CĂN BẢN THUYẾT
NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA
QUYỂN 4
TAM TẠNG PHÁP SƯ
NGHĨA TỊNH PHỤNG CHẾ DỊCH.
·
Giới thứ hai, phần ba, Học xứ không
cho mà lấy.
Lúc bấy giờ Bạc-già-phạm ở tại
thành Thất-la-phạt, rừng Thệ-đa, vườn của
ông Cấp-cô-độc, v́ các Bí-sô nói pháp môn cúng dường,
bằng bài kệ:
Người nào không làm phước,
Thường thọ
các báo khổ.
Người nào hay tu
phước
Đời này, đời
sau vui.
Lúc bấy giờ
các Bí-sô nghe bài pháp này rồi, làm nhiều các hạnh bố
thí, đối với Phật, Pháp, Tăng phát khởi rộng
lớn vấn đề cúng dường, giáo pháp của
đức Phật lúc ấy càng thêm rộng lớn. Trong
thành này có một Trưởng giả, vừa cưới vợ,
không bao lâu sanh được một đứa con. Đến
tuổi khôn lớn, lại xin xuất gia. Khi ấy, các
Bí-sô đă có được suy nghĩ: “Hiện tại trong
thành này, có nhiều Bí-sô, khất cầu khó được,
ta nay nên đi phương khác, v́ Phật, Pháp, Tăng phát
khởi sự cúng dường”. Các Bí-sô liền đến
phương khác, việc khất cầu được
đáp ứng nên thu nhận được nhiều lụa
là, phẩm vật. Ngày trở về thành Thất-la-phạt
các khăn đăy đầy ắp các phẩm vật. Đến
chỗ quan thuế theo đường, thuế quan hỏi:
- Thánh giả có vật ǵ để đóng
thuế không ?
- Hiền thủ tôi không vật ǵ phải
đóng thuế, Bí-sô nói.
Thuế quan lại ra lệnh:
- Ngài khoan đi, đem gói, xách lại
đây để xem xét th́ mới rơ.
Vừa mở đăy, xách ra th́ thấy đầy
ắp các phẩm vật tạp sắc bên trong. Quan thuế
nói:
- Đựng đầy cả đăy thế
này không đủ để đóng thuế, há phải
đợi cơng cả con lạc đà mới thu thuế hay
sao ?!
Bí-sô nói:
- Hiền thủ! Đây không phải vật
của tôi.
Quan thuế hỏi:
-Vậy th́ vật của ai
Bí-sô nói:
- Một là vật của Phật, hai là vật
của Pháp, ba là vật của Tăng.
Quan thuế nói:
- Tôi đâu biết vật của Phật,
Pháp, Tăng là ǵ. Chỉ cần đóng thuế th́ mới
được đi.
Bị giữ lại khám xét khá lâu và sau khi
đóng thuế, quan thuế mới cho đi. Ḷng ray rứt
hối tiếc trải dài cho đến thành Thất-la-phạt.
Các Bí-sô đem sự việc nói lại với các Bí-sô trú xứ.
Các Bí-sô bạch Phật, Phật dạy:
- Người này không phạm tội.
Nhưng không nên nói lời này. Vật của Tam Bảo nào
đây ? Nên đối với quan thuế nói lên những lời
khen ngợi Phật, Pháp, Tăng.
+ Thế nào gọi là khen ngợi Phật ?
- Nghĩa là nói Bạc-già-phạm, Như
Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện
Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều
Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.
Như vậy gọi là khen ngợi Phật.
+ Thế nào gọi là khen ngợi Pháp ?
- Tức là khen các Pháp yếu do đức
Thế Tôn khéo nói, ở trong hiện Pháp, th́ được
sự an lạc và tùy theo căn cơ mà diễn nói thích hợp
khiến cho họ hướng đến Niết-bàn. Tự
thân chứng được Tam minh Trí tuệ viên măn. Như
thế gọi là khen ngợi Pháp.
+ Thế nào gọi là khen ngợi Tăng ?
- Nghĩa là nói đức Thế Tôn có hàng
đệ tử Thanh-văn, an trụ nơi Chánh lư, Trực
tâm cung kính, tùy thuận theo Thắng pháp. Trong chúng có vị
đắc Dự lưu hướng Dự lưu quả,
có vị đắc Nhất lai hướng, Nhất lai quả,
có vị đắc Bất hoàn hướng, Bất hoàn quả,
có vị đắc A-la-hán hướng, A-la-hán quả. Tám hạng
đại nhân này đều viên măn Thi-la, viên măn Tam-ma-địa,
viên măn Bát-nhă, viên măn Giải thoát, viên măn Giải thoát tri kiến.
Đây là chỗ quay về nương tựa, đây là chỗ
nên cúng kính. Đây gọi là phước điền tột
cùng của thế gian. Như vậy tức là khen ngợi
Tăng. Khi tán thán, khen ngợi Tam Bảo như vậy, họ
cho đi càng tốt, nếu không cho đi th́ cần phải
đóng thuế mà đi. Nếu không làm như vậy phạm
tội Tốt-thổ-la-dă”.
Lúc bấy giờ có Bí-sô cúng dường Tam
Bảo, mang các tạp vật đi qua chỗ quan thuế,
tuy tán thán khen ngợi Tam Bảo đối với quan thuế,
xong quan thuế không chịu cho miễn thuế. Họ bắt
phải trả thuế, khi ấy Bí-sô tùy chỗ mang theo, lấy
một phần để trao cho họ. Phật bảo nên
lấy đều ở các phần chứ không nên
đưa trọn một phần. Bí-sô chia đều vật
để lấy, thời gian kéo dài chậm trễ, do vậy
không theo tập đoàn buôn dẫn đến bị giặc
cướp, hổ lang làm thương tổn.
Đức Phật bảo: “Không nên ngay lúc ấy
làm việc phân chia xé lẻ, linh động đưa cho
quan thế ấy một phần trong số vật ấy.
Khi đến trú xứ rồi mới quân b́nh đều chỗ
vật đă đóng thuế. Nếu làm khác như đây, phạm tội
Việt Pháp”.
Đức Phật ở thành Thất-la-phạt,
nơi vườn ông Cấp-cô-độc. Trong thành có một
Bí-sô hiểu rơ ba tạng, mọi người đều biết,
khéo hay nói pháp, biện tài thông suốt. Vị ấy du hành
nơi nhân gian và đến thành Vương-xá. Nơi
đây an cư ba tháng xong, muốn đến thành Thất-la-phạt
để được lảnh lễ dưới chân
đức Thế Tôn nên t́m tập đoàn buôn để
cùng đi. Trong khi ấy có một thương chủ muốn
mang của cải đến thành Thất-la-phạt. Nghe
tin này, Bí-sô t́m đến chỗ thương chủ. V́ ông
ta, nói ba pháp về phước nghiệp thù thắng tức
là Thí, Giới, Tu. Khi nói pháp xong khiến cho thương chủ
kia, tâm sanh kính tín, bèn thỉnh Bí-sô vào nhà trong để cúng
dường và đem một xấp lụa Bạch điệp
để dâng cúng, ông ta đảnh lễ sát chân và thưa:
- Thánh giả muốn con làm việc ǵ ?
Bí-sô nói:
- Hiền giả! Nay tôi muốn đến
thành Thất-la-phạt, đảnh lễ đức Thế
Tôn. Hiền giả đối với tôi, có thể khởi
ḷng bi mẫn, niệm t́nh giúp đỡ tôi chăng ?
- Tốt lắm thưa Thánh giả,
thương chủ nhận lời.
Ngày ấy, Bí-sô cùng với thương chủ
theo lộ tŕnh mà đi. Thương chủ thưa:
- Ngài v́ khất thực, con v́ tu phước.
