KINH
VÔ
LƯỢNG NGHĨA
Tam tạng pháp sư
Đàm Ma Già Đà Da Xá, người Thiên-trúc,
dịch từ Phạn văn ra Hán
văn tại Trung-quốc, vào đời Tiêu-Tề
Cư sĩ Hạnh Cơ
dịch từ Hán văn ra Việt văn,
giới thiệu và chú
thích, tại Gia-nă-đại, năm 2006
GIỚI THIỆU
Kinh
Vô Lượng Nghĩa
(Amitartha-sutra) do ngài Đàm Ma Già Đà Da Xá (Dharmagatayasas) dịch
ra Hán văn tại chùa Triều-đ́nh ở Quảng-châu,
Trung-quốc, vào năm 481 (tức năm thứ 3 niên hiệu
Kiến-nguyên, đời vua Thái-tổ Tiêu Đạo Thành của
vương triều Nam-Tề [479-502], thời đại
Nam-triều); được thu vào bộ Đại
Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh,
quyển 9, mang số 276.
Ư
chỉ của kinh này đặt trên cơ sở: V́ phiền
năo của hữu t́nh chúng sinh nhiều vô lượng, nên đức
Phật thuyết pháp cũng vô lượng; thuyết pháp vô
lượng nên nghĩa lí cũng vô lượng; nghĩa lí
tuy vô lượng nhưng chỉ phát sinh từ MỘT pháp:
đó là pháp VÔ TƯỚNG.
Từ
“vô lượng nghĩa” có ba ư nghĩa: 1) Tất cả các
pháp đều có đầy đủ vô lượng vô số
nghĩa lí, cho nên gọi là “vô lượng nghĩa”. 2) Vô lượng
nghĩa tức là “thật tướng”. Theo ngài Cát Tạng
(549-623) giải thích trong bộ Pháp Hoa Kinh
Nghĩa Sớ, th́ bản thể
của thật tướng là không có hạn lượng,
cho nên gọi là “thể vô lượng”; từ một pháp
thật tướng mà phát sinh ra tất cả pháp, cho nên gọi
là “dụng vô lượng”; cả thể và dụng của
thật tướng đều vô lượng, cho nên gọi
là “vô lượng nghĩa”. 3) Vô lượng nghĩa là chỉ
cho kinh điển đại thừa. Trong phẩm “Tựa” của kinh Pháp Hoa có nói: Đức Thế Tôn v́ chư
vị Bồ-tát mà nói kinh đại thừa tên là Vô Lượng Nghĩa. V́ vậy, kinh này cũng có người
gọi tên là Kinh Đại
Thừa Vô Lượng Nghĩa. Nhân nơi đây đề cập tới tên kinh, chúng
tôi cũng xin nói thêm một điều: Trong kinh văn (ở
hai phẩm thứ hai và thứ ba) có ghi lời Phật nói tên
kinh này là “Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa Kinh”, nhưng tên kinh được
ghi trong Tạng Đại Chánh th́ không có hai chữ “Đại Thừa”, mà chỉ có bốn chữ “Vô Lượng Nghĩa Kinh”; có thể, “Vô Lượng Nghĩa” mới là tên chính thức
của kinh, c̣n từ “đại thừa” chỉ là tiếng
bổ từ mà thôi.
Phẩm
“Tựa” của
kinh Pháp Hoa c̣n cho biết, tại
đạo tràng Ḱ-xà-quật (gần thành Vương-xá), đức
Phật đă nói kinh Vô Lượng Nghĩa này trước khi nói kinh Pháp
Hoa. Sau khi nói kinh Vô
Lượng Nghĩa – là pháp môn
đă do tự Ngài chứng đắc, đem giáo hóa hàng Bồ-tát
đại thừa – Ngài liền nhập định “Vô lượng
nghĩa xứ”; và sau khi xuất định, Ngài đă nói
kinh Pháp Hoa. V́ vậy chư
vị cổ đức đều nói rằng, kinh Vô
Lượng Nghĩa này chính là
tiền đề, là phần mở đầu của kinh Pháp
Hoa; có thể nói, nội dung của
toàn bộ kinh Pháp Hoa là khai
triển ư chỉ của kinh Vô Lượng Nghĩa vậy.
Về
ngài Đàm Ma Già Đà Da Xá, dịch giả của kinh này, các
sử liệu đă không nói ǵ nhiều về tiểu sử
và hành trạng của ngài; chỉ biết đại khái rằng,
ngài là người Trung Thiên-trúc, có mặt ở Quảng-châu
vào khoảng cuối nhà Lưu-Tống đầu nhà Tiêu-Tề
(tức khoảng thập niên 70 của thế kỉ thứ
5) của thời đại Nam-triều (420-589). Theo bài “Tựa
Kinh Vô Lượng Nghĩa” của
ẩn sĩ Lưu Cầu (437-495) viết để ở đầu
cuốn kinh, có t́ kheo Tuệ Biểu ở núi Vơ-đang (phía
Nam huyện Quân, tỉnh Hồ-bắc), lập chí du phương
cầu đạo, không nề hiểm nguy, lao nhọc. Năm
thứ 3 niên hiệu Kiến-nguyên (tức năm 481) nhà Tề,
ông đến vùng Lĩnh-nam, được gặp sa môn Đàm
Ma Già Đà Da Xá, người Trung Thiên-trúc, ở chùa Triều-đ́nh,
thành phố Quảng-châu. Vị sa môn này có tài viết kiểu
chữ “lệ” rất đẹp, đă dịch cuốn
kinh Vô Lượng Nghĩa,
muốn lưu truyền nhưng chưa biết giao phó cho
ai. T́ kheo Tuệ Biểu bèn chí thành cầu thỉnh, ngài bèn
trao cho. Tuệ Biểu được bản kinh ấy, liền
đem về lại núi Vơ-đang… Ngoài mấy nét giản dị
đó ra, không ai biết ǵ thêm về cuộc đời hành
đạo của ngài; cả năm sinh năm mất cũng
không rơ.
Trước
bản dịch của ngài Đàm Ma Già Đà Da Xá, cũng đă
có bản dịch Vô Lượng Nghĩa Kinh của ngài Cầu Na Bạt Đà
La (394-468) ở đời Lưu-Tống (420-479), nhưng đă
bị thất truyền rất sớm.
Bản
kinh Hán văn được dùng để dịch ra Việt
văn sau đây là bản Hán dịch của Tam tạng pháp
sư Đàm Ma Già Đà Da Xá, rút ra từ Tạng
Đại Chánh, quyển 9, mang số 276.
Kính giới thiệu,
Cư sĩ Hạnh Cơ
Miền Tây Gia-nă-đại,
Tiết Thượng-nguyên năm Bính-Tuất,
2006 (PL 2549)
KINH
VÔ LƯỢNG NGHĨA
Tam tạng pháp sư Đàm Ma Già
Đà Da Xá dịch từ Phạn văn ra Hán văn
Cư sĩ Hạnh Cơ dịch
từ Hán văn ra Việt văn, giới thiệu và chú thích
Phẩm 1
ĐỨC HẠNH
Tôi nghe như vầy:
Một thuở nọ, đức Phật ngự
ở núi Ḱ-xà-quật[1],
gần thành Vương-xá[2],
cùng với sự hiện diện đông đủ của
một vạn hai ngàn vị T́-kheo lớn[3];
tám vạn vị Bồ-tát lớn[4];
tám bộ chúng[5] Trời,
Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la,
Ma-hầu-la-già; chư vị T́-kheo, T́-kheo-ni, Cận-sự-nam,
và Cận-sự-nữ cũng đều tụ hội đầy
đủ.
Các vị đại Chuyển-luân vương,
tiểu Chuyển-luân vương, Kim-luân vương, Ngân-luân
vương và các Luân vương khác;[6]
các vị quốc vương, vương tử, đại
thần, quốc dân, quốc sĩ, phu nhân, đại trưởng
giả, cùng quyến thuộc của họ đông đến
hàng trăm, ngàn, vạn người, cùng nhau đi đến
nơi Phật ngự, đầu mặt lạy sát chân Phật,
đi nhiễu quanh Phật hàng trăm ngàn ṿng, đốt
nhiều loại hương, rải nhiều loại hoa để
cúng dường Phật, sau đó th́ lui ngồi về một
bên.
Các vị Bồ-tát trong pháp hội như Văn
Thù Sư Lợi pháp vương tử [7],
Đại Uy Đức Tạng pháp vương tử, Vô Ưu
Tạng pháp vương tử, Đại Biện Tạng
pháp vương tử, Bồ-tát Di Lặc, Bồ-tát Đạo
Thủ, Bồ-tát Dược Vương, Bồ-tát Dược
Thượng, Bồ-tát Hoa Tràng, Bồ-tát Hoa Quang Tràng, Bồ-tát
Đà La Ni Tự Tại Vương, Bồ-tát Quán Thế Âm,
Bồ-tát Đại Thế Chí, Bồ-tát Thường Tinh
Tấn, Bồ-tát Bảo Ấn Thủ, Bồ-tát Bảo Tích,
Bồ-tát Bảo Trượng, Bồ-tát Việt Tam Giới,
Bồ-tát T́ Ma Bạt La, Bồ-tát Hương Tượng,
Bồ-tát Đại Hương Tượng, Bồ-tát Sư
Tử Hống Vương, Bồ-tát Sư Tử Du Hí Thế,
Bồ-tát Sư Tử Phấn Tấn, Bồ-tát Sư Tử
Tinh Tấn, Bồ-tát Dũng Nhuệ Lực, Bồ-tát Sư
Tử Uy Mănh Phục, Bồ-tát Trang Nghiêm, Bồ-tát Đại
Trang Nghiêm, vân vân, các vị Bồ-tát lớn như thế, đông
đến tám vạn, cũng đều vân tập đầy
đủ.
Các vị Bồ-tát trên đây đều là các
bậc Pháp-thân Đại-sĩ [8],
đă thành tựu giới, định, tuệ, giải thoát,
và giải thoát tri kiến[9];
tâm thường tĩnh lặng, an trụ nơi chánh định,
an nhiên điềm đạm, dứt hết sợ hăi, không
c̣n vọng động, không c̣n ham muốn; mọi thứ điên
đảo, loạn tưởng không thể xâm nhập được.
Các Ngài tâm tịch tĩnh lắng trong, chí trống rỗng
huyền diệu, hằng giữ không vọng động
trải hàng trăm ngàn ức kiếp. Vô lượng pháp môn
đều hiện rơ trước mắt, mà với trí tuệ
rộng lớn, các Ngài đều thông suốt tất cả,
phân biệt rành rẽ, tánh tướng chân thật, không có
tốt xấu, rơ ràng minh bạch. Các Ngài cũng biết rơ
mọi căn tánh và ước muốn của chúng sinh, dùng
biện tài[10] tổng
tŕ[11]
vô ngại, thỉnh Phật thuyết pháp, tùy thuận chúng
sinh mà hóa độ, trước là làm cho thấm nhuần
pháp nhũ để dập tắt dục trần, mở
cửa niết bàn, quạt gió giải thoát để trừ
sạch phiền năo nóng bức ở thế gian, đạt
được mọi điều tươi mát. Thứ đến
là nói pháp sâu xa Mười hai nhân duyên, rửa sạch vô minh
cho đến già bệnh chết, đốt cháy mănh liệt
mọi đau khổ từng tích tụ như ánh sáng mặt
trời. Sau đó th́ tưới nước pháp đại
thừa vô thượng, thấm nhuần tất cả chúng
sinh có thiện căn, gieo chủng tử lành vào khắp ruộng
công đức, khiến cho tất cả đều phát
sinh mầm mống bồ đề; lấy trí tuệ làm ánh
sáng mặt trời mặt trăng, lấy phương tiện
làm thời tiết, giúp chúng sinh khai thông và tăng trưởng
sự nghiệp đại thừa, mau chứng quả Bồ-đề
Vô-thượng, thường an trụ nơi cảnh giới
an vui nhiệm mầu chân thật, dùng tâm đại bi vô lượng
để cứu khổ chúng sinh.
Các vị đó đều là chân thiện tri thức.
Các vị đó đều là ruộng phước tốt đẹp.
Các vị đó đều là bậc thầy không cần cầu
thỉnh. Các vị đó là nơi nương tựa chắc
chắn, đầy an lành, vui vẻ, là nơi được
cứu độ, hộ tŕ. Nơi nào cũng là bậc đạo
sư của mọi người, là cặp mắt sáng cho
người mù tối, là tai cho người điếc, là
mũi cho người bị xẻo mất mũi, là lưỡi
cho người câm ngọng; làm cho những người có các
căn bị khuyết tật th́ lành lặn đầy đủ,
những người điên khùng hoảng loạn được
có chánh niệm; làm thuyền trưởng và thủy thủ
để chở mọi người qua sông sinh tử, đến
bờ niết bàn; làm y sĩ, dược sĩ, chẩn đoán
bệnh trạng, hiểu rơ dược tính, tùy bệnh cho
thuốc, giúp cho mọi người b́nh phục an vui; làm bậc
điều ngự không có các hành vi buông lung, giống như
người điều khiển voi ngựa có thể điều
phục những voi ngựa khó điều phục, như
sư tử hùng mạnh có uy lực khuất phục các loài
thú khác; đó là bậc không ai có thể phá hoại, là Bồ-tát
du hí [12]
với đầy đủ các ba-la-mật[13],
ở nơi lănh địa của Như Lai, tâm luôn kiên cố,
không vọng động, an trú nơi nguyện lực, làm
cho khắp cơi Phật đều thanh tịnh, chẳng bao
lâu được chứng quả Giác ngộ cao tột. Các
vị đại Bồ-tát đó đều có công đức
không thể nghĩ bàn như thế.
Các vị T́-kheo trong pháp hội như Đại-trí
Xá Lợi Phất, Thần-thông Mục Kiền Liên, Tuệ-mạng
Tu Bồ Đề, Đại Ca Chiên Diên, Phú Lâu Na Di Đa
La Ni Tử, A Nhă Kiều Trần Như, Thiên-nhăn A Na Luật,
Tŕ-luật Ưu Ba Li, Thị-giả A Nan, Phật tử La
Vân[14],
Ưu Ba Nan Đà, Li Bà Đa,
Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Châu Đà, Sa Già Đà, Đầu-đà
Đại Ca Diếp, Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, Già Da
Ca Diếp, Na Đề Ca Diếp[15],
vân vân cả thảy một vạn hai ngàn vị T́-kheo như
vậy, đều là các bậc A-la-hán đă dứt trừ
hết phiền năo, không c̣n bị lậu hoặc ràng buộc,
được chân chánh giải thoát.
Bấy giờ ngài Bồ-tát lớn Đại
Trang Nghiêm quan sát khắp đại chúng, thấy mọi người
tâm ư đều đă an định, bèn cùng với tám vạn
vị Bồ-tát lớn ở trong chúng hội, đều từ
chỗ ngồi đứng dậy, đi đến trước
Phật, đầu mặt đảnh lễ sát chân Phật,
đi nhiễu hàng trăm ngàn ṿng, đốt hương trời,
rải hoa trời; lại có áo cơi trời, chuỗi anh lạc
và các loại ngọc quí báu vô giá khác của cơi trời, từ
trên hư không từ từ rơi xuống bốn phía như
mây tụ để dâng cúng Phật; các thức ăn cơi trời
trăm vị trân quí đựng trong bát trời, tràn đầy
sung măn, chỉ cần thấy sắc nghe mùi th́ tự nhiên
no đủ; cờ trời, phướn trời, lọng
trời, nhạc khí vi diệu cơi trời đặt khắp
các nơi, cùng ḥa tấu để dâng cúng Phật. Tất
cả các vị Bồ-tát lớn ấy cùng qú gối chắp
tay trước Phật, một ḷng đồng thanh nói bài kệ
khen ngợi Phật rằng:
“Cao
cả thay bậc Thánh Đại Ngộ!
Không
dơ, không nhiễm, không đắm trước.
Đấng
Điều Ngự của cả trời người,
Gió đạo, hương đức
xông tỏa khắp.
Trí, t́nh b́nh lặng, ngưng suy lự,
Ư diệt, thức tiêu, tâm tịch
tĩnh,
Dứt huyễn mộng, sạch
hết vọng tưởng;
Không c̣n các đại, ấm, giới,
nhập,[16]
Thân Phật chẳng có cũng chẳng
không,
Chẳng nhân, chẳng duyên, chẳng
tự tha,
Chẳng vuông, chẳng tṛn, chẳng dài ngắn,
Chẳng lộ, chẳng ẩn,
chẳng sinh diệt,
Chẳng tạo, chẳng khởi,
chẳng tác vi,
Chẳng ngồi, chẳng nằm,
chẳng đi đứng,
Chẳng
động, chẳng chuyển, chẳng nhàn tịnh,
Chẳng tiến, chẳng lùi, chẳng
an nguy,
Chẳng
phải, chẳng quấy, chẳng được mất,
Chẳng kia, chẳng đây, chẳng
đi lại,
Chẳng
xanh, chẳng vàng, chẳng đỏ trắng,
Chẳng hồng, chẳng tím bao
màu sắc;
Giới, định, tuệ, giải,
tri kiến[17] sinh,
Ba
minh[18],
sáu thông[19], đạo
phẩm[20] phát,
Từ bi, mười lực[21],
vô úy[22]
khởi,
Chúng sinh nương tựa sinh
nghiệp lành.
Hiện thân trượng sáu màu vàng
kim,
Nghiêm
chỉnh phương phi chiếu sáng ngời,
Mặt đẹp trăng tṛn sáng
mặt trời,
Tóc xoắn thẩm xanh, đỉnh
nhục kế,
Mắt sáng trong thấy suốt
mọi chiều,
Lông mày biếc, miệng vuông, má đầy,
Môi lưỡi đỏ đẹp
như trái đỏ,
Răng bốn mươi chiếc
trắng thanh khiết,
Trán rộng mũi thẳng mặt
sáng rỡ,
Ngực hiện chữ “Vạn”
(卍)[23],
ức sư tử,
Nách tay trơn liền giữ
trong ngoài,
Ngón tay thon, cánh tay thẳng dài,
Da mịn màng, lông xoáy bên phải,
Gót gối không lộ, mă âm kín,
Gân nhỏ, xương liền,
ruột loài dê,
Trong ngoài trong suốt sạch không
dơ,
Như nước sạch không hề
dính bụi.
Dường ấy ba mươi
hai tướng tốt,
Tám mươi vẻ đẹp
có thể thấy,
Mà thật không tướng, không
sắc tướng,
Tất cả tướng, mắt
đối toàn không,
Từ tướng không tướng,
có tướng thân,
Thân
tướng chúng sinh, tướng cũng vậy;
Khiến cho chúng sinh vui mừng lạy,
Tâm chí thành cung kính ân cần,
Nhân đó tiêu trừ ḷng kiêu mạn.
Thành tựu sắc thân đẹp
như thế,
Đệ tử chúng con gồm
tám vạn,
Xin cúi đầu kính lạy qui
y,
Đấng tư tưởng tâm
ư tĩnh lặng,
Bậc Thánh Điều Ngự
không đắm trước.
Cúi
đầu qui y pháp, sắc thân,
Đủ giới, định,
tuệ, giải, tri kiến,
Cúi đầu qui y bao tướng
đẹp,
Cúi đầu qui y khó nghĩ bàn.
Tiếng sấm Phạm âm vang tám
thứ[24],
Vi diệu thanh tịnh rất sâu
xa,
Bốn đế, sáu độ,
mười hai duyên,
Tùy
thuận chúng sinh nghiệp tâm chuyển,
Ai nghe được tâm ư đều
mở,
Diệt vô lượng phiền
năo sinh tử.
Người nghe hoặc chứng
Tu-đà-hoàn,
Tư-đà, A-na, A-la-hán,
Bậc Duyên-giác vô lậu vô vi,
Bậc Bồ-tát không sinh không diệt;
Hoặc được vô lượng
đà-la-ni[25],
Đại biện tài thuyết
pháp vô ngại,
Diễn nói kệ sâu xa nhiệm
mầu,
Ao pháp trong thảnh thơi tắm
gội,
Hoặc bay, hoặc nhảy, hiện
thần túc,
Thân tự tại ra vào nước
lửa.
