CĂN BẢN
THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA
QUYỂN 3.
TAM TẠNG PHÁP SƯ
NGHĨA TỊNH PHỤNG CHẾ DỊCH.
Giới
thứ hai, phần hai: Học xứ không cho mà lấy.
Nhiếp tụng:
Hoặc ở trên mặt đất,
Hoặc để trong rương tủ,
Hoặc để nơi bãi trống,
Chỗ ruộng các cây thuốc.
+
Bí-sô biết trọng vật của người để
trên mặt đất như kiềng xuyến, chơn-châu,
anh lạc, các dụng cụ trang nghiêm. Bí-sô với tâm
trộm cắp phát khởi phương tiện, từ
nơi chỗ ngồi đứng dậy sửa áo
để đi, cho đến khi chưa chạm phải,
phạm tội Ác tác.
*
Nếu chạm phải mà chưa dời khỏi chỗ,
phạm tội Tốt-thổ-la-để.
Nếu
đưa đi khỏi chỗ gọi là ăn trộm, tùy
theo trị giá thành tội.
Nếu
đủ năm Ma-sái thì phạm Ba-la-thị-ca.
Nếu
không đủ năm Ma-sái thì phạm
Tốt-thổ-la-để.
*
Nếu nơi nào đó có một khoảng đất
bằng phẳng, trơn tru, phẳng lì thì gọi là
một chỗ.
Nếu
mặt đất nhô lên hoặc lại bị sụp
lở hoặc lấp vá rộng ra hoặc có chữ ghi
thời điểm, có hình vẽ đủ loại hình thái
thì gọi là khác chỗ.
Nếu
bàn, mâm, đồ đựng v.v... Có một mặt
bằng trơn nhẵn là một chỗ.
Nếu
có bể móp, cho đến họa đồ... gọi là
khác chỗ.
*
Nếu trọng vật của người để trong
một khu vực rộng, như là kiềng xuyến cho
đến anh lạc, Bí-sô với tâm trộm cắp, phát
khởi phương tiện cho đến chưa xúc
chạm đến, phạm Ác tác tội.
Nếu
xúc chạm mà chưa dời khỏi chỗ, phạm
tội Tốt-thổ-la-để.
Nếu
dời khỏi chỗ, gọi là ăn trộm, tùy theo
trị giá thành tội.
Nếu
đủ năm Ma-sái, phạm Ba-la-thị-ca.
Nếu
không đủ năm Ma-sái, phạm
Tốt-thổ-la-để tội.
Nếu
lúa, bắp v.v... Trên vùng đất đó bằng phẳng,
bao quát một màu sắc, gọi là một chỗ.
Nếu
lúa, bắp v.v... cao thấp không bằng nhau, gọi là khác
chỗ.
*
Nếu trọng vật của người khác để
trong hang, trong hầm, như các bảo vật dụng
cụ anh lạc, nếu Bí-sô với tâm trộm cắp,
phát khởi phương tiện, cho đến chưa xúc
chạm, phạm tội Ác tác.
Nếu
xúc mà chưa dời khỏi chỗ, phạm tội
Tốt-thổ-la-để.
Nếu
dời khỏi chỗ đủ năm Ma-sái, phạm
tội Căn bản.
Nếu
không đủ năm Ma-sái, phạm tội
Tốt-thổ-la-để.
*
Nếu trọng vật của người để trong
hang hầm, lúa bắp trong hang hầm, bình diện cùng chung
một cửa, chung một màu sắc, gọi là một
chỗ.
Nếu
bắp lúa... Không cùng một cửa đều nhau, cao,
thấp không bằng làm thành nhiều màu sắc, hoặc có
cây và chiếu, cối v.v... làm đồ ngăn cách,
gọi là khác chỗ.
*
Nếu trong ruộng của người có các loại cây
thuốc, như Hương phụ tử, Hoàng cương,
Bạch cương và các loại thuốc như Ô
đầu... Bí-sô với tâm trộm, khởi lên
phương tiện, cho đến chưa xúc chạm,
phạm tội Ác tác.
Nếu
xúc chạm, chưa dời khỏi chỗ, phạm tội
Tốt-thổ-la-để.
Nếu
lìa khỏi chỗ củ, đủ năm Ma-sái, phạm
tội Căn bản.
Không
đủ năm Ma-sái, phạm tội
Tốt-thổ-la-để.
Nhiếp tụng:
Nhà cửa có ba chỗ,
Vật của chim ba món,
Phù chú lấy đem giấu,
Ba việc đây chẳng đồng.
*
Nếu cái áo tạp sắc của người để
trên nhà, Bí-sô với tâm trộm cắp, phải khởi lên
phương tiện, bắc thang leo lên dùng vật móc
lấy, cho đến chưa chạm xúc vật, phạm
tội Ác tác.
Nếu
đã chạm xác áo mà chưa dời chỗ, phạm
tội Tốt-thổ-la-để.
Nếu
dời khỏi chỗ tức là ăn trộm, chuẩn
theo giá mà định tội, đồng như giới
trước.
*
Nếu người giặt y, đem phơi trên lầu,
bị gió thổi rớt chỗ đi kinh hành của Bí-sô,
hoặc rớt bên cửa, nếu Bí-sô với tâm trộm
cắp, khởi lên phương tiện, cho đến
chưa xúc chạm, phạm tội Ác tác.
Nếu
khi xúc chạm, phạm tội Tốt-thổ-la-để.
Nếu
dời khỏi chỗ, phạm tội đồng như
giới trước.
Nếu
trọng vật của người để trên lầu cao,
như dụng cụ bảo vật, anh lạc, Bí-sô
với tâm trộm cắp, khởi lên phương tiện,
dùng thang leo lên móc lấy, cho đến chưa xúc chạm
phạm tội Ác tác.
Nếu
đã xúc chạm chưa dời khỏi chỗ, phạm
tội Tốt-thổ-la-để.
Nếu
dời khỏi chỗ phạm tội đồng như
trước.
*
Nếu có người, nơi nhà ở, nơi vườn
ao, trồng các loại bông và cây ăn trái, trong những ngày
hội, ngày lễ dùng các loại bông trái tốt đẹp
để trang nghiêm. Những dụng cụ anh lạc quý
báu và tơ lụa tạp vật, hoặc bị gió bay,
hoặc bị chim nhầm tưởng là thức ăn tha
đi, nếu Bí-sô với tâm trộm cắp, khởi lên
phương tiện, bắt chim kia cho đến khi
chưa chạm xúc đến anh lạc, phạm tội Ác
tác.
