CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA

QUYỂN 25.

TAM TẠNG PHÁP SƯ NGHĨA TỊNH PHỤNG CHẾ DỊCH.

  

90 Pháp Ba-dật-để-ca.

 

Nhiếp tụng chung:

Vọng ngữ và chủng tử

Không sai cùng thường ăn

Nước trùng bạn cùng đi

Bàng sanh bọn giặc ăn

Nhiếp tụng riêng ban đầu:

Vọng, hủy và ly gián

Nêu lên đồng thinh nói

Nói tội đắc thượng nhơn

Theo bà con vội khinh.

 

Học xứ thứ nhất: Cố ư nói vọng.

Lúc bấy giờ, đức Phật ở tại thành Vương-xá, nơi ao Yết-lan-đạc-ca, trong vườn Trúc Lâm. Ở bên thành này, Cụ thọ La-hỗ-la trú ngụ trong rừng Ôn tuyền, thuở ấy, nhiều vị Cư sĩ Bà-la-môn kính tín đến hỏi:

- Đại đức Thế Tôn hiện nay ở đâu ? Nếu lúc ấy đức Thế Tôn ở tại rừng Trúc th́ La-hỗ-la trả lời: Đức Thế Tôn ở nơi Linh  Thứu. Nếu lúc ấy đức Thế Tôn ở tại Linh Thứu th́ La-hỗ-la trả lời: Đức Thế Tôn ở nơi rừng Trúc. Nếu đức Thế Tôn ở nơi hang Tất-bát-la th́ La-hỗ-la lại trả lời: Đức Thế Tôn ở nơi hang Tây-ny-ca. Nếu đức Thế Tôn ở nơi hang Tây-ny-ca th́ La-hỗ-la lại trả lời: Đức Thế Tôn ở nơi hang Tất-bát-la. Mọi người muốn t́m Phật để đảnh lễ đều không thể gặp được. Thân thể họ mỏi mệt, lao nhọc đến rả rời. Họ lại t́m đến La-hỗ-la, La-hỗ-la lại hỏi:

- Quí vị có gặp được đức Thế Tôn chăng ?

Các người đáp:

- Thưa Cụ thọ! Chúng tôi không gặp được đức Thế Tôn! Mọi người đều thắc mắc tại sao Thánh giả lại cố ư gây phiền năo cho chúng tôi ?!

La-hỗ-la lại trả lời:

- Thật vậy, tôi cố gây năo phiền với quí vị.

Thế là mọi người đều sanh hiềm tiện. Các Bí-sô đem nhơn duyên này bạch Phật. Đức Thế Tôn nghe rồi, vào phần đầu của ngày, chấp tŕ y bát, vào thành Vương-xá, thứ lớp khất thực rồi trở về bổn xứ, thọ trai xong, sau bữa ăn bèn đến rừng Ôn Tuyền, chỗ La-hỗ-la ở. La-hỗ-la thấy đức Phật đến, trải toà múc nước rửa, rửa tay sạch sẽ, nghinh tiếp đức Thế Tôn, rước y bát của Ngài, thưa chào:

- Thiện lai Thế Tôn! Mời Ngài an tọa nơi đây.

Đức Phật ngồi nơi toà, lấy b́nh nước rửa chân, rửa xong đổ, c̣n lại ít nước nơi chậu (b́nh), Ngài hỏi La-hỗ-la:

- Ông có thấy trong chậu c̣n ít nước chăng ?

- Bạch đức Thế Tôn : Con có thấy.

Đức Phật dạy:

- Này La-hỗ-la! Nếu Bí-sô cố tâm nói vọng, không xấu hổ, cũng không ăn năn, Như Lai coi đó là người ngu si, nói dối làm thiếu một ít pháp của Sa-môn.

Đức Thế Tôn lại trút hết nước xuống đất và hỏi La-hỗ-la:

- Ông thấy một ít nước c̣n lại được trút hết xuống đất không ?