Từ thành Vương-xá đến thành Thất-la-phạt,
trên một lộ tŕnh này, theo thời gian, y phục, ẩm
thực, ngọa cụ, y dược, mọi thứ cần
dùng, Ngài khỏi phải lo nghĩ.
- Bí-sô chấp nhận!
Đến các ải quan thuế theo
đường, tất cả hàng hoá của thương
chủ đều hoàn tất việc đóng thuế.
Thương chủ bèn nghĩ: “Hàng hoá của ta đă
đóng thuế xong, xấp Bạch điệp của
Thánh-giả chưa đóng thuế. Nếu họ đ̣i thuế
th́ ta cũng phải trả, vậy ta nên lấy xấp lụa
bỏ vào trong hàng hóa của ta”.
Thương chủ nói với Bí-sô:
- Xấp Bạch điệp của Thánh-giả
đâu có thể đưa cho con.
Bí-sô hỏi:
- Hiền thủ có sự hối tiếc về
sự cúng dường ấy rồi ư ?
Thương chủ thưa:
- Thưa thánh giả! Con không có hối tiếc.
Xong vật của con đă đóng thuế xong, c̣n xấp Bạch
điệp của Ngài chưa đóng thuế, nếu họ
đ̣i thuế th́ con cũng phải đóng.
Bí-sô nói:
- Hiền thủ! Thế Tôn đă chế Học
xứ: Bí-sô có vật phải đóng thuế, mang qua cửa
ải quan thuế mà không đóng thuế, phạm tội
Căn bổn.
Nghe thế, thương chủ bèn nghĩ:
“Như vậy là ư của Bí-sô không chịu trao xấp Bạch
điệp lại cho ḿnh, thôi tự ḿnh phải biết
cách thích nghi”.
- Thưa Thánh giả! Sáng nay con có nhiều
việc ổn định không thể sửa soạn
cơm nước được, Ngài có thể vào thôn tuỳ
duyên để cầu thực.
Nghe lời ấy, Bí-sô đi thẳng vào
thôn khất thực. Thương chủ ở nhà soạn lấy
xấp Bạch điệp để vào trong gói hàng hóa của
ḿnh. Khi đến chỗ quan thuế, người thu thuế
hỏi:
-Thánh giả! Trong gói hành lư của ngài có ǵ
phải đóng thuế không ?
- Tôi có một xấp Bạch điệp,
Bí-sô đáp.
Quan thuế nói:
- Xin lấy ra thử xem sao ?
Bí-sô mở gói hành lư không thấy xấp Bạch
điệp, bèn lật ngược bàn tay tỏ vẻ buồn
than.
Ngạc nhiên quan thuế hỏi Bí-sô rằng:
- Tại sao Thánh giả lật ngược
bàn tay tỏ vẽ buồn và than dài như vậy?
Bí-sô nói:
- Tôi có một xấp Bạch điệp bị
trộm lấy mất rồi!
Quan thuế nói:
- Không những Thánh giả bị trộm mà
tôi cũng bị trộm. V́ mất đi xấp Bạch
điệp này th́ tôi cũng mất đi khoản thu thuế.
Sau khi Bí-sô qua
khỏi chỗ quan thuế rồi, thương chủ
thưa:
- Tại sao Thánh giả có vẽ ưu sầu
không vui ?!
Bí-sô nói:
- Hiền thủ có cái phước bố
thí mà không có cái phước thọ dụng.
- Thánh giả nói như thế là nghĩa ǵ
?!
Bí-sô nói:
- Xấp Bạch điệp Hiền thủ
cho tôi bị mất cắp rồi.
Thương chủ thưa:
- Chẳng phải mất cắp đâu, con
sợ chỗ thuế quan họ đ̣i thuế, nên con
phương tiện đem xấp Bạch điệp ấy
để vào trong hàng hoá của con. Chắc chắn con phải
trao lại cho Thánh giả, nếu Thánh giả cần.
Bí-sô nói:
- Ôi! Này Hiền thủ, thà bị kẻ trộm
lấy, chứ không nên do thuế mà khiến cho tôi bị phạm
tội!
Thương chủ thưa:
Thánh giả! Đối với vấn đề
này Ngài đâu có khởi lên ba nghiệp, mà có tội ư ?!
Bí-sô nghe như vậy rồi tâm sanh hối hận. Khi
đến thành Thất-la-phạt, các Bí-sô chào hỏi:
Thiện lai! Cụ thọ, dọc
đường b́nh an không ?
Bí-sô đem tất cả sự việc xảy
ra tŕnh với các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật. Đức
Phật dạy:
“Bí-sô kia không phạm. Xong đối với
vấn đề đi đường có các quy tắc.
Ta nay phổ biến:
Khi đi đường, Bí-sô vào thôn khất thực, có
hành lư ǵ phải ghi nhận rơ ràng, khi trở lại phải
xem xét kỹ lưỡng. Nếu không thi hành , phạm tội
Việt Pháp”.
Đức Phật ở tại vườn
ông Cấp-cô-độc. Có hai Bí-sô, một già, một trẻ,
cùng nhau làm bạn, du hành, trong mhơn gian. Bí-sô già có nhiều
y vật, tư cụ lỉnh kỉnh, Bí-sô trẻ có ít
tư cụ. Bí-sô già, khi đi gần đến chỗ
quan thuế, v́ có vật phẩm cần đóng thuế nên
suy nghĩ: “Ta có vật phải đóng thuế, khi họ hỏi,
nếu ta nói không, th́ phạm tội vọng ngữ, nếu
ta nói có, ắt phải đóng thuế. Phương tiện
thế nào để tránh được hai điều
trên”, liền khởi ư niệm: “Có thể đưa vật
của ta cho Bí-sô trẻ mang, qua khỏi chỗ thuế ta sẽ
lấy lại”, bèn nói vói Bí-sô trẻ rằng:
- Ông có thể mang tạm vật phẩm của
tôi không
Vị Bí-sô trẻ thầm nghĩ: “Chắc
vị Bí-sô này, thân già mỏi mệt nên nhờ ta mang dùm hành
lư ”. Thế là vị Bí-sô trẻ nhận lấy hành lư mang
đi trước...
Quan thuế hỏi:
- Thánh giả có ǵ để đánh thuế
không ?
- Tôi không có vật ǵ để đánh thuế,
vị Bí-sô trẻ trả lời.
Quan thuế cho đi qua. Vị Bí-sô già, với
hai tay không, vừa đi đến sau, quan thuế không hỏi
ǵ. Khi qua khỏi ải quan thuế rồi, Bí-sô già nói:
- Cụ thọ! Hoàn y bát... lại cho tôi.
Vị Bí-sô trẻ nói:
- Thượng toạ đă bớt mệt
rồi hay sao ?.
Tôi đâu có ǵ phải nhọc mệt, vị
Bí-sô già nói:
- Tôi nhờ ông mang hành lư chỉ v́ tôi có những
vật phẩm phải đóng thuế, tôi nghĩ rằng:
“Nếu quan thuế, họ hỏi mà tôi nói không có vật ǵ
phải đóng thuế th́ phạm tội vọng ngữ,
c̣n nếu nói là có th́ quyết định phải trị
giá mà đóng thuế”. Do vậy, mới nhờ ông mang dùm
qua khỏi chỗ thuế quan mà thôi. Nay đă qua khỏi, Cụ
thọ trao hành lư lại cho tôi.
Vị Bí-sô trẻ nói:
- Như vậy, th́ ra, Thượng tọa
tự thân được khỏi đóng thuế, mà lại
khiến cho tôi phạm tội!
Bí-sô già nói:
- Ông không hề biết ǵ về vấn
đề này th́ nhơn đâu mà phạm tội ?.
Khi ấy vị Bí-sô trẻ ḷng cứ thắc
mắc nghi hối... Đến thành Thất-la-phạt rồi
tới Tỳ-ha-la. Các Bí-sô-niềm nở chào hỏi:
- Thiện lai! Cụ thọ, trên lộ tŕnh
có được an lạc chăng ?.
