CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA

 QUYỂN 9

TAM TẠNG PHÁP SƯ NGHĨA TỊNH PHỤNG CHẾ DỊCH.

  

Giới thứ tư: Dối nói ḿnh đắc pháp thượng nhân.

          Nhiếp tụng:

Kiếp tối sơ Tỷ-la,

Năm trăm người đánh cá.

Bí-sô ở Lan-nhă.

Tự rơ ghi trái nhau. 

          Lúc bấy giờ Bạc-già-phạm ở nơi thành Quảng Nghiêm, trong ṭa nhà cao gác, bên bờ ao Di-hầu. Thời điểm ấy có năm trăm người đánh cá, bên sông Thắng Huệ, kết bạn cùng nhau sống. Tổ đánh bắt này có hai giàn lưới lớn, giàn thứ nhất tên là Tiểu Túc, giàn thứ hai tên là Đại Túc. Khi người mua cá ít th́ dùng giàn lưới Tiểu Túc, khi người mua cá nhiều th́ dùng giàn lưới Đại Túc. Khi có đại tiết hội th́ dùng cả hai giàn lưới để đánh bắt.

Thời gian khác ở thành Quảng Nghiêm có đại tiết hội, người mua cá nhiều nên phải sử dụng hết cả hai giàn lưới. Tổ viên chia hai toán, mỗi toán hai trăm năm mươi người. Mỗi toán phụ trách một giàn lưới. Người bên giàn lưới Tiểu Túc, đánh bắt được cá trạnh, tôm, cua đổ thành đống như đống lúa lớn trên bờ sông.

Bấy giờ, bên giàn lưới Đại Túc cho bủa lưới trong sông Thắng Huệ, có một con đại ngư Ma-kiệt ngủ quên ở trong biển cả bồng bềnh bị nước thủy triều đưa vào trong sông Thắng Huệ, lọt vào giàn lưới Đại Túc. Khi ấy toán ngư phủ hai trăm năm mươi người cùng nhau kéo lưới. Thân đại ngư Ma-kiệt bị lưới vây chặt khiến đại ngư thức dậy. Đại ngư dắt cả lưới và người theo ḍng mà kéo đi. Cả toán đều kinh hoàng, kêu la cầu cứu với toán lưới Tiểu Túc:

- Các bạn ơi! chúng tôi và lưới bị cá kéo đi, chết! Chết! Các bạn mau mau tiếp cứu chúng tôi với!

          Tức tốc toán Tiểu Túc chạy đến cùng kéo lưới với đồng bạn. Năm trăm người hợp sức cũng không sao kéo xuể nổi. Toàn bộ cả người và lưới cũng bị cá kéo đi. Tất cả đều hoảng hốt họ kêu cứu số người ở gần đó:

- Bà con mau mau cứu giúp với. Chúng tôi năm trăm người và giàn lưới Đại Túc bị con cá lớn kéo ch́m theo nước. Chết thôi!

Bà con đều chạy đến góp tay kéo lưới.

Khi ấy mọi người sinh sống kế cận, kẻ chăn trâu, người chăn dê, kẻ quơ củi, người hái rau, kẻ sống theo chánh đạo, người sống theo tà đạo, nói chung tất cả hạng người dừng sinh hoạt, đổ dồn về cứu giúp. Có đến trăm ngàn vạn người cùng hợp sức kéo lưới. Mọi người thân thể đều bị xây xác, thương tổn, giàn lưới cũng bị xé rách nhiều nơi và vô cùng khó khăn, cực nhọc trong sự may mắn mới kéo được con cá nằm trong lưới lên trên bờ... Con Ma-kiệt đại ngư này có mười tám cái đầu, ba mươi sáu con mắt. Đầu nào mắt nấy như đầu người, đầu voi, đầu ngựa, đầu lạc đà, đầu lừa, đầu trâu, đầu khỉ, đầu sư tử, đầu cọp, đầu beo, đầu gấu, đầu chó, đầu heo, đầu trâu nước, đầu mèo, đầu nai, đầu cá.

Hồi ấy, người xa kẻ gần bốn phương ầm lên rằng:

- Toán ngư phủ năm trăm người sống bên bờ sông Thắng Huệ, bủa lưới Đại Túc trong sông, bắt được một con cá, kéo lên bờ. Con cá ấy h́nh thù kỳ dị, có đến mười tám cái đầu, ba mươi sáu con mắt.

Thế rồi sự việc này được đồn ầm lên khắp nơi. Mọi người, trăm ngàn rồi không kể xiết nỗi, người và người đen kịt tranh nhau tụ về bờ sông Thắng Huệ, nơi đánh bắt được cá. Hoặc v́ tánh hiếu kỳ mua vui mà thiên hạ đến xem, hoặc người do thiện căn đời trước sớm tỉnh thức giác ngộ cũng được khiến đến.

Trong thành Quảng Nghiêm, ngoại đạo Lục sư cũng lấy làm vui thích cùng kéo đến để xem cá. Cuồn cuộn kéo về, mọi người quyết tâm phải tận mắt xem cho bằng được con cá kỳ dị kia. Họ trao đổi với nhau:

- Các Ngài, có vị nào biết được cái đầu này là cái đầu loài ǵ không ?

Họ sửng sốt, chỉ biết đứng nh́n và ḷng họ hiếm thấy sự kinh ngạc nào như hôm nay.

          Thường pháp của chư Phật là quan sát thế gian, không một thứ ǵ không nghe thấy, không một thứ ǵ không hiểu biết, luôn luôn khởi ḷng đại bi nhiêu ích lên khắp tất cả. Lấy cứu độ làm điều tối thắng cao cả nhất, vĩ đại nhất, hùng mạnh nhất, không có ngôn ngữ thứ hai nào khác nữa, duy nhất nương nơi định, trụ nơi tuệ, hiển phát Tam minh, Thiện tu Tam học, Thiện điều Tam nghiệp, độ tứ Bộc lưu, an Tứ Thần túc. Trong đêm dài tăm tối, tu bốn Nhiếp hạnh, xả trừ năm cái, xa ĺa năm chi, siêu việt năm đạo, sáu căn đầy đủ, sáu độ viên măn, khắp thí bảy tài, mở bảy giác hoa, xa hẳn tám pháp của đời, thấy rơ tám đường chánh. Vĩnh viễn đoạn trừ chín kiết. Ngời sáng an vui chín định. Đầy đủ mười lực, danh vang mười phương.

Trong các bậc tự tại Ngài là Bậc thù thắng tột cùng. Chứng đắc Vô-úy, hàng phục ma oán. Âm thanh của Ngài vang rền vũ trụ là tiếng trống của loài chúa sơn lâm. Ngày đêm sáu thời thường dùng Phật nhăn, quan sát thế gian. Cái ǵ tăng, cái ǵ giảm, ai gặp khổ nạn, ai đang vào ác thú. Ai ch́m trong đống bùn dục lạc, ai có thể nhận sự giáo hóa.

Dùng phương tiện nào cứu họ ra khỏi. Không có tài sản của Thánh, khiến cho họ có Thánh tài. Đem trí An-thiện-na, phá màng Vô minh. Người không có thiện căn, khiến cho họ trồng căn lành. Người có thiện căn, khiến cho họ tăng trưởng. Đặt họ vào cơi người, trời, an ẩn không trở ngại, thẳng đến thành Niết-bàn, như có lời kệ sau:

Ví biển triều lên, xuống

Hạn kỳ nào mất đi

Th́ giáo hóa của Phật

Tế độ không thời gian

Như mẹ sanh con một

Bảo hộ con đến cùng

Chỗ giáo hóa của Phật

Mẫn niệm hơn thế kia

Các hữu t́nh với Phật

Phật từ niệm không rời

Nghĩ cứu họ khổ nạn

Như trâu mẹ theo con.

          Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn khởi ư nghĩ: “Con cá Ma-kiệt này nay gặp khổ ách, đối với Phật, trước đây nó có trồng căn lành. Ta nhân cơ hội này nên đến bên bờ sông Thắng Huệ phóng lưới Đại giáo, hóa độ loài hữu t́nh”.

          Thường pháp của các đức Phật khi c̣n an trụ nơi thế gian, chưa vào Niết-bàn, trường hợp muốn lân mẫn để giáo hóa loài hữu t́nh, thường tới lui nơi loài Nại-lạc-ca, bàng sanh, Ngạ quỷ, Nhơn thiên... hoặc đến nơi rừng thây chết, hoặc đến chỗ sông nước. Nay, do sự việc này, Thế Tôn muốn đến nơi bên bờ sông Thắng Huệ.

Đến nơi Ngài liền nở một nụ cười, từ miệng phóng ra ánh sáng năm sắc. Hoặc khi chiếu xuống hoặc lúc chiếu lên. Ánh sáng chiếu xuống th́ đến ngục Vô gián cùng các ngục khác. Chúng sanh nào đương bị nóng đốt th́ liền được mát mẻ c̣n chỗ lạnh lẽo liền được ấm áp. Các loài hữu t́nh ấy đều được an lạc. Họ đều khởi lên ư niệm: “Ta cùng mọi người đang từ nơi cảnh khổ địa ngục được sanh nơi cơi khác chăng!?”

          Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn sau khi làm cho các loài hữu t́nh kia sanh tín tâm, lại hiện nhiều các tướng khác. Khi thấy các tướng này họ đều khởi ư niệm: “Chúng ta không c̣n phải chết nơi đây mà được sanh về cơi khác . Xong, chúng ta chắc chắn do sức oai đức của bậc Đại thánh, khiến thân tâm chúng ta hiện được thọ sự an lạc, đă sanh kính tín, đủ năng lực diệt được các khổ, đối với các nhơn Thiên Thọ thân thắng diệu, sẽ thành pháp khí thấy lư Chơn đế”.