Pháp luân như thế, tướng
như thế,
Thanh tịnh vô biên khó nghĩ bàn.
Chúng con lại cùng nhau cúi đầu,
Qui y vào lúc xe pháp chuyển.
Cúi đầu qui y tiếng Phạm
âm,
Cúi đầu qui y duyên, đế,
độ [26].
Đức Thế Tôn vô lượng
kiếp xưa,
Cần khổ tu tập bao đức
hạnh,
V́ chúng con: người, trời,
rồng, thần,
Cùng tất cả các loài chúng
sinh,
Đă từ bỏ những ǵ khó
bỏ,
Của báu, vợ con và thành quách;
V́ pháp, trong ngoài đều không
tiếc,
Đầu, mắt, tủy, năo, đều
cho người;
Phụng tŕ tịnh giới của
chư Phật,
Dù cho mất mạng không trái phạm;
Dù người dùng dao gậy làm
hại,
Mắng chưởi, nhục mạ,
không hề giận;
Trải bao kiếp nén ḿnh không mỏi,
Ngày đêm tâm trụ cảnh giới
thiền;
Học khắp tất cả các
đạo pháp,
Trí tuệ vào sâu căn chúng sinh,
Cho nên nay được sức
tự tại,
Tự tại với pháp, là Pháp
Vương.
Chúng con xin cúi đầu qui y,
Đấng thành tựu những
việc khó làm.”
Phẩm 2
THUYẾT PHÁP
Khi đức Bồ-tát lớn Đại Trang
Nghiêm cùng tám vạn vị Bồ-tát lớn khác nói bài kệ
khen ngợi Phật xong, lại cùng nhau đồng bạch
Phật rằng:
“Bạch Đức Thế Tôn! Tám vạn Bồ-tát
chúng con, hôm nay, trong giáo pháp của đức Thế Tôn, có điều
muốn hỏi, chẳng biết đức Thế Tôn có rủ
ḷng thương xót chỉ dạy cho không?”
Phật bảo Bồ-tát Đại Trang Nghiêm
và tám vạn vị Bồ-tát rằng:
“Lành thay! Lành thay! Này thiện nam tử! Thật
là đúng lúc để các ông nêu câu hỏi. Không bao lâu nữa
Như Lai sẽ nhập niết bàn. Sau khi Như Lai nhập
niết bàn th́ sẽ không c̣n ai có điều nghi ngờ ǵ nữa.
Vậy các ông muốn hỏi ǵ th́ nên hỏi.”
Bấy giờ Bồ-tát Đại Trang Nghiêm cùng
tám vạn vị Bồ-tát, liền đồng thanh bạch
Phật rằng:
“Bạch Đức Thế Tôn! Hàng Bồ-tát lớn
muốn chứng quả vị Giác ngộ cao tột một
cách nhanh chóng, cần phải tu tập những pháp môn ǵ? Những
pháp môn ǵ có thể giúp cho hàng Bồ-tát lớn nhanh chóng chứng
được quả vị Giác ngộ cao tột?”
Phật bảo Bồ-tát Đại Trang Nghiêm
và tám vạn vị Bồ-tát rằng:
“Này thiện nam tử! Có một pháp môn có thể
giúp cho hàng Bồ-tát nhanh chóng chứng được quả
vị Giác ngộ cao tột. Nếu có Bồ-tát nào tu tập
pháp môn này th́ có thể nhanh chóng chứng được quả
vị Giác ngộ cao tột.”
“Bạch Đức Thế Tôn! Pháp môn đó tên
gọi là ǵ? Nghĩa lí ra sao? Bồ-tát nên tu tập như
thế nào?”
Phật dạy:
“Này thiện nam tử! Pháp môn đó được
gọi là “Vô Lượng Nghĩa”. Bồ-tát muốn được
tu học pháp môn Vô Lượng
Nghĩa, cần phải quán sát tất cả các pháp, từ
xưa đến nay, tánh tướng đều rỗng lặng;
không lớn không nhỏ, không sinh không diệt, không tiến
không lùi, không đứng yên cũng không lay động; giống
như hư không, không có hai pháp. Nhưng chúng sinh th́ hư vọng
phân biệt chấp trước, có đây có kia, có được
có mất, rồi khởi niệm bất thiện, tạo
các nghiệp ác, luân hồi trong sáu nẻo, chịu đủ
mọi điều đau khổ, trải vô lượng ức
kiếp không thể tự thoát khỏi. Hàng Bồ-tát lớn
quán sát thật kĩ càng như thế, sinh ḷng thương
xót, phát tâm từ bi rộng lớn, muốn đến cứu
độ. Bồ-tát lại quán chiếu sâu xa, thâm nhập
vào tất cả các pháp để thấy rơ: pháp có pháp tướng
như thế th́ sinh như
thế; pháp có pháp tướng như thế th́ trụ như thế; pháp có pháp
tướng như thế th́ dị
như thế; pháp có pháp tướng như thế th́ diệt[27]
như thế; pháp tướng như thế th́ hay sinh pháp ác,
pháp tướng như thế th́ hay sinh pháp thiện; ba tướng
trụ, dị, và diệt cũng giống như vậy. Bồ-tát
cứ như thế mà quán chiếu bốn tướng, từ
lúc khởi đầu cho đến lúc cuối cùng, thảy
đều biết rơ. Thứ đến lại quán chiếu
tất cả các pháp, từng niệm từng niệm không đứng
yên, lúc nào cũng có cái mới sinh, lúc nào cũng có cái mới
diệt; lại quán chiếu để thấy rơ bốn tướng
sinh trụ dị diệt đang xảy ra ngay trong giây phút
hiện tại. Quán chiếu như thế rồi, Bồ-tát
lại thâm nhập vào căn tánh ham muốn của chúng
sinh, để thấy rơ rằng, tánh ham muốn của chúng
sinh thật là vô lượng, cho nên nói pháp cũng phải vô
lượng; nói pháp vô lượng th́ nghĩa lí cũng vô lượng.
Vô Lượng Nghĩa là do
từ một pháp sinh ra; một
pháp đó tức là “vô tướng”. Vô tướng
như thế tức là không có tướng nào mà chẳng có
tướng, chẳng có tướng nào là không tướng,
đó gọi là “thật tướng”. Hàng
Bồ-tát lớn đă an trụ nơi tướng chân thật
như thế rồi, th́ tâm từ bi phát khởi rơ ràng, chắc
chắn, không hư dối; đối với chúng sinh thật
có thể cứu khổ. Khổ đă cứu rồi th́ lại
thuyết pháp, khiến cho chúng sinh được an vui.
“Này thiện nam tử! Nếu hàng Bồ-tát lớn
có thể tu tập một pháp môn Vô Lượng Nghĩa như thế th́ chắc chắn
nhanh chóng chứng được quả vị Giác ngộ
cao tột.
“Này thiện nam tử! Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa, văn
lí sâu xa trên hết như thế, chân thật tôn quí không có ǵ
sánh bằng, chư Phật ba đời đều cùng bảo
hộ, không một ma vương ngoại đạo nào xâm
nhập được, tất cả tà kiến sinh tử
đều không thể phá hoại được. Cho nên, này
thiện nam tử! Hàng Bồ-tát lớn nếu muốn
nhanh chóng chứng được quả vị Giác ngộ
cao tột, phải nên tu học Kinh
Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa sâu xa trên hết
này.”
Bấy giờ Bồ-tát Đại Trang Nghiêm lại
bạch Phật:
“Bạch Đức Thế Tôn! Đức Thế
Tôn nói pháp không thể nghĩ bàn, căn tánh chúng sinh cũng
không thể nghĩ bàn, pháp môn giải thoát cũng không thể
nghĩ bàn. Đối với các giáo pháp Đức Thế
Tôn đă nói, chúng con không hề nghi hoặc; nhưng v́ chúng
sinh vẫn c̣n sinh tâm mê hoặc, cho nên chúng con lại xin hỏi
tiếp: Bạch Đức Thế Tôn! Từ ngày Đức
Thế Tôn thành đạo, cho đến nay đă hơn bốn
mươi năm, thường v́ chúng sinh mà nói ư nghĩa về
bốn tướng của các pháp; những ư nghĩa về
khổ, không, vô thường, vô ngă, không lớn, không nhỏ,
không sinh, không diệt; tất cả đều là vô tướng;
pháp tánh pháp tướng xưa nay vốn rỗng lặng,
không đến, không đi, không hiện, không ẩn. Nếu
có người nghe mà chứng được pháp Noăn, pháp Đảnh,
pháp Thế-đệ-nhất;[28]
hoặc chứng được các quả vị như Tu-đà-hoàn,
Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán[29],
Bích-chi Phật;[30]
hoặc phát tâm bồ-đề tiến lên các bậc Sơ-địa,
Nhị-địa, Tam-địa, cho đến Thập-địa.[31]
Ư nghĩa của các pháp Đức Thế Tôn đă nói ngày
trước, có khác ǵ với pháp nói ngày hôm nay, mà Đức
Thế Tôn nói đây là ‘kinh
Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa sâu xa trên hết,
hàng Bồ-tát tu tập chắc chắn nhanh chóng chứng được
quả vị Giác ngộ cao tột’? Việc này thế
nào, cúi xin Đức Thế Tôn thương xót tất cả
chúng sinh mà phân biệt giảng giải, khiến cho ở đời
này và trong đời vị lai, nếu có ai nghe được
pháp này th́ không c̣n bị mắc trong lưới nghi nữa!”
Bấy giờ đức Phật dạy Bồ-tát
Đại Trang Nghiêm rằng:
“Lành thay! Lành thay! Đại thiện nam tử!
Ông đă có thể hỏi Như Lai được nghĩa
lí đại thừa vi diệu sâu xa trên hết như thế,
th́ phải biết rằng ông là người có khả năng
làm nhiều điều lợi ích và an lạc cho trời,
người, cứu vớt đau khổ cho chúng sinh, đúng
thật là tâm từ bi rộng lớn, đáng tin tưởng,
không hư dối; do nhân duyên đó mà ông chắc chắn
nhanh chóng chứng được quả vị Giác ngộ
cao tột, và cũng giúp cho chúng sinh ở đời này và đời
sau nhanh chóng chứng được quả vị Giác ngộ
cao tột.
“Này thiện nam tử! Từ khi ta ngồi sáu
năm ở cội cây bồ-đề, chứng được
quả vị Giác ngộ cao tột, dùng Phật nhăn quán sát
tất cả các pháp mà không thể tuyên nói, v́ sao vậy? V́
tánh ham muốn của chúng sinh không giống nhau. V́ tánh ham muốn
mỗi mỗi không giống nhau cho nên thuyết pháp phải
dùng sức phương tiện, trải qua hơn bốn mươi
năm chưa từng nói rơ nghĩa lí chân thật, đạo
quả chúng sinh từng chứng được cũng sai
khác, không nhanh chóng chứng được quả vị Giác
ngộ cao tột.
“Này thiện nam tử! Giáo pháp ví như nước,
có thể rửa sạch các nhơ uế. Dù là nước
giếng, nước ao, nước khe, nước suối,
nước rạch, nước sông, hay nước biển
cả, đều có thể rửa sạch nhơ uế; nước
pháp kia cũng như vậy, có thể tẩy trừ mọi
cấu uế phiền năo cho chúng sinh. Này thiện nam tử!
Tính chất của nước chỉ có một, nhưng nước
giếng, nước ao, nước khe, nước suối,
nước rạch, nước sông, nước biển cả
th́ khác biệt nhau; tính của pháp kia cũng như vậy,
khả năng tẩy trừ phiền năo th́ không khác nhau, nhưng
ba pháp[32],
bốn quả[33],
hai đường[34]
th́ không đồng nhau. Này thiện nam tử! Nước
tuy rửa sạch tất cả, nhưng nước giếng
không phải là nước ao, nước ao không phải là
nước sông rạch, nước suối khe không phải
là nước biển; Như Lai có hùng lực ở thế
gian, đối với các pháp đều tự tại, các
pháp từng nói ra cũng giống như vậy. Các pháp nói ở
lúc đầu, nói ở lúc giữa, hay nói ở lúc sau, đều
có thể tẩy trừ phiền năo cho chúng sinh, nhưng pháp
nói ở lúc đầu không phải là ở lúc giữa, ở
lúc giữa không phải ở
lúc sau; pháp nói ở lúc đầu, lúc giữa và lúc sau, văn
từ tuy một mà nghĩa lí đều khác.
“Này thiện nam tử! Khi ta từ cội cây bồ-đề
đứng dậy, đi đến vườn Nai[35]
ở thành Ba-la-nại[36],
v́ nhóm ông A Nhă Câu Lân vân vân năm người[37]
mà chuyển bánh xe pháp[38],
cũng nói các pháp xưa nay vốn rỗng lặng, chuyển
biến không ngừng, sinh diệt trong từng giây phút. Sau đó
vào lúc giữa, ở tại đạo tràng này và nhiều nơi
khác, ta v́ chúng T́-kheo và hàng Bồ-tát tuyên nói, biện giải
Mười hai nhân duyên[39],
Sáu pháp qua bờ[40],
cũng nói các pháp xưa nay vốn rỗng lặng, chuyển
biến không ngừng, sinh diệt trong từng giây phút. Hôm
nay lại ở nơi đây diễn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa, cũng
nói các pháp xưa nay vốn rỗng lặng, chuyển biến
không ngừng, sinh diệt trong từng giây phút. V́ vậy cho
nên, này thiện nam tử, các pháp nói lúc đầu, nói lúc giữa,
hay nói hôm nay, văn từ th́ đồng nhất mà nghĩa
lí th́ sai khác. V́ nghĩa lí sai khác cho nên kiến giải của
chúng sinh cũng sai khác. V́ kiến giải sai khác nên sự đắc
pháp, đắc quả, đắc đạo[41]
cũng sai khác.
“Này thiện nam tử! Lúc ban đầu ta v́ những
người cầu các quả vị Thanh-văn mà nói pháp Tứ
đế[42], vậy
mà tám ức chư thiên đă hạ giáng nghe pháp và phát tâm Bồ-đề[43].
Lúc giữa ta v́ những người cầu quả vị
Bích-chi Phật mà nói pháp Mười hai nhân duyên ở khắp
nơi, vậy mà đă có vô lượng chúng sinh phát tâm Bồ-đề,
hoặc an trú nơi các quả vị Thanh-văn. Tiếp đó
ta nói các kinh phương đẳng[44],
mười hai bộ kinh[45],
các kinh Đại Bát Nhă, Hoa
Nghiêm, nhằm nêu lên công hạnh tu hành của hàng Bồ-tát
trải qua nhiều đời kiếp, vậy mà đă có đến
hàng trăm ngàn T́-kheo, vạn ức trời người, vô
lượng chúng sinh chứng các quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm,
A-na-hàm, A-la-hán, hoặc an trụ nơi pháp nhân duyên của
hàng Bích-chi Phật. Này thiện nam tử! Do ư nghĩa này mà
biết rằng, pháp nói ra th́ đồng nhau mà nghĩa lí th́
sai khác; do nghĩa lí sai khác nên chúng sinh liễu ngộ khác
nhau; do liễu ngộ khác nhau nên sự đắc pháp, đắc
quả, đắc đạo cũng khác nhau. V́ vậy cho
nên, này thiện nam tử, từ khi ta đắc đạo
và khởi đầu nói pháp, cho đến hôm nay diễn nói
kinh Đại Thừa Vô
Lượng Nghĩa, chẳng có lúc nào ta không nói các pháp
khổ, không, vô thường, vô ngă, không phải chân, không phải
giả, không phải lớn, không phải nhỏ, xưa vốn
không sinh, nay cũng không diệt, tất cả là vô tướng,
pháp tướng pháp tánh không đến không đi, mà bốn
tướng của chúng sinh[46]
th́ cứ vẫn biến thiên.
“Này thiện nam tử! Do ư nghĩa đó mà chư
Phật không nói hai lời; chỉ dùng một âm mà ứng khắp
các thứ tiếng; dùng một thân mà thị hiện trăm
ngàn muôn ức na-do-tha vô lượng vô số hằng hà sa
thân, trong mỗi một thân này lại thị hiện bao nhiêu
trăm ngàn vạn ức na-do-tha a-tăng-ḱ hằng hà sa các
thứ h́nh loại, trong mỗi một h́nh loại này lại
thị hiện bao nhiêu trăm ngàn muôn ức na-do-tha a-tăng-ḱ
hằng hà sa h́nh loại khác nữa. Này thiện nam tử!
Thế th́ cái cảnh giới sâu xa không thể nghĩ bàn của
chư Phật, hàng Nhị-thừa[47]
không thể biết được, ngay cả hàng Bồ-tát
ở cấp Mười-trụ[48]
cũng không theo kịp được, chỉ có Phật với
Phật mới thấu rơ một cách rốt ráo mà thôi. Này
thiện nam tử! V́ vậy cho nên ta nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa vi diệu
sâu xa trên hết, văn lí chân thật tôn quí không có ǵ hơn,
chư Phật ba đời đều cùng bảo hộ,
không một ma vương ngoại đạo nào xâm nhập
được, tất cả tà kiến sinh tử đều
không thể phá hoại được, hàng Bồ-tát lớn
nếu muốn nhanh chóng chứng được quả vị
Giác ngộ cao tột, phải nên tu học Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa sâu
xa trên hết này.”
Đức Phật nói như thế rồi, ba
ngàn đại thiên thế giới[49]
rung động sáu cách[50],
bỗng nhiên từ không trung mưa xuống rất nhiều
thứ hoa trời như ưu-bát-la, bát-đàm-ma, câu-vật-đầu,
phân-đà-lị; lại rải xuống vô số các thứ
hương trời, áo trời, chuỗi anh lạc và các thứ
châu báu vô giá khác của cơi trời; tất cả các thứ
ấy từ trên không trung xoay ṿng rơi xuống, cúng dường
Phật, chư vị Bồ-tát và đại chúng Thanh-văn[51];
các thức ăn cơi trời trăm vị trân quí đựng
trong bát trời, tràn đầy sung măn; cờ trời, phướn
trời, lọng trời, nhạc khí vi diệu cơi trời đặt
khắp các nơi, cùng ḥa tấu để dâng cúng và khen ngợi
Phật. Lại nữa, hằng hà sa thế giới chư
Phật ở phương Đông cũng rung động sáu
cách, cũng có mưa hoa trời, hương trời, áo trời,
chuỗi anh lạc và các thứ châu báu vô giá khác của cơi
trời; các thức ăn cơi trời trăm vị trân quí;
cờ trời, phướn trời, lọng trời, nhạc
khí vi diệu cơi trời cùng ḥa tấu để cúng dường
và khen ngợi chư Phật, chư vị Bồ-tát và đại
chúng Thanh-văn ở các thế giới ấy. Ở phương
Nam, phương Tây, phương Bắc, bốn phương
góc[52],
phương Trên và phương Dưới cũng đều
như thế.
Bấy giờ ở trong đại chúng có ba vạn
hai ngàn vị Bồ-tát lớn chứng được chánh
định Vô lượng nghĩa, ba vạn bốn ngàn vị
Bồ-tát lớn đạt được vô lượng
vô số môn đà-la-ni, có thể chuyển được bánh
xe pháp bất thối chuyển của tất cả chư
Phật trong ba đời. Các chúng t́-kheo, t́-kheo-ni, cận sự
nam, cận sự nữ, trời, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà,
a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già; các vua đại
Chuyển-luân, tiểu Chuyển- luân, Ngân-luân, Thiết-luân cùng
các Luân vương khác; các vị quốc vương, vương
tử, đại thần, quốc dân, nhân sĩ, phu nhân, trưởng
giả, cùng hàng trăm ngàn quyến thuộc của họ,
khi nghe Phật nói kinh này rồi, đều chứng nhập
được hoặc là các pháp Noăn, Đảnh, Thế-đệ-nhất;
hoặc là các quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm,
A-la-hán, Bích-chi Phật; hoặc chứng được Bồ-tát
Vô sinh pháp nhẫn[53];
hoặc đạt được một môn đà-la-ni, hai
môn đà-la-ni, ba môn đà-la-ni, hay bốn môn đà-la-ni, cho đến
năm, sáu, bảy, tám, chín, mười đà-la-ni; hoặc đạt
được đến trăm ngàn vạn ức, cho đến
vô lượng vô số hằng hà sa a-tăng-ḱ đà-la-ni;
tất cả đều có thể tùy thuận chuyển bánh
xe pháp bất thối chuyển, và vô lượng chúng sinh phát
tâm bồ-đề vô-thượng.
