KINH
HẠNH NGUYỆN PHỔ HIỀN
(trích từ Kinh
Hoa Nghiêm)
Tam tạng pháp sư
Bát Nhă, người nước Kế-tân,
dịch từ Phạn
văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào đời
Đường
Cư sĩ Hạnh
Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn,
giới thiệu và chú
thích, tại Gia-nă-đại, năm 2005
GIỚI THIỆU
“Hạnh
Nguyện Phổ Hiền” (Phổ Hiền Hạnh Nguyện) vốn không phải là một phẩm kinh riêng
biệt, mà chỉ là phần chót (quyển 40) của bộ
kinh Tứ Thập Hoa Nghiêm, gồm 40 quyển.
Bộ kinh này có tên đầy
đủ là Đại Phương Quảng Phật Hoa
Nghiêm Kinh Nhập Bất Tư Nghị Giải Thoát Cảnh
Giới Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm, cũng gọi là Đại
Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Phổ Hiền Bồ
Tát Hạnh Nguyện Phẩm,
hay chỉ gọi tắt là Phổ
Hiền Hạnh Nguyện Phẩm; được thu vào
bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (gọi tắt là tạng Đại
Chánh), tập 10, mang số 293.
Bộ kinh Tứ Thập Hoa Nghiêm chỉ có một phẩm, mang tên “Nhập Bất
Tư Nghị Giải Thoát Cảnh Giới Phổ Hiền
Hạnh Nguyện Phẩm”,
được chia ra làm 40 quyển; và đoạn kinh
được gọi là “Phổ Hiền Hạnh Nguyện” này chính là nội dung của toàn quyển
40 như vừa nói trên.
Kinh Hoa Nghiêm gồm
có ba bản dịch:
1) Bộ Đại Phương Quảng
Phật Hoa Nghiêm Kinh, cũng gọi
là Cựu Hoa Nghiêm Kinh, và
thường được gọi là Lục Thập Hoa Nghiêm Kinh, được thu vào tạng Đại Chánh, tập 9, mang số 278 (từ
trang 395 đến trang 788), gồm 60 quyển, do ngài Phật
Đà Bạt Đà La (người nước Thiên-trúc) dịch
tại kinh đô Kiến-khang, vào thời Đông-Tấn
(317-420). Bộ này chưa được đầy đủ.
2) Bộ Đại Phương Quảng
Phật Hoa Nghiêm Kinh, được
gọi là Tân Hoa Nghiêm Kinh, và
thường được gọi là Bát Thập Hoa Nghiêm Kinh,
được thu vào tạng Đại Chánh, tập 10, mang số 279 (từ
trang 1 đến trang 444), gồm 80 quyển, do ngài Thật
Xoa Nan Đà (người nước Vu-điền) dịch
tại kinh đô Lạc-dương, dưới thời nữ
hoàng Vũ Tắc Thiên (624-705). Bộ này đầy đủ
hơn bộ trên, nhưng vẫn chưa trọn vẹn.
3) Bộ Đại Phương Quảng
Phật Hoa Nghiêm Kinh Nhập Bất Tư Nghị Giải
Thoát Cảnh Giới Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm, thường được gọi
là Tứ Thập Hoa Nghiêm
Kinh, được thu vào tạng
Đại Chánh, tập 10,
mang số 293 (từ trang 661 đến trang 848), gồm 40
quyển, do ngài Bát Nhă (người nước Kế-tân) dịch
tại kinh đô Trường-an, dưới triều vua
Đường Đức-tông (780-805).
Trong 3 bộ kinh trên, bộ Lục Thập Hoa
Nghiêm có 34 phẩm; bộ Bát
Thập Hoa Nghiêm có 39 phẩm;
c̣n bộ Tứ Thập Hoa Nghiêm th́ chỉ có 1 phẩm, đó là phẩm “Nhập Bất Tư Nghị Giải
Thoát Cảnh Giới Phổ Hiền Hạnh Nguyện”. Phẩm này cũng thấy có
trong hai bộ kinh Hoa Nghiêm trên: trong bộ Lục Thập
Hoa Nghiêm, nó là phẩm cuối
cùng, tức phẩm 34, có tên là “Nhập Pháp Giới Phẩm”, bao gồm từ quyển 44
đến quyển 60; trong bộ Bát Thập Hoa Nghiêm, nó cũng là phẩm cuối
cùng, tức phẩm 39, cũng có tên là “Nhập Pháp Giới
Phẩm”, bao gồm từ quyển
60 đến quyển 80. Xét ra, phẩm “Nhập Bất
Tư Nghị Giải Thoát Cảnh Giới Phổ Hiền
Hạnh Nguyện” trong bộ Tứ Thập Hoa Nghiêm, dù được gọi tên khác
với phẩm “Nhập Pháp Giới” trong hai bộ Lục
Thập và Bát Thập Hoa Nghiêm,
nhưng nội dung của chúng th́ không khác nhau bao nhiêu; chỉ
có một điều đặc biệt: Ở phần cuối
của phẩm “Nhập Bất
Tư Nghị Giải Thoát Cảnh Giới Phổ Hiền
Hạnh Nguyện” trong bộ Tứ Thập Hoa Nghiêm có thêm đoạn kinh được
gọi là “Phổ Hiền Bồ
Tát Hạnh Nguyện Phẩm”
(cũng gọi là “Phổ
Hiền Hạnh Nguyện Phẩm”), mà trong phẩm “Nhập Pháp Giới” ở hai bộ
Lục Thập và Bát Thập Hoa Nghiêm không có. Trong bộ Lục Thập Hoa Nghiêm có phẩm
“Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh” (phẩm 31), và trong bộ
Bát Thập Hoa Nghiêm có phẩm “Phổ Hiền Hạnh” (phẩm
36), nhưng nội dung của cả hai phẩm ấy
đều không tương đồng với phẩm Phổ
Hiền Hạnh Nguyện ở đây.
Như vậy, phẩm “Phổ Hiền Hạnh Nguyện”
này vốn không có tên riêng, v́ không phải là một phẩm
riêng biệt. Nhưng nó đă chiếm trọn một quyển
40, tức quyển cuối cùng của bộ kinh Tứ Thập Hoa
Nghiêm. Bộ kinh này, sau khi ngài
Bát Nhă dịch xong, đă được ngài Trừng Quán
(738-839) sớ giải; sau đó, quyển 40 này lại
được trích riêng ra, làm thành bản kinh biệt hành,
được đặt tên là “Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm, và được lưu hành cho
đến ngày nay. Hiện tại nó được các giới
học Phật ấn hành và phổ biến sâu rộng với
các tên như: Đại Phương Quảng Phật Hoa
Nghiêm Kinh Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh Nguyện Phẩm,
hay Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Phổ
Hiền Hạnh Nguyện Phẩm, hoặc ngắn hơn
như Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh Nguyện Phẩm,
và ngắn nhất là Phổ Hiền
Hạnh Nguyện Phẩm; đó chính là quyển kinh ngắn
mà chúng tôi xin đem tâm thành dịch ra Việt văn sau
đây.
Về h́nh thức, phẩm kinh “Phổ Hiền Hạnh
Nguyện” có hai phần: phần
trước là văn xuôi; phần sau là văn kệ tụng.
Về nội dung, phẩm kinh này nêu rơ 10 hạnh nguyện rộng lớn của đức Bồ-tát Phổ
Hiền. Tuy nói là hạnh nguyện của đức Bồ-tát
Phổ Hiền, nhưng đó cũng là những hạnh
nguyện lớn lao của chung Bốn Chúng. Thực hành rốt
ráo 10 hạnh nguyện này th́ con đường đi tới
đạo quả Bồ-đề không c̣n bao xa. Đặc
biệt, đây là phẩm kinh qui kết toàn bộ giáo nghĩa
kinh Hoa Nghiêm; mà trong sự qui kết này lại cực lực
đề xướng mục tiêu “văng sinh Tịnh-độ”.
Bởi vậy chư Cổ Đức đă liệt phẩm
kinh Phổ Hiền Hạnh
Nguyện này vào một trong năm kinh căn bản của
tông Tịnh Độ (Tịnh
Độ Ngũ Kinh), gồm
có: A Di Đà Kinh, Quán Vô Lượng Thọ Kinh, Vô Lượng
Thọ Kinh, Lăng Nghiêm Kinh Đại Thế Chí Bồ Tát
Niệm Phật Viên Thông Chương, và Hoa Nghiêm Kinh Phổ
Hiền Bồ Tát Hạnh Nguyện Phẩm.
Người dịch Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện (cũng
tức là toàn bộ kinh Tứ Thập Hoa Nghiêm) này từ Phạn văn ra Hán văn là tam tạng
pháp sư Bát Nhă (Prajna, 734-?). Ngài là người nước
Kế-tân, ở phía Bắc Thiên-trúc, 7 tuổi xuất gia,
20 tuổi thọ đại giới. Năm 23 tuổi ngài
đến Trung Thiên-trúc, vào học viện Na-lan-đà, theo
học với ba vị đại luận sư thời bấy
giờ là Trí Hộ, Trí Hữu và Tấn Hữu, thông hiểu
các môn Du Già, Duy Thức, Ngũ Minh, v.v… Sau đó, ngài xuống
thuyền chu du khắp các nước vùng biển Nam-hải.