Nếu ánh sáng khi chiếu lên th́ đến cơi trời sắc cứu cánh. Trong ánh sáng diễn thuyết các Pháp Khổ, Không ,Vô thường ,Vô ngă...và nói hai bài kệ :    

Người đương là Phật giáo,

Cần cầu đạo xuất ly,

Phá được giặc sanh tử,

Như voi phá nhà tranh,

Trong pháp luật của Phật,

Dũng tiến thường tu học,

Hay bỏ đường sanh tử,

Biên tế khổ không c̣n.

          Khi ánh sáng kia chiếu khắp ba ngàn, đại ngàn thế giới rồi thu trở về nơi đức Phật. Nếu đức Phật Thế Tôn nói việc quá khứ th́ ánh sáng vào từ sau lưng, nếu nói việc vị lai th́ ánh sáng vào từ trước ngực.

         Nếu nói việc của địa ngục th́ ánh sáng vào từ dưới chân. Nếu nói việc bàng sanh th́ ánh sáng vào từ gót chân. Nếu nói việc Ngạ quỷ th́ ánh sáng vào từ ngón chân.

         Nếu nói việc của loài người th́ ánh sáng vào từ đầu gối vào. Nếu nói việc của Lực Luân Vương th́ ánh sáng vào từ bàn tay phía bên trái. Nếu nói việc của Chuyển Luân Vương th́ ánh sáng vào bàn tay bên phải.

         Nếu nói việc cuả cơi Trời th́ ánh sáng vào từ rún. Nếu nói việc của Thanh-văn th́ ánh sáng vào từ miệng. Nếu nói việc của Độc Giác th́ ánh sáng vào từ giữa hai mi mắt.

         Nếu nói việc của A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề th́ ánh sáng vào từ đảnh vị. Lúc bấy giờ ánh sáng xoay quanh đức Phật ba ṿng rồi từ rún vào.

         Khi ấy, Cụ thọ A-nan-đà chấp tay cung kính bạch Phật rằng:

         - Kính bạch đức Thế Tôn Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác! Ngài vui vẻ dịu ḥa mỉm cười, chẳng phải không có nhơn duyên, liền nói bài kệ thỉnh Phật:

                          Muôn màu sắc, miệng từ phóng sáng

                          Sáng dịu ngàn, phủ khắp Đại thiên

                          Cho đến tận mười phương quốc độ

                          Như mặt trời chiếu khắp hư không

                          Nhân Tối thắng, chúng sanh có Phật

                          Phật hay trừ kiêu mạn, khổ đau

                          Không nhân duyên, kim khẩu khép lời

                          Nụ cười ấy, duyên kỳ sắp nói

                          Đấng Mâu-ni, lắng đọng con chờ

                          Muốn nghe lắm, v́ con Phật thuyết

                          Như tiếng rống rền sư tử chúa

                          Tâm nghi này xin giải chúng con

                          Phật như Diệu Sơn vương biển cả

                          Nếu thiếu duyên, bất động im ĺm

                          Tự tại từ bi, hiện mĩm cười

                          Khát ngưỡng, v́ đâu xin Phật nói!

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo A-nan-đà rằng:

- Thật sự là như vậy A-nan-đà! Chẳng phải không có nhơn duyên mà Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác lại hiện ra nụ cười. Ông nay nên rao truyền các Bí-sô: Như Lai muốn du hành đến bờ sông, Cụ thọ nào thích đi với đức Như Lai th́ chuẩn bị y bát.

Tôn giả A-nan kính thừa mệnh của đức Như Lai rồi, liền rao truyền:

- Này các Cụ thọ! Nay, Phật muốn du hành đến bờ sông, Cụ thọ nào muốn cùng đi với Thế Tôn th́ chuẩn bị y bát.

Các Bí-sô vâng theo lời dạy liền thọ tŕ y bát đến nơi đức Phật trụ. Lúc ấy, đức Thế Tôn đến nơi sông Thắng Huệ:

Tự ḿnh điều phục, th́ điều phục vây quanh. Tự ḿnh tịch tịnh, th́ tịch tịnh vây quanh. Giải thoát, th́ giải thoát vây quanh. An ẩn, th́ an ẩn vây quanh. Thiện thuận , th́ Thiện thuận vây quanh, A-la-hán, th́ A-la-hán vây quanh. Ly dục th́ ly dục vây quanh. Đoan nghiêm, th́ đoan nghiêm vây quanh.

Như rừng Chiên-đàn, th́ Chiên-đàn vây quanh. Như tượng vương, th́ các voi vây quanh. Như sư tử vương, th́ sư tử vây quanh. Như đại ngưu vương th́ các trâu vây quanh. Cũng như nga vương th́ các con ngỗng vây quanh.

Như Diệu sí điểu th́ các chim vây quanh. Như Bà-la-môn th́ học tṛ vây quanh. Cũng như thầy thuốc giỏi, bệnh nhơn vây quanh. Như đại tướng quân, các binh chủng vây quanh. Như người dẫn đường, người đi đường vây quanh. Như thương chủ, thương khách vây quanh.

Như đại Trưởng giả, mọi người vây quanh. Như đại quốc vương, quần thần vây quanh. Như Chuyển Luân Vương, Thiên tử vây quanh. Cũng như trăng sáng, các ngôi sao vây quanh. Cũng như nhật luân, ngàn ánh sáng vây quanh.

Như Tŕ quốc Thiên vương, chúng Càn-thát-bà vây quanh. Như Tăng trưởng Thiên vương, chúng Câu-bạn-trà vây quanh. Như Xú mục Thiên vương, loài rồng vây quanh. Như Đa-văn Thiên vương, chúng Dược xoa vây quanh.

Như Tịnh diệu vương, chúng A-tô-la vây quanh. Cũng như Đế Thích, Tam thập tam thiên vây quanh. Như  Phạm Thiên Vương, phạm chúng vây quanh. Cũng như biển cả trạm nhiên an tịnh. Cũng như đám mây lớn phủ kín mù mịt.

Cũng như tượng vương qua khỏi cơn say rượu, Điều phục các căn, oai đức tịch tịnh, trang sức bằng ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp tự nghiêm thân. Một tầm viên quang chiếu soi hơn ngàn mặt trời, thong thả bước đến như núi báu di chuyển. Trụ nơi Thập lực, tứ Vô sở úy, đại bi, tâm niệm. Vô lượng công đức tất cả đều đầy đủ.

Các đại Thanh-văn, Tôn giả A-thận-nhă, Kiều-trần-như, Tôn giả Mă Thắng, Tôn giả Bà-sắt-ba, Tôn giả Đại Danh, Tôn giả Vô Diệt, Tôn giả Xá-lợi-tử, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, Tôn giả Ca-nhiếp-ba, Tôn giả A-nan-đà, Tôn giả Hiệt-ly-phạt-để. Chúng đại Thanh-văn như vậy, và chúng Bí-sô cùng nhau đến bên sông.

Lúc ấy, Đại quần chúng, từ xa thấy đức Thế Tôn và các Bí-sô càng lúc đến gần họ hơn. Hạng người không có đức tin nói rằng:

- Các người biết chăng: Tôi nghe Sa-môn Cù-đáp-ma, đoạn các hỷ lạc mà ông ta vẫn c̣n náo nức đến xem con cá này.

Các người có ḷng kính tín lại cùng nhau nói:

- Các người biết chăng: Như đức Thế Tôn đă xa ĺa các hỷ lạc từ lâu, đâu chẳng phải hôm nay nhơn vấn đề con cá này mà v́ các Đại chúng rủ ḷng đại từ bi, muốn nói pháp diệu kỳ lạ nào đây ?!

Họ cùng nhau có lời tụng rằng:

Mâu-Ni không c̣n tâm hỷ lạc

Kẻ vô tín sanh ḷng hỷ báng

Hôm nay Phật đến với nơi này

                             Chắc v́ Đại chúng, lời vi diệu.

          Lúc bấy giờ, Đại chúng thấy đức Thế Tôn đến, tất cả đều lấy làm rung động. Được điều này là do đức Phật Thế Tôn khi làm một vị Bồ-tát, đối với sư Tăng, cha mẹ khắp mọi nơi đều tôn trọng, luôn luôn đem ḷng cung kính. Khi đă vào trong Đại chúng, đức Thế Tôn đến ngồi uy nghiêm vào chỗ ngồi, phía sau Ngài là chúng Bí-sô. Ngài bảo năm trăm ngư phủ rằng:

       - Các Hiền Thủ! Các ngươi, thân trước đă từng làm nghiệp ác. Do nhơn duyên ấy cho nên sanh vào hạng người thấp hèn nhất, làm nghề đánh bắt cá tôm. Nay các người lại cầm dao, cầm lưới làm nghiệp sát hại để tự nuôi sống. Với hiện tại tạo chết chóc thế này th́ c̣n chỗ nào để các ông thọ sanh ?!

Toán ngư phủ thưa:

- Chúng tôi không biết nên làm như thế nào bây giờ ?!

          Đức Thế Tôn bảo:

- Nay, các ông nên thả cá trạnh và các loài thủy tộc trở lại nước.

          Tất cả đều nhất trí:

- Như Thế Tôn dạy, chúng tôi thả tất cả về nước.

          Bấy giờ, đức Thế Tôn dùng Thần lực khiến các cá trạnh và các loại bơi lội trong nước trở về sông Thắng Huệ chỉ độc nhất con cá Ma-kiệt không bơi đi. Nó nhớ việc đời trước, và có thể nói bằng tiếng người, cùng với đức Phật đàm thoại. Đức Thế Tôn hỏi con Ma-kiệt rằng:

- Ngươi tên là Kiếp-tỷ-la phải chăng ?

- Chính tôi tên là Kiếp-tỷ-la. - Ma-kiệt trả lời.

- Ông từng tạo thân ngữ ư ác hành phải chăng ? - Đức Thế Tôn hỏi.

- Chính tôi từng làm như vậy. - Cá Ma-kiệt xác nhận.

