CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA

QUYỂN 3.

TAM TẠNG PHÁP SƯ NGHĨA TỊNH PHỤNG CHẾ DỊCH.

 

Giới thứ hai, phần hai: Học xứ không cho mà lấy.

 

Nhiếp tụng:

Hoặc ở trên mặt đất,

Hoặc để trong rương tủ,

Hoặc để nơi bãi trống,

Chỗ ruộng các cây thuốc.

+ Bí-sô biết trọng vật của người để trên mặt đất như kiềng xuyến, chơn-châu, anh lạc, các dụng cụ trang nghiêm. Bí-sô với tâm trộm cắp phát khởi phương tiện, từ nơi chỗ ngồi đứng dậy sửa áo để đi, cho đến khi chưa chạm phải, phạm tội Ác tác.

* Nếu chạm phải mà chưa dời khỏi chỗ, phạm tội Tốt-thổ-la-để.

Nếu đưa đi khỏi chỗ gọi là ăn trộm, tùy theo trị giá thành tội.

Nếu đủ năm Ma-sái thì phạm Ba-la-thị-ca.

Nếu không đủ năm Ma-sái thì phạm Tốt-thổ-la-để.

* Nếu nơi nào đó có một khoảng đất bằng phẳng, trơn tru, phẳng lì thì gọi là một chỗ.

Nếu mặt đất nhô lên hoặc lại bị sụp lở hoặc lấp vá rộng ra hoặc có chữ ghi thời điểm, có hình vẽ đủ loại hình thái thì gọi là khác chỗ.

Nếu bàn, mâm, đồ đựng v.v... Có một mặt bằng trơn nhẵn là một chỗ.

Nếu có bể móp, cho đến họa đồ... gọi là khác chỗ.

* Nếu trọng vật của người để trong một khu vực rộng, như là kiềng xuyến cho đến anh lạc, Bí-sô với tâm trộm cắp, phát khởi phương tiện cho đến chưa xúc chạm đến, phạm Ác tác tội.

Nếu xúc chạm mà chưa dời khỏi chỗ, phạm tội Tốt-thổ-la-để.

Nếu dời khỏi chỗ, gọi là ăn trộm, tùy theo trị giá thành tội.

Nếu đủ năm Ma-sái, phạm Ba-la-thị-ca.

Nếu không đủ năm Ma-sái, phạm Tốt-thổ-la-để tội.

Nếu lúa, bắp v.v... Trên vùng đất đó bằng phẳng, bao quát một màu sắc, gọi là một chỗ.

Nếu lúa, bắp v.v... cao thấp không bằng nhau, gọi là khác chỗ.

* Nếu trọng vật của người khác để trong hang, trong hầm, như các bảo vật dụng cụ anh lạc, nếu Bí-sô với tâm trộm cắp, phát khởi phương tiện, cho đến chưa xúc chạm, phạm tội Ác tác.

Nếu xúc mà chưa dời khỏi chỗ, phạm tội Tốt-thổ-la-để.

Nếu dời khỏi chỗ đủ năm Ma-sái, phạm tội Căn bản.

Nếu không đủ năm Ma-sái, phạm tội Tốt-thổ-la-để.

* Nếu trọng vật của người để trong hang hầm, lúa bắp trong hang hầm, bình diện cùng chung một cửa, chung một màu sắc, gọi là một chỗ.

Nếu bắp lúa... Không cùng một cửa đều nhau, cao, thấp không bằng làm thành nhiều màu sắc, hoặc có cây và chiếu, cối v.v... làm đồ ngăn cách, gọi là khác chỗ.

* Nếu trong ruộng của người có các loại cây thuốc, như Hương phụ tử, Hoàng cương, Bạch cương và các loại thuốc như Ô đầu... Bí-sô với tâm trộm, khởi lên phương tiện, cho đến chưa xúc chạm, phạm tội Ác tác.

Nếu xúc chạm, chưa dời khỏi chỗ, phạm tội Tốt-thổ-la-để.

Nếu lìa khỏi chỗ củ, đủ năm Ma-sái, phạm tội Căn bản.

Không đủ năm Ma-sái, phạm tội Tốt-thổ-la-để.

Nhiếp tụng:

Nhà cửa có ba chỗ,

Vật của chim ba món,

Phù chú lấy đem giấu,

Ba việc đây chẳng đồng.

* Nếu cái áo tạp sắc của người để trên nhà, Bí-sô với tâm trộm cắp, phải khởi lên phương tiện, bắc thang leo lên dùng vật móc lấy, cho đến chưa chạm xúc vật, phạm tội Ác tác.

Nếu đã chạm xác áo mà chưa dời chỗ, phạm tội Tốt-thổ-la-để.

Nếu dời khỏi chỗ tức là ăn trộm, chuẩn theo giá mà định tội, đồng như giới trước.

* Nếu người giặt y, đem phơi trên lầu, bị gió thổi rớt chỗ đi kinh hành của Bí-sô, hoặc rớt bên cửa, nếu Bí-sô với tâm trộm cắp, khởi lên phương tiện, cho đến chưa xúc chạm, phạm tội Ác tác.

Nếu khi xúc chạm, phạm tội Tốt-thổ-la-để.

Nếu dời khỏi chỗ, phạm tội đồng như giới trước.

Nếu trọng vật của người để trên lầu cao, như dụng cụ bảo vật, anh lạc, Bí-sô với tâm trộm cắp, khởi lên phương tiện, dùng thang leo lên móc lấy, cho đến chưa xúc chạm phạm tội Ác tác.

Nếu đã xúc chạm chưa dời khỏi chỗ, phạm tội Tốt-thổ-la-để.

Nếu dời khỏi chỗ phạm tội đồng như trước.

* Nếu có người, nơi nhà ở, nơi vườn ao, trồng các loại bông và cây ăn trái, trong những ngày hội, ngày lễ dùng các loại bông trái tốt đẹp để trang nghiêm. Những dụng cụ anh lạc quý báu và tơ lụa tạp vật, hoặc bị gió bay, hoặc bị chim nhầm tưởng là thức ăn tha đi, nếu Bí-sô với tâm trộm cắp, khởi lên phương tiện, bắt chim kia cho đến khi chưa chạm xúc đến anh lạc, phạm tội Ác tác.