Phẩm 3
MƯỜI CÔNG
ĐỨC
Bấy giờ Bồ-tát Đại Trang Nghiêm lại
bạch Phật rằng:
“Bạch Đức Thế Tôn! Thế Tôn nói Kinh Đại Thừa Vô
Lượng Nghĩa vi diệu sâu xa trên hết này, đúng
thật là sâu xa, rất sâu xa, vô cùng sâu xa! Sở dĩ như thế là v́
sao? Chư vị Bồ-tát lớn và bốn chúng[54],
cùng trời, rồng, quỉ thần, quốc vương và
thần dân, cho đến tất cả chúng sinh, khi được
nghe Kinh Đại Thừa Vô
Lượng Nghĩa vi diệu sâu xa trên hết này, không
ai là không đạt được các môn đà-la-ni, hoặc
ba pháp, bốn quả, cho đến phát tâm bồ-đề
vô-thượng. Nên biết rằng, kinh này văn lí chân chánh,
được tôn quí không có ǵ sánh bằng, được
chư Phật ba đời bảo hộ; các ma vương,
ngoại đạo không thể xâm nhập được,
tất cả các thứ tà kiến sinh tử không thể phá
hoại được, v́ sao? V́ một khi nghe được
kinh này th́ có thể ǵn giữ tất cả pháp. Nếu có một
chúng sinh nào được nghe kinh này th́ được lợi
ích rất lớn, v́ sao? V́ chúng sinh đó nghe kinh này rồi
tinh tấn tu tập, th́ chắc chắn nhanh chóng chứng được
quả vị Giác ngộ cao tột. C̣n những chúng sinh không
được nghe kinh này, phải biết rằng, những
chúng sinh đó bị mất lợi ích rất lớn, trải
qua vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn a-tăng-ḱ kiếp,
chắc chắn không thể chứng được quả
vị Giác ngộ cao tột, v́ sao? V́ những chúng sinh ấy
không biết đi thẳng theo con đường lớn đến
quả vị Giác ngộ cao tột, lại đi theo con đường
nhỏ đầy hiểm trở và mắc nhiều tai nạn.
“Bạch Đức Thế Tôn! Kinh điển
này không thể nghĩ bàn! Cúi xin Đức Thế Tôn thương
xót khắp cả đại chúng, giải bày những việc
sâu xa không thể nghĩ bàn của kinh này. Bạch Đức
Thế Tôn! Kinh điển này do từ đâu đến, sẽ
đi tới đâu, trụ ở nơi nào, mà có vô lượng
năng lực công đức không thể nghĩ bàn như
thế, khiến cho chúng sinh nhanh chóng chứng được
quả vị Giác ngộ cao tột?”
Bấy giờ Phật bảo Bồ-tát Đại
Trang Nghiêm rằng:
“Lành thay! Lành thay! Này thiện nam tử! Đúng
vậy. Đúng vậy. Đúng như ông đă nói. Này thiện
nam tử! Ta nói kinh này rất sâu xa, vô cùng sâu xa, chân thật
sâu xa. V́ sao như thế? V́ kinh này khiến cho chúng sinh nhanh
chóng chứng được quả vị Giác ngộ cao tột,
một khi được nghe th́ có thể ǵn giữ tất
cả pháp, đối với chúng sinh có lợi ích rất lớn,
v́ đi con đường thẳng lớn không có hiểm
nạn.
“Này thiện nam tử! Ông hỏi kinh này do từ
đâu đến, sẽ đi tới đâu, trụ ở
nơi nào; vậy ông hăy nghe cho kĩ!
“Này thiện nam tử! Kinh này do từ ngôi nhà của
chư Phật mà đến, sẽ đi tới tất cả
chúng sinh nào phát tâm bồ-đề vô-thượng, trụ
nơi chư Bồ-tát ở. Này thiện nam tử! Kinh này đến
như thế, đi như thế, trụ như thế;
cho nên kinh này mới có vô lượng sức công đức
không thể nghĩ bàn như thế, khiến cho chúng sinh
nhanh chóng chứng được quả vị Giác ngộ
cao tột.
“Này thiện nam tử! Ông có muốn nghe kinh này
lại c̣n có mười sức công đức không thể
nghĩ bàn không?”
Bồ-tát Đại Trang Nghiêm bạch:
“Bạch Đức Thế Tôn! Chúng con xin muốn
được nghe.”
Đức Phật dạy:
“Này thiện nam tử! Thứ nhất là kinh này
có thể khiến cho Bồ-tát chưa phát tâm th́ phát tâm bồ-đề;
người không có ḷng nhân từ th́ phát khởi ḷng nhân từ;
người từng thích giết hại th́ khởi tâm đại
bi; người hay ganh ghét th́ khởi tâm tùy hỉ; người
chỉ biết ôm giữ th́ khởi tâm xả bỏ; người
tham lam keo kiệt th́ khởi tâm bố thí; người nhiều
kiêu mạn th́ khởi tâm hành tŕ giới luật; người
sân hận ngập tràn th́ khởi tâm nhẫn nhục; người
biếng nhác th́ khởi tâm tinh tấn; người thường
bị rối loạn th́ khởi tâm tu tập thiền định;
người ngu si th́ khởi tâm trí tuệ; người chưa
độ người khác th́ khởi tâm độ người
khác; người hay làm mười điều ác th́ khởi
tâm làm mười điều thiện; người ưa
thích tu pháp hữu vi th́ khởi tâm quyết chí tu pháp vô vi; người
có tâm thối lui th́ làm cho tâm không c̣n thối lui; người
tu phước hữu lậu th́ khởi tâm tu phước
vô lậu; người nhiều phiền năo th́ khởi tâm
diệt trừ phiền năo. Này thiện nam tử! Đó là
sức công đức không thể nghĩ bàn thứ nhất
của kinh này.
“Này thiện nam tử! Sức công đức
không thể nghĩ bàn thứ nh́ của kinh này, là nếu chúng
sinh nào được nghe kinh này, hoặc nghe một lần,
hoặc một bài kệ, cho đến chỉ một câu,
th́ có thể hiểu suốt trăm ngàn ức ư nghĩa, trải
vô lượng vô số kiếp mà không thể nói hết những
pháp môn đă được thọ tŕ, v́ sao thế? V́ nghĩa
lí của pháp này nhiều vô lượng vậy. Này thiện
nam tử! Kinh này ví như từ một hạt giống mà
sinh ra trăm ngàn vạn, rồi từ mỗi một trong
trăm ngàn vạn hạt giống kia lại sinh ra trăm
ngàn vạn nữa, cứ như thế dần dà cho đến
vô lượng. Kinh điển này cũng giống như thế,
từ một pháp sinh ra trăm ngàn nghĩa, rồi từ mỗi
một trong trăm ngàn nghĩa ấy lại sinh trăm ngàn
vạn nghĩa nữa, cứ như thế cho đến
vô lượng vô biên nghĩa. V́ vậy cho nên kinh này có tên là
Vô Lượng Nghĩa. Này
thiện nam tử! Đó là sức công đức không thể
nghĩ bàn thứ nh́ của kinh này.
“Này thiện nam tử! Sức công đức
không thể nghĩ bàn thứ ba của kinh này, là nếu có
chúng sinh được nghe kinh này, hoặc nghe một lần,
hoặc một bài kệ, cho đến chỉ một câu,
liền thông suốt trăm ngàn vạn ức nghĩa lí; thông
suốt nghĩa lí như thế rồi th́ tuy có phiền năo
mà như không phiền năo, ra vào sinh tử mà không hề có ư
tưởng sợ sệt, đối với chúng sinh th́
sinh tâm thương xót, đối với các pháp được
ư tưởng mạnh mẽ, như người lực sĩ
có thể vác, cầm các vật nặng. Người hành tŕ
kinh này cũng giống như thế, có thể gánh vác trách
nhiệm nặng nề của đạo quả Bồ-đề
Vô-thượng, có thể mang chúng sinh vượt ra khỏi
con đường sinh tử. Người đó tuy chưa
độ được ḿnh mà đă độ được
người, giống như có ông thuyền trưởng gặp
lúc bệnh nặng, tay chân bải hoải, phải nằm
nghỉ trên bờ, nhưng nhờ có thuyền bè chắc chắn,
lại có các vật dụng cần thiết, ông cũng có
thể giúp cho hành khách sang được bên kia sông. Người
hành tŕ kinh này cũng giống như thế, tuy thân bị ràng
buộc trong năm nẻo hữu t́nh[55],
thường bị 108 thứ bệnh nặng[56]
hành hạ, phải nằm trên bờ vô minh già chết, nhưng
nhờ có những trang bị chắc chắn của kinh Đại Thừa Vô
Lượng Nghĩa này mà có thể cứu độ chúng
sinh; chúng sinh y theo kinh này mà tu hành th́ vượt thoát được
biển sinh tử. Này thiện nam tử! Đó là sức công
đức không thể nghĩ bàn thứ ba của kinh này.
“Này thiện nam tử! Sức công đức
không thể nghĩ bàn thứ tư của kinh này, là nếu
có chúng sinh được nghe kinh này, hoặc một lần,
hoặc một bài kệ, cho đến chỉ một câu,
liền có được ư tưởng mạnh mẽ, dù
chưa độ được ḿnh, cũng có thể độ
cho người khác, được chư vị Bồ-tát
coi như quyến thuộc, được chư Phật
nói pháp cho nghe. Người ấy nghe pháp rồi th́ quyết
tâm hành tŕ, luôn kính thuận mà không trái nghịch; lại tùy
duyên v́ người mà tuyên dương rộng răi. Này thiện
nam tử! Người ấy ví như vị phu nhân của
vua vừa sinh vương tử, hoặc một ngày, hai ngày,
cho đến bảy ngày, hoặc một tháng, hai tháng, cho đến
bảy tháng, hoặc một tuổi, hai tuổi, cho đến
bảy tuổi, vị vương tử ấy tuy chưa
có thể đảm nhiệm việc nước, nhưng đă
được thần dân tôn kính, cùng sánh vai bạn bè với
các vị vương tử lớn, thường được
vua và phu nhân cưng quí nói cười, yêu thương hơn
các vương tử khác, v́ sao thế? V́ vị vương
tử đó hăy c̣n quá bé nhỏ. Này thiện nam tử! Người
hành tŕ kinh này cũng giống như thế. Chư Phật
là quốc vương, kinh này là phu nhân, ḥa hợp cùng sinh ra
con là Bồ-tát. Nếu Bồ-tát đó nghe được
kinh này, hoặc một câu hay một bài kệ, hoặc nghe
một lần, hai lần, hoặc mười, một trăm,
một ngàn, một vạn lần, hoặc một ức, một
vạn ức, hay hằng hà sa vô lượng vô số lần,
tuy chưa thể hội chân lí đến chỗ cùng cực,
chưa làm chấn động được ba ngàn đại
thiên quốc độ bằng pháp âm chuyển bánh xe đại
pháp như sấm vang, nhưng đă được tất
cả bốn chúng và tám bộ chúng tôn trọng kính ngưỡng,
được chư vị Bồ-tát lớn coi là quyến
thuộc, được thâm nhập vào pháp bí mật của
chư Phật, những ǵ có thể nói ra đều không trái,
không lỗi, thường được chư Phật hộ
niệm, từ ái che chở, v́ Bồ-tát đó hăy c̣n là kẻ
tân học. Này thiện nam tử! Đó là sức công đức
không thể nghĩ bàn thứ tư của kinh này.
“Này thiện nam tử! Sức công đức
không thể nghĩ bàn thứ năm của kinh này, là nếu
người thiện nam hay thiện nữ nào, ở thời
Phật đang tại thế, hoặc sau khi Phật diệt
độ, được thọ tŕ, đọc tụng,
biên chép kinh Đại Thừa
Vô Lượng Nghĩa sâu xa trên hết này, người
thiện nam hoặc thiện nữ ấy tuy vẫn c̣n bị
phiền năo trói buộc, chưa xa ĺa được các sự
việc phàm phu, nhưng có thể thị hiện đạo
Giác ngộ, kéo dài một ngày ra bằng trăm kiếp, thu
ngắn trăm kiếp lại bằng một ngày, khiến
cho chúng sinh vui mừng tin phục. Này thiện nam tử! Người
thiện nam hoặc thiện nữ ấy giống như rồng
con mới sinh bảy ngày mà có thể làm nổi mây lên, cũng
có thể làm mưa rơi xuống. Này thiện nam tử! Đó
là sức công đức không thể nghĩ bàn thứ năm
của kinh này.
“Này thiện nam tử! Sức công đức
không thể nghĩ bàn thứ sáu của kinh này, là nếu có
người thiện nam hoặc thiện nữ nào, ở
thời Phật đang tại thế, hoặc sau khi Phật
diệt độ, được thọ tŕ đọc tụng
kinh điển này, tuy vẫn c̣n bị phiền năo trói buộc
nhưng có thể v́ chúng sinh mà nói pháp, khiến cho chúng sinh
tiêu trừ phiền năo, dứt hết khổ đau. Chúng
sinh nghe rồi liền tu hành đắc pháp, đắc quả,
đắc đạo, sánh ngang bằng với chư Phật,
không có ǵ khác biệt; ví như vị vương tử, tuy
tuổi vẫn c̣n nhỏ, nhưng nếu vua đi tuần
du hay bị bệnh nặng, ủy thác cho trách nhiệm trị
nước, vị vương tử ấy, lúc bấy giờ
sẽ y theo mạng vua mà ban hành mệnh lệnh đúng pháp,
quần thần bá quan văn vơ đem chánh lệnh giáo hóa,
khắp cả quốc dân đều được an b́nh,
giống như chính đức vua cai trị, không khác chút nào.
Người thiện nam hay thiện nữ thọ tŕ kinh này
cũng giống như thế; hoặc thời Phật đang
tại thế, hoặc sau khi Phật diệt độ, người
thiện nam hay thiện nữ ấy tuy chưa trụ nơi
Sơ-địa[57]
cho đến Bất-động-địa[58],
nhưng y theo giáo pháp của Phật đă dạy mà diễn
nói đúng như thế, chúng sinh nghe xong liền nhất tâm
tu hành, đoạn trừ phiền năo, đắc pháp, đắc
quả, cho đến đắc đạo. Này thiện
nam tử! Đó là sức công đức không thể nghĩ
bàn thứ sáu của kinh này.
“Này thiện nam tử! Sức công đức
không thể nghĩ bàn thứ bảy của kinh này, là nếu
có người thiện nam hay thiện nữ nào, ở thời
Phật đang tại thế hoặc sau khi Phật diệt
độ, được nghe kinh này mà vui mừng tin nhận,
cho là điều ít có, bèn thọ tŕ đọc tụng, biên
chép giảng giải, theo đúng giáo pháp mà tu hành, phát tâm bồ-đề,
sinh các căn lành, khởi tâm đại bi muốn cứu vớt
tất cả khổ năo cho chúng sinh, th́ tuy chưa tu tập
sáu pháp qua bờ mà sáu pháp ấy đă tự nhiên hiện ở
trước mặt, và ngay nơi thân này mà chứng được
pháp vô sinh nhẫn, mọi phiền năo sinh tử liền bị
tiêu trừ trong phút chốc, tức khắc đạt đến
bậc Thất-địa[59]
của hàng Bồ-tát lớn. Ví như người anh hùng v́
vua dẹp giặc, khi giặc bị dẹp yên rồi, nhà
vua hết sức vui mừng, đem một nửa nước
phong thưởng cho. Người thiện nam hoặc thiện
nữ thọ tŕ kinh này cũng giống như thế. Đó
là người dũng mănh nhất trong những người
tu hành, sáu pháp qua bờ quí báu không cầu mà tự nhiên đến,
giặc oán sinh tử tự nhiên tiêu trừ, chứng vô sinh
nhẫn, được phong thưởng một nửa của
báu ở nước Phật, an vui tự tại. Này thiện
nam tử! Đó là sức công đức không thể nghĩ
bàn thứ bảy của kinh này.
“Này thiện nam tử! Sức công đức
không thể nghĩ bàn thứ tám của kinh này, là nếu có
người thiện nam hay người thiện nữ, ở
thời Phật đang tại thế hoặc sau khi Phật
diệt độ, nghe được kinh điển này mà
cung kính tin nhận, coi đó như chính thân Phật không khác,
yêu thích kinh ấy và thọ tŕ đọc tụng, biên chép,
tôn kính như đội trên đầu, theo đúng giáo pháp
tu hành, chí giữ giới và tâm nhẫn nhục vững chắc,
thực hành bố thí, phát tâm từ bi sâu xa, đem kinh Đại Thừa Vô
Lượng Nghĩa trên hết này giảng nói rộng răi
cho mọi người nghe; nếu những người đến
trước là hạng người không tin tội phước,
th́ lấy kinh này mà chỉ dạy, dùng các thứ phương
tiện giáo hóa mạnh mẽ, khiến cho họ tin theo, dùng
uy lực của kinh này giúp cho tâm họ sáng suốt mà quay về
với chánh đạo. Khi ḷng tin đă phát sinh th́ tinh tấn
dũng mănh, được nhờ thế lực và oai đức
của kinh này mà đắc quả, đắc đạo.
V́ vậy người thiện nam hay thiện nữ ấy
liền ngay nơi thân này mà chứng được vô sinh
pháp nhẫn, ở bậc Địa-thượng[60],
trở thành quyến thuộc của chư vị Bồ-tát,
nhanh chóng thành tựu cơi Phật thanh tịnh nơi cảnh
giới chúng sinh, không bao lâu sẽ chứng được
quả vị Giác ngộ cao tột. Này thiện nam tử! Đó
là sức công đức không thể nghĩ bàn thứ tám của
kinh này.
“Này thiện nam tử! Sức công đức
không thể nghĩ bàn thứ chín của kinh này, là nếu có
người thiện nam hay thiện nữ nào, ở thời
Phật đang tại thế hay sau khi Phật diệt độ,
nghe được kinh này th́ vui mừng nhảy nhót, cho là được
điều chưa từng có, liền thọ tŕ đọc
tụng, biên chép cúng dường, v́ mọi người mà
giảng giải nghĩa lí rơ ràng, th́ bao nhiêu nghiệp chướng
nặng nề từ nhiều kiếp trước c̣n sót lại,
tức khắc đều được tiêu trừ hết
sạch, thân tâm thanh tịnh, được biện tài lớn,
lần lượt trang nghiêm các pháp qua bờ, đạt được
các loại chánh định như chánh định Thủ-lăng-nghiêm,
vào cửa tổng tŕ, được sức tinh tấn
chuyên cần, nhanh chóng tiến lên bậc Địa-thượng,
có thể phân thân vô số ở khắp mười phương
quốc độ, cứu vớt tất cả chúng sinh đang
chịu đau khổ cùng cực trong khắp hai mươi
lăm cơi[61], khiến
cho tất cả đều được giải thoát;
cho nên kinh này có năng lực như thế. Này thiện nam
tử! Đó là sức công đức không thể nghĩ bàn
thứ chín của kinh này.