Năm 781 (đời vua Đường Đức-tông)
ngài đến Quảng-châu, rồi ra Trường-an;
năm 788 khởi sự dịch kinh Mật giáo. Năm 790
ngài vâng chiếu chỉ của vua Đường Đức-tông
(780-805), đi sứ sang nước Ca-thấp-di-la. Sau
đó không bao lâu, ngài được vua ban hiệu là Bát Nhă
tam tạng cùng áo cà sa tía; rồi lại tiếp tục công
việc dịch kinh. Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện (cũng tức là toàn bộ kinh Tứ
Thập Hoa Nghiêm) này đă
được ngài dịch tại chùa Sùng-phúc ở Trường-an,
vào năm 796, đến năm 798 th́ hoàn tất. Ngài viên tịch
tại Lạc-dương, nhưng không rơ là năm nào. Các dịch
phẩm khác của ngài có: Đại Thừa Lí Thú Lục
Ba La Mật Đa Kinh, Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh, Đại
Thừa Bản Sinh Tâm Địa Quán Kinh, và Thủ Hộ
Quốc Giới Chủ Đà La Ni Kinh.
Kính giới thiệu,
Cư sĩ Hạnh
Cơ
Miền Tây Gia-nă-đại,
Ngày Hạ-huyền
tháng Mười năm Ất-Dậu,
2005 (PL 2549)
KINH
HẠNH NGUYỆN PHỔ
HIỀN
Pháp sư tam tạng
Bát Nhă dịch từ Phạn văn ra Hán văn
Cư sĩ Hạnh Cơ
dịch từ Hán văn ra Việt văn, giới thiệu
và chú thích
Lúc bấy
giờ Bồ-tát Phổ Hiền, sau khi khen ngợi công
đức thù thắng của đức Như Lai,[1]
bèn nói với chư vị Bồ-tát và Thiện Tài[2]
rằng: Này thiện nam tử! Công đức của đức
Như Lai, giả sử tất cả các đức Phật
ở mười phương, trải qua số kiếp
nhiều như vi trần[3],
ở các cơi Phật nhiều không thể nói hết, diễn
nói không ngừng về công đức ấy, cũng không thể
nào nói hết được. Nếu muốn thành tựu được
công đức ấy, cần phải tu tập mười
hạnh nguyện rộng lớn. Mười hạnh nguyện
ấy là ǵ?
Một là
kính lễ chư Phật;
Hai là khen ngợi
Như Lai;
Ba là cúng
dường rộng khắp;
Bốn là
sám hối nghiệp chướng;
Năm là
tùy hỉ công đức;
Sáu là thỉnh
Phật thuyết pháp;
Bảy là
thỉnh Phật thường trụ ở đời;
Tám là tinh tấn
tu học theo Phật;
Chín là hằng
thuận chúng sinh;
Mười
là hồi hướng đến khắp tất cả.
Thiện
Tài thưa rằng: Bạch Đại Thánh! Từ hạnh
nguyện “kính lễ” cho đến hạnh nguyện “hồi
hướng”, ư nghĩa thế nào?
Bồ-tát
Phổ Hiền bảo Thiện Tài rằng:
Này thiện
nam tử! Hạnh nguyện “Kính
lễ chư Phật” có nghĩa như thế này: Đối
với chư Phật Thế Tôn nhiều như vi trần
trong tất cả cơi Phật ở khắp mười
phương ba đời, tận cùng hư không pháp giới,
tôi nhờ vào sức hạnh nguyện Phổ Hiền[4],
tin hiểu sâu xa, thấy chư Phật như đều
đang ở trước mắt; tôi sẽ đem ba nghiệp
thân miệng ư hoàn toàn thanh tịnh, thường cung kính lễ
bái. Nơi chỗ ở của mỗi đức Phật
đều hóa hiện vô số cơi Phật không thể nói hết,
trong đó lại hóa hiện số thân tôi nhiều như
vi trần; mỗi thân đó tôi đều kính lễ khắp
các đức Phật nhiều như vi trần trong khắp
các cơi Phật không thể nói hết. Khi nào cơi hư không hết
th́ hạnh kính lễ của tôi mới chấm dứt.
Nhưng v́ cơi hư không không bao giờ hết, nên sự
kính lễ của tôi cũng không bao giờ chấm dứt.
Cũng như vậy, cho đến khi nào cơi chúng sinh hết,
nghiệp của chúng sinh hết, phiền năo của chúng
sinh hết, th́ hạnh kính lễ của tôi mới chấm
dứt; nhưng cơi chúng sinh, nghiệp chúng sinh và phiền
năo chúng sinh không bao giờ hết, cho nên hạnh kính lễ
của tôi cũng không bao giờ chấm dứt. Niệm niệm
nối nhau không gián đoạn, ba nghiệp thân miệng ư
không nhàm chán mệt mỏi.
Lại nữa,
này thiện nam tử! Hạnh nguyện “Khen ngợi Như Lai” có nghĩa như thế
này: Trong mỗi một vi trần ở tất cả quốc
độ trong khắp mười phương ba đời,
tận cùng hư không pháp giới, đều có vố số
chư Phật nhiều như vi trần trong tất cả
thế gian, nơi chỗ ở của mỗi đức
Phật đều có vô số Bồ-tát tụ hội vây
quanh, tôi sẽ đem hết những kiến giải sâu xa
hiện có, trước mỗi vị tôi đều dùng cái
lưỡi vi diệu hơn cả thiên nữ Biện Tài[5],
mỗi cái lưỡi đều phát ra biển âm thanh vô tận,
mỗi âm thanh lại phát ra tất cả biển ngôn từ,
để xưng dương tán thán tất cả biển
công đức của Như Lai, trùm khắp tận cùng pháp
giới, nối tiếp măi cho đến tận cùng đời
vị lai, không bao giờ gián đoạn. Cứ như thế,
cho đến khi nào cơi hư không hết, cơi chúng sinh hết,
nghiệp chúng sinh hết, phiền năo chúng sinh hết, th́ hạnh
khen ngợi của tôi mới chấm dứt. Nhưng v́ cơi
hư không, cơi chúng sinh, nghiệp chúng sinh, và phiền năo
chúng sinh không bao giờ hết, cho nên hạnh khen ngợi của
tôi cũng không bao giờ chấm dứt. Niệm niệm nối
nhau không gián đoạn, ba nghiệp thân miệng ư không nhàm
chán mệt mỏi.
Lại nữa,
này thiện nam tử! Hạnh nguyện “Cúng dường rộng khắp” có nghĩa
như thế này: Trong tất cả các cơi Phật ở khắp
mười phương ba đời, cùng tận hư
không pháp giới, có bao nhiêu số vi trần cực nhỏ,
trong mỗi vi trần đó lại có chư Phật nhiều
như số vi trần trong tất cả thế giới,
nơi chỗ ở của mỗi đức Phật đều
có vô số Bồ-tát tụ hội vây quanh, tôi nhờ vào sức
hạnh nguyện Phổ Hiền, phát khởi ḷng tin hiểu
sâu xa, thấy chư Phật như hiện đang trước
mặt, đem hết những phẩm vật cúng dường
thượng diệu để cúng dường chư Phật.
Các phẩm vật như mây hoa, mây tràng hoa, mây âm nhạc cơi
trời, mây tàn lọng cơi trời, mây y phục cơi trời,
các đám mây trên đây đều lớn như núi Tu-di; lại
có nhiều loại hương thơm cơi trời như
hương xoa, hương đốt, hương bột;
lại thắp nhiều thứ đèn như đèn mỡ,
đèn dầu, các thứ đèn dầu thơm, mỗi tim
đèn đều lớn như núi Tu-di, dầu trong mỗi
cây đèn đều nhiều như nước trong biển
lớn; tôi thường đem các phẩm vật như
trên để cúng dường. Này thiện nam tử! Trong
các thứ cúng dường th́ “cúng dường pháp”[6]
là hơn hết; như: nói việc tu hành là cúng dường,
làm lợi ích cho chúng sinh là cúng dường, nhiếp thọ[7]
chúng sinh là cúng dường, chịu đau khổ thay cho
chúng sinh là cúng dường, siêng tu dưỡng căn lành là
cúng dường, không bỏ sự nghiệp Bồ-tát là
cúng dường, không xa rời tâm bồ đề là cúng
dường. Này thiện nam tử! Nếu đem vô lượng
công đức của sự cúng dường trên kia mà so
sánh với chỉ một niệm công đức của sự
cúng dường pháp này th́ không bằng một phần
trăm, không bằng một phần ngàn, một phần
trăm ngàn câu-chi[8]
na-do-tha[9],
một phần ca-la[10],
một phần toán, một phần số, một phần
dụ, cũng không bằng một phần
ưu-ba-ni-sa-đà[11].