Nếu chạm xúc mà chưa lìa khỏi chỗ, nghĩ tưởng đó là vật của chim, phạm tội Ác tác.

Nếu dời khỏi chỗ gọi là ăn trộm, nên chuẩn theo giá mà thành tội, nếu đủ năm Ma-sái, phạm tội Tốt-thổ-la-để.

Nếu không đủ năm Ma-sái phạm tội Ác tác.

Nếu Bí-sô khởi ý tưởng đây là vật của người, rồi thả chim, chỉ lấy anh lạc, thì tuy chỉ xúc chạm chưa rời khỏi chỗ vẫn phạm Tốt-thổ-la-để.

Nếu khi lìa khỏi chỗ, mà đủ năm Ma-sái thì phạm Bổn tội.

Không đủ năm Ma-sái thì phạm Tốt-thổ-la-để.

* Nếu người dùng các vật báu và dụng cụ bằng anh lạc, để trong rương  nơi nhà, khi ấy có loài chim tha ngậm vật bay đi. Nếu Bí-sô với tâm trộm cắp khởi lên phương tiện bắt con chim ấy, cho đến khi chưa xúc chạm đến anh lạc, phạm tội Ác tác.

Nếu khi xúc chạm vật, chưa dời khỏi chỗ, khởi lên ý tưởng là vật của chim, phạm tội Ác tác.

Nếu rời khỏi chỗ thì gọi là ăn trộm, nên chuẩn theo giá để thành tội.

Nếu đủ năm Ma-sái thì phạm tội Tốt-thổ-la-để.

Nếu không đủ năm Ma-sái thì phạm tội Ác tác.

Nếu Bí-sô khởi ý nghĩ, đây là của người, thả chim chỉ lấy anh lạc, tuy chỉ xúc chạm chưa rời khỏi chỗ, phạm tội Tốt-thổ-la-để.

Khi nào rời khỏi chỗ, nếu đủ năm Ma-sái, phạm tội Căn bản.

Nếu không đủ phạm Tốt-thổ-la-để.

* Nếu ở trong nhà hoặc nơi ao của người, vì để giải trí nên nuôi các loài chim Anh vũ, Xá-lợi, Câu-la-chỉ[1], Mạng mạng... Rồi dùng các loại anh lạc... Để trang sức cho chúng. Bí-sô thấy rồi, với tâm trộm cắp, khởi lên phương tiện, bắt loại chim kia, cho đến chưa xúc chạm đến dụng cụ trang sức, phạm tội Ác tác.

Khi xúc chạm vật kia, chưa lìa khỏi chỗ củ, khởi ý tưởng là vật của chim, cũng phạm tội Ác tác.

Nếu dời khỏi chỗ, gọi là ăn trộm, chuẩn theo giá, nếu đủ năm Ma-sái, phạm tội Tốt-thổ-la-để, không đủ phạm tội Ác tác.

Nếu đối với vật ấy khởi ý tưởng rằng của người, ý nghĩ chẳng phải vật của chim thì tuy xúc chạm, chưa dời khỏi chỗ, phạm tội Tốt-thổ-la-dể.

Nếu dời khỏi chỗ, đủ năm Ma-sái, phạm tội Căn bản; không đủ năm Ma-sái phạm Thô tội.

* Nếu có Bí-sô, đối với hai thứ khuất kín (phục tàng), một thứ có chủ, một thứ không chủ, Bí-sô ý muốn lấy vật khuất kín có chủ này, từ nơi chỗ ngồi đứng dậy sửa y phục, tác Mạn-đồ-la đối với bốn phương đánh mạnh Địa-la-mộc, dùng năm thứ chỉ màu cột trói lại, ở trong lò lửa xông các loại cây tạp, miệng tụng Cấm chú, nói lên rằng: Vật khuất kín có chủ thì đến, vật khuất kín không chủ đừng đến. Nếu lúc ấy, vật khuất kín có chủ, tùy theo lời chú gọi mà đến, cho đến khi chưa thấy đến, phạm Tốt-thổ-la-để.

Khi nhãn quan thấy thì gọi là ăn trộm, chuẩn theo giá, nếu đủ năm Ma-sái thì phạm Bổn tội, không đủ thì phạm Thô tội.

Nếu khi nói rằng: Vật khuất kín vô chủ nên đến vật khuất kín có chủ đừng đến. Lúc ấy vật khuất kín vô chủ theo lời gọi mà đến, cho đến khi chưa thấy đến, phạm tội Ác tác.

Nếu khi nhãn quan thấy thì gọi là ăn trộm, chuẩn theo giá của vật, nếu đủ năm Ma-sái thì phạm tội Tốt-thổ-la-để, nếu không đủ phạm tội Ác tác.

Nếu đối với vật khuất kín có chủ, không chủ với mỗi thời gian khác nhau, tác pháp riêng lẽ khác nhau trộm lấy, tùy theo việc nặng, nhẹ như trên phạm tội.

             Nhiếp tụng:   

                          Nếu vật nơi chiếu giạ.

                 Hoặc ở nơi tấm đá...

                 Hoa, trái, cây đẹp lạ,

                 Việc theo chỗ nên biết.

* Nếu trọng vật của người để trên chiếu giạ hoặc trải trên đất, như dụng cụ bằng anh lạc và các vật báu, nếu Bí-sô với tâm trộm cắp, khởi phương tiện, cho đến chưa xúc chạm, phạm tội Ác tác.

Nếu xúc chạm vật ấy, chưa lìa khỏi chỗ củ, phạm tội Tốt-thổ-la-để.

Nếu dời khỏi chỗ củ gọi là ăn trộm, tuỳ theo thời giá, phạm tội, đồng như trước.

Nếu cỏ trải kia đồng một sắc gọi là một chỗ, nếu màu sắc riêng khác không đồng, gọi là khác chỗ.

* Nếu trọng vật của người để trên tấm đá cho đến không đủ năm Ma-sái phạm Tốt-thổ-la-để.