La-hỗ-la thưa:

- Bạch đức Thế Tôn! Con có thấy.

Đức Phật nói:

- Này, La-hỗ-la! Nếu Bí-sô cố tâm nói dối, không xấu hổ, cũng không ăn năn, Như Lai coi là người ngu si, nói dối làm xoá hết pháp của Sa-môn.

 Đức Thế Tôn lại nghiêng hẳn chậu xuống đất, và hỏi La-hỗ-la:

- Ông có thấy cái chậu nghiêng hẳn xuống đất không ?

- Bạch đức Thế Tôn! Con có thấy.

Đức Phật nói:

- Này, La-hỗ-la! Nếu Bí-sô cố tâm nói dối,  không xấu hổ cũng không ăn năn, Như Lai coi đó là người ngu si, làm nghiêng đổ hẳn pháp của Sa-môn.

Đức Thế Tôn lại úp hẳn cái chậu xuống đất và hỏi La-hỗ-la:

- Ông có thấy cái chậu úp hẳn xuống đất chăng ?

La-hỗ-la thưa:

- Bạch đức Thế Tôn con con có thấy.

Đức Phật nói:

- “Này La-hỗ-la! Nếu Bí-sô cố tâm nói dối, không xấu hổ cũng không ăn năn, Như Lai coi đó là người ngu si, làm nghiêng úp pháp của Sa-môn xuống.

Lại nữa, này La-hỗ-la! Như một con voi chúa say rượu, có thế lực lớn, cặp ngà của nó như trục xe, mập béo, mạnh khoẻ, khéo hay chiến đấu. Khi đến chiến trường, cùng với đối phương chiến đấu, bốn chân, cặp ngà, đuôi, xương sống, xương hông đều có tác dụng, chỉ trừ cái ṿi th́ nó cuốn lại, không đem ra sử dụng.

Này, La-hỗ-la! Con voi này v́ bảo vệ tánh mạng nên không dùng cái ṿi để sát phạt địch thủ. Trước hiện tượng này, người điều khiển quân voi nghĩ: “Con voi chúa này v́ tiếc thân mạng nên bảo vệ thân nạng”.

Này, La-hỗ-la! Nếu con voi chúa này, khi cùng với đối phương chiến đấu sử dụng cái ṿi để tranh tài với địch thủ, th́ người điều khiển voi biết con voi không tiếc thân mạng, khi xáp trận tàn hại vô vàn, không việc ác nào không làm!

Như vậy, này La-hỗ-la! Nếu lại có Bí-sô cố tâm nói dối, không xấu hổ, cũng không nói lên sự ăn năn tội lỗi, Như Lai nói người như vậy không việc ác nào, họ từ chối không làm”.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nói bài kệ:

Người nào trái Phật pháp,

Cố nói lời hư cuống

Cho đến khi mạng chung

Không ác nào không làm.

Thà nuốt ḥn sắt đỏ,

Như lửa đốt hừng hực

Không làm miệng phá giới

Ăn nuốt người tín tâm.

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn lại bảo La-hỗ-la rằng:

- Ư ông thế nào, có nhận xét ǵ về người đời cầm gương để soi ?

La-hỗ-la bạch:

- Kính bạch đức Thế Tôn! Người đời cầm gương soi để biết tướng mặt của họ tốt xấu.

Đức Phật bảo:

- “Đúng như vậy, sự việc là như vậy! Nếu thân nghiệp của ông chuẩn bị làm việc ǵ, ông phải luôn luôn khéo tự quán sát: “Nay, Ta muốn khởi tạo tác thân nghiệp như vậy. Thân nghiệp này có hại cho tự thân, hại cho thân người khác là việc bất thiện, là khổ ác nghiệp, đối với tương lai có khả năng dẫn đến cảm lấy quả khổ Dị thục chăng ? Hay nó là việc làm không hại cho tự thân, không hại cho người khác, là việc Thắng thiện, là nghiệp an lạc, đối vói tương lai có khả năng dẫn đến cảm lấy quả vui Dị thục hay chăng ?”