“Này thiện nam tử! Sức công đức
không thể nghĩ bàn thứ mười của kinh này, là
nếu có người thiện nam hay thiện nữ nào, ở
thời Phật đang tại thế hoặc sau khi Phật
diệt độ, được nghe kinh này liền sinh tâm
vui mừng cho là điều ít có, rồi tự ḿnh thọ
tŕ đọc tụng, biên chép cúng dường, y theo kinh dạy
mà tu hành, sau đó lại khuyến hóa rộng răi mọi người
trong hàng xuất gia cũng như tại gia cùng thọ tŕ đọc
tụng, biên chép, giảng giải, cúng dường, theo đúng
giáo pháp mà tu hành. Những người xuất gia và tại
gia này tu hành, nhờ năng lực của kinh này mà đắc
đạo, đắc quả, đó là đều do ḷng từ
bi và sức khuyến hóa của người thiện nam hay
thiện nữ kia; cho nên người thiện nam hay thiện
nữ ấy ngay nơi thân này liền đạt được
vô lượng các môn đà-la-ni, ở địa vị phàm
phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu có thể phát vô số
a-tăng-ḱ thệ nguyện rộng lớn, thành tựu tâm
đại bi, cứu vớt đau khổ rộng khắp
chúng sinh, huân tập thiện căn sâu dầy, làm lợi ích
cho tất cả, diễn nói giáo pháp làm cho thấm nhuần
những chỗ khô cằn, lấy những phương thuốc
giáo pháp ban phát cho chúng sinh, làm cho tất cả đều được
an vui, dần dần tiến lên đến Pháp-vân-địa[62].
Ân đức của người thiện nam hay thiện nữ
ấy thấm nhuần khắp nơi, ḷng từ phủ khắp
không có ǵ bị bỏ sót, nhiếp thọ hết chúng sinh đau
khổ, dẫn dắt tất cả đều vào đường
đạo. Cho nên chẳng bao lâu th́ người thiện
nam hay thiện nữ ấy chứng được quả
vị Giác ngộ cao tột. Này thiện nam tử! Đó là
sức công đức không thể nghĩ bàn thứ mười
của kinh này vậy.
“Này thiện nam tử! Kinh Đại Thừa Vô
Lượng Nghĩa có sức oai thần rộng lớn
cùng cực, trên hết là như thế, thật tôn quí không
có ǵ sánh bằng, có thể khiến cho kẻ phàm phu thành tựu
được thánh quả, vĩnh viễn xa ĺa sinh tử,
hoàn toàn tự tại; v́ vậy mà nó có tên là Vô Lượng Nghĩa.
Nó làm cho tất cả chúng sinh ở ngay nơi địa vị
phàm phu mà sinh khởi vô lượng mầm mống của đạo
Bồ-tát, khiến cho cây công đức cứ tăng trưởng
măi cho đến khi tươi tốt sum sê; cho nên kinh này có
hiệu là Mười Sức Công Đức Không Thể Nghĩ
Bàn”.
Lúc bấy giờ Bồ-tát Đại Trang Nghiêm
cùng tám vạn vị Bồ-tát lớn đồng thanh bạch
Phật rằng:
“Bạch Đức Thế Tôn! Kinh Đại Thừa Vô
Lượng Nghĩa sâu xa mầu nhiệm hơn hết
mà Đức Thế Tôn vừa nói, văn lí chân chánh, tôn quí
không ǵ sánh bằng, được chư Phật ba đời
cùng bảo hộ, ma vương ngoại đạo không thể
xâm nhập được, tất cả tà kiến sinh tử
không thể phá hoại được; v́ vậy cho nên kinh
này mới có mười sức công đức không thể
nghĩ bàn, làm lợi ích rộng lớn cho tất cả chúng
sinh, giúp cho tất cả các vị Bồ-tát lớn đều
được chánh định Vô lượng nghĩa, hoặc
được trăm ngàn môn đà-la-ni, hoặc được
các địa, các pháp nhẫn của bậc Bồ-tát, hoặc
chứng được Duyên-giác, La-hán, và bốn đạo
quả[63]. Đức
Thế Tôn đă thương xót chúng con mà nói ngay giáo pháp như
thế, khiến cho chúng con hưởng được lợi
ích lớn lao của giáo pháp, thật là ḱ diệu đặc
biệt chưa từng có! Từ ân của Đức Thế
Tôn thật khó báo đáp!”
Lúc ấy cả ba ngàn đại thiên thế
giới chấn động sáu cách, trên không trung mưa xuống
rất nhiều loại hoa trời, như hoa ưu-bát-la,
hoa bát-đàm-ma, hoa câu-vật-đầu, hoa phân-đà-lị;
lại mưa xuống nhiều loại hương trời,
áo trời, chuỗi anh lạc và các châu báu vô giá khác của
cơi trời; tất cả các thứ ấy từ trên không
trung xoay ṿng rơi xuống, cúng dường Phật, chư
Bồ-tát và đại chúng Thanh-văn; các thức ăn cơi
trời trăm vị trân quí đựng trong bát trời, tràn
đầy sung măn, chỉ cần thấy sắc nghe mùi th́
tự nhiên no đủ; cờ trời, phướn trời,
lọng trời, nhạc khí vi diệu cơi trời đặt
khắp các nơi, cùng ḥa tấu để dâng cúng và khen ngợi
Phật. Lại nữa, hằng hà sa thế giới chư
Phật ở phương Đông cũng rung động sáu
cách, cũng có mưa hoa trời, hương trời, áo trời,
chuỗi anh lạc và các thứ châu báu vô giá khác của cơi
trời; các thức ăn cơi trời trăm vị trân quí đựng
trong bát cơi trời, chỉ cần thấy sắc nghe mùi th́
tự nhiên no đủ; cờ trời, phướn trời,
lọng trời, nhạc khí vi diệu cơi trời cùng ḥa tấu
để cúng dường và khen ngợi chư Phật, chư
vị Bồ-tát và đại chúng Thanh-văn ở các thế
giới ấy. Ở phương Nam, phương Tây, phương
Bắc, bốn phương góc, phương Trên và phương
Dưới cũng đều như thế.
Lúc bấy giờ Phật bảo Bồ-tát Đại
Trang Nghiêm cùng tám vị Bồ-tát lớn rằng:
“Các ông đối với kinh này nên đem ḷng
cung kính sâu xa, theo đúng giáo pháp mà tu hành, ngày đêm ǵn giữ
ân cần, quảng bá giáo hóa rộng răi với tất cả
ḷng siêng năng, khiến cho tất cả chúng sinh đều
được ích lợi của giáo pháp. Các ông thật là đại
từ đại bi, lập nguyện với sức thần
để bảo hộ kinh này, đừng để cho ngưng
trệ. Trong đời vị lai phải lưu hành rộng
răi kinh này ở khắp cơi Diêm-phù-đề, khiến cho tất
cả chúng sinh đều được thấy nghe, đọc
tụng, biên chép, cúng dường. Những công hạnh đó
cũng giúp cho các ông nhanh chóng chứng được quả
vị Giác ngộ cao tột.”
Khi ấy Bồ-tát Đại Trang Nghiêm cùng tám
vạn vị Bồ-tát lớn từ chỗ ngồi đứng
dậy, đi đến trước Phật, đầu mặt
đảnh lễ sát chân Phật, đi nhiễu trăm ngàn
ṿng, rồi qú xuống trước Phật, đồng
thanh bạch Phật rằng:
“Bạch Đức Thế Tôn! Chúng con mong ơn
Đức Thế Tôn thương xót, v́ chúng con mà nói Kinh
Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa sâu xa nhiệm
mầu trên hết này, chúng con xin cung kính thọ nhận lời
dạy bảo của Đức Thế Tôn. Sau khi Đức
Thế Tôn diệt độ, chúng con sẽ đem kinh này lưu
bố rộng răi, khiến cho khắp cả chúng sinh thọ
tŕ đọc tụng, biên chép cúng dường. Cúi xin Đức
Thế Tôn đừng lo lắng việc ấy. Chúng con sẽ
đem nguyện lực khiến cho tất cả chúng sinh được
thấy nghe đọc tụng, biên chép cúng dường, được
ích lợi lớn do sức oai thần của kinh pháp này.”
Bấy giờ đức Phật liền khen
ngợi rằng:
“Lành thay! Lành Thay! Này các thiện nam tử! Các ông
hôm nay chân chánh là các Phật tử! Tâm đại từ đại
bi của các ông có thể cứu vớt mọi khổ ách.
Các ông là những người hướng đạo tốt,
tất cả chúng sinh đều nương vào các ông làm nơi
y chỉ. Các ông thường đem lợi ích của giáo pháp
ban phát rộng khắp cho tất cả chúng sinh, cho nên các ông
cũng là những vị thí chủ lớn, làm ruộng phước
tốt của tất cả chúng sinh.”
Khi Phật nói xong, tất cả đại chúng
trong pháp hội đều vui mừng cùng cực, xin nguyện
thọ tŕ, rồi đảnh lễ Phật và lui ra.
CHÚ
THÍCH
[1] Ḱ-xà-quật: là tiếng dịch âm từ chữ
Phạn “Grdharakuta”, dịch
nghĩa ra Hán ngữ là Thứu-phong hay Linh-thứu, là tên
một ngọn núi nằm về phía Đông-Bắc, và
cũng là ngọn núi lớn nhất trong năm ngọn núi
bao quanh thành Vương-xá. Đỉnh núi trông giống
như đầu chim thứu (tức chim kênh-kênh, thích
ăn xác chết), lại trong núi có rất nhiều chim
thứu, nên ngọn núi được đặt tên như
vậy. Cảnh trí trên núi rất đẹp đẽ, có
khe suối chứa nước trong lành, có nhiều hang
động kín đáo, rất thuận tiện cho sự tu
tập của chư tăng. Tu viện Trúc-lâm vẫn là
đạo tràng chính ở thành Vương-xá, nhưng
khoảng 15 năm sau ngày thành đạo, mỗi khi trở
về Vương-xá hoằng hóa, đức Phật
thường ngự trên núi Linh-thứu. Từ đó, núi này
đă trở thành một đạo tràng nổi tiếng
của đức Phật. Trên đỉnh núi có đàn nói
pháp, có tịnh thất của Phật và của các vị
đệ tử lớn của Ngài. Vua Tần Bà Sa La (vua
của nước Ma-kiệt-đà thời Phật tại
thế) đă cho xây mấy trăm bậc cấp bằng
đá suốt từ chân núi lên đến đỉnh núi.
Các thung lũng nhỏ được san bằng. Các khe
suối th́ vua cho bắc cầu để dễ qua
lại. Đứng trên đỉnh núi có thể nh́n
thấy khắp thành Vương-xá. Các bậc cấp lên núi
ngày nay vẫn c̣n. Các di tích khác từ thời Phật
tại thế như nền đá của đàn nói pháp, các
thạch thất của Phật và chư vị tôn giả,
nơi Phật bị mảnh đá văng trúng chân (do
Đề Bà Đạt Đa từ trên cao xô xuống
để hại Phật), v.v... hiện nay vẫn c̣n.
[2] Thành Vương-xá: là kinh đô nước
Ma-kiệt-đà thời Phật tại thế (nay là
xứ Rajgir, phía Nam thành phố Patna); và vị quốc
vương đương thời là Tần Bà Sa La.
Trước vua Tần Bà Sa La, kinh đô của nước
Ma-kiệt-đà được đặt tại thành
Thượng-mao-cung, cũng gọi là thành
Cựu-vương-xá. Sau khi lên ngôi, vua Tần Bà Sa La đă
chọn khu đất ở phía Bắc thành này, có năm
ngọn núi bao bọc chung quanh, kiến tạo nên thành
Vương-xá, rồi thiên đô về đó. Con của vua
Tần Bà Sa La là thái tử A Xà Thế, sau khi lên ngôi kế
vị, vẫn giữ kinh đô là thành Vương-xá;
nhưng từ sau khi thôn tính nước Bạt-ḱ, đă
thiên đô đến thành Hoa-thị (tức thành
Ba-tra-liên-phất) ở tả ngạn sông Hằng (nay là
thành phố Patna). Thành Vương-xá là một trong các trung
tâm hóa đạo quan trọng nhất trong thời Phật
tại thế, mà Trúc-lâm, Linh-thứu ở ngoại thành là
hai đạo tràng trứ danh của đức Phật
ở nước Ma-kiệt-đà. Thành này cũng là nơi
thánh điển được kết tập lần
đầu tiên sau ngày đức Thế Tôn nhập
diệt.
[3] T́-kheo lớn (đại t́-kheo): chỉ cho các
vị t́-kheo đă chứng quả A-la-hán.
[4] Bồ-tát lớn (đại Bồ-tát): chỉ cho
các vị Bồ-tát từ bậc Sơ-địa trở
lên.
[5] Tám bộ chúng (bát bộ chúng, hay thiên long bát bộ):
chỉ cho các vị thần phát tâm bảo hộ Phật
pháp: Thiên, Long, Dạ-xoa (một loài quỉ), Càn-thát-bà
(thần âm nhạc), A-tu-la, Ca-lâu-la (loài chim thần cánh
vàng), Khẩn-na-la (thần xướng ca), Ma-hầu-la-già
(thần rắn). Các loài trên, v́ được cảm hóa
bởi uy đức của Phật cho nên đă trở
thành quyến thuộc của Phật, phát tâm hộ tŕ
Phật pháp và bảo hộ tất cả các quốc
độ của chư Phật.
[6] Chuyển-luân vương (hay Luân vương), nói
cho đủ là Chuyển- luân thánh vương, là từ
dịch ư của tiếng Phạn “cakra-varti-rajan”, nghĩa là người chủ
của bánh xe báu xoay chuyển. Luân vương là vị có
phước báo bậc nhất ở nhân gian, là vua của
tất cả vua chúa trong thiên hạ. Tùy theo chất
liệu làm thành bánh xe báu và giới hạn lănh địa
cai trị, nhất là phước báo riêng của từng
vị, mà phân biệt có bốn bậc Luân vương:
Thấp nhất là Thiết Luân
vương (Luân vương có bánh xe bằng sắt),
thống trị một châu là Nam Thiệm-bộ (tức
châu Diêm-phù-đề); cao hơn là Đồng Luân vương (Luân vương có bánh
xe bằng đồng), thống trị hai châu là Nam
Thiệm-bộ và Đông Thắng-thân; trên nữa là Ngân Luân vương (Luân
vương có bánh xe bằng bạc), thống trị ba châu
là Nam Thiệm-bộ, Đông Thắng-thân và Tây Ngưu-hóa;
tối cao là Kim Luân
vương (Luân vương có bánh xe bằng vàng), thống
trị cả bốn châu thiên hạ, gồm ba châu trên và
châu Bắc Câu-lô. (Xin xem thêm “Bài
4”, sách Giáo Khoa Phật Học Cấp Hai, quyển
Thượng, cư sĩ Hạnh Cơ dịch và chú thích
bổ túc, Ban Bảo Trợ Phiên Dịch Pháp Tạng
Việt Nam ấn hành, để biết rơ nhiều chi
tiết hơn về Chuyển-luân thánh vương.)
[7] Pháp vương tử: Đức Phật tự
tại với tất cả các pháp, nên xưng Ngài là Pháp
vương; do đó, các đệ tử của Phật
được gọi là “pháp vương tử”.
[8] Pháp-thân Đại-sĩ: Bồ-tát cũng gọi
là “Đại-sĩ”.
Pháp-thân Đại-sĩ tức là Pháp-thân Bồ-tát, là các
vị Bồ-tát đă dầy công tu hành trải bao số
kiếp, đă diệt hết phiền năo, chứng
được sáu thần thông, đoạn trừ một
phần vô minh, hiển lộ một phần pháp tánh;
một cách chính xác, đó là chư vị Bồ-tát lớn
từ bậc Thập-địa trở lên. Ngược
lại, các vị Bồ-tát chưa đoạn trừ
hết phiền năo th́ gọi là “Sinh-thân Đại-sĩ”,
hay “Sinh-thân Bồ-tát”.
[9] Giới, định, tuệ, giải thoát và giải
thoát tri kiến là năm thứ công đức vốn có
đầy đủ trong tự thể của Phật,
được gọi là “năm phần pháp thân” (ngũ
phần pháp thân). 1) Giới
(tức giới pháp thân) là thân ngữ ư của Phật
đều thanh tịnh, không bao giờ có một lầm
lỗi nhỏ nhặt nào.
2)
Định (tức
định pháp thân) là chân tâm tịch tịnh của
Phật, tự tánh bất động, hoàn toàn xa ĺa mọi
vọng niệm.
3) Tuệ (tức
tuệ pháp thân) chính là căn bản trí, là chân tâm rỗng
sáng của Phật, tự thể không hôn ám, thấu suốt
pháp tánh.
4) Giải thoát
(tức giải thoát pháp thân) là tự thể không hệ
lụy của Phật, giải thoát tất cả mọi
ràng buộc.
5) Giải thoát tri
kiến (tức giải thoát tri kiến pháp thân) là
tuệ giác của Phật chứng biết tự thể
xưa nay vốn không nhiễm ô, đă thật sự
giải thoát.
Đôi khi HƯƠNG được đem
dùng để ví dụ cho pháp thân, cho nên năm phần pháp
thân cũng được gọi là “năm phần
hương” (ngũ phần hương), tức
giới hương, định hương, tuệ
hương, giải thoát hương, và giải thoát tri
kiến hương.
Năm phần pháp thân giải thích như trên
là theo Phật giáo đại thừa; c̣n theo cách giải
thích của Phật giáo tiểu thừa th́ giới,
định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến
là năm thứ công đức vô lậu tập hợp
thành cảnh giới giác ngộ cao tột của bậc
Vô-học (tức quả vị A-la-hán của Thanh-văn
thừa và quả vị Phật-đà của Bồ-tát
thừa), cho nên chúng được gọi là “năm
uẩn vô lậu” (vô lậu ngũ uẩn).
1) Giới uẩn
tức là hai nghiệp thân và ngữ vô lậu.
2) Định
uẩn tức là ba thứ chánh định không, vô
tướng và vô nguyện.
3) Tuệ uẩn
tức là chánh tri, chánh kiến của bậc Vô-học.
4) Giải thoát
uẩn tức là sự thắng giải tương
ưng với chánh kiến.
5) Giải thoát tri
kiến uẩn tức
là tận trí (đoạn
diệt hết phiền năo mà chứng nhập trí tuệ vô
lậu của bậc Vô-học) và vô sinh trí (trí tuệ biết rơ là trí tuệ của
ḿnh không bị thối thất.
Đối lại với năm uẩn vô
lậu đó là năm uẩn hữu lậu
(tức sắc, thọ, tưởng, hành, thức) là
năm yếu tố làm thành hữu t́nh chúng sinh.
[10] Biện tài: “Biện” là cách diễn bày bằng ngôn
ngữ; “biện tài” là tài hùng biện, trong thuật ngữ
Phật học nó đặc biệt được dùng
để chỉ cho tài năng thuyết pháp. Chư
Phật và Bồ-tát, trải từ bao nhiêu kiếp, do
ngữ nghiệp thanh tịnh mà có đầy đủ các
thứ biện tài như: thuyết mọi pháp môn không
bị chướng ngại; giải rơ mọi nghĩa lí
không bị chướng ngại; dùng từ để
diễn đạt không bị chướng ngại;
diễn nói một cách chính xác, tự tại, không bị
chướng ngại.
[11] Tổng tŕ là dịch ư từ tiếng Phạn
“đà-la-ni”, tức là sức trí tuệ ghi nhớ có
thể tổng nhiếp nhớ giữ vô lượng
Phật pháp mà không để bị quên mất.
[12] Du hí: Người đời thường dùng
từ “du hí” để chỉ cho việc đi đây
đó vui chơi không mục đích; trong Phật giáo, “du hí”
có nghĩa là đi đó đây để giáo hóa độ
sinh. Những ai đi đây đó giáo hóa độ sinh
một cách tự tại, không bị bất cứ sức
mạnh nào làm cho trở ngại, chùng bước, gọi
là có “thần thông du hí”.