Nếu tấm đá trơn nhẵn chung một khối, một đoạn, gọi là một chỗ.

Nếu miếng đá bị đục khoét, chẻ ra, ráp lại, hoặc trên có chữ ghi thời điểm, hoặc trên có vẽ vời mang sắc thái đủ loại, như vậy gọi là khác chỗ.

* Trên tấm đá như vậy, cho đến tấm ván, vách tường, chiếc chiếu, áo choàng, khăn trùm, khăn đậy rương, chiếc xuồng, ngà voi, giường, ghế v.v... hoặc cái giá kinh có bốn chân, hoặc cây gài các cửa, khi an trí vật gì đều không đồng như trước.

Hoặc ba loại cây, tức là cây có hoa, cây có trái và cây kỳ diệu, Bí-sô chặt với tâm trộm hoa, trái v.v... Trị giá đủ, không đủ, phạm tội đồng như trước.

                   Nhiếp tụng:            

                     Nếu vật nơi yên ngựa. 

                     Và voi, ngựa, xe cộ.

                     Mập, ốm nên tuỳ đó,

                     Trộm thuyền đều sai khác.

* Như trọng vật của người để trên yên ngựa, như dụng cụ bằng anh lạc, các vật quý báu, Bí-sô với tâm trộm cắp khởi lên phương tiện, cho đến chưa leo lên, chưa xúc chạm đến vật, phạm tội Ác tác.

Nếu xúc chạm đến vật mà chưa dời khỏi chỗ củ, phạm Tốt-thổ-la-để.

Nếu khi dời khởi chỗ củ, trị giá năm Ma-sái, phạm tội như trước.

Trên yên ngựa, dùng một màu sắc để phủ lên thì gọi là một chỗ, nếu vật bằng tạp sắc phủ lên thì gọi là khác chỗ.

* Nếu trọng vật của người để trên con voi, và vật ấy là dụng cụ bằng anh lạc, các châu báu, nếu Bí-sô có tâm trộm cắp, khởi lên phương tiện, cho đến chưa leo lên, chưa xúc chạm vật, phạm tội Ác tác.

Nếu xúc chạm đến vật, chưa dời khỏi chỗ, phạm Tốt-thổ-la-để.

Nếu khi dời khỏi chỗ, trị giá đủ năm Ma-sái, phạm tội đồng như trước.

Con voi kia da, thịt, mạch máu đều đầy đủ, gọi là một chỗ. Nếu con voi đó thân ốm gầy, hoặc răng, tai, mũi và bụng, xương sườn, xương sống, lưng, dựa theo mỗi một chỗ thì gọi là khác chỗ, khi dời khỏi chỗ củ đều phạm Bổn tội.

Nếu không dời khỏi chỗ củ thì phạm Tốt-thổ-la-để.

Nếu trên con voi trang sức bằng màn rèm, trên các màn rèm gắn các vật báu, các anh lạc, nếu Bí-sô với tâm trộm cắp, khởi phương tiện, cho đến chưa leo lên, chưa xúc chạm vật, phạm tội Ác tác.

Nếu xúc chạm vật, chưa dời khỏi chỗ, phạm tội Tốt-thổ-la-để.

Nếu dời khỏi chỗ, trị giá đủ năm Ma-sái, phạm tội đồng như trước.

Nếu ở trên màn rèm ấy dùng vật màu sắc phủ che lên trên, thì gọi là một chỗ, nếu dùng vật khác màu sắc để như trùm lên, gọi là khác chỗ.

Trên thớt voi như vậy, xe ngựa, xe bộ, xe trâu, các loại xe, cũng đồng như trước.

* Nếu Bí-sô thấy chiếc thuyền, tháo gỡ dây neo cột nơi cây trụ, với tâm trộm cắp để đi, khi chiếc thuyền dao động phạm Ác tác tội.

Nếu làm cho thuyền trôi theo dòng nước, đến khi tầm mắt còn thấy thuyền, phạm Tốt-thổ-la-để.

Đến khi mắt không thấy, trị giá đủ năm Ma-sái, phạm tội Căn-bổn.

Nếu không đủ, phạm tội Tốt-thổ-la-để.

Nếu thuyền đi ngược dòng nước, chuẩn theo tương tợ chừng mức bề rộng của sông, phạm tội Căn-bổn.

Chưa cập bến nào đó, phạm Tốt-thổ-la-để.

Nếu trộm từ bờ này đến bờ kia, chừng mức của mắt thấy, cùng như trước không khác.

Nếu trộm thuyền bằng cách kéo lên bờ để đem đi, cũng chuẩn theo chừng mức của mắt thấy.

Nếu trộm thuyền bằng cách nhận xuống bùn rồi sau đó mang đi, khi bùn vừa khuất thuyền, tức thành tội trộm, phạm tội đồng như trước.

Nếu khi Bí-sô trộm vật, hoặc chôn ở trong bùn, hoặc đốt, hoặc khoan, hoặc phá, khởi ý nghĩ rằng: Đừng để vật này thuộc về của người khác mà thuộc về của ta, tức phạm Tốt-thổ-la-để.

     Nhiếp tụng:

Có ba loại Doanh điền

Riêng thuyền có ba loại

Ao hoa và ngỗng, nhạn

Trộm nước, săn, lưới cá

Đệ tử, vẽ bày giặc

Ba loại sự không đồng.

* Vào mùa thu, nếu có người làm ruộng, và sản xuất như trồng lúa, mía, làm muối, Bí-sô thấy ruộng của mình khan nước, sợ bị khô cho nên trong nội đồng có kênh nước chung bèn đắp lại trổ nước của ruộng người tháo nước vào ruộng mình, lại có ý nghĩ để cho ruộng của mình tốt, đừng để cho ruộng của người đạt thành quả, chỉ mình thành tựu, họ bị thiệt hại. Chuẩn theo giá, nếu đủ năm Ma-sái, phạm tội Căn bản, không đủ, phạm Tốt-thổ-la-để.