Nếu
chạm xúc mà chưa lìa khỏi chỗ, nghĩ
tưởng đó là vật của chim, phạm tội Ác
tác.
Nếu
dời khỏi chỗ gọi là ăn trộm, nên chuẩn
theo giá mà thành tội, nếu đủ năm Ma-sái,
phạm tội Tốt-thổ-la-để.
Nếu
không đủ năm Ma-sái phạm tội Ác tác.
Nếu
Bí-sô khởi ý tưởng đây là vật của
người, rồi thả chim, chỉ lấy anh lạc,
thì tuy chỉ xúc chạm chưa rời khỏi chỗ
vẫn phạm Tốt-thổ-la-để.
Nếu
khi lìa khỏi chỗ, mà đủ năm Ma-sái thì phạm
Bổn tội.
Không
đủ năm Ma-sái thì phạm
Tốt-thổ-la-để.
*
Nếu người dùng các vật báu và dụng cụ
bằng anh lạc, để trong rương nơi nhà, khi ấy có loài chim tha
ngậm vật bay đi. Nếu Bí-sô với tâm trộm
cắp khởi lên phương tiện bắt con chim
ấy, cho đến khi chưa xúc chạm đến anh
lạc, phạm tội Ác tác.
Nếu
khi xúc chạm vật, chưa dời khỏi chỗ,
khởi lên ý tưởng là vật của chim, phạm
tội Ác tác.
Nếu
rời khỏi chỗ thì gọi là ăn trộm, nên
chuẩn theo giá để thành tội.
Nếu
đủ năm Ma-sái thì phạm tội
Tốt-thổ-la-để.
Nếu
không đủ năm Ma-sái thì phạm tội Ác tác.
Nếu
Bí-sô khởi ý nghĩ, đây là của người, thả
chim chỉ lấy anh lạc, tuy chỉ xúc chạm chưa
rời khỏi chỗ, phạm tội
Tốt-thổ-la-để.
Khi
nào rời khỏi chỗ, nếu đủ năm Ma-sái,
phạm tội Căn bản.
Nếu
không đủ phạm Tốt-thổ-la-để.
*
Nếu ở trong nhà hoặc nơi ao của người,
vì để giải trí nên nuôi các loài chim Anh vũ,
Xá-lợi, Câu-la-chỉ[1], Mạng mạng...
Rồi dùng các loại anh lạc... Để trang sức
cho chúng. Bí-sô thấy rồi, với tâm trộm cắp,
khởi lên phương tiện, bắt loại chim kia, cho
đến chưa xúc chạm đến dụng cụ
trang sức, phạm tội Ác tác.
Khi
xúc chạm vật kia, chưa lìa khỏi chỗ củ,
khởi ý tưởng là vật của chim, cũng phạm
tội Ác tác.
Nếu
dời khỏi chỗ, gọi là ăn trộm, chuẩn
theo giá, nếu đủ năm Ma-sái, phạm tội
Tốt-thổ-la-để, không đủ phạm tội
Ác tác.
Nếu
đối với vật ấy khởi ý tưởng
rằng của người, ý nghĩ chẳng phải
vật của chim thì tuy xúc chạm, chưa dời khỏi
chỗ, phạm tội Tốt-thổ-la-dể.
Nếu
dời khỏi chỗ, đủ năm Ma-sái, phạm
tội Căn bản; không đủ năm Ma-sái phạm
Thô tội.
*
Nếu có Bí-sô, đối với hai thứ khuất kín
(phục tàng), một thứ có chủ, một thứ không
chủ, Bí-sô ý muốn lấy vật khuất kín có chủ
này, từ nơi chỗ ngồi đứng dậy sửa
y phục, tác Mạn-đồ-la đối với bốn
phương đánh mạnh Địa-la-mộc, dùng năm
thứ chỉ màu cột trói lại, ở trong lò lửa
xông các loại cây tạp, miệng tụng Cấm chú, nói
lên rằng: Vật khuất kín có chủ thì đến,
vật khuất kín không chủ đừng đến.
Nếu lúc ấy, vật khuất kín có chủ, tùy theo
lời chú gọi mà đến, cho đến khi chưa
thấy đến, phạm Tốt-thổ-la-để.
Khi
nhãn quan thấy thì gọi là ăn trộm, chuẩn theo giá,
nếu đủ năm Ma-sái thì phạm Bổn tội,
không đủ thì phạm Thô tội.
Nếu
khi nói rằng: Vật khuất kín vô chủ nên đến
vật khuất kín có chủ đừng đến. Lúc
ấy vật khuất kín vô chủ theo lời gọi mà
đến, cho đến khi chưa thấy đến,
phạm tội Ác tác.
Nếu
khi nhãn quan thấy thì gọi là ăn trộm, chuẩn theo
giá của vật, nếu đủ năm Ma-sái thì phạm
tội Tốt-thổ-la-để, nếu không đủ
phạm tội Ác tác.
Nếu
đối với vật khuất kín có chủ, không
chủ với mỗi thời gian khác nhau, tác pháp riêng
lẽ khác nhau trộm lấy, tùy theo việc nặng,
nhẹ như trên phạm tội.
Nhiếp tụng:
Nếu
vật nơi chiếu giạ.
Hoặc ở nơi tấm đá...
Hoa, trái, cây đẹp lạ,
Việc theo chỗ nên
biết.
*
Nếu trọng vật của người để trên
chiếu giạ hoặc trải trên đất, như
dụng cụ bằng anh lạc và các vật báu, nếu
Bí-sô với tâm trộm cắp, khởi phương
tiện, cho đến chưa xúc chạm, phạm tội
Ác tác.
Nếu
xúc chạm vật ấy, chưa lìa khỏi chỗ củ,
phạm tội Tốt-thổ-la-để.
Nếu
dời khỏi chỗ củ gọi là ăn trộm,
tuỳ theo thời giá, phạm tội, đồng như
trước.
Nếu
cỏ trải kia đồng một sắc gọi là
một chỗ, nếu màu sắc riêng khác không đồng,
gọi là khác chỗ.
*
Nếu trọng vật của người để trên
tấm đá cho đến không đủ năm Ma-sái
phạm Tốt-thổ-la-để.
