu tiên thời đức Phật.
[13]. Ba-tư-nặc:
S. Prasenajit, P. Pasenadi, là vua nước Câu-tát-la
(Kauśala) thuộc miền Trung Ấn Độ, sống
cùng thời với đức Thế Tôn, là người ngoại
hộ của đức Phật.
[14]. Tu-đạt-đa: S.Sudatta, vị trưởng giả thành Xá Vệ,
miền Trung Ấn Độ, tính ưa bố thí,
thương người cô độc. Sau khi quy y Phật,
ông xây dựng tinh xá Ḱ Viên (S. Jetavana) cúng dường đức
Phật.
[15]. Thần thủ hộ 守護神: S.
Agni, P. Aggi, c̣n gọi là Hoả Tiên, Hoả Quang Tôn, là một
trong 12 cơi trời của Mật giáo, là một trong 8
phương trời. Thần thủ hộ ở
phương Đông Nam, có mật hiệu là Hộ pháp Kim
Cương.
[16]. Trung quốc: Là
trung tâm của nền văn minh Bà-la-môn giáo, nằm ở vị
trí Trung du sông Hằng, Ấn Độ, c̣n gọi là
Bà-la-môn quốc (S. Brahmāvarta), Nhă-lợi-an bang (S.
Āryāvarta).
[17]. Hương-đế-lợi-na:
S. Śāṇḍilya (Thế kỷ VI-VII tr. TL); Uất-đà-la-ca: S.
Uddālaka (Thế kỷ VI-VII tr. TL)
[18]. Uất-đà-la-ca:
S. Uddālaka (Thế kỷ VI-VII tr. Tây lịch), Triết
nhân của Áo Nghĩa thư chủ trương “Phạm
Ngă nhất như” (S. brahma-ātma-aikyam).
[19]. Nguyên tác ghi nhầm thành The
Undifferentiated Anesthetic Continuum
[20]. Ca-tỳ-la-vệ 迦毗羅衛: S. Kapila-vastu, P. Kapila-vatthu, nay là
địa phương Tilorakot thuộc Tarai nước
[21]. Bồ-tát Pháp Tạng 法藏菩薩: S. Dharmākara Bodhisattva, c̣n gọi
là Tỳ-kheo Pháp Tạng, là pháp danh của đức Phật
Di-đà khi chưa thành đạo. Theo kinh Vô lượng thọ, quyển Thượng nói, từ
số kiếp lâu xa, thời đức Thế Tự Tại
Vương Như Lai có một vị Quốc vương
nghe Phật thuyết pháp, liền phát tâm Bồ-đề bỏ
ngôi vua xuất gia, hiệu là Pháp Tạng.
[22]. Thái tử Thánh Đức
聖德太子: (572-621) vị Hoàng
tử thứ 2 của Thiên hoàng Dụng Minh tại Nhật
Bản. Bẩm tính thông minh, là Nhiếp chính của Thiên
hoàng Suy Cổ. Ông là người tín phụng Phật pháp, ra
sức phát huy tinh thần Đại thừa, thường
giảng 3 bộ kinh Pháp hoa,
Duy-ma, Thắng man và có viết Nghĩa sớ cho ba bộ
kinh này.
[23]. Chiết phục 折伏 và Nhiếp thọ 攝受:
Hàng phục những kẻ ác và tiếp nhận những
người thiện, cũng gọi là Chiết Nhiếp nhị
môn. Gặp những chúng sinh cứng cỏi th́ dùng Trí tuệ
phối hợp với thế lực để khiến họ
phải khuất phục mà bỏ ác tu thiện; gặp những
người nhu hoà th́ dùng ḷng Từ bi hợp với đạo
lực để khiến họ tiếp tục tăng
trưởng điều thiện.
[24]. Kinh Chính pháp niệm xứ 正法念處經: S. Saddharma-smṛty-upasthāna-sūtra,
gồm 70 quyển, do ngài Bát-nhă-lưu-chi đời Bắc
Nguỵ dịch. Bản kinh này được thu vào trong Đại chính tạng, tập
17.
25. Kiền-đà-la 犍馱羅: S. Gandhāra; P.
Gandhāra, là một trong 16 nước lớn của Ấn
Độ cổ đại, c̣n có tên là nước
Gopāla.
26. Ca-thấp-di-la 迦濕彌羅: S. Kaśmīra, P.
Kasmīra, là một cổ quốc nằm phía Tây Bắc Ấn
Độ, dưới chân núi Hymalaya, hướng Đông Bắc
nước Kiền-đà-la.