Nếu thấy nước nhiều, nơi kênh nước nội đồng chung, khơi tháo nước làm úng thủy ruộng người, đắp kín trổ nước vào ruộng mình với ý nghĩ ruộng ta tốt đừng để ruộng họ đạt thành quả. Mình thành họ thiệt hại. Nếu đủ năm Ma-sái phạm tội Căn bản, không đủ phạm Tốt-thổ-la-để-dã.

* Đồ vật bốn loại không đồng:

Một là vật thể trọng, giá trị trọng.

Hai là vật thể khinh giá trị trọng.

Ba là vật thể trọng giá trị khinh.

Bốn là vật thể khinh giá trị khinh.

+ Thế nào gọi là thể chất trọng giá trị trọng ?

- Nghĩa là như mạt-ny, chơn-châu, lưu-ly, bích ngọc, san hô, kim ngân, mã não...

+ Thế nào gọi là thể chất khinh giá trị trọng ?

- Nghĩa là như lụa là, nhung gấm, Kim-hương-tô, Khấp-mê-la...

+ Thế nào gọi là thể chất trọng giá trị khinh ?

- Tức là như chì, thiết, sắt...

+ Thế nào gọi là thể chất khinh giá trị khinh ?

- Tức là như lông, gai, kiếp bối...

* Nếu những vật trên để trong ba loại thuyền, thuyền bằng sành sứ, thuyền bằng gỗ cây, thuyền bằng da thú. Nếu dùng vật thể trọng giá trị trọng và thể chất khinh giá trị khinh để chung trong một thuyền. Khi thuyền kia bị vỡ, chủ của đồ vật tuyên bố: Vật nào nổi trên mặt nước thì tùy ý lấy, vật nào chìm dưới đấy nước thì thuộc về của tôi.

Nếu Bí-sô với tâm trộm cắp, khởi phương tiện, bèn xuống đáy sông, cho đến chưa chạm được vật, phạm tội Ác tác.

Nếu chạm được vật phạm tội Tốt-thổ-la để-dã.

Nếu dời khỏi chỗ, tính đủ năm Ma-sái, phạm tội Căn bản.

Không đủ phạm tội tốt-thổ-la-để-dã.

* Nếu chìm trong bùn lại toan ý muốn lấy, chuẩn theo trước mà phạm tội.

Nếu khởi tâm ý nghĩ: Vật chìm trong bùn đó chẳng phải là của mình hay của người, không khiến vật ấy thuộc về của người kia mà thuộc về của mình, chuẩn theo trước mà phạm tội.

 

Các giới sau, chuẩn theo đây nên biết.

* Nếu dùng vật thể khinh giá trị trọng, thể chất trọng giá trị khinh để chung trong một thuyền. Khi thuyền kia bị vỡ, chủ của đồ vật tuyên bố: Vật nào chìm dưới đáy nước thì tùy ý lấy, vật nào nổi lên trên mặt nước thì thuộc về của tôi.

Nếu Bí-sô với tâm trộm cắp, khởi lên phương tiện, để lấy vật nổi trên nước, cho đến chưa xúc chạm đến vật, phạm Ác tác tội.

Nếu xúc chạm vật phạm tốt-thổ-la-để-dã.

Nếu dời khỏi chỗ củ, tính theo giá, phạm tội đồng như trước.

Nếu chìm trong bùn lại toan lấy thì chuẩn theo trước mà phạm tội.

* Nếu trong nhà hoặc trong hồ ao của người nào đó, vì để tạo cảnh vui chơi thưởng ngoạn nên nuôi đủ loại chim, ngỗng, nhạn, uyên ương... Đem các loại anh lạc trang sức cho chúng nó. Nếu Bí-sô với tâm trộm cắp, tìm các phương tiện, vào trong nước... bắt lấy các loài chim, dù chưa xúc chạm đến anh lạc, cũng phạm tội Ác tác.

Nếu khi xúc chạm khởi ý niệm rằng: Tôi lấy vật của chim cũng phạm tội Ác tác.

Nếu dời khỏi chỗ củ, tính theo giá đủ năm Ma-sái, phạm Tốt-thổ-la-để-dã, không đủ phạm Ác tác tội.

Nếu khởi ý nghĩ là tôi lấy vật của người, nên chỉ lấy anh lạc, thả loài chim. Như vậy, khi chạm lấy vật phạm Tốt-thổ-la-để-dã.

Nếu dời khỏi chỗ củ tính theo giá, đủ năm Ma-sái, phạm Bổn tội, không đủ, phạm Tốt-thổ-la-để-dã.

* Nếu ở trong ao, có nước sanh hoa, như hoa Thanh liên, hoa Ốt-bát-la, hoa Bạch liên, hoa Câu-mâu-đầu, Phân-đà-lợi-ca-hương, hoa Thời, mọi người đều ưa thích. Bí-sô với tâm trộm cắp, khởi lên phương tiện, vào trong ao trộm hoa, cho đến chưa xúc chạm hoa, phạm Ác tác tội.

Nếu xúc chạm hoa, đi hái bẻ, kết lại thành bó, cho đến chưa dời khỏi chỗ, phạm Tốt-thổ-la-để-dã.

Nếu dời khỏi chỗ, phạm tội đồng như trước.                       

* Bốn phía bờ ao mọc các loại cây cỏ hoa, như cây A-địa-mộc-đa-ca[2], Chiêm-bác-ca, Ba-tra-la, Bà-lợi-sư-ca, Ma-lợi-ca. Các loại cây có hoa như vậy, Bí-sô với tâm trộm cắp, khởi lên phương tiện, muốn trộm hoa kia cho đến khi chưa xúc chạm, phạm tội Ác tác.

Nếu leo lên cây hái bẻ hoa kia gói bọc trong áo, cho đến chưa leo xuống và rời nơi đã đến, chuẩn theo trước mà định tội.

* Nếu có thợ săn và đồ đảng của chúng, nơi khu rừng để các dụng cụ đi săn của chúng, như các lưới dùng để săn bắt các loài thú, làm nghiệp sát hại. Bí-sô với tâm trộm cắp lấy dụng cụ đi săn của họ, chuẩn theo giá, phạm tội.