V́ sao thế? V́ các đức Như Lai rất tôn trọng
chánh pháp. Nếu y theo giáo pháp mà tu hành th́ sẽ sinh ra các
đức Phật. Nếu chư Bồ-tát thực hành các
cách cúng dường pháp th́ sẽ thành tựu được
công đức cúng dường Như Lai. Tu hành như thế
mới thật là cúng dường chân chính, và đó cũng
là thứ cúng dường rộng lớn và thù thắng
hơn hết. Khi nào cơi hư không hết, cơi chúng sinh hết,
nghiệp chúng sinh hết, phiền năo chúng sinh hết, th́ hạnh
cúng dường của tôi mới chấm dứt; nhưng
cơi hư không, cơi chúng sinh, nghiệp chúng sinh, và phiền năo
chúng sinh không bao giờ hết, cho nên hạnh cúng dường
của tôi cũng không bao giờ chấm dứt. Niệm niệm
nối nhau không gián đoạn, ba nghiệp thân miệng ư
không nhàm chán mệt mỏi.
Lại nữa,
này thiện nam tử! Hạnh nguyện “Sám hối nghiệp chướng” có nghĩa
như thế này: Bồ-tát tự nghĩ: Tôi từ vô thỉ
kiếp trong quá khứ, do tham sân si nên thân miệng ư đă tạo
ra vô lượng vô biên nghiệp ác. Nếu những nghiệp
ác này mà có h́nh tướng th́ khắp cơi hư không cũng không
thể chứa hết được. Hôm nay, đối
trước tất cả chư Phật và chúng Bồ-tát ở
các cơi nước nhiều như vi trần trong khắp
pháp giới, tôi xin đem ba nghiệp thanh tịnh thành tâm
sám hối, sau này thề không tái phạm, mà luôn luôn an trụ
trong công đức của giới pháp thanh tịnh. Sám hối
như thế, khi nào cơi hư không hết, cơi chúng sinh hết,
nghiệp chúng sinh hết, phiền năo chúng sinh hết, th́ hạnh
sám hối của tôi mới chấm dứt; nhưng cơi
hư không, cơi chúng sinh, nghiệp chúng sinh, và phiền năo
chúng sinh không bao giờ hết, cho nên hạnh sám hối của
tôi cũng không bao giờ chấm dứt. Niệm niệm nối
nhau không gián đoạn, ba nghiệp thân miệng ư không nhàm
chán mệt nỏi.
Lại nữa,
này thiện nam tử! Hạnh nguyện “Tùy hỉ công đức” có nghĩa như thế
này: Chư Phật Như Lai nhiều như vi trần trong
tất cả các cơi Phật ở khắp mười
phương ba đời, tận cùng hư không pháp giới,
từ khi mới phát tâm[12],
v́ muốn thành tựu nhất thiết trí[13]
mà các Ngài chuyên cần tu phước, chẳng tiếc thân mạng;
trải qua số kiếp như vi trần ở các cơi Phật
nhiều không thể nói hết, trong mỗi kiếp ấy
các Ngài đều thí xả đầu mắt tay chân như
số vi trần ở các cơi Phật nhiều không thể
nói hết. Cứ như thế các Ngài chịu cực khổ
để làm tất cả những việc khó làm, viên măn mọi
pháp môn giải thoát, chứng nhập các trí địa của
Bồ-tát[14], thành
tựu đạo quả Bồ-đề Vô-thượng,
cho đến khi nhập niết bàn và phân chia xá lợi. Tất
cả căn lành ấy của chư Phật, tôi đều
xin tùy hỉ. Chẳng những thế, đối với tất
cả chúng sinh trong bốn loài[15],
sáu nẻo[16] ở
khắp cả mười phương thế giới, nếu
họ có công đức, dù chỉ nhỏ như hạt bụi,
tôi cũng đều tùy hỉ. Tất cả các bậc hữu
học và vô học[17]
trong hàng Thanh-văn, Phật Bích-chi, có bao nhiêu công đức
tôi đều xin tùy hỉ. Tất cả chư vị Bồ-tát
tu hành siêng năng khó nhọc, từng làm vô lượng việc
khó làm, quyết chí cầu đạo Bồ-đề
Vô-thượng, tích tụ công đức rộng lớn,
tôi đều xin tùy hỉ. Cứ tùy hỉ như thế
đó, dù cơi hư không hết, cơi chúng sinh hết, nghiệp
chúng sinh hết, phiền năo chúng sinh hết, nhưng hạnh
tùy hỉ của tôi vẫn không chấm dứt; niệm niệm
nối nhau không gián đoạn, ba nghiệp thân miệng ư
không nhàm chán mệt mỏi.
Lại nữa,
này thiện nam tử! Hạnh nguyện “Thỉnh Phật thuyết pháp” có nghĩa như
thế này: Trong số vi trần ở tất cả các cơi
Phật khắp mười phương ba đời, tận
cùng hư không pháp giới, mỗi vi trần đều có các
cơi Phật rộng lớn nhiều không thể nói hết,
trong mỗi cơi Phật đó, mỗi niệm mỗi niệm
đều có chư Phật thành Đẳng-chánh-giác[18]
nhiều như số vi trần ở các cơi Phật không thể
nói hết, với chúng Bồ-tát đông như biển nhóm
họp vây quanh; đối trước chư Phật nhiều
như thế, tôi xin đem ba nghiệp thân miệng ư, dùng mọi
phương tiện, ân cần thỉnh cầu chư Phật
tuyên thuyết chánh pháp nhiệm mầu. Cứ thỉnh cầu
như thế đó, dù cơi hư không hết, cơi chúng sinh hết,
nghiệp chúng sinh hết, phiền năo chúng sinh hết,
nhưng hạnh thỉnh cầu tất cả chư Phật
thuyết pháp của tôi không bao giờ chấm dứt; niệm
niệm nối nhau không gián đoạn, ba nghiệp thân miệng
ư không nhàm chán mệt mỏi.[19]
Lại nữa,
này thiện nam tử! Hạnh nguyện “Thỉnh Phật thường trụ ở đời”
có nghĩa như thế này: Có bao nhiêu chư Phật Như
Lai nhiều như số vi trần trong tất cả cơi Phật
ở mười phương ba đời, tận cùng
hư không pháp giới, sắp thị hiện nhập niết
bàn, và các bậc hữu học, vô học trong hàng
Thanh-văn, Duyên-giác, Bồ-tát, cho đến tất cả
các bậc thiện tri thức, tôi đều thỉnh cầu
đừng nhập niết bàn, xin hăy trụ thế trải
qua số kiếp nhiều như vi trần tại tất
cả các cơi Phật, để làm lợi lạc cho chúng
sinh. Tôi cứ thỉnh cầu như thế, dù cơi hư
không hết, cơi chúng sinh hết, nghiệp chúng sinh hết,
phiền năo chúng sinh hết, nhưng hạnh thỉnh Phật
thường trụ ở đời của tôi không bao giờ
chấm dứt; niệm niệm nối nhau không gián đoạn,
ba nghiệp thân miệng ư không nhàm chán mệt mỏi.[20]
Lại nữa,
này thiện nam tử! Hạnh nguyện “Tinh tấn tu học theo Phật” có nghĩa
như thế này: Như đức Phật T́ Lô Giá Na[21]
ở thế giới Ta-bà này, từ khi mới phát tâm đă
tinh tấn không lùi, từng đem vô số thân mạng thực
hành hạnh bố thí; từng lột da làm giấy, chẻ
xương làm bút, chích máu làm mực, để biên chép kinh
điển, chất cao như núi Tu-di. V́ tôn trọng chánh
pháp mà thân mạng cũng c̣n không tiếc, huống chi là ngôi
vua, cùng những thứ tùy thuộc khác như cung điện,
vườn rừng, hay thành ấp, xóm làng! Đă thế,
Ngài c̣n chịu đựng khó nhọc để làm những
việc khó làm, cho đến thành đạo ở cội
cây bồ đề, thị hiện nhiều thứ thần
thông, nhiều sự biến hóa, nhiều thân Phật, ở
nhiều chúng hội như ở đạo tràng của
chúng hội gồm tất cả chư vị Bồ-tát lớn,
hoặc ở đạo tràng của chúng hội gồm
hàng Thanh-văn và Duyên-giác, hoặc ở đạo tràng của
chúng hội gồm Chuyển luân thánh vương, các tiểu
vương và quyến thuộc, hoặc ở đạo
tràng của chúng hội gồm sát đế lợi, bà la
môn, trưởng giả và cư sĩ, cho đến ở
đạo tràng của chúng hội gồm tám bộ chúng[22],
người và chẳng phải người[23],
vân vân. Ở nơi nhiều chúng hội như thế,
đức Phật dùng âm thanh viên măn như sấm vang, tùy
theo chúng sinh vui thích pháp ǵ, Ngài đều làm cho họ đều
được thành thục, cho đến khi Ngài thị hiện
nhập niết bàn. Ở tất cả những đạo
tràng như thế, tôi đều xin theo Phật tu học.