[13] Các ba-la-mật: Tiếng Phạn “ba-la-mật” hay
“ba-la-mật-đa”, dịch ra Hán ngữ là “cứu cánh”
(rốt ráo), “độ” (qua sông), hay “đáo bỉ ngạn”
(đến bờ bên kia), dùng để chỉ cho các pháp
môn tu tập của hàng Bồ-tát. Bồ-tát tu tập các pháp
môn này để tự ḿnh đạt được giác
ngộ giải thoát và giúp cho mọi người giác
ngộ giải thoát. Một cách căn bản, có sáu pháp môn
như vậy, được gọi là “lục
ba-la-mật”, hay “lục độ” (sáu pháp qua bờ),
gồm có: bố thí ba-la-mật, tŕ giới ba-la-mật,
nhẫn nhục ba-la-mật, tinh tấn ba-la-mật,
thiền định ba-la-mật, và trí tuệ ba-la-mật. (Xem chú thích số 40 ở sau.)
[14] La Vân tức là tôn giả
[15] Trong số các
vị T́-kheo được nêu tên trên đây, 10 vị tôn
giả Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Tu Bồ
Đề, Đại Ca Chiên Diên, Phú Lâu Na Di Đa La Ni
Tử, A Na Luật, Ưu Ba Li, A Nan, La Vân, và Đại Ca
Diếp, được tôn xưng là “mười vị đệ tử lớn”
(thập đại đệ tử) của Phật. (Để biết rơ tiểu
sử, hành trạng của quí vị tôn giả này, xin xem
sách Mười Vị Đệ Tử Lớn Của
Phật, cư sĩ Hạnh Cơ dịch, ấn bản
mới nhất năm 2005 của chùa Liên Hoa và hội Cư
Sĩ Phật Giáo Orange County.)
[16] Đại, ấm, giới, nhập:
1) “Đại” tức là những nguyên tố
lớn, có cùng khắp, ḥa hợp với nhau mà làm nên
vạn pháp trong vũ trụ; ví dụ: toàn thể sắc
pháp (vật chất) trong vũ trụ và thân thể của
các loài hữu t́nh (rơ nhất là thân thể con người)
là do bốn nguyên tố lớn (tứ đại) sau
đây hợp thành: đất
(địa đại), nước
(thủy đại), lửa (hỏa
đại) và gió (phong
đại); nếu thêm nguyên tố hư không (không đại) th́ có “ngũ đại”.
Nếu kể cả phần tinh thần của các loài
hữu t́nh (rơ nhất là con người) th́ phải thêm hai
nguyên tố kiến
(kiến đại – tánh thấy) và thức (thức đại - nhận thức phân
biệt), như thế là có bảy nguyên tố lớn (thất
đại). Lại nữa, vạn vật trong vũ
trụ luôn luôn trôi chảy, cho nên đă có nguyên tố không gian th́ đồng
thời cũng có nguyên tố thời
gian, vậy thời gian cũng là một nguyên tố
lớn góp phần h́nh thành vạn pháp trong vũ trụ; do
đó, nói về “đại” th́ có tất
cả là 8 đại (bát đại): địa, thủy, hỏa,
phong, không, thời, kiến và thức.
2) “Ấm” tức là “uẩn”, là các yếu
tố tinh thần và vật chất cùng ḥa hợp
để cấu tạo nên con người, gồm có 5
yếu tố (ngũ ấm, hay ngũ uẩn): sắc,
thọ, tưởng, hành và thức. Trong năm yếu
tố này th́ sắc
thuộc về sắc pháp (vật chất); c̣n thọ, tưởng, hành và
thức th́ thuộc về tâm pháp (tinh thần).
3) Nhập là chỉ cho 6 căn (nhăn,
nhĩ, tị, thiệt, thân, và ư) và 6 cảnh (hay 6
trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp).
Chữ “nhập” ở
đây có nghĩa là tiếp xúc với nhau, tức là 6
căn và 6 cảnh tiếp xúc với nhau, như nhăn căn
tiếp xúc với sắc cảnh, nhĩ căn tiếp xúc
với thanh cảnh, ư căn tiếp xúc với pháp cảnh
v.v... Ở đây, cảnh là đối tượng
của căn, và v́ căn với cảnh, mỗi bên
đều có 6 pháp, cho nên gọi là “6 nhập” (lục
nhập); lại v́ căn th́ ở trong tự thân con
người, c̣n cảnh th́ ở bên ngoài tự thân con
người, nên 6 căn được gọi là “6
nhập trong” (lục nội nhập), và 6 cảnh th́
được gọi là “6 nhập ngoài” (lục ngoại
nhập). Cộng 6 nhập trong và 6 nhập ngoài th́ có
12 nhập, nên “6 nhập” (lục nhập) cũng tức là
“12 nhập” (thập nhị nhập).
4) Giới nghĩa là khu vực, tức là mỗi
pháp có khu vực, giới hạn riêng của nó, pháp này không
lẫn lộn được với pháp kia. Vạn pháp
trong vũ trụ được bao hàm trong 18 khu vực (thập
bát giới) gồm có: 6 căn, 6 cảnh (như
vừa nói trên) và 6 thức. Khi một căn tiếp xúc
với đối tượng của nó (cảnh) th́ phát
hiện ra một thức; ví dụ, khi nhăn căn tiếp
xúc với sắc cảnh th́ liền có nhăn thức, ư
căn tiếp xúc với pháp cảnh th́ liền có ư
thức, v.v... Tóm lại, 6
căn (nhăn căn, nhĩ căn, tị căn, thiệt
căn, thân căn, ư căn), 6
cảnh (sắc cảnh, thanh cảnh, hương
cảnh, vị cảnh, xúc cảnh, pháp cảnh) và 6 thức (nhăn thức, nhĩ
thức, tị thức, thiệt thức, thân thức, ư
thức), cộng lại là 18
khu vực. Tất cả mọi sự mọi vật trong
vũ trụ đều bao gồm trong 18 khu vực này.
[17] Giới, định, tuệ, giải, tri kiến:
tức giới, định, tuệ, giải thoát và
giải thoát tri kiến (như
vừa tŕnh bày trong chú thích số 9 ở trên).
[18] Ba minh (tam minh): cũng gọi là “tam đạt”, là
ba thứ trí sáng suốt của phật, biết rơ mọi
sự việc phân minh rơ ràng; đó là:
1) Túc mạng minh: biết rơ từ một cho
đến trăm ngàn vạn ức kiếp trước
của chính ḿnh và của chúng sinh.
2) Thiên nhăn minh: biết rơ tất cả các
tướng trạng sinh tử của chúng sinh, như chúng
sinh nào do tà pháp làm nhân duyên mà tạo ra các hành động ác,
để rồi khi chết đi phải đọa vào
các đường ác; hoặc chúng sinh nào do chánh pháp làm nhân
duyên mà tạo ra các hành động thiện, sau khi chết
được sinh về các nẻo thiện; v.v...
3) Lậu tận minh: chứng nhập lí tứ đế,
thấy rơ tướng như thật của vạn pháp,
diệt trừ hết sạch mọi thứ phiền năo,
hoàn toàn giác ngộ giải thoát.
[19] Sáu thông (lục thông) tức là sáu thần thông, là
sáu năng lực mầu nhiệm, tự tại vô
ngại, siêu việt thế gian, không thể nghĩ bàn, do
công phu tu tập thiền định mà đạt
được.
1) Thần túc thông: tùy ư muốn đi đâu th́
tự khắc đến đó; tùy ư muốn chuyển
biến tướng trạng như thế nào th́ tức
khắc có tướng trạng đó; riêng đức
Phật c̣n có năng lực tùy ư biến cải đối
cảnh, tự tại vô ngại.
2) Thiên nhăn thông: thấy suốt các tướng
khổ vui, sinh tử của chúng sinh trong sáu
đường; thấy tất cả mọi loài mọi
vật trong thế gian, bất luận xa gần, lớn
nhỏ, có h́nh sắc hay không có h́nh sắc, không có ǵ ngăn
cách, chướng ngại.
3) Thiên nhĩ thông: nghe rơ tất cả âm thanh, ngôn
ngữ, những tiếng kêu than đau khổ, những
lời mừng vui sung sướng của mọi loài chúng
sinh trong sáu đường.
4) Tha tâm thông: biết rơ tâm ư, những tư
tưởng lành dữ của mọi loài chúng sinh trong sáu
đường.
5) Túc mạng thông: thấy rơ đời sống
cùng những việc làm của chính ḿnh và của mọi
chúng sinh khác trong nhiều kiếp quá khứ.
6) Lậu tận thông: đoạn trừ tất
cả phiền năo (kiến tư hoặc) trong ba cơi,
vĩnh viễn thoát li sinh tử luân hồi.
Trong sáu thần thông trên, riêng pháp lậu
tận thông th́ chỉ có bậc A-la-hán và Phật
mới chứng được; năm pháp thần thông c̣n
lại, được gọi là “ngũ thông”, th́ bất cứ ai, kể cả
ngoại đạo, tu định đạt đến
Tứ-thiền đều chứng được,
nhưng không thù thắng bằng các bậc A-la-hán và
Phật. Lại nữa, trong sáu thần thông trên, ba pháp thiên nhăn thông, túc mạng thông và
lậu tận thông của Phật được
gọi là “ba minh” (tam minh), như vừa tŕnh bày trong chú
thích số 18 kế trên.
[20] Đạo phẩm: tức là 37 phẩm trợ
đạo (tam thập thất trợ đạo phẩm),
được coi là 37 pháp môn tu tập căn bản
của đạo Phật, là 37 yếu tố làm trợ
lực lớn cho hành giả trên đường tu tập
cho đến khi đạt được đạo
quả Giác ngộ cao tột. 37 pháp môn ấy được
chia thành 7 nhóm:
1) 4 lănh vực quán niệm (tứ niệm xứ):
- quán niệm rằng thân thể là không trong
sạch (quán thân bất tịnh);
- quán niệm rằng mọi cảm thọ
đều chỉ là đau khổ (quán thọ thị
khổ);
- quán niện rằng tâm ư là vô thường
(quán tâm vô thường);
- quán niệm rằng vạn pháp là vô ngă (quán
pháp vô ngă).
2) 4 sự cần mẫn chân chánh (tứ chánh cần):
- phải chấm dứt triệt để
các hành động xấu (của cả thân, ngữ và ư)
đă làm, không tái phạm, không để cho chúng tăng
trưởng thêm (đoạn dĩ sinh chi ác);
- phải ngăn ngừa, chận đứng
các hành động xấu có thể, nhưng chưa xảy
ra (sử vị sinh chi ác bất sinh);
- phải thực hiện các việc tốt
đáng thực hiện, nhưng chưa thực hiện
(sử vị sinh chi thiện năng sinh);
- phải tiếp tục đẩy mạnh và
hoàn tất các việc tốt đang được
thực hiện (sử dĩ sinh chi thiện năng
tăng trưởng).
3) 4 pháp như ư (tứ như y túc):
- ḷng mong muốn đạt được
đạo quả Giác ngộ (dục như ư túc);
- tâm chuyên chú vào đạo quả Giác ngộ
(niệm, hay định như ư túc);
- chí kiên tŕ tiến tới đạo quả
Giác ngộ (tinh tấn như ư túc);
- tham cứu, tư duy, quán chiếu về
thực tại để đạt được
đạo quả Giác ngộ (quán, hay tư duy như ư túc).
4) 5 khả năng (ngũ căn):
- ḷng tin tưởng sâu đậm vào Ba Ngôi Báu
(tín căn);
- chí kiên tŕ tu học và hành đạo (tinh
tấn căn);
- thường trực sống trong chánh
niệm (niệm căn);
- tâm ư tập trung, tĩnh lặng, không
vọng động (định căn);
- quán chiếu để thấy rơ thật
tướng của vạn pháp (tuệ căn).
5) 5 sức mạnh (ngũ lực): Khi tu tập
năm khả năng như trên th́ chính chúng sẽ trở
thành năm sức mạnh để đánh tan mọi
phiền năo, chướng ngại:
- ḷng tin tưởng vào Tam Bảo trở nên
lớn mạnh (tín lực) th́ đánh tan mọi tin tưởng
sai lầm;
- chí kiên tŕ tu học và hành đạo trở
nên lớn mạnh (tinh tấn lực) th́ đánh tan tính
lười biếng, buông lung, hôn trầm nơi bản
thân;
- nếp sống chánh niệm trở nên
lớn mạnh (niệm lực) th́ không c̣n những tư
tưởng sai quấy, không nghĩ đến những
điều vô ích;
- sự tập trung tâm ư trở nên lớn
mạnh (định lực) th́ mọi loạn
tưởng, vọng động sẽ tan biến hết;
- trí tuệ quán chiếu trở nên lớn
mạnh (tuệ lực) th́ mọi phiền năo, kiến
chấp, tà kiến, vô minh đều bị bật hết
gốc rễ, thật tướng của vạn pháp hiển
lộ.
6) 7 yếu tố giác ngộ (thất giác chi):
- an trú trong chánh niệm (niệm giác chi);
- chọn lựa pháp môn (trạch pháp giác chi),
cũng tức là tư duy, quán sát, phân biệt để
thấy rơ thiện và bất thiện (phân biệt giác chi);
- kiên tŕ tu tập (tinh tấn giác chi);
- vui vẻ, ôn ḥa (hỉ giác chi);
- tâm thư thái nhẹ nhàng (khinh an giác chi);
- tâm ư tĩnh lặng, không vọng động
(định giác chi);
- buông bỏ mọi kiến chấp về nhân
ngă, bỉ thử để tâm được trong sáng
(xả giác chi).
7) 8 nguyên tắc hành động chân chính (bát chánh
đạo):
- thấy biết chân chánh (chánh tri kiến);
- suy nghĩ chân chánh (chánh tư duy);
- nói năng chân chánh (chánh ngữ);
- hành động chân chánh (chánh nghiệp);
- mưu sinh chân chánh (chánh mạng);
- siêng năng chân chánh (chánh tinh tấn);
- nhớ nghĩ chân chánh (chánh niệm);
- thiền định chân chánh (chánh
định).
[21] Mười lực (thập lực): cũng
gọi là mười trí
lực (thập trí lực) hay mười thần lực (thập thần
lực), là mười sức trí tuệ chỉ có Phật
mới có đầy đủ. Đó là trí tuệ chân
thật, thấy rơ, thấu suốt tất cả, không ai
có thể hơn được, không ǵ có thể phá hủy
được. Mười sức trí tuệ đó là:
1) Sức trí tuệ biết rơ mọi
điều đúng đạo lí hay không đúng đạo
lí của chúng sinh.
2) Sức trí tuệ biết rơ nghiệp báo
suốt ba đời của chúng sinh.
3) Sức trí tuệ biết rơ tiến tŕnh
giải thoát bằng thiền định của chúng sinh.
4) Sức trí tuệ biết rơ các căn tánh cao
thấp của chúng sinh.
5) Sức trí tuệ biết rơ mọi hiểu
biết của chúng sinh.
6) Sức trí tuệ biết rơ mọi lănh
vực khác nhau ở thế gian.
7) Sức trí tuệ biết rơ mọi
đường đi chỗ đến của sáu nẻo
luân hồi và cảnh giới niết bàn.
8) Sức trí tuệ biết rơ mọi việc
đời vị lai của chúng sinh, như dùng thiên nhăn,
không bị chướng ngại (tức là thiên nhăn minh).
9) Sức trí tuệ biết rơ các kiếp
trước xa xôi của chúng sinh (tức là túc mạng
minh).
10) Sức trí tuệ biết rơ tất cả
các tập khí đều đă dứt tuyệt (tức
lậu tận minh).
[22] Vô úy là không sợ sệt, tức là đức tính
tự tin, dũng mănh, không có ǵ làm cho ḿnh sợ sệt;
nhờ đức tính này mà
công việc giáo hóa độ sinh được dễ dàng,
không bị trở ngại. Phật và Bồ-tát đều
có bốn đức tính (tứ
vô úy, hay tứ vô sở úy)
này, nhưng không giống nhau:
a. Bốn đức vô úy của Phật:
1) Phật biết rơ tất cả các pháp, luôn
luôn trụ nơi chánh kiến, rất tự tin, không có ǵ
làm cho sợ sệt.
2) Phật đă dứt tuyệt mọi
phiền năo, không một thứ chướng nạn nào làm
cho sợ sệt.
3) Phật chỉ rơ các phương pháp tu
tập để vượt chướng ngại, không
một lời cật vấn nào làm cho sợ sệt.
4) Phật chỉ bày cặn kẽ con
đường dứt tuyệt khổ đau mà không có ǵ
làm cho sợ sệt.
b. Bốn đức vô úy của Bồ-tát:
1) Bồ-tát thọ tŕ giáo pháp không xao lăng, cho
nên rất tự tin khi thuyết pháp trước
đại chúng, không có ǵ làm cho sợ sệt.
2) Bồ-tát biết rơ căn tánh của chúng
sinh, cho nên khéo léo hướng dẫn chúng sinh tu tập, ḷng
rất tự tin, không có ǵ làm cho sợ sệt.
3) Bồ-tát khéo léo giải đáp tất
cả mọi câu hỏi đúng như chánh pháp, không có ǵ làm
cho sợ sệt.
4) Bồ-tát khéo léo giải tỏa tất
cả mọi nghi nan đúng như chánh pháp, không có ǵ làm cho
sợ sệt.
[23] Chữ “VẠN” (卍): Thật ra đây không phải là một chữ, mà
là h́nh dạng của một tướng tốt của
đức Phật và chư vị Bồ-tát ở bậc
Thập-địa và Đẳng-giác; biểu hiện cho
đức cát tường. Người Trung-quốc c̣n
viết nó thành chữ “萬” (vạn) để biểu ư
rằng Phật có đủ vạn công đức thù
thắng. Nguyên vào thời tối cổ của
Ấn-độ, h́nh “卍” được coi là một phù
hiệu, chính là sợi lông xoắn ở trên ngực
trời Phạm Thiên, tiêu biểu cho sự cát tường,
thanh tịnh và viên măn. Trong thời Phật tại thế,
phù hiệu ấy được cả Phật giáo,
Bà-la-môn giáo và Ḱ-na giáo đều sử dụng. Riêng trong
Phật giáo, nó được coi là một tướng
tốt hiện trước ngực của Phật và
chư vị Pháp-thân Bồ-tát; về sau nó dần dần
trở thành một phù hiệu đặc biệt
đại biểu cho Phật giáo. Ngoài Ấn-độ ra,
các dân tộc thuộc giống người Aryan thời
cổ như Ba-tư, Hi-lạp, Phổ (Đức) v.v...
cũng dùng h́nh trên làm phù hiệu, tượng trưng cho
ánh sáng mặt trời, ánh sáng điện, ánh sáng lửa
v.v...
[24] Tám thứ Phạm âm (bát Phạm, hay bát chủng
Phạm âm thanh) cũng gọi là tám thứ âm thanh tịnh (bát chủng thanh tịnh
âm), tức là âm thanh đức Phật phát ra, ngôn từ
thanh nhă, có đủ tám thứ công đức thù thắng,
khiến cho những ai được nghe liền hiểu
rơ ràng; đó là:
1) Âm thanh hay cùng cực, nghĩa là, chư
vị Bồ-tát, Thanh-văn, Duyên-giác, trời và
người, tuy cũng có âm thanh hay nhưng chưa
đạt đến chỗ cùng cực, chỉ có âm thanh
của Phật là hay hơn hết, đạt đến
chỗ cùng cực, khiến cho người nghe không
biết nhàm chán, được thâm nhập vào đạo
nhiệm mầu.
2) Âm thanh mềm mỏng, nghĩa là,
đức Phật lấy từ bi làm tâm, âm thanh phát ra khéo
léo thuận t́nh, khiến cho người nghe vui mừng,
xả bỏ tính ương ngạnh.
3) Âm thanh ḥa nhă, nghĩa là, đức Phật
thường giữ mức trung đạo, dịu dàng
thung dung, âm thanh phát ra ḥa nhă, thích hợp, khiến cho
người nghe đều được vừa ư, nhân âm
thanh đó mà thể hội nghĩa lí.