- Làm sao có an lạc được, Bí-sô trẻ
đáp lời.
- Tại sao vậy ? Các Bí-sô hỏi.
Bí-sô trẻ liền đem tất cả sự
việc tŕnh bày với các Bí-sô. Các Bí-sô bạch Phật.
Đức Phật dạy:
- Bí-sô kia không phạm tội. Xong các Bí-sô khi
đi đường, nếu không hỏi để biết
rơ th́ không nên mang vật của người khác qua khỏi
chỗ ải quan thuế. Khi v́ họ cần mang, phải
hỏi để biết rơ vật ấy không bị
đóng thuế. Hỏi biết rơ như vậy th́ tốt,
nếu không hỏi biết th́ phạm tội Việt Pháp.
Đức Phật dạy: “Không nên mang vật
có thể đóng thuế đi qua cửa ải quan thuế.
Nếu mang qua, phạm tội Việt Pháp”.
Bấy giờ có sáu mươi Bí-sô, du hành
trong nhơn gian, đến một tụ lạc, nơi
đây có một Trưởng giả, rất giàu có, vật
dụng rất nhiều, ḷng tin sâu đậm, gặp các
Bí-sô đều mời về nhà cúng dường cơm.
Ăn xong mỗi người cúng cho mỗi Bí-sô một cặp
Bạch điệp.
Bí-sô nói:
- Thánh giả! Phật Cấm chúng tôi không
được mang vật có thuế, qua ải quan thuế.
Làm sao chúng tôi được phép nhận vật này.
Trưởng giả lặng lẽ hiểu
ư, thôi không dâng cúng nữa. Các Bí-sô v́ Trưởng giả chú
nguyện xong ra đi theo hướng đường dẫn
về thành Thất-la-phạt. Đến nơi các Bí-sô chào
hỏi:
- Thiện lai! Cụ thọ, lộ tŕnh có
an lạc hay chăng ?.
- Lộ tŕnh an lạc, các Bí-sô trả lời.
Xong có thí chủ thỉnh chúng tôi về nhà mời cơm.
Ăn xong, họ muốn cúng mỗi chúng tôi một cặp
Bạch điệp. Chúng tôi không nhận, do Đức Phật
chế giới cấm không cho phép Bí-sô mang vật có đóng
thuế qua ải quan thuế, nhơn đó mà mất cái lợi
này. Các Bí-sô nghe rồi, bạch Phật.
Đức Phật bảo: “Nên thọ. Thọ
rồi nên nhuộm”.
Bấy giờ có Bí-sô được vật
muốn nhuộm. V́ phải t́m dụng cụ để nhuộm
nên kéo dài thời gian, do vậy lạc mất tập
đoàn buôn. Bí-sô bị hổ, lang v.v... làm thương hại.
Các Bí-sô đem nhơn duyên ấy bạch Phật.
Đức Phật dạy:
- Nên dùng nước rảy làm cho nó hoen ố
rồi tùy ư mang đi.
Khi đến chỗ thuế vẫn bị
đóng thuế. Phật dạy: “Nên dùng nước, phân ḅ
làm cho hoại sắt, nhưng vẫn bị đóng thuế.
Phật dạy: “Nên cắt rọc, vẽ màu vào. Nếu có
nạn duyên, ta mở cách cho như vậy. Khi không gặp nạn
duyên đều không nên áp dụng. Nếu trái, phạm tội
Việt Pháp’’.
Đức Phật ở tại vườn
ông Cấp-cô-độc, thành Thất-la-phạt. Khi ấy,
nơi thành Vương-xá có Bí-sô an cư ba tháng mùa Hạ
xong, chưa đến thời gian phân y, muốn đến
thành Thất-la-phạt, lễ chân đức Thế Tôn. Các
Bí-sô bảo nhau rằng:
- Chuyện ǵ gấp gáp vậy! Đợi
chia y có lợi hơn rồi sẽ khởi hành.
Ấy thế, Bí-sô cũng không vui ḷng ở
lại. Có một Bí-sô đem một xấp Bạch điệp
làm quà tặng lên đường cho vị Bí-sô kia. Vị ấy
nhận xấp Bạch điệp rồi bèn suy nghĩ: “Nếu
ta nhuộm cho hoại sắc th́ không có th́ giờ để
đến chào tạm biệt các đồng Phạm hạnh
của ta. Nên chờ Bí-sô quen biết giúp ta việc này”.
Bí-sô ấy liền đem xấp Bạch điệp đến
trao cho Bí-sô bạn nhờ nhuộm và nói:
- Cảm phiền bạn giúp tôi nhuộm cho
vậy. Nhuộm xong bỏ vào hành lư của tôi. Giờ th́
tôi đến các pḥng chào tạm biệt các Bí-sô.
Khi ấy, vị Bí-sô quen biết kia, do có tật
lười biếng nên không thể v́ bạn nhuộm
được, để nguyên như vậy cho vào gói hành
lư Bí-sô bạn đă dặn. Bấy giờ Bí-sô kia yên ḷng
mang y bát và hành lư lên đường. Khi đi đến chỗ
quan thuế, người thu thuế ấy hỏi Bí-sô:
- Thánh giả có chút ít vật ǵ phải
đóng thuế hay không ?
Bí-sô trả lời:
- Thưa hiền thủ, tôi không có vật
ǵ phải đóng thuế.
Quan thuế nói:
- Xin đem hành lư đến thử xem ra
sao. Họ lục t́m, vừa mở hành lư liền thấy một
xấp đại Bạch điệp, bèn nói: Thánh giả!
Ngài do ḷng tin, xuất gia trong giáo pháp chơn chánh, đâu cho
phép chỉ v́ một xấp Bạch điệp mà cố ư
nói láo ?!
Vị Bí-sô trả lời:
- Tôi thật không biết, thưa Hiền thủ.
Xong, khi tôi gần đi, có người cho một xấp Bạch
điệp. Tôi đem xấp Bạch điệp ấy nhờ
người bạn quen biết nhuộm cho hoại sắc,
rồi bỏ vào hành lư của tôi. Lúc ấy tôi bận
đi chào tạm biệt các bạn tôi. Người bạn
quen biết ấy v́ tánh làm biếng nổi lên nên không nhuộm
mà để nguyên như vậy, bỏ vào hành lư của tôi.
Người thu thuế nói:
- Đó không phải là chỗ quen biết với
ngài mà là bạn quen biết với tôi! Nhờ cớ sự
như vậy mà tôi được thu thuế món hàng này. Xin
Ngài trả thuế rồi tùy ư đi.
Không chần chừ Bí-sô nạp thuế rồi
đi. Ḷng ray rứt, hối hận suốt cả tuyến
đường. Về đến trú xứ các Bí-sô trong
thành Thất-la-phạt. Các Bí-sô thấy liền chào hỏi:
- Thiện lai, Cụ thọ! Trên lộ tŕnh
có được an ổn không ?
- Làm sao có
được sự an ổn. - Bí-sô trả lời.
- Tại sao vậy
? - Các Bí-sô hỏi.
Bí-sô đương sự đem tất cả
sự việc tŕnh bày với các Bí-sô. Các Bí-sô bạch Phật.
Đức Phật dạy:
- Bí-sô này không phạm. Xong Bí-sô này nên hỏi
Bí-sô kia trước khi mang hành lư đi. Nên hỏi như thế
này: Bạn đă nhuộm giùm cho tôi chưa ? Nếu không hỏi
mà mang đi, phạm tội Việt Pháp.
Đức Phật ở thành Thất-la-phạt,
trong vườn ông Cấp-cô-độc. Lúc bấy giờ,
Lục chúng Bí-sô, Nan-đà đến Ô-ba-nan-đà, nói
như thế này:
- Các vị Hắc bát đều dùng mỡ
của loài khỉ cái bôi nơi chân của họ, khi muốn
đi đâu thu được nhiều lợi dưỡng,
khi về nhận được nhiều lợi của
khách, nhiều người ưa mến, tất cả
đều kính trọng. Chúng ta như con ếch ở
đáy giếng, không hề bước ra khỏi cửa.
Chúng ta làm thế nào thu được lợi dưỡng
và rồi sự khâm ngưỡng của mọi người
rồi cũng mất luôn. Nay chúng ta nên đi như các
Bí-sô.
Ô-ba-nan-đà hỏi:
- Muốn đi đến nơi nào ?
Nan-đà trả lời:
- Chúng ta đi t́m gặp các thương tộc,
để cùng họ đi qua Bắc phương. Chúng ta hỏi
họ các vị muốn đến nơi nào vậy ?
- Chúng tôi muốn đến phương Bắc,
thương chủ trả lời.
- Cho tôi cùng đi với, Nan-đà nói.
Thương nhân nói:
- Phương Bắc, nơi ấy đất
đai cằn cỗi, khô khan có nhiều chó dữ, tánh
người thô sơ mộc mạc. Với phong thổ con
người như vậy các Ngài chưa có thể có
được an vui và kính trọng.
Nan-đà nói:
- Đành rằng như thế xong vấn
là cái vui được tham quan.
Thương nhân nói:
- Nếu v́ vui các Ngài đi th́ cùng đi cho
vui.
Nan-đà, Ô-ba-nan-đà bèn cùng tập đoàn
buôn đi đến phương Bắc. Khi vừa đến
nơi, cái không vui đă ngập ḷng. Sáng sớm hôm ấy,
hai Bí-sô liền vào ngay trung tâm thị trấn. Lúc ấy các
thương nhơn cũng có mặt và đến lễ
bái Bí-sô và thưa:
- Thưa Thánh giả! Phương Bắc tựa
hồ như sanh ra được ái lạc th́ phải ?
- Không phải vậy các Hiền thủ!
Ngay khi vừa mới đến chúng tôi đă không có cảm
t́nh rồi, Nan-đà nói.
Thương chủ nói:
- Chúng tôi đâu không đă nói trước với
Ngài là: phương Bắc, nơi đó đất đai cằn
cỗi, khô khan, có nhiều chó dữ, tánh người thô
sơ, mộc mạc. Các Ngài đến đó khó có thể
có được kính trọng và an vui đó sao! Nay, Thánh giả
đă không hài ḷng, muốn trở về Trung Quốc
chăng ?
- Quả
đúng như vậy, Nan-đà đáp lời.
Thương nhơn nói:
- Chúng tôi mới đến, hàng hóa bán
chưa xong, đâu có thể về liền được.
Có mấy người bạn của chúng tôi, họ bán xong
rồi, muốn trở về Trung Quốc, Ngài có thể
đi theo họ. Nếu muốn, tôi đưa Ngài đến
để gởi cho họ.
Nan-đà nói:
- Tốt lắm. Nan-đà cùng với
đoàn buôn lên đường về lại.
Lục chúng, tánh sợ gió bụi, nên đi
trước, hoặc đi sau. Tập đoàn buôn đi
trước nên gặp riêng đoàn con buôn từ Trung Quốc
đến, cùng hỏi thăm nhau:
- Quư vị từ đâu đến ?
- Chúng tôi từ Trung Quốc đến,
đoàn buôn trả lời.
Thương tộc hỏi:
- Trung Quốc mua bán thu lợi được
nhiều hay ít ? Các quan thuế có làm cho ta vất vả lắm
không ?
Đoàn con buôn trả lời:
- Nơi Trung Quốc mua bán tuy thu được
nhiều lợi lộc, xong các ải quan thuế, thu đến
mức tối đa, giống như bọn giặc cướp,
thật ḷng mà nói suốt đời chúng ta không thể chấp
nhận sự dung thứ, bởi v́ sở hữu hàng hóa của
ta bị họ đoạt sạch mang đi.
Khi ấy, đoàn thương nhơn
phương Bắc, nghe như vậy rồi, mỗi
người ḷng đầy lo âu áo năo, đưa tay lên, tỏ
vẻ thất vọng, đứng trầm ngâm bên lề
đường. Vừa lúc ấy, Lục chúng, đi sau
đến nơi, hỏi thương nhơn rằng:
- Quư vị, tại sao tỏ dấu hiệu
thất vọng, sửng người một cách áo năo
như vậy ?
Thương nhơn nói:
- Thưa Thánh giả! chúng tôi v́ lạnh nóng,
đói khát, bức bách, ṃng muỗi, gió mưa, rắn rít làm
hại, khổ sở, vất vả không hề nghỉ
ngơi mong muốn có được nhiều tài vật
để được sung sướng, an nhàn thọ dụng,
do vậy, chúng tôi đi đến Trung Quốc xa xôi này, nay
lại nghe thông tin thương tộc như vầy: “Trung
Quốc, mua bán, tuy thu được nhiều lợi lộc,
xong quan thuế thẳng tay thu đoạt, giống như
bọn giặc cướp, tất cả hàng hóa sở hữu
đều bị thu”. Chúng tôi nghe như vậy sao không buồn!?
Lục chúng nói:
- Các bạn là tri thức của chúng tôi, việc
ǵ phải lo buồn ?
Thương nhơn nói:
- Thánh giả đâu có thể v́ chúng tôi mà
xin nhà vua miễn thuế hay sao ?
Lục chúng nói:
- Chúng tôi không phải v́ các vị mà xin nhà
vua miễn thuế. Xong vua thành Thất-la-phạt có chế
lệnh: “Ai không rơ biết th́ không nên đ̣i thuế họ”.
Có mười tám cửa thành lớn, ba mươi sáu cửa
thành nhỏ. Chúng ta sẽ cùng đi vào nơi cửa nhỏ
ấy.
Thương nhơn nghe rồi vui mừng
cùng đi. Cách thành không xa có một Tụ lạc, họ dừng
nghỉ lại nơi này.
Lục chúng nói:
- Mọi người nên cần nghỉ
ngơi để ngựa, lạc đà lấy lại sức,
đợi đến chiều tối mới vào thành.
Lúc bấy giờ, nơi thành Thất-la-phạt,
phần hành thu thuế nghe, có đoàn thương tộc từ
phương Bắc đến, ở một nơi gần
cửa thành, đoàn dừng lại để cúng Thần
thủ môn Dạ Xoa. Lục chúng bảo rằng:
- Giờ th́ đă xẩm tối, hăy cùng nhau
vào thành theo lối cửa nhỏ.
Ngay lập tức tập đoàn buôn tranh thủ
xua đánh lừa ngựa cùng nhau vào thành trót lọt. Sáng
ngày hôm sau, nơi chợ búa và các cửa hàng bày bán la liệt
hàng hoá và sản phẩm phương Bắc.
Trong lúc ấy, có người không đi kịp
đoàn buôn này nên vào thành qua cửa lớn. Quan thuế chận
lại hỏi:
- Ông từ đâu đến ?
- Tôi từ Tụ Lạc... đến,
người ấy trả lời.
Quan thuế lại hỏi:
- Tôi nghe tập đoàn buôn khá lớn ở
phương Bắc đến, định trú nơi Tụ
lạc này việc ấy thật, hư thế nào ?
Người ấy trả lời:
- Đoàn thương tộc ấy chính là bạn
đồng hành của tôi. Họ đi trước, đă
vào thành rồi, riêng ḿnh tôi đi sau.
Quan thuế nghe rồi ḷng sanh phẩn năo,
nói thế này:
- Tôi đứng gác tại cửa thành,
đợi chờ, không hề thấy đi qua, vậy họ
đi vào đường nào ?
Người đó nói:
- Nếu không tin th́ đi với tôi, đến
trong Thị trấn, tận mắt mà biết hư, thật.
Không thể bỏ qua, quan thuế liền
theo người buôn ấy vào trong Thị trấn.
Trước mắt quan thuế,
thương khách bày la liệt hàng hóa phương Bắc
trao đổi mua bán. Ghi nhận sự thật quan thuế
hỏi:
- Ai đem các ngươi vào trong thành đây
?
- Chân của
tôi đem tôi vào, thương nhơn trả lời.
- Vâng tôi đă
rơ chân các ông đi vào đây, quan thuế nói. Xong điều
tôi muốn hỏi, ai đem các ông vào và vào nơi cửa
thành nào ?
- Chúng tôi vào bằng cửa riêng. -
Khách buôn trả lời.
Quan thuế nói:
- Nay tôi, cùng với các ngài là một, là chỗ
bạn bè thân thiết với nhau, xin cứ nói thật, ai dẫn
đường cho các người ?
- Thánh giả, Lục chúng, thương khách
trả lời.
Đă rơ lẽ, quan thuế tỏ vẻ bực
dọc cơ hiềm, mắng rằng:
- Con của Thích-ca là kẻ giặc đại
ác, chẳng phải Sa-môn chân thực, biết là của cải
của người khác mà vẫn đoạt thâu, ăn cắp.
Các Bí-sô nghe rồi, bạch Phật. Đức
Phật dạy:
- Bí-sô không nên dạy người khác đi
đường riêng để khỏi đóng thuế. Nếu
dạy người khác như vậy phạm tội Việt
Pháp.
Lúc bấy giờ quan thuế bèn khởi lên
ư nghĩ: “Lục chúng đây đều là Sa-môn hào hiệp,
nên cùng kết thân để biết được tâm hỷ
lạc của họ”. Ô-ba-nan-đà, sáng sớm hôm ấy
đắp y tŕ bát vào thành khất thực, nhân lúc ấy
quan thuế trông thấy liền đến chào hỏi:
- Thánh giả! Người đáng kính của
tôi.
Ô-ba-nan-đà nói:
- Nguyện Hiền thủ vô bệnh,
trường thọ.
Quan thuế hỏi:
- Trong b́nh bát có thức ăn ǵ không ? Tôi muốn
được xem.
- Ông muốn t́m xem trong b́nh bát tôi có vật
ǵ đóng thuế phải không ? - Bí-sô nói.
Quan thuế đáp:
- Thưa Thánh
giả! Tôi thề rằng tâm tôi không có ư nghĩ đó nếu
có thức ăn ǵ ngon làm ơn cho tôi ăn với.
Bí-sô nói:
- Tôi không hề thấy nước chảy
ngược. Ông nên cho tôi chứ đâu có chuyện tôi cho
ông.
Quan thuế trả lời:
- Thưa Thánh giả! Tôi nói vui thôi! Nguyện
Thánh giả quá bước đến nhà tôi.
Ô-ba-nan-đà liền đến nhà của
quan thuế. Quan thuế dùng thức ăn đầy
thượng diệu bỏ đầy b́nh bát trao cho
Ô-ba-nan-đà, đảnh lễ hai chân Sa-môn và nói:
-Thưa Thánh giả! Tôi là thị giả hầu
hạ Đại đức, có cần ǵ xin Thánh giả cho
biết, tôi xin phụng hành tất cả.
Ô-ba-nan-đà nói:
- Nguyện Hiền thủ vô bệnh,
trường thọ, nói xong từ tạ đi ra.
Lúc bấy giờ, Lục chúng Bí-sô, bất
cứ ở trú xứ nào, phần nhiều rời ngơ ra
đi là hàng đầu. Dụng ư tới lui với các
Sa-môn, Bà-la-môn cốt yếu hùng biện nói pháp. Có ai muốn
luận nghị họ chiết phục ngay. Tiếng
tăm của Lục chúng đồn khắp, lợi dưỡng
được tăng thêm.
Hồi ấy, pḥng ở của
Ô-ba-nan-đà, sát cạnh một con đường.
Ô-ba-nan-đà ở trên cao gác đầu đêm, sau đêm, tỉnh
giác tư duy. Cách chùa không xa, trong đêm, có một con buôn trốn
thuế, đi ngang qua. Càng lúc tiếng di động,
Ô-ba-nan-đà nghe rơ hơn. Nhận ra tiếng đi nhanh của
con buôn cùng với sự khác thường của nó,
Ô-ba-nan-đà vọng hỏi đến:
- Ai đi qua đó ?
Con buôn kia bèn nín thinh. Ô-ba-nan-đà vội
vàng xuống lầu đến ngay, chỗ người
đi, hỏi:
- Các người
là hạng người nào mà ban đêm lại đi nơi
đây ?
- Thưa thánh
giả! chúng tôi là con buôn trốn thuế, thương
nhơn thưa.
Ô-ba-nan-đà nói:
- Các ông ngu si, Thắng Quang đại
vương thường đến chùa này cúng dường
chúng Tăng một cách đầy đủ. Thượng
tọa Kiều-trần-như, chính Ngài v́ vua làm lễ chú
nguyện tại chùa này. Lời cầu nguyện: “Nguyện
Đại vương thọ dụng được nhiều
của cải châu báu. Vật ǵ quư giá chưa có khiến cho
có, đă có rồi luôn luôn khiến được nhiều
hơn”. Ông có hàng hóa ǵ chánh đáng th́ theo đại lộ
mà đi vào thành, nay lại đi ban đêm, muốn trốn
thuế hay sao ? giờ tôi đâu có thể để ông
đi mà không nói. Tôi sẽ phải đem lại điều
bất lợi cho ông.
Khi ấy, người con buôn kia sợ run,
thưa:
- Thánh giả rủ ḷng thương tha thứ
để con được nhờ. Tôi không bao giờ,
đối với Thánh giả, mà dám quên ơn.
Ô-ba-nan-đà nói:
- Các ông muốn báo cái ơn ǵ đây ?
- Có ít thức ăn, con sẽ mang đến
cúng. - Thương nhơn nói.
- Nếu thật có thể cho như vậy
th́ ông cứ đi. - Ô-ba-nan-đà nói.
Đoàn con buôn đi không xa, cùng nhau bàn luận:
- Thắng Quan đại vương với
uy quyền trong tay, bắt ta đóng thuế, ta c̣n không
đóng, huống hồ Ô-ba-nan-đà, anh chàng trọc đầu
không có tóc kia, sức mấy mà ta đem thức ăn
đem lại nạp cho lăo.
Bàn luận xong, liền trong đêm đi vào
thành Thất-la-phạt. Sáng ngày, vào trong thị trấn trao
đổi hàng hóa rồi đi luôn.
Sau bữa ăn sáng, Ô-ba-nan-đà rửa bát
xong, đứng trước cửa ngó bốn hướng.
Khi ấy có một Bí-sô thiếu niên, thấy Ô-ba-nan-đà
ngó tứ tung bèn hỏi:
- Thượng tọa cần ǵ mà ngó bốn
hướng như vậy ?
- Cụ thọ! Có một thương
nhơn quen biết với tôi, mang các hàng hoá vào trong thành Thất-la-phạt,
nên tôi trông họ. - Ô-ba-nan-đà nói.
- Khi Thượng tọa dùng bữa sáng,
người con buôn ấy đă đi rồi. - Bí-sô thiếu
niên thưa.
Nghe thế Ô-ba-nan-đà ḷng sanh phẫn nộ,
nói như vầy:
- Thế là ta cũng bị khinh dối. Họ
là kẻ không biết điều, dám lấy tay đấm
vào dao bén, lấy kim châm vào đá. Ta sẽ cho chúng một
bài học tới nơi tới chốn, cho chúng biết.
Thời gian không lâu đoàn con buôn lại trở
lại. Giống như lần trước, Ô-ba-nan-đà
tóm ngay và nói:
- Tôi đă bị ông dạy cho bài học lừa
dối.
- Thưa Thánh giả! Bữa trước có
việc cần gấp nên không đến trả lễ
được, xin Thánh giả cho hơn một lần dung
thứ. Ơn trước, sau thảy đều hậu tạ.
- Thương nhơn thưa.
Ô-ba-nan-đà nói:
- Hiền thủ, nếu ông thật như
vậy th́ tùy ông cứ đi.
Đi được một đỗi xa,
các thương gia cũng bàn luận như trước,
cho đến câu: “Thắng Quang đại vương ta
c̣n không đóng thuế, đâu có chuyện đối với
chàng Sa-môn trọc đầu này mà ta c̣n có thể đem dâng
cho hắn”.
Ô-ba-nan-đà tự nghĩ: “Trước hứa
với ta mà không trở lại trả ơn, không cách nào,
nay lại dám khi dối lần nữa”. Nghĩ như vậy
rồi, sáng sớm Ô-ba-nan-đà đắp y, bưng b́nh bát
vào trong Thị trấn, thấy thương gia ấy
đang bận rộn trao đổi hàng hóa, của cải,
trơ khuôn mặt ông ta ra, thương gia ấy liền trả
lời:
- Thưa Thánh giả! Công việc chào hàng,
trao đổi chưa xong, đợi xong,... chứ không dám
trái mạng, xin Thánh giả thông cảm cho.
Việc mua bán trao đổi hàng hóa giao xong
thương gia đi tuốt không thèm léo đến chùa. Ô-ba-nan-đà
vội vàng trở về trú xứ, ăn rong, rửa bát...
trông ngóng như trước cho đến lúc... biết
Thương gia đă trốn đi. Ô-ba-nan-đà nghe như
vậy rồi, càng thêm phẩn hận, đưa tay giận
dữ nói:
- Bọn vô học, tiểu nhơn, lại
đánh lừa dạy khôn ta lần nữa. Phen này nếu gặp
lại, ta sẽ trói, sẽ bắt... sẽ khiến cho bọn
nó hết cái đời làm thương gia.
Thời gian đi qua chưa được
bao lâu, sự việc y như trước đây lại tái
diễn. Ô-ba-nan-đà, tóm ngay bọn con buôn trốn thuế
nói:
- Bọn bay luôn luôn quỷ quyệt dối
trá đối với tao! Nay tao sẽ có biện pháp để
bọn bay biết mặt tao.
Thương gia tỏ vẻ sợ sệt
thưa:
- Cúi xin
Đại đức từ bi tha thứ cho. Chúng con là kẻ
buôn bán, nhiều việc bận rộn, tuy là thất hứa,
nhưng không hề dám khi dối. Trọng ơn của hai
kỳ trước và kỳ này, đợi xong việc bán
buôn, cùng lúc mang đến cúng đầy đủ.
Ô-ba-nan-đà bèn sanh ư nghĩ: “Ta đă hằn
học nặng lời, chắc chúng nó tự giác...” nghĩ
như vậy rồi lại nói:
- Thật sự, Hiền giả sẽ có
đem đến không ?
- Chúng tôi nhất định đem đến.
- Thương gia thưa.
Ô-ba-nan-đà nói:
- Nếu thật như vậy th́ các người
cứ đứng đó, tôi v́ các ông đi trước quan
sát đường sá, đừng để các người
bị họa, rồi chúng tôi mang tiếng không hay.
Ô-ba-nan-đà đi cách chùa không xa th́ các
thương nhơn bị giặc cướp. Bọn con
buôn nghe theo lời giặc mà đứng sững...
Ô-ba-nan-đà vội đến ngay chỗ cửa
quan thuế, ḍ la tin tức về các thương nhơn.
Lúc ấy quan thuế ngồi trong tư thế cảnh giác
lại cùng nhau bàn thảo:
- Chúng ta làm thế nào để khỏi sầu
năo. Đă có quá nhiều con buôn bằng mọi cách trốn
thuế, họ theo các cửa nhỏ mà vào thành, không thể
thu thuế được bọn này. Tính ra đại hội
sắp tới, nhà vua tính bạo ngược, nóng nảy
quyết không chấp nhận dung tha cho sự thất thu
này. Chúng ta, kể cả vợ con, thân thuộc chắc chắn
sẽ bị giam đến chết.
Khi ấy, Ô-ba-nan-đà đến ngay chỗ
của họ đang ngồi, nói:
- Tại sao các ông lo âu như vậy ?
- Thưa Thánh giả! Làm sao chúng tôi không lo âu
được! Đă có quá nhiều con buôn bằng mọi
cách trốn thuế. Họ theo các cửa nhỏ vào thành,
nên không thu thuế được. Nhà vua có tánh hung bạo
nóng nảy khác thường, đại hội tổng kết
sắp đến, nghe báo cáo bị thất thu, bọn tôi
chắc chắn không khỏi bị trừng trị.
Ô-ba-nan-đà nói:
- Các ông là người ngu si, ai bảo các ông
làm riêng nhiệm vụ thu thuế mà phải hợp tác nhiều
nghành cùng với Trượng sĩ giữ rừng thường
xuyên nhờ họ phụ giúp hoặc giả lại phải
đóng vai tṛ tiều phu: “Tại sao đối với kẻ
trốn thuế không thể tịch thu tài sản của họ
?”
Các quan thuế bèn nói:
- Thưa Thánh giả! Vua thành Thất-la-phạt
xưa kia có ra lệnh: Biết th́ thu, không biết th́ không
thu, không thu thuế nặng, làm sao tịch thu toàn bộ tài
sản của họ.
Ô-ba-nan-đà nói:
- Các ông là người vô trí. Thành Thất-la-phạt
có luật thu thuế nặng, mà biết mới thu.
Quan thuế thưa:
- Qua kinh nghiệm làm công tác thu thuế, chúng
tôi thường thu thuế đúng chính sách chỉ nghe, biết
mới thu thuế chứ không nghe nói có việc thu thuế
nặng. Nay, chúng tôi làm sao thu thuế nặng như vậy
được ?
Ô-ba-nan-đà nói:
- Đúng là các ông cứ đứng yên! Tôi,
sáng nay khi quay trở lại đây đă tha cho bọn giặc
trốn thuế. Các ông phải bắt tịch thu toàn bộ
tài sản chúng nó.
“Nếu con buôn nói rằng: Thành Thất-la-phạt xưa nay thu thuế qua nghi nhận
chứ không tịch thu thuế này!
Các ông nên nói với họ rằng: có cách tịch
thu này, đúng theo quy định.
Nếu họ nói: Chúng tôi làm nghề con buôn
lâu đời, không hề nghe biết việc này, nay tại
sao xảy ra t́nh trạng này ?! Các ông có thể đem chúng
tôi đến quan đoán sự Thị trấn để
giải quyết.
Nếu họ nói như vậy th́ không nên
thuận theo lời của họ mà nên đem họ đến
nơi nhà vua. Khi đến nhà vua, nếu nhà vua nói như vầy:
Trẫm đă từng làm vua lâu, không nghe thành Thất-la-phạt
có vấn đề đóng thuế như thế này, tại
sao sanh chuyện thuế nặng này.
Các ông nên tâu với nhà vua rằng: Xưa kia
Đại vương Phạm-ma-đạt-đa cùng với
các thương gia và người trong Tụ lạc chế
lệnh: Nếu từ vườn... Miễu Thiên từ...
hoặc chỗ nhiều người tụ hợp mà đi
vào thành biết mới đóng thuế không biết không
đóng thuế. Nếu ông từ vườn này, Miếu
Thiên từ này và chỗ nhiều người tụ hợp
mà đi vào thành phải đóng thuế nặng, tịch thu
toàn bộ phẩm vật.
Nếu nhà vua có hỏi: Điều luật
này hiện nay ở đâu th́ tâu với nhà vua rằng: hiện
ở trong rương của kho nội an... ghi rơ ràng trên tấm
đồng đỏ. Nếu cần th́ nhà vua ra lệnh
đem đến để xem và kiểm tra lại”.
Lúc bấy giờ, các quan thuế y theo lời
của Ô-ba-nan-đà bèn đoạt hết của cải của
đoàn người con buôn.
Đoàn người con buôn nói:
- Tại sao các ông cưỡng đoạt
tài sản của chúng tôi ? Thành Thất-la-phạt biết mới
đóng thuế không biết đóng thuế nặng. Các ông
y theo mức định mà thu rồi thả, cho chúng tôi
đi.
Quan thuế
nói:
- Thành Thất-la-phạt đối với
kẻ buôn trộm thuế th́ đóng rất nặng. Chúng
tôi không thả các người đâu.
Đoàn người con buôn nói:
- Chúng tôi làm nghề buôn bán này đă lâu chỉ
nghe thành này biết th́ thu thuế chứ không có thu thuế
nặng, tại sao ngày nay lại có chuyện thu thuế nặng
như thế này! Các ông có thể đem chúng tôi đến
quan b́nh đoán.
Các quan thuế nói:
- Chúng tôi không thể đưa các ông đến
quan b́nh đoán tầm thường mà sẽ đưa các
ông thẳng đến nhà vua.
Đoàn người con buôn lớn tiếng
la to:
- Hăy đem đến quan b́nh đoán.
Họ báo cáo với mọi người rằng:
- Các người biết chăng: Của cải
của chúng tôi đều bị cưỡng đoạt hết.
Xin cứu giúp chúng tôi!
Khi ấy quan b́nh đoán cùng đến chỗ
nhà vua, tâu với vua rằng:
- Nay có khách buôn, đến trong thành này, tất
cả của cải đều bị quan thuế tịch
thu. Họ đến kêu cứu nhà vua, theo luật pháp cứu
họ. Lúc bấy giờ, nhà vua ra lệnh cho cận thần
rằng:
- Kêu quan thu thuế đến đây.
Quan thu thuế vâng lệnh đến.
Vua hỏi:
-Các ông nghĩ sao tịch thu hết tài sản
của người buôn ?
Các Quan thu thuế đều tâu với vua:
- Đây đều là những người
trốn thuế. Thành Thất-la-phạt có một luật
phạt rất nặng, do vậy, chúng tôi mới tịch
thu hết của cải của họ.
Nhà vua nói:
-Trẫm làm nhà vua đă lâu, không biết
trong thành này có luật phạt thuế như vậy. Do
đâu, nay lại có luật phạt thuế này ? Nên y theo sự
thật mà thu, rồi thả cho họ đi.
Quan thuế tâu với nhà vua:
- Xưa kia Đại vương Phạm-ma-đạt-đa
cùng với các thương gia và người trong Tụ lạc
chế lệnh: -Nói đầy đủ như trước.
Nhà vua bảo các quan thuế:
- Nếu là giáo lệnh của cha ta tức
là giáo lệnh của Đế Thích, lệnh của Phạm
Vương. Đó là định lượng. Nhà vua liền
bảo quan giữ kho rằng: “Đem sắc lệnh ghi
trên tấm đồng đỏ đến đây”.
Vâng lệnh mang đến, trước vua
sắc lệnh được đọc lên. Vua nghe lệnh
của cha, ḷng thương không kiềm chế được,
nhà vua khóc mà nói rằng:
- Nếu là Tiên vương của Ta làm ra
giáo lệnh là lệnh của Đế Thích, là lệnh của
Phạm vương. Tịch thu hết tài sản, đây là
vấn đề tịch thu đúng.
Khi ấy, đoàn người con buôn đều
tuyệt vọng, khóc lóc ra về. Họ bèn hỏi các quan
thuế rằng:
- Ai báo với các ông, con đường
chúng tôi đến đây ?
Các quan thuế đều nói:
- Chúng tôi t́m hiểu tự biết, chứ
không do ai nói hết. Tuy nhiên, xưa nay chẳng phải chúng
tôi không biết điều này, chỉ v́ ḷng từ mẫn
nên không thể đoạt hết mà thôi. Nay các ngươi
làm quá, chúng tôi không thể nhẫn được.
Đoàn người con buôn nói:
- Các ông do đâu mà có ḷng từ mẫn ? Nay
chúng tôi cùng các ông đều có sự cảm thông. Chúng tôi muốn
biết trước đây ai báo với các ông, chúng tôi không
phụ ḷng.
Các quan thuế thấy họ nói hết lời
bèn nói:
- Thánh giả Lục chúng nói cho chúng tôi biết.
Đă rơ sự thật, đoàn người
con buôn cay đắng cơ hiềm mắng chưởi
tuôn ra lời ác:
- Con của Thích-ca là kẻ giặc đại
ác, chẳng phải chơn Sa-môn, cho nên mới chỉ bày kẻ
khác cướp đoạt của cải của chúng tôi.
Các Bí-sô nghe rồi bạch Phật. Đức
Phật dạy:
- Bí-sô không nên chỉ bày người khác
đoạt của cải của con buôn. Nếu hướng
dẫn bị thu đoạt, Bí-sô phạm tội Việt
Pháp.
Nhiếp tụng:
Không chân và hai chân,
Bốn chân hay nhiều
chân.
Trộm của các loài ấy,
Nhẹ nặng chuẩn
nên biết.
+ Không chân tức là loài rắn, lương,
đỉa. Ba loài này người Lộng xà, người
Vương gia y, người Sơn dă nuôi để sinh lời.
Thế nào gọi là người Lộng xà
?
- Tức là lấy rắn làm tṛ chơi mà
nuôi sống.
Thế nào gọi là người
Vương gia y ?
- Tức là thầy thuốc dùng con đỉa
để chữa bệnh mà nuôi sống.
Thế nào gọi là người Sơn dă ?
Nghĩa là người ở trong núi dùng loại trùng không có
chân làm thuốc ói mữa, hay nướng để uống
rượu. Bí-sô ăn trộm những loài trùng này, nên chuẩn
theo giá của nó, nếu đủ năm Ma-sái th́ phạm tội
Căn bản, không đủ th́ phạm tội
phương tiện.
+ Hai chân là chỉ cho người và chim. Khi
trộm người có ba phương tiện: Hẹn chỗ,
định thời gian, hiện tướng.
Thế nào gọi là hẹn chỗ ?
- Tức là báo với người kia rằng:
Nếu ông thấy tôi ở trong vườn... hoặc chỗ
người tập hợp, hoặc chỗ Miễu Thiên từ.
Chính lúc ấy biết việc thành tựu. Như vậy gọi
là hẹn chỗ.
Thế nào gọi là định thời gian
?
- Tức là nói:
Buổi sáng, buổi trưa, hay buổi xế nếu ông từ
đằng xa thấy tôi là biết việc thành tựu.
Như vậy gọi là định thời gian.
Thế nào gọi là hiện tướng ?
-Tức là nói: Nếu ông thấy tôi mới
cạo râu tóc, mặc y màu đỏ, cầm tích trượng,
bưng b́nh bát đầy tô, dầu, đường cát,
đường phèn, khi ấy như vậy biết việc
thành tựu. Như vậy gọi là hiện tướng.
Khi ăn trộm như vậy, chuẩn theo giá trị, phạm
tội đồng như trước.
Khi ăn trộm chim có hai phương tiện:
từ dưới đất bắt được hay từ
hư không rơi xuống.
Thế nào gọi là từ đất bắt
được ?
- Tức là bắt trộm chim từ mặt
đất đem đi. Đủ năm Ma-sái hay không đủ,
như trước đă nói.
Thế nào gọi là trên hư không rơi xuống
? -Như người bắt chim bằng cách đốt
đồng cỏ khô, khiến cho chim bị khói lửa bức
hại rớt xuống. Khi rớt xuống nhằm chỗ
đi kinh hành của Bí-sô, hoặc ở trước cửa
nhà. Khi Bí-sô với tâm trộm cắp mà nhặt lấy,
đủ năm Ma-sái hay không đủ, như trước
đă nói.
+ Bốn chân là chỉ cho loài voi, ngựa, lạc
đà, lừa, ḅ, trâu, dê... nếu khi muốn ăn trộm
có hai phương tiện:
-Tức là từ chỗ nhốt từng bầy
hay là chỗ cột riêng từng con. Khi Bí-sô từ trong bầy
voi trộm voi lừa đi, trong tầm mắt thấy, phạm
tội Tốt-thổ-la-để-dă, ngoài tầm mắt thấy,
phạm Bổn tội.
Thế nào gọi là cột chỗ riêng ?
-Tức là voi cột nơi trụ cây, gốc
cây, nơi rào tường Bí-sô mở dắt đi, phạm
tội như trên đă nói về trộm voi. Các loài ngựa,
bốn chân khác v.v... khi Bí-sô ăn trộm như trước
nên biết.
+ Nhiều
chân là chỉ cho các loài sâu bọ, bướm, ong, kiến,
ḅ cạp v.v... Trong các loài trên có ba nơi cần dùng nó: quan
đoán sự, người giữ thành, đoàn
thương thuyền.
Thế nào là chỗ dùng của quan đoán sự
?
-Tức là quan đoán sự nuôi loài nhiều
chân này như ong, ḅ cạp... chứa để ở trong
cái ṿ bằng sứ. Khi kẻ bị phạt không chịu
khai, bắt họ để tay chân vào trong ṿ ấy, ong và
ḅ cạp... cắn đau, họ chịu khai hoặc chịu
đưa tiền của ra.
Thế nào gọi là người giữ
thành sử dụng ?
-Tức là quan giữ thành nuôi các loài ong,
trong vách tường của bờ thành. Mỗi khi có kẻ
địch đến cùng chiến đấu, nếu không
hơn được th́ mở nắp lỗ nơi bờ
thành cho các loài ong này bay ra, địch bị ong chích, tứ
tung tán loạn bỏ chạy.
Thế nào gọi là đoàn thương thuyền
sử dụng ?
-Tức là đoàn người vào trong biển
t́m châu báu, nuôi các loài ong này trong ṿ để pḥng lúc gặp
nạn bất ngờ, như giặc cướp đến,
chiến đấu không hơn được, th́ bưng
ṿ đựng ong quăng vào thuyền của giặc cướp.
Không thể chiến đấu với loài ong đang vây cắn,
giặc cướp tứ tán bỏ chạy.
Nhiếp tụng:
Chiên-đồ-la và
Tô-đà-di,
Lấy y đo thử
không tâm trộm
Sư-mâu không nói Bà-tô-da
Tưởng là phần
ḿnh bưng tiểu bát,
Nguyệt hộ biết
người muốn lấy y,
Nan-thắng đem
đến phạm thô tội.
Nan-quốc, Trung
phương không cùng lănh,
Lượm được
vật rơi mau trả lại.
Đức Phật ở thành Thất-la-phạt,
rừng Thệ-đa, vườn ông Cấp-cô-độc.
Có hai Bí-sô quen biết nhau, tâm đầu ư hợp cùng ở
một chỗ. Một vị tên là Chiên-đồ-la, vị
thứ hai tên là Tô-đà-di. Chiên-đồ-la được
nhiều người quen biết, có đại phước
đức, mà thân h́nh nhỏ thó, có nhiều y bát, cũng
như nhiều thứ đồ dùng cá nhân. Trái lại
Tô-đà-di ít người quen biết, thân h́nh to lớn, lại
chỉ có ba y, thô tệ cũ rách nên nhiều chỗ trên
thân không che kín được hết.
Các Bí-sô thấy vậy, nói:
- Cụ thọ! Ngài sống nếp sống
thiểu dục, y rách lộ h́nh, v́ sao ? Có lợi dưỡng
hay không có lợi dưỡng, thưa Ngài ?
Đương sự trả lời:
- Tôi không có lợi dưỡng.
Các Bí-sô nói:
- Sao không khất cầu ?
Bí-sô Tô-đà-di nói:
- Ai là người chịu xả bỏ ruộng
phước Phật, Pháp, Tăng của họ mà bố thí
cho tôi ?!
Các Bí-sô lại nói:
- Bí-sô Chiên-đồ-la là thân hữu của
Ngài, nhiều người quen biết, có nhiều y bát và
đồ dùng dư, sao Ngài không xin ?
Tô-đà-di nói:
- Ngài ấy không cho đâu.
Các Bí-sô nói:
- Ngài đă đến xin chưa mà biết
không cho ?!
Đương sự trả lời:
- Tôi chưa xin.
Các Bí-sô nói:
- Đâu có chuyện chưa gặp phải
nước mà đă cỡi giày?! Ngài nên khất cầu,
Chiên-đồ-la sẽ cho Ngài đó.
Được khuyến dụ như vậy
nên Tô-đà-di bèn đến Chiên-đồ-la, nhưng
Chiên-đồ-la đi vắng.
Khi ấy, Tô-đà-di lại nghĩ:
“Chiên-đồ-la người nhỏ thó, ta lấy y
Tăng-già-chi của ông đo thử khổ nguời của
ta, nếu vừa sít sót ta sẽ đến hỏi xin c̣n
không vừa th́ xin làm chi”. Nghĩ như vậy rồi bèn
vào trong pḥng của Chiên-đồ-la thấy nơi để
y, chiếc y Tăng-già-chi, máng trên sào tre, Tô-đà-di lấy
xuống thử so dài ngắn. Ngay lúc ấy Chiên-đồ-la
từ ngoài vội bước vào, vừa thấy, liền
nói:
- Ông với tâm của kẻ trộm lấy
y của tôi mặc, phạm tội Ba-la-thị-ca.
Thưa Cụ thọ:
- Tôi không có với tâm của kẻ trộm
mà lấy y của Ngài, tôi chỉ có suy nghĩ này:
“Chiên-đồ-la với vóc dáng người nho nhỏ, lấy
y Tăng-già-chi của ông dóng thử kích cở: Nếu vừa,
tương xứng ta nên hỏi xin c̣n không vừa th́ thôi,
phiền bận chi đến tư cụ”
Chiên-đồ-la liền nói:
- Cụ thọ, chớ nên cường
điệu, quanh co, dối trá để chạy tội.
Ông với tâm của kẻ trộm, lấy y của tôi mặc,
phạm Ba-la-thị-ca.
Tô-đà-di nghe câu ấy rồi, bèn sanh tâm hối
hận: Đâu chẳng phải ḿnh phạm Thô tội ?! Liền
báo cáo với các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật. Đức Phật
hỏi:
- Bí-sô! Ông dùng tâm ǵ để lấy cái y
đó ? Tô-đà-di đem tất cả sự thật bạch với đức Thế Tôn.
Đức Phật
dạy:
- Bí-sô này với tâm đo thử, không phạm.
Xong các Bí-sô không nên chẳng phải chỗ thân hữu mà
tưởng là thân hữu.
Có ba loại thân hữu: Thượng, trung,
hạ. Đối với thân hữu bậc hạ, khởi
tâm tin cậy bậc hạ; thân hữu bậc trung, khởi
tâm tin cậy bậc trung hạ; thân hữu bậc thượng,
khởi tâm tin cậy bậc thượng, trung, hạ.
Bí-sô đối với người chẳng phải thân hữu
khởi tâm tưởng tin cậy là thân hữu, phạm tội
Việt Pháp.
CĂN BẢN THUYẾT
NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA
QUYỂN 4 (hết).