- Ông có biết ba ác nghiệp đó, đưa đến quả báo ác dị thục chăng ? - Đức Thế Tôn hỏi.

- Tôi biết điều đó. - Cá công nhận.

Đức Phật nói:

- Ông biết nghiệp ấy tự thân thọ lấy quả báo chăng ?

- Tôi hiện thọ đây. - Cá nói.

Đức Phật hỏi:

- Ai là người ác tri thức đối với ngươi ?

- Mẹ tôi là người tri thức ác đối với tôi. - Cá Ma-kiệt trả lời.

- Mẹ ông nay sanh vào nơi nào ? - Đức Phật hỏi

- Bà ấy sanh nơi Nại-lạc-ca. - Cá Ma-kiệt nói.

- C̣n ông sanh vào đường nào ? - Phật hỏi.

- Tôi sanh trong loài bàng sanh. - Cá nói.

- Sau khi thân này chết, ông sanh vào cơi nào ? - Đức Phật hỏi.

- Bỏ thân này rồi, tôi cũng sanh vào Nại-lạc-ca. - Ma-kiệt nói.

Lúc bấy giờ con cá Ma-kiệt nói như vậy rồi liền khóc lóc! Đức Thế Tôn nói bài kệ:

Người đọa vào bàng sanh,

Nay tôi không nại hà!

Không gian này không rỗi

Khóc kể có ích ǵ!

Tôi nay rất thương ngươi!

Ngươi nên phát thiện tâm.

Nhàm chán thân bàng sanh,

Sẽ được sanh lên Trời!

Khi đă được nghe kệ rồi cá Ma-kiệt, đối với đức Thế Tôn, rất sanh ḷng kính tín. Đức Thế Tôn v́ cá Ma-kiệt nói Tam pháp cú. Hiền thủ, nghe đây:

Các hành đều vô thường,

Các pháp đều vô ngă,

Tịch tịnh tức Niết-bàn,

Đó là ba pháp ấn.

Lúc ấy, tất cả người có mặt đều sanh tâm hy hữu, cùng nhau nghị bàn:

- Tại sao con cá này lại được đức Thế Tôn đoái nghĩ hỏi đến, khiến nó nhớ được đời trước của nó ? Tại sao nó lại nói được tiếng người, cùng Phật đàm thoại ?

Các người nên biết:

- Đại Thánh Như Lai oai đức tôn trọng, chúng ta quá nhỏ bé đâu dám hỏi han ǵ! Ta nên cùng đến Tôn giả A-nan-đà để hỏi lư do này. Tôn giả nói thế nào, chúng ta tín thọ thế ấy.

Sau đó, người có ḷng tin đều đến Tôn giả A-nan-đà. Họ kính lễ Tôn giả rồi thưa hỏi:

- Bạch Tôn giả, tại sao cá Ma-kiệt lại nói tiếng người một cách rành rẽ ? Tại sao con cá này lại cùng đức Thế Tôn bàn chuyện đời trước ?

Khi ấy Tôn giả A-nan-đà nói với mọi người rằng:

- Các ngươi nên đến hỏi đức Thế Tôn.

Mọi người với tất cả sự tôn kính, thưa Tôn giả A-nan-đà rằng:

- Như Lai Thế Tôn oai đức trang nghiêm kính trọng, chúng tôi là bọn dung ngu, không dám coi thường xúc phạm Ngài.

Tôn giả A-nan-đà ghi nhận điều này và nói:

- Cũng giống như các ông, trước oai đức trang nghiêm của Phật, tôi cảm thấy bối rối lắm. Nhưng nay tôi sẽ v́ các ông đến lược hỏi Ngài về vấn đề này.

Thế rồi Cụ thọ A-nan-đà liền từ chỗ ngồi đứng dậy đến đức Thế Tôn, lễ xong túc rồi, đứng qua một bên, thưa:

- Kính bạch đức Thế Tôn, con cá này do nhơn duyên ǵ mà hiểu được tiếng người, cùng đức Phật Thế Tôn luận nói việc đời trước ?

Lúc bấy giờ Thế Tôn bảo Ngài A-nan-đà rằng:

- Ông nay muốn nghe chuyện đời trước của con cá Ma-kiệt này chăng ?

Ngài A-nan-đà vui mừng bạch đức Thế Tôn rằng:

- Bạch Ngài, chúng con muốn được nghe vấn đề này. Nay chính là lúc, cúi xin đức Thế Tôn v́ mọi người nói về nhơn duyên đời trước của con cá này. Bí-sô chúng con và các Đại chúng được nghe pháp để rồi tín thọ phụng hành.

Đức Phật bảo ông A-nan-đà:

- Ông phải hết sức tập trung lắng nghe cho kỹ, nghe để chiêm nghiệm tư duy và khéo vận dụng vấn đề. Này A-nan:

Thuở đời quá khứ, trong đời Hiền kiếp này, khi con người sống lâu hai vạn tuổi, có đức Phật Thế Tôn xuất hiện ở đời, hiệu là Ca-diếp-ba Như Lai, Ứng Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Viên Măn, Thiên Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngư, Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư Phật, Bạc-già-phạm, ở nơi thành Bà-la-nê-tư, chỗ Tiên nhơn đọa xứ thuộc rừng Thí Lộc cùng với đầy đủ chúng đại Bí-sô hai vạn người. Vị vua trị v́ trong thành tên là Ngật-lật-chỉ.

Bấy giờ dân chúng sống đời an lạc, lúa thóc được mùa sung túc, nhà nào cũng đầy ấp nông sản phẩm, không có chiến tranh giặc giă tài giảm binh bị, cũng không bệnh khổ cướp trộm hoành hành. Lấy chánh Pháp của Đại Pháp Vương làm pháp lư trị nước. Trong nước này có đồng tử Bà-la-môn, nói rằng:

- Từ bổn quốc đến tận phương Nam xa xăm ở đâu cũng có người Bà-la-môn, thông hiểu các kỹ nghệ và giỏi giải thích Tứ minh. Người khắp mọi miền xa, gần đều hội tụ, quy phục.

Thế rồi, vị Đồng tử ấy đến chỗ ở Bà-la-môn kia. Trước Bà-la-môn Đồng tử tỏ bày ḷng chí kính rồi ngồi qua một bên. Người Bà-la-môn kia hỏi:

- Thiện lai, Đồng tử! Ông từ đâu đến, đến đây có việc ǵ ?

- Tôi từ Trung Quốc đến. Tôi đến ḷng mong cầu Đại sư cho tôi hầu hạ để học hỏi, ngơ hầu thân thừa đạo nghiệp. - Đồng tử thưa.

Bà-la-môn hỏi:

- Ông muốn cầu học sách ǵ ?

- Tôi muốn cầu học Tứ minh luận. - Đồng tử thưa.

Vị thầy bảo:

- Lành thay! Ông nên học sách ấy.

Vị Bà-la-môn này rất vừa ḷng với công việc dạy này và vị Đồng tử bắt đầu ngay việc thọ học.

Các vị thọ học, cứ đến ngày nghỉ, hoặc đến sông, hồ tắm gội, hoặc đến nơi thành thị “rửa mắt” dạo quanh, hoặc đi t́m cây thơm để dùng cúng tế. Hôm ấy là ngày nghỉ, Đồng tử cùng với bọn học tṛ rủ nhau đi hái củi. Nhân trên đường đi họ cùng nhau hỏi rằng:

- Chúng ta đều là ḍng dơi Bà-la-môn. Xin được biết từ đâu đến ?

Một người trả lời:

- Tôi từ phương Đông đến.

Một người trả lời:

- Tôi từ phương Tây đến.

Một người trả lời:

- Tôi từ phương Bắc đến.

Đến lược Đồng tử, Đồng tử bảo:

- Tôi từ Trung Quốc đến.

Mọi người hỏi rằng:

- Mọi miền đất nước khác nhau, đại khái tôi đều nghe biết, riêng phép tắc của Trung Quốc chưa hề nghe nói đến.

Họ liền nói tụng văn:

     Trí tuệ từ phương Đông

     Nước phía Tây, hai lưỡi

     Nước phía Nam, kính thuận

     Ác khẩu ở phương Bắc.

Khi ấy các người thọ học hỏi Đồng tử rằng:

- Trung Quốc của ông nó là như thế nào ?

Đồng tử nói:

- Trung Quốc của tôi đặc biệt hơn các phương: Trái cây ngọt lúa nước thơm ngon thật là sung túc. Sản lượng chăn nuôi thật dồi dào đa dạng. Đời sống an ổn sung sướng vui tươi. Rất nhiều nhân vật nặng ḷng cứu giúp. Họ thông minh, phước đức tŕnh độ kỹ thuật hơn người. Có sông Kinh-già trong mát an lành. Ḍng chảy của nó êm đềm giữa đôi bờ con sông. Có mười tám chỗ Tiên nhơn trụ chỉ, mỗi vị tu luyện khổ hạnh ṛng ră hiện đă lên Trời.

Những người học tṛ lại nói tiếp:

- Nơi đất Trung quốc có những vị thông tuệ biện tài, khéo hay đàm luận như thầy của ta chăng ?

Đồng tử nói:

       - Hiện nay trong Trung quốc có một vị Luận sư như vua Sư Tử, tự tại vô ngại, thầy của ta diện kiến chắc tự chuốc lấy xấu hổ.

Khi được nghe những lời khen ngợi của Đồng tử về cái đẹp cái tốt lành của Trung phương th́ các học tṛ lấy làm thích thú. Sau ấy, các Đồng tử mỗi người mang củi hái được về nhà vị thầy của ḿnh. Đặt củi đau vào đó xong xuôi; các học tṛ đến pḥng của thầy, mỗi đứa đều thưa với thầy rằng:

- Thưa thầy Đồng tử này hết ḷng khen ngợi cái đẹp trung phương khiến cho mỗi đứa chúng con đều lấy làm thích, muốn đến đó.