Này, La-hỗ-la! Nếu như ông quán sát việc làm đây như vậy, tức có thể hiểu rơ thân nghiệp này, nay Ta muốn làm, đem lại tổn giảm cho ḿnh và người, là việc bất thiện là khổ ác nghiệp với tương lai, có khả năng đưa đến cảm lấy Dị thục khổ. Thân nghiệp này cần phải dẹp bỏ, không nên làm.

Này, La-hỗ-la! Khi ông quán sát việc làm như vậy, biết rơ thân nghiệp này, nay Ta muốn làm, có thể lợi ích cho ḿnh và người, là việc Thắng thiện, là nghiệp an ẩn, có khả năng dẫn đến cảm lấy quả vui Di thục về sau. Thân nghiệp này cần phải phát khởi tu tập việc thiện”.

Lại nữa, đức Phật bảo La-hỗ-la:

- “Thân nghiệp của ông đang làm việc ǵ, nên phải luôn luôn khéo tự quán sát: nay, ta chánh trực làm thân nghiệp như vậy. Thân nghiệp này hay tổn giảm ḿnh và người, sẽ thọ lấy khổ báo, tức không nên làm. Nếu thân nghiệp này, làm ích lợi ḿnh và người, sẽ thọ lấy quả bao an vui, tức nên phải tu học”.

Lại nữa, đức Phật bảo La-hỗ-la:

- “Thân nghiệp của ông đă làm việc ǵ, nên phải luôn luôn khéo sự quán sát: Ta đă làm thân nghiệp như vậy. Thân nghiệp này, hay tổn giảm ḿnh và người, sẽ thọ lấy khổ báo. Tất cả những tội nghiệp nên đối trước Phật, chí thành nói lên sự ăn năn tội lỗi của ḿnh hoặc đối với trước vị đồng phạm hạnh thanh tịnh, nói lên những điều tội lỗi của ḿnh, phát lồ ăn năn sám hối. Thề nguyện không tái phạm. Nếu làm thiện nghiệp, hay ích lợi ḿnh và người, sẽ thọ lấy quả báo an vui, nên phát tâm hoan hỷ, ngày đêm vui mừng, đối với việc đă làm, đừng để buông lung.

Này, La-hỗ-la! Đối với thân nghiệp sắp làm, đang làm, đă làm, ba giai đọan quán sát khéo léo như vậy, ngữ nghiệp, ư nghiệp cũng lại như vậy.

Này, La-hỗ-la! Qúa khứ! Vị lai và hiện tại, tất cả hành nghiệp đều do ư sanh, nên thường quán sát loại bỏ vọng niệm, thường phát khởi thiện tâm.

Này La-hỗ-la! Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn… đối với thân, ngữ, ư, nghiệp, khi nó hiện khởi, nên phải khéo quán sát, khiến cho nó đạt tới đỉnh cao thanh tịnh, thường tương ứng với nhiều pháp môn tu tập để an trụ.

Này, La-hỗ-la! Đối với hiện tại quán sát ba nghiệp như vậy, khiến được tương ứng với tầm cao thanh tịnh để an trụ, quá khứ vị lai cũng như vậy. Do thế, đối với ba nghiệp, ông phải khéo léo quán sát, khiến cho được tương ứng với sự thanh tịnh cao điểm nhất để an trụ, đừng để nó buông lung!”

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nói bài kệ:

La-hỗ ông nên biết

Thường quán sát ba nghiệp,

Đừng để tạo các ác,

Là thuận lời Phật dạy.

Đây là nghiệp Thanh-văn

Ông nay phải tu tŕ

Khi tụ tập hạnh này.