Nếu
tấm đá trơn nhẵn chung một khối, một
đoạn, gọi là một chỗ.
Nếu
miếng đá bị đục khoét, chẻ ra, ráp lại,
hoặc trên có chữ ghi thời điểm, hoặc trên có
vẽ vời mang sắc thái đủ loại, như
vậy gọi là khác chỗ.
*
Trên tấm đá như vậy, cho đến tấm ván,
vách tường, chiếc chiếu, áo choàng, khăn trùm,
khăn đậy rương, chiếc xuồng, ngà voi,
giường, ghế v.v... hoặc cái giá kinh có bốn chân,
hoặc cây gài các cửa, khi an trí vật gì đều không
đồng như trước.
Hoặc
ba loại cây, tức là cây có hoa, cây có trái và cây kỳ
diệu, Bí-sô chặt với tâm trộm hoa, trái v.v...
Trị giá đủ, không đủ, phạm tội
đồng như trước.
Nhiếp
tụng:
Nếu vật nơi yên ngựa.
Và voi, ngựa, xe cộ.
Mập, ốm nên tuỳ đó,
Trộm thuyền đều sai khác.
*
Như trọng vật của người để trên
yên ngựa, như dụng cụ bằng anh lạc, các
vật quý báu, Bí-sô với tâm trộm cắp khởi lên
phương tiện, cho đến chưa leo lên, chưa
xúc chạm đến vật, phạm tội Ác tác.
Nếu
xúc chạm đến vật mà chưa dời khỏi
chỗ củ, phạm Tốt-thổ-la-để.
Nếu
khi dời khởi chỗ củ, trị giá năm Ma-sái,
phạm tội như trước.
Trên
yên ngựa, dùng một màu sắc để phủ lên thì
gọi là một chỗ, nếu vật bằng tạp
sắc phủ lên thì gọi là khác chỗ.
*
Nếu trọng vật của người để trên
con voi, và vật ấy là dụng cụ bằng anh lạc,
các châu báu, nếu Bí-sô có tâm trộm cắp, khởi lên
phương tiện, cho đến chưa leo lên, chưa
xúc chạm vật, phạm tội Ác tác.
Nếu
xúc chạm đến vật, chưa dời khỏi
chỗ, phạm Tốt-thổ-la-để.
Nếu
khi dời khỏi chỗ, trị giá đủ năm
Ma-sái, phạm tội đồng như trước.
Con
voi kia da, thịt, mạch máu đều đầy
đủ, gọi là một chỗ. Nếu con voi đó thân
ốm gầy, hoặc răng, tai, mũi và bụng,
xương sườn, xương sống, lưng,
dựa theo mỗi một chỗ thì gọi là khác chỗ,
khi dời khỏi chỗ củ đều phạm Bổn
tội.
Nếu
không dời khỏi chỗ củ thì phạm
Tốt-thổ-la-để.
Nếu
trên con voi trang sức bằng màn rèm, trên các màn rèm gắn các
vật báu, các anh lạc, nếu Bí-sô với tâm trộm
cắp, khởi phương tiện, cho đến chưa
leo lên, chưa xúc chạm vật, phạm tội Ác tác.
Nếu
xúc chạm vật, chưa dời khỏi chỗ, phạm
tội Tốt-thổ-la-để.
Nếu
dời khỏi chỗ, trị giá đủ năm Ma-sái,
phạm tội đồng như trước.
Nếu
ở trên màn rèm ấy dùng vật màu sắc phủ che lên
trên, thì gọi là một chỗ, nếu dùng vật khác màu
sắc để như trùm lên, gọi là khác chỗ.
Trên
thớt voi như vậy, xe ngựa, xe bộ, xe trâu, các
loại xe, cũng đồng như trước.
*
Nếu Bí-sô thấy chiếc thuyền, tháo gỡ dây neo
cột nơi cây trụ, với tâm trộm cắp
để đi, khi chiếc thuyền dao động
phạm Ác tác tội.
Nếu
làm cho thuyền trôi theo dòng nước, đến khi
tầm mắt còn thấy thuyền, phạm
Tốt-thổ-la-để.
Đến
khi mắt không thấy, trị giá đủ năm Ma-sái,
phạm tội Căn-bổn.
Nếu
không đủ, phạm tội Tốt-thổ-la-để.
Nếu
thuyền đi ngược dòng nước, chuẩn theo
tương tợ chừng mức bề rộng của
sông, phạm tội Căn-bổn.
Chưa
cập bến nào đó, phạm
Tốt-thổ-la-để.
Nếu
trộm từ bờ này đến bờ kia, chừng
mức của mắt thấy, cùng như trước không
khác.
Nếu
trộm thuyền bằng cách kéo lên bờ để đem
đi, cũng chuẩn theo chừng mức của mắt
thấy.
Nếu
trộm thuyền bằng cách nhận xuống bùn rồi
sau đó mang đi, khi bùn vừa khuất thuyền, tức
thành tội trộm, phạm tội đồng như
trước.
Nếu
khi Bí-sô trộm vật, hoặc chôn ở trong bùn, hoặc
đốt, hoặc khoan, hoặc phá, khởi ý nghĩ
rằng: Đừng để vật này thuộc về
của người khác mà thuộc về của ta, tức
phạm Tốt-thổ-la-để.
Nhiếp tụng:
Có ba loại Doanh điền
Riêng thuyền có ba loại
Ao hoa và ngỗng, nhạn
Trộm nước, săn, lưới cá
Đệ tử, vẽ bày giặc
Ba loại sự không đồng.
*
Vào mùa thu, nếu có người làm ruộng, và sản
xuất như trồng lúa, mía, làm muối, Bí-sô thấy
ruộng của mình khan nước, sợ bị khô cho nên
trong nội đồng có kênh nước chung bèn
đắp lại trổ nước của ruộng
người tháo nước vào ruộng mình, lại có ý
nghĩ để cho ruộng của mình tốt,
đừng để cho ruộng của người
đạt thành quả, chỉ mình thành tựu, họ
bị thiệt hại. Chuẩn theo giá, nếu đủ năm
Ma-sái, phạm tội Căn bản, không đủ,
phạm Tốt-thổ-la-để.
Nếu
thấy nước nhiều, nơi kênh nước nội
đồng chung, khơi tháo nước làm úng thủy
ruộng người, đắp kín trổ nước vào
ruộng mình với ý nghĩ ruộng ta tốt đừng
để ruộng họ đạt thành quả. Mình thành
họ thiệt hại. Nếu đủ năm Ma-sái
phạm tội Căn bản, không đủ phạm
Tốt-thổ-la-để-dã.
*
Đồ vật bốn loại không đồng:
Một
là vật thể trọng, giá trị trọng.
Hai
là vật thể khinh giá trị trọng.
Ba
là vật thể trọng giá trị khinh.
Bốn
là vật thể khinh giá trị khinh.
+
Thế nào gọi là thể chất trọng giá trị
trọng ?
-
Nghĩa là như mạt-ny, chơn-châu, lưu-ly, bích
ngọc, san hô, kim ngân, mã não...
+
Thế nào gọi là thể chất khinh giá trị trọng
?
-
Nghĩa là như lụa là, nhung gấm, Kim-hương-tô,
Khấp-mê-la...
+
Thế nào gọi là thể chất trọng giá trị khinh
?
-
Tức là như chì, thiết, sắt...
+
Thế nào gọi là thể chất khinh giá trị khinh ?
-
Tức là như lông, gai, kiếp bối...
*
Nếu những vật trên để trong ba loại
thuyền, thuyền bằng sành sứ, thuyền bằng
gỗ cây, thuyền bằng da thú. Nếu dùng vật
thể trọng giá trị trọng và thể chất khinh
giá trị khinh để chung trong một thuyền. Khi
thuyền kia bị vỡ, chủ của đồ vật
tuyên bố: Vật nào nổi trên mặt nước thì tùy
ý lấy, vật nào chìm dưới đấy nước
thì thuộc về của tôi.
Nếu
Bí-sô với tâm trộm cắp, khởi phương
tiện, bèn xuống đáy sông, cho đến chưa
chạm được vật, phạm tội Ác tác.
Nếu
chạm được vật phạm tội
Tốt-thổ-la để-dã.
Nếu
dời khỏi chỗ, tính đủ năm Ma-sái, phạm
tội Căn bản.
Không
đủ phạm tội tốt-thổ-la-để-dã.
*
Nếu chìm trong bùn lại toan ý muốn lấy, chuẩn
theo trước mà phạm tội.
Nếu
khởi tâm ý nghĩ: Vật chìm trong bùn đó chẳng
phải là của mình hay của người, không khiến
vật ấy thuộc về của người kia mà
thuộc về của mình, chuẩn theo trước mà
phạm tội.
Các giới sau, chuẩn theo đây nên
biết.
*
Nếu dùng vật thể khinh giá trị trọng, thể
chất trọng giá trị khinh để chung trong một
thuyền. Khi thuyền kia bị vỡ, chủ của
đồ vật tuyên bố: Vật nào chìm dưới
đáy nước thì tùy ý lấy, vật nào nổi lên trên
mặt nước thì thuộc về của tôi.
Nếu
Bí-sô với tâm trộm cắp, khởi lên phương
tiện, để lấy vật nổi trên nước,
cho đến chưa xúc chạm đến vật,
phạm Ác tác tội.
Nếu
xúc chạm vật phạm tốt-thổ-la-để-dã.
Nếu
dời khỏi chỗ củ, tính theo giá, phạm tội
đồng như trước.
Nếu
chìm trong bùn lại toan lấy thì chuẩn theo trước
mà phạm tội.
*
Nếu trong nhà hoặc trong hồ ao của người nào
đó, vì để tạo cảnh vui chơi thưởng
ngoạn nên nuôi đủ loại chim, ngỗng, nhạn,
uyên ương... Đem các loại anh lạc trang sức
cho chúng nó. Nếu Bí-sô với tâm trộm cắp, tìm các
phương tiện, vào trong nước... bắt lấy
các loài chim, dù chưa xúc chạm đến anh lạc,
cũng phạm tội Ác tác.
Nếu
khi xúc chạm khởi ý niệm rằng: Tôi lấy vật
của chim cũng phạm tội Ác tác.
Nếu
dời khỏi chỗ củ, tính theo giá đủ năm
Ma-sái, phạm Tốt-thổ-la-để-dã, không đủ
phạm Ác tác tội.
Nếu
khởi ý nghĩ là tôi lấy vật của người,
nên chỉ lấy anh lạc, thả loài chim. Như vậy,
khi chạm lấy vật phạm Tốt-thổ-la-để-dã.
Nếu
dời khỏi chỗ củ tính theo giá, đủ năm
Ma-sái, phạm Bổn tội, không đủ, phạm
Tốt-thổ-la-để-dã.
*
Nếu ở trong ao, có nước sanh hoa, như hoa Thanh
liên, hoa Ốt-bát-la, hoa Bạch liên, hoa Câu-mâu-đầu,
Phân-đà-lợi-ca-hương, hoa Thời, mọi
người đều ưa thích. Bí-sô với tâm trộm
cắp, khởi lên phương tiện, vào trong ao trộm
hoa, cho đến chưa xúc chạm hoa, phạm Ác tác
tội.
Nếu
xúc chạm hoa, đi hái bẻ, kết lại thành bó, cho
đến chưa dời khỏi chỗ, phạm
Tốt-thổ-la-để-dã.
Nếu
dời khỏi chỗ, phạm tội đồng như
trước.
*
Bốn phía bờ ao mọc các loại cây cỏ hoa, như
cây A-địa-mộc-đa-ca[2], Chiêm-bác-ca, Ba-tra-la,
Bà-lợi-sư-ca, Ma-lợi-ca. Các loại cây có hoa như
vậy, Bí-sô với tâm trộm cắp, khởi lên
phương tiện, muốn trộm hoa kia cho đến
khi chưa xúc chạm, phạm tội Ác tác.
Nếu
leo lên cây hái bẻ hoa kia gói bọc trong áo, cho đến
chưa leo xuống và rời nơi đã đến,
chuẩn theo trước mà định tội.
*
Nếu có thợ săn và đồ đảng của
chúng, nơi khu rừng để các dụng cụ đi
săn của chúng, như các lưới dùng để
săn bắt các loài thú, làm nghiệp sát hại. Bí-sô
với tâm trộm cắp lấy dụng cụ đi
săn của họ, chuẩn theo giá, phạm tội.