Trước đức Thế Tôn T́ Lô Giá Na hôm nay như vậy,
mà trước tất cả các đức Như Lai nhiều
như số vi trần trong tất cả các cơi Phật ở
khắp mười phương ba đời, tận cùng
hư không pháp giới cũng đều như vậy,
trong mỗi niệm tôi đều xin theo chư Phật tu học;
dù cơi hư không hết, cơi chúng sinh hết, nghiệp chúng
sinh hết, phiền năo chúng sinh hết, nhưng hạnh
tinh tấn tu học theo Phật của tôi không bao giờ
chấm dứt, niệm niệm nối nhau không gián đoạn,
ba nghiệp thân miệng ư không nhàm chán mệt mỏi.
Lại nữa,
này thiện nam tử! Hạnh nguyện “Hằng thuận[24]
chúng sinh” có nghĩa như
thế này: Trong tất cả các cơi ở khắp mười
phương, tận cùng hư không pháp giới, có các loài
chúng sinh sai khác nhau như noăn sinh, thai sinh, thấp sinh, và hóa
sinh; hoặc có các loài nương nơi đất nước
gió lửa mà sinh sống, hoặc có các loài nương
nơi hư không và cây cỏ mà sinh sống; rất nhiều
chủng loại, rất nhiều sắc thân, rất nhiều
h́nh trạng, rất nhiều tướng mạo, rất
nhiều thọ lượng[25],
rất nhiều tộc loại, rất nhiều danh hiệu,
rất nhiều tâm tính, rất nhiều tri kiến, rất
nhiều ham thích, rất nhiều tư tưởng, rất
nhiều oai nghi, rất nhiều thứ y phục, rất
nhiều thức ăn uống; cư trú ở rất nhiều
xóm làng, thành ấp, cung điện, cho đến tám bộ
chúng, người và chẳng phải người; hoặc
không có chân, hoặc có hai chân, bốn chân, nhiều chân; có
h́nh sắc hay không có h́nh sắc, có tư tưởng hay
không có tư tưởng, chẳng phải có tư tưởng
hay chẳng phải không có tư tưởng; đối với
tất cả các loài khác nhau như thế tôi đều uyển
chuyển tùy thuận để phụng sự và cung dưỡng,
như kính cha mẹ, như thờ sư trưởng, cho
đến các bậc A-la-hán hay các đức Như Lai,
không có ǵ khác biệt. Đối với người bệnh
tôi sẽ là lương y, người bị lạc lối
tôi sẽ chỉ cho con đường ngay chính, ở trong
đêm tối tôi sẽ là ánh sáng, người nghèo khổ
tôi sẽ giúp cho được của báu. Bồ-tát làm lợi
ích cho chúng sinh một cách b́nh đẳng như thế
đó. V́ sao? V́ Bồ-tát nếu tùy thuận chúng sinh th́ tức
là tùy thuận cúng dường chư Phật, nếu tôn trọng
và phụng sự chúng sinh th́ tức là tôn trọng và phụng
sự chư Phật, nếu làm cho chúng sinh hoan hỉ tức
là làm cho chư Phật hoan hỉ. V́ sao? V́ chư Phật lấy
tâm đại bi làm thể tánh, bởi có chúng sinh mà phát khởi
tâm đại bi, bởi có tâm đại bi mà phát sinh tâm bồ
đề, bởi có tâm bồ đề mà thành bậc
Đẳng-chánh-giác. Ví như giữa vùng sa mạc mênh mông
có một cây đại thọ, nếu rễ hút được
nước th́ cành lá hoa trái sẽ tươi tốt sum sê.
Cây bồ đề ở trong biển sinh tử mênh mông cũng
giống như vậy. Tất cả chúng sinh là rễ của
cây; chư Phật và chư Bồ-tát là hoa trái của cây. Lấy
nước đại bi làm lợi ích cho chúng sinh th́ sẽ
thành tựu được hoa trái trí tuệ của chư
Phật và Bồ-tát. V́ sao? V́ Bồ-tát dùng nước đại
bi làm lợi ích cho chúng sinh th́ sẽ thành tựu quả vị
Bồ-đề Vô-thượng. Bởi vậy, Bồ-đề
là thuộc về chúng sinh. Nếu không có chúng sinh th́ tất
cả Bồ-tát đều không thể thành tựu quả
vị Bồ-đề Vô-thượng. Này thiện nam tử!
Về ư nghĩa của hạnh “Hằng thuận chúng sinh”
này, ông nên hiểu như vầy: Đem tâm b́nh đẳng
đối với chúng sinh th́ thành tựu được
tâm đại bi một cách viên măn; đem tâm đại bi
tùy thuận chúng sinh th́ thành tựu được công đức
cúng dường chư Phật. Cứ như thế đó
mà Bồ-tát tùy thuận chúng sinh, dù cơi hư không hết, cơi
chúng sinh hết, nghiệp chúng sinh hết, phiền năo chúng
sinh hết, nhưng hạnh tùy thuận của tôi không bao
giờ chấm dứt, niệm niệm nối nhau không gián
đoạn, ba nghiệp thân miệng ư không nhàm chán mệt mỏi.
Lại nữa,
này thiện nam tử! Hạnh nguyện “Hồi hướng đến khắp tất cả”
có nghĩa như thế này: Từ hạnh nguyện đầu
tiên là “kính lễ chư Phật”, cho đến hạnh nguyện
thứ chín là “tùy thuận chúng sinh”, có được bao
nhiêu công đức, thảy đều đem hồi hướng
cho tất cả chúng sinh trong khắp cơi hư không pháp giới.
Xin nguyện cho chúng sinh thường được an vui,
không bị các bệnh khổ; muốn làm việc ác th́ không
thành, làm việc thiện th́ thành tựu nhanh chóng; đóng chặt
tất cả các cánh cửa đi vào nẻo ác, mở bày
con đường chân chính dẫn đến trời,
người và niết bàn. Nếu các chúng sinh v́ chứa nhiều
nghiệp ác nên phải chiêu cảm quả báo đau khổ
nặng nề, tôi đều xin chịu thay, khiến cho họ
đều được giải thoát, cho đến lúc cuối
cùng thành tựu đạo quả Bồ-đề
Vô-thượng. Cứ như thế Bồ-tát tu hạnh hồi
hướng, dù cơi hư không hết, cơi chúng sinh hết,
nghiệp chúng sinh hết, phiền năo chúng sinh hết,
nhưng hạnh hồi hướng của tôi không bao giờ
chấm dứt, niệm niệm nối nhau không gián đoạn,
ba nghiệp thân miệng ư không nhàm chán mệt mỏi.
Này thiện
nam tử! Đó là mười hạnh nguyện lớn,
đầy đủ, trọn vẹn của các vị Bồ-tát
lớn. Nếu các vị Bồ-tát khéo tu tập theo mười
hạnh nguyện ấy th́ có thể làm lợi ích cho tất
cả chúng sinh, mà cũng là thuận theo đạo quả
Bồ-đề Vô-thượng, thành tựu viên măn các hạnh
nguyện rộng lớn như biển của Bồ-tát Phổ
Hiền.
V́ vậy
cho nên, này thiện nam tử! Ông nên hiểu rơ ư nghĩa của
việc tu tập mười hạnh nguyện ấy
như thế này: Nếu có người thiện nam hay thiện
nữ nào dùng bảy thứ trân bảo ḱ diệu nhất,
và các thứ vui sướng thù thắng nhất của các
cơi trời và người trong tất cả thế giới
nhiều như vi trần ở vô lượng vô biên cơi Phật
khắp mười phương, đem bố thí cho chúng
sinh cũng ở ngần ấy thế giới, cúng dường
lên chư Phật và Bồ-tát cũng ở ngần ấy
thế giới, trải qua số kiếp nhiều như
vi trần ở ngần ấy cơi Phật, cứ liên tục
bố thí cúng dường như thế, không gián đoạn,
được bao nhiêu công đức; nếu đem so sánh
với công đức của một người chỉ
được nghe qua một lần mười hạnh
nguyện rộng lớn này, th́ công đức của
người thiện nam hay thiện nữ ở trước
không bằng một phần trăm, một phần ngàn công
đức của người sau, cho đến một phần
ưu-ba-ni-sa-đà cũng không bằng. Lại nếu có một
người đem ḷng tin sâu xa mà thọ tŕ đọc tụng
mười hạnh nguyện rộng lớn ấy, thậm
chí chỉ biên chép một bài kệ bốn câu, tức khắc
có thể diệt trừ năm nghiệp vô gián[26];
bao nhiêu khổ năo cũng như bệnh hoạn thuộc về
thân, tâm trong thế gian, cho đến tất cả nghiệp
ác nhiều như số vi trần ở cơi Phật, đều
được tiêu trừ; tất cả các loài ma quân[27],
quỉ dạ-xoa[28],
quỉ la-sát[29], hoặc
các loài quỉ thần hung dữ chuyên ăn thịt uống
máu như cưu-bàn-trà[30],
t́-xá-xà[31],
bộ-đa[32], vân
vân, thảy đều phải tránh xa, hoặc nếu gần
gũi th́ phát tâm bảo hộ.