Thiện lớn, ác chấm dứt.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn v́ La-hỗ-la chỉ bày dạy vẽ điều lợi, điều hại, với ḷng hoan hỷ xong. La-hỗ-la kính lễ hai chân của đức Phật, hoan hỷ phụng hành. Đức Thế Tôn từ toà đứng dậy ra về. Đây là duyên khởi nhưng chưa chế giới.

Đức Phật tại rừng Thệ-đa, lúc ấy, Bí-sô Pháp Thủ, con của họ Thích-ca, sống nơi rừng đó. Pháp Thủ có tài nghề ăn nói, đánh bại được luận thuyết của kẻ khác. Thời điểm ấy, trung tâm nước có một Ma-nộp-phược-ca, v́ t́m cầu sự học vấn nên đến Nam phương (sự việc như trong phần nhơn duyên của giới thứ tư, Ba-la-thị-ca, đương sự là Kiếp-tỷ-la, đă diễn tả đầy đủ) khi ấy, vị sư thầy mà Ma-nộp-phược-ca phụng sự là một Bà-la-môn ở phương Nam, thông suốt các nghị luận. Vị này cùng Ma-nộp-phược-ca và các đệ tử tuần tự du hành, trải qua các thành ấp, đến nơi thành Thất-la-phạt. Khi ấy trong thành này có một Bà-la-môn, chức năng thủ lănh của chúng, nghe nói có một vị đại Luận sư cùng với các đồ đệ từ phương Nam đến, tyuên bố với các học chúng của ḿnh rằng:

- Quí vị biết chăng ? Có một Bà-la-môn là một đại Luận sư ở phương Nam, nay đến nơi đây, muốn t́m đối tác để địch luận. Nếu vị luận sư kia dựa trên các luận cứ lập lên các nghĩa, th́ tùy theo đó mà mỗi quí vị cùng tập thành sự đối đáp. Nếu quí vị có thể phá vỡ luận cứ của vị Luận sư ấy càng hay, bằng không th́ nên hướng dẫn ông ta đến trong ḍng họ Thích, khiến cùng nhau luận nghị. Nếu vị Luận sư đó có thể phá vỡ luận cứ của ḍng họ Thích th́ tức là Bà-la-môn của ta thắng. Nếu Luận cứ của ḍng họ Thích có thể đánh bại luận sư ấy th́ ḍng Bà-la-môn của ta cũng thắng. Tạo sao vậy ? V́ tạo được một tiến vang kinh động: Phương Nam có một Đại Bà-la-môn, thấu hiểu bốn minh, sâu sắc thông rơ tám thuật giám t́m đến thành Thất-la-phạt này, kích động vấn đề nghị luận, và bị người trong thành này đánh bại luận cứ của Bà-la-môn kia. Như vậy mọi người chúng ta cũng chẳng phải bại trận, cho nên cũng gọi là thắng.

Một hôm nọ, buổi sáng, tự luận sư kia, lấy y quấn bụng, tay cầm cây đuốc, đi vào thành Thất-la-phạt. Lúc vào trong thành, con cái của Bà-la-môn, hỏi:

- Tại sao đại sư lấy áo quấn bụng ?

Luận sư bảo:

- Những ǵ tôi đă học được, đầy cả bụng, sợ nó bị phá vỡ nên tôi lấy y quấn nó lại.

Đệ tử hỏi:

- V́ lư do nào, ban ngày mà Đại sư cầm đuốc đi ?

Luận sư đáp:

- Tôi thấy mọi người ngu si ám muội, nay cần phát huy lửa trí của họ, bằng ngọn đuốc này.

Thế rồi, Luận sư cùng với đồ chúng lại cùng tương kiến vấn nạn mọi người. Người ở đây có kích luận đều bị khoá mồm. Các Học sĩ trong thành này đều bị khuất phục. Mọi người đặt vấn đề với Đại sư:

- Tại sao Luận sư chủ quan cho ḿnh là vô địch ?

Luận sư trả lời:

- Thử hỏi nơi đây c̣n có ai sánh bằng mà ta không vô địch ?