4) Âm thanh tôn quí rơ suốt, nghĩa là, công
đức của Phật ở địa vị tôn quí
tối cao, tuệ tâm rỗng suốt, âm thanh phát ra làm cho
người nghe tôn trọng, trí tuệ sáng tỏ.
5) Âm thanh không nhàm chán, nghĩa là, đức
Phật thường an trú trong định “Thủ-lăng-nghiêm”
(dũng mănh kiên cố), có đức đại hùng, âm thanh
phát ra khiến cho người nghe đều kính sợ,
thiên ma ngoại đạo đều qui phục.
6) Âm thanh không lầm lẫn, nghĩa là, trí
tuệ của Phật sáng suốt toàn vẹn, chiếu soi
vô ngại, âm thanh phát ra rơ ràng chân thật, không chút sai
lầm lẫn lộn, khiến cho người nghe
đều đạt được chánh kiến.
7) Âm thanh thâm diệu, nghĩa là, trí tuệ
của Phật sâu thẳm, địa vị tu hành cực
cao, âm thanh phát ra từ gần đến xa, suốt
đến mười phương, khiến cho tiếng
gần mà nghe không lớn, tiếng xa mà nghe không nhỏ, ai
nghe được đều tỏ ngộ nghĩa lí sâu
xa.
8) Âm thanh không khô cạn, nghĩa là, Phật
trụ nơi pháp tạng vô tận, hạnh nguyện
của Phật vô tận, âm thanh phát ra khiến cho
người nghe đều t́m hiểu ư nghĩa của
lời nói không thể cùng tận.
[25] Đà-la-ni là tiếng dịch âm của tiếng
Phạn “dharani”, dịch
nghĩa ra Hán ngữ là “tổng
tŕ”, là tuệ lực ghi nhớ và ǵn giữ vô
lượng Phật pháp, không để cho quên mất.
Đà-la-ni có công năng ǵn giữ tất cả pháp
thiện, cho nên cũng được dịch nghĩa là
“năng tŕ”; lại có công năng ngăn ngừa tất
cả pháp ác, cho nên cũng được dịch nghĩa
là “năng già”. Bồ-tát lấy hạnh lợi tha làm
chủ, cho nên, để giáo hóa chúng sinh một cách hữu
hiệu, Bồ-tát cần phải đạt
được đà-la-ni. Khi đă có được
đà-la-ni, Bồ-tát sẽ ghi nhớ vô lượng
Phật pháp, ở trước đại chúng sẽ
thuyết giảng một cách tự do tự tại, không
có ǵ làm cho lo lắng, sợ sệt.
Luận Đại
Trí Độ nói rằng: đà-la-ni là một thuật kí
ức, nghĩa là ở trong một pháp mà giữ ǵn tất
cả pháp, ở trong một văn mà giữ ǵn tất
cả văn, ở trong một nghĩa mà giữ ǵn
tất cả nghĩa; do ghi nhớ một pháp, một
văn, một nghĩa mà có thể liên tưởng
đến tất cả pháp, giữ ǵn vô lượng
Phật pháp không để tản mất. Do vậy, về
h́nh thức, đà-la-ni thường là ngắn, giống
như thần chú, cho nên người sau đă lẫn lộn
giữa đà-la-ni với thần chú, và gọi thần chú
là đà-la-ni. Tuy nhiên, người ta thường y cứ
vào câu dài ngắn để phân biệt: câu dài là
“đà-la-ni”; câu ngắn là “chân ngôn” (tức thần chú);
chỉ một hai chữ th́ gọi là “chủng tử”
(tức chữ Phạn mà các hành giả Mật tông dùng
để quán tưởng).
Về chủng loại, theo luận Đại Trí Độ,
đà-la-ni có bốn loại:
1) Văn tŕ đà-la-ni: người có
được đà-la-ni, nghe sự việc ǵ đều
ghi nhớ hết.
2) Phân biệt tri đà-la-ni: người có
được đà-la-ni sẽ có khả năng phân
biệt rơ ràng tất cả những việc chánh tà,
tốt xấu v.v...
3) Nhập âm thanh đà-la-ni: người có
được đà-la-ni, nghe tất cả âm thanh ngôn
ngữ đều hoan hỉ, không bao giờ sinh tâm buồn
giận.
4) Tự nhập môn đà-la-ni: người có
được đà-la-ni, khi nghe các mẫu tự (Phạn
ngữ) như a, la, ba, già, na
v.v..., liền thể nhập thật tướng các pháp.
Luận Du Già
Sư Địa th́ ghi bốn loại đà-la-ni như
sau:
1) Pháp đà-la-ni: sức ghi nhớ câu kinh, không
quên mất.
2) Nghĩa đà-la-ni: sức lí giải nghĩa
kinh, không quên mất.
3) Chú đà-la-ni: nương nơi định lực
mà phát khởi chú thuật, có thể tiêu trừ khổ ách
cho chúng sinh.
4) Nhẫn đà-la-ni: thông đạt thật
tướng các pháp, xa ĺa ngôn thuyết, an trú nơi pháp tánh.
[26] Duyên, đế, độ: tức các giáo pháp
thập nhị nhân duyên, tứ đế, và lục
độ. (Xin xem các chú thích số
39, 42 và 40 ở sau.)
[27] Sinh, trụ, dị, diệt là bốn tướng
trạng (tứ tướng) của các pháp hữu vi: sinh
ra, hiện hữu một thời gian, biến đổi
hư hao, và hủy diệt.
[28] Noăn, Đảnh, Thế-đệ-nhất: là các
căn lành (thiện căn) mà người tu hành cần
phải gia công tu tập để chuẩn bị tiến
lên bậc Kiến-đạo (tức Sơ-địa
Bồ-tát), tức là vượt khỏi hẳn địa
vị phàm phu để bước vào ḍng thánh. Trong
thời gian tu tập các căn lành này, hành giả
được ở vào một địa vị tu tập
gọi là địa vị Gia-hạnh (Gia-hạnh vị);
địa vị này, từ thấp lên cao, gồm có
bốn bậc:
1) Bậc Noăn (Noăn vị): Ở bậc này, tuy
ngọn lửa trí tuệ vô lậu chưa đủ
sức phát sinh, nhưng hơi ấm của ánh sáng
trí tuệ cũng đủ sức giúp hành giả tiêu
trừ phiền năo, sinh thiện căn hữu lậu,
tiếp cận với trí tuệ vô lậu.
2) Bậc Đảnh (Đảnh vị): Ở
bậc này, thiện căn của hành giả chưa
thực sự vững vàng, c̣n giao động; nhưng
từ chỗ giao động đó mà phát sinh
được thiện căn tối thượng, quán sát
và thấy rơ bốn sự thật, như đứng trên đỉnh
núi mà nh́n thấy bốn phương.
3) Bậc Nhẫn (Nhẫn vị): Ở bậc
này hành giả xác nhận rơ ràng bốn sự thật
đúng là chân lí (đích thực là khổ, đích thực
là nguyên nhân của khổ v.v...); thiện căn đă
được an định, không c̣n
bị thối lui vào các đường dữ.
4) Bậc Thế-đệ-nhất
(Thế-đệ-nhất vị): Đây là
địa vị cao tột (đệ nhất)
trong thế gian, là đỉnh cao nhất của trí
tuệ hữu lậu. Nhờ thiền định không gián
đoạn mà phát sinh trí như thật, quán sát thấy rơ
cả năng thủ và sở thủ đều không;
chỉ trong sát na kế tiếp là nhập vào địa
vị Kiến-đạo, thực sự bước vào
ḍng thánh.
Bốn loại thiện căn trên đây tuy
vẫn c̣n thuộc trong phạm vi thế gian hữu
lậu, nhưng lại có công năng phát sinh loại
thiện vô lậu của bậc Kiến-đạo, cho nên
chúng được gọi là “thiện căn”, tức là
gốc
rễ của thiện pháp.
[29] Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán: là bốn
quả vị tu chứng của hành giả thừa
Thanh-văn.
1) Sơ-quả Tu-đà-hoàn: dịch
nghĩa ra Hán ngữ là Dự-lưu (dự vào ḍng thánh),
Nhập-lưu (vào ḍng thánh), hay Nghịch-lưu
(ngược ḍng sinh tử). Nếu tu theo hạnh
Thanh-văn, th́ đây là bước đầu tiên hành
giả ở vào ḍng thánh. Khi c̣n ở địa vị phàm
phu, hành giả phải tu tập để đoạn
trừ 88 sử kiến hoặc của ba cơi (xem chú thích
số 56 ở sau), mới chứng được quả
này.
2) Nhị-quả Tư-đà-hàm: dịch ra
Hán ngữ là Nhất-lai. Hành giả (ở cơi Người)
sau khi đă chứng quả Tu-đà-hoàn (tức đă
đoạn dứt kiến hoặc ba cơi), đến lúc
mạng chung sẽ sinh lên một cơi trời Dục
giới, rồi từ đó lại phải sinh trở
lại cơi Người một lần nữa để
tiếp tục tu tập đoạn trừ 6 phẩm
đầu của tư hoặc cơi Dục. -- Tư hoặc cơi
Dục gồm 4 thứ phiền năo tham, sân, si, mạn (xem
chú thích số 56 ở sau), v́ có sâu có cạn, có phần vi
tế khó đoạn trừ, có phần thô sơ dễ
đoạn trừ, cho nên được chia làm 9 phẩm,
từ nhẹ nhàng cho đến nặng nề nhất:
thượng thượng (nhẹ nhàng nhất),
thượng trung, thượng hạ, trung thượng,
trung trung, trung hạ, hạ thượng, hạ trung,
hạ hạ (nặng nề nhất). 6 phẩm tư
hoặc đầu, từ thượng thượng cho
đến trung hạ, là phần dễ đoạn trừ
hơn 3 phẩm cuối.
3) Tam-quả A-na-hàm: dịch ra Hán nghữ là
Bất-hoàn. Hành giả (ở cơi Người) đă
đoạn trừ 6 phẩm đầu của tư hoặc
cơi Dục, chứng quả Tư-đà-hàm, sau khi mạng
chung liền sinh lên một cơi trời Dục giới,
tiếp tục tu tập để đoạn trừ
nốt 3 phẩm tư hoặc cuối cùng (hạ
thượng, hạ trung, hạ hạ) của cơi Dục
th́ chứng quả A-na-hàm; sau đó lại sinh lên cơi
trời Tịnh-cư ở Sắc giới (không trở
lại Dục giới nữa) để tiếp tục tu
tập cho đến khi chứng quả A-la-hán.
4) Tứ-quả A-la-hán: Đây là quả vị cao
tột của thừa Thanh-văn. Sau khi chứng quả
A-na-hàm, hành giả tiếp tục tu tập để
đoạn dứt tư hoặc trong ba cơi, mới
chứng được quả vị này. Như vậy,
A-la-hán là vị thánh đă dứt hết mọi thứ
phiền năo thuộc kiến tư hoặc trong ba cơi, nên
danh xưng “A-la-hán” có nghĩa là “sát
tặc” (tức đă diệt trừ hết giặc
phiền năo). V́ đă diệt trừ hết kiến tư
hoặc trong ba cơi, nên vị thánh ấy giải thoát ra khỏi
thế gian, không c̣n tái sinh vào ba cơi nữa, do đó, danh
xưng “A-la-hán” cũng có nghĩa là “vô sinh”. Vị thánh ấy đă giải thoát
khỏi ba cơi, vĩnh viễn sống trong cảnh giới
niết bàn, không c̣n phải tu tập ǵ nữa, cho nên
được xưng là bậc “vô học”; và xứng
đáng được thọ nhận sự cúng
dường của cả trời, người làm
ruộng phước cho thế gian, cho nên danh xưng
“A-la-hán” cũng c̣n có nghĩa là “ứng
cúng”.
[30] Bích-chi Phật: là quả vị chứng
đắc của hành giả thừa Duyên-giác. Quí vị
hành giả trực tiếp được nghe Phật dạy
nguyên lí “Mười hai nhân
duyên”, hoặc sau khi Phật diệt độ mà có
phước duyên được học tập giáo lí
ấy, rồi theo đó mà quán chiếu tu tập,
đạt được trí tuệ giác ngộ, gọi là
hàng “Duyên-giác”,
và quả vị chứng đắc của quí vị
ấy được gọi là “Bích-chi
Phật”. Mặt khác, quí vị hành giả sinh vào
thời không có Phật, cũng không có Phật pháp, nhưng
nhờ có công phu tu học sâu dầy từ đời
trước, mà ở đời này, đứng
trước cảnh biến chuyển sinh diệt của
vạn pháp mà tự phát trí tuệ, thấy rơ tính chất vô
thường của thế gian, tính chất vô ngă của
mọi vật, tính chất duyên sinh của vạn pháp, nhân
đó mà diệt trừ được tâm thức vô minh;
hoặc giả họ ẩn cư trong chốn núi rừng,
trông thấy cảnh hoa rơi lá rụng, rồi do một
niệm sáng suốt làm cho tâm ư khai mở, màn vô minh bỗng
chốc tiêu tan, tuệ giác hiển lộ; đó là những
vị “Độc-giác”, và quả vị chứng ngộ
của quí vị ấy cũng được gọi là “Phật Bích-chi”.
[31] Sơ-địa, Nhị-địa, Tam-địa
cho đến Thập-địa: tức là các bậc trong
mười bậc Địa của Bồ-tát.:
1) Sơ-địa, tức Hoan-hỉ-địa:
Bồ-tát đă diệt trừ hết kiến hoặc ba
cơi, thấy rơ tâm tánh, vượt khỏi địa vị
phàm phu, bước vào ḍng thánh, chứng ngộ chân lí “hai không” (ngă và pháp đều
không), thành tựu bố thí
độ, phát sinh niềm hoan hỉ lớn.
2) Nhị-địa, tức Li-cấu-địa:
Bồ-tát đă dứt trừ tư hoặc, không c̣n
phạm giới, thành tựu tŕ
giới độ, thân tâm thanh tịnh.
3) Tam-địa, tức Phát-quang-địa:
Bồ-tát diệt trừ vô minh si ám, chứng
được ba minh, thành
tựu nhẫn nhục
độ, tâm sáng chiếu phát sinh.
4) Tứ-địa, tức Diễm-tuệ-địa:
Bồ-tát tu tập trọn vẹn 37 phẩm trợ
đạo, thành tựu tinh
tấn độ, trí tuệ sáng rỡ.
5) Ngũ-địa, tức
Cực-nan-thắng-địa: Bồ-tát v́ lợi ích
chúng sinh, ngoài th́ học tập các thứ kĩ thuật,
trong th́ định lực vững chắc, thành tựu thiền định độ;
đạt được địa vị này thật là
khó khăn.
6) Lục-địa, tức
Hiện-tiền-địa: Bồ-tát tu tập và an
trú trong ba pháp tam muội không,
vô tướng và vô nguyện, bao nhiêu ư niệm phân
biệt về vạn hữu đều diệt hết,
thật tướng của vạn pháp hiển lộ
ở trước mắt, thành tựu trí tuệ độ (trí tuệ thấy rơ thật
tướng các pháp, thấu suốt diệu lí b́nh
đẳng của vạn pháp).
7) Thất-địa, tức Viễn-hành-địa:
Bồ-tát dứt trừ các nghiệp quả, thị
hiện các hành tướng một cách tinh tế, phát
khởi hạnh nguyện thù thắng để hóa
độ chúng sinh, thành tựu phương
tiện độ, chuẩn bị hành trang lương
thực cho cuộc đi xa trên đường hóa
độ chúng sinh.
8) Bát-địa, tức Bất-động-địa:
Bồ-tát dứt hết mọi sự dụng công, thành
tựu nguyện độ,
trú trong “vô sinh nhẫn”, thân tâm tĩnh lặng, không c̣n xao
động.
9) Cửu-địa, tức
Thiện-tuệ-địa: Bồ-tát dứt bỏ
cả tướng của tâm, chứng nhập trí tuệ
tự tại, đầy đủ thần thông rộng
lớn, khéo léo hộ vệ pháp tạng của chư
Phật, thành tựu lực
độ, khéo léo vận dụng trí tuệ để
soi sáng mọi việc.
10) Thập-địa, tức
Pháp-vân-địa: Bồ-tát tập hợp rộng
lớn vô lượng pháp môn, tăng trưởng vô biên
phước đức và trí tuệ, thấu suốt
mọi tâm hành của tất cả chúng sinh, tùy căn
cơ mà nói pháp ba thừa, thành tựu trí độ (trí tuệ biết rơ các pháp, giữ
vững trung đạo, không chán sinh tử, không ham niết
bàn, tâm xả rộng lớn), giống như đám mây
lớn, đổ xuống những trận mưa pháp
lớn.
[32] Ba pháp (tam pháp): tức ba phương diện
của Phật pháp là:
1) Giáo pháp: tất cả những lời dạy
của đức Phật;
2) Hành pháp: người học Phật y theo giáo
pháp mà tu hành;
3) Chứng pháp: người tu hành chứng
ngộ chân lí. – Nói tắt là “giáo
hành chứng”.
Mặt khác, tâm, Phật và chúng sinh
cũng được gọi là “ba
pháp không sai khác” (tam pháp vô sai).
[33] Bốn quả (tứ quả): tức bốn
quả vị của Thanh-văn thừa: Tu-đà-hoàn,
Tư-đà-hàm, A-na-hàm, và A-la-hán. (Xin
xem chú thích số 29 ở trên.)
[34] Hai đường (nhị đạo): Có
nhiều thuyết về “hai đường” khác nhau:
1) Hai đường đoạn hoặc và chứng
ngộ chân lí, phát xuất từ luận Câu Xá, gồm có:
a) Đường
không gián cách (vô gián đạo hay vô ngại đạo):
vận dụng trí tuệ để đoạn trừ
lậu hoặc (phiền năo); trí tuệ này được
vận dụng thường trực, không để cho
lậu hoặc xen vào gián cách, trở ngại.
b) Đường
giải thoát (giải thoát đạo): vận dụng
trí tuệ quán chiếu và chứng ngộ chân lí; trí tuệ
này thoát khỏi sự ràng buộc của lậu hoặc,
chứng nhập chân lí một cách tự tại. Vô gián đạo
được coi là nhân đạo ở niệm
trước; giải thoát đạo là quả đạo
ở niệm sau.
2) Hai đường khó tu và dễ tu, nguyên là cách
phán giáo của tông Tịnh Độ, phát xuất từ
Bồ-tát Long Thọ:
a) Đường
khó tu (nan hành đạo): chỉ cho các giáo pháp không
thuộc trong phạm vi tông Tịnh Độ; ví dụ:
ở thế giới Ta-bà này mà tu tập “lục độ
vạn hạnh” để chứng được quả
thánh, là con đường khó tu.
b) Đường
dễ tu (dị hành đạo): chỉ cho giáo pháp
thuộc tông Tịnh Độ; tức là niệm Phật
cầu văng sinh về cơi Tịnh-độ, rồi ở
nơi cơi đó tiếp tục tu tập cho đến khi
thành Phật, đó là con đường dễ tu.
3) Hai đường hữu lậu và vô lậu,
cũng phát xuất từ luận Câu Xá:
a) Đường
hữu lậu (hữu lậu đạo): chỉ cho
tất cả các pháp môn tu tập của hành giả
khắp ba thừa trước khi bước vào ḍng thánh
(tức c̣n trong ṿng phàm phu, chưa lên được
địa vị Kiến-đạo).
b) Đường
vô lậu (vô lậu đạo): chỉ cho các pháp môn tu
tập của hành giả khắp ba thừa sau khi đă
thoát khỏi địa vị phàm phu, bước lên
địa vị Kiến-đạo, nhập vào ḍng thánh.
4) Hai đường giáo và chứng, xuất phát
từ luận Thập
Địa Kinh:
a) Đường
giáo (giáo đạo): chỉ cho các giáo thuyết do
đức Phật phương tiện chỉ bày.
b) Đường
chứng (chứng đạo): chỉ cho lí chân thật
mà chư Phật đă chứng ngộ.