V́ vậy
cho nên, người đọc tụng mười hạnh
nguyện này, nếu đem thực hành trong thế gian, sẽ
không bị chướng ngại, như mặt trăng ra
khỏi đám mây mù, được chư Phật và Bồ-tát
khen ngợi, tất cả trời người đều
nên kính lễ, tất cả chúng sinh đều nên cúng
dường. Người thiện nam ấy sẽ có
được thân người với đầy đủ
công đức của Bồ-tát Phổ Hiền, và chẳng
bao lâu sẽ đồng như Bồ-tát Phổ Hiền,
nhanh chóng thành tựu sắc thân vi diệu, đầy đủ
ba mươi hai tướng đại trượng phu[33].
Nếu người ấy sinh trong cơi Người hoặc
cơi Trời, sẽ ở vào ḍng tộc cao quí nhất, có thể
phá trừ tất cả việc ác, xa lánh tất cả bạn
ác, chế ngự tất cả ngoại đạo, giải
thoát tất cả phiền năo, như sư tử chúa xua
đuổi muôn thú. Người ấy sẽ thọ nhận
tất cả sự cúng dường của chúng sinh. Lại
nữa, người này đến phút lâm chung, trong sát na cuối
cùng, tất cả các căn[34]
đều hư ră, tất cả quyến thuộc đều
xa ĺa, tất cả uy thế đều tiêu mất, tất
cả đại thần, quan tướng, cung điện,
thành quách trong ngoài[35],
xe cộ voi ngựa, kho tàng châu báu, vân vân đều không
đem theo; chỉ có mười hạnh nguyện rộng
lớn này là chẳng xa rời, luôn luôn ở trước dẫn
đường, trong khoảnh khắc người ấy
liền được văng sinh về thế giới Cực-lạc.
Đến đó rồi, liền được thấy
đức Phật A Di Đà, đức Bồ-tát Văn
Thù Sư Lợi, đức Bồ-tát Phổ Hiền, đức
Bồ-tát Quán Tự Tại, đức Bồ-tát Di Lặc,
vân vân. Các vị Bồ-tát này sắc tướng đoan
nghiêm, công đức đầy đủ, cùng đứng
vây quanh. Người ấy tự thấy ḿnh sinh trong hoa
sen, được Phật thọ kí[36].
Sau khi đă được Phật thọ kí, trải qua
trăm ngàn vạn ức na-do-tha kiếp, ở khắp vô số
thế giới trong mười phương, người ấy
dùng sức trí tuệ, thuận theo tâm chúng sinh mà làm lợi
ích cho tất cả, rồi chẳng bao lâu, sẽ ngồi
nơi đạo tràng bồ đề, hàng phục ma quân,
thành bậc Đẳng-chánh-giác, chuyển bánh xe pháp nhiệm
mầu, khiến cho chúng sinh trong số thế giới nhiều
như vi trần thuộc cơi Phật ấy, đều phát
tâm bồ đề, tùy theo căn tánh của họ mà giáo
hóa thuần thục; cho đến vô số kiếp ở
đời vị lai, đức Phật ấy cũng
đều làm lợi ích rộng lớn cho tất cả
chúng sinh như vậy.
Này thiện
nam tử! Các chúng sinh kia hoặc được nghe, hoặc
tin chắc vào mười hạnh nguyện rộng lớn
này mà thọ tŕ đọc tụng, và giảng nói rộng
răi cho mọi người được nghe biết, th́
công đức ấy, ngoài đức Phật Thế Tôn ra,
không ai có thể biết hết được.
V́ vậy
cho nên, khi quí vị nghe được mười hạnh
nguyện rộng lớn này rồi th́ không nên sinh ḷng ngờ
vực, mà hăy chí thành thọ nhận, thọ nhận rồi
th́ nên đọc, đọc rồi th́ nên thuộc, thuộc
rồi th́ nên thường xuyên hành tŕ, cho đến biên
chép, giảng nói. Những người làm được
như vậy th́ chỉ trong một niệm, các hạnh
nguyện đều thành tựu, được phước
đức vô lượng vô biên, có thể cứu vớt
chúng sinh ra khỏi biển khổ lớn đầy phiền
năo, và đều được văng sinh về thế giới
Cực-lạc của đức Phật A Di Đà.
Lúc bấy
giờ, đức Bồ-tát lớn Phổ Hiền muốn
tuyên thuyết lại ư nghĩa của mười hạnh
nguyện rông lớn này, bèn quan sát khắp mười
phương, rồi nói kệ rằng:
Đối trước chư Phật
cả ba đời,
Trong các thế giới khắp mười
phương,
Tôi đem thân miệng ư thanh tịnh,
Kính lễ cùng khắp không bỏ sót;
Nhờ sức oai thần hạnh Phổ
Hiền,
Hiện thân khắp trước các
Như Lai,
Một thân lại hiện vô số
thân,
Mỗi thân kính lễ vô số Phật.
Vô số Phật trong một vi trần,
Đều ngự giữa chúng hội
Bồ-tát;
Cùng khắp pháp giới cũng như
vậy,
Ḷng tin chư Phật đều đầy
đủ,
Tôi dùng tất cả biển âm thanh,
Nói lời hay đẹp dâng cùng khắp,
Khen ngợi Phật công đức sâu
dày,
Măi đến đời vị lai vô
tận.
Tôi dùng các thứ trang nghiêm nhất:
Như các loại tràng hoa mĩ diệu,
Âm nhạc, tàn lọng cùng đèn
đuốc,
Y phục tốt đẹp,
hương thơm nhất,
Hương xoa, hương bột và
hương xông,
Tất cả vật phẩm đều
trân quí,
Đều chất cao như núi Tu-di,
Thảy đều dâng cúng dường
chư Phật.
Do nơi trí hiểu biết rộng lớn,
Tin sâu sắc chư Phật ba đời,
Và nhờ sức hạnh nguyện Phổ
Hiền,
Tôi cúng dường cùng khắp chư
Phật.
Đă lâu tôi tạo nhiều nghiệp
ác,
Đều từ thân miệng ư phát
sinh,
Do tham sân si từ vô thỉ,
Hôm nay tôi đều xin sám hối.
Tất cả công đức của
chúng sinh,
Hữu học, vô học thuộc hai
thừa[37],
Và chư Phật, Bồ-tát mười
phương,
Bao nhiêu tôi đều xin tùy hỉ.
Các bậc Đạo Sư khắp
mười phương,
Ngay từ lúc mới thành Chánh-giác,
Tôi đều đem ḷng thành kính thỉnh,
Xin chuyển bánh xe pháp nhiệm mầu.
Chư Phật muốn thị hiện
niết bàn,
Tôi đều đem ḷng thành kính thỉnh,
Xin trụ thế măi vô số kiếp,
Hóa độ cho tất cả chúng
sinh.
Phước đức, thiện
căn do ngợi khen,
Kính lễ, cúng dường, và tùy hỉ,
Sám hối, thỉnh trụ thế,
thuyết pháp,
Hồi hướng chúng sinh cùng Phật
đạo.
Tôi theo chư Phật xin tu học,
Thực hành trọn vẹn hạnh Phổ
Hiền,
Cúng dường chư Phật đời
quá khứ,
Chư Phật hiện tại khắp
mười phương,
Cùng khắp chư Phật đời
vị lai,
Tất cả chí nguyện đều
viên măn.
Tôi nguyện theo Phật cả ba
đời,
Mau chóng thành tựu quả Chánh-giác.
Tất cả thế giới khắp
mười phương,
Rộng lớn, thanh tịnh và trang
nghiêm,
Chư Phật ngồi nơi cội
bồ đề,
Chúng hội đều vây quanh đông
đủ.
Xin cho chúng sinh khắp mười
phương,
Tiêu trừ lo khổ, thường an
vui,
Được nhiều lợi lạc
nhờ chánh pháp,
Dứt sạch phiền năo không c̣n thừa.
Khi tôi tu tập đạo bồ
đề,
Biết được kiếp
trước trong các nẻo,
thường được xuất
gia tu tịnh giới,
Không dơ, không lỗi, không rơi lọt[38].
Chúng sinh có bao nhiêu ngôn ngữ:
Trời, rồng, dạ-xoa,
cưu-bàn-trà,
Cho đến người và chẳng
phải người,
Tùy từng ngôn ngữ tôi nói pháp.
Siêng tu hạnh thanh tịnh rốt
ráo,
Ǵn giữ không mất tâm bồ đề,
Diệt trừ sạch cấu uế,
tội chướng,
Thành tựu tất cả mọi hạnh
lành.
Ngay trong thế gian được giải
thoát
Phiền năo, nghiệp chướng và
cảnh ma,
Giống như hoa sen không dính nước,
Trời, trăng không đứng ở
hư không.
Diệt trừ khổ đau nơi
đường dữ,
Cho vui b́nh đẳng khắp chúng
sinh,
Như thế trải qua vô số kiếp,
Lợi ích mười phương
không tận cùng.
Tôi thường tùy thuận các chúng
sinh,
Cùng tận vị lai vô số kiếp,
Tu tập hạnh Phổ Hiền rộng
lớn,
Viên măn quả Vô-thượng Bồ-đề.