27. Nguyên văn: 豐葦原中津國.
28. Bác sĩ Jivaka (Ḱ-bà): Nhà danh y thời đại
đức Phật. Ông từng đến Takṣaśilā
học ngành Y, sau khi trở về thành Vương-xá
được vua A-xà-thế và Tần-bà-sa-la tuyển làm
ngự y. Ông rất kính tin Phật giáo và từng chữa bệnh
cho các đệ tử đức Phật.
29. Á-lịch-sơn-đại 亞歷山大: Năm 327tr. TL,
đại đế Hy Lạp là Alexandros dẫn binh sang
chinh phạt Ấn Độ.
30. Tụ lạc 聚落: S. grāma,
P.gāma, c̣n gọi là Thôn lạc, Thôn. Chỉ những
nơi đông người cư trú. Luật Ngũ phần, quyển 1 (Đại 22, 6, thượng)
ghi: “Nếu chỗ có thành luỹ hoặc rào giậu bao bọc
xung quanh 3 do-tuần, mà trong đó dù chỉ có một căn
nhà, cũng gọi là Tụ lạc”.
31. Lược thức
略式: Thời ḱ đầu truyền
bá Phật pháp, v́ để thích ứng với t́nh h́nh hoằng
pháp, nên về phương diện chế giới, chia thành
Trung quốc và Biên quốc để quy định nghi thức
truyền giới Cụ túc. Thông thường th́ khi truyền
giới Cụ túc phải đủ 10 vị Tăng mới
đủ tư cách truyền thọ, nhưng tại Biên quốc
có thể đủ 5 vị Tăng là được, v́ Biên
quốc vốn không có tổ chức Giáo đoàn nên tạo
điều kiện cho những người hâm mộ Phật
pháp xuất gia. Nguyên tác ghi nhầm là “Lược giới” 略戒.
32. Sa-na-bà-thi: C̣n có chỗ phiên âm là
Thương-na-hoà-tu (S. Śāṇa-vāsin, P. Sāṇa-vāsī).
Theo Cảnh Đức truyền
đăng lục, quyển 1 và Phó pháp tạng nhân duyên truyện, quyển 2,
Śāṇa-vāsin người nước Ma-đột-la
(Mathurā), họ Tỳ-xá-da, ở trong thai mẹ đến
6 năm mới sinh ra. Sư được ngài A-nan truyền
cho 84.000 pháp tạng, đều nhớ giữ hết. Sau
đó đến nước Kế-tân hoá độ
Ưu-ba-cúc-đa và thâu nhận làm đệ tử truyền
pháp.
33. Dhītika: Theo chương 5 và chương 13 trong
Phật giáo sử của Đa-la-na-tha, th́ vào thời vua
Mân-na-lạp (S. Minara, có lẽ là vua Milinda trong kinh Na Tiên Tỳ-kheo, nửa sau Thế
kỷ thứ II tr.TL) của nước Đổ-hoá-la, có
Tổ phó pháp tạng là Đề-đa-ca (S.Dhītika)
đă hướng dẫn 500 vị đến nước
này hoằng hoá.
34. Xuất Tam tạng kư tập 出三藏記集: C̣n gọi là Xuất Tam tạng kư tập lục,
Xuất Tam tạng tập kư,
Xuất Tam tạng kư, Tăng Hựu lục, gồm
15 quyển, do ngài Tăng Hựu soạn vào đời
Lương thuộc Nam Triều, được thu vào Đại chính tạng, tập
55. Sách này ghi chép duyên do, chỗ dị đồng giữa
các mục lục và sự phiên dịch, lời tựa, lời
bạt...của kinh luận được phiên dịch từ
đời Hậu Hán đến đời Lương thuộc
Nam triều, đồng thời có phụ thêm truyện kí của
người dịch kinh.
35. Phó pháp tạng nhân duyên truyện 付法藏因緣傳: Sử truyện gồm 6 quyển,
do các ngài Cát-ca-dạ và Đàm Diệu cùng dịch vào đời
Nguyên Nguỵ, được thu vào Đại chính tạng, tập 50. Nội dung nói về
sự tích phó pháp và lịch sử truyền thừa của
23 vị Tổ sư Ấn Độ sau khi đức Phật
nhập diệt, từ ngài Ca-diếp, A-nan...cho đến
Tổ sư cuối cùng là Tôn giả Sư Tử.