Mọi người đáp:

- Có chứ!

Luận sư bảo:

- Người ấy là ai ?

Mọi người đáp:

- Người ấy là Sa-môn Thích tử. Thời gian gần đây họ mới nổi tiếng. Trong bốn họ, độc nhất địa vị của họ là cao hơn cả. Họ học nhiều, hiểu rộng, biện tài ai cũng biết. Đại sư có thể đến đó, cùng họ luận biện.

Luận sư hỏi:

- Họ ở chỗ nào ?

Mọi người đáp:

- Họ ở trong thành này, nơi rừng Thệ-đa.

Luận sư hỏi:

- Trong số đó, ai là người kích luận xuất sắc nhất ?

Mọi người bảo:

- Họ đều là hạng học rộng, mẫn thiệp, từ biện phân minh.

Trong khi nói như vậy th́ gặp lúc Bí-sô Pháp Thủ có nhơn duyên đến tại đó, mọi người vừa thấy, liền nói với Luận sư:

- Đại Luận sư có thể đánh bại được các Sa-môn Thích tử th́ nay có thể đấu với Bí-sô Pháp Thủ xem sao!

Luận sư vừa nghe, liền nh́n thẳng vào Bí-sô và nói:

- Nh́n qua đủ biết: Đây chắc chắn là tướng mạo của vị luận chủ.

Luận sư nói xong, liền đến chỗ Bí-sô Pháp Thủ tŕnh bày:

- Tôi được học chút ít luận cứ nơi thầy của tôi, nay tôi muốn cùng Ngài t́m hiểu cái trong sáng cơ bản của luận nghị.

Bí-sô liền đáp lời:

- Điều này trở thành vấn đế lớn có lợi mà bản thân tôi thật ḷng muốn cầu thị trong nạn vấn luận bàn. Tại sao được gặp gỡ nhau đuợc tranh căi mà không chấp thuận dù tận cùng là sự trống rỗng. Ông từ xa đến, thâm ư thách thức khả năng của tôi. Ông cứ thi thố, tùy ông đặt vấn đề.

Luận sư hỏi:

- Thời gian nào chúng ta có thể đàm luận được ?

Bí-sô đáp:

- Ngày mai chúng ta có thể thực hiện được.

Luận sư hỏi:

- Thực hiện tại địa điểm nào ?

Bí-sô đáp:

- Tại vườn hoa…

Cùng nhau giao hẹn xong, hai bên đều ra về.

Thế rồi, vị luận sư kia, sau khi đạt sự giao ước với Bí-sô, tại nơi cư ngụ, trắng đêm nghiên cứu phương án luận nghị, sở trường, sở đoản của đôi bên, cân nhắc từng ly từng tư, hết sức cẩn thận. Người Bà-la-môn tập trung suy nghĩ như thế cho đến trời sáng hẳn. Về phía Bí-sô Pháp Thủ  th́ cũng có nghĩ suy: “Nếu, ta phá vỡ được luận cứ của vị Luận sư kia th́ ta cũng không tránh khỏi, hằng ngày phải trải qua, hằng trăm cửa ngơ nhà người mới đủ no ḷng, c̣n nếu vị Bà-la-môn kia đánh bại ta th́ danh xưng thủ lănh của ta sẽ bị chôn vùi từ đó!”.

Sang sớm, đúng hẹn, Bà-la-môn kia đến vườn hoa… và mong Bí-sô cũng đến đúng thời gian đă ấn định. Như Pháp Thủ Bí-sô không đến đúng như giao hẹn trước. Chờ lâu không được, Bà-la-môn trở về trong thành. Trong khi ấy cứ măi đắn đo nên Pháp Thủ để thời gian hẹn trôi qua. Sau đó Pháp Thủ vào thành tuần tự khất thực. Bà-la-môn trông thấy, hỏi:

- Tại sao Bí-sô không đến vườn hoa…?