Vị bổn sư nghe xong trả lời: 

- Trung phương tốt đẹp, ai cũng khen không tiếc lời, xong có thể nghe bằng tai chứ không nên vội đến.

Các đồ đệ lại thưa với thầy ḿnh rằng:

- Đồng tử ấy nói hiện nay trong nước ấy có một vị luận sư, như vua Sư Tử, tự tại không ngại, thầy của ta nếu diện kiến chắc chuốc lấy xấu hổ.

Vị thầy dạy, liền ôn tồn trả lời:

- Vùng đất nào dồi dào trân bảo th́ lại có nhiều người tài ba lỗi lạc là chuyện thường. Tôi đâu nào có tự phụ để phân chia thiên hạ ?! Tôi đau có bảo rằng, duy nhất chỉ có tôi là người hơn thiên hạ .

Đồ chúng nghe xong, thưa với thầy rằng:

- Nếu như vậy th́ nay chúng con muốn được đến đó. Một là để xem cho biết Trung quốc, hai là được tắm sông Tiên tắm. Đối với vị đại Luận sư th́ cầu xin được thân cận thọ giáo. Một mặt chế ngự được mọi vấn đề luận đàm, mặt khác nổ ra kích động tranh luận làm sống dạy danh dự để gặt hái tài lợi.

Khi ấy, Bà-la-môn sư bản tính thiếu quyết đoán lại rất yêu mến học tṛ. Bảo với đồ chúng rằng:

- Các người nên đem theo đầy đủ tất cả đồ dùng của tôi, y phục da nai, ba loại cầm tay quân tŕ và khí cụ thờ cúng. Nay tôi cùng các người đến đó để t́m thầy học hỏi.

Tất cả học tṛ, theo lời dạy của thầy cùng nhau đến Trung quốc. Hễ cứ vừa đến thành ấp nào, nơi khu vực ở, liền công bố “Đại luận”. Nhiều người đến để luận thuyết đều bị thầy tṛ khuất phục bẻ găy. Xe, kiệu của các Luận sư bị đập phá họ đành ôm nhục mà ra về. Có kẻ lấy b́nh tro đập lên trên đầu họ, giống như trường dạy bắn cung, chim, quạ tung bay tán loạn, hoặc có nơi, gồm toàn đệ tử gần xa xưng tụng đón tiếp đi theo họ với dây lụa, dù lọng tràng phan. Thế rồi, vị Bà-la-môn lần lượt du hành. Các nơi thành ấp đă qua, thầy tṛ Bà-la-môn đều làm thượng thủ.

Khi đến thành Bà-la-nê-tư, vị Bà-la-môn tự nói lên ư nghĩ: “Tại  sao nay ta bỏ gốc mà đi lấy ngọn. Phàm người thông minh, biện kích lỗi lạc, cùng với các học sĩ khác đều tập trung đến sân vua. Ta nên đích thân đến thẳng chỗ vua”.

Nghĩ như vậy rồi, vị Bà-la-môn bèn đến vua Ngật-lật-chỉ. Khi vừa đến nơi, theo nghi thức Bà-la-môn, chú nguyện cho nhà vua: “Hàng phục được các oán địch, sống lâu không bệnh”. Qua xong phần chú nguyện, Bà-la-môn ngồi một bên rồi khải bạch với vua:

- Đại vương biết cho, tôi từ bổn quốc sang đến đây để tầm sư. Tôi đă từng học tập chút ít văn tự về luận nghị, tôi muốn nơi vương quốc này kiến lập nghị trường, dám cùng với mọi người đích thân tranh luận, nạn vấn làm sáng tỏ vấn đề.

Nhà vua nghe xong, liền hạ lệnh cho vị đại thần:

- Trong nước ta có vị luận sư nào có khả năng đàm luận đáp trả với người này hay chăng ?

Muôn tâu đại vương:

- Có. - Vị đại thần mạnh mẽ trả lời.

-  Người ấy ở đâu ? -  Nhà vua phán hỏi.

- Vị Luận sư ấy ở tại tụ lạc... - Vị đại thần tâu rơ địa chỉ. Vị ấy tên là Kiếp-tỷ-la-thiết-ma Bà-la-môn, rất giỏi biện giải các thứ luận cũng như Tứ minh. Vị ấy có khả năng lập luận vững chắc và bằng luận nghĩa của ḿnh phá được phương pháp luận của đối phương. Đại trí, thông minh, vị ấy như ngọn lửa vụt lên cao vút, đối với mọi người vị ấy là vô địch Luận sư.

Nhà vua nghe rất phấn khích bảo rằng:

- Triệu gấp vị Lụân sư ấy đến.

Vị đại thần phụng lệnh nhà vua triệu vị đại Luận sư đến. Đến chỗ vua như thường lệ vị Luận sư chú nguyện nhà vua như trước, rồi ngồi qua một bên.

Vị đại thần khải bạch:

- Đây là vị giải Luận Đại sư, được gọi đến theo lệnh của Đại vương.

Nhà vua liền nói:

- Thiện tai, Đại sư! Này Đại sư, trước ta, Đại sư có thể cùng với vị Bà-la-môn kia vấn nạn hay chăng ?

- Tôi có thể. - Vị Đại Luận sư dơng dạc trả lời.

Vua liền sắc chỉ cho chư thần rằng:

- Các khanh nên trang hoàng thật đẹp luận trường, bạn bè của hai bên đều có chỗ ngồi trang trọng, thoải mái.

Đại thần phụng mệnh trang sức nghị trường xong, nhà vua chỉnh giá đến luận trường. Sau khi nhà vua an tọa, vị đại thần tâu:

- Muôn tâu Đại vương ! Bên nào lập tôn trước ?

Nhà vua nghiêm chỉnh tuyên bố khai mạc nghị trường và nói:

- Vị Bà-la-môn từ phương Nam xa xăm đến, theo lễ của chủ khách xin mời vị ấy lập luận tôn trước ?

Vị Bà-la-môn kia liền lập luận tôn. Lời lẽ của luận tôn rất khéo léo, gồm năm trăm bài tụng. Hùng biện vấn đề rơ ràng sắc bén nhưng người nghe hiếm hiểu được. Kiếp-tỷ-la-thiết-ma một khi nghe qua nhận định rơ, phân tích chỗ đúng, chỗ sai, biện minh chỗ kia là tương vi, chỗ này là bất định, chỗ khác không thành tựu. Khi bị Kiếp-tỷ-la phá vỡ luận tôn, Bà-la-môn đứng sững trân im lặng. Phàm người luận nghị không thể trả lời được th́ liền bị rơi ngay vào chỗ phụ bạc rẻ rúng. Khi chứng kiến sự đắc thắng này nhà vua vô cùng hoan hỷ, liền hỏi:

- Đại sư cư trú nơi nào ?

- Tâu đại vương tôi ở tại tụ lạc...

Nhà vua hân hoan nói:

- Đại sư xứng đáng là một Luận sư đại tài. Tụ lạc của Đại sư cũng được thưởng công như Luận sư.

Luận  sư liền bái tạ nhà vua, hoan hỷ lui về.

Đă thu hoạch được thắng lợi như thế, Kiếp-tỷ-la giàu có vô cùng. Ông ta bèn cưới một người vợ mới... Thời gian chưa lâu sanh một hài nhi. Ngày mới sanh, đầu của hài nhi, tóc màu vàng phủ kín. Đủ hai mốt ngày, tập hợp cả thân tộc, yến tiệc vui mừng, nhằm đặt tên cho hài nhi.

Cha hài nhi thưa hỏi thân tộc:

       - Nay đứa con trai của tôi, thân tộc muốn đặt tên cháu là ǵ ?

Thân tộc bảo rằng:

       - Hài nhi là con của Kiếp-tỷ-la-thiết-ma, lúc mới sanh, tóc của hài nhi lại là sắc của Kiếp-tỷ-la, nên đặt tên cho cháu là Kiếp-tỷ-la.

Đặt tên xong, được đặt biệt nuôi dưỡng, bú mớm toàn sữa tươi ngon bổ và các loại Tô. Tùy thời và sở thích của hài nhi mà khéo chăm sóc. Y phục th́ cũng theo thời tiết, mặc toàn thứ vải vóc xinh xắn, mượt mà đắc giá vô cùng. Hài nhi lớn nhanh thấy rơ, xinh đẹp như hoa sen ra khỏi nước. Tuổi vừa lớn khôn, được học tập thư ấn, toán số. Thông minh hiểu ngay mọi việc mà đời thường đứa bé phải nắm bắt. Kế đó, học phép tắc oai nghi của Bà-la-môn, như cách cầm tro, cầm đất và cầm b́nh nước, pháp tắm gội, học về phạm nghi thanh tịnh.

Học các luận Hư thanh, Bồng thanh, Tứ minh, bao gồm Hiệt Lực minh luận, Da-thọ minh luận, Ta-ma minh luận, A-thát minh luận, tự ḿnh hiểu rơ cách thờ cúng, tế lễ dạy người hiểu rơ cách thờ cúng, tế tự. Tự ḿnh đọc tụng, dạy người khác đọc tụng. Cách bố thí, cách nhận tài vật, hiểu rơ phương pháp phép tắc của sáu việc, thành vị đại Bà-la-môn, thông suốt các kinh sách, sáng tạo làm nổi bật tôn luận của ḿnh, bẻ găy được luận cứ của người khác, trí tuệ thông mẫn, sáng rực như ngọn đuốc lớn.

Sau đó một thời gian Kiếp-tỷ-la-thiết-ma dạy năm trăm đứa con của Bà-la-môn tụng kinh sách của Bà-la-môn trong đó con của Kiếp-tỷ-la-thiết-ma cũng tham dự. Nhân việc học đứa con, thưa hỏi cha rằng:

- Chữ “Hiệt-lợi-giá”, nghĩa của nó thế nào ?

Người cha bảo với con:

- Chữ của con hỏi đó, nghĩa của nó rất sâu xa, các bật thầy trước đây cùng nhau truyền dạy cũng khó mà giải thích cho rơ ràng.

Người con lại hỏi:

- Vô lẽ, các bậc Đại sư kia lại không có nghĩa để định cho nó hay sao ? Song con nghĩ kỹ ít ra c̣n có cái nghĩa “y hy” (cầu mong vào sự nương tựa).

Người cha nghe rồi liền có ư nghĩ: “Con hơn cha là nhà có phúc. Người thế gian phải thế. Nay Kiếp-tỷ-la tài năng về Đạo hơn ta, ta nên giao phó năm trăm Đồng tử cho con ta dạy”. Nghĩ như vậy rồi bèn nói với Kiếp-tỷ-la rằng:

- Nay, con tài năng về Đạo giỏi hơn cha, con nên giáo huấn năm trăm Đồng tử này.

          Thừa lệnh của cha, Kiếp-tỷ-la dạy năm trăm Đồng tử. Người cha không dạy học nữa, rỗi rảnh, du hành mọi nơi theo sở thích của ḿnh. Một thời gian nọ, ông ta đến rừng Thí-lộc, vào thẳng chỗ ở của một Bí-sô, thưa rằng:

- Kính thưa Thánh giả! Văn cú này, nghĩa của nó thế nào ?

Vị Bí-sô trả lời rằng:

- Hiền Thủ! Ngài không nên đặt câu hỏi như vậy. Lúc này, nếu hỏi như vậy, nghĩa của nó không chu tất. Nên hỏi như thế này, nó mới đạt sự trọn vẹn hơn.

          Lúc bấy giờ vị Bà-la-môn đă bị vị Bí-sô sửa sai trong cách thức đặt câu hỏi như thế, liền khởi ư nghĩ: “Chỗ ta đặt câu hỏi chưa sâu sát đúng cách, huống nữa là có thể biện luận với Bí-sô!” Nh́n thấy vấn đề, vị Bà-la-môn đem ḷng kính tín Bí-sô nơi trú sứ này và cũng từ đó vị Bà-la-môn thường đến thỉnh Bí-sô về nhà thọ trai.

          Sau đó một thời gian, vị Bà-la-môn lâm bệnh, bảo với người con rằng:

       - Trong trời đất này không c̣n ai có thể sánh kịp với con nữa. Sau khi cha trút hơi thở cuối cùng, tất cả các luận trường con đều không e ngại, duy chỉ trừ đệ tử Thanh-văn của Phật Ca-diếp-ba. Tại sao vậy ? V́ tôn thuyết của họ rất rộng lớn, khó có thể lường được. Lư luận ở đời không thể nhiếp phục họ, trí của thế tục không thể biết được. Tâm hồn họ rộng khắp nhưng duy nhất không cầu danh lợi. Cho nên con không nên tranh luận cùng họ.

          Người con nghe rồi trịnh trọng thưa với cha rằng:

- Điều cha dạy là tốt đẹp vô cùng.

Bệnh t́nh của vị Bà-la-môn ngày càng trầm trọng, mặc dù thuốc than đầy đủ xong ngày một yếu dần. Sự việc sẽ như vậy, ông ta đă nói như sau:

Tích tụ đều tiêu tan

Tôn sùng ắt đọa lạc

Hiệp hội rồi biệt ly

Có mạng đều phải chết. 

Vị Bà-la-môn nói kệ xong liền mạng chung. Người con cùng với các quyến thuộc dùng lụa năm màu tẩm liệm đúng nghi thức của Bà-la-môn, chở tử thi vào rừng thây, dùng lửa hỏa táng. Việc hỏa táng đă xong, xong sự sống c̣n lại của người con vẫn nặng trĩu u sầu.

          Các Luận sư khác nghe người cha của Kiếp-tỷ-la đă qua đời, cùng bảo với nhau rằng:

- Các người biết chăng: Vị Luận sư tài ba xuất sắc nhất người ḍng Bà-la-môn nay đă qua đời, chúng ta nên đến vua Ngật-lật-chỉ để xin được tranh luận.

Họ cùng nhau lên đường đến chỗ vua. Khi đến nơi họ cầu nguyện vua như thường lệ rồi tâu với vua rằng:

- Chúng tôi đă từng gần gũi các vị Luận sư bậc thầy học hỏi chút ít văn tự, hôm nay đến đây, chẳng dám nào, xin vua được mở luận trường để t́m mối Đạo.

          Nhà vua nghe xong, bảo vị đại thần rằng:

- Khanh nay gọi vị Luận sư ấy đến.

         Vị Đại thần tâu:

- Vị Luận sư ấy đă qua đời rồi!.

          Nhà vua liền nói:

- Có lẽ v́ lư do ấy mà nay loài chim sẻ cùng tranh nhau đến luận trường này. Xong, vị Đại sư ấy có con trai, anh em hay tử đệ nào kế thừa hay không ?

         

- Muôn tâu Đại vương! Có người con trai vị Đại Luận sư ấy tên là Kiếp-tỷ-la có khả năng thừa kế. - Vị đại thần tâu.

- Kêu vị ấy đến. - Vua hạ lệnh.

          Thừa lệnh nhà vua, đại thần liền kêu vị ấy đến. Khi đến nơi như thường lệ, chú nguyện nhà vua xong, ngồi qua một bên.

Vị đại thần liền giới thiệu với nhà vua:

- Tâu bệ hạ: Đây là con của vị Đại luận sư tên là Kiếp-tỷ-la.

          Nhà vua liền nói:

- Thiện lai! Nay có các Luận sư mọi nơi xa gần đều đến muốn xin tranh luận mối Đạo, người có thể cùng họ tranh luận đối đáp trong luận trường trước sự có mặt của ta hay chăng ?

          Kiếp-tỷ-la thưa:

- Tôi xin chấp nhận việc tranh luận khó khăn này.

          Liền sau đó luận trường được thiết lập và lệnh cho các Luận sư đ̣i kích luận kia đến nạn vấn. Hôm ấy, nhà vua nghiêm chỉnh xa giá đích thân đến tham dự sự đắc thất. Nhà vua xuống lệnh cho các người muốn đến tranh luận đóng vai tôn chủ, c̣n khiến Kiếp-tỷ-la là đối tượng luận địch với họ. Bao nhiêu vấn đề cùng cật vấn, tùy việc, Kiếp-tỷ-la đáp trả sâu sắc đẩy họ đến thế cùng. Các người lập luận đều bị câm mồm. Phàm trên luận trường, kẻ nào không đối đáp được th́ rơi ngay vào chỗ rẻ rúng phụ bạc.

Khi đạt mục đích sự biện tài vô ngại của Kiếp-tỷ-la nhà vua phấn kích vô cùng và cảm thấy niềm vui này là hy hữu, vua có lời khen rằng:

- Luận sư tuổi nhỏ, sức yếu mà tài đức ngang bậc Quần Anh, trẫm vui mừng sắc chỉ đặc biệt khen thưởng: “Luận sư ngồi trên đại tượng, làm phép tưới nước trên đảnh, xưng tôn hiệu là Luận vương để mọi người được chiêm ngưỡng”.

          Mẹ của Kiếp-tỷ-la, từ lâu lắm rồi ḷng cứ nom nớp lo nghĩ: “Tiểu nhi của ta tánh khinh tháo bị đối phương đoạt hết phong ấp, mất mặt trở về hay chăng!” càng suy nghĩ ḷng bà càng thêm sầu năo với tháng ngày. Khi Kiếp-tỷ-la thọ lễ Quán đảnh làm Đại luận vương xong, tiền hô hậu ủng trở về nhà th́ bà mẹ bỗng thốt vội lời:

- Con đă đánh quỵ được các Luận sư chăng ?

          Kiếp-tỷ-la thưa với mẹ:

- Con đă triệt hạ tất cả, chỉ trừ hàng đệ tử Thanh-văn Ca-diếp-ba-Phật.

          Bà mẹ liền ngoảnh mặt vung tay... Kiếp-tỷ-la thấy vậy bèn hỏi mẹ:

- Từ mẫu, mẹ nghĩ thế nào, mà mẹ ngoảnh mặt vung tay ?

Bà mẹ tỏ thái độ không bằng ḷng nói:

- Hiện tại con biết không ? Té ra con c̣n chưa biết an tâm khi sở hữu phong ấp này, bởi v́ rốt cuộc con lo sợ Bí-sô cùng nhau xâm đoạt. Thực tế con cần phải đến bẻ găy Sa-môn kia mới được.

Kiếp-tỷ-la với tất cả sự kính cẩn thưa với mẹ:

- Thưa từ mẫu, ngày sắp mất cha có di huấn rằng: “Trong trời đất này không c̣n ai có thể sánh kịp bằng con. Sau khi cha trút hơi thở cuối cùng, th́ ở nơi các luận trường con đều không e ngại một ai, duy chỉ trừ đệ tử Thanh-văn của Phật-ca-diếp-ba. Tại sao vậy ? V́ tôn thuyết của họ rất rộng lớn khó có thể lường được, lư luận của đời không thể nhiếp phục họ, trí của thế tục không thể biết được. Tâm họ rộng và duy nhất không cầu danh lợi. Con chớ đừng tranh luận cùng họ”.

Bà mẹ Kiếp-tỷ-la liền bảo ngay rằng:

- Cha của con lúc c̣n sanh tiền đă là nô bộc của Sa-môn, nay con cũng lại làm tôi tớ của họ nữa hay sao ? Nhất định con phải hành động tức khắc bẻ găy các mũi nhọn đó đi.

Bẩm tánh của Kiếp-tỷ-la là nhơn từ, hiếu thảo nên đă không dám trái lời mẹ. Kiếp-tỷ-la liền đến Vườn Nai, nửa đường gặp một Bí-sô, liền hỏi:

- Bí-sô từ đâu đến ?

- Tôi đến từ rừng Nai, chỗ tiên đọa đến. - Bí-sô đáp.

- Chỗ Tiên đọa có bao nhiêu Bí-sô ? - Kiếp-tỷ-la hỏi.

Bí-sô đáp:

- Chừng hai vạn.

Lại hỏi:

- Chúng Bí-sô ở đó nhiều như vậy, c̣n chỗ kinh điển nhiều, ít chắc ǵ đă nắm được ?

Bí-sô nói:

- Kinh điển Bí-sô đến cả ba tạng.

Lại hỏi:

- Mỗi một Tạng số lượng thế nào ?

Bí-sô đáp:

- Mỗi Tạng gồm mười vạn bài tụng.

Lại hỏi:

- Tại gia thế tục làm ǵ được nghe phải không ?

Bí-sô đáp:

- Được nghe hai Tạng, tức là Tạng luận và Tạng kinh. C̣n Tỳ-nại-da là phép tắc dạy người xuất gia, người thế tục không hợp lư để học tập.

Kiếp-tỷ-la liền khởi ư nghĩ rằng: “Nghệ thuật của pháp tranh luận là không cho đối phương biết sở trường, sở đoản của ḿnh”.

Nghĩ như thế rồi, liền hỏi Bí-sô:

- Ngài có thể v́ tôi tŕnh bày ít nhiều yếu nghĩa của nhà Phật ?

Bí-sô liền nghĩ: “Vị Bà-la-môn này chính là người muốn đặt vấn đề tranh luận, v́ muốn lượng xem khả năng ta mà đặt thành câu hỏi như thế. Ta không vội trả lời mà lại xin được hỏi lại. Ta nói kệ, thử xem họ thế nào”.

Nơi nào ḍng nước ngừng

Nơi nào Đạo nên làm

Thế gian việc khổ vui

Đến khi nào chấm dứt ?

Nói bài kệ xong rồi liền bảo người Bà-la-môn giải thích nghĩa của bài kệ. Lúc ấy, Kiếp-tỷ-la với tất cả sự thông minh vốn sẵn có bao trùm được khắp mọi vấn đề đă tự cảnh báo rằng: Dù hiểu rơ bài kệ bằng trí tuệ sâu thẳm th́ chớ vội đo lường cái nghĩa của bài kệ: “Thế nào là ḍng ngừng chảy ? Thế nào là đạo nên làm ?”. Bằng sự khôn ngoan, Kiếp-tỷ-la xoay nh́n quanh không có ai nghe thấy vấn đề đặt ra cho ḿnh và liền có ngay ư nghĩ: “Nếu nơi đây có người chứng kiến việc giải thích này th́ sự tiếp tục giữa thân ta với Bí-sô trở thành vấn đề bị chiết phục”. Vị Bà-la-môn bằng hành động tự kiêu, dối trá nói với Bí-sô rằng:

- Tôi xem bài kệ tụng ấy, tôn chỉ rất chi li, chứa đựng nội dung quá ư phong phú, sâu xa về mặt ư nghĩa. Trong lúc, Ngài cần đi đến Bà-la-nê-tư, tôi lại có chút việc cần đến Vườn Nai, không thể vội vàng tŕnh bày lư nghĩa của bài kệ được. Sau này, có dịp chúng ta gặp lại sẽ giải thích cũng không phải là điều khó khăn.

Kiếp-tỷ-la nói lời cáo biệt rồi đến thẳng Vườn Nai, thấy các Bí-sô đọc tụng Thiền tư, cần cầu đạo xuất ly, ông ta đem ḷng kính tín Bí-sô rồi tự suy nghĩ: “Người nào lại không nh́n thấy đời sau mới ôm ḷng tham độc! Đối với kẻ trí này sao lại dong đuổi t́m kiếm cái tâm tội lỗi trong việc cùng nhau điên cuồng tranh luận” ? Nghĩ như thế rồi bèn trở về bổn quê của ḿnh.

Bà mẹ trong thấy liền hỏi:

- Con đă dẹp phá được đệ tử của Ca-diếp-ba phải không ?

Kiếp-tỷ-la thưa với mẹ rằng:

- Xem ư của mẹ muốn chạy theo cái được mà quên mất đi cái phong ấp hiện nay ?

Bà mẹ bảo:

- Con nói như thế có nghĩa ǵ ?

Người con trả lời:

- Trên đường đến rừng Nai, con gặp một Bí-sô... (Tŕnh bày tất cả sự việc như trước cho người mẹ nghe).

Bà mẹ nghe rồi liền nói:

- Nếu như vậy th́ trước mắt con nên theo học Phật pháp.

Thưa mẹ:

- Muốn con học pháp ǵ ?

Người mẹ bảo rằng:

- V́ pháp nghĩa của luận nghị kia, không dạy cho kẻ thế tục nên con cứ xin xuất gia để được học pháp nghĩa ấy.

Kiếp-tỷ-la thưa với mẹ:

- Đâu cho phép ở trong các giai cấp ḍng họ ta cao quư hơn cả lại v́ một nhơn duyên nhỏ vụn vặt như vậy mà chôn thân vào đời sống xuất gia hay sao ?

Người mẹ bảo:

- Con cứ xuất gia để được học..., học xong, sau đó con xin trở về thế tục, đâu tóc xanh trên đầu không mọc lại được sao ?

Bẩm tánh của Kiếp-tỷ-la là nhơn từ, hiếu kính, bị sự thúc ép của bà mẹ, nên định tâm xuất gia. Thế rồi, Kiếp-tỷ-la đến rừng Nai, nơi Bí-sô ở, thưa rằng:

- Kính bạch Đại đức, con muốn xuất gia.

Vị Bí-sô được thưa, nghĩ rằng: “Đây là vị Bà-la-môn vô địch về nghị luận, nếu xuất gia sẽ Thiệu long Phật pháp”. Nghĩ như vậy rồi liền trả lời:

- Thiện tai! Tùy theo ư muốn của ông. Sự vinh hiển, sự giàu sang... đều là vô thường. Ông ư thức được điều này, xin xuất gia là việc tốt nhất.

Kiếp-tỷ-la thưa rằng:

- Nơi địa phương này, ai cũng biết rơ con, có thể đưa con đến phương quê khác để xuất gia được không ?

Bí-sô nói:

- Đó là điều tốt, không có ǵ trở ngại.

Thế là Bí-sô đưa Kiếp-tỷ-la đến một phương khác cho xuất gia và cho thọ Cụ viên. Kiếp-tỷ-la được học ba tạng đều thông rơ làm vị đại Pháp sư, lời lẽ biện tài không hề mắc vướng. Nếu cần xiển dương kinh pháp, liền lên ṭa sư tử, đánh trống pháp, thổi loa pháp vua quan, sĩ thứ thảy đều vân tập. Thính giả đều hoan hỷ. Khi ấy, Kiếp-tỷ-la bèn tự nghĩ: “Điều ta cần học, nay đă thành tựu. Ta nên đến Bà-la-nê-tư, nơi Phật Ca-diếp-ba thường trú để đích thân kính thờ Đại sư thừa sự cúng dường.

Sau khi đến thành này rồi. Bà mẹ nghe con của ḿnh thành tài trở về, t́m đến thăm con nơi rừng Nai. Gặp nhau bà mẹ hỏi rằng:

- Con đă xô ngă Sa-môn đệ tử của Ca-diếp-ba chăng ?

Người con thưa với mẹ:

- Tuy con hiểu giáo lư nhưng chưa chứng quả; các vị đệ tử ấy, họ hiểu rơ giáo lư, lại đă chứng quả, làm sao con có thể xô ngă họ được.

Người mẹ bảo:

- Con phải quyết tâm xô ngă họ mới được. Bị người mẹ siết chặt chỉ giáo.

Kiếp-tỷ-la không thể thối thoát được bèn thưa với mẹ rằng:

- Khi nào mẹ nghe tiếng trống pháp đánh, loa pháp thổi, bảo tọa trang nghiêm, Đại chúng tập hợp th́ mẹ đến để nghe.

Người mẹ bảo:

- Tốt lắm! Mẹ sẽ đến đúng lúc.

Không lâu sau, đến lược Kiếp-tỷ-la lên Pháp ṭa. Đại chúng tập hợp. Bà mẹ nghe trống nổi vang rền, liền đến Vườn Nai. Ở bên dưới cao ṭa, người mẹ im lặng mà đứng. Bấy giờ Pháp sư bước lên ngồi vào ṭa cao. Mở đầu Kiếp-tỷ-la diễn nói chánh pháp, sau đó đem chuyện tạp nhạp tà đạo chen vào. Khi ấy, các Bí-sô nghe liền phát biểu:

- Cụ thọ! Ngài chớ hủy bán Phật pháp, Ngài chớ dựng cờ ma, hạ cờ Phật! Khi ấy bỏ thân này phải đọa đường ác.

Kiếp-tỷ-la nghe các Bí-sô phát biểu như vậy, không thể trả lời, liền xuống ṭa, tỏ vẻ buồn lo, thưa với mẹ:

- Sự việc như vậy, mẹ có thấy chăng ?

Bà mẹ bảo:

- Mẹ đă thấy nghe.

Kiếp-tỷ-la thưa:

- Không phải chỉ chừng ấy mà thôi. Con chỉ hiểu giáo lư, c̣n các vị ấy hiểu giáo lư lại đă chứng quả, làm sao con có thể xô ngă được.

Bà mẹ nói:

- Con phải sử dụng biện pháp nghị luận, kích bác. Con lợi dụng thời thuyết pháp mà làm việc này: Trước tiên con nói chánh pháp kế tiếp con thuật tà tôn. Các Bí-sô kia có dùng lời ngăn chận, quở trách, đem chuyện thiện, ác tội phước, con đừng nghe. Con dùng lời đao kiếm vô nghĩa để đánh lấp. Các Sa-môn sợ lời nói đao kiếm bèn nín thinh. Khi ấy người thế tục gọi họ là kẻ thua trận.

Kiếp-tỷ-la liền tương ứng:

- Theo kế hoạch của mẹ là tốt, khi nào con thăng ṭa mẹ phải quay trở lại đây.

Người mẹ bảo:

- Tốt, mẹ sẽ đến đúng lúc.

Sau đó khi nghe trống pháp đánh (như trước đă tŕnh bày) bảy chúng nhóm hợp, bà mẹ liền đến, ngồi im lặng phía sau pháp ṭa.

Khi Kiếp-tỷ-la lên pháp ṭa, chuẩn theo nghi thức tụng kinh: Lúc đầu tụng chánh kinh, sau đó tŕnh bày tà pháp. Các Bí-sô phát biểu:

- Cụ thọ! Ngài chớ nên phá chánh pháp, lại nêu cao tà pháp... cho đến câu: phải đọa đường ác.

Kiếp-tỷ-la bèn nhờ lời của mẹ nói liền dùng lời đao kiếm nói với các Bí-sô:

- Miệng của Ngài như miệng con voi làm thế nào biết được là pháp, là phi pháp, là luật, là phi luật; Ngài  như miệng ngựa, Ngài như miệng lạc đà, miệng lừa, miệng trâu, miệng khỉ cái, miệng sư tử, miệng cọp, miệng beo, miệng gấu, miệng bi, miệng mèo, miệng nai, miệng trâu nước, miệng heo, miệng chó, miệng cá, miệng người ngu làm sao Ngài biết pháp và phi pháp.

Khi ấy các Bí-sô cùng nhau nói rằng:

- Cụ thọ này đă dùng lời đao kiếm nói năng, chúng ta không nên đứng đây để nghe.

Tất cả người không thể chấp nhận cách ăn nói đao kiếm như vậy đều bỏ đi. Một số người vị nể ngồi lại tự suy nghĩ: “Nếu nói Chánh pháp th́ ta nghe, nói tà pháp, họ sẽ bị thọ khổ”.

Khi Kiếp-tỷ-la đối với các vị Học, Vô học, Thánh Bí-sô dùng mười tám món ác khẩu mạ nhục như vậy rồi bèn xuống cao ṭa, thưa với bà mẹ:

- Hôm nay mẹ có vui chăng ?.

- Hôm nay mẹ rất vui, mẹ con ta cùng về.

Kiếp-tỷ-la thưa:

- Thưa mẹ, con không thể về được. Ḷng kính mộ của con đối với giáo pháp vô thượng Chánh giác Ca-diếp-ba Phật là trên hết.

Bà mẹ nói:

- Đâu phải là con không nghe kinh sách của Bà-la-môn nói: “Cha mẹ dạy bảo, con không được phép làm trái lại”. Nay con cần phải cùng mẹ về nhà.

Kiếp-tỷ-la lại thưa với mẹ:

- Con không thể về. Thưa mẹ, nếu con phải lưu chuyển trong đường sanh tử, th́ con nguyện đừng gặp bà mẹ như thế này. Mẹ biết không, chính do ác tri thức như thế nên khiến cho con phải nói lời quá ư thô ác đối với các bậc Thánh nhơn Học và Vô học đến thế! Ác nghiệp nhơn duyên này, chắc chắn sẽ chịu lấy khổ quả Dị thục.

Lúc bấy giờ bà mẹ kia kêu réo bảo con cùng về không được, bà mẹ đứng ngay giữa ngả ba đường nơi đông người tại Bà-la-nê-tư lớn tiếng nói:

- Các người biết chăng: Đệ tử của Ca-diếp-ba cưỡng đoạt bắt con của tôi, các người nên trợ giúp tôi...

Số người nghe, kẻ có tín tâm, cùng nhau an ủi, c̣n người không có tín tâm th́ lộng ngôn trách cứ phỉ báng...

Chính điều bị sĩ nhục ôm lấy uất hận mà người mẹ già ấy ngay tức th́ bị thổ huyết, đây là lư do dẫn đến cái chết cho bà. Bà mất đi th́ liền thọ sanh vào loài Nại-lạc-ca. Kiếp-tỷ-la Bí-sô do khởi lên mười tám món ác khẩu, mạ nhục các vị Học, Vô học và các Bí-sô cho nên sau khi qua đời sanh trong loài cá Ma-kiệt, thân h́nh đáng sợ này.

Lúc bấy giờ Đại chúng nghe Phật nói xong, cùng nhau nói:

- Mọi người nên biết, Bí-sô Kiếp-tỷ-la kia là vị đại pháp sư biện tài vô ngại, khéo hay thuyết pháp, khiến cho trăm ngàn thính giả nghe đều hoan hỷ, chỉ do ác khẩu phải sanh vào đường ác, c̣n chúng ta mạng chung sanh vào đường nào ?!

Tư duy như vậy rồi ḷng canh cánh lo sợ trong sự sống c̣n lại.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn quan sát Đại chúng kẻ ưa vui, người phiền năo, căn tánh sai khác, theo từng tâm niệm, Ngài bèn nói diệu pháp, đáp ứng sở cầu. Đại chúng nghe pháp xong, có người chứng quả Noăn, Đảnh, Nhẫn, Thế đệ nhất, hoặc đắc quả Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, hoặc có kẻ xuất gia, đoạn hết hữu lậu, chứng quả A-la-hán, hoặc ở trong Thanh-văn Bồ-đề, hoặc ở trong Độc Giác Bồ-đề, hoặc ở trong Vô thượng Bồ-đề ḷng nguyện rộng lớn, hy hữu, lại khiến cho Đại chúng đối với Tam Bảo sanh ḷng tin sâu đậm. Lúc bấy giờ, v́ đă đạt được đại lợi ích, điều phục được đại đa số chúng sanh, đức Thế Tôn rời Đại chúng ra về.

Sau khi đức Phật ra về con Ma-kiệt đại ngư lại có được ư niệm: “Nay ta đă được nghe, Tam pháp cú do đức Thế Tôn nói, không nên ăn trở lại làm ǵ ?” Do vậy, đoạn thực. Trong đường bàng sanh, sức nóng tăng cường, bị đói khát ép ngặt. Dù vậy, ḷng kính trọng đối với đức Thế Tôn lại cứ thấm sâu vào cơ thể. Ma-kiệt chết vào trạng thái như thế liền sanh vào cơi trời Tứ Đại Vương chúng thiên. Phàm sanh vào cơi trời này, là nam hay nữ đều có được ba ư niệm:

- Ta từ cơi nào chết ?

- Nay sanh vào cơi nào ?

- Do tạo nghiệp ǵ ?

Thiên tử bèn nhớ lại tiền thân của ḿnh từ nơi loài bàng sanh chết, nay sanh vào cơi Tứ Đại Vương chúng thiên, do nhơn duyên đối với đức Phật sanh ḷng kính tín.

Khi ấy vị Thiên tử kia liền khởi ư nghĩ: “Ta không nên lưu trú qua đêm rồi mới đến yết kiến đức Thế Tôn”. Liền ngay sau ư nghĩ như vậy, Thiên tử nghiêm thân bằng các thứ anh lạc, sáng rỡ, thù diệu. Lại dùng chéo áo đựng các thứ diệu hoa như bông Ốt-bát-la, bông Bát-đầu-ma, bông Câu-vật-đầu, bông Phân-đà-lợi-ca, bông Mạn-đà-la. Phần đầu của đêm vừa qua, Thiên tử đến chỗ Phật ở răi thiên hoa cúng dường Phật xong, đảnh lễ hai chân rồi ngồi qua một bên. Ánh sáng của vị Thiên tử này rực rỡ, soi khắp trong cao các đường một cách mát diệu.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn, tùy theo căn tánh và hảo ư của vị Thiên tử kia mà nói pháp khiến cho vị Thiên tử được tỏ ngộ Đế lư. Ngay sau khi nghe pháp, vị Thiên tử đắc quả Dự lưu từ trên ṭa ngồi của ḿnh. Đă Kiến đế rồi, Thiên tử bạch với đức Thế Tôn:

- Kính bạch Đại đức! Do Phật Thế Tôn nên con chứng được quả giải thoát. Đây không phải là do cha mẹ, Nhơn vương Thiên chúng, Sa-môn, Bà-la-môn thân hữu quyến thuộc mà có được. Con gặp đức Thế Tôn, bậc Thiện Tri thức, đă dẫn độ đưa con ra khỏi cảnh khổ Địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ, sanh vào cơi Nhơn Thiên là cảnh giới thắng diệu. Sự sanh tử sẽ được chấm dứt đi vào con đường Niết-bàn. Siêu việt, làm khô cạn được biển máu, núi xương. Vô thỉ ấy tích tập được Tát-ca-da-kiến. Dùng trí Kim Cang phá tan tất cả khổ đau chứng quả Dự lưu. Nay con quay về nương nơi Phật, Pháp, Tăng ba ngôi quư báu, cúi xin đức Thế Tôn chứng tri cho con là Ô-ba-sách-ca; kể từ ngày hôm nay cho đến chọn đời thọ năm Học xứ, không sát sanh cho đến không uống rượu. Trước đức Phật, Thiên tử nói bài kệ:

                             Con nhờ thần lực Phật.

                             Đóng lại ba đường ác

                             Sanh lên trời thắng diệu

                             Thẳng về đường Niết-bàn

                             Do con nương Thế Tôn

                             Mà được mắt thanh tịnh

                             Thấy chứng lư Chơn đế

                             Biển khổ thôi không c̣n

                             Phật vượt hẳn trời người

                             Ĺa sanh, lăo, bệnh, tử.

                             Biển hữu khó gặp Ngài.

                             Nay gặp, con đắc quả

                             Con dùng thân trang nghiêm

                             Tịnh tâm lễ chân Phật

                             Nhiễu phải, trừ phiền oan

                             Nay xin về Thiên cung.

Thiên tử Ma-kiệt ngư đă xứng theo sở nguyện như người thương chủ thu được tài lợi, như nông phu thu được mùa lúa tốt, như kẻ dũng kiện hàng phục được oán địch, như người bệnh nặng thoát khỏi cơn đau. Bấy giờ vị Thiên tử kia bái từ đức Phật, rồi trở về Thiên cung.

Phần đầu và phần sau của đêm, Các Bí-sô kỉnh giác chuyên tâm trong nếp sống tư duy, thấy chỗ ở của đức Thế Tôn có ánh sáng rực rỡ liền sanh nghi niệm. Sáng ngày các Bí-sô đến bạch với đức Thế Tôn:

- Trong đêm vừa rồi, phải chăng có Phạm Thế chư thiên và Thiên Đế Thích, hoặc Tứ Thiên vương, hoặc có các loài trời đủ oai đức đến kính lễ Thế Tôn chăng ?

Đức Thế Tôn bảo:

- Này các Bí-sô! Không phải là Phạm Thiên và các Thiên chúng mà là Thiên Tử Ma-kiệt. Các Bí-sô chắc c̣n nhớ con cá lớn Ma-kiệt kia có mười tám cái đầu, Ta đă v́ nó nói ba câu diệu pháp đó chăng ?

Các Bí-sô thưa:

- Chúng con đều chứng kiến việc ấy.

Đức Phật dạy:

- Chính nó, trong đêm đă đến chỗ Ta ở. Ta v́ Thiên tử nói pháp. Thiên tử Ma-kiệt chứng quả Kiến đế, Rồi trở về Thiên cung.

Khi ấy các Bí-sô lại bạch Phật rằng:

- Tiền nhân của Thiên tử Ma-kiệt ngư này đă từng làm nghiệp ǵ mà được sanh vào cơi Tứ Thiên vương ? Lại được do nghiệp ǵ mà đích thân đến chỗ Phật để nghe pháp và chứng bốn Chơn đế.

Thế Tôn dạy:

- Này các Bí-sô! Vị cá Thiên tử  kia do chỗ tự tạo nghiệp rồi, theo thời gian nghiệp ấy tăng trưởng thuần thục, duyên biến thành hiện tiền, như ḍng nước cuốn trôi không thể chảy ngược lại được. Chính do thế mà quyết định chiêu cảm quả báo, không ai có thể thay thế nhận lănh được.

Này các Bí-sô! Vị cá Thiên tử kia, phàm chỗ ác nghiệp tự tạo, không nằm ngoài cương giới đất, nước, gió, lửa mới khiến nhận lấy quả báo, mà ngay ở trong tự thân của Uẩn, Xứ, Giới là nơi nhận lấy quả Dị thục. Thế Tôn liền nói kệ:

                             Dầu cho trăm ngàn kiếp

Nghiệp đă tạo không mất

Nhơn duyên khi hội đủ

Quả báo chính ḿnh chịu.

          Này các Bí-sô! Có sanh thọ nghiệp và có hậu thọ nghiệp.

Thế nào gọi là sanh thọ nghiệp ?

- Tiền thân của con cá Ma-kiệt này do gần Ta, khởi ḷng kính tín do nghiệp Dị thục kính tín nên sanh nơi Tứ Đại Vương chúng Thiên, gọi là sanh thọ nghiệp.

Thế nào gọi là hậu thọ nghiệp ?

- Tức là Kiếp-tỷ-la đối với trong giáo pháp của đức Phật Ca-Diếp-ba chánh đẳng chánh giác làm vị xuất gia, đọc tụng thọ tŕ, v́ người thuyết pháp; đối với Uẩn, Xứ, Giới, mười hai duyên sanh, và xứ, phi xứ tất cả đều tŕnh bày một cách thiện xảo. Do tích tập nghiệp lực căn lành mà sanh vào Thiên thượng và nay gặp Ta thấy được Bốn Chơn đế gọi là Hậu thọ nghiệp.

Các Bí-sô nên biết:

- Nếu cái nghiệp hoàn toàn đen, th́ dẫn đến cái Dị thục hoàn toàn đen. Nếu cái nghiệp hoàn toàn trắng, th́ đặng cái Dị thục hoàn toàn trắng. Nếu cái nghiệp đen trắng xen lộn, th́ đặng cái Dị thục xen lộn, cho nên các Bí-sô nên ĺa xa cái nghiệp hoàn toàn đen và trắng xen lộn, mà nên siêng năng tu học cái nghiệp hoàn toàn trắng.

Khi ấy, các Bí-sô nghe Phật nói rồi hoan hỷ tín thọ.

Lúc bấy giờ, năm trăm ngư phủ cùng nói với nhau:

- Chúng ta đích thân nghe biết Bí-sô Kiếp-tỷ-la kia là một vị Đại Pháp sư, khéo giải ba tạng, biện tài vô ngại, giáo hóa cả trăm ngàn người, có khả năng khiến cho người nghe thảy đều hoan hỷ, chỉ v́ do ác khẩu, phải đọa trong loài bàng sanh. Chúng ta thường làm cái nghiệp ác, không có ḷng từ bi, giết nhiều loài hữu t́nh để nuôi mạng sống. Sau khi chúng ta chết sanh vào loài nào ?! Chúng ta hiện nay nếu không phải là những kẻ hà tiện, chúng ta có thể xin được xuất gia trong pháp luật khéo nói của đức Như Lai, phát tâm mạnh mẽ cần cầu không mỏi mệt, ngơ hầu thoát khỏi bốn ách, vượt lên trên  bốn  ḍng xoáy hiểm nguy.

Nói lên được nhận định như vậy rồi, mọi người đều buông tay và nỗi buồn cứ dằng dặc theo sự sống.

Thường pháp của chư Phật, khi chưa vào Niết-bàn, c̣n an trụ nơi đời, v́ muốn lân mẫn để hóa độ loài hữu t́nh, ngày đêm sáu thời thường dùng Phật nhăn xem xét các thế gian... (Như trước đă tŕnh bày) các đại Thanh-văn cũng lại như vậy. Khi ấy, cụ thọ Xá-lợi-tử dùng huệ nhăn của Thanh-văn quan sát thế gian, bèn thấy năm trăm ngư phủ ḷng sanh nhàm chán sống trong sự sầu ư. Cụ thọ liền đến nơi năm trăm ngư phủ, hỏi họ:

 - Tại sao ư tưởng của các Hiền thủ lại như vậy ? Buông tay trong sự sống mà ưu sầu ?

Các ngư phủ đáp:

- Thưa Thánh giả! chúng tôi hôm nay làm sao mà không sầu khổ được, chính chúng tôi đích thân nghe thấy Kiếp-tỷ-la Bí-sô kia là vị Đại Pháp sư, giải nghĩa Tam tạng một cách rành rẽ, diễn thuyết vô ngại, giáo hóa hàng trăm ngàn người, có khả năng khiến cho người nghe thảy đều vui mừng, chỉ do ác khẩu phải đọa trong loài bàng sanh. Chúng tôi thường làm nghiệp ác, không có từ bi, giết rất nhiều loài hữu t́nh để tự nuôi sống. Sau khi chúng tôi chết sẽ thọ sanh vào cơi nào?! Chúng tôi hiện nay nếu không ở trong hạng hạ tiện th́ chúng tôi có thể phát tâm dơng mănh, siêng năng không mỏi mệt xuất gia trong pháp luật khéo nói ngỏ hầu thoát khỏi bốn ách nạn, vượt qua bốn ḍng xoáy nguy hiểm. Riêng nay, bọn chúng tôi không được dự phần vào việc ấy, làm sao không buông tay sầu khổ!

Lúc ấy, Ngài Xá-lợi-tử lấy làm lạ, mạnh mẽ trả lời với năm trăm ngư phủ rằng:

- Này các Hiền thủ! Trong Thánh giáo của Mâu-ni pháp vương đâu có chuyện phân biệt họ hàng, dân tộc, sang hèn để  kết nạp mà chỉ xem đức chánh hạnh làm đầu. Cụ thọ liền nói kệ:

Trong giáo pháp Như Lai

Không hỏi ḍng họ nào.

Chỉ xem đời quá khứ

Đă làm thiện hay ác.    

          Nếu các ông tha thiết mong cầu muốn được xuất gia trong giáo pháp của đức Phật và thọ Cận viên, làm Bí-sô th́ các ông cứ đến nơi đức Thế Tôn cần cầu điều ấy. Đức Thế Tôn, biết lúc để đáp ứng theo sở nguyện của các ông.

Tất cả năm trăm ngư phủ hết sức vui mừng liền thưa:

- Kính  thưa thánh giả! Nếu được như vậy th́ chúng tôi đều xin được xuất gia.

Sau đó, Ngài Xá-lợi-tử hướng dẫn năm trăm ngư phủ đến chổ đức Thế Tôn, đảnh lễ hai chân đức Phật, rồi ngồi qua một bên, bạch Phật rằng:

- Bạch đức Thế Tôn năm trăm thiện nam tử này, với ḷng tin tha thiết, mong cầu được xuất gia trong pháp luật khéo nói và thọ Cận viên, làm Bí-sô, cúi xin đức Thế Tôn rủ ḷng thương để họ được nhờ.

Đức Thế Tôn từ ḥa nói với năm trăm ngư phủ:

- Thiện lai Bí-sô! Có thể tu phạm hạnh. Ngay sau khi đức Phật dạy như vậy, râu tóc họ tự rụng, pháp y mặc nơi thân, b́nh bát bưng nơi tay, oai nghi đầy đủ như Bí-sô một trăm tuổi.

Kệ tụng:

Thế Tôn xướng Thiện lai

Tóc rụng, y bát đủ

Các căn đều tịch định

Thành tựu theo ư nguyện.

 

CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA

QUYỂN 9- (hết).