[35] Vườn Nai (Lộc-uyển, hay Lộc-dă, nay là
Sarnath): là một khu rừng nằm cách khoảng 6 cây
số về hướng Tây-Bắc của thành
Ba-la-nại (nay là
[36] Thành Ba-la-nại: là kinh đô của vương
quốc Ca-thi (Kasi), một trong 16 nước lớn
của bán đảo Ấn-độ thời Phật
tại thế. Trong 16 nước đó th́ Ma-kiệt-đà
và Kiều-tát-la là hai nước phát triển hùng mạnh và
giàu có nhất. Hai đạo tràng quan trọng nhất
của Phật thời đó là tu viện Trúc-lâm ở kinh
thành Vương-xá của nước Ma-kiệt-đà, và tu
viện Ḱ-viên ở kinh thành Xá-vệ của nước
Kiều-tát-la. Ma-kiệt-đà nằm ở phía Nam sông
Hằng, Kiều-tát-la nằm ở phía Bắc sông Hằng;
nước Ca-thi th́ nằm giữa hai nước này, cho
nên kinh thành Ba-la-nại của nó nghiễm nhiên trở thành
một điểm nối liền, một địa
phương quan trọng trên đường đi lại
của đức Phật và giáo đoàn từ
Ma-kiệt-đà đến Kiều-tát-la, và ngược
lại. Trước khi hai đạo tràng Trúc-lâm và Ḱ-viên
được xây dựng th́ thành Ba-la-nại đă nổi
tiếng, v́ vườn Nai ở cách đó khoảng 6 cây
số về hướng Tây-Bắc, đă là nơi
đức Phật chuyển Bánh Xe Pháp lần đầu
tiên sau ngày Thành Đạo, độ cho nhóm sa môn 5
người của ngài Kiều Trần Như, đều
được chứng quả A-la-hán, trở thành
những vị thánh tăng đầu tiên của giáo
đoàn Phật giáo. Chính nơi vườn Nai của thành
Ba-la-nại, ngôi Tam Bảo lần đầu tiên xuất
hiện ở thế gian. Ba-la-nại và vườn Nai
đă từng là thánh địa của Phật giáo trong
một thời gian dài. Đến cuối thế kỉ 12,
khi quân Hồi giáo xâm lăng Ấn-độ, Phật giáo
ở vùng này nói riêng, và trên khắp lănh thổ
Ấn-độ nói chung, đă bị đám quân tàn bạo
ấy tàn hại và hủy diệt, cơ hồ không
một vết tích ǵ c̣n tồn tại. Trong thời ḱ
cận đại, thành phố này được gọi là
Benares, và hiện nay th́ đổi tên lại là Varanasi
như cũ, Phật giáo và Ấn giáo hiện tại cùng
được thịnh hành ở đó.
[37] A Nhă Câu Lân tức tôn giả A Nhă Kiều Trần
Như. Đó là vị đệ tử lớn, nổi
tiếng là người đệ tử xuất gia làm t́
kheo và chứng quả A-la-hán đầu tiên của
đức Phật. Từ lúc c̣n là đạo sĩ
Bà-la-môn, cho đến lúc theo Phật xuất gia, ngài luôn
luôn có bốn người bạn nữa cùng tu hành, làm thành
một nhóm 5 người, mà trong các kinh thường
gọi là “ngũ t́ kheo”, gồm có: Kiều Trần Như (hoặc
Câu Lân), A thị Thuyết (hoặc Át Bệ), Bạt
Đề, Thập Lực Ca Diếp, và Ma Ha Nam Câu Lị.
[38] Chuyển bánh xe pháp (chuyển pháp luân): Bánh xe pháp
(pháp luân) tức là Phật pháp. Cái bánh xe được dùng
để thí dụ cho Phật pháp v́ nó mang nhiều ư
nghĩa: 1) Người Ấn-độ vào thời cổ
đại đă dùng chữ “bánh xe” (cakra) để chỉ
cho loại chiến xa dùng trên chiến trường. Nó có
thể càn quét, đẩy lui quân địch; Phật pháp
cũng vậy, có thể giúp chúng sinh diệt trừ
tất cả vô minh phiền năo để đạt
được an lạc giải thoát. 2) Bánh xe là một
ṿng tṛn đầy đặn, không có chỗ nào khuyết;
Phật pháp cũng vậy, giáo pháp do đức Phật
chỉ dạy thật tṛn đầy, trọn vẹn, chân
thật, không có bất cứ một khuyết điểm
hay sai lầm nào. 3) Trách vụ của bánh xe là di chuyển
không ngừng; Phật pháp cũng vậy, những lời
Phật dạy không bao giờ nằm bất động
ở một người nào hay đứng yên ở
một mơi chốn nào, nhờ thế mà giúp ích cho
tất cả chúng sinh ở mọi thời và mọi
chỗ. Đức Phật hoằng dương giáo pháp
của Ngài để chuyển mê khai ngộ cho chúng sinh,
gọi là “chuyển pháp luân”. Sau khi thành đạo, Ngài
đă đến vườn Nai ở gần thành
Ba-la-nại trước tiên, khai mở giáo pháp “TỨ
ĐẾ” để độ cho nhóm sa môn Kiều
Trần Như 5 người; đó là lần chuyển pháp luân
đầu tiên của Ngài ở thế gian.
[39] Mười hai nhân duyên (thập nhị nhân duyên):
là mười hai điều kiện tương liên, là giáo
lí căn bản của đạo Phật dùng để
giải thích cái “bí ẩn” của hiện tượng sinh
tử luân hồi, tức là sự hiện hữu của
chúng sinh – mà trực tiếp là con người. Mười
hai điều kiện ấy gồm có:
1) Vô minh: là trạng thái mê lầm, không sáng
suốt, không nhận chân được thực
tướng của vạn pháp, không thấy rơ tự tính
của chính ḿnh, do đó mà dẫn tới các hành
động sai lầm, u tối.
2) Hành: là tác động vô thức của ư chí sinh
tồn theo hướng vô minh đă thúc đẩy tạo
nghiệp. Nó là khát vọng muốn sống một cách mù
quáng. Tất cả những tư
tưởng (ư), lời nói (ngữ) và hành động (thân) thiện hay bất
thiện đều thuộc về hành.
3) Thức: Tất cả nghiệp nhân đă
tạo ra đều được huân tập vào nghiệp chủng thức (hay
nghiệp thức, tức a-lại-da thức). Thức
này đi đầu thai và bắt đầu một sinh
mạng mới. Lúc bà mẹ thụ thai, chính đó là lúc nghiệp thức kết
hợp với tinh trùng và noăn châu của cha mẹ mà làm nên
bào thai. Như vậy, THỨC chính là yếu tố nối
tiếp giữa kiếp quá khứ và kiếp hiện
tại, và là giai đoạn đầu tiên của
đời sống hiện tại.
4) Danh sắc: Do nghiệp thức phát động
mà phát hiện ra các hiện tượng tinh thần (danh)
và vật chất (sắc) của bản thân
con người. Đây là giai đoạn thứ hai
của đời sống hiện tại. Trong giây phút
đầu tiên khi bà mẹ thụ thai -- tức là lúc
nghiệp thức kết hợp với tinh trùng và noăn châu
của cha mẹ, th́ DANH chính là nghiệp
thức, và SẮC chính là tinh
trùng và noăn châu.
5) Lục nhập: Sáu giác quan (lục căn: nhăn, nhĩ, tị. thiệt, thân, ư)
dần dần hiện rơ theo sự phát triển của bào
thai, từ chỗ thật giản dị lúc mới
được tượng h́nh, trở thành vô cùng phức
tạp khi con người đă trưởng thành toàn
diện. Chúng hoạt động một cách hoàn toàn tự
nhiên, mầu nhiệm, như một guồng máy tinh
diệu. Những giác quan đều có những hoạt
động và đối tượng riêng biệt. Sáu giác
quan là sáu chỗ để cho
sáu đối tượng (lục
cảnh: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp)
phản ảnh vào, gọi chung là “lục nhập”.
6) Xúc: là sự
tiếp xúc giữa các giác quan (căn) và đối
tượng (cảnh) của chúng, như mắt tiếp
xúc với cảnh vật, tai tiếp xúc với âm thanh,
v.v...
7) Thọ: là
cảm giác gây nên do sự tiếp xúc giữa các căn và
cảnh. Có loại cảm giác dễ chịu, vui
sướng, hạnh phúc, gọi là “lạc thọ”; có
loại cảm giác khó chịu, buồn phiền, khổ
đau, gọi là “khổ thọ”; có loại cảm giác
trung tính, không dễ chịu cũng không khó chịu, gọi
là “xả thọ”.
8) Ái: hay “ái
dục”, là sự ham muốn, luyến áí, khao khát. Do có
cảm giác mà sinh ra ái. Đối trước dục
vọng trần cảnh (ngũ dục), con người
sinh tâm luyến ái. Ái chính là sự luyến ái đối
với sự sống, cho nên cái ǵ thích th́ khao khát muốn
có, cái ǵ không thích th́ muốn tống khứ đi; đó là
động cơ chính yếu thúc đẩy thân, ngữ ư
tạo nghiệp.
9) Thủ: Khi
đă luyến ái th́ cố bám giữ lấy đối
tượng. V́ luyến ái sự sống cho nên cố bám
giữ sự sống; từ đó mà phát sinh những tư
tưởng sai lầm là “có TÔI
và có những cái THUỘC VỀ TÔI”. Mục đích
của mọi ư nghĩ, ngôn ngữ, hành động, dù
thiện hay bất thiện, đều nhằm bảo
vệ và củng cố cho cái TÔI và những cái CỦA TÔI
đó.
10) Hữu: V́
đam mê và cố bám giữ lấy đối tượng
cho nên phải vướng mắc vào nghiệp báo do sự
sống của ḿnh tạo ra. “Hữu”
nghĩa là có, tức là có những nghiệp nhân (thiện hay bất thiện) đă
tạo ra ở kiếp này, và dĩ nhiên, có những nghiệp quả (vui
sướng hay khổ đau, cũng tức là những
cảnh giới của các loài chúng sinh khác nhau) sẽ
thọ nhận ở kiếp sau.
11) Sinh:
Nghiệp nhân đă tạo (hữu) ấy lại
được huân tập vào nghiệp
chủng thức (a-lại-da thức), và chính đó là
dẫn lực đưa tới việc ra đời
của sinh mạng mới ở kiếp sau.
12) Lăo tử:
Đă có sinh ra th́ phải có già và chết.
[40] Sáu pháp qua bờ (lục độ) là sáu hạnh
tu tập lớn lao của hàng Bồ-tát. Nhờ tu tập
sáu đại hạnh này mà Bồ-tát có thể tự ḿnh
đến bờ giải thoát (tự độ) và đưa
bao nhiêu người khác cùng đến bờ giải thoát
(độ tha), gồm có:
1) Bố thí: san sẻ, giúp đỡ người
khác bằng những ǵ ḿnh có; có thể là những
phương tiện vật chất như tiền bạc,
của cải, cơm áo, thuốc men, v.v...; hay những
phương tiện tinh thần như sự dạy
dỗ, giảng thuyết để nâng cao trí tuệ,
thấy rơ điều hay lẽ thật, quay về nếp
sống cao thượng; hoặc bằng những lời
ḥa ái, khuyến khích, trấn an, và cả những hành
động dũng cảm, đáng tin cậy để
đưa người ra khỏi những nỗi sợ
hăi, nghi nan, lo lắng, những t́nh trạng bế tắc,
bối rối, khủng hoảng v.v... Tóm lại, trong
tất cả mọi trường hợp, hành giả
biết đem khả năng, th́ giờ và tâm lực
để phục vụ giúp đời, đều là
những hành động bố thí chính đáng của
người tu tập hạnh Bồ-tát.
2) Tŕ giới: giữ ǵn giới hạnh
để ngăn ngừa những hành động gây
tội lỗi, tạo cho ḿnh cái phong cách đoan trang, hành vi
chánh đáng. Giới có khả năng giúp cho hành giả
sống thường xuyên trong chánh niệm, tăng
trưởng định lực và phát huy trí tuệ.
3) Nhẫn
nhục: nhịn nhục và chịu đựng. Khi
gặp nghịch cảnh không sinh tâm oán giận, không
chất chứa oan cừu, gặp thuận cảnh không say
mê tham đắm; tâm vững vàng, không bị lay động
trước sức quyến rũ của ái dục, giàu
sang, danh lợi, địa vị; không kiêu căng, tự
măn với những thành quả tốt đẹp do chính
ḿnh đạt được. Tóm lại, người có
đức nhẫn nhục là người luôn luôn có thái
độ ḥa nhă, tâm an nhiên tự tại trong mọi
trường hợp, nghịch cảnh cũng như
thuận cảnh, thất bại cũng như thành công,
chưa chứng đắc cũng như đă chứng
đắc.
4) Tinh tấn: ư chí kiên tŕ, dũng mănh của hành
giả luôn luôn thăng tiến trên sự nghiệp giác
ngộ. – Sống giữa hoàn cảnh xấu xa mà không
bị ô nhiễm, gọi là “tinh”;
tâm niệm lúc nào cũng hướng về sự
nghiệp giác ngộ, gọi là “tấn”.
5) Thiền định: là trạng thái tĩnh
lặng của tâm ư khi mọi loạn tưởng,
vọng động đă hoàn toàn lắng đọng.
6) Trí tuệ: là tuệ giác sáng tỏ sau khi đă
diệt trừ mọi phiền năo, kiến chấp, vô minh,
tâm ư hoàn toàn tĩnh lặng, thanh tịnh.
[41] Đắc pháp, đắc quả, đắc
đạo: “Đắc pháp” là tâm đắc về một
pháp môn, hiểu rơ yếu nghĩa, tông chỉ và hành tŕ
trọn vẹn pháp môn ấy, từ đó mà đạt
được thành quả giác ngộ. “Đắc quả”
là chứng đắc các quả vị của ba thừa
như Tu-đà-hoàn, A-la-hán, Bích-chi Phật v.v... “Đắc
đạo” là do tu tập giới định tuệ
viên măn mà chứng đắc quả vị Giác ngộ cao
tột, tức quả vị Phật.
[42] Tứ đế: là bốn chân lí, bốn sự
thật ở thế gian. Đó là bài pháp đầu tiên
đức Phật thuyết tại vườn Nai, thành
Ba-la-nại, sau khi thành đạo. Tôn giả Kiều
Trần Như và bốn người bạn đồng tu
nhờ nghe được bài pháp này mà chứng quả
A-la-hán, trở thành năm vị đệ tử xuất
gia và chứng thánh quả đầu tiên của đức
Phật. Có thể nói, đó là giáo lí căn bản của
đạo Phật. Tất cả kinh điển, giới
luật, hay luận thuyết (thuộc tiểu thừa
cũng như đại thừa) đều nhằm phát
huy ư nghĩa sâu xa của giáo lí Bốn Sự Thật
mầu nhiệm này.
1) Sự thật thứ nhất: sự có mặt
của khổ đau (khổ đế). Sự có
mặt của khổ đau trong đời sống
thế gian là sự thật hiển nhiên, không ai có thể
chối bỏ được. Cứ nh́n những việc
xảy ra trong đời sống hằng ngày của chính
ḿnh, của gia đ́nh ḿnh, của bạn bè ḿnh, của
mọi người chung quanh ḿnh, và của nhân loại toàn
thế giới; cho đến các loài động vật,
cả các loài thực vật, không chỗ nào là không tràn
ngập khổ đau; dù giàu, dù nghèo, dù sang, dù hèn, dù già, dù
trẻ, dù nam, dù nữ, tất cả, không ai là không có kinh
nghiệm về khổ đau. Ngoài những nỗi khổ
về sinh, già, bệnh, chết, c̣n vô lượng nỗi
khổ đau khác, không thể kể hết
được!
2) Sự thật thứ hai: nguyên nhân sinh ra khổ
đau (tập đế). Bất cứ một
hiện tượng khổ đau nào cũng đều do
một hoặc nhiều nguyên nhân sinh ra. Khổ đau vô
lượng th́ nguyên nhân của khổ đau cũng vô
lượng; nhưng một cách tổng quát, Phật
dạy rằng, sự thiếu sáng suốt (vô minh), tâm tham
dục, sân hận, oán thù, kiêu căng, nghi ngờ, tà
kiến, chấp trước, là những nguyên nhân căn
bản nhất, to lớn nhất đă sinh ra mọi
đau khổ.
3) Sự thật thứ ba: sự chấm dứt
khổ đau, hay sự có mặt của an lạc
giải thoát (diệt đế). Tuy khổ đau là
sự thật hiển nhiên của cuộc sống,
nhưng đó không phải là những sự kiện
bền chắc, vĩnh cửu đến độ không
thể phá vỡ được; trái lại, đó là
những sự kiện mà chúng ta có thể làm cho vơi
bớt, thậm chí có thể tiêu diệt, chấm dứt,
vượt thoát được. Khổ đau càng vơi
bớt th́ niềm vui càng lớn lên, chấm dứt
được khổ đau th́ liền có an lạc,
vượt thoát được khổ đau th́
được giải thoát. Cho nên, nếu khổ đau là
sự thật hiển nhiên của cuộc sống, th́ an
lạc giải thoát cũng là sự thật hiển nhiên
của cuộc sống.
4) Sự thật thứ tư: con đường
diệt khổ để đạt được an
lạc giải thoát (đạo đế). Muốn
chấm dứt khổ đau để có được
an lạc giải thoát, người tu học Phật
phải biết cách tu tập bằng những phương
pháp cụ thể và hữu hiệu. Các giáo lí nói về ba môn học giải thoát (tam vô
lậu học), bốn lĩnh vực quán niệm (tứ
niệm xứ), năm khả năng (ngũ căn), sáu
pháp qua bờ (lục độ), bảy yếu tố giác
ngộ (thất giác chi), tám nguyên tắc hành động chân
chính (bát chánh đạo), v.v... đều có thể coi là
những hướng dẫn căn bản, cặn kẽ,
chính đáng, cụ thể và hữu hiệu mà người
tu học phải áp dụng triệt để trong
đời sống hằng ngày, để vượt thoát
khổ đau, đem lại nếp sống an lạc,
hạnh phúc cho bản thân, cho gia đ́nh, cho xă hội, cho
đến cả muôn loài.
[43] Phát tâm bồ-đề hay bồ-đề
vô-thượng: tức là phát tâm dũng mănh tu hành cho
đến khi thành Phật.
[44] Kinh phương đẳng: Phương
đẳng, phương quảng, đại phương
đẳng, hay đại phương quảng, là danh
xưng dùng để chỉ chung cho các kinh điển
đại thừa, có ư nói rằng, đó là những bộ
kinh có văn từ phong phú, ư nghĩa vô cùng sâu xa, rộng
lớn. Đó là một trong 12
bộ kinh (xin xem chú thích
tiếp theo sau).
[45] Mười hai bộ kinh: là 12 thể loại
của toàn bộ kinh điển Phật dạy:
1) Khế kinh (trường hàng): những lời
dạy của đức Phật bằng văn xuôi,
thường được gọi tổng quát là “Kinh”.
2) Ứng tụng (trùng tụng): những bài
kệ tụng (h́nh thức thơ cổ) dùng để tóm
tắt ư nghĩa của Khế
kinh, cho nên thường được đặt ở
sau và luôn luôn tương ứng với phần Khế kinh.
3) Kí biệt (thọ kí): lời Phật thọ kí
cho các đệ tử sẽ thành Phật trong đời
vị lai.
4) Phúng tụng (cô khởi): một bài kinh Phật
dạy toàn dùng kệ tụng để diễn
đạt, nhưng không phải là những bài kệ
tụng tóm tắt kinh văn Trường
hàng như thể loại Trùng
tụng (số 2 ở trên).
5) Tự thuyết: đức Phật tự
mở lời khai thị mà không đợi có người
thỉnh cầu chỉ dạy.