Nếu khởi lòng từ bi phá hủy dụng cụ đi săn, với ý niệm: Chớ nên để những thứ này làm gì! Khiến cho các mạng sống bị sát hại thương tổn, để rồi số người đi săn phải gặt lấy vô lượng tội, làm như vậy Bí-sô chỉ phạm tội Ác tác.
Các giới sau đây, cũng như vậy nên
biết.
*
Bí-sô với tâm trộm cắp thấy con nai bị bắt,
phải giải phóng nó, trị giá năm Ma-sái, phạm
tội Căn bản, không đủ, phạm
Tốt-thổ-la-để-dã.
*
Nếu người đánh bắt cá và đồ
đảng của chúng, nơi sông hay vũng nước,
đắp ngăn chỗ ách yếu lại, dùng đó hay
nơm bắt các loài thuỷ tộc. Bí-sô với tâm
trộm cắp, khi lấy dụng cụ đó, nơm
của họ, phạm tội đồng như
trước.
Nếu
khởi lòng từ bi thì phạm tội cũng như
giới trước đã nói. Nếu trộm cá của
họ ở trong nơm thì theo trị giá quy định,
phạm tội giống như đã đề cập
trước đây.
*
Nếu có nhiều đoàn buôn mang các thứ hàng hoá đi qua
đường nguy hiểm nọ. Nơi đây khó tìm
được nước. Họ dùng các dụng cụ
để đựng nước mang theo, như vò, hũ,
bình, đãy bằng da. Do đó, nước mỗi
người mang theo có giới hạng. Bí-sô với tâm
trộm cắp, nghĩ ra phương tiện, để
lấy phần nước của người, chưa xúc
chạm và đã xúc chạm, chuẩn theo trước mà
định tội.
Nếu
là lấy phần nước của súc vật, đủ
năm Ma-sái phạm tội Tốt-thổ-la-để-dã,
không đủ, phạm tội Ác tác.
Như
người ở Thiệm-bộ Châu, cùng nhau kết
bạn với đoàn lái buôn dùng thuyền lớn, mang theo
vật phẩm vào biển để tìm kiếm trân
bảo.Vì không có nước nên dùng các dụng cụ chứa
nước, như vò, hũ, bình... Xong phần nước
chở theo này, người và súc vật, theo nhu cầu mà
sử dụng khác nhau. Bí-sô với tâm trộm cắp
khởi lên phương tiện, trộm phần
nước của người, chuẩn theo trước
định tội, lấy phần nước của súc
vật, cũng chuẩn theo trước mà định
tội.
*
Dịp nọ, đệ tử với hai Thầy, đi
cùng một tuyến đường. Thầy có y vật
giao cho đệ tử mang. Một khi với tâm trộm
cắp, đệ tử thủng thẳng đi
đằng sau cách xa Thầy, cho đến còn trong tầm
thấy, phạm Tốt-thổ-la-để-dã.
Mất
hút trong tầm thấy, nếu đủ năm Ma-sái,
phạm Bổn-tội.
Không
đủ, phạm Tốt-thổ-la-để-dã.
Nếu
đệ tử bỏ thầy, đi mau về phía
trước còn trong tầm thấy hay ngoài tầm thấy,
chuẩn theo trước mà định tội.
*
Nếu đệ tử với tâm trộm cắp, muốn
lấy y của thầy từ trong phòng đi lên trên
lầu gác, hoặc từ lầu gác đến nơi phòng,
hoặc từ lầu trên đến cửa dưới
nơi thềm, hoặc ở trên tầng lầu ba, của
chùa xuống dưới tầng dưới để
đi ra. Các trường hợp này đều dựa trên,
trong tầm mắt và ngoài tầm mắt... như
trước định tội.
*
Nếu Bí-sô sống nơi A-lan-nhã, hoặc trú sứ nào
đó. Có kẻ giặc muốn phá thôn, đến chỗ
Bí-sô hỏi như vầy: Đại đức, chắc
Ngài biết thôn đó, nhà đó chứ ?
-
Tôi biết nơi đó, Đại đức đáp
lời.
-
Nhà đó nhiều người nữ, ít người nam,
không có chó dữ, không có chông gai nhiều dễ vào, dễ
ra, đối với tôi không có thiệt hại gì mà lấy
được vật phải không ? Nếu toại
nguyện tôi sẽ cho Đại đức một
phần trong số vật đó, kẻ trộm nói.
Nếu
Bí-sô đó trả lời:
-
Này ông! Tôi biết nhà đó nhiều nữ, ít nam, không có chó
dữ, không có chông gai, dễ vào, dễ ra, đối
với ông không tổn thương gì, có thể lấy
được các vật ấy.
Bí-sô
dạy như vậy rồi, kẻ giặc kia khi quay
trở lại cùng với vật lấy trộm, trao cho. Dù
Bí-sô chưa lấy vật, phạm
Tốt-thổ-la-để-dã, nếu lấy phần
của giặc trao cho, Bí-sô phạm tội nặng nhẹ
đồng như giới trước.
*
Nếu Bí-sô kia cùng với kẻ trộm nọ nói như
vậy rồi. Sau khi kẻ trộm đi, liền sanh
hối hận, đến kẻ trộm ấy nói như
vầy:
-
Này ông! biết chăng, vừa rồi ý tôi tháo thứ không
nghiệm xét kỹ nên nói như vậy, thật như
người ngu si không nắm vững vấn đề mà
trả lời một cách sai quấy. Sự thật nhà kia
người nữ ít, người nam nhiều, nhiều chó
dữ, lắm chông gai, khó vào, khó ra, không thể nào tránh khỏi
thương tổn cho ông khi lấy được vật
kia. Tùy ý bọn giặc, có đi trộm hay không đi, Bí-sô
vẩn phạm tội Tốt-thổ-la-để-dã.
*
Nếu Bí-sô này biết bọn giặc cướp kia
muốn đến phá thôn ấp, đến thôn đó nói:
-
Các ông phải đề cao cảnh giác, cẩn thận khéo
phòng thân. Tối nay ắt có kẻ đạo tặc
đến, xâm nhập đừng để tài vật
bị giặc cướp đem đi, phải bảo
đảm toàn thân mạng đừng để giặc
sát hại thương tổn. Việc đó tùy đạo
tặc đến trộm hay không đến, Bí-sô cũng
phạm tội Tốt-thổ-la-để-dã.