Nếu khởi lòng từ bi phá hủy dụng cụ đi săn, với ý niệm: Chớ nên để những thứ này làm gì! Khiến cho các mạng sống bị sát hại thương tổn, để rồi số người đi săn phải gặt lấy vô lượng tội, làm như vậy Bí-sô chỉ phạm tội Ác tác.

Các giới sau đây, cũng như vậy nên biết.

 

* Bí-sô với tâm trộm cắp thấy con nai bị bắt, phải giải phóng nó, trị giá năm Ma-sái, phạm tội Căn bản, không đủ, phạm Tốt-thổ-la-để-dã.

* Nếu người đánh bắt cá và đồ đảng của chúng, nơi sông hay vũng nước, đắp ngăn chỗ ách yếu lại, dùng đó hay nơm bắt các loài thuỷ tộc. Bí-sô với tâm trộm cắp, khi lấy dụng cụ đó, nơm của họ, phạm tội đồng như trước.

Nếu khởi lòng từ bi thì phạm tội cũng như giới trước đã nói. Nếu trộm cá của họ ở trong nơm thì theo trị giá quy định, phạm tội giống như đã đề cập trước đây.

* Nếu có nhiều đoàn buôn mang các thứ hàng hoá đi qua đường nguy hiểm nọ. Nơi đây khó tìm được nước. Họ dùng các dụng cụ để đựng nước mang theo, như vò, hũ, bình, đãy bằng da. Do đó, nước mỗi người mang theo có giới hạng. Bí-sô với tâm trộm cắp, nghĩ ra phương tiện, để lấy phần nước của người, chưa xúc chạm và đã xúc chạm, chuẩn theo trước mà định tội.

Nếu là lấy phần nước của súc vật, đủ năm Ma-sái phạm tội Tốt-thổ-la-để-dã, không đủ, phạm tội Ác tác.

Như người ở Thiệm-bộ Châu, cùng nhau kết bạn với đoàn lái buôn dùng thuyền lớn, mang theo vật phẩm vào biển để tìm kiếm trân bảo.Vì không có nước nên dùng các dụng cụ chứa nước, như vò, hũ, bình... Xong phần nước chở theo này, người và súc vật, theo nhu cầu mà sử dụng khác nhau. Bí-sô với tâm trộm cắp khởi lên phương tiện, trộm phần nước của người, chuẩn theo trước định tội, lấy phần nước của súc vật, cũng chuẩn theo trước mà định tội.

* Dịp nọ, đệ tử với hai Thầy, đi cùng một tuyến đường. Thầy có y vật giao cho đệ tử mang. Một khi với tâm trộm cắp, đệ tử thủng thẳng đi đằng sau cách xa Thầy, cho đến còn trong tầm thấy, phạm Tốt-thổ-la-để-dã.

Mất hút trong tầm thấy, nếu đủ năm Ma-sái, phạm Bổn-tội.

Không đủ, phạm Tốt-thổ-la-để-dã.

Nếu đệ tử bỏ thầy, đi mau về phía trước còn trong tầm thấy hay ngoài tầm thấy, chuẩn theo trước mà định tội.

* Nếu đệ tử với tâm trộm cắp, muốn lấy y của thầy từ trong phòng đi lên trên lầu gác, hoặc từ lầu gác đến nơi phòng, hoặc từ lầu trên đến cửa dưới nơi thềm, hoặc ở trên tầng lầu ba, của chùa xuống dưới tầng dưới để đi ra. Các trường hợp này đều dựa trên, trong tầm mắt và ngoài tầm mắt... như trước định tội.

* Nếu Bí-sô sống nơi A-lan-nhã, hoặc trú sứ nào đó. Có kẻ giặc muốn phá thôn, đến chỗ Bí-sô hỏi như vầy: Đại đức, chắc Ngài biết thôn đó, nhà đó chứ ?

- Tôi biết nơi đó, Đại đức đáp lời.

- Nhà đó nhiều người nữ, ít người nam, không có chó dữ, không có chông gai nhiều dễ vào, dễ ra, đối với tôi không có thiệt hại gì mà lấy được vật phải không ? Nếu toại nguyện tôi sẽ cho Đại đức một phần trong số vật đó, kẻ trộm nói.

Nếu Bí-sô đó trả lời:

- Này ông! Tôi biết nhà đó nhiều nữ, ít nam, không có chó dữ, không có chông gai, dễ vào, dễ ra, đối với ông không tổn thương gì, có thể lấy được các vật ấy.

Bí-sô dạy như vậy rồi, kẻ giặc kia khi quay trở lại cùng với vật lấy trộm, trao cho. Dù Bí-sô chưa lấy vật, phạm Tốt-thổ-la-để-dã, nếu lấy phần của giặc trao cho, Bí-sô phạm tội nặng nhẹ đồng như giới trước.

* Nếu Bí-sô kia cùng với kẻ trộm nọ nói như vậy rồi. Sau khi kẻ trộm đi, liền sanh hối hận, đến kẻ trộm ấy nói như vầy:

- Này ông! biết chăng, vừa rồi ý tôi tháo thứ không nghiệm xét kỹ nên nói như vậy, thật như người ngu si không nắm vững vấn đề mà trả lời một cách sai quấy. Sự thật nhà kia người nữ ít, người nam nhiều, nhiều chó dữ, lắm chông gai, khó vào, khó ra, không thể nào tránh khỏi thương tổn cho ông khi lấy được vật kia. Tùy ý bọn giặc, có đi trộm hay không đi, Bí-sô vẩn phạm tội Tốt-thổ-la-để-dã.

* Nếu Bí-sô này biết bọn giặc cướp kia muốn đến phá thôn ấp, đến thôn đó nói:

- Các ông phải đề cao cảnh giác, cẩn thận khéo phòng thân. Tối nay ắt có kẻ đạo tặc đến, xâm nhập đừng để tài vật bị giặc cướp đem đi, phải bảo đảm toàn thân mạng đừng để giặc sát hại thương tổn. Việc đó tùy đạo tặc đến trộm hay không đến, Bí-sô cũng phạm tội Tốt-thổ-la-để-dã.