36. Phật giáo cách nghĩa 佛教格義: Đây là
phương pháp giải thích Phật điển được
các học giả Phật giáo Trung Quốc thời Sơ kỳ
vận dụng. Sự vận dụng Cách nghĩa để
thuyết minh kinh điển bắt đầu từ thời
Hán mạt Nguỵ sơ. Lúc bấy giờ, Phật giáo truyền
vào Trung Quốc không lâu, Phật lư u huyền, người
b́nh thường không thể hiểu nỗi, nên người
giảng thuyết Phật pháp bèn sử dụng
phương pháp Cách nghĩa, phối hợp với tư
tưởng học thuật vốn có của Trung Quốc
để phát huy ư nghĩa Phật giáo. Chẳng hạn, Đại an ban thủ ư kinh chú,
quyển Thượng, do Khương Tăng Hội và Trần
Tuệ hợp soạn, đem bốn chữ “An ban thủ
ư” làm thành mười mấy cách giải thích. Trong đó có một
đoạn “An là thanh, ban là tịnh, thủ là vô, ư là vi, tức
là ‘Thanh tịnh vô vi’ vậy”. Tức vận dụng “Thanh tịnh
vô vi” được nói đến trong Đạo gia để
giải thích “An ban thủ ư”.
37. Pháp Hiển 法顯: Vị
cao Tăng Trung Quốc, sống đời Đông Tấn,
người Vũ Dương, B́nh Dương (tỉnh
Sơn Tây), sư họ Cung. Có thuyết cho rằng sư
sinh vào năm Hàm Khang thứ 6 (năm 340) đời Đông
Tấn. Sư 3 tuổi xuất gia, 20 tuổi thọ Cụ
túc giới. Năm Long An thứ 3 (399), sư cùng các bạn
đồng học như Tuệ Cảnh, Đạo Chỉnh,
Tuệ Ứng, Tuệ Ngôi... rời thành Trường An,
băng qua vùng sa mạc, vượt dăy Thông Lĩnh sang Thiên
Trúc cầu pháp. Lúc bấy giờ sư đă 60 tuổi.
38. Trong Phật quốc kư, Đại
tạng, No.2085, tr.858a không thấy ghi tên nước “達禮如 Đạt-lễ-như”, mà chỉ thấy
ghi là sông Tân-đầu “Có một
con sông tên là sông Tân-đầu...Tương truyền từ
xa xưa, từ khi dựng lên tượng Bồ-tát Di-lặc...
有水名新頭河...古老相傳,自立彌勒菩薩像...” nhưng trong Đại Đường
Tây Vực kí, Đại tạng, Tập 51, No 2087, quyển
3 lại ghi là sông Đạt-lệ-la
“Sông Đạt-lệ-la là kinh đô cũ của nước
Ô-trượng-na... Bên cạnh ngôi đại già-lam ở
sông Đạt-lệ có khắc tượng Bồ-tát Từ
Thị bằng gỗ – 達麗羅川即烏杖那國舊都也... 達麗川中大伽
藍側有刻木慈氏菩薩像...”
39. Theo Đại Tạng kinh, Tập
51, trang 857b-858a ghi: “Có một nước nhỏ gọi là
Đà-lịch...Nước ấy ngày xưa có vị La-hán,
vận thần túc lực đưa một người thợ
mộc khéo lên cung trời Đâu-suất xem dung tướng
cao thấp, sắc mạo của Bồ-tát Di-lặc ra sao
rồi trở về khắc gỗ làm tượng, trước
sau lên trời cả thảy ba lần rồi mới tạc
hoàn thành pho tượng...”
40. Đạt-lệ-la: Nguyên tác ghi là “Đạt-lễ-như
達禮如”, nhưng Đại tạng, Tập 51, No.2087, quyển 3 ghi
“Sông Đạt-lệ-la là kinh đô cũ của nước
Ô-trượng-na... Bên cạnh ngôi đại già-lam ở
sông Đạt-lệ có khắc tượng Bồ-tát Từ
Thị bằng gỗ...do vị A-la-hán Mạt-điền
địa tạo 達麗川中大伽 藍側 有刻木慈氏菩薩像... 末田地阿羅漢之所造也”.
41. Purāṇa: Dịch âm là Phú-lan-na, từ gọi
chung cho các Thánh điển Ấn Độ giáo cổ
xưa. Thánh điển này được viết thành sách
vào khoảng thế kỷ I tr.TL đến thế kỷ X
và lưu truyền đến ngày nay. Có thể chia làm hai loại:
Đại Phú-lan-na (S. Mahāpurāṇa) và Tục Phú-lan-na
(
42. Khởi thế kinh 起世經: Nguyên tác chua thêm
“Lokadhātu-sutra”. gồm 10 quyển, Xà-na-quật-đa thời
đại nhà Tùy dịch, thu vào Đại chính tạng, quyển
1. Nôi dung tŕnh bày quá tŕnh tổ chức, trạng thái, khởi
nguyên, h́nh thành, huỷ hoại... của thế giới.