*
Nếu Bí-sô hành động như trên, với phương
tiện để thu trộm thì có ba phương tiện.
+
Ba cách ấy là gì ?
-
Một là sử dụng việc ruộng đất. Hai là
sử dụng việc nhà cửa. Ba là sự việc quán
xá.
Việc
ruộng đất có hai cách để lấy:
-
Một là kiện tụng để lấy.
-
Hai là bao vây để lấy.
*
Lấy bằng cách kiện tụng là sao ?
-
Nếu Bí-sô cùng với người thế tục tranh
tụng ruộng đất đến quan đoán sự.
Bí-sô không hơn kiện với người thế tục,
phạm Tốt-thổ-la-để-dã.
Bí-sô
hơn kiện, cho đến người thế tục
tâm chưa dứt được sự việc, Bí-sô
phạm Tốt-thổ-la-để-dã.
Người
thế tục, tâm họ dứt được sự
việc, chuẩn theo giá, phạm tội đồng như
trước. Như vậy gọi là lấy bằng cách
kiện tụng.
*
Lấy bằng cách bao vây là sao ?
-
Bí-sô đối với ruộng đất của
người khác, dùng cây trồng hoặc trụ cột, che
ngăn xung quanh, hoặc đào hào, đào hầm, hoặc
xây tường, vách xung quanh, cho đến xây... chưa giáp
khắp, Bí-sô phạm Tốt-thổ-la-để-dã.
Nếu
xây... giáp khắp, phạm tội đồng như
trước. Như vậy gọi là lấy bằng cách bao
vây xung quanh.
Vấn
đề ruộng đất là như vậy, nên vấn
đề nhà cửa, quán xá dựa theo trên mà biết cách
định tội.
Nhiếp-tụng :
Vật thuế đem gởi người,
Đem vật
người đi trước,
Không nhận
bèn cưỡng ép,
Vì cha mẹ
mang đi,
Lại vì Tam
Bảo vậy,
Trị giá sau
chia phần,
Chủ y vì mang
đi,
Khiến
người nhiễm không nhiễm.
Chạy
thuế vào cửa sau,
Đoạt
hết vật người buôn.
Lúc
bấy giờ đức Thế Tôn vừa chứng
được Trí vô thượng, việc giáo hoá chưa
hoàn bị và rộng khắp. Lúc ấy các Bí-sô qua
được cửa thuế quan rất khó, còn
người thế tục đi qua một cách dễ dàng.
Thời ấy, phần đông các Bí-sô cùng với tập
đoàn nhà buôn có những chuyến đi dài qua nước
khác. Mỗi chặng đường đều có quan
thuế, Bí-sô nói với các thương gia rằng:
-
Hiền giả! chúng tôi hiện có một chút ít vật
phải đóng thuế, quý vị vì chúng tôi mang giùm qua
khỏi chỗ thuế quan, qua khỏi chúng tôi xin nhận
lại, kẻo không phần vật của chúng tôi bị
đưa vào đóng thuế quan.
Các
thương gia nhận lời rồi cùng mang đồ
vật của Bí-sô qua khỏi chỗ thuế quan, rồi
giao lại. Bí-sô lần lượt đến nhà một
trú xứ nọ. Bí-sô đến trước, vừa trông
thấy khách mới đến liền hỏi:
-
Thiện lai! Cụ thọ, hành lý được an toàn không
? Quan thuế núi, sông không gây khó dễ chứ ?.
-
Tốt lắm! Thưa Đại đức, dọc
đường không ai gây phiền phức cho chúng tôi
cả! Khách Bí-sô đáp lời.
- Các Cụ thọ không có vật gì phải
đóng thuế hay sao ? Các Bí-sô đến trước
hỏi.
Khách
Bí-sô nói:
-
Chúng tôi được các thương gia đồng ý mang
qua chỗ thuế quan rồi đưa lại cho chúng tôi.
Các
Bí-sô tại trú xứ đó nói:
-
Lẽ nào hợp tác như vậy là để che giấu
vật mà đi qua chỗ quan thuế ư?
-
Dù không hợp đi nữa thì chúng tôi cũng đi qua
rồi, các Bí-sô khách nói.
Tiếp
tục đi, trên đường các Bí-sô, nghĩ lại việc
làm lòng đầy hối hận: chúng ta liệu có khỏi
phạm Ba-la-thị-ca không ? Do vậy các Bí-sô đem
việc này thưa với các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật.
Phật dạy: “Các Bí-sô này không phạm. Xong các Bí-sô không nên
đem vật riêng của mình gởi cho người
để qua khỏi quan thuế. Người nào trái
phạm, mắc tội Việc pháp”.
Lúc
bấy giờ, đức Thế Tôn ở trong
Trượng Lâm, khiến cho vua Ảnh Thắng
nước Ma-kiệt-đà tỏ ngộ được
chân lý. Sau đó, Thế Tôn đến thành
Thất-la-phạt vì vua Kiều-tát-la là Thắng Quang nói Kinh
Thiếu niên, khiến được điều phục.
Bấy giờ hai nhà vua, đều tuyên bố rằng:
-
Các Bí-sô trong nước của Ta, đồng với
Vương thái tử, được miễn tất
cả thuế. Các Bí-sô-ni cùng với những người
trong hậu cung cũng miễn tất cả thuế.
Do
vậy, các Bí-sô và các Bí-sô-ni qua các ải quan, khỏi bị
đóng thuế. Đây chính là lúc mà sự giáo hoá của
đức Thế Tôn đã rộng khắp. Lúc này các Bí-sô
qua các cửa thuế rất dễ, còn người thế
tục tại đây gặp khó khăn. Bấy giờ các
Bí-sô đi theo tập đoàn buôn khác ra ngoài nước
để du hóa. Khi đến gần nơi thu thuế, các
thương gia lễ dưới chân các Bí-sô và thưa:
-
Thánh giả! chúng tôi từ lâu vì sự lạnh, nóng, bức
bách, phong, nhiệt, đọc trùng, mòng muỗi v.v... Làm
hại, tìm kiếm sự sống hết sức vất
vả khó khăn. Chỗ gặt hái được lợi
lộc đều vì Tam Bảo mà thiết lễ cúng
dường. Nay có một số đồ vật phải
đóng thuế, các Ngài vì tôi mang qua khỏi chỗ ải
quan thuế rồi chúng tôi xin nhận lại.
Vì
các thương gia, sau khi mang các vật ấy qua khỏi
ải quan các Bí-sô đều giao lại họ. Các Bí-sô
lần lượt đến thành Thất-la-phạt, khi
ấy các Bí-sô tại trú xứ chào hỏi:
-
Thiện lai! Cụ thọ, trên đường
được yên ổn không ? (Hỏi đáp giống
như đoạn trên) -Cho đến câu trả lời:
- Tôi cũng còn vì người
khác làm việc bố thí, vừa có ơn, vừa có ích mà
thân không phải nhận lấy sự vất vả
cực nhọc.
Các
Bí-sô nói:
-
Việc bố thí ấy là thế nào ? Các Bí-sô khách trình bày
đầy đủ sự việc đã xảy ra.
Các
Bí-sô nói:
-
Lẽ nào lại hợp tác như vậy để che
giấu đồ vật mà trốn thuế qua mặt
thuế quan ư ?.
-
Dầu là không hợp đi nữa chúng tôi cũng mang nó qua
khỏi rồi. - Các Bí-sô khách trả lời.
Sau
đó các Bí-sô này lòng cứ ray rứt hối tiếc
việc đã làm: “chúng ta đâu không phạm Ba-la-thị-ca
?!” Các vị đem vấn đề này trình bày đầy
đủ với các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật, Phật
dạy:
-
Bí-sô này không phạm. Xong các Bí-sô không nên mang vật riêng
đi qua ải quan, để khỏi đóng thuế.
Vị nào trái phạm, phạm tội Việt Pháp.
Lúc
bấy giờ các Bí-sô đi theo tập đoàn buôn
để du hóa. Khi đến gần chỗ quan thuế,
các khách buôn lễ dưới chân Bí-sô, nói như vầy:
-
Thánh giả! Từ lâu tôi bị lạnh, nóng, đói, khát áp
bức (lời thoại lập lại như trên). “Chỗ
hái được lợi lộc đều vì Tam Bảo mà
thiết lễ cúng dường. Tôi nay có một số
vật phải bị đóng thuế, các Ngài vì tôi mang qua
khỏi chỗ ải thuế rồi chúng tôi xin nhận
lại.
Bí-sô
nói:
-
Đức Phật đã chế giới cấm Bí-sô không
nên mang vật phải đóng thuế qua khỏi trạm
quan thuế. Tôi không dám mang vật ấy khỏi chỗ
thuế.
Khi
ấy thương gia liền nghĩ: “Bí-sô không chịu
mang qua thì chúng ta còn có đủ kiểu cách khác”. Họ bèn
báo với các Bí-sô rằng:
-
Thánh giả, sáng hôm nay, bọn chúng tôi phải lo toan,
bận rộn nhiều việc quá, không thể lo việc
cơm nước được, các Ngài vào thôn tùy duyên
khất thực.
Sáng
ấy tất cả các Bí-sô đều vào trong thôn
để khất thực. Sau khi các Bí-sô đi rồi,
thương gia mỗi người đều lấy
khăn gói y, đãy đựng bình bát, bao đựng
đồ tạp vật của các Bí-sô, bỏ vào đó
những đồ vật phải đóng thuế. Các Bí-sô
nhận được thức ăn rồi quay trở
về chỗ tập đoàn buôn.
Các
Bí-sô ăn xong lại mang y, bát, khăn, đãy của mình
đồng loạt ra khỏi chỗ quan thuế. Bấy
giờ các thương gia đều đến mở các
khăn đãy, lấy nải của Bí-sô. Các Bí-sô hỏi:
-
Tại sao các vị tự tiện đụng đến
vật dụng của chúng tôi ?
-
Thưa Thánh giả! chúng tôi để những hàng hóa
cần đóng thuế vào trong hành lý của quý Ngài, nay xin
phép được nhận lại. - Các thương
chủ nói.
Các
Bí-sô nói:
-
Các Hiền Thủ! Các người đã cố tâm làm cho
chúng tôi phạm tội.
-
Thánh giả! Đối với các Ngài, việc này, ba
nghiệp không phát khởi làm sao có tội được ?
- Khách buôn thưa.
Khi
đã như thế, lòng các Bí-sô xấu hỗ ray rứt
bởi ý nghĩ: “Há phải chăng chúng ta đã phạm
Ba-la-thị-ca !?” Các Bí-sô dần dà đến thành
Thất-la-phạt. Các cựu trú Bí-sô, đón chào niềm
nở:
-Thiện
lai! Cụ thọ đi đường được yên
ổn chứ ? (Lời thoại như trên) -Cho đến
câu trả lời:
-
Chúng tôi không có gặp gì khổ sở. Xong, khi dừng
nghỉ, chúng tôi vào thôn khất thực, bạn
thương gia đồng hành với chúng tôi đã mở
hành lý của chúng tôi, bỏ các vật phải đóng
thuế vào, chúng tôi không hay biết nên mang qua khỏi
chỗ quan thuế. Sau khi biết, sự đã rồi,
chúng tôi day dứt phân vân lắm: “Chẳng lẽ chúng tôi
đã phạm Ba-la-thị-ca!”
Khi
biết sự việc đã xảy ra như thế, các
Bí-sô bạch đầy đủ lên đức Phật.
Đức Phật dạy:
-
Bí-sô ấy không phạm xong tất cả vật sở
hữu của Bí-sô nếu không xem xét thì không được
để đó mà đi. Phải để lại
người giữ gìn bảo quản. Nếu không xem xét,
hay không có người bảo quản, thì phạm tội
Việt Pháp.
Thời
gian khác, Bí-sô cũng đi với tập đoàn nhà buôn, trên
đường đi Bí-sô vào thôn khất thực,
để lại một người coi hành lý. Nhân lúc người
ấy cần đi “tiện lợi”, hoặc phải
đi lấy nước, các thương gia mỗi
người đem những vật cần đóng thuế
bỏ vào gói hành lý của Bí-sô... (sự việc giống
như trước) qua khỏi ải thuế, đến
lấy vật lại. Cho đến câu: “Trình bày
đầy đủ với các Bí-sô, các Bí-sô bạch
Phật. Đức Phật dạy:
-
Các Bí-sô này không phạm. Nhưng nên để hai Bí-sô trông
coi hành lý.