* Nếu Bí-sô hành động như trên, với phương tiện để thu trộm thì có ba phương tiện.

+ Ba cách ấy là gì ?

- Một là sử dụng việc ruộng đất. Hai là sử dụng việc nhà cửa. Ba là sự việc quán xá.

Việc ruộng đất có hai cách để lấy:

- Một là kiện tụng để lấy.

- Hai là bao vây để lấy.

* Lấy bằng cách kiện tụng là sao ?

- Nếu Bí-sô cùng với người thế tục tranh tụng ruộng đất đến quan đoán sự. Bí-sô không hơn kiện với người thế tục, phạm Tốt-thổ-la-để-dã.

Bí-sô hơn kiện, cho đến người thế tục tâm chưa dứt được sự việc, Bí-sô phạm Tốt-thổ-la-để-dã.

Người thế tục, tâm họ dứt được sự việc, chuẩn theo giá, phạm tội đồng như trước. Như vậy gọi là lấy bằng cách kiện tụng.

* Lấy bằng cách bao vây là sao ?

- Bí-sô đối với ruộng đất của người khác, dùng cây trồng hoặc trụ cột, che ngăn xung quanh, hoặc đào hào, đào hầm, hoặc xây tường, vách xung quanh, cho đến xây... chưa giáp khắp, Bí-sô phạm Tốt-thổ-la-để-dã.

Nếu xây... giáp khắp, phạm tội đồng như trước. Như vậy gọi là lấy bằng cách bao vây xung quanh.

Vấn đề ruộng đất là như vậy, nên vấn đề nhà cửa, quán xá dựa theo trên mà biết cách định tội.

Nhiếp-tụng :

Vật thuế đem gởi người,

  Đem vật người đi trước,

  Không nhận bèn cưỡng ép,

  Vì cha mẹ mang đi,

  Lại vì Tam Bảo vậy,

  Trị giá sau chia phần,

  Chủ y vì mang đi,

  Khiến người nhiễm không nhiễm.

  Chạy thuế vào cửa sau,

  Đoạt hết vật người buôn.

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn vừa chứng được Trí vô thượng, việc giáo hoá chưa hoàn bị và rộng khắp. Lúc ấy các Bí-sô qua được cửa thuế quan rất khó, còn người thế tục đi qua một cách dễ dàng. Thời ấy, phần đông các Bí-sô cùng với tập đoàn nhà buôn có những chuyến đi dài qua nước khác. Mỗi chặng đường đều có quan thuế, Bí-sô nói với các thương gia rằng:

- Hiền giả! chúng tôi hiện có một chút ít vật phải đóng thuế, quý vị vì chúng tôi mang giùm qua khỏi chỗ thuế quan, qua khỏi chúng tôi xin nhận lại, kẻo không phần vật của chúng tôi bị đưa vào đóng thuế quan.

Các thương gia nhận lời rồi cùng mang đồ vật của Bí-sô qua khỏi chỗ thuế quan, rồi giao lại. Bí-sô lần lượt đến nhà một trú xứ nọ. Bí-sô đến trước, vừa trông thấy khách mới đến liền hỏi:

- Thiện lai! Cụ thọ, hành lý được an toàn không ? Quan thuế núi, sông không gây khó dễ chứ ?.

- Tốt lắm! Thưa Đại đức, dọc đường không ai gây phiền phức cho chúng tôi cả! Khách Bí-sô đáp lời.

          - Các Cụ thọ không có vật gì phải đóng thuế hay sao ? Các Bí-sô đến trước hỏi.

Khách Bí-sô nói:

- Chúng tôi được các thương gia đồng ý mang qua chỗ thuế quan rồi đưa lại cho chúng tôi.

Các Bí-sô tại trú xứ đó nói:

- Lẽ nào hợp tác như vậy là để che giấu vật mà đi qua chỗ quan thuế ư?

- Dù không hợp đi nữa thì chúng tôi cũng đi qua rồi, các Bí-sô khách nói.

Tiếp tục đi, trên đường các Bí-sô, nghĩ lại việc làm lòng đầy hối hận: chúng ta liệu có khỏi phạm Ba-la-thị-ca không ? Do vậy các Bí-sô đem việc này thưa với các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật. Phật dạy: “Các Bí-sô này không phạm. Xong các Bí-sô không nên đem vật riêng của mình gởi cho người để qua khỏi quan thuế. Người nào trái phạm, mắc tội Việc pháp”.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn ở trong Trượng Lâm, khiến cho vua Ảnh Thắng nước Ma-kiệt-đà tỏ ngộ được chân lý. Sau đó, Thế Tôn đến thành Thất-la-phạt vì vua Kiều-tát-la là Thắng Quang nói Kinh Thiếu niên, khiến được điều phục. Bấy giờ hai nhà vua, đều tuyên bố rằng:

- Các Bí-sô trong nước của Ta, đồng với Vương thái tử, được miễn tất cả thuế. Các Bí-sô-ni cùng với những người trong hậu cung cũng miễn tất cả thuế.

Do vậy, các Bí-sô và các Bí-sô-ni qua các ải quan, khỏi bị đóng thuế. Đây chính là lúc mà sự giáo hoá của đức Thế Tôn đã rộng khắp. Lúc này các Bí-sô qua các cửa thuế rất dễ, còn người thế tục tại đây gặp khó khăn. Bấy giờ các Bí-sô đi theo tập đoàn buôn khác ra ngoài nước để du hóa. Khi đến gần nơi thu thuế, các thương gia lễ dưới chân các Bí-sô và thưa:

- Thánh giả! chúng tôi từ lâu vì sự lạnh, nóng, bức bách, phong, nhiệt, đọc trùng, mòng muỗi v.v... Làm hại, tìm kiếm sự sống hết sức vất vả khó khăn. Chỗ gặt hái được lợi lộc đều vì Tam Bảo mà thiết lễ cúng dường. Nay có một số đồ vật phải đóng thuế, các Ngài vì tôi mang qua khỏi chỗ ải quan thuế rồi chúng tôi xin nhận lại.

Vì các thương gia, sau khi mang các vật ấy qua khỏi ải quan các Bí-sô đều giao lại họ. Các Bí-sô lần lượt đến thành Thất-la-phạt, khi ấy các Bí-sô tại trú xứ chào hỏi:

- Thiện lai! Cụ thọ, trên đường được yên ổn không ? (Hỏi đáp giống như đoạn trên) -Cho đến câu trả lời:

       - Tôi cũng còn vì người khác làm việc bố thí, vừa có ơn, vừa có ích mà thân không phải nhận lấy sự vất vả cực nhọc.

Các Bí-sô nói:

- Việc bố thí ấy là thế nào ? Các Bí-sô khách trình bày đầy đủ sự việc đã xảy ra.

Các Bí-sô nói:

- Lẽ nào lại hợp tác như vậy để che giấu đồ vật mà trốn thuế qua mặt thuế quan ư ?.

- Dầu là không hợp đi nữa chúng tôi cũng mang nó qua khỏi rồi. - Các Bí-sô khách trả lời.

Sau đó các Bí-sô này lòng cứ ray rứt hối tiếc việc đã làm: “chúng ta đâu không phạm Ba-la-thị-ca ?!” Các vị đem vấn đề này trình bày đầy đủ với các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật dạy:

- Bí-sô này không phạm. Xong các Bí-sô không nên mang vật riêng đi qua ải quan, để khỏi đóng thuế. Vị nào trái phạm, phạm tội Việt Pháp.

Lúc bấy giờ các Bí-sô đi theo tập đoàn buôn để du hóa. Khi đến gần chỗ quan thuế, các khách buôn lễ dưới chân Bí-sô, nói như vầy:

- Thánh giả! Từ lâu tôi bị lạnh, nóng, đói, khát áp bức (lời thoại lập lại như trên). “Chỗ hái được lợi lộc đều vì Tam Bảo mà thiết lễ cúng dường. Tôi nay có một số vật phải bị đóng thuế, các Ngài vì tôi mang qua khỏi chỗ ải thuế rồi chúng tôi xin nhận lại.

Bí-sô nói:

- Đức Phật đã chế giới cấm Bí-sô không nên mang vật phải đóng thuế qua khỏi trạm quan thuế. Tôi không dám mang vật ấy khỏi chỗ thuế.

Khi ấy thương gia liền nghĩ: “Bí-sô không chịu mang qua thì chúng ta còn có đủ kiểu cách khác”. Họ bèn báo với các Bí-sô rằng:

- Thánh giả, sáng hôm nay, bọn chúng tôi phải lo toan, bận rộn nhiều việc quá, không thể lo việc cơm nước được, các Ngài vào thôn tùy duyên khất thực.

Sáng ấy tất cả các Bí-sô đều vào trong thôn để khất thực. Sau khi các Bí-sô đi rồi, thương gia mỗi người đều lấy khăn gói y, đãy đựng bình bát, bao đựng đồ tạp vật của các Bí-sô, bỏ vào đó những đồ vật phải đóng thuế. Các Bí-sô nhận được thức ăn rồi quay trở về chỗ tập đoàn buôn.

Các Bí-sô ăn xong lại mang y, bát, khăn, đãy của mình đồng loạt ra khỏi chỗ quan thuế. Bấy giờ các thương gia đều đến mở các khăn đãy, lấy nải của Bí-sô. Các Bí-sô hỏi:

- Tại sao các vị tự tiện đụng đến vật dụng của chúng tôi ?

- Thưa Thánh giả! chúng tôi để những hàng hóa cần đóng thuế vào trong hành lý của quý Ngài, nay xin phép được nhận lại. - Các thương chủ nói.

Các Bí-sô nói:

- Các Hiền Thủ! Các người đã cố tâm làm cho chúng tôi phạm tội.

- Thánh giả! Đối với các Ngài, việc này, ba nghiệp không phát khởi làm sao có tội được ? - Khách buôn thưa.

Khi đã như thế, lòng các Bí-sô xấu hỗ ray rứt bởi ý nghĩ: “Há phải chăng chúng ta đã phạm Ba-la-thị-ca !?” Các Bí-sô dần dà đến thành Thất-la-phạt. Các cựu trú Bí-sô, đón chào niềm nở:

-Thiện lai! Cụ thọ đi đường được yên ổn chứ ? (Lời thoại như trên) -Cho đến câu trả lời:

- Chúng tôi không có gặp gì khổ sở. Xong, khi dừng nghỉ, chúng tôi vào thôn khất thực, bạn thương gia đồng hành với chúng tôi đã mở hành lý của chúng tôi, bỏ các vật phải đóng thuế vào, chúng tôi không hay biết nên mang qua khỏi chỗ quan thuế. Sau khi biết, sự đã rồi, chúng tôi day dứt phân vân lắm: “Chẳng lẽ chúng tôi đã phạm Ba-la-thị-ca!”

Khi biết sự việc đã xảy ra như thế, các Bí-sô bạch đầy đủ lên đức Phật. Đức Phật dạy:

- Bí-sô ấy không phạm xong tất cả vật sở hữu của Bí-sô nếu không xem xét thì không được để đó mà đi. Phải để lại người giữ gìn bảo quản. Nếu không xem xét, hay không có người bảo quản, thì phạm tội Việt Pháp.

Thời gian khác, Bí-sô cũng đi với tập đoàn nhà buôn, trên đường đi Bí-sô vào thôn khất thực, để lại một người coi hành lý. Nhân lúc người ấy cần đi “tiện lợi”, hoặc phải đi lấy nước, các thương gia mỗi người đem những vật cần đóng thuế bỏ vào gói hành lý của Bí-sô... (sự việc giống như trước) qua khỏi ải thuế, đến lấy vật lại. Cho đến câu: “Trình bày đầy đủ với các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật. Đức Phật dạy:

- Các Bí-sô này không phạm. Nhưng nên để hai Bí-sô trông coi hành lý.