Nguyện cầu tất cả bạn
đồng tu,
Ở khắp mọi nơi đều
tụ hội,
Nghiệp thân miệng ư đều
như nhau,
Tất cả hạnh nguyện cùng tu
học.
Các thiện tri thức từng giúp
tôi,
Dạy bảo cho tôi hạnh Phổ
Hiền,
Xin cùng tôi thường xuyên tụ hội,
Đối với tôi tâm luôn hoan hỉ.
Xin thường được diện
kiến chư Phật,
Cùng bao Phật tử vây quanh Phật,
Tôi đều xin cúng dường mọi
thứ,
Tận cùng vị lai không mệt mỏi.
Nguyện giữ ǵn Phật pháp nhiệm
mầu,
Tuyên dương tất cả hạnh
giác ngộ,
Tu tập suốt các kiếp vị
lai,
Rốt ráo hạnh Phổ Hiền
thanh tịnh.
Tôi ở trong tất cả các cơi,
Phước, trí cùng tu không ngừng
nghỉ,
Định, tuệ, phương tiện
và giải thoát,
Được kho tàng công đức
vô biên.
Một vi trần có vô số cơi,
Trong mỗi cơi có vô số Phật,
Mỗi đức Phật ở giữa
chúng hội,
Thường hằng diễn giảng
hạnh bồ đề.
Các quốc độ cùng khắp
mười phương,
Mỗi đầu sợi lông đủ
ba đời,
Phật cùng quốc độ nhiều
vố số,
Trải vô số kiếp tôi tu hành.
Lời nói chư Phật đều
thanh tịnh,
Một lời gồm đủ mọi
âm thanh,
Tùy theo tiếng nói của chúng sinh,
Đều nghe hiểu pháp âm của
Phật.
Tất cả chư Phật trong ba
đời,
Đều dùng biển ngữ ngôn vô tận,
Hằng chuyển bánh xe pháp nhiệm mầu,
Nhờ trí tuệ tôi đều hiểu
rơ.
Tôi vào sâu suốt đời vị
lai,
Vô số kiếp thu vào một niệm,
Có bao nhiêu kiếp trong ba đời,
Trong khoảng một niệm tôi vào khắp.
Tất cả chư Phật trong ba
đời,
Trong một niệm tôi liền thấy
rơ,
Lại thường vào trong cảnh
giới Phật,
Như huyễn, giải thoát, và uy lực.[39]
Vô số sợi lông trong mười
phương,
Nơi một đầu sợi lông
nhỏ ấy,
Xuất hiện nước Phật cả
ba đời,
Tôi đều vào chuyên tu nghiêm tịnh.
Có bao nhiêu Phật đời vị
lai,
Thành đạo, thuyết pháp, độ
chúng sinh,
Phật sự viên măn, nhập niết
bàn,
Tôi đều thân cận siêng tu học.
Sức thần thông biến khắp
mau chóng,
Sức đại thừa vào khắp
pháp môn,
Sức công đức khắp tu trí, hạnh,
Sức đại từ oai thần
che khắp,
Sức phước báo nghiêm tịnh
khắp nơi,
Sức trí tuệ không c̣n chấp
trước,
Sức định, tuệ,
phương tiện, oai thần,
Sức hay tích tụ giống bồ
đề,
Sức làm thanh tịnh các nghiệp
lành,
Sức phá trừ tất cả phiền
năo,
Sức hàng phục tất cả
chướng ma,
Sức viên măn các hạnh Phổ Hiền.
Làm nghiêm tịnh khắp các quốc
độ,
Giải thoát cho tất cả chúng
sinh,
Thấu suốt nghĩa sâu xa giáo pháp,
Vào tận cùng biển sâu trí tuệ,
Tu mọi công hạnh đều thanh
tịnh,
Tất cả chí nguyện đều
viên măn,
Thân cận cúng dường khắp
chư Phật,
Vô số kiếp tu hành không mỏi.
Tất cả chư Phật trong ba
đời,
Từng tu các hạnh nguyện tối
thượng,
Tôi đều cúng dường, tu viên
măn
Theo hạnh Phổ Hiền đến
Giác-ngộ.
Tất cả chư Phật có trưởng
tử[40],
Danh hiệu ngài xưng gọi Phổ
Hiền,
Nay tôi hồi hướng các căn
lành,
Nguyện trí, hạnh như ngài không
khác.
Nguyện thân ngữ ư luôn thanh tịnh,
Các hạnh, quốc độ, cũng
như vậy,
Trí tuệ như thế xưng Phổ
Hiền,
Tôi nguyện giống như ngài không
khác.
Tôi tu hạnh Phổ Hiền thanh tịnh,
Cùng nguyện lớn của đức
Văn Thù,
Sự nghiệp ấy trọn thành
không sót,
Hết kiếp vị lai không mệt
mỏi.
Tôi tu hành pháp môn vô lượng,
Có được công đức nhiều
vô lượng,
An trú trong hành nghiệp[41]
vô lượng,
Thấu suốt tất cả sức
thần thông.
Trí tuệ đức Văn Thù dũng
mănh,
Tuệ, hạnh đức Phổ Hiền
cũng vậy,
Tôi nay hồi hướng các căn
lành,
Nguyện luôn theo các ngài tu học.
Chư Phật ba đời đều
khen ngợi,
Đó là nguyện lớn không ǵ
hơn,
Tôi nay hồi hướng các căn
lành,
Nguyện được hạnh Phổ
Hiền thù thắng.
Tôi nguyện khi đến phút lâm
chung,
Trừ sạch tất cả các
chướng ngại,
Trước mắt thấy Phật A
Di Đà,
Liền được văng sinh cơi Cực-lạc.
Khi đă văng sinh về cơi ấy,
Tôi liền thành tựu nguyện lớn
này,
Hoàn toàn đầy đủ, không thiếu
sót,
Làm lợi lạc tất cả chúng
sinh.
Chúng hội Cực-lạc đều
thanh tịnh,
Tôi từ hoa sen báu sinh ra,
Liền thấy đức Phật Vô
Lượng Quang[42],
Thọ kí cho tôi quả Bồ-đề.
Mong nhờ ơn Phật thọ kí rồi,
Tôi hóa thân nhiều vô số kể,
Trí tuệ rộng lớn khắp
mười phương,
Lợi ích chúng sinh khắp các cơi.
Cơi hư không và cơi chúng sinh,
Nghiệp và phiền năo có thể hết,
Nhưng bốn thứ ấy không cùng
tận,
Hạnh nguyện của tôi cũng vô
tận.
Có người đem châu báu trang
nghiêm,
Cúng dường Phật ở khắp
mười phương,
Phẩm vật thắng diệu thí trời
người,
Như thế trải qua vô số kiếp;
Có người được nghe nguyện
vương này,
Một lần qua tai, sinh chánh tín,
Ḷng khao khát cầu quả Bồ-đề,
Được công đức trội
hơn người trước.
Người đó rời xa ác tri thức,
Thoát khỏi tất cả các
đường dữ,
Mau chóng thấy Phật Vô Lượng
Quang,
Đầy đủ nguyện Phổ
Hiền tối thắng.
Người đó được thọ
mạng lâu dài,
Sinh vào loài người được
tự tại,
Thời gian không lâu sẽ thành tựu
Hạnh nguyện rộng lớn
như Phổ Hiền.
Từ vô thỉ do không trí tuệ,
Từng tạo năm tội nặng
Vô-gián,
Tŕ tụng nguyện lớn Phổ Hiền
này,
Một niệm tội nghiệp đều
tiêu diệt;
Giống ṇi ḍng họ cùng dung mạo,
H́nh tướng, trí tuệ, đều
viên măn,
Ác ma, ngoại đạo không phá hoại,
Nhận sự cúng dường trong ba
cơi;
Liền đến ngồi cội cây
bồ đề,
Hàng phục hết tất cả chúng
ma,
Thành bậc Chánh-giác, nói diệu pháp,
Lợi lạc khắp tất cả
quần sinh.
Nếu đọc tụng, thọ
tŕ, diễn nói
Mười hạnh nguyện lớn
Phổ Hiền này,
Quả báo chỉ có Phật chứng
biết,
Quyết định thành tựu đạo
Bồ-đề.
Nếu tŕ tụng nguyện Phổ Hiền
này,
Tôi nói: Chỉ phần nhỏ căn
lành,
Trong một niệm trọn đầy
công đức,
Hoàn thành nguyện thanh tịnh
chúng sinh.
Hạnh Phổ Hiền thù thắng của
tôi,
Phước báo vô biên đều hồi
hướng,
Cho khắp chúng sinh đang ch́m đắm,
Nguyện mau văng sinh về Cực-lạc.
Lúc đức
Bồ-tát lớn Phổ Hiền ở trước Phật
nói bài kệ hạnh nguyện Phổ Hiền rộng lớn
thanh tịnh này xong, Thiện Tài đồng tử vui mừng
không xiết; tất cả chúng Bồ-tát cũng đều
hoan hỉ. Đức Phật khen rằng: “Lành thay! Lành
thay!”