Bấy
giờ, các Bí-sô để hai Bí-sô trông coi hành lý. Nhân lúc
một Bí-sô đi “tiện lợi”, hoặc đi lấy
nước, Bí-sô còn lại bị các thương gia
đến kẻ nắm tay, người nắm chân
rồi đem các vật cần đóng thuế để
vào trong các gói hành lý của Bí-sô. Bí-sô nghĩ rằng:
“Đồng phạm hạnh của mình đến, mình
sẽ báo cho họ biết”. Lúc các Bí-sô khất thực
về đến, các thương gia bày ra cái trò huyên náo,
“cả vú lấp miệng em”, khiến cho Bí-sô bị hành
hung kia không thể nói lên được việc gì. Khi
đã qua khỏi chỗ quan thuế, mỗi thương
gia đến lấy vật lại. Bí-sô hỏi:
-
Tại sao quý vị tự tiện lục soạn hành lý
của chúng tôi ?
Thương
gia thưa:
-
Trong những gói xách này của quý vị, chúng tôi có gửi những
vật trốn thuế, nay xin được nhận
lại.
Ngỡ
ngàng, các Bí-sô hỏi:
-
Này hai vị, hai ông đã nhận chăm nom, gìn giữ hành
lý, tại sao lại để xảy ra tình trạng chúng
ta cùng phạm tội là sao ?!
Khi
ấy hai Bí-sô trần tình mọi việc đã xảy ra.
Giờ thì các Bí-sô lòng lại phân vân suy nghĩ: “Như
thế chúng ta có phạm Ba-la-thị-ca chăng?!” Các Bí-sô
đem tất cả các vấn đề bạch với
các Bí-sô, các Bí-sô bạch Phật. Phật nói:
-
Không phạm. Xong người coi hành lý, thấy
người khác để vật gì vào, phải khiến
cho người thế tục hoặc bảo Cầu
tịch, lấy vật kia bỏ ra. Nếu không có ai, nên
tự lấy bỏ ra ngoài, giao lại cho người
chủ có vật. Nếu làm khác đi phạm tội
Việt Pháp.
Đức
Phật ở tại thành Thất-la-phạt, vườn
ông Cấp-cô-độc. Lúc bấy giờ trong thành có
một Trưởng giả cho phép một người con
đi xuất gia. Có nhơn duyên, người con đi ra
nước ngoài, nhận được hai Trương
điệp. Người con liền khởi ý nghĩ:
“Như Thế Tôn dạy: Tuy là xuất gia, đối
với cha mẹ nên cần cung phụng. Hai Trương
điệp này, ta nên dâng lên cho cha một xấp cho mẹ
một xấp”. Ngày ấy, Bí-sô để lại những
vật không cần thiết cho trú xứ, lên
đường trở về cố xứ. Trên
đường về thành Thất-la-phạt, gặp
ải quan thuế, quan thuế hỏi:
-Thánh
giả, có vật gì để đóng thuế không ?
-
Tôi không có vật gì để phải đóng thuế
cả, thưa Hiền giả. - Bí-sô đáp lời.
Cán
bộ thuế nói:
-
Xin nán lại một chút, đem hành lý vào đây, có khám xét
thì mới biết được.
Vừa
mở hành lý ra, thấy hai trương điệp, cán
bộ thuế nói:
-
Thánh giả! Ông là người xuất gia trong pháp luật
hay đẹp, đâu có phép chỉ vì hai trương
điệp mà ông phải nói không thật !?.
Bí-sô
nói:
-
Thưa Hiền giả! Đây không phải là của tôi!.
-
Vậy thì của ai ? - Quan thuế hỏi.
-
Của cha tôi một xấp, của mẹ tôi một
xấp. - Bí-sô nói.
-
Mẹ tôi cũng không biết, cha tôi cũng không biết.
Tôi chỉ biết ông phải đóng thuế thì mới
được phép đi. - Quan thuế nói.
Bị
giữ lại khám xét khá lâu, thu thuế xong, thuế quan
mới mở lối cho đi. Bí-sô ấy đến thành
rồi, lòng cứ ray rứt xấu hổ nói rõ sự
việc với các Bí-sô. Các Bí-sô bạch Phật, Phật
dạy:
-
Bí-sô ấy không phạm nhưng không nên sử dụng ngôn
từ như thế. Cha mẹ nào đây mà tự nhận ?
Đối với quan thuế nên có lời như sau:
“Hiền
thủ! Như Thế Tôn dạy: Công lao của cha mẹ
đối với con rất lớn: Bảo hộ, chăm
sóc, nuôi nấng, dạy dỗ, bú mớm, cháo cơm...”
Trong
cõi Thiệm-bộ Châu, Ngài dạy vẽ rõ ràng:
“Giả
sử có người con, một vai cõng cha, một vai cõng
mẹ trãi qua một trăm năm không hề thấy
mỏi mệt. Hoặc là dùng mạt-ny, chơn-châu,
lưu-ly... Chất đầy cõi đại địa
để cung phụng cha mẹ, làm cho mẹ cha giàu sang, sung
sướng hoặc đặt cha mẹ ở địa
vị tôn quý nào cũng chưa gọi là báo ân cha mẹ”.
“Nếu
cha mẹ không có tín tâm thì phải khiến cho cha mẹ
được chánh tín. Nếu cha mẹ không có giới thì
hướng dẫn mẹ cha thọ giới cấm
của Phật. Nếu cha mẹ có tánh xan tham nên
hướng dẫn mẹ cha làm việc huệ thí. Nếu
cha mẹ không có trí tuệ, nên tạo điều kiện
cho mẹ cha phát khởi trí tuệ”.
“Ở
đâu, nơi nào, đối với cha mẹ, bổn
phận làm con phải thực hiện được
như vậy. Phải khéo léo, tế nhị, vỗ về,
khuyên lơn làm cho cha mẹ được an lạc, chánh
tín. Được như vậy, mới gọi là báo ân.
Hiền giả! Cha mẹ ân đức sau dày như
vậy, nay tôi muốn đem phẩm vật này về báo ân
sinh thành. Khi tán thán ân huệ của cha mẹ như
vậy, họ miễn thu thuế càng tốt, bằng không
thì phải đóng thuế rồi đi. Không làm như
vậy phạm tội Tốt-thổ-la-để-dã”.
CĂN BẢN
THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA
QUYỂN 3-(hết).