43. Thi thiết luận:
S. Prajñapti-śāstra, gồm 7 quyển, do ngài Pháp Hộ
và ngài Duy Tịnh dịch vào đời Tống, được
thu vào Đại chính tạng,
tập 26. Luận này tức bản dịch của phần
“Nhân thi thiết môn” trong Thi thiết
túc luận, 1 trong 6 bộ Túc
luận thuộc Luận bộ Tiểu thừa. Nguyên
tác ghi Lokaprajnapisastra, nhưng đối chiếu các từ
điển đều thấy ghi Prajñapti-śāstra.
44. Trời Tam thập tam 三十三天: S. Trāyastriṃśat-deva,
cũng gọi là Đao-lợi thiên, cơi trời này có 33 toà
thành nên gọi là Tam thập tam, là 1 trong 6 tầng trời
cơi Dục. Theo Vũ trụ quan Phật giáo th́ cơi Trời
này ở trên đỉnh núi Tu-di, thuộc tầng trời
thứ 2 của cơi Dục, bốn phía mỗi phía đều
rộng 8 vạn do-tuần, 4 góc trên đỉnh núi mỗi
góc đều có 1 ngọn núi cao 500 do-tuần. Cơi trời
này do Kim Cang thủ dược xoa bảo vệ.
45. Theo Bách
khoa Đại từ điển ghi Ngũ hà gồm
sông Hằng (
46. Milindapanha: Di-lan
vương sở vấn kinh (S.Milinda-pañha).
47. Sông Tín-độ 信度河: Tức sông Ấn
Độ (
48. Tứ đại hà 四大河: Bốn con sông lớn
ở miền Bắc cơi Diêm-phù-đề, là sông Hằng (Gaṅgā),
sông Tín-độ (Sindhu), sông Tỷ-đà (Śītā) và
sông Phược-sô (Vakṣu).
49. Nguyên tác ghi là “繼承興隆一國的丘就却
(Kujurakara) 閻膏珍
(Wemakadphises) 一世之後而立” .
50. Nước Hàn kính mă chủ:
Nguyên tác ghi nhầm thành “Tắc kính Mă chủ quốc 塞勁馬主” Theo Đại
Đường Tây Vực kư (T.51, No 2087, tr.0869b20) có đoạn: “Lúc
bấy giờ có Vô Luân Vương xuất hiện, vùng Thiệm
Bộ châu có bốn vị Chủ: Phương Nam là Tượng
chủ, th́ nơi này thời tiết ấm áp, thích hợp
với loài voi; phương Tây là Bảo chủ, là gần
biển có nhiều châu báu; phương Bắc là Mă chủ,
khí hậu lạnh thích hợp với loài ngựa;
phương Đông là Nhân chủ, dân cư đông đúc,
người sống hiền hoà” 時無輪王應運.贍部洲地有四主焉.南象主,則暑濕宜象. 寶主,乃臨海盈寶.北馬主,寒勁宜馬.東人主,和暢多人.
51. Tối Trừng 最澄 (767– 822): Vị cao
tăng Nhật Bản, là Thủy tổ của Thiên Thai
Pháp Hoa tông Sư tục tánh là Tam Tân, 19 tuổi xuất gia, ẩn
tu ở Duệ Sơn, sáng lập Nhất thừa Chỉ
quán viện trên đỉnh núi. Thụy hiệu là Truyền
Giáo đại sư.
52. Thân Loan 親鸞 (1173– 1262): Tổ
khai sáng Tịnh độ Chân tông Nhật Bản, người
Kyoto, họ Đằng Nguyên. Sư mồ côi cha mẹ từ
nhỏ, theo ngài Từ Viên ở viện Thanh Liên cạo tóc
xuất gia. Niên hiệu Nguyên Nhân năm đầu (1224),
sư soạn tác phẩm Giáo
hành tín chứng, 6 quyển tại thảo am Đại
Điền ở Thường Lục, trở thành Thánh
điển căn bản của Chân tông sau này.
53. Đông chinh hội truyện 東征繪傳: c̣n gọi là Giám Chân hoà thượng Đông
chinh truyện hội duyên khởi, Đông chinh hội quyển. Nguyên tác ghi là Đông chinh truyện. Đây
là truyện bằng tranh do Nhập Đạo Liên Hành sáng
tác vào năm Vĩnh Nhân thứ 6 (1298), c̣n sót lại 5 quyển,
hiện được tàng trữ ở chùa Đường
Chiêu Đề tại Nại Lương (Nara) Nhật Bản.