Bấy giờ, khi đức Thế Tôn cùng các bậc thánh Bồ-tát lớn diễn nói pháp môn thù thắng về cảnh giới giải thoát không thể nghĩ bàn như vậy, đức Bồ-tát Văn Thù là thượng thủ trong chúng Bồ-tát lớn và sáu ngàn vị t́ kheo do ngài giáo hóa, đức Bồ-tát Di Lặc là thượng thủ trong hàng Bồ-tát lớn ở Hiền kiếp, đức Bồ-tát Vô Cấu Phổ Hiền là thượng thủ trong hàng Bồ-tát lớn một đời thành Phật[43] đang trú ở địa vị Quán-đảnh[44], và tất cả chúng Bồ-tát lớn nhiều như số vi trần ở tất cả các quốc độ trong các thế giới khắp mười phương đến tụ hội; các vị tôn giả Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên vân vân là thượng thủ trong chúng Thanh-văn, các bậc chúa tể trong hàng Trời Người, cùng các hàng Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, Người, chẳng phải người, vân vân, tất cả đại chúng, nghe Phật dạy xong đều rất vui mừng, đồng tin nhận và nguyện hành tŕ.
CHÚ THÍCH
[1] Cuối quyển 39
ở trước (của bộ kinh Tứ Thập Hoa Nghiêm), đức Bồ-tát Phổ
Hiền đă khen ngợi công đức thù thắng của
Phật bằng một bài kệ tụng gồm 380 câu.
[2] Thiện Tài: tức Thiện Tài đồng tử,
vị Bồ-tát đi cầu đạo được
đề cập tới trong phẩm “Nhập Pháp Giới” của kinh Hoa Nghiêm. Trên đường cầu đạo,
ngài đă từng đi về phương Nam, trải qua
nhiều nước, tham phỏng với 53 (hoặc 55) vị
thiện tri thức gồm t́ kheo, t́ kheo ni, cư sĩ nam,
cư sĩ nữ, đồng tử, thiên nữ, quốc
vương, vương phi, bà la môn, trưởng giả, y
sư, thần cây, thần đất, v.v…, được
học nhiều pháp môn, cuối cùng đến đạo
tràng của Bồ-tát Phổ Hiền th́ chứng nhập
được pháp giới vô sinh. Phật giáo đại thừa
thường đem Thiện Tài đồng tử (giống
như nàng Long nữ trong kinh Pháp Hoa) làm ví dụ điển
h́nh để chứng minh cho thuyết “tức thân thành Phật”.
[3] Vi trần: là hạt bụi rất nhỏ. Trong
không gian có vô số hạt bụi như vậy, không thể
nào đếm hết được; v́ vậy, nói đến
vi trần cũng có nghĩa là nói đến số lượng
rất nhiều, nhiều hơn cả “cát sông Hằng”.
[4] Bốn chữ “hạnh nguyện Phổ Hiền”
không phải là đức Bồ-tát Phổ Hiền tự
nói để đề cao ḿnh, mà thực sự lúc bấy
giờ, “hạnh nguyện Phổ
Hiền” đă trở thành là tên của một pháp môn tu
hành.
[5] Thiên nữ Biện Tài: đó là một vị nữ
thần chủ về văn nghệ trong tín ngưỡng Ấn-độ
giáo và Bà-la-môn giáo cổ đại; cũng gọi là Diệu
Âm thiên, hay Mĩ Âm thiên. Trong Lê
Câu Phệ Đà, đó là tên của vị thần sông,
có khả năng tẩy trừ ô uế và giúp cho loài người
có tính dũng cảm, giàu có và đông con cháu. Trong Phạm Thư, đó là vợ
của Phạm Thiên, từng là vị nữ thần của
ngôn ngữ và tri thức, đă sáng chế ra chữ Phạn,
cùng chưởng quản thi ca và âm nhạc, bảo hộ
cho nghệ thuật và khoa học; sau cùng th́ trở thành vị
nữ thần của trí tuệ và hùng biện. Trong kinh
điển Phật giáo cũng có nhắc đến vị
nữ thần này.
[6] Cúng dường pháp: là thực hành mọi cách nhằm
mục đích truyền bá, hoằng dương và bảo tồn
giáo pháp của Phật.
[7] Nhiếp thọ: thu nhận người (học
tṛ, đệ tử) để dạy dỗ, giáo hóa.
[8] Câu-chi: số đo lường của Ấn-độ,
tương đương với 1 ức (10.000.000) của
Trung-quốc.
[9] Na-do-tha: cũng nói là na-do-đa, số đo lường
của Ấn-độ, tương đương với
1 triệu (cũng có thuyết nói là 10 tỉ) của Trung-quốc.
[10] Một phần ca-la: tức là một phần của
số lượng nhỏ nhất, một phần của
cực vi.
[11] Ưu-ba-ni-sa-đà: là phần cực nhỏ. Theo
sách Tuệ Uyển Âm Nghĩa,
“ưu-ba-ni-sa-đà” được dịch là vi tế phần.
Giả sử đem một sợi lông chẻ ra làm
trăm, ngàn phần, rồi lấy một phần đó lại
chẻ ra làm trăm, ngàn, vạn phần; cứ chẻ
như thế cho đến khi c̣n gần như hư không,
không thể nào chia chẻ được nữa, cái phần
cuối cùng đó gọi là ưu-ba-ni-sa-đà.
[12] Từ “phát tâm” ở đây có nghĩa
là phát tâm tu hành cho đến khi chứng được
đạo quả Bồ-đề Vô-thượng; nói cách
khác là phát tâm làm Phật.
[13] Nhất thiết trí: tức là trí tuệ của Phật,
biết rơ thật tướng của tất cả các
pháp, tất cả chúng sinh, tất cả thế giới, tất
cả sự việc trong mười phương ba đời.
[14] Trí địa của Bồ-tát: là chỉ cho
phương diện trí tuệ của Bồ-tát, c̣n
phương diện kia là từ bi; trí tuệ là nói về tự
lợi, từ bi là nói về lợi tha, tự lợi và lợi
tha viên măn th́ thành Phật. Lại nữa, khi nói “Bồ-tát trí địa” là chỉ
cho các bậc Bồ-tát từ Sơ-địa trở lên
cho đến địa vị Đẳng-giác.
[15] Bốn loài: Các kinh điển Phật giáo thường
dùng từ “bốn loài” (tứ
sinh) để chỉ cho bốn cách thức, từ
đó các sinh vật được sinh ra trong thế gian:
1) Sinh ra bằng bào thai (thai
sinh) trong bụng mẹ, như loài người, các giống
thú như ḅ, ngựa, nai, v.v… 2) Sinh ra từ trứng (noăn sinh), như các giống chim, rắn,
rùa, v.v… 3) Sinh ra từ chỗ ẩm
thấp (thấp sinh), như các giống bọ, côn trùng,
v.v… 4) Sinh ra do sự chuyển
hóa (hóa sinh), như các giống bướm, tằm, v.v…
[16] Sáu nẻo: là sáu cảnh giới của các loài
chúng sinh (lục đạo hay lục thú) trong ṿng luân hồi
sinh tử, gồm có: cảnh giới Trời, cảnh giới
Người, cảnh giới A-tu-la, cảnh giới
Bàng-sinh (Súc-sinh), cảnh giới Ngạ-quỉ, và cảnh
giới Địa-ngục.
[17] Các hành giả
đang c̣n tu học như Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, Bồ-tát
v.v… th́ gọi là “hữu học”
(nghĩa là c̣n phải tu học); quí vị đă chứng thánh
quả như A-la-hán, Phật, gọi là “vô học” (nghĩa là không c̣n phải tu học nữa).
[18] Đẳng chánh giác: nghĩa là sự giác ngộ
chân chánh, chứng nhập chân lí không có ǵ hơn, tức là
thật trí của Phật, cũng tức là quả Phật.
Có nhiều từ để gọi quả Phật, như
Chánh giác, Chánh đẳng
giác, Đẳng chánh giác, Chánh đẳng chánh giác, Vô thượng
chánh đẳng chánh giác, Chánh tận
giác. Trong các từ này, chữ “đẳng”
là chỉ cho chân lí Phật đă chứng ngộ; chữ “tận” là chỉ cho sự dứt
trừ vô minh phiền năo một cách trọn vẹn.
[19] Về hạnh nguyện
“Thỉnh Phật thuyết
pháp” (thỉnh chuyển pháp luân) này, trong đời sống
thực tế hiện tại của Phật tử chúng
ta, đó là việc thỉnh quí vị pháp sư (chư
tăng, ni và cư sĩ, vừa hiểu sâu giáo lí, có trí tuệ
biện tài, vừa có nhiệt tâm hoằng pháp) thuyết pháp
và giảng dạy giáo lí. Giáo pháp có được giảng
dạy thường xuyên th́ công phu tu hành mới có kết
quả tốt, và Phật pháp mới tồn tại lâu dài ở
thế gian.