Pháp Thủ tỏ vẻ ngơ ngác hỏi:

- Vườn hoa chỗ nào ?

Bà-la-môn ngạc nhiên lại hỏi:

- Ngài không nhớ ngày hôm qua, chúng ta cùng hẹn, sáng hôm nay, chúng ta cùng  đến, vườn hoa…để luận nghị đạo lư hay sao ?

Pháp Thủ thản nhiên nói:

- Thế là tôi quên việc ấy rồi.

Bà-la-môn nghĩ: “suốt đêm ta không ngủ để nghiên cứu luận cứ”.

Bà-la-môn nói:

- Tôi không hề nhớ việc ấy.

Bà-la-môn lại suy luận: “Bí-sô này rơi vào hai loại người. Một thuộc hạng người ngu xuẩn, hai là ông ta thuộc hạng người biện tài lỗi lạc”. Bà-la-môn liền nói:

- Như vậy, ngày mai chúng ta sẽ gặp nhau đúng hẹn được không ?

Pháp Thủ trả lời liền:

Được chứ!

Sáng ngày hôm sau, Bà-la-môn vẫn đến vườn hoa… đúng hẹn, chờ măi, Bí-sô vẫn không đến. Bà-la-môn lại trở về trong thành ấp với tâm trạng do dự, sau thời gian trông ngóng. Pháp Thủ biết thời điểm hẹn đă trôi qua, chấp tŕ y bát vào thành khất thực, Bà-la-môn kia thấy, hỏi:

- Tại sao Bí-sô lại cũng không đến điểm hẹn như thời gian đă giao ước?

Pháp Thủ dài ḍng trả lời:

- Tôi đâu phải là người mang bệnh thần kinh? Đâu phải tôi ngoài việc luận nghị không có việc ǵ khác? Mỗi buổi sáng tôi phải thừa sự Đại sư. Tôi phải cầu học những điều chưa được học. Tôi phải dạy những môn đồ của tôi. Tôi c̣n phải đến các nhà hào quí để thuyết pháp.

Bà-la-môn nghe xong, bảo rằng:

- Bí-sô không nên cố tâm vọng ngữ.

Pháp Thủ xác nhận:

- Thật sự tôi như vậy.

Do Bí-sô Pháp Thủ này cùng với người khác luận nghị, hứa đến điểm hẹn mà không đến, cố tâm nuốt lời nói, khiến cho Luận sư kia tới lui mỏi mệt, các ngoại đạo nghe việc này cùng nhau hiềm tiện:

- Các ông nên biết Sa-môn Thích tử cố tâm vọng ngữ, cùng người giao hẹn, luận nghị tại vườn… rồi dối lời không đến, khiến cho Luận  sư kia nhọc công đến, đi không được việc ǵ.

Các Bí-sô nghe đem sự việc tŕnh bày đầy đủ với đức Thế Tôn. Đức Phật lấy việc này làm nhơn duyên, tập hợp các Bí-sô, hỏi Pháp Thủ:

- Thật sự ông có cố tâm vọng ngữ, cùng nhau giao hẹn, rồi không đến điểm hẹn như vậy chăng?

Pháp Thủ thưa:

- Kính bạch đức Thế Tôn! Sự thật con có như vậy!

Đức Thế Tôn bằng mọi cách quở trách…cho đến câu: Nay, Ta v́ các Bí-sô chế Học xứ này như sau:

“Nếu lại có Bí-sô cố ư nói dối, Ba-dật-để-ca”.

+ Bí-sô ở đây là chỉ cho Pháp Thủ. Cố nói: Là cố tâm biết rơ việc kia. Có chín loại vọng ngữ, tám loại vọng ngữ, bảy loại vọng ngữ… sáu, năm, bốn, ba, hai loại vọng ngữ, sai biệt không đồng.

Thế nào là chín loại vọng ngữ ?

- Nghĩa là dùng vