CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA

QUYỂN 6.

TAM TẠNG PHÁP SƯ NGHĨA TỊNH PHỤNG CHẾ DỊCH.

 

·        Giới thứ ba, Học xứ đoạn mạng người.

Nhiếp tụng chung:

Duyên đầu Đà-sách-ca,

Nội thân thảy hành sát.

Độc hại khởi thây quỷ.

Sau luận việc nhà tắm.

Nhiếp tụng riêng:

Đà-sách-ca, Ba-lạc,

Thiện Ngữ và Kiết Tường.

Bát y và đọa thai.

Trưởng giả Lộc, Phạm-chí.

Lúc bấy giờ, Bạc-già-phạm ở tại thành Thất-la-phạt, rừng Thệ-đa, vườn ông Cấp-cô-độc. Lúc ấy có hai Bí-sô ở trong thành này, một người tên là Đà-sách-ca, người thứ hai là Ba-lạc-ca, vừa ư với nhau, cùng nhau kết bạn. Trong một thời gian khác, Ba-lạc-ca lâm bệnh. Một hôm nọ, nửa đêm Ba-lạc-ca th́nh ĺnh khóc la lớn tiếng. Đà-sách-ca hỏi:

- Tại sao Cụ thọ bỗng nhiên khóc la ?

Ba-lạc-ca nói:

- Tôi bị đói khát bức bách.

Đà-sách-ca bảo rằng:

- Cụ thọ nên nhớ cho rằng: Là pháp của người xuất gia cần phải tự chế. Giả như có thức ăn mà không có người mời cũng không được ăn, huống là hiện giờ không có thức ăn.

Ba-lạc-ca lại khóc la cho đến sáng, vừa khóc vừa nói:

- Tôi bị đói khát.

Đà-sách-ca nói:

- Cụ thọ súc miệng, đánh răng cào lưỡi, tôi đến hỏi thăm thầy thuốc về chứng bệnh của Cụ thọ.

Đà-sách-ca đến thầy thuốc nói rằng:

- Hiền thủ, nay có thiếu niên khi bệnh chẳng khác nào con nít khóc! Lương y có phương thuốc nào có thể chữa bệnh này cho ông ta ?

Thầy thuốc cho biết:

- Thánh giả, bệnh của Bí-sô đó nên uống thuốc này, thuốc này…

Sau khi Đà-sách đến thầy thuốc, Ba-lạc-ca từ giường đứng dậy, sửa soạn y phục, mang dép, lấy đồ súc miệng, hoàn tất việc vệ sinh.

Các Bí-sô thấy hỏi:

- Cụ thọ, Ba-lạc-ca! Tại sao suốt đêm… khóc la khổ sở như vậy ?

Ba-lạc-ca nói:

- Tôi bị đói khát quá sức.

Có Bí-sô hỏi:

- Tôi có nước cháo, sao có uống không ?

Ba-lạc-ca đáp rằng:

- Tốt lắm, giờ th́ tôi cần phải uống.

Sau khi uống đầy đủ rồi, lại có Bí-sô hỏi:

- Cụ thọ , tôi hiện có sữa, tô, cháo, bánh, thịt… Sao có không dùng ?

Ba-lạc-ca bảo:

- Muốn được nhận.

Liền sau đó Ba-lạc-ca vào pḥng ăn uống đến no ph́nh bụng rồi ngă lưng nằm dài trên giường.

Sau khi đến hỏi thầy thuốc, Đà-sách-ca vội vă trở về đem luôn những thứ thuốc mà thầy thuốc bảo uống. Đến ngay chỗ Ba-lạc-ca đang nằm và nói:

- Cụ thọ cố gắng dậy súc miệng.

- Tôi súc miệng rồi. - Ba-lạc-ca nói.

Đà-sách-ca nói:

- Tốt lắm!

Đà-sách-ca vội làm món ăn cho vào đồ đựng bằng đồng rồi gọi Ba-lạc-ca dậy ăn. Ba-lạc-ca nể t́nh chăm sóc của bạn nên ngồi dậy ăn. Đà-sách-ca bảo người mang thức ăn đến trao cho bạn. Ba-lạc-ca chỉ múc vài muỗng trút vào miệng rồi nằm xuống lại.

Đà-sách-ca nói:

- Tại sao Cụ thọ không dùng thêm ?

Tôi không muốn ăn. - Ba-lạc-ca trả lời.

Đà-sách-ca buồn, nói:

- Suốt đêm Cụ thọ năo loạn khóc la kêu van đói, bây giờ tôi mang thức ăn đến lại nói không muốn ăn! Như vậy e Cụ thọ hôm nay không qua khỏi!

Khi ấy, các Bí-sô ở gần cho biết:

- Cụ thọ, Đà-sách-ca! Cụ thọ khỏi phải lo âu hoảng hốt, Ba-lạc-ca, vừa rồi đă húp cả nước cháo, uống cả sữa, ăn luôn cả canh thịt… của chúng tôi, no lắm rồi!

Đà-sách-ca ngạc nhiên hỏi:

- Ba-lạc-ca; Cụ thọ! Thật sự đă ăn thức ăn ngon béo như vậy phải không ?

Ba-lạc-ca chậm răi từng tiếng một xấu hổ nói:

- Tôi đă ăn rồi.

Khi ấy Đà-sách-ca nói với giọng không hài ḷng:

- Tôi đă v́ Cụ thọ nên y bát bị khánh tận, phế bỏ cả việc tu thiện nghiệp để hầu hạ Cụ thọ. Cụ thọ tự thân lại không kiêng kỵ, dè dặt miếng ăn như vậy. Thà uống thuốc độc c̣n hơn là ăn những thức ăn cấm kỵ như thế.

Nghe những lời trách như thế, Ba-lạc-ca trong ḷng cực kỳ xấu hổ, bèn suy nghĩ: “Quí hóa thay, lời nói của đồng phạm hạnh, trách móc đối với ta! Thà uống thuốc độc c̣n hơn là ăn những thứ ăn cấm kỵ như vậy. Ta nay thật sự có thể nên uống thuốc độc”. Nghĩ như vậy rồi liền từ chỗ ngồi đứng dậy, lục t́m trong đăy các loại thuốc, thấy có thuốc độc liền lấy uống. Sức công phạt của thuốc quá mạnh làm cho choáng váng cả người, đôi mắt nhắm lại, gần đi đến sự chết, miệng sủi nước bọt, vừa khóc vừa kêu:

- Đà-sách-ca! Tôi chết! Tôi chết!

Khi ấy Đà-sách-ca nghe kêu như vậy kinh hoàng chạy đến, hỏi:

- Cụ thọ, Ba-lạc-ca! Sao khóc la nhiều vậy khó chịu trong người lắm phải không ?

Ba-lạc-ca nói:

- Nghe Cụ thọ nói v́ tôi t́m thuốc khổ sở phải không ? Tôi tự nghiêm khắc với ḿnh, thà là uống thuốc độc c̣n hơn là ăn những thức ăn cấm kỵ như vậy! Tôi tự nghĩ rằng: “Đồng phạm hạnh v́ ḿnh khổ sở, mà ḿnh không hay tự chế lấy ḿnh. Ta nay nên uống thuốc độc c̣n hơn”. Và trong túi xách t́m thuốc độc, tôi đă uống rồi!

Nghe những lời này, Đà-sách-ca như trách móc nói:

- Tại sao Cụ thọ làm việc không hay như vậy ?!

̉a ra khóc, nước mắt giàn giụa, Đà-sách-ca tốc chạy đến thầy thuốc. Sức công phạt của thuốc độc quá mạnh, mạng sống không thể duy tŕ được, Ba-lạc-ca trút hơi thở cuối cùng.

Lúc ấy Đà-sách-ca xin được thuốc, vội chạy về thấy Ba-lạc-ca đă qua đời! Hối hận nối tiếp hối hận, Đà-sách-ca suy nghĩ như vậy: “Đâu phải do ta đă khuyên Cụ thọ Ba-lạc-ca chết rồi ư ?” Do vậy, đem nhơn duyên ấy bạch với các Bí-sô, các Bí-sô  bạch Phật. Đức Phật bảo các Bí-sô:

- Đà-sách-ca không có tâm sát, cho nên không phạm. Xong các Bí-sô không nên đối trước người bệnh, nói lời nói như vậy, để người bệnh nghe rồi tự t́m đến cái chết. Nếu vị nào sai th́ phạm tội Việt Pháp.

Đây là duyên khởi, xong đức Thế Tôn, c̣n chưa v́ các Thanh-văn đệ tử, đối với Tỳ-nại-da chế Học xứ này.

Đức Phật ở thành Thất-la-phạt, vườn ông Cấp-cô-độc. Lúc bấy giờ trong thành này có hai Bí-sô, một vị tên là Thiện Ngữ, một vị tên là Kiết Tường, t́nh nghĩa tương đắc, cùng nhau làm bạn. Bí-sô Thiện Ngữ bỏ nghề thợ săn đi xuất gia, Bí-sô Kiết Tường bỏ nếp sống Trưởng giả đi xuất gia. Có hai đồng tử là cháu ngoại của Bí-sô Thiện Ngữ, cha mẹ qua đời, đi lưu linh, lưu địa, đứng chơi ngoài cửa rừng Thệ-đa. Vừa lúc ấy, Bí-sô Thiện Ngữ đi ra, t́nh cờ gặp nhau, nh́n kỹ diện mạo biết là bà con, bèn hỏi:

- Cha mẹ của hai cháu ở đâu ?

- Cha mẹ của hai cháu đều qua đời cả rồi. -Hai đồng tử thưa.

Bí-sô Thiện Ngữ nghe xong, bất giác rơi nước mắt.

Khi ấy các Bí-sô thấy bèn hỏi:

- Hai đồng tử này là ǵ với Cụ thọ ?

- Hai em này là cháu của tôi. - Thiện Ngữ trả lời.

Các Bí-sô nói:

- Cháu kêu bằng cậu sao không đem về nuôi ?

Thiện Ngữ nói:

- Tôi đi khất thực không đủ nuôi thân có đâu nuôi người khác.

Các Bí-sô nói:

- Hướng dẫn hai cháu này cung cấp lá cây bông, trái, cây tăm xỉa răng cho Bí-sô, Bí-sô nhường bớt bát cơm đôi ra khiến các cháu cũng được no đủ.

Bí-sô Thiện Ngữ nghe xong liền đem hai cháu về nuôi. Hai cháu bẩm tánh siêng năng cung kính khéo việc hầu hạ v́ các Bí-sô cung cấp lá cây, bông, trái, tăm xỉa răng một cách chăm chỉ. Các Bí-sô thương đặc ân cho hai cháu cho chỗ cơm dư bát của các vị và cung cấp áo quần, tư vật. Năm tháng trôi qua, hai đồng tử lớn khoẻ, dung mạo đầy đặn phúc hậu khôi ngô. Một hôm nọ hai cháu đứng chơi trước cửa chùa, có mấy người bà con khác, tay cằm cung tên đuổi một con nai chạy qua trước Thệ-đa, hỏi đồng tử rằng:

- Tại sao chúng bây được đứng nơi đây ?

Đ̣ng tử trả lời:

- Cậu của tôi xuất gia trong ḍng họ Thích, chúng cháu ở với cậu nên đứng đây chơi.

Người thợ săn nói:

- Cậu của chúng bay là người không tự nuôi sống được mới xin xuất gia trong ḍng họ Thích để t́m sự sống, tụi bay vóc dạc như thế không tự nuôi sống được hay sao ? Tụi bây phải lập trí học theo nếp sống kế thừa sự nghiệp của cha ông.

Đồng tử bèn nói với thợ săn, bà con rằng:

- Cậu của tôi đối với chúng tôi thật là thâm ân, nay có thể để tôi về hỏi ư kiến của cậu rồi mới quyết định việc này.

Đồng tử đến chỗ cậu thưa:

- Kính thưa Thánh giả, nay cháu xin cáo từ Thánh giả, chúng cháu muốn học theo sự nghiệp của ông cha cháu.

Người cậu liền trả lời:

       - Chúng tôi đă dùng của tín thí nuôi hai người, tại sao hai người lại quay theo con đường ác hạnh ?!

Hai đồng tử trả lời:

- Thưa Thánh giả, thiết nghĩ, được kết chặt trên đỉnh đầu những bộ tóc vàng óng ánh đi nữa, chúng cháu c̣n phải bỏ nó đi, làm người ai lại đành bỏ sự nghiệp của tổ phụ được ?

Nói xong, cả hai, đều không nghe lời cậu, bỏ về, làm nghề săn bắn để nuôi sống.

Thời gian sau, Bí-sô Kiết Tường lâm phải trọng bệnh, Bí-sô Thiện Ngữ làm người nuôi bệnh. Càng lúc Kiết Tường bị cơn bệnh ép bức quá sức, bèn tự nghĩ rằng: “Nay ta tŕ giới không tạo các việc ác, thiên đường giải thoát chỉ c̣n cách một bức màng mỏng nữa thôi. Nay cần vất bỏ cái thân khổ sở này sẽ được sanh vào Thắng xứ”. Lại nghĩ rằng: “Cái thân khổ này đây, ai là người hành sát, để chấm dứt mạng sống của nó. Đă nhớ ra rồi, hai đứa cháu của Bí-sô Thiện Ngữ, bẩm tánh thô bạo có thể thực hiện việc này giúp ta khỏi phải nhờ ai làm ǵ”. Suy nghĩ như vậy rồi liền hỏi với Thiện Ngữ:

- Hai đứa cháu ngoại của Cụ thọ hiện nay ở đâu ?

- Tôi không muốn nghe đến tên hai đứa nữa. - Thiện Ngữ nói. -Tôi đă dùng của tín thí nuôi nó, nay nó làm nghiệp ác, giống như Tổ phụ của nó đă làm. Đó là nghề săn bắn, đoạn các sinh mạng, lấy đó làm nghề nuôi sống.

Bí-sô Kiết Tường nói:

- Không nên đối với hai cháu có tâm hiềm hận như vậy. Dù sao hai cháu khi c̣n ở nơi rừng Thệ-đa, cho đến con trùng, con kiến các cháu chưa hề giết hại. Do người ác khuyến dụ nên nay hai cháu làm nghề ác như vậy thôi. Bây giờ chuyện đă khác rồi, Cụ thọ nên khuyên hai cháu từ bỏ bè đảng xấu ác kia. Cụ thọ có gặp hai cháu nên gọi về đây giúp đỡ chăm sóc tôi đang lúc bệnh nặng. Cụ thọ biết đó, Ngài có đi đâu vắng, tôi nằm một ḿnh chẳng biết nhờ ai.

Lúc bấy giờ, Thiện Ngữ đi ra ngoài khất thực, thấy hai cháu bán thịt nơi cửa hàng tươi sống. Hai cháu vừa thấy cậu, đều đảnh lễ dưới chân cậu.

Thiện Ngữ khi ấy giận mà nói:

- Tôi với hai cháu có bà con quen thuộc ǵ!

Ngài là cậu của hai cháu. - Hai đồng tử nói.

Thiện Ngữ nói tiếp:

- Cụ thọ Kiết Tường thân thuộc sao với hai cháu ?

- Cụ thọ Kiết Tường cũng là cậu của hai cháu. - Đồng tử thưa.

Thiện Ngữ bèn nói:

- Từ ngày hai cháu ra đi, sau đó, Kiết Tường lâm trọng bệnh, hai cháu đă có lần nào ghé thăm chưa ?

- Thưa cậu thật t́nh hai cháu không biết, hai đồng tử buồn buồn, nói tiếp: Nay hai cháu muốn về thăm gấp, cậu có dặn điều ǵ không ?

Thiện Ngữ nói:

- Nếu Kiết Tường cần chi th́ hai cháu cứ làm giúp. Nói rồi liền đi.

Hai đồng tử đến chỗ Kiết Tường, đảnh lễ sát chân Ngài rồi ngồi qua một bên.

Kiết Tường đón hai đồng tử và hỏi:

- Thánh giả Thiện Ngữ với hai cháu bà con thế nào ?.

- Thánh giả là cậu của hai cháu.- Hai đồng tử trả lời.

Kiết Tường nói tiếp:

- Tôi nay cùng hai cháu bà con thế nào ?

- Thưa, Thánh giả cũng là cậu của hai cháu. - Hai đồng tử vui vẻ nói.

Bí-sô Kiết Tường lại nói:

- Từ ngày tôi lâm trọng bệnh, sao hai cháu không về thăm ?!

- Thưa, người cậu kính mến, thật t́nh hai cháu không biết cậu bệnh, hai đồng tử buồn thưa tiếp. Hai cháu vừa mới nghe nói liền đến thăm cậu.

Kiết Tường nói:

- Hai cháu có muốn nguyện cho cậu sanh lên thiên đường không ?

Thưa cậu, xin nguyện sanh về ấy! Hai đồng tử trả lời.

Bí-sô Kiết Tường nói:

- Nếu thật như vậy, cậu sẽ hướng về phương khác, phồn vinh vui vẻ hơn. Thiên đường giải thoát đối với cậu h́nh như c̣n bị ngăn che bởi bức màn mỏng. Cậu nguyện vất bỏ thân khổ sở này để sanh về lạc xứ. Mạng căn này của cậu bây giờ có thể nhờ hai cháu đoạn được rồi.

Hai đồng tử liền ngạc nhiên trả lời:

- Tại sao có chuyện như vậy! Giả sử có kẻ nào đó đến hại cậu th́ cháu sẽ giết kẻ ấy, đâu có chuyện chúng cháu lại cùng nhau dứt mạng sống của cậu ?

Kiết Tường Bí-sô nói:

- Chẳng lẽ Thiện Ngữ không nói với các cháu là cậu cần điều ǵ th́ các cháu làm giúp đó sao ?

Hai đồng tử trả lời:

- Có nghe cậu nói, cậu bảo: “Nếu Cụ thọ nói chi th́ nên nghe làm theo”.

Kiết Tường nói:

- Hăy nghe theo lời cậu mà đoạn cái mạng căn phiền năo này của cậu đi.

Lúc bấy giờ hai đồng tử cùng nhau bàn bạc rằng:

- Đâu chẳng phải cậu của ta trước đă có trù lượng, cho nên kêu chúng ta về để làm việc như vậy.

Khi ấy một trong hai đồng tử rất thô bạo, liền cầm con dao bén chặt đứt yết hầu của Kiết Tường, rồi lấy tấm Bạch điệp trùm lên trên tử thi.

Vừa lúc ấy Thiện Ngữ trở về, nói:

- Chúng cháu trông nom bệnh, bệnh nhơn chắc ngủ được, phải thế không ?

Đồng tử trả lời:

- Cậu à! Kỳ này cậu của cháu ngủ luôn một mạch không dậy nữa đâu!

Thiện Ngữ nghe nói kinh hăi đổi sắc mặt, bèn tự nghĩ rằng: “Chắc đă có vấn đề rồi, nay ta cần t́m xét cho ra lẽ”. Ngay lúc ấy hai đồng tử thuật lại đầu đuôi vấn đề xảy ra. Bàng hoàng kinh hăi, Thiện Ngữ mất thần hồn, sờ sững đến giở tấm Bạch điệp thấy Kiết Tường đă bị giết. Tâm hồn Thiện Ngữ xúc động hối hận đến mănh liệt: “Đâu chẳng phải ta là người đă đi t́m người cầm dao dứt mạng sống của kẻ khác”. T́nh thân ái, thời ấy, đă ly biệt Thiện Ngữ. Ḷng Thiện Ngữ càng thêm sự hối hận khôn cùng. Đau khổ, dày ṿ, Thiện Ngữ bộc bạch với các Bí-sô việc này. Các Bí-sô bạch Phật.

Đức Phật bảo các Bí-sô Rằng:

- Bí-sô này không có tâm sát nên không phạm. Xong các Bí-sô không nên sai người vô trí chăm sóc người bệnh. Trường hợp có sự việc nào đó, phải đích thân người nuôi bệnh mà ra đi, với người bệnh không khéo giải quyết người nuôi bệnh th́ có thể xin chỉ giáo chung. Không nên để người bệnh phi lư bị tổn hại ngă rơi vào nước, lửa, ăn phải những thứ độc hại, cầm dao, búa rơi xuống gành, hào hoặc bệnh nhơn leo lên cây cao, ăn phải trái độc. Tất cả đều phải đề pḥng cẩn thận. Không  được để cho các tác nhân này xảy ra dẫn đến thương hại cho người bệnh. Nếu Bí-sô nào sai người vô trí chăm sóc bệnh nhơn, lại không khéo dạy vẽ người nuôi bệnh, bỏ bệnh nhơn đó mà đi, phạm tội Việt Pháp. Đây là duyên khởi nhưng chưa chế Học xứ.

Đức Phật ở thành Thất-la-phạt, vườn ông Cấp-cô-độc. Trong thành này có một Bí-sô, chiếc b́nh bát hằng ngày dùng bị phai màu và lủng chảy. Các Bí-sô khác thấy vậy nói:

- Cụ thọ dùng b́nh bát bạc màu và lủng chảy như vậy sao không xông khói, trét lại ?

Bí-sô trả lời:

- Xông khói, trét lại phải tốn nhiều vật tư nào là ngói bể, phân ḅ, dầu mè… chứ đâu phải dễ dàng.

Các Bí-sô nói:

- Nếu không có cái bát th́ Cụ thọ có thể sống được hay chăng ?.

- Không có b́nh bát dĩ nhiên là tôi không sống được. - Bí-sô ấy trả lời. - Xong có một Bí-sô ở tại… bệnh nặng không lâu nữa sẽ chết. Bí-sô ấy, có cái b́nh bát rất tốt, sáng sủa, tṛn trịa, có thể thọ dùng được. Vị ấy qua đời tôi sẽ lấy.

Các Bí-sô nghe như vậy bèn nói:

- Cụ thọ v́ cái bát mà sanh tâm cực ác Chiên-trà-la như vậy hay sao!

Vị Bí-sô ấy nghe rồi, xấu hổ sanh tâm truy hối, đứng lặng thinh không nói, với ư nghĩ: “Có phải chăng ta nay phạm tội ?” Đem sự việc ấy báo cáo với các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật. Đức Phật bảo các Bí-sô:

- Bí-sô này không có tâm cầu nguyện cho vị kia chết nên không phạm. Xong các Bí-sô không nên v́ cái bát mà sanh tâm cực ác Chiên-trà-la như vậy. Nếu khởi tâm này phạm tội Việt Pháp. Dù thế nào, các Bí-sô cũng phải bảo vệ cái b́nh bát như bảo vệ tṛng con mắt. Nên trét th́ phải trét, cần xông th́ phải xông, nếu Bí-sô có bát cần phải xông trét mà không làm, phạm tội Việt Pháp. Đây là duyên khởi xong chưa chế Học xứ.

Đức Phật ở thành Thất-la-phạt, vườn ông Cấp-cô-độc. Trong thành này có một Bí-sô, y Tăng-già-chi bị cũ rách nhàu nát. Các Bí-sô thấy vậy nói:

- Y Tăng-già-chi của Cụ thọ bị cũ rách nhàu nát, tại sao không giặt nhuộm vá nhíp lại ?

Vị ấy trả lời:

- Vá nhíp tu bổ lại phải cần nhiều vấn đề như thuốc nhuộm, kim chỉ, củi, nồi v.v… chứ đâu phải dễ!

Các Bí-sô nói:

- Nếu không có chiếc y. Cụ thọ có thể bảo vệ thân thể được chăng ?

- Dĩ nhiên không có tấm y th́ tôi không thể bảo vệ thân thể được. - Vị ấy trả lời. - Xong có một Bí-sô ở tại… lâm trọng bệnh không lâu sẽ qua đời. Vị ấy có tấm y Tăng-già-chi mới nhuộm sắc đỏ có thể thọ dụng được. Chừng nào qua đời, tôi sẽ lấy dùng.

Các Bí-sô nghe rồi liền nói:

- Cụ thọ v́ tấm y mà sanh tâm cực ác Chiên-trà-la như vậy sao ?

Bí-sô ấy nghe thế xấu hổ lắm, liền sanh tâm truy hối, làm thinh đứng, với ư nghĩ: “Có phải chăng ta nay phạm tội ?” Do đó liền đem sự việc tŕnh bày với các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật. Đức Phật bảo các Bí-sô:

- Bí-sô kia không có tâm chú nguyện cho kẻ khác chết, nên không phạm. Xong Bí-sô không nên v́ tấm y mà khởi tâm cực ác Chiên-trà-la như vậy. Vị nào khởi tâm như vậy phạm tội Việt Pháp. Dù sao các Bí-sô cũng phải bảo vệ y phục của ḿnh, như bảo vệ lớp da trên thân. Cần giặt, nhuộm, vá, nhíp là phải làm liền. Nếu không làm phạm tội Việt Pháp. Đây là duyên khởi xong chưa chế Học xứ.

Đức Phật ở thành Thất-la-phạt, vườn ông Cấp-cô-độc. Trong thành này có một Trưởng giả, tên là Thắng Quân, của cải nhẫy đầy, thọ dụng đầy đủ. Cưới người con gái cùng họ làm vợ. Không bao lâu người vợ có thai. Sau chín tháng sanh một đứa con trai, tướng mạo đoan nghiêm, nh́n thấy sắc tướng này ai cũng lấy làm vui. Trải qua hai mốt ngày, gia tộc vui mừng mở hội. Cha của hài nhi bồng hài nhi ra giới thiệu với ḍng họ và hỏi:

- Cháu này đặt tên ǵ ?

Mọi người luận bàn:

- Đây là con trai của Trưởng giả Thắng Quân, nên đặt tên là Đại Quân.

Chưa bao lâu, sau đó người vợ Trưởng giả lại sanh một hài nhi nữa, nhan mạo đặc biệt gấp bội phần đối với anh nó. H́nh tướng của cháu này đầy đủ viên măn… Nói rơ ràng như trước. Cũng theo lập luận trên, mọi người đặt tên cho nó là Tiểu Quân. Sau một thời gian, vợ của Thắng quân qua đời, nhục thân được đưa vào khu rừng mông quạnh làm lễ hoả táng.

Ngày tháng dần qua, nỗi buồn thương ôm ấp trong ḷng cũng phôi pha, Thắng Quân tự suy nghĩ: “Lấy vợ nữa sợ làm phiền hai đứa con, ta nên cưới vợ cho Đại Quân, thành lập gia đ́nh cho nó”. Thời gian không bao lâu, Trưởng giả thường đau yếu tuy có đầy đủ thuốc men, nhưng sự suy yếu ngày một tăng thêm. Để nhắc nhở dạy dỗ hai đứa con, Trưởng giả nói bài kệ:

Tích tụ đều tiêu tán.

Lên cao ắt rơi nặng.

Sum hợp để biệt ly.

Có sống là có chết!

Trưởng giả nói xong bài kệ, liền trút hơi thở cuối cùng. Nghi lễ hỏa táng tổ chức rất hoàn bị. Đại Quân v́ cha rộng tu các phước nghiệp. Tự nghĩ từ phụ của ta, lúc sanh tiền cung cấp cơm áo cho ta đầy đủ, nay người đă quá văng, ta phải tự xoay xở thế nào để gia nghiệp khỏi bị sa sút. Nay ta nên mang của cải hàng hoá đến xứ người trao đổi mua bán, t́m sự sống. Tự nghĩ như vậy rồi, bảo với Tiểu Quân rằng:

- Em nay có biết chăng, vị cha lành của chúng ta khi c̣n sanh tiền, cơm áo hằng ngày đầy đủ không thiếu thốn. Nay người đă khuất bóng ta nên tự doanh cầu. Em nên ở nhà trông nom gia nghiệp anh muốn đi kiếm đồng lợi nhuận, tạm thời phải dến xứ người, tùy theo đó để t́m sanh kế.

Người em trả lời với người anh rằng:

- Như vậy tốt lắm.

Lúc bấy giờ Đại Quân mang nhiều hàng hoá đem đến xứ người. Bất cứ chỗ nào mua bán trao đổi hàng hoá được, Đại Quân đều có mặt.

Sau thời gian, Đại Quân viết thư về cho Tiểu Quân, trong thư nói:

“Anh được b́nh an, mua bán thu hoạch được nhiều tài lợi, em nên vui vẻ ở nhà, coi ngó gia nghiệp chu toàn tốt đẹp. V́ ham của lợi cho nên cứ lao vào viễn xứ xa xôi. Sau thời gian nữa, lại gởi thư về cho người em”. trong thư có bài kệ:

Do tham nên cầu lợi,

Được lợi lại sanh tham.

Nên làm không nên làm,

V́ tham đều mất hết.

Hết nơi này đến nơi khác cầu lợi, cứ thế đến tận biên phương xa nhất. Trải qua nhiều năm, bặt vô âm tín, người vợ của Đại Quân sống với cơm ngon, áo đẹp hằng ngày dục t́nh lại từng ư niệm pháp sanh. Đối với Tiểu Quân bà ta biểu lộ rơ tướng dăm dục đắm say. Tiểu Quân không chấp thuận. Dục niệm càng tăng bà ta nói với Tiểu Quân rằng:

- Người ơi! Sao không nghĩ đến việc…?

Tiểu Quân vừa nghe liền bịt tai, nói:

- Chớ nói lời như vậy, chị dâu lớn là như mẹ.

          Người nữ, tánh t́nh tráo trở không học mà vẫn cứ biết. Dạo ấy, bà mặc áo rách trở về cha mẹ ḿnh. Bà tự “lâm sàng” với chứng ưu năo, thô ác hiện rơ trên giường.

Bà mẹ và người trong nhà đều hỏi:

- Tại sao có sự ưu khổ đến nông nổi này ?

          Cô ta ảo năo nói:

- Cái khổ của người nữ không ai biết được đâu! Tôi bị ḷng dâm dục dồn nén ép ngặt!

          Bà mẹ dùng mọi cách an ủi con ḿnh. Nàng ta vẫn mặc áo rách tẩm ḿnh trên chiếc giường cũ kỷ, không dậy.

Nàng ta, lại thưa với mẹ rằng:

- Con bị dục tâm hồn dồn nén bức bách, mẹ biết t́m cho con một vị trượng phu.

          Bà mẹ ngơ ngáo bảo con của ḿnh rằng:

- Tiểu lang của con dung mạo đoan chánh, tại sao con không t́m cầu nơi chàng ấy ?

       - Con đă t́m cầu mà chàng ấy không chấp thuận. - Vợ của Đại Quân nói.

Người mẹ lại nói:

- Con đâu không thấy, bao nhiêu người vợ khác, chồng họ đi xa, họ vẫn giữ lấy trinh tháo. Tại sao, nay chỉ ḿnh con lại cứ ôm sầu khổ!

          Vợ của Đại Quân áo năo nói:

- Chồng người ta, đi xa, có tin tức, nên có hy vọng gặp nhau; c̣n chồng của con không hề có tin tức chi cả, chắc chắn là đă chết!

          Tuy bà mẹ khuyên dụ nói năng đủ cách mà vợ của Đại Quân vẫn nằm trên giường chứ không ngồi dậy.

Cô ta lại thưa với mẹ rằng:

- Bao nhiêu lời khuyên nhũ của mẹ, mẹ nên dùng nó t́m cho con một vị trượng phu. Nếu mẹ làm trái ư của con, con sẽ trốn, bỏ nhà ra đi. Khi đó cả hai họ đều mang tiếng xấu.

          Lúc bấy giờ, cha mẹ cùng với họ hàng thân tộc bàn kế hoạch rằng:

- Xét rằng ư nghĩ cục bộ của vợ Đại Quân không hề thay đổi. Chúng ta nên thiết lập một bữa tiệc đầy đủ thịnh soạn, mời Tiểu Quân đến dự.

Tiểu Quân được mời đến tham dự. Tiệc xong chúng ta tŕnh bày với Tiểu Quân như thế này:

- Nay có chút việc riêng, ở trong thế kẹt, chúng ta cần phải giải quyết. Chị dâu lớn của Tiểu Quân bị dục tâm dồn nén, bức bách đ̣i hỏi, Tiểu Quân cần lưu tâm bảo bọc đừng để chị dâu của Tiểu Quân bức bách trốn làm việc bất chính.

Tiểu Quân nghe tŕnh bày như vậy rồi bèn tự suy nghĩ: “Chị dâu của ta đây, từ nhỏ đă về nơi nhà ta, không nên để cho chị dâu ta vội đi lấy người khác; hơn nữa, sợ hai họ bị phơi bày tiếng xấu”.Tiểu Quân suy nghĩ như vậy rồi, tỏ ư thuận theo. Họ cùng nhau trở về nhà, ngôi nhà có người vợ đảm đang. Hai người ăn ở với nhau không bao lâu, người vợ có thai.

Bạn gái của vợ Đại Quân thấy, lấy làm lạ hỏi:

       - Cái “bầu tâm sự” từ đâu mà đưa đến được như vậy ?

Cô ta chua ngoa trả lời:

       - Từ khi chồng tôi đi vắng, quyết goá bụa mà sống, cớ ǵ các bạn lại cùng nhau quấy nói, bôi nhọ tôi như vậy!

          Lại có một số người nữ thân mật, trong chỗ riêng tư với nhau đă nói:

- Tuy người muốn giấu nhưng ngặc nổi tướng mạo đă quá rơ ràng.

          - Ồ! Th́ tôi có thai th́ đă sao ? - Đương sự đáp lời.

          Người ta hỏi:

- Ai là tác giả ?

          Đương sự không ngần ngại nói:

- Tiểu Quân.

          Các người bạn gái lại bảo rằng:

- Nếu chính của Tiểu lang th́ đâu có lỗi ǵ ?

          Bụng của vợ Tiểu Quân , ngày càng lớn dần!

          Bất ngờ, thơ của Đại Quân lại gởi về báo với Tiểu Quân rằng: “Trên bước đường mua bán t́m cầu bảo vật nơi tha phương của anh, tất cả đều toại ư. Em chớ lo buồn, không bao lâu nữa anh sẽ về”.

          Tiểu Quân đọc thư xong, ḷng sanh hối hận tột đỉnh! Nỗi niềm riêng tư tự bạch: “Ta trông anh ta, như nắng trông mưa. Từ lâu bặt tin tức, lại không thấy trở về. Ta vốn vô tâm làm việc tội lỗi, hành vi xấu xa. Sự việc thô bỉ, xấu ác bị phơi bày, biết nói sao khi anh về”. Người đời có nói: “Oan gia số một, nặng nề nhất, không ǵ độc hại hơn là xâm phạm vợ người khác. Anh của ta về, nếu biết, chắc chắn gây tổn hại đối với ta. Nay ta nên trốn đi, đến một phương trời xa xăm mà chôn lắp cuộc đời. Nhưng rồi lại nghĩ quê hương này, gia đ́nh này khó vứt lại sau lưng. Nay vua Thắng Quang ḍng Thích-ca tử, đồng vương thái tử, tự tại vô ngại, ta nên đến đó để cầu xuất gia, anh của ta trở về, dầu muốn làm chi cũng không thể được”. Nghĩ như vậy rồi, Tiểu Quân liền đến rừng Thệ-đa, gặp một Bí-sô thưa rằng:

- Kính thưa Thánh giả! Nay con muốn xuất gia, xin Thánh giả rủ ḷng thương hứa khả cho.

          Bí-sô nói:

- Vất bỏ của cải một cách dễ dàng mà đi xuất gia được là một điều rất tốt.

          Bí-sô cho cạo tóc, mặc pháp phục, thọ Viên cụ, dạy sơ lược về nghi thức, rồi nói:

- Hiền thủ! “Nai không nuôi nai”, giúp nhau là điều rất khó, thành Thất-la-phạt rộng răi, người nên khất thực để tự nuôi thân.

Tiểu Quân bạch rằng:

       - Thưa Ô-ba-đà-da, con xin vâng lời thầy dạy.

Tiểu Quân liền đắp y bưng bát, sáng hôm ấy vào thành khất thực, bèn đến nhà cũ, người vợ từ xa nh́n thấy, đấm ngực nói:

       - Tại sao Tiểu Quân lại bỏ em đi xuất gia ?!

Tiểu Quân nói:

       - Đừng nói lời nói ấy. Tại sao không biết ? Tôi trông anh tôi, như nắng trông mưa, tin tức dức bặt, lại không thấy về, tôi bèn cùng chị làm việc xấu ác tội lỗi như vậy. Anh tôi về biết việc này, chắc chắn sẽ gây tổn hại cho tôi.

Người vợ ấy cướp lời:

       - Ông muốn tự tránh, c̣n tôi làm sao đây ?

Tiểu Quân nói:

       - Tôi bị “người” bức lấy, vốn vô tâm trong vấn đề này, c̣n chị là người tự muốn trói ḿnh th́ gắng chịu lấy. Tiểu Quân nói xong tự bỏ đi.

Lúc bấy giờ Tiểu Quân có một người bạn thân thuở trước, biết rành phương thang về thuốc, đến nơi nhà cũ hỏi:

       - Tiểu Quân có ở nhà không ?

Vợ của Đại Quân hằn học trả lời:

       - Tôi là kẻ bị khi dối sỉ nhục, họ bỏ tôi đi xuất gia rồi.

Người bạn cựu thân ấy hỏi:

- Ông bạn tôi, hiện nay ở đâu ?

- Ông ấy ở nơi rừng Thệ-đa, trú xứ của Sa-môn, không tin, đến đó th́ biết. - Vợ của Đại Quân vùng vằn nói.

Y theo lời, người cựu thân ấy t́m đến đó. Thấy Bí-sô, người nào tương tự giống như người nấy, không biết ai là Tiểu Quân, lần lựa hỏi:

- Bí-sô Tiểu Quân ở đâu ?

Khi ấy, có một Bí-sô dẫn chỉ ra chỗ Bí-sô Tiểu Quân. Họ đă giáp mặt nhau, người bạn hỏi Tiểu Quân:

- Tại sao bạn xuất gia mà không cho ḿnh biết với ?!

Tiểu Quân từ tốn trả lời:

- Không nên trách ḿnh về việc phải vội đi xuất gia.

Tôi kể anh nghe:

- Tôi cảm thấy ḿnh quá tội lỗi khi đọc thư của anh tôi giải bày sự làm ăn biền biệt kia... Không c̣n sự lựa chọn tốt đẹp nào khác; tôi đă chọn làm Sa-môn.

Người bạn thầy thuốc trả lời:

- Tôi vốn chuyên môn pha chế, luyện các phương thuốc, nếu người mang thai, có thuốc để làm tiêu thai.

Tiểu Quân nghe nói điều này, lặng thinh đứng. Lui về, vị tri thức kia hổn hợp làm liều thuốc tiêu thai, rồi bảo một người nữ đem đến đưa cho vợ của Tiểu Quân, với lời dặn:

       - Đây là thuốc tán, Bí-sô Tiểu Quân sai tôi đem đến, hoà với nước, rồi uống, chắc chắn sẽ được b́nh an, tốt đẹp.

Người nữ đó đă đến trao thuốc với lời dặn “tốt đẹp” mà người thầy thuốc đă nhờ. Vợ của Tiểu Quân nghe rồi, nhận thuốc và y như lời dặn hoà thuốc mà uống... Thai liền bị trục ra ngoài, bụng hết lớn. Mọi người biết và nhờ biết qua cái bụng xẹp kia. Giới phụ nữ hỏi:

- Cái thai, nay đâu rồi ?!

Vợ của Đại Quân ngược ngạo nói:

-Trước đây tôi đă nói: Từ ngày chồng tôi đi vắng tôi quyết chí giữ lấy sự goá bụa mà sống, các người đừng đem việc xấu ác mà bôi nhọ xét nét tôi như thế.

Khi ḷng dạ của nó là như thế th́ những người nữ trong chỗ thân mật, riêng tư hỏi rằng:

       - Tại sao trước đây bảo là mang thai của Tiểu Quân, nay v́ sao lại nói trước đây không có nghĩa là thế nào ?

Vợ của Tiểu Lang gượng gạo nói:

- Vật ấy từ kia mà đến, nay trở lại theo kia.

Các bạn ngơ ngác hỏi:

- Làm thế nào được như vậy ?

Vợ Tiểu Lang ngập ngừng nói:

- Tiểu Quân cho thuốc độc tôi uống nên cái thai đă tiêu.

Giới phụ nữ nghe được cùng khởi lên sự cơ hiềm:

- Con của Thích-ca có khả năng làm ác, rất tàn nhẫn, chẳng phải chơn Sa-môn, cho người uống thuốc độc làm cho họ bị trục thai.

Tiếng ác độc này đồn khắp cả thành ấp đều cho rằng Bí-sô Tiểu Quân thủ phạm tạo ra cái tội nghiệp này ? Các Bí-sô nghe, bèn đến bạch Phật. Đức Phật hỏi Tiểu Quân:

- Thật sự ông có làm việc như vậy không ?

Tiểu Quân bạch:

- Bạch Thế Tôn, con không làm như vậy, thưa Thế Tôn con chỉ có tùy hỷ.

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn bảo các Bí-sô:

- Do bởi Tiểu Quân không có tâm sát cho nên không phạm. Xong, các Bí-sô không nên sanh tâm tùy hỷ với việc làm như vậy. Nếu người nào tùy hỷ, phạm tội Việt Pháp.

Thời gian không lâu, Đại Quân thu được lợi lộc, hoan hỷ trở về, cách thành phố không xa, tạm dừng chân nghỉ. Phàm người thế gian, nghe ai làm việc thiện th́ hỗ trợ vui mừng, thấy làm việc không tốt th́ buồn lo. Do vậy, có người báo cáo với vợ Đại Quân rằng:

- Đại Quân về đến... Của lợi rất ư dồi dào, tin để bà mừng.

Người vợ tánh vốn xảo trá, rất nhạy bén với vấn đề cho nên vừa nghe ḷng rất lo sợ. Cô ta mặc áo thô tệ nằm giường xấu. Khi Đại Quân đă vào đến thành, đă để hàng hoá nơi các cửa hiệu đâu vào đấy, ông ta vội vàng về nhà, thấy cảnh nhà buồn thiêu không được kiết tường. Đại Quân, hỏi người giúp việc:

- Gia chủ ở đâu ?

Người ở đáp rằng:

- Thưa! Gia chủ nằm trong pḥng.

Nghe thế Đại Quân đi ngay vào pḥng, hỏi:

- Hiền thủ! Tại sao em nghe anh về lại không vui mừng đón anh ?!

Người vợ tỉnh bơ đáp rằng:

- Nghe anh về đến... Thật sự em rất vui mừng. Nhưng nghiệt nỗi người mà anh giao phó thủ hộ em đă phá hoại em.

Đại Quân vội vàng hỏi:

- V́ sao vậy ?

- Tiểu Quân phi lư đă... Cưỡng bức xâm phạm em. - Vợ Đại Quân nói.

Đại Quân nổi giận gắt giọng:

- Như thế là hắn không những khi em mà c̣n khi anh nữa! Em ngồi dậy mau, anh thế nào cũng trị nó. Hiện nay nó ở đâu ?

- Nghe anh sắp về nó tẩu thoát bằng cách đi xuất gia. - Vợ Đại Quân trả lời.

       - Xuất gia ở đâu ? - Đại Quân hỏi.

       - Tại rừng Thệ-đa, chỗ của Thích Tử. - Vợ Đại Quân nói rơ như vậy.

Đại Quân quả quyết nói với vợ:

- Nơi đó đâu phải là thành an toàn, để ban phát cho bất cứ ai, anh sẽ đến đó dùng pháp trị phạt.

Lúc ấy, có một người nào đó đến nói với Tiểu Quân rằng:

- Tiểu Quân biết chăng! Anh của Tiểu Quân sẽ đến đây.

Tiểu Quân hỏi:

- Có nghe anh của tôi nói thế nào không ?

Người ấy nói:

- Anh của Tiểu Quân nói: “Rừng Thệ-đa đâu phải là nơi bất khả xâm phạm, để ban phát sự an toàn cho kẻ phạm tội đại ác, tôi sẽ đến đó dùng khổ pháp trị phạt”.

Khi được nghe như vậy, Tiểu Quân ḷng rất lo sợ, bèn nghĩ: “Ta do sợ sệt mà đến đây xuất gia, đâu có thể ở nơi đây để rồi lại bị tổn hại, tuy biết Bí-sô cũng là vương thái tử, không có chướng ngại. Xong ta có tội, nếu anh ta đến gặp, chắc chắn gây tổn hại cho ta. Nay ta nên trốn đi nơi trú xứ khác, đi đôi với sự suy nghĩ của ḿnh”. Tiểu Quân vội đến ngay thầy của ḿnh thưa rằng:

       - Kính Ô-ba-đà-da! Do bởi sợ anh của con mà cầu xuất gia, nay con nghe anh của con sắp đến đây gây khổ hại cho con.

Vị Bổn sư hỏi:

       - Anh của con là bà con thế nào ?

Tiểu Quân bạch:

       - Người ấy là anh ruột của con. Nay từ xa về toan đến hại con. Anh của con nói: “Đâu phải rừng Thệ-đa là nơi bất khả xâm phạm, là nơi thí Vô-úy. Anh ấy sẽ đến dùng khổ pháp trị con”. Tuy biết quốc pháp đồng vương thái tử an ẩn vô ngại. Xong con có tội, chắc anh con sẽ hại con. Cho nên con xin thầy, được phép trốn đi nơi khác.

Vị thầy hỏi:

       - Vậy con muốn đi đâu ?

Tiểu Quân thưa:

       - Bạch thầy con muốn đến thành Vương-xá.

Bổn sư của Tiểu Quân tỏ vẻ vui mừng nói:

       - Nơi đó, có những Bí-sô tri thức của thầy. Thầy sẽ viết thư để con mang đi. Chắc chắn bạn của thầy sẽ rủ ḷng thương niệm t́nh bảo hộ cho con.

Tiểu Quân ḷng phấn khởi thưa:

       - Bạch thầy, như vậy tốt lắm!

Vị thân giáo sư liền viết thư cho Bí-sô thân hửu của ḿnh, trong thư nói: “Tiểu Quân này là đệ tử của tôi, nay muốn đến nương tựa tu học nơi chốn xa lạ này, xin Ngài ân niệm, rủ ḷng thương giúp đỡ, che chở cho Tiểu Quân được an lạc trụ...”

Tiểu Quân nhận thư rồi lễ thầy tạm biệt. Với tâm trạng sợ sệt, mặc cảm Tiểu Quân vừa đi, vừa nh́n hai bên... và rồi hai bên đường lần lượt bỏ lại phía sau, đến thành Vương-xá Bí-sô Tiểu Quân hỏi thăm và đến thẳng nơi Bí-sô bạn thân của thầy ḿnh, lễ túc xong, dâng thư của thầy ḿnh lên vị Bí-sô thân hữu của thân giáo sư. Vị Bí-sô khui thư đọc xong, liền nói:

       - Thiện lai, Cụ thọ. Tôi như thầy cũ của Cụ thọ, Cụ thọ như đệ tử của tôi. Cụ thọ cứ ở bên tôi tu học Phật pháp. Cụ thọ cần y bát, đăy lọc nước... Tôi đều giúp đỡ, không thiếu thốn đâu. Xong Đức Thế Tôn có dạy, Bí-sô có hai việc cần phải làm tức là Thiền tư và đọc tụng. Cụ thọ sở thích thế nào ?

- Bạch thầy! Con thích tịnh lự. - Tiểu Quân trả lời.

Vị thầy ấy nói:

- Tốt lắm!

Vị thân giáo sư mới của Tiểu Quân y theo giáo pháp hướng dẫn Tiểu Quân. Lúc ấy, Bí-sô Tiểu Quân t́m đến khu rừng lạnh lẽo, nơi bỏ xác chết, tự sách tấn chuyên cần tu đoạn các kiết hoặc, chứng pháp vô sanh, đắc quả A-la-hán, xa ĺa nhục nhiễm của ba cơi. Không c̣n có ư tưởng nhị phân xem vàng và đất cùng một thể b́nh đẳng, không khác, như dao cắt mùi thơm một cách dễ dàng như tay cầm hư không tâm không quái ngại. Có khả năng dùng đại trí phá vỡ xác của vô minh. Tam minh, Lục thông, Tứ vô ngại biện, thật trọn vẹn đầy đủ. Các điều ái trước, lợi dưỡng cung kính, không một thứ ǵ, không buông xả. Đế thích chư thiên đều khen ngợi.

Sau một thời gian, Đại Quân đến trong rừng Thệ-đa, hỏi các Bí-sô:

- Thưa Thánh giả. Vừa qua có con ông Trưởng giả ở trong thành tên là Tiểu Quân, xuất gia tu ở nơi này phải không ?

Các Bí-sô trả lời:

- Có.

- Ông bà con thế nào với ông ấy ? - Các Bí-sô hỏi.

- Ông ấy là em của tôi. Hiện nay ông ấy ở đâu ? - Đại Quân trả lời và hỏi.

Các Bí-sô nói ông ấy đă đi xa rồi đến thành Vương-xá. Nghe thế Đại Quân lễ chào rồi ra đi, lại có suy nghĩ: “Dầu có đến đó đi nữa th́ đó cũng chẳng phải là nơi ban phát sự Vô-úy là thành th́ bất khả xâm phạm, an toàn cho kẻ có tội. Ta sẽ đến đó dùng pháp trị phạt”. Đại quân chuẩn bị lương thực đi đường, đến thành Vương-xá, vào trong rừng Trúc, hỏi các Bí-sô:

       - Thưa các Thánh giả. Vừa rồi có con ông Trưởng giả tên là Tiểu Quân, đă xuất gia nơi thành Thất-la-phạt nay đến đây hay chăng?

Các Bí-sô hỏi:

       - Ông ấy cùng với ông bà con thế nào ?

       - Ông ấy là em của tôi, Đại Quân nói xong, hỏi tiếp: Hiện nay ông ở đâu ?

       - Ông ấy ở nơi rừng lạnh, chỗ vất thây chết.

Đại Quân nghe rồi liền đến nơi rừng lạnh. Trong rừng đó, nhiều vị Bí-sô cùng tu phạm hạnh. thời gian cách biệt đă lâu nên Đại Quân không thể nhận ra dung mạo của Tiểu Quân trong số đông mà h́nh tướng đều giống nhau. Cần phải một thời gian lâu để nhận xét kỷ lưỡng tế nhị mới có thể biết được.

Đại Quân suy nghĩ: “Nếu nó biết ḿnh, nó sẽ giết hại ḿnh trước. Ta nên lánh mặt để đặt mưu kế mới được”. Với tính toán như vậy, Đại Quân liền ra ngoài rừng lạnh, ṿng nh́n khắp hướng. Đại Quân thấy một người thợ săn mang cung tên đi t́m thú rừng, đến gần và hỏi:

- Nay ông mang cung tên định để làm ǵ vậy ?

Thợ săn trả lời:

       - Tôi muốn đi săn bắn.

Đại Quân hỏi:

       - Ông săn như vậy thu được nhiều ít ?.

Thợ săn trả lời:

       - Khi th́ có, khi th́ không.

Đại Quân lại hỏi:

       - Nếu bữa có được thường là bao nhiêu ?

Thợ săn thành thật trả lời:

       - Độ năm, sáu kim tiền.

Đại Quân liền nói:

       - Nay tôi cho ông năm trăm kim tiền, ông có thể v́ tôi giết một Bí-sô oan gia của tôi được không ?

Khi ấy người thợ săn do tham lợi nên nhận tiền. Nhưng sau khi lấy số tiền rồi lại nghĩ: “Các Bí-sô đây được quốc vương ân sủng, sự đồng thái tử, tự tại vô ngại. Mai chiều, ta thường đến nơi đây. Nếu ta giết Bí-sô th́ vợ con của ta, chắc chắn sẽ bị hạ ngục đến chết. Lại nghĩ: Ban ngày ta từng vào trong rừng này, tâm ta c̣n sanh sợ sệt, lông trong người đều dựng ngược. Các Đại đức đây không luận ngày đêm thường ở trong rừng này mà được an ẩn, đâu chẳng phải là các ngài đă thành tựu được công hạnh thù thắng nào rồi chăng ? Xong người này, theo như lời nói là xa lạ ta chẳng biết họ là ai. Ta đă lấy tiền họ rồi mà không thể thực hiện th́ ngược lại, họ có thể trở lại giết ta”. Nghi như vậy rồi liền nạp tên độc vào cung bắn ngay vào ngực người ấy. Thuốc độc ngấm vào thân, ác tâm của Đại Quân khởi lên ư nghĩ: “Nay người thợ săn này phản lại hại ta, chắc chắn là Tiểu Quân lập mưu kế trước ta. Ta nay tuy chết, kiếp sau dù sanh vào cơi nào, loài nào, thề sẽ hại cho kỳ được Tiểu Quân”. Đại Quân vừa phát lời thề độc ác th́ tắt thở. Do vậy Đại Quân đầu sanh làm con rắn độc, nằm ngay dưới trục cửa ra vào của Tiểu Quân. Tuy là A-la-hán, nếu không Dự quán th́ không biết việc xảy ra kia.

Lúc ấy Tiểu Quân nhân lúc mở cánh cửa, bị trục cửa kẹp dập làm con rắn ấy chết ngay. Tâm độc ác chưa chấm dứt nên thân sau cũng làm con rắn độc lại ở trên cái trục cửa, rồi cũng bị kẹp dập chết như trước. Lại làm thân con rắn độc ở dưới chân giường và nơi chân giường này đến bốn lần con rắn độc chết lập lại thân, nhưng lần nào cũng bị Tiểu Quân dậm phải chết tươi. Qua nhiều lần chết và nhiều lần thọ thân, thân con rắn độc ấy nhỏ lại nhưng tâm độc ác càng lớn lên.

Sau đó một thời gian con rắn độc ấy lại sanh nơi cây sào tre máng y của Tiểu Quân. Trong lúc ấy, Tiểu Quân một ḿnh ở trong tịnh thất mặc nhiên tọa thiền. Về phía con rắn độc, do v́ tâm oán hận nhiều đời, nó ném ḿnh rơi trên thân Tiểu Quân dùng nọc độc phun vào Bí-sô này. Khi ấy Tiểu Quân hét lớn, kêu cứu các Bí-sô:

- Các Cụ thọ ơi! Có con rắn kỳ lạ, phun nọc độc ghê sợ, nhỏ bằng mút đũa, dài độ bốn tấc thôi, rớt trên ḿnh tôi, phun nọc độc vào người tôi. Các vị ơi! Mau cùng đến đỡ giúp đưa thân tôi ra khỏi pḥng. Cứu cho với, chứ thân thể, da thịt tôi đang bị nhứt buốt, xé rách như tay nắm đất bụi sỏi, thả ra th́ bị vỡ tan ngay.

Lúc bấy giờ Cụ thọ Xá-lợi-tử ở cách đó không xa, yên ngồi tư duy dưới một gốc cây, nghe tiếng kêu cứu của Tiểu Quân liền đến nơi, hỏi:

 - Tôi không thấy nhan sắc Cụ thọ có ǵ thay đổi cả, tại sao Cụ thọ nay lại bảo rằng: “Có con rắn kỳ dị phun nọc độc ghê sợ, nhỏ bằng mút đũa, dài chừng bốn tấc, rơi trên ḿnh tôi, các Ngài mau cùng đến d́u tôi ra khỏi pḥng, cứu giúp cho chứ thân thể, da thịt tôi đang bị nhứt buốt xé toan, như nắm lấy đất đá, sỏi cát, buông tay ta th́ cát bụi rơi tan tác ?”

Tiểu Quân liền đáp lời Xá-lợi-tử rằng:

       - Đại đức nếu đối với người mà mắt, tai, mũi , lưỡi, thân, ư có ngă và ngă sở. Với sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp có ngă và ngă sở. Với địa, thuỷ, hoả, phong, không, thức có ngă và ngă sở với sắc, thọ, tưởng, hành, thức có ngă và ngă sở. Người nào như vậy th́ khiến cho các căn dung hiệp với sắc có biến dị, thưa Đại đức! Nay tôi không vậy. Đối với các căn cảnh của tôi, sáu giới năm uẩn không có ngă và ngă sở, làm sao khiến cho tôi dung với sắc có biến khác.

Thưa Đại đức Xá-lợi-tử : Từ vô thỉ tôi có ngă, ngă sở, ngă mạn, chấp trước, tùy miên, phiền năo nay tôi đă biết và đă đoạn sạch gốc rể các thứ ấy, như cây Đa-la bị chặt đứt đầu không thể Tăng trưởng được nữa. Đối với đời vị lai tôi không c̣n tái sanh, há đâu lại khiến cho tôi dung nạp các sắc biến đổi kia.

Khi ấy, Cụ thọ Xá-lợi-tử cùng nhiều Bí-sô cùng d́u Tiểu Quân ra khỏi pḥng. Vừa ra khỏi pḥng th́ thân của Tiểu Quân ră rời thành hàng trăm mảnh, như bàn tay nắm cát rồi thả ra, từng hạt rời ră vậy. Lúc bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-tử nói Già-tha kệ:

                     Phạm hạnh đă thành lập,

                   Thánh đạo đă khéo tu,

                   Vui mừng khi hết sống,

                   Giống như xả các bệnh.

                                   *

                                 *   *       

                   Phạm hạnh đă thành lập,

                   Thánh đạo đă khéo tu,

                   Vui mừng khi hết sống,

                   Giống như bỏ đồ độc.

                                   *

                                 *   *

                   Phạm hạnh đă thành lập,

                   Thánh đạo đă khéo tu,

                   Khi chết không sợ sệt,

                   Giống như ra nhà lửa.

                                     *

                                    *    *    

                   Phạm hạnh đă thành lập,

                   Thánh đạo đă khéo tu,

                   Dùng trí quán thế gian,

                   Tựa hồ như cây cỏ.

                                    *

                                          *    * 

                   Việc cần làm đă xong,

                   Không trụ nơi sanh tử,

                   Đối với các đời sau,

                   Thân này không tiếp nối.

                                  *

                             *        *

Sau khi Tiểu Quân đă vào Niết-bàn, Tôn giả Xá-lợi-tử cùng các Bí-sô, thâu hết cốt nhục của người hỏa thiu cúng dường, rồi cùng nhau đến chỗ Thế Tôn đảnh lễ dưới chân Phật xong, ngồi qua một bên, bạch Thế Tôn rằng:

       - Bí-sô Tiểu Quân, bị con rắn độc, rớt nhằm trên thân, phun nọc độc ghê sợ, rắn ấy như mút đũa, dài bốn tấc thôi, nọc độc gây tác hại khiến thân thể của Tiểu Quân bị ră rời, giống như bàn tay nắm cát rồi thả ra rơi tứ tán nay Tiểu Quân đă Niết-bàn.

          Đức Thế Tôn bảo rằng:

       - Này Xá-lợi-tử ! Nếu Bí-sô Tiểu Quân lúc ấy tụng Già-tha và Cấm chú này th́ không bị nọc độc của rắn ngấm hại bên trong, thân không bị ră tan, như cát bụi.

          Khi ấy Xá-lợi-tử thưa với Thế Tôn:

       - Bài kệ Già-tha Cấm chú ấy như thế nào, cúi xin đức Thế Tôn v́ con tuyên thuyết để chúng con được nghe, rồi cùng thọ tŕ.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn v́ các Bí-sô nói Già-tha và Cấm chú như sau:

                   Ta với chủ giữ nước,

                   Và Hạt-la-mạt-nê,

                   Tập Bà-kim-bạt-la,

                   Đều cảm sanh niệm từ.    

                                             *

                                   *     *

                             Kiều-đáp-ma-xú-mục,

                   Nan-đà tiểu Nan-đà,

                   Không chân cùng hai chân,

                   Ta đều khởi niệm từ.

                                    *         

                                          *    *    

                     Đối với các loài rồng,

                   Nương nơi nước để sống,

                   Đến hữu t́nh đi đứng,

                   Ta đều khởi từ tâm.

                                     *

                                           *    *

                     Tất cả các người, trời,

                   Thần quỷ và bàng sanh,

                   Đều cảm nhận lợi an,

                   Không bệnh thường hoan hỷ. 

                                        *

                                            *    *

                   Chỗ thấy đều Hiền Thiện,

                   Không gặp những oán ác,

                   Ta niệm từ quyết khắp,

                   Không độc hại tương xâm.

                                     *        

                                    *    *

                   Nơi ghành hang nguy hiểm,

                   Ta đến tất mọi nơi,

                   Độc cắn hay độc hại,

                   Thường không làm hại nhau.

                                        *                                 

                                   *   *

                   Thế Tôn Bậc Cha lành,

                   Sở hữu chân thật ngôn,

                   Lời ta, lời Phật nói,

                   Các độc không hại ta.

                                   *

                                  *     *

                   Tham dục, sân, nhuế, si,

                   Là độc nhất thế gian,

                   Do lời pháp chân thật,

                   Các độc tự tiêu vong.

                                   *

                                  *     *

                   Tham dục, sân, nhuế, si,

                   Là độc nhất thế gian,

                   Do lời Tăng chân thật,

                   Các độc tự tiêu vong.

                                    *

                                   *     *

                   Diệt trừ các độc hại,

                   Ủng hộ và nhiếp thọ,

                   Phật trừ tất cả độc,

                   Rắn độc ngươi tiêu vong.                               

                                        *

                                    *     *

 Đát-điệt-tha-án, Đôn-tỷ-lệ-đôn-tỷ-lệ, Đôn-bệ, Bát-lỵ-đôn-bệ, Nại-đế-tô-nại-đế, Kê-nại-đế, Mâu-nại-duệ, Tô-mâu-nại-duệ, Đờn-đế-ni-la-kê-thế, Gia-lô-kế-bệ, Ốt-tỳ-doanh-cụ-lệ-ta-ha.

          Đức Phật bảo Ngài Xá-lợi-tử :

       - Nếu Bí-sô Tiểu Quân lúc bấy giờ, hoặc tự ḿnh, hoặc là người khác nói Già-tha và Thần chú này chắc chắn tránh khỏi sự xâm hại của rắn độc, không khiến cho thân của ông ta ră rời tan nát, như tay nắm cát, mở bàn tay ra cát rơi tan tác.

          Lúc bấy giờ các Bí-sô đều thấy có chỗ nghi nên bạch với đức Thế Tôn:

- Cúi xin Ngài đoạn nghi niệm của chúng con, chúng con xin được hỏi. Bí-sô Tiểu Quân đă từng làm nghiệp ǵ, do nghiệp lực đó, mà ở thân này được sanh nơi nhà đại phú, của báu đầy kho; lại tạo nghiệp ǵ, do nghiệp lực đó, được xuất gia trong chánh pháp của Thế Tôn, đoạn các phiền năo, đắc quả A-la-hán; lại tạo nghiệp ǵ, do nghiệp lực đó, tuy đắc Thánh quả lại bị rắn độc cắn, bức năo thân tâm mà nhập Niết-bàn ?

          Lúc bấy giờ, Thế Tôn bảo các Bí-sô rằng:

- Bí-sô Tiểu Quân này, nghiệp nhơn từng làm ắt phải gánh chịu, nhưng nghiệp mà Tiểu Quân tự tạo ra kia cứ tăng trưởng cho đến lúc chín mùi rồi như bóng theo h́nh duyên theo sự biến hiện của hiện tiền mà quyết định chiêu cảm quả báo không ai có thể thay thế được. Các Bí-sô nên biết: Vấn đề tạo nghiệp thiện, ác của một người không phải ngoài giới địa, thủy, hỏa, phong mới khiến người kia thọ báo mà đều ở trong tự thân uẩn, giới, xứ này mà chịu lấy quả dị thục.

          Thế Tôn liền nói bài kệ:

Dầu cho trăm ngàn kiếp,

Chỗ tạo nghiệp không mất,

Nhơn duyên khi hội ngộ,

Quả báo lại tự chịu.    

 Này, các Bí-sô thuở xưa kia, lúc Phật chưa xuất thế có một Thánh giả Độc Giác xuất hiện trong đời, thương lấy cái bần cùng, chính ḿnh thường thọ dụng y thực thô xấu, giống như Lân giác, chỉ có một phước điền. Bấy giờ, có một thôn nọ cư trú toàn những thợ săn, cách thôn không xa có một khu rừng lớn có ao. Nhiều loại cầm thú tập hợp nghỉ đổ bên ao nước này. Nhân lúc ấy người thợ săn nọ đem nhiều dụng cụ gài bẫy đánh bắt đặt nơi khu rừng đó. Hằng ngày thu hoạch được nhiều chim muông cầm thú.

Vào dịp nọ, vị Độc Giác lần đến thôn thợ săn, nương nấu nơi miễu Thiên từ vào mỗi sáng đắp y, bưng bát vào thôn khất thực. Đằng sau của điều nhận được thức ăn là sự suy nghĩ của vị Độc Giác rằng nơi Thiên từ này có quá nhiều người nói năng ồn ào lắm phức tạp... Bên ngoài Tụ lạc có một khu rừng tịch tịnh, ta sẽ khất thực rồi đến đó mà an trú. Lần theo sự t́m cầu thăm hỏi, vị Độc Giác cũng đến được gần bên ao. Nhận thấy khu rừng có được sự an tịnh, có thể nhận nơi này làm sự sống. Vị Độc Giác liền đem y bát để một bên, lọc nước, xem trùng, dùng nước rửa chân, lượm các lá rụng trải trên đất để ngồi. Ngọ trai xong rửa bát và tay, để bát chỗ ổn định rồi rửa chân, ngồi Kiết-già dưới một gốc cây, oai nghi tịch tịnh ,giống như Long vương, cuộn khúc yên nằm.

Ngay hôm ấy, v́ nghe có hơi người nên cầm thú không đến. Sáng ngày ấy, tên thợ săn kia, dậy sớm, đến bên bờ ao, xem khắp các cung, bẫy đặt gài đều không có cái bẫy nào thu hoạch được cầm thú.

 Ông ta bèn suy nghĩ: “Hằng ngày bẫy ta gài không cái nào là không bắt được, v́ sao hôm nay không có con nào mắc bẫy ?” Tên thợ săn quan sát bốn phương, xung quanh bờ ao, thấy có dấu của người. T́m xem dấu chân, đến một nơi, thấy vị Độc Giác oai nghi tịch tịnh tréo mẩy chân ngồi. H́nh ảnh ấy tác động lên người thợ săn ư nghĩ: “Nay ta xem người xuất gia này với oai nghi tịch tịnh, phản ánh sự yêu thích của ông ta với nơi này. Nếu ta không đoạn sanh mạng người này, th́ có thể khiến miếng cơm, manh áo của đời ta bị đứt tuyệt”. Do ư độc hại, không nghĩ đến đời sau, liền lấy mũi tên có tẩm thuốc độc bắn vào nơi ách yếu của vị Độc Giác.

 Trước sự việc ấy, Thánh giả suy nghĩ: “Đâu nên để cho người thợ săn vô ư thức này phải lâu dài đầu sanh trong đường ác, thọ đại khổ năo. Ta nên cứu vớt đem họ ra khỏi nơi ấy”. Như một Nga vương, vi Độc Giác liền bay lên hư không, thân h́nh tuôn ra nước, lửa, hiện đại thần thông. Các loài dị sanh, thấy thần thông như vậy, như cây to bị xô găy, tức tốc hướng về nương tựa. Từ xa đảnh lễ, người thợ săn thành kính thưa rằng:

- Chơn thật phước điền! Cúi xin Ngài giáng hạ! Cúi xin ngài giáng hạ! Con là kẻ ngu si vô thức, ch́m đắm trong đống bùn tham dục, xin ngài rủ ḷng từ bi lân mẫn cứu đời con.

Với ḷng lân mẫn của ḿnh vị Độc Giác bỗng chốc tung thân giáng hạ. Ông thợ săn cảm động đến rơi lệ, qú gối nhổ cây tên thuốc độc rồi lấy đồ băng lại vết thương. Ông ta thưa với Thánh giả rằng:

- Mời Ngài đến nhà con để con thuốc thang chạy chữa. Nếu cần Kim-nê dùng để thoa lên nơi vết thương con cũng kiếm t́m mà lo chữa trị cho Thánh giả.

Trong khi ấy, vị Độc Giác lại khởi lên ư nghĩ: “Nay thân này của ta máu mủ hôi thối nhơ nhớp, điều ta cần có nó để đạt được th́ đă đạt được rồi. Nay ta nên nhập vào cảnh giới Vô dư y diệu Niết-bàn”. Thế là vị Độc Giác liền bay trở lại hư không, hiện các thần thông mà vào Niết-bàn.

          Vào thời ấy, ông thợ săn kia, đại phú, nhiều của cải nên ông ta dùng các loại cây thơm hoả tán nhục thân Thánh giả, lại dùng sữa trâu để tưới tắt ngọn lửa, đem bao nhiêu cốt đặt trong b́nh bằng vàng, xây tháp thờ Xá-lợi trên khắp bốn nẻo đường, nơi nơi đều treo tràng phan, bảo cái, hoa hương kỷ nhạc, đích thân cúng dường, chí tâm đảnh lễ bảo tháp mà phát lời nguyện: “Con thật là kẻ ngu si mê muội, không biết điều thiện, điều ác nên đối với Bậc chơn thật phước điền, tạo điều cực ác, nguyện đời sau của con đừng vời lấy quả báo xấu. Tất cả căn lành do sự cúng dường của con đây làm thế nào đời sau của con sẽ được giàu sang thọ dụng đầy đủ, nhan sắc đoan chánh, ai thấy cũng đều hoan hỷ. Đầy đủ phước đức thù thắng như vậy. Đương nhiên con thừa kế sự nghiệp tối thắng của vị Đạo sư mà không sanh điều nhàm chán ”.

Này các Bí-sô! Các ông nên biết:

- Người thợ săn kia tức là Tiểu Quân vậy. Do bởi xưa kia dùng tên thuốc độc, bắn chỗ ách yếu để hại vị Độc Giác, nghiệp lực của việc ác này phải đọa nơi đại địa ngục Vô Gián, nhận sự thiêu đốt, khổ sở trong một kiếp; c̣n với tàn dư của nghiệp này th́ phải trong năm trăm đời, thường bị độc hại. Nay, tuy thân này đắc quả A-la-hán, vẫn bị độc hại mà vào Niết-bàn. Do lời nguyện ấy mà sanh vào nhà hào phú dung nhan đoan chánh và cho đến nay thôi không ngớt thọ dụng đầy đủ. (Nói rộng như trên), cho đến được xuất gia trong chánh pháp của Ta, đoạn các kiết hoặc chứng quả A-la-hán. Ta đối với trong trăm ngàn Câu-đê vị Độc Giác là bậc thầy tối thắng. Vị Độc Giác ấy đă thừa kế, sự nghiệp của ta không sanh nhàm chán.

Vậy nên, các Bí-sô, các ông nên biết:

- Nếu cái nghiệp thuần trắng, đắc cái quả Dị thục thuần trắng. Nếu cái nghiệp thuần đen, đắc cái quả Dị thục thuần đen. Nếu cái nghiệp trắng đen xen lộn, đắc cái quả Dị thục cũng xen lộn trắng và đen.

          Các ông Bí-sô nên bỏ cái nghiệp thuần đen, và cái nghiệp trắng đen xen lộn. Đối với cái nghiệp thuần trắng phải siêng năng tu học. Đây là duyên khởi nhưng chưa chế Học xứ.

 

CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA.

QUYỂN 6 - (hết).