6) Nhân duyên: nêu lên cái nhân duyên đưa đến
trường hợp thuyết giáo của Phật --
thường là phẩm “Tựa”
ở đầu mỗi bộ kinh.
7) Thí dụ: những ví dụ Phật đưa
ra trong lúc giảng thuyết để giúp thính chúng hiểu
ư kinh dễ dàng hơn.
8) Bản sinh: các kiếp tu hành đời
trước của đức Phật do chính Ngài thuật
lại.
9) Bản sự: những hành vi cùng phẩm
hạnh của các vị Bồ-tát và thánh chúng đệ
tử trong các kiếp trước do đức Phật
thuật lại.
10) Phương quảng: kinh
điển Phật nói có văn từ phong phú, giáo nghĩa
sâu xa rộng lớn; đặc biệt chỉ cho toàn
thể kinh điển đại thừa.
11) Hi pháp (vị tằng hữu):
những sự việc ít có của Phật và chư vị
đệ tử được ghi chép trong kinh.
12) Luận nghị: những
lời nghị luận rành mạch, rơ ràng của
đức Phật nhằm giúp thính chúng hiểu rơ về
thể tánh của vạn pháp.
[46] Bốn tướng
của chúng sinh: tức bốn tướng trạng sinh, già, bệnh, chết của
tất cả chúng sinh.
[47] Nhị-thừa: tức hai thừa Thanh-văn và
Duyên-giác. Quả vị tối cao của thừa
Thanh-văn là A-la-hán, và của thừa Duyên-giác là Bích-chi
Phật. “Bậc
Nhị-thừa” là danh xưng thường thấy trong
kinh điển, dùng để chỉ chung cho các hành giả
Thanh-văn và Duyên-giác.
[48] Mười-trụ (Thập-trụ): Thể
nhập lí bát nhă gọi là “trụ”.
Mười-trụ là cấp thứ nh́ (sau cấp
Mười-tín) trong 7 cấp (gồm 52 bậc) trên tiến
tŕnh tu tập của hàng Bồ-tát. Cấp
Mười-trụ gồm có 10 bậc như sau:
1) Trụ Phát-tâm: Hành giả phát khởi 10 ḷng tin
(thập tín), tín phụng Tam Bảo, không khởi tà
kiến, không gây trọng tội, tu tập các pháp môn,
học rộng, trí tuệ cao, ngộ nhập cảnh
giới chân không, trụ ở tánh không.
2) Trụ Tŕ-địa: Hành giả đă trụ
nơi tánh không cho nên tâm thường sáng tỏ, trong
sạch; được như vậy là v́ trong lúc hành
giả mới phát tâm th́ tâm ấy liền trở thành vi diệu,
dùng làm nền tảng vững bền như đất.
3) Trụ Tu-hành: Trí tuệ từ hai bậc
trước đă sáng tỏ, hành giả du hành trong
mười phương mà không bị trở ngại.
4) Trụ Sinh-quí: Thọ nhận một phần
khí lực của Phật, thông tỏ sâu xa, được
nhập vào ḍng giống Như Lai.
5) Trụ Phương-tiện cụ-túc: Tu
tập vô lượng căn lành, tự lợi lợi tha,
phương tiện đầy đủ, tướng
mạo không chỗ nào khiếm khuyết.
6) Trụ Chánh-tâm: Tâm đồng với Phật.
7) Trụ Bất-thối: Thân tâm ḥa hợp, ngày
càng thăng tiến đến quả Phật, không c̣n
thối lui.
8) Trụ Đồng-chân: Mười thân
tướng thiêng liêng của Phật (thân bồ
đề, thân nguyện, hóa thân, thân trụ tŕ, thân
tướng tốt trang nghiêm, thân thế lực, thân
như ư, thân phước đức, trí thân, pháp thân) đồng
thời đầy đủ.
9) Trụ Pháp-vương-tử: Hành gỉa
trở thành đứa con tinh thần của bậc Pháp
Vương (Phật), thừa tiếp sự nghiệp
của Phật.
10) Trụ Quán-đảnh:
Với thân phận là Pháp-vương-tử, hành giả
được Phật rưới nước trí tuệ
lên đầu, như vị hoàng tử ḍng
Sát-đế-lị, lúc lên ngôi chịu lễ
Quán-đảnh do một đạo sĩ Bà-la-môn chủ
tŕ.
[49] Ba ngàn đại thiên thế giới (tam thiên
đại thiên thế giới): Trong kinh nói, trong cơi
hư không có vô lượng vô số thế giới.
Đơn vị nhỏ nhất của thế giới
được gọi là “tiểu thế giới”,
gồm có một quả núi Tu-di ở trung tâm; vây quanh
bốn phía núi là bốn châu thiên hạ (Đông Thắng-thân
châu, Nam Thiệm-bộ châu, Tây Ngưu-hóa châu, Bắc Câu-lô
châu); phía trên có sáu cơi trời Dục-giới và cơi trời
Sơ-thiền của Sắc-giới; phía dưới là các
tầng địa-luân, kim-luân, thủy-luân, và phong-luân.
Đó là phạm vi của một tiểu thế giới.
Hợp lại một ngàn tiểu thế giới như
thế, với cơi trời Nhị-thiền của
Sắc-giới bao trùm ở trên, làm thành một “tiểu
thiên thế giới”. Hợp lại một ngàn
tiểu thiên thế giới như thế, với cơi
trời Tam-thiền của Sắc-giới bao trùm ở
trên, làm thành một “trung thiên thế giới”.
Hợp lại một ngàn trung thiên thế giới như
thế, với cơi trời Tứ-thiền của
Sắc-giới và bốn cơi trời Vô-sắc-giới bao
trùm ở trên, làm thành một “đại thiên thế giới”.
Như vậy, một đại thiên thế giới
gồm 3 bội số của một ngàn tiểu thế
giới, tức bằng một tỉ tiểu thế
giới; v́ có ba bội số
của một ngàn như thế cho nên được
gọi là “ba ngàn đại thiên thế giới” (chứ không phải ba ngàn
đại thiên thế giới là bằng ba ngàn tỉ
tiểu thế giới). Dù tính ra được con
số như thế, nhưng trong kinh điển, ba ngàn
đại thiên thế giới cũng được
gọi là “một đại ba
ngàn thế giới” (nhất đại tam thiên thế
giới), hoặc “ba ngàn
thế giới” (tam thiên thế giới), chứng
tỏ rằng, danh xưng “ba ngàn đại thiên thế
giới” (hay “ba ngàn thế giới” v.v...) chỉ nói lên cái ư
nghĩa vô hạn, chứ không phải là một con số
nhất định; ngay chữ “đại”
(大) trong danh xưng này cũng đă nói lên cái ư
nghĩa rộng lớn, vô lượng vô số ấy. Và
trong cơi hư không vô biên có vô số cái “ba ngàn đại
thiên thế giới” như thế. Cũng theo trong kinh nói,
ba ngàn đại thiên thế giới là phạm vi giáo hóa
của một đức Phật, như vậy có nghĩa
là, ba ngàn đại thiên thế giới là một Phật
quốc.
[50] Rung động sáu cách (lục chủng chấn
động): Những lúc có sự việc vĩ
đại xảy ra, như Phật đản sinh, thành
đạo, chuyển pháp luân v.v... th́ khắp đại
địa rung động. Sự rung động này
xảy ra sáu cách, được gọi là sáu tướng. Kinh Đại Phẩm Bát Nhă
nêu ra sáu phương rung động như sau: bên Đông
vọt lên bên Tây ch́m xuống; bên Tây vọt lên bên Đông
ch́m xuống; bên Nam vọt lên bên Bắc ch́m xuống; bên
Bắc vọt lên bên Nam ch́m xuống; bốn bên vọt lên
chính giữa ch́m xuống; chính giữa vọt lên bốn bên
ch́m xuống. Kinh Tân Hoa Nghiêm
nêu ra sáu tướng rung động của đại
địa gồm có: rung động, vùng dậy, vọt
lên, vang dội, gầm rống, khua đập.
[51] Đại chúng Thanh-văn: tức chư vị
t́-kheo và t́-kheo-ni đă chứng hoặc chưa chứng
quả A-la-hán.
[52] Bốn phương góc (tứ duy): tức bốn
hướng ở xen kẽ giữa bốn hướng
chính (Đông,
[53] Vô sinh pháp nhẫn (hay vô
sinh nhẫn): Thật tướng chân như xa ĺa
hẳn các tướng sinh diệt, gọi là “vô sinh pháp”;
chân trí tuệ an trú nơi pháp vô sinh này, không c̣n bị xao
động, gọi là “vô sinh pháp nhẫn” -- gọi tắt
là “vô sinh nhẫn”. Bồ-tát dùng trí tuệ bát nhă quán
chiếu thấy rơ tự tánh các pháp vốn là không, các pháp
không hề có sinh khởi (cũng không có tiêu diệt), cho nên
không hề bị xao động trước các pháp,
gọi là Bồ-tát chứng “vô sinh pháp nhẫn”.
[54] Bốn chúng (tứ chúng):
tức là bốn chúng đệ tử Phật, gồm có:
chúng t́-kheo, chúng t́-kheo-ni, chúng cận-sự-nam, và chúng
cận-sự-nữ.
[55] Năm nẻo hữu t́nh (ngũ thú, hay ngũ
đạo): tức năm nơi hay năm cảnh
giới trong ṿng luân hồi sinh tử mà các loài hữu t́nh
cứ tới lui quanh quẩn măi; đó là: Trời, Người, Bàng-sinh, Ngạ-quỉ, và
Địa-ngục. Trong kinh luận thường nói
tới “sáu nẻo hữu t́nh” (lục đạo),
tức ngoài năm cảnh giới trên lại lập thêm
cảnh giới A-tu-la.
Nhưng v́ loài A-tu-la sống lẫn lộn trong loài
Trời, loài Người và
loài Ngạ-quỉ (được gọi là loài “phi
thiên phi nhân” - chẳng phải Trời chẳng phải
Người), cho nên tùy chỗ, nếu kể đó là
một cảnh giới riêng biệt th́ có danh xưng “sáu
nẻo” (lục đạo), c̣n nếu không kể
đó là một cảnh giới riêng biệt th́ có danh
xưng “năm nẻo” (ngũ đạo).
[56] 108 thứ bệnh: tức 108 phiền năo (bách bát
phiền năo). Phiền năo của chúng sinh là vô lượng,
nhưng trên thực tế, kinh luận đă phân tích và
liệt kê thành 108 thứ. Theo luận
Đại Trí Độ, 108 phiền năo gồm có 10
triền (ràng buộc) và 98 kết (kết tụ, đóng
cục, khó tiêu trừ, làm nguyên nhân cho sinh tử luân
hồi).
- 10 triền là 10 thứ phiền năo trói buộc
thân tâm con người, khiến cho không được
tự do tự tại, gồm có: phẫn (nóng giận, bực tức, cộc
cằn), phú (che dấu
tội lỗi của ḿnh), tật
(ganh ghét), xan (bỏn
sẻn, keo kiệt), vô tàm
(làm lỗi mà không biết tự xấu hổ), vô quí (tài đức không
bằng người mà không biết tự thẹn), trạo cử (thân tâm chao
động không yên), hôn trầm (tâm mê muội, nặng
nề, tŕ trệ), hối (tiếc
nuối những việc xấu đă làm, hối hận
về những việc thiện đă làm), miên (mê ngủ, suốt ngày dật dờ).
- 98 kết cũng là 98 thứ phiền năo trói
buộc chúng sinh cứ phải luân chuyển trong sinh tử
luân hồi. 98 kết gồm có 88 thứ kiến hoặc và
10 thứ tư hoặc trong ba cơi.
a) Kiến hoặc là mê lầm về LÍ, tức
con ngựi không thấy rơ chân lí về Bốn Sự Thật (tứ đế) ở ba
cơi thế gian. Sở dĩ gọi là “kiến hoặc” là v́ các hành giả tu học
Phật pháp cần phải đoạn trừ những
thứ phiền năo này mới tiến lên được
địa vị Kiến-đạo (tức thoát khỏi
địa vị phàm phu mà bước vào ḍng thánh). Luận Câu Xá (tiểu
thừa) phân tích rằng, tất cả phiền năo của
chúng sinh, dù nhiều đến đâu cũng chỉ bao
gồm trong 10 loại phiền năo gốc rễ (căn
bản phiền năo, hay căn bản hoặc), là tham, sân, si, mạn, nghi, thân
kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, và
giới cấm thủ kiến. 10 thứ phiền năo
căn bản này luôn luôn đeo dính và sai sử chúng sinh
tạo muôn vàn tội lỗi, cho nên chúng cũng
được gọi là “10 sử” (thập sử).
Kiến
hoặc gồm trọn cả 10 sử ấy,
dẫn chúng sinh trong ba cơi đến chỗ mê muội,
chấp trước, không nhận chân được chân lí
Bốn Sự Thật (tứ
đế). Bốn sự thật Khổ, Tập, Diệt, Đạo đều
bị mê hoặc khắp trong ba cơi, cho nên hành giả
phải ra sức đoạn trừ sạch hết
kiến hoặc mới chứng ngộ bốn chân lí
ấy. Tuy nhiên, công phu quán chiếu và đoạn hoặc
đối với mỗi sự thật (Khổ, Tập,
Diệt, Đạo) và ở mỗi cơi (Dục, Sắc,
Vô-sắc) có khác nhau:
a1) Ở cơi Dục, sự thật
KHỔ đế bị mê hoặc mà sinh ra đủ 10
sử (nói trên); TẬP đế bị mê hoặc mà sinh ra
7 sử (tham, sân, si, mạn,
nghi, tà kiến, và kiến thủ kiến); DIỆT
đế cũng giống như Tập đế;
ĐẠO đế bị mê hoặc mà sinh ra 8 sử (tham, sân, si, mạn, nghi, tà
kiến, kiến thủ kiến, và giới cấm thủ
kiến). Hợp chung lại, ở cơi Dục có cả
thảy (10+7+7+8 =) 32 sử.
a2) Ở cơi Sắc, sự thật
KHỔ đế bị mê hoặc mà sinh ra 9 sử (không có
phiền năo sân); TẬP
đế bị mê hoặc mà sinh ra 6 sử (tham, si, mạn, nghi, tà kiến, và kiến thủ
kiến); DIỆT đế cũng giống như
Tập đế; ĐẠO đế bị mê hoặc mà
sinh ra 7 sử (tham, si, mạn,
nghi, tà kiến, kiến thủ kiến, và giới cấm
thủ kiến). Hợp chung lại, ở cơi Sắc có
cả thảy (9+6+6+7 =) 28 sử.
a3) Ở cơi Vô-sắc, giống như
ở cơi Sắc.
Cộng chung cả ba cơi (Dục, Sắc và
Vô-sắc), có tất cả là (32+28+28 =) 88 sử.
b) Tư hoặc là mê lầm về SỰ, tức
là con người đem t́nh cảm mê chấp mà suy nghĩ,
nhận thức mọi sự vật trong thế gian.
Những thứ phiền năo loại này, các hành giả
ở địa vị Tu-đạo (cao hơn
Kiến-đạo) phải đoạn trừ , cho nên chúng
cũng được gọi là “tu hoặc”. Theo Luận Câu Xá (tiểu
thừa), trong 10 sử kể trên th́ 4 sử tham, sân, si, và mạn vừa
thuộc kiến hoặc mà cũng vừa là tư hoặc.
Bốn sử tư hoặc này cũng có khắp trong ba cơi:
riêng cơi Dục th́ có đủ cả 4 sử là tham, sân, si, và mạn; c̣n hai cơi
Sắc và Vô-sắc, mỗi cơi chỉ có 3 sử tham, si, mạn mà thôi. Hợp
chung cả ba cơi, có cả thảy là (4+3+3 =) 10 sử tư
hoặc.
Vậy, hợp chung lại 88 sử kiến hoặc và 10 sử tư hoặc th́ có cả thảy là 98
phiền năo; kể luôn cả 10 triền th́ tất
cả là 108 phiền năo.
[57] Sơ-địa: tức bậc đầu tiên
của 10 bậc Địa Bồ-tát (xem lại chú thích số 31 ở trên).
[58] Bất-động-địa: tức bậc
thứ tám của 10 Địa Bồ-tát (xem lại chú thích số 31 ở trên).
[59] Thất-địa: (Xem
lại chú thích số 31 ở trên.)
[60] Địa-thượng: chỉ chung cho các
địa vị tu tập của Bồ-tát từ bậc
Sơ-địa trở lên. Trái lại, ở các
địa vị tu tập trước khi lên
được Sơ-địa th́ được gọi
chung là Địa-tiền. Theo đó, danh xưng “Bồ-tát
Địa-tiền” là chỉ chung cho các hành giả tu
tập hạnh Bồ-tát ở a-tăng-ḱ kiếp thứ
nhất, từ lúc mới phát tâm, trải qua các cấp
Mười-tín (Thập-tín), Mười-trụ
(Thập-trụ), Mười-hạnh (Thập-hạnh), và
Mười-hồi-hướng (Thập-hồi-hướng);
cả thảy là 40 bậc. Danh xưng “Bồ-tát
Địa-thượng” chỉ cho các hành giả tu tập
hạnh Bồ-tát ở a-tăng-ḱ kiếp thứ nh́ và
thứ ba, gồm có cấp Mười-địa
(Thập-địa), và 2 bậc Đẳng-giác,
Diệu-giác; cả thảy là 12 bậc. Tính chung tất
cả thời gian tu hành của Bồ-tát từ lúc mới
phát tâm cho đến khi thành Phật là 3 a-tăng-ḱ
kiếp; trải qua một con đường dài gồm 52
bậc từ thấp lên cao.
[61] Hai mươi lăm cơi (nhị thập ngũ
hữu): Từ ba cơi mở rộng ra th́ có 25 cơi:
- Dục giới có 14 cơi: 6 tầng trời cơi
Dục (Tứ-vương, Đao-lợi, Dạ-ma,
Đâu-suất, Hóa-lạc, và Tha-hóa-tự-tại); 4 châu loài
người (Đông Thắng-thân,
- Sắc giới có 7 cơi: Sơ-thiền thiên,
Đại-phạm thiên, Nhị-thiền thiên, Tam-thiền
thiên, Tứ-thiền thiên, Vô-tưởng thiên, và
Tịnh-cư thiên.
- Vô-sắc giới có 4 cơi: Không-xứ thiên,
thức-xứ thiên, Vô-sở-hữu-xứ thiên, và
Phi-tưởng-phi-phi-tưởng-xứ thiên.
Chữ “HỮU”
(有)
trong từ Hán ngữ “nhị thập ngũ hữu”, có nghĩa là do nhân
quả nối tiếp không dứt mà có sự sống chết
nối tiếp không dứt trong ba cơi luân hồi.
[62] Pháp-vân-địa: (Xem
lại chú thích số 31 ở trên.)
[63] Bốn đạo quả: Quá tŕnh tu tập
của hàng Bồ-tát từ lúc mới phát tâm cho đến
khi thành Phật, phải trải qua 7 cấp
(Mười-tín, Mười-trụ, Mười-hạnh,
Mười-hồi hướng, Mười-địa,
Đẳng-giác và Diệu-giác), nhưng theo giáo lí “viên giáo”,
nếu hành giả tu tập tinh tấn vượt bậc,
th́ có thể thành Phật ngay ở cấp đầu tiên là
Mười-tín (Thập-tín). Do đó, tùy theo công phu và
cường độ của sự quyết tâm, hàng
Bồ-tát có thể thành Phật ở bốn giai vị: 1)
khi đă viên măn giai vị Mười-tín, gọi là “Tín
măn thành Phật”; 2) khi đă viên măn giai vị Mười-trụ,
gọi là “Giải măn thành Phật”; 3) khi đă viên măn giai
vị Mười-địa, gọi là “Hành măn thành Phật”;
4) khi đă viên măn giai vị cao tột là Diệu-giác,
gọi là “Chứng măn thành Phật”.