Bấy giờ, các Bí-sô để hai Bí-sô trông coi hành lý. Nhân lúc một Bí-sô đi “tiện lợi”, hoặc đi lấy nước, Bí-sô còn lại bị các thương gia đến kẻ nắm tay, người nắm chân rồi đem các vật cần đóng thuế để vào trong các gói hành lý của Bí-sô. Bí-sô nghĩ rằng: “Đồng phạm hạnh của mình đến, mình sẽ báo cho họ biết”. Lúc các Bí-sô khất thực về đến, các thương gia bày ra cái trò huyên náo, “cả vú lấp miệng em”, khiến cho Bí-sô bị hành hung kia không thể nói lên được việc gì. Khi đã qua khỏi chỗ quan thuế, mỗi thương gia đến lấy vật lại. Bí-sô hỏi:

- Tại sao quý vị tự tiện lục soạn hành lý của chúng tôi ?

Thương gia thưa:

- Trong những gói xách này của quý vị, chúng tôi có gửi những vật trốn thuế, nay xin được nhận lại.

Ngỡ ngàng, các Bí-sô hỏi:

- Này hai vị, hai ông đã nhận chăm nom, gìn giữ hành lý, tại sao lại để xảy ra tình trạng chúng ta cùng phạm tội là sao ?!

Khi ấy hai Bí-sô trần tình mọi việc đã xảy ra. Giờ thì các Bí-sô lòng lại phân vân suy nghĩ: “Như thế chúng ta có phạm Ba-la-thị-ca chăng?!” Các Bí-sô đem tất cả các vấn đề bạch với các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật. Phật nói:

- Không phạm. Xong người coi hành lý, thấy người khác để vật gì vào, phải khiến cho người thế tục hoặc bảo Cầu tịch, lấy vật kia bỏ ra. Nếu không có ai, nên tự lấy bỏ ra ngoài, giao lại cho người chủ có vật. Nếu làm khác đi phạm tội Việt Pháp.

Đức Phật ở tại thành Thất-la-phạt, vườn ông Cấp-cô-độc. Lúc bấy giờ trong thành có một Trưởng giả cho phép một người con đi xuất gia. Có nhơn duyên, người con đi ra nước ngoài, nhận được hai Trương điệp. Người con liền khởi ý nghĩ: “Như Thế Tôn dạy: Tuy là xuất gia, đối với cha mẹ nên cần cung phụng. Hai Trương điệp này, ta nên dâng lên cho cha một xấp cho mẹ một xấp”. Ngày ấy, Bí-sô để lại những vật không cần thiết cho trú xứ, lên đường trở về cố xứ. Trên đường về thành Thất-la-phạt, gặp ải quan thuế, quan thuế hỏi:

-Thánh giả, có vật gì để đóng thuế không ?

- Tôi không có vật gì để phải đóng thuế cả, thưa Hiền giả. - Bí-sô đáp lời.

Cán bộ thuế nói:

- Xin nán lại một chút, đem hành lý vào đây, có khám xét thì mới biết được.

Vừa mở hành lý ra, thấy hai trương điệp, cán bộ thuế nói:

- Thánh giả! Ông là người xuất gia trong pháp luật hay đẹp, đâu có phép chỉ vì hai trương điệp mà ông phải nói không thật !?.

Bí-sô nói:

- Thưa Hiền giả! Đây không phải là của tôi!.

- Vậy thì của ai ? - Quan thuế hỏi.

- Của cha tôi một xấp, của mẹ tôi một xấp. - Bí-sô nói.

- Mẹ tôi cũng không biết, cha tôi cũng không biết. Tôi chỉ biết ông phải đóng thuế thì mới được phép đi. - Quan thuế nói.

Bị giữ lại khám xét khá lâu, thu thuế xong, thuế quan mới mở lối cho đi. Bí-sô ấy đến thành rồi, lòng cứ ray rứt xấu hổ nói rõ sự việc với các Bí-sô. Các Bí-sô bạch Phật, Phật dạy:

- Bí-sô ấy không phạm nhưng không nên sử dụng ngôn từ như thế. Cha mẹ nào đây mà tự nhận ? Đối với quan thuế nên có lời như sau:

“Hiền thủ! Như Thế Tôn dạy: Công lao của cha mẹ đối với con rất lớn: Bảo hộ, chăm sóc, nuôi nấng, dạy dỗ, bú mớm, cháo cơm...”

Trong cõi Thiệm-bộ Châu, Ngài dạy vẽ rõ ràng:

“Giả sử có người con, một vai cõng cha, một vai cõng mẹ trãi qua một trăm năm không hề thấy mỏi mệt. Hoặc là dùng mạt-ny, chơn-châu, lưu-ly... Chất đầy cõi đại địa để cung phụng cha mẹ, làm cho mẹ cha giàu sang, sung sướng hoặc đặt cha mẹ ở địa vị tôn quý nào cũng chưa gọi là báo ân cha mẹ”.

“Nếu cha mẹ không có tín tâm thì phải khiến cho cha mẹ được chánh tín. Nếu cha mẹ không có giới thì hướng dẫn mẹ cha thọ giới cấm của Phật. Nếu cha mẹ có tánh xan tham nên hướng dẫn mẹ cha làm việc huệ thí. Nếu cha mẹ không có trí tuệ, nên tạo điều kiện cho mẹ cha phát khởi trí tuệ”.

“Ở đâu, nơi nào, đối với cha mẹ, bổn phận làm con phải thực hiện được như vậy. Phải khéo léo, tế nhị, vỗ về, khuyên lơn làm cho cha mẹ được an lạc, chánh tín. Được như vậy, mới gọi là báo ân. Hiền giả! Cha mẹ ân đức sau dày như vậy, nay tôi muốn đem phẩm vật này về báo ân sinh thành. Khi tán thán ân huệ của cha mẹ như vậy, họ miễn thu thuế càng tốt, bằng không thì phải đóng thuế rồi đi. Không làm như vậy phạm tội Tốt-thổ-la-để-dã”.

 

CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA

QUYỂN 3-(hết).

 

                                                 



[1] Bản hán: Câu-chỉ-la điểu.

[2] Bản hán: A-địa-mộc-đa-ca. Đính chính: A-địa-mục-đắc-ca.