[20] Về hạnh nguyện
“Thỉnh Phật thường
trụ ở đời” (thỉnh Phật trụ thế)
này, trong đời sống thực tế hiện tại của
Phật tử chúng ta, đó là việc thỉnh các bậc
đạo cao đức trọng về thường trú
nơi đạo tràng (chùa, niệm Phật đường
v.v…) ở địa phương của chúng ta, để
thường trực dạy dỗ, hướng dẫn
chúng ta tu học. Bậc đạo cao đức trọng
này có thể là tăng, có thể là ni, hoặc cũng có thể
là cư sĩ, đạo hạnh sáng ngời, xứng
đáng làm chỗ nương tựa cho mọi người.
[21] T́ Lô Giá Na: nghĩa là ánh sáng chiếu soi cùng khắp
không bị chướng ngại, trong kinh điển
thường dùng để chỉ cho pháp thân của Phật.
Tông Pháp Tướng xưng T́
Lô Giá Na là thân tự tánh (tức pháp thân) của Phật; Lô
Xá Na là thân thọ dụng (tức báo thân) của Phật;
và Thích Ca Mâu Ni là hóa thân của Phật; hợp cả ba lại
xưng là Tam Tôn. Tông Thiên Thai cũng lập Tam Tôn, và xưng
T́ Lô Giá Na là pháp thân Phật, Lô Xá Na là báo thân Phật, Thích Ca
Mâu Ni là ứng thân Phật. Đối với Mật giáo,
T́ Lô Giá Na tức là Đại Nhật Như Lai, là đức
Phật bổn tôn, giáo chủ của Mật giáo. Như vậy,
Phật T́ Lô Giá Na cũng tức là Phật Thích Ca Mâu Ni, giáo
chủ cơi Ta-bà này.
[22] Tám bộ chúng (bát bộ chúng): là từ chỉ
chung cho các vị thần phát tâm bảo hộ Phật pháp;
cũng gọi là “tám bộ trời
rồng” (thiên long bát bộ), hay chỉ nói tắt là “tám bộ” (bát bộ), gồm
có: Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà (thần âm nhạc),
A-tu-la, Ca-lâu-la (chim cánh vàng), Khẩn-na-la (thần ca múa), và
Ma-hầu-la-già (thần trăn).
[23] Chẳng phải người: Từ Phật học
Hán Việt gọi là “phi nhân”,
là tiếng chỉ chung cho các loài không phải là loài người,
như Trời, Rồng, Càn-thát-bà, Ngạ-quỉ, Dạ-xoa,
A-tu-la, Địa-ngục v.v… Cũng có nơi, từ này
được dùng để chỉ chính xác cho chúng sinh ở
bốn cảnh giới: Trời, A-tu-la, Ngạ-quỉ, và
Địa-ngục.
[24] Hằng thuận: nghĩa là luôn luôn tùy thuận; ở
đây là thuận theo tâm ư của người khác với mục
đích t́m phương cách xứng hợp để hóa
độ; chứ không phải a dua theo những thói xấu
của người, làm cho họ ngày càng sa đọa thêm.
[25] Thọ lượng: là sự dài, ngắn của mạng
sống.
[26] Năm nghiệp Vô-gián: tức là năm thứ tội
nặng khiến phải đọa xuống địa ngục
Vô-gián. Đó là các tội: giết cha, giết mẹ, giết
bậc A-la-hán, phá hoại nếp sống ḥa hợp của
tăng đoàn, và làm cho thân Phật bị chảy máu. Chữ
“vô-gián”
nghĩa là không gián đoạn, không có kẽ hở, không ngừng
nghỉ. Địa ngục Vô-gián là loại địa ngục
có năm thứ không bao giờ gián đoạn: 1) Trải
qua vô số kiếp chịu khổ h́nh, suốt ngày đêm
không có khoảnh khắc nào gián đoạn; 2) Trong địa
ngục này có giường lửa bằng sắt, mỗi bề
rộng hàng vạn dặm, người thọ h́nh nằm
trên đó tự thấy thân ḿnh to lớn đầy khắp
trên chiếc giường đó, cả vạn người
thọ h́nh cũng nằm trên chiếc giường đó,
cũng tự thấy thân ḿnh to lớn trải khắp trên
chiếc giường đó, mà giữa người này và
người nọ không cảm thấy bị chướng
ngại nhau, tức là cả vạn người cũng
như chỉ là một người; 3) Tất cả các loại
h́nh phạt, các loại h́nh cụ (như núi dao, cây kiếm,
nước sôi, chảo dầu v.v…)
cứ liên tiếp nhau bổ xuống tội nhân, không
bao giờ gián đoạn; 4) Bất luận trời người
quỉ thần, già trẻ trai gái, giàu nghèo sang hèn, hễ tạo
tội địa ngục th́ nhất định phải
vào địa ngục để thọ quả báo đau khổ;
do đó, số chúng sinh ở trong địa ngục không
bao giờ gián đoạn, v́ chúng sinh tạo nghiệp vô
lượng; 5) Chúng sinh đă vào loại địa ngục
này th́ ngàn vạn kiếp khó thoát ra được; mà trong
ngàn vạn kiếp đó, cứ mỗi ngày đêm lại
phải trải qua vạn lần sinh ra, vạn lần chết
đi, cứ sinh tử như thế, không bao giờ gián
đoạn.
[27] Ma quân: Ma cũng gọi là ác ma, có nghĩa là giết
hại, phá hoại, chướng ngại, cướp
đoạt mạng sống, là từ dùng để chỉ
chung cho các loài hung ác, chuyên cản trở các việc lành, phá
hoại chánh pháp. Đó là những loại hung thần, ác quỉ,
loại người tàn bạo, nham hiểm, đầy tham
lam, hận thù, ngu si, là những thế lực độc
ác, những phiền năo, mê luyến, nghi ngờ v.v… thường
nhiễu hại chúng sinh. Nói chung, ma là tất cả các thế
lực vô minh, luôn luôn t́m mọi cách cản trở người
tu hành, làm gián đoạn con đường tiến đến
giác ngộ giải thoát.
[28] Dạ-xoa: là một loại ác quỉ, cực ḱ
hung hăn, chuyên ăn thịt người, thân thể nhẹ
nhàng, có thể phi hành trên không.
[29] La-sát: cũng là một loại ác quỉ, gần
giống như Dạ-xoa.
[30] Cưu-bàn-trà: là loại ác quỉ chuyên uống máu
người.
[31] T́-xá-xà: là loại ác quỉ chuyên hút tinh khí của
người.
[32] Bộ-đa: là loại ác quỉ xuất hiện bằng cách hóa
sinh, không có cha mẹ.
[33] 32 tướng đại trượng phu: tức
là 32 tướng tốt của Phật.
[34] Các căn: ở đây chỉ cho sáu căn, tức
toàn thể xác thân và tinh thần của con người, gồm
có: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ư.
[35] Ở đây có ư
nói, dù là bậc vua chúa th́ cũng thế mà thôi.
[36] Thọ kí: tức là đức Phật ấn chứng
cho một người trong đời vị lai sẽ
được thành Phật.
[37] Hai thừa: ở đây là chỉ cho thừa
Thanh-văn và thừa Duyên-giác.
[38] Không rơi lọt: tức không rơi lọt vào
ṿng luân hồi sinh tử.
[39] Như huyễn, giải thoát và uy lực là ba đặc
tính của cảnh giới Phật. Cảnh giới Phật là một
cảnh giới thị hiện, đầy biến hóa mầu
nhiệm, cho nên nói là “như huyễn”;
cảnh giới Phật hoàn toàn không có phiền năo, lầm
lỗi, cho nên nói là “giải
thoát”; cảnh giới Phật thật uy nghiêm và đầy
đủ công đức, cho nên nói là “uy lực”.
[40] Trưởng tử: tức là vị đệ tử
có công phu tu tập viên măn nhất, có đạo hạnh cao
thượng nhất của Phật.
[41] Hành nghiệp: tức sự nghiệp tu hành.
[42] Phật Vô Lượng Quang: tức đức Phật
A Di Đà.
[43] Một đời thành Phật (nhất sinh bổ xứ):
Từ “nhất sinh bổ xứ”,
gọi tắt là “bổ xứ”
nguyên có nghĩa là kiếp luân hồi cuối cùng; tức
là, chỉ một đời này là c̣n thuộc trong ṿng luân hồi
sinh tử, đời sau sẽ thành Phật ở thế
gian, vĩnh viễn giải thoát khỏi ṿng luân hồi.
Đó là quả vị cao tột của hàng Bồ-tát, gọi
là “Bồ-tát Đẳng-giác”, hoặc
“Bồ-tát Bổ-xứ”.
Đức Bồ-tát Di Lặc được xem là điển
h́nh cho quả vị này. Đời hiện tại, Bồ-tát
Di Lặc đang ngự tại cung trời Đâu-suất,
cho đến hết đời này, đời sau Ngài sẽ
hạ sinh ở nhân gian để thành Phật, nối tiếp
pháp vận của Phật Thích Ca Mâu Ni.
[44] Địa vị Quán-đảnh (Quán-đảnh vị):
cũng tức là Đẳng-giác, địa vị cao nhất
của hàng Bồ-tát trước khi thành Phật.