CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA

QUYỂN 4

TAM TẠNG PHÁP SƯ NGHĨA TỊNH PHỤNG CHẾ DỊCH.

 

·        Giới thứ hai, phần ba, Học xứ không cho mà lấy.        

 

Lúc bấy giờ Bạc-già-phạm ở tại thành Thất-la-phạt, rừng Thệ-đa, vườn của ông Cấp-cô-độc, v́ các Bí-sô nói pháp môn cúng dường, bằng bài kệ:

Người  nào không làm phước,

Thường thọ các báo khổ.

Người nào hay tu phước

Đời này, đời sau vui.

Lúc bấy giờ các Bí-sô nghe bài pháp này rồi, làm nhiều các hạnh bố thí, đối với Phật, Pháp, Tăng phát khởi rộng lớn vấn đề cúng dường, giáo pháp của đức Phật lúc ấy càng thêm rộng lớn. Trong thành này có một Trưởng giả, vừa cưới vợ, không bao lâu sanh được một đứa con. Đến tuổi khôn lớn, lại xin xuất gia. Khi ấy, các Bí-sô đă có được suy nghĩ: “Hiện tại trong thành này, có nhiều Bí-sô, khất cầu khó được, ta nay nên đi phương khác, v́ Phật, Pháp, Tăng phát khởi sự cúng dường”. Các Bí-sô liền đến phương khác, việc khất cầu được đáp ứng nên thu nhận được nhiều lụa là, phẩm vật. Ngày trở về thành Thất-la-phạt các khăn đăy đầy ắp các phẩm vật. Đến chỗ quan thuế theo đường, thuế quan hỏi:

- Thánh giả có vật ǵ để đóng thuế không ?

- Hiền thủ tôi không vật ǵ phải đóng thuế, Bí-sô nói.

Thuế quan lại ra lệnh:

- Ngài khoan đi, đem gói, xách lại đây để xem xét th́ mới rơ.

Vừa mở đăy, xách ra th́ thấy đầy ắp các phẩm vật tạp sắc bên trong. Quan thuế nói:

- Đựng đầy cả đăy thế này không đủ để đóng thuế, há phải đợi cơng cả con lạc đà mới thu thuế hay sao ?!

Bí-sô nói:

- Hiền thủ! Đây không phải vật của tôi.

Quan thuế hỏi:

-Vậy th́ vật của ai

Bí-sô nói:

- Một là vật của Phật, hai là vật của Pháp, ba là vật của Tăng.

Quan thuế nói:

- Tôi đâu biết vật của Phật, Pháp, Tăng là ǵ. Chỉ cần đóng thuế th́ mới được đi.

Bị giữ lại khám xét khá lâu và sau khi đóng thuế, quan thuế mới cho đi. Ḷng ray rứt hối tiếc trải dài cho đến thành Thất-la-phạt. Các Bí-sô đem sự việc nói lại với các Bí-sô trú xứ. Các Bí-sô bạch Phật, Phật dạy:

- Người này không phạm tội. Nhưng không nên nói lời này. Vật của Tam Bảo nào đây ? Nên đối với quan thuế nói lên những lời khen ngợi Phật, Pháp, Tăng.

+ Thế nào gọi là khen ngợi Phật ?

- Nghĩa là nói Bạc-già-phạm, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Như vậy gọi là khen ngợi Phật.

+ Thế nào gọi là khen ngợi Pháp ?

- Tức là khen các Pháp yếu do đức Thế Tôn khéo nói, ở trong hiện Pháp, th́ được sự an lạc và tùy theo căn cơ mà diễn nói thích hợp khiến cho họ hướng đến Niết-bàn. Tự thân chứng được Tam minh Trí tuệ viên măn. Như thế gọi là khen ngợi Pháp.

+ Thế nào gọi là khen ngợi Tăng ?

- Nghĩa là nói đức Thế Tôn có hàng đệ tử Thanh-văn, an trụ nơi Chánh lư, Trực tâm cung kính, tùy thuận theo Thắng pháp. Trong chúng có vị đắc Dự lưu hướng Dự lưu quả, có vị đắc Nhất lai hướng, Nhất lai quả, có vị đắc Bất hoàn hướng, Bất hoàn quả, có vị đắc A-la-hán hướng, A-la-hán quả. Tám hạng đại nhân này đều viên măn Thi-la, viên măn Tam-ma-địa, viên măn Bát-nhă, viên măn Giải thoát, viên măn Giải thoát tri kiến. Đây là chỗ quay về nương tựa, đây là chỗ nên cúng kính. Đây gọi là phước điền tột cùng của thế gian. Như vậy tức là khen ngợi Tăng. Khi tán thán, khen ngợi Tam Bảo như vậy, họ cho đi càng tốt, nếu không cho đi th́ cần phải đóng thuế mà đi. Nếu không làm như vậy phạm tội Tốt-thổ-la-dă”.

Lúc bấy giờ có Bí-sô cúng dường Tam Bảo, mang các tạp vật đi qua chỗ quan thuế, tuy tán thán khen ngợi Tam Bảo đối với quan thuế, xong quan thuế không chịu cho miễn thuế. Họ bắt phải trả thuế, khi ấy Bí-sô tùy chỗ mang theo, lấy một phần để trao cho họ. Phật bảo nên lấy đều ở các phần chứ không nên đưa trọn một phần. Bí-sô chia đều vật để lấy, thời gian kéo dài chậm trễ, do vậy không theo tập đoàn buôn dẫn đến bị giặc cướp, hổ lang làm thương tổn.

Đức Phật bảo: “Không nên ngay lúc ấy làm việc phân chia xé lẻ, linh động đưa cho quan thế ấy một phần trong số vật ấy. Khi đến trú xứ rồi mới quân b́nh đều chỗ vật đă đóng thuế. Nếu làm  khác như đây, phạm tội Việt Pháp”.

Đức Phật ở thành Thất-la-phạt, nơi vườn ông Cấp-cô-độc. Trong thành có một Bí-sô hiểu rơ ba tạng, mọi người đều biết, khéo hay nói pháp, biện tài thông suốt. Vị ấy du hành nơi nhân gian và đến thành Vương-xá. Nơi đây an cư ba tháng xong, muốn đến thành Thất-la-phạt để được lảnh lễ dưới chân đức Thế Tôn nên t́m tập đoàn buôn để cùng đi. Trong khi ấy có một thương chủ muốn mang của cải đến thành Thất-la-phạt. Nghe tin này, Bí-sô t́m đến chỗ thương chủ. V́ ông ta, nói ba pháp về phước nghiệp thù thắng tức là Thí, Giới, Tu. Khi nói pháp xong khiến cho thương chủ kia, tâm sanh kính tín, bèn thỉnh Bí-sô vào nhà trong để cúng dường và đem một xấp lụa Bạch điệp để dâng cúng, ông ta đảnh lễ sát chân và thưa:

- Thánh giả muốn con làm việc ǵ ?

Bí-sô nói:

- Hiền giả! Nay tôi muốn đến thành Thất-la-phạt, đảnh lễ đức Thế Tôn. Hiền giả đối với tôi, có thể khởi ḷng bi mẫn, niệm t́nh giúp đỡ tôi chăng ?

- Tốt lắm thưa Thánh giả, thương chủ nhận lời.

Ngày ấy, Bí-sô cùng với thương chủ theo lộ tŕnh mà đi. Thương chủ thưa:

- Ngài v́ khất thực, con v́ tu phước. Từ thành Vương-xá đến thành Thất-la-phạt, trên một lộ tŕnh này, theo thời gian, y phục, ẩm thực, ngọa cụ, y dược, mọi thứ cần dùng, Ngài khỏi phải lo nghĩ.

- Bí-sô chấp nhận!

Đến các ải quan thuế theo đường, tất cả hàng hoá của thương chủ đều hoàn tất việc đóng thuế. Thương chủ bèn nghĩ: “Hàng hoá của ta đă đóng thuế xong, xấp Bạch điệp của Thánh-giả chưa đóng thuế. Nếu họ đ̣i thuế th́ ta cũng phải trả, vậy ta nên lấy xấp lụa bỏ vào trong hàng hóa của ta”.

Thương chủ nói với Bí-sô:

- Xấp Bạch điệp của Thánh-giả đâu có thể đưa cho con.

Bí-sô hỏi:

- Hiền thủ có sự hối tiếc về sự cúng dường ấy rồi ư ?

Thương chủ thưa:

- Thưa thánh giả! Con không có hối tiếc. Xong vật của con đă đóng thuế xong, c̣n xấp Bạch điệp của Ngài chưa đóng thuế, nếu họ đ̣i thuế th́ con cũng phải đóng.

Bí-sô nói:

- Hiền thủ! Thế Tôn đă chế Học xứ: Bí-sô có vật phải đóng thuế, mang qua cửa ải quan thuế mà không đóng thuế, phạm tội Căn bổn.

Nghe thế, thương chủ bèn nghĩ: “Như vậy là ư của Bí-sô không chịu trao xấp Bạch điệp lại cho ḿnh, thôi tự ḿnh phải biết cách thích nghi”.

- Thưa Thánh giả! Sáng nay con có nhiều việc ổn định không thể sửa soạn cơm nước được, Ngài có thể vào thôn tuỳ duyên để cầu thực.

Nghe lời ấy, Bí-sô đi thẳng vào thôn khất thực. Thương chủ ở nhà soạn lấy xấp Bạch điệp để vào trong gói hàng hóa của ḿnh. Khi đến chỗ quan thuế, người thu thuế hỏi:

-Thánh giả! Trong gói hành lư của ngài có ǵ phải đóng thuế không ?

- Tôi có một xấp Bạch điệp, Bí-sô đáp.

Quan thuế nói:

- Xin lấy ra thử xem sao ?

Bí-sô mở gói hành lư không thấy xấp Bạch điệp, bèn lật ngược bàn tay tỏ vẻ buồn than.

Ngạc nhiên quan thuế hỏi Bí-sô rằng:

- Tại sao Thánh giả lật ngược bàn tay tỏ vẽ buồn và than dài như vậy?

Bí-sô nói:

- Tôi có một xấp Bạch điệp bị trộm lấy mất rồi!

Quan thuế nói:

- Không những Thánh giả bị trộm mà tôi cũng bị trộm. V́ mất đi xấp Bạch điệp này th́ tôi cũng mất đi khoản thu thuế.

 Sau khi Bí-sô qua khỏi chỗ quan thuế rồi, thương chủ thưa:

- Tại sao Thánh giả có vẽ ưu sầu không vui ?!

Bí-sô nói:

- Hiền thủ có cái phước bố thí mà không có cái phước thọ dụng.

- Thánh giả nói như thế là nghĩa ǵ ?!

Bí-sô nói:

- Xấp Bạch điệp Hiền thủ cho tôi bị mất cắp rồi.

Thương chủ thưa:

- Chẳng phải mất cắp đâu, con sợ chỗ thuế quan họ đ̣i thuế, nên con phương tiện đem xấp Bạch điệp ấy để vào trong hàng hoá của con. Chắc chắn con phải trao lại cho Thánh giả, nếu Thánh giả cần.

Bí-sô nói:

- Ôi! Này Hiền thủ, thà bị kẻ trộm lấy, chứ không nên do thuế mà khiến cho tôi bị phạm tội!

Thương chủ thưa:

Thánh giả! Đối với vấn đề này Ngài đâu có khởi lên ba nghiệp, mà có tội ư ?! Bí-sô nghe như vậy rồi tâm sanh hối hận. Khi đến thành Thất-la-phạt, các Bí-sô chào hỏi:

Thiện lai! Cụ thọ, dọc đường b́nh an không ?

Bí-sô đem tất cả sự việc xảy ra tŕnh với các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật. Đức Phật dạy:

“Bí-sô kia không phạm. Xong đối với vấn đề đi đường có các quy tắc.

 Ta nay phổ biến: Khi đi đường, Bí-sô vào thôn khất thực, có hành lư ǵ phải ghi nhận rơ ràng, khi trở lại phải xem xét kỹ lưỡng. Nếu không thi hành , phạm tội Việt Pháp”.

Đức Phật ở tại vườn ông Cấp-cô-độc. Có hai Bí-sô, một già, một trẻ, cùng nhau làm bạn, du hành, trong mhơn gian. Bí-sô già có nhiều y vật, tư cụ lỉnh kỉnh, Bí-sô trẻ có ít tư cụ. Bí-sô già, khi đi gần đến chỗ quan thuế, v́ có vật phẩm cần đóng thuế nên suy nghĩ: “Ta có vật phải đóng thuế, khi họ hỏi, nếu ta nói không, th́ phạm tội vọng ngữ, nếu ta nói có, ắt phải đóng thuế. Phương tiện thế nào để tránh được hai điều trên”, liền khởi ư niệm: “Có thể đưa vật của ta cho Bí-sô trẻ mang, qua khỏi chỗ thuế ta sẽ lấy lại”, bèn nói vói Bí-sô trẻ rằng:

- Ông có thể mang tạm vật phẩm của tôi không                                   

Vị Bí-sô trẻ thầm nghĩ: “Chắc vị Bí-sô này, thân già mỏi mệt nên nhờ ta mang dùm hành lư ”. Thế là vị Bí-sô trẻ nhận lấy hành lư mang đi  trước...

Quan thuế hỏi:

- Thánh giả có ǵ để đánh thuế không ?     

- Tôi không có vật ǵ để đánh thuế, vị Bí-sô trẻ trả lời.

Quan thuế cho đi qua. Vị Bí-sô già, với hai tay không, vừa đi đến sau, quan thuế không hỏi ǵ. Khi qua khỏi ải quan thuế rồi, Bí-sô già nói:

- Cụ thọ! Hoàn y bát... lại cho tôi.

Vị Bí-sô trẻ nói:

- Thượng toạ đă bớt mệt rồi hay sao ?.

Tôi đâu có ǵ phải nhọc mệt, vị Bí-sô già nói:

- Tôi nhờ ông mang hành lư chỉ v́ tôi có những vật phẩm phải đóng thuế, tôi nghĩ rằng: “Nếu quan thuế, họ hỏi mà tôi nói không có vật ǵ phải đóng thuế th́ phạm tội vọng ngữ, c̣n nếu nói là có th́ quyết định phải trị giá mà đóng thuế”. Do vậy, mới nhờ ông mang dùm qua khỏi chỗ thuế quan mà thôi. Nay đă qua khỏi, Cụ thọ trao hành lư lại cho tôi.

Vị Bí-sô trẻ nói:

- Như vậy, th́ ra, Thượng tọa tự thân được khỏi đóng thuế, mà lại khiến cho tôi phạm tội!

Bí-sô già nói:

- Ông không hề biết ǵ về vấn đề này th́ nhơn đâu mà phạm tội ?.

Khi ấy vị Bí-sô trẻ ḷng cứ thắc mắc nghi hối... Đến thành Thất-la-phạt rồi tới Tỳ-ha-la. Các Bí-sô-niềm nở chào hỏi:

- Thiện lai! Cụ thọ, trên lộ tŕnh có được an lạc chăng ?.

- Làm sao có an lạc được, Bí-sô trẻ đáp lời.

- Tại sao vậy ? Các Bí-sô hỏi.

Bí-sô trẻ liền đem tất cả sự việc tŕnh bày với các Bí-sô. Các Bí-sô bạch Phật.

Đức Phật dạy:

- Bí-sô kia không phạm tội. Xong các Bí-sô khi đi đường, nếu không hỏi để biết rơ th́ không nên mang vật của người khác qua khỏi chỗ ải quan thuế. Khi v́ họ cần mang, phải hỏi để biết rơ vật ấy không bị đóng thuế. Hỏi biết rơ như vậy th́ tốt, nếu không hỏi biết th́ phạm tội Việt Pháp.

Đức Phật dạy: “Không nên mang vật có thể đóng thuế đi qua cửa ải quan thuế. Nếu mang qua, phạm tội Việt Pháp”.

Bấy giờ có sáu mươi Bí-sô, du hành trong nhơn gian, đến một tụ lạc, nơi đây có một Trưởng giả, rất giàu có, vật dụng rất nhiều, ḷng tin sâu đậm, gặp các Bí-sô đều mời về nhà cúng dường cơm. Ăn xong mỗi người cúng cho mỗi Bí-sô một cặp Bạch điệp.

Bí-sô nói:

- Thánh giả! Phật Cấm chúng tôi không được mang vật có thuế, qua ải quan thuế. Làm sao chúng tôi được phép nhận vật này.

Trưởng giả lặng lẽ hiểu ư, thôi không dâng cúng nữa. Các Bí-sô v́ Trưởng giả chú nguyện xong ra đi theo hướng đường dẫn về thành Thất-la-phạt. Đến nơi các Bí-sô chào hỏi:

- Thiện lai! Cụ thọ, lộ tŕnh có an lạc hay chăng ?.

- Lộ tŕnh an lạc, các Bí-sô trả lời. Xong có thí chủ thỉnh chúng tôi về nhà mời cơm. Ăn xong, họ muốn cúng mỗi chúng tôi một cặp Bạch điệp. Chúng tôi không nhận, do Đức Phật chế giới cấm không cho phép Bí-sô mang vật có đóng thuế qua ải quan thuế, nhơn đó mà mất cái lợi này. Các Bí-sô nghe rồi, bạch Phật.

Đức Phật bảo: “Nên thọ. Thọ rồi nên nhuộm”.

Bấy giờ có Bí-sô được vật muốn nhuộm. V́ phải t́m dụng cụ để nhuộm nên kéo dài thời gian, do vậy lạc mất tập đoàn buôn. Bí-sô bị hổ, lang v.v... làm thương hại. Các Bí-sô đem nhơn duyên ấy bạch Phật.

Đức Phật dạy:

- Nên dùng nước rảy làm cho nó hoen ố rồi tùy ư mang đi.

Khi đến chỗ thuế vẫn bị đóng thuế. Phật dạy: “Nên dùng nước, phân ḅ làm cho hoại sắt, nhưng vẫn bị đóng thuế. Phật dạy: “Nên cắt rọc, vẽ màu vào. Nếu có nạn duyên, ta mở cách cho như vậy. Khi không gặp nạn duyên đều không nên áp dụng. Nếu trái, phạm tội Việt Pháp’’.

Đức Phật ở tại vườn ông Cấp-cô-độc, thành Thất-la-phạt. Khi ấy, nơi thành Vương-xá có Bí-sô an cư ba tháng mùa Hạ xong, chưa đến thời gian phân y, muốn đến thành Thất-la-phạt, lễ chân đức Thế Tôn. Các Bí-sô bảo nhau rằng:

- Chuyện ǵ gấp gáp vậy! Đợi chia y có lợi hơn rồi sẽ khởi hành.

Ấy thế, Bí-sô cũng không vui ḷng ở lại. Có một Bí-sô đem một xấp Bạch điệp làm quà tặng lên đường cho vị Bí-sô kia. Vị ấy nhận xấp Bạch điệp rồi bèn suy nghĩ: “Nếu ta nhuộm cho hoại sắc th́ không có th́ giờ để đến chào tạm biệt các đồng Phạm hạnh của ta. Nên chờ Bí-sô quen biết giúp ta việc này”. Bí-sô ấy liền đem xấp Bạch điệp đến trao cho Bí-sô bạn nhờ nhuộm và nói:

- Cảm phiền bạn giúp tôi nhuộm cho vậy. Nhuộm xong bỏ vào hành lư của tôi. Giờ th́ tôi đến các pḥng chào tạm biệt các Bí-sô.

Khi ấy, vị Bí-sô quen biết kia, do có tật lười biếng nên không thể v́ bạn nhuộm được, để nguyên như vậy cho vào gói hành lư Bí-sô bạn đă dặn. Bấy giờ Bí-sô kia yên ḷng mang y bát và hành lư lên đường. Khi đi đến chỗ quan thuế, người thu thuế ấy hỏi Bí-sô:

- Thánh giả có chút ít vật ǵ phải đóng thuế hay không ?

Bí-sô trả lời:

- Thưa hiền thủ, tôi không có vật ǵ phải đóng thuế.

Quan thuế nói:        

- Xin đem hành lư đến thử xem ra sao. Họ lục t́m, vừa mở hành lư liền thấy một xấp đại Bạch điệp, bèn nói: Thánh giả! Ngài do ḷng tin, xuất gia trong giáo pháp chơn chánh, đâu cho phép chỉ v́ một xấp Bạch điệp mà cố ư nói láo ?!

Vị Bí-sô trả lời:

- Tôi thật không biết, thưa Hiền thủ. Xong, khi tôi gần đi, có người cho một xấp Bạch điệp. Tôi đem xấp Bạch điệp ấy nhờ người bạn quen biết nhuộm cho hoại sắc, rồi bỏ vào hành lư của tôi. Lúc ấy tôi bận đi chào tạm biệt các bạn tôi. Người bạn quen biết ấy v́ tánh làm biếng nổi lên nên không nhuộm mà để nguyên như vậy, bỏ vào hành lư của tôi.

Người thu thuế nói:

- Đó không phải là chỗ quen biết với ngài mà là bạn quen biết với tôi! Nhờ cớ sự như vậy mà tôi được thu thuế món hàng này. Xin Ngài trả thuế rồi tùy ư đi.

Không chần chừ Bí-sô nạp thuế rồi đi. Ḷng ray rứt, hối hận suốt cả tuyến đường. Về đến trú xứ các Bí-sô trong thành Thất-la-phạt. Các Bí-sô thấy liền chào hỏi:

- Thiện lai, Cụ thọ! Trên lộ tŕnh có được an ổn không ?

-  Làm sao có được sự an ổn. - Bí-sô trả lời.

-  Tại sao vậy ? - Các Bí-sô hỏi.

Bí-sô đương sự đem tất cả sự việc tŕnh bày với các Bí-sô. Các Bí-sô bạch Phật.

Đức Phật dạy:

- Bí-sô này không phạm. Xong Bí-sô này nên hỏi Bí-sô kia trước khi mang hành lư đi. Nên hỏi như thế này: Bạn đă nhuộm giùm cho tôi chưa ? Nếu không hỏi mà mang đi, phạm tội Việt Pháp.

Đức Phật ở thành Thất-la-phạt, trong vườn ông Cấp-cô-độc. Lúc bấy giờ, Lục chúng Bí-sô, Nan-đà đến Ô-ba-nan-đà, nói như thế này:

- Các vị Hắc bát đều dùng mỡ của loài khỉ cái bôi nơi chân của họ, khi muốn đi đâu thu được nhiều lợi dưỡng, khi về nhận được nhiều lợi của khách, nhiều người ưa mến, tất cả đều kính trọng. Chúng ta như con ếch ở đáy giếng, không hề bước ra khỏi cửa. Chúng ta làm thế nào thu được lợi dưỡng và rồi sự khâm ngưỡng của mọi người rồi cũng mất luôn. Nay chúng ta nên đi như các Bí-sô.

Ô-ba-nan-đà hỏi:

- Muốn đi đến nơi nào ?

Nan-đà trả lời:

- Chúng ta đi t́m gặp các thương tộc, để cùng họ đi qua Bắc phương. Chúng ta hỏi họ các vị muốn đến nơi nào vậy ?

- Chúng tôi muốn đến phương Bắc, thương chủ trả lời.

- Cho tôi cùng đi với, Nan-đà nói.

Thương nhân nói:

- Phương Bắc, nơi ấy đất đai cằn cỗi, khô khan có nhiều chó dữ, tánh người thô sơ mộc mạc. Với phong thổ con người như vậy các Ngài chưa có thể có được an vui và kính trọng.

Nan-đà nói:

- Đành rằng như thế xong vấn là cái vui được tham quan.

Thương nhân nói:

- Nếu v́ vui các Ngài đi th́ cùng đi cho vui.

Nan-đà, Ô-ba-nan-đà bèn cùng tập đoàn buôn đi đến phương Bắc. Khi vừa đến nơi, cái không vui đă ngập ḷng. Sáng sớm hôm ấy, hai Bí-sô liền vào ngay trung tâm thị trấn. Lúc ấy các thương nhơn cũng có mặt và đến lễ bái Bí-sô và thưa:

- Thưa Thánh giả! Phương Bắc tựa hồ như sanh ra được ái lạc th́ phải ?

- Không phải vậy các Hiền thủ! Ngay khi vừa mới đến chúng tôi đă không có cảm t́nh rồi, Nan-đà nói.

Thương chủ nói:

- Chúng tôi đâu không đă nói trước với Ngài là: phương Bắc, nơi đó đất đai cằn cỗi, khô khan, có nhiều chó dữ, tánh người thô sơ, mộc mạc. Các Ngài đến đó khó có thể có được kính trọng và an vui đó sao! Nay, Thánh giả đă không hài ḷng, muốn trở về Trung Quốc chăng ?

-  Quả đúng như vậy, Nan-đà đáp lời.   

Thương nhơn nói:

- Chúng tôi mới đến, hàng hóa bán chưa xong, đâu có thể về liền được. Có mấy người bạn của chúng tôi, họ bán xong rồi, muốn trở về Trung Quốc, Ngài có thể đi theo họ. Nếu muốn, tôi đưa Ngài đến để gởi cho họ.

Nan-đà nói:

- Tốt lắm. Nan-đà cùng với đoàn buôn lên đường về lại.

Lục chúng, tánh sợ gió bụi, nên đi trước, hoặc đi sau. Tập đoàn buôn đi trước nên gặp riêng đoàn con buôn từ Trung Quốc đến, cùng hỏi thăm nhau:

- Quư vị từ đâu đến ?

- Chúng tôi từ Trung Quốc đến, đoàn buôn trả lời.

Thương tộc hỏi:

- Trung Quốc mua bán thu lợi được nhiều hay ít ? Các quan thuế có làm cho ta vất vả lắm không ?

Đoàn con buôn trả lời:

- Nơi Trung Quốc mua bán tuy thu được nhiều lợi lộc, xong các ải quan thuế, thu đến mức tối đa, giống như bọn giặc cướp, thật ḷng mà nói suốt đời chúng ta không thể chấp nhận sự dung thứ, bởi v́ sở hữu hàng hóa của ta bị họ đoạt sạch mang đi.

Khi ấy, đoàn thương nhơn phương Bắc, nghe như vậy rồi, mỗi người ḷng đầy lo âu áo năo, đưa tay lên, tỏ vẻ thất vọng, đứng trầm ngâm bên lề đường. Vừa lúc ấy, Lục chúng, đi sau đến nơi, hỏi thương nhơn rằng:

- Quư vị, tại sao tỏ dấu hiệu thất vọng, sửng người một cách áo năo như vậy ?

Thương nhơn nói:

- Thưa Thánh giả! chúng tôi v́ lạnh nóng, đói khát, bức bách, ṃng muỗi, gió mưa, rắn rít làm hại, khổ sở, vất vả không hề nghỉ ngơi mong muốn có được nhiều tài vật để được sung sướng, an nhàn thọ dụng, do vậy, chúng tôi đi đến Trung Quốc xa xôi này, nay lại nghe thông tin thương tộc như vầy: “Trung Quốc, mua bán, tuy thu được nhiều lợi lộc, xong quan thuế thẳng tay thu đoạt, giống như bọn giặc cướp, tất cả hàng hóa sở hữu đều bị thu”. Chúng tôi nghe như vậy sao không buồn!?

Lục chúng nói:

- Các bạn là tri thức của chúng tôi, việc ǵ phải lo buồn ?

Thương nhơn nói:

- Thánh giả đâu có thể v́ chúng tôi mà xin nhà vua miễn thuế hay sao ?

Lục chúng nói:

- Chúng tôi không phải v́ các vị mà xin nhà vua miễn thuế. Xong vua thành Thất-la-phạt có chế lệnh: “Ai không rơ biết th́ không nên đ̣i thuế họ”. Có mười tám cửa thành lớn, ba mươi sáu cửa thành nhỏ. Chúng ta sẽ cùng đi vào nơi cửa nhỏ ấy.

Thương nhơn nghe rồi vui mừng cùng đi. Cách thành không xa có một Tụ lạc, họ dừng nghỉ lại nơi này.

Lục chúng nói:

- Mọi người nên cần nghỉ ngơi để ngựa, lạc đà lấy lại sức, đợi đến chiều tối mới vào thành.

Lúc bấy giờ, nơi thành Thất-la-phạt, phần hành thu thuế nghe, có đoàn thương tộc từ phương Bắc đến, ở một nơi gần cửa thành, đoàn dừng lại để cúng Thần thủ môn Dạ Xoa. Lục chúng bảo rằng:

- Giờ th́ đă xẩm tối, hăy cùng nhau vào thành theo lối cửa nhỏ.

Ngay lập tức tập đoàn buôn tranh thủ xua đánh lừa ngựa cùng nhau vào thành trót lọt. Sáng ngày hôm sau, nơi chợ búa và các cửa hàng bày bán la liệt hàng hoá và sản phẩm phương Bắc.

Trong lúc ấy, có người không đi kịp đoàn buôn này nên vào thành qua cửa lớn. Quan thuế chận lại hỏi:

- Ông từ đâu đến ?

- Tôi từ Tụ Lạc... đến, người ấy trả lời.

Quan thuế lại hỏi:

- Tôi nghe tập đoàn buôn khá lớn ở phương Bắc đến, định trú nơi Tụ lạc này việc ấy thật, hư thế nào ?

Người ấy trả lời:

- Đoàn thương tộc ấy chính là bạn đồng hành của tôi. Họ đi trước, đă vào thành rồi, riêng ḿnh tôi đi sau.

Quan thuế nghe rồi ḷng sanh phẩn năo, nói thế này:

- Tôi đứng gác tại cửa thành, đợi chờ, không hề thấy đi qua, vậy họ đi vào đường nào ?

Người đó nói:

- Nếu không tin th́ đi với tôi, đến trong Thị trấn, tận mắt mà biết hư, thật.

Không thể bỏ qua, quan thuế liền theo người buôn ấy vào trong Thị trấn.

Trước mắt quan thuế, thương khách bày la liệt hàng hóa phương Bắc trao đổi mua bán. Ghi nhận sự thật quan thuế hỏi:

- Ai đem các ngươi vào trong thành đây ?

-  Chân của tôi đem tôi vào, thương nhơn trả lời.

-  Vâng tôi đă rơ chân các ông đi vào đây, quan thuế nói. Xong điều tôi muốn hỏi, ai đem các ông vào và vào nơi cửa thành nào ?

       -  Chúng tôi vào bằng cửa riêng. - Khách buôn trả lời.

Quan thuế nói:

- Nay tôi, cùng với các ngài là một, là chỗ bạn bè thân thiết với nhau, xin cứ nói thật, ai dẫn đường cho các người ?

- Thánh giả, Lục chúng, thương khách trả lời.

Đă rơ lẽ, quan thuế tỏ vẻ bực dọc cơ hiềm, mắng rằng:

- Con của Thích-ca là kẻ giặc đại ác, chẳng phải Sa-môn chân thực, biết là của cải của người khác mà vẫn đoạt thâu, ăn cắp.

Các Bí-sô nghe rồi, bạch Phật. Đức Phật dạy:

- Bí-sô không nên dạy người khác đi đường riêng để khỏi đóng thuế. Nếu dạy người khác như vậy phạm tội Việt Pháp.

Lúc bấy giờ quan thuế bèn khởi lên ư nghĩ: “Lục chúng đây đều là Sa-môn hào hiệp, nên cùng kết thân để biết được tâm hỷ lạc của họ”. Ô-ba-nan-đà, sáng sớm hôm ấy đắp y tŕ bát vào thành khất thực, nhân lúc ấy quan thuế trông thấy liền đến chào hỏi:

- Thánh giả! Người đáng kính của tôi.

Ô-ba-nan-đà nói:

- Nguyện Hiền thủ vô bệnh, trường thọ.

Quan thuế hỏi:

- Trong b́nh bát có thức ăn ǵ không ? Tôi muốn được xem.

- Ông muốn t́m xem trong b́nh bát tôi có vật ǵ đóng thuế phải không ? - Bí-sô nói.

Quan thuế đáp:

 - Thưa Thánh giả! Tôi thề rằng tâm tôi không có ư nghĩ đó nếu có thức ăn ǵ ngon làm ơn cho tôi ăn với.

Bí-sô nói:

- Tôi không hề thấy nước chảy ngược. Ông nên cho tôi chứ đâu có chuyện tôi cho ông.

Quan thuế trả lời:

- Thưa Thánh giả! Tôi nói vui thôi! Nguyện Thánh giả quá bước đến nhà tôi.

Ô-ba-nan-đà liền đến nhà của quan thuế. Quan thuế dùng thức ăn đầy thượng diệu bỏ đầy b́nh bát trao cho Ô-ba-nan-đà, đảnh lễ hai chân Sa-môn và nói:

-Thưa Thánh giả! Tôi là thị giả hầu hạ Đại đức, có cần ǵ xin Thánh giả cho biết, tôi xin phụng hành tất cả.

Ô-ba-nan-đà nói:

- Nguyện Hiền thủ vô bệnh, trường thọ, nói xong từ tạ đi ra.

Lúc bấy giờ, Lục chúng Bí-sô, bất cứ ở trú xứ nào, phần nhiều rời ngơ ra đi là hàng đầu. Dụng ư tới lui với các Sa-môn, Bà-la-môn cốt yếu hùng biện nói pháp. Có ai muốn luận nghị họ chiết phục ngay. Tiếng tăm của Lục chúng đồn khắp, lợi dưỡng được tăng thêm.

Hồi ấy, pḥng ở của Ô-ba-nan-đà, sát cạnh một con đường. Ô-ba-nan-đà ở trên cao gác đầu đêm, sau đêm, tỉnh giác tư duy. Cách chùa không xa, trong đêm, có một con buôn trốn thuế, đi ngang qua. Càng lúc tiếng di động, Ô-ba-nan-đà nghe rơ hơn. Nhận ra tiếng đi nhanh của con buôn cùng với sự khác thường của nó, Ô-ba-nan-đà vọng hỏi đến:

- Ai đi qua đó ?

Con buôn kia bèn nín thinh. Ô-ba-nan-đà vội vàng xuống lầu đến ngay, chỗ người đi, hỏi:

-  Các người là hạng người nào mà ban đêm lại đi nơi đây ?

-  Thưa thánh giả! chúng tôi là con buôn trốn thuế, thương nhơn thưa.

Ô-ba-nan-đà nói:

- Các ông ngu si, Thắng Quang đại vương thường đến chùa này cúng dường chúng Tăng một cách đầy đủ. Thượng tọa Kiều-trần-như, chính Ngài v́ vua làm lễ chú nguyện tại chùa này. Lời cầu nguyện: “Nguyện Đại vương thọ dụng được nhiều của cải châu báu. Vật ǵ quư giá chưa có khiến cho có, đă có rồi luôn luôn khiến được nhiều hơn”. Ông có hàng hóa ǵ chánh đáng th́ theo đại lộ mà đi vào thành, nay lại đi ban đêm, muốn trốn thuế hay sao ? giờ tôi đâu có thể để ông đi mà không nói. Tôi sẽ phải đem lại điều bất lợi cho ông.

Khi ấy, người con buôn kia sợ run, thưa:

- Thánh giả rủ ḷng thương tha thứ để con được nhờ. Tôi không bao giờ, đối với Thánh giả, mà dám quên ơn.

Ô-ba-nan-đà nói:

- Các ông muốn báo cái ơn ǵ đây ?

- Có ít thức ăn, con sẽ mang đến cúng. - Thương nhơn nói.

- Nếu thật có thể cho như vậy th́ ông cứ đi. - Ô-ba-nan-đà nói.

Đoàn con buôn đi không xa, cùng nhau bàn luận:

- Thắng Quan đại vương với uy quyền trong tay, bắt ta đóng thuế, ta c̣n không đóng, huống hồ Ô-ba-nan-đà, anh chàng trọc đầu không có tóc kia, sức mấy mà ta đem thức ăn đem lại nạp cho lăo.

Bàn luận xong, liền trong đêm đi vào thành Thất-la-phạt. Sáng ngày, vào trong thị trấn trao đổi hàng hóa rồi đi luôn.

Sau bữa ăn sáng, Ô-ba-nan-đà rửa bát xong, đứng trước cửa ngó bốn hướng. Khi ấy có một Bí-sô thiếu niên, thấy Ô-ba-nan-đà ngó tứ tung bèn hỏi:

- Thượng tọa cần ǵ mà ngó bốn hướng như vậy ?

- Cụ thọ! Có một thương nhơn quen biết với tôi, mang các hàng hoá vào trong thành Thất-la-phạt, nên tôi trông họ. - Ô-ba-nan-đà nói.

- Khi Thượng tọa dùng bữa sáng, người con buôn ấy đă đi rồi. - Bí-sô thiếu niên thưa.

Nghe thế Ô-ba-nan-đà ḷng sanh phẫn nộ, nói như vầy:

- Thế là ta cũng bị khinh dối. Họ là kẻ không biết điều, dám lấy tay đấm vào dao bén, lấy kim châm vào đá. Ta sẽ cho chúng một bài học tới nơi tới chốn, cho chúng biết.

Thời gian không lâu đoàn con buôn lại trở lại. Giống như lần trước, Ô-ba-nan-đà tóm ngay và nói:

- Tôi đă bị ông dạy cho bài học lừa dối.

- Thưa Thánh giả! Bữa trước có việc cần gấp nên không đến trả lễ được, xin Thánh giả cho hơn một lần dung thứ. Ơn trước, sau thảy đều hậu tạ. - Thương nhơn thưa.

Ô-ba-nan-đà nói:

- Hiền thủ, nếu ông thật như vậy th́ tùy ông cứ đi.

Đi được một đỗi xa, các thương gia cũng bàn luận như trước, cho đến câu: “Thắng Quang đại vương ta c̣n không đóng thuế, đâu có chuyện đối với chàng Sa-môn trọc đầu này mà ta c̣n có thể đem dâng cho hắn”.

Ô-ba-nan-đà tự nghĩ: “Trước hứa với ta mà không trở lại trả ơn, không cách nào, nay lại dám khi dối lần nữa”. Nghĩ như vậy rồi, sáng sớm Ô-ba-nan-đà đắp y, bưng b́nh bát vào trong Thị trấn, thấy thương gia ấy đang bận rộn trao đổi hàng hóa, của cải, trơ khuôn mặt ông ta ra, thương gia ấy liền trả lời: 

- Thưa Thánh giả! Công việc chào hàng, trao đổi chưa xong, đợi xong,... chứ không dám trái mạng, xin Thánh giả thông cảm cho.

Việc mua bán trao đổi hàng hóa giao xong thương gia đi tuốt không thèm léo đến chùa. Ô-ba-nan-đà vội vàng trở về trú xứ, ăn rong, rửa bát... trông ngóng như trước cho đến lúc... biết Thương gia đă trốn đi. Ô-ba-nan-đà nghe như vậy rồi, càng thêm phẩn hận, đưa tay giận dữ nói:

- Bọn vô học, tiểu nhơn, lại đánh lừa dạy khôn ta lần nữa. Phen này nếu gặp lại, ta sẽ trói, sẽ bắt... sẽ khiến cho bọn nó hết cái đời làm thương gia.

Thời gian đi qua chưa được bao lâu, sự việc y như trước đây lại tái diễn. Ô-ba-nan-đà, tóm ngay bọn con buôn trốn thuế nói:

- Bọn bay luôn luôn quỷ quyệt dối trá đối với tao! Nay tao sẽ có biện pháp để bọn bay biết mặt tao.

Thương gia tỏ vẻ sợ sệt thưa:

       - Cúi xin Đại đức từ bi tha thứ cho. Chúng con là kẻ buôn bán, nhiều việc bận rộn, tuy là thất hứa, nhưng không hề dám khi dối. Trọng ơn của hai kỳ trước và kỳ này, đợi xong việc bán buôn, cùng lúc mang đến cúng đầy đủ.

Ô-ba-nan-đà bèn sanh ư nghĩ: “Ta đă hằn học nặng lời, chắc chúng nó tự giác...” nghĩ như vậy rồi lại nói:

- Thật sự, Hiền giả sẽ có đem đến không ?

- Chúng tôi nhất định đem đến. - Thương gia thưa.

Ô-ba-nan-đà nói:

- Nếu thật như vậy th́ các người cứ đứng đó, tôi v́ các ông đi trước quan sát đường sá, đừng để các người bị họa, rồi chúng tôi mang tiếng không hay.

Ô-ba-nan-đà đi cách chùa không xa th́ các thương nhơn bị giặc cướp. Bọn con buôn nghe theo lời giặc mà đứng sững...

Ô-ba-nan-đà vội đến ngay chỗ cửa quan thuế, ḍ la tin tức về các thương nhơn. Lúc ấy quan thuế ngồi trong tư thế cảnh giác lại cùng nhau bàn thảo:

- Chúng ta làm thế nào để khỏi sầu năo. Đă có quá nhiều con buôn bằng mọi cách trốn thuế, họ theo các cửa nhỏ mà vào thành, không thể thu thuế được bọn này. Tính ra đại hội sắp tới, nhà vua tính bạo ngược, nóng nảy quyết không chấp nhận dung tha cho sự thất thu này. Chúng ta, kể cả vợ con, thân thuộc chắc chắn sẽ bị giam đến chết.

Khi ấy, Ô-ba-nan-đà đến ngay chỗ của họ đang ngồi, nói:

- Tại sao các ông lo âu như vậy ?

- Thưa Thánh giả! Làm sao chúng tôi không lo âu được! Đă có quá nhiều con buôn bằng mọi cách trốn thuế. Họ theo các cửa nhỏ vào thành, nên không thu thuế được. Nhà vua có tánh hung bạo nóng nảy khác thường, đại hội tổng kết sắp đến, nghe báo cáo bị thất thu, bọn tôi chắc chắn không khỏi bị trừng trị.

Ô-ba-nan-đà nói:

- Các ông là người ngu si, ai bảo các ông làm riêng nhiệm vụ thu thuế mà phải hợp tác nhiều nghành cùng với Trượng sĩ giữ rừng thường xuyên nhờ họ phụ giúp hoặc giả lại phải đóng vai tṛ tiều phu: “Tại sao đối với kẻ trốn thuế không thể tịch thu tài sản của họ ?”

Các quan thuế bèn nói:

- Thưa Thánh giả! Vua thành Thất-la-phạt xưa kia có ra lệnh: Biết th́ thu, không biết th́ không thu, không thu thuế nặng, làm sao tịch thu toàn bộ tài sản của họ.

Ô-ba-nan-đà nói:

- Các ông là người vô trí. Thành Thất-la-phạt có luật thu thuế nặng, mà biết mới thu.

Quan thuế thưa:

- Qua kinh nghiệm làm công tác thu thuế, chúng tôi thường thu thuế đúng chính sách chỉ nghe, biết mới thu thuế chứ không nghe nói có việc thu thuế nặng. Nay, chúng tôi làm sao thu thuế nặng như vậy được ?

Ô-ba-nan-đà nói:

- Đúng là các ông cứ đứng yên! Tôi, sáng nay khi quay trở lại đây đă tha cho bọn giặc trốn thuế. Các ông phải bắt tịch thu toàn bộ tài sản chúng nó.

“Nếu con buôn nói rằng: Thành Thất-la-phạt  xưa nay thu thuế qua nghi nhận chứ không tịch thu thuế này!

Các ông nên nói với họ rằng: có cách tịch thu này, đúng theo quy định.

Nếu họ nói: Chúng tôi làm nghề con buôn lâu đời, không hề nghe biết việc này, nay tại sao xảy ra t́nh trạng này ?! Các ông có thể đem chúng tôi đến quan đoán sự Thị trấn để giải quyết.

Nếu họ nói như vậy th́ không nên thuận theo lời của họ mà nên đem họ đến nơi nhà vua. Khi đến nhà vua, nếu nhà vua nói như vầy: Trẫm đă từng làm vua lâu, không nghe thành Thất-la-phạt có vấn đề đóng thuế như thế này, tại sao sanh chuyện thuế nặng này.

Các ông nên tâu với nhà vua rằng: Xưa kia Đại vương Phạm-ma-đạt-đa cùng với các thương gia và người trong Tụ lạc chế lệnh: Nếu từ vườn... Miễu Thiên từ... hoặc chỗ nhiều người tụ hợp mà đi vào thành biết mới đóng thuế không biết không đóng thuế. Nếu ông từ vườn này, Miếu Thiên từ này và chỗ nhiều người tụ hợp mà đi vào thành phải đóng thuế nặng, tịch thu toàn bộ phẩm vật.

Nếu nhà vua có hỏi: Điều luật này hiện nay ở đâu th́ tâu với nhà vua rằng: hiện ở trong rương của kho nội an... ghi rơ ràng trên tấm đồng đỏ. Nếu cần th́ nhà vua ra lệnh đem đến để xem và kiểm tra lại”.

Lúc bấy giờ, các quan thuế y theo lời của Ô-ba-nan-đà bèn đoạt hết của cải của đoàn người con buôn.

Đoàn người con buôn nói:

- Tại sao các ông cưỡng đoạt tài sản của chúng tôi ? Thành Thất-la-phạt biết mới đóng thuế không biết đóng thuế nặng. Các ông y theo mức định mà thu rồi thả, cho chúng tôi đi.

 Quan thuế nói:

- Thành Thất-la-phạt đối với kẻ buôn trộm thuế th́ đóng rất nặng. Chúng tôi không thả các người đâu.

Đoàn người con buôn nói:

- Chúng tôi làm nghề buôn bán này đă lâu chỉ nghe thành này biết th́ thu thuế chứ không có thu thuế nặng, tại sao ngày nay lại có chuyện thu thuế nặng như thế này! Các ông có thể đem chúng tôi đến quan b́nh đoán.

Các quan thuế nói:

- Chúng tôi không thể đưa các ông đến quan b́nh đoán tầm thường mà sẽ đưa các ông thẳng đến nhà vua.

Đoàn người con buôn lớn tiếng la to:

- Hăy đem đến quan b́nh đoán.

Họ báo cáo với mọi người rằng:

- Các người biết chăng: Của cải của chúng tôi đều bị cưỡng đoạt hết. Xin cứu giúp chúng tôi!

Khi ấy quan b́nh đoán cùng đến chỗ nhà vua, tâu với vua rằng:

- Nay có khách buôn, đến trong thành này, tất cả của cải đều bị quan thuế tịch thu. Họ đến kêu cứu nhà vua, theo luật pháp cứu họ. Lúc bấy giờ, nhà vua ra lệnh cho cận thần rằng:

- Kêu quan thu thuế đến đây.

Quan thu thuế vâng lệnh đến.

Vua hỏi:

-Các ông nghĩ sao tịch thu hết tài sản của người buôn ?

Các Quan thu thuế đều tâu với vua:

- Đây đều là những người trốn thuế. Thành Thất-la-phạt có một luật phạt rất nặng, do vậy, chúng tôi mới tịch thu hết của cải của họ.

Nhà vua nói:

-Trẫm làm nhà vua đă lâu, không biết trong thành này có luật phạt thuế như vậy. Do đâu, nay lại có luật phạt thuế này ? Nên y theo sự thật mà thu, rồi thả cho họ đi.

Quan thuế tâu với nhà vua:

- Xưa kia Đại vương Phạm-ma-đạt-đa cùng với các thương gia và người trong Tụ lạc chế lệnh: -Nói đầy đủ như trước.

Nhà vua bảo các quan thuế:

- Nếu là giáo lệnh của cha ta tức là giáo lệnh của Đế Thích, lệnh của Phạm Vương. Đó là định lượng. Nhà vua liền bảo quan giữ kho rằng: “Đem sắc lệnh ghi trên tấm đồng đỏ đến đây”.

Vâng lệnh mang đến, trước vua sắc lệnh được đọc lên. Vua nghe lệnh của cha, ḷng thương không kiềm chế được, nhà vua khóc mà nói rằng:

- Nếu là Tiên vương của Ta làm ra giáo lệnh là lệnh của Đế Thích, là lệnh của Phạm vương. Tịch thu hết tài sản, đây là vấn đề tịch thu đúng.

Khi ấy, đoàn người con buôn đều tuyệt vọng, khóc lóc ra về. Họ bèn hỏi các quan thuế rằng:

- Ai báo với các ông, con đường chúng tôi đến đây ?

Các quan thuế đều nói:

- Chúng tôi t́m hiểu tự biết, chứ không do ai nói hết. Tuy nhiên, xưa nay chẳng phải chúng tôi không biết điều này, chỉ v́ ḷng từ mẫn nên không thể đoạt hết mà thôi. Nay các ngươi làm quá, chúng tôi không thể nhẫn được.

Đoàn người con buôn nói:

- Các ông do đâu mà có ḷng từ mẫn ? Nay chúng tôi cùng các ông đều có sự cảm thông. Chúng tôi muốn biết trước đây ai báo với các ông, chúng tôi không phụ ḷng.

Các quan thuế thấy họ nói hết lời bèn nói:

- Thánh giả Lục chúng nói cho chúng tôi biết.

Đă rơ sự thật, đoàn người con buôn cay đắng cơ hiềm mắng chưởi tuôn ra lời ác:

- Con của Thích-ca là kẻ giặc đại ác, chẳng phải chơn Sa-môn, cho nên mới chỉ bày kẻ khác cướp đoạt của cải của chúng tôi.

Các Bí-sô nghe rồi bạch Phật. Đức Phật dạy:

- Bí-sô không nên chỉ bày người khác đoạt của cải của con buôn. Nếu hướng dẫn bị thu đoạt, Bí-sô phạm tội Việt Pháp.

Nhiếp tụng:

Không chân và hai chân,

Bốn chân hay nhiều chân.

Trộm của các loài ấy,

Nhẹ nặng chuẩn nên biết.

+ Không chân tức là loài rắn, lương, đỉa. Ba loài này người Lộng xà, người Vương gia y, người Sơn dă nuôi để sinh lời.

Thế nào gọi là người Lộng xà ?

- Tức là lấy rắn làm tṛ chơi mà nuôi sống.

Thế nào gọi là người Vương gia y ?

- Tức là thầy thuốc dùng con đỉa để chữa bệnh mà nuôi sống.

Thế nào gọi là người Sơn dă ? Nghĩa là người ở trong núi dùng loại trùng không có chân làm thuốc ói mữa, hay nướng để uống rượu. Bí-sô ăn trộm những loài trùng này, nên chuẩn theo giá của nó, nếu đủ năm Ma-sái th́ phạm tội Căn bản, không đủ th́ phạm tội phương tiện.

+ Hai chân là chỉ cho người và chim. Khi trộm người có ba phương tiện: Hẹn chỗ, định thời gian, hiện tướng.

Thế nào gọi là hẹn chỗ ?

- Tức là báo với người kia rằng: Nếu ông thấy tôi ở trong vườn... hoặc chỗ người tập hợp, hoặc chỗ Miễu Thiên từ. Chính lúc ấy biết việc thành tựu. Như vậy gọi là hẹn chỗ.

Thế nào gọi là định thời gian ?

 - Tức là nói: Buổi sáng, buổi trưa, hay buổi xế nếu ông từ đằng xa thấy tôi là biết việc thành tựu. Như vậy gọi là định thời gian.

Thế nào gọi là hiện tướng ?

-Tức là nói: Nếu ông thấy tôi mới cạo râu tóc, mặc y màu đỏ, cầm tích trượng, bưng b́nh bát đầy tô, dầu, đường cát, đường phèn, khi ấy như vậy biết việc thành tựu. Như vậy gọi là hiện tướng. Khi ăn trộm như vậy, chuẩn theo giá trị, phạm tội đồng như trước.

Khi ăn trộm chim có hai phương tiện: từ dưới đất bắt được hay từ hư không rơi xuống.

Thế nào gọi là từ đất bắt được ?

- Tức là bắt trộm chim từ mặt đất đem đi. Đủ năm Ma-sái hay không đủ, như trước đă nói.

Thế nào gọi là trên hư không rơi xuống ? -Như người bắt chim bằng cách đốt đồng cỏ khô, khiến cho chim bị khói lửa bức hại rớt xuống. Khi rớt xuống nhằm chỗ đi kinh hành của Bí-sô, hoặc ở trước cửa nhà. Khi Bí-sô với tâm trộm cắp mà nhặt lấy, đủ năm Ma-sái hay không đủ, như trước đă nói.

+ Bốn chân là chỉ cho loài voi, ngựa, lạc đà, lừa, ḅ, trâu, dê... nếu khi muốn ăn trộm có hai phương tiện:

-Tức là từ chỗ nhốt từng bầy hay là chỗ cột riêng từng con. Khi Bí-sô từ trong bầy voi trộm voi lừa đi, trong tầm mắt thấy, phạm tội Tốt-thổ-la-để-dă, ngoài tầm mắt thấy, phạm Bổn tội.

Thế nào gọi là cột chỗ riêng ?

-Tức là voi cột nơi trụ cây, gốc cây, nơi rào tường Bí-sô mở dắt đi, phạm tội như trên đă nói về trộm voi. Các loài ngựa, bốn chân khác v.v... khi Bí-sô ăn trộm như trước nên biết.

       + Nhiều chân là chỉ cho các loài sâu bọ, bướm, ong, kiến, ḅ cạp v.v... Trong các loài trên có ba nơi cần dùng nó: quan đoán sự, người giữ thành, đoàn thương thuyền.

Thế nào là chỗ dùng của quan đoán sự ?

-Tức là quan đoán sự nuôi loài nhiều chân này như ong, ḅ cạp... chứa để ở trong cái ṿ bằng sứ. Khi kẻ bị phạt không chịu khai, bắt họ để tay chân vào trong ṿ ấy, ong và ḅ cạp... cắn đau, họ chịu khai hoặc chịu đưa tiền của ra.

Thế nào gọi là người giữ thành sử dụng ?

-Tức là quan giữ thành nuôi các loài ong, trong vách tường của bờ thành. Mỗi khi có kẻ địch đến cùng chiến đấu, nếu không hơn được th́ mở nắp lỗ nơi bờ thành cho các loài ong này bay ra, địch bị ong chích, tứ tung tán loạn bỏ chạy.

Thế nào gọi là đoàn thương thuyền sử dụng ?

-Tức là đoàn người vào trong biển t́m châu báu, nuôi các loài ong này trong ṿ để pḥng lúc gặp nạn bất ngờ, như giặc cướp đến, chiến đấu không hơn được, th́ bưng ṿ đựng ong quăng vào thuyền của giặc cướp. Không thể chiến đấu với loài ong đang vây cắn, giặc cướp tứ tán bỏ chạy.

Nhiếp tụng:

Chiên-đồ-la và Tô-đà-di,

Lấy y đo thử không tâm trộm

Sư-mâu không nói Bà-tô-da

Tưởng là phần ḿnh bưng tiểu bát,

Nguyệt hộ biết người muốn lấy y,

Nan-thắng đem đến phạm thô tội.

Nan-quốc, Trung phương không cùng lănh,

Lượm được vật rơi mau trả lại.

Đức Phật ở thành Thất-la-phạt, rừng Thệ-đa, vườn ông Cấp-cô-độc. Có hai Bí-sô quen biết nhau, tâm đầu ư hợp cùng ở một chỗ. Một vị tên là Chiên-đồ-la, vị thứ hai tên là Tô-đà-di. Chiên-đồ-la được nhiều người quen biết, có đại phước đức, mà thân h́nh nhỏ thó, có nhiều y bát, cũng như nhiều thứ đồ dùng cá nhân. Trái lại Tô-đà-di ít người quen biết, thân h́nh to lớn, lại chỉ có ba y, thô tệ cũ rách nên nhiều chỗ trên thân không che kín được hết.

Các Bí-sô thấy vậy, nói:

- Cụ thọ! Ngài sống nếp sống thiểu dục, y rách lộ h́nh, v́ sao ? Có lợi dưỡng hay không có lợi dưỡng, thưa Ngài ?

Đương sự trả lời:

- Tôi không có lợi dưỡng.

Các Bí-sô nói:

- Sao không khất cầu ?

Bí-sô Tô-đà-di nói:

- Ai là người chịu xả bỏ ruộng phước Phật, Pháp, Tăng của họ mà bố thí cho tôi ?!

Các Bí-sô lại nói:

- Bí-sô Chiên-đồ-la là thân hữu của Ngài, nhiều người quen biết, có nhiều y bát và đồ dùng dư, sao Ngài không xin ?

Tô-đà-di nói:

- Ngài ấy không cho đâu.

Các Bí-sô nói:

- Ngài đă đến xin chưa mà biết không cho ?!

Đương sự trả lời:

- Tôi chưa xin.

Các Bí-sô nói:

- Đâu có chuyện chưa gặp phải nước mà đă cỡi giày?! Ngài nên khất cầu, Chiên-đồ-la sẽ cho Ngài đó.

Được khuyến dụ như vậy nên Tô-đà-di bèn đến Chiên-đồ-la, nhưng Chiên-đồ-la đi vắng.

Khi ấy, Tô-đà-di lại nghĩ: “Chiên-đồ-la người nhỏ thó, ta lấy y Tăng-già-chi của ông đo thử khổ nguời của ta, nếu vừa sít sót ta sẽ đến hỏi xin c̣n không vừa th́ xin làm chi”. Nghĩ như vậy rồi bèn vào trong pḥng của Chiên-đồ-la thấy nơi để y, chiếc y Tăng-già-chi, máng trên sào tre, Tô-đà-di lấy xuống thử so dài ngắn. Ngay lúc ấy Chiên-đồ-la từ ngoài vội bước vào, vừa thấy, liền nói:

- Ông với tâm của kẻ trộm lấy y của tôi mặc, phạm tội Ba-la-thị-ca.

Thưa Cụ thọ:

- Tôi không có với tâm của kẻ trộm mà lấy y của Ngài, tôi chỉ có suy nghĩ này: “Chiên-đồ-la với vóc dáng người nho nhỏ, lấy y Tăng-già-chi của ông dóng thử kích cở: Nếu vừa, tương xứng ta nên hỏi xin c̣n không vừa th́ thôi, phiền bận chi đến tư cụ”

Chiên-đồ-la liền nói:

- Cụ thọ, chớ nên cường điệu, quanh co, dối trá để chạy tội. Ông với tâm của kẻ trộm, lấy y của tôi mặc, phạm Ba-la-thị-ca.

Tô-đà-di nghe câu ấy rồi, bèn sanh tâm hối hận: Đâu chẳng phải ḿnh phạm Thô tội ?! Liền báo cáo với các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật. Đức Phật hỏi:

- Bí-sô! Ông dùng tâm ǵ để lấy cái y đó ? Tô-đà-di đem tất cả sự thật bạch  với đức Thế Tôn.

 Đức Phật dạy:

- Bí-sô này với tâm đo thử, không phạm. Xong các Bí-sô không nên chẳng phải chỗ thân hữu mà tưởng là thân hữu.

Có ba loại thân hữu: Thượng, trung, hạ. Đối với thân hữu bậc hạ, khởi tâm tin cậy bậc hạ; thân hữu bậc trung, khởi tâm tin cậy bậc trung hạ; thân hữu bậc thượng, khởi tâm tin cậy bậc thượng, trung, hạ. Bí-sô đối với người chẳng phải thân hữu khởi tâm tưởng tin cậy là thân hữu, phạm tội Việt Pháp.

 

CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA

QUYỂN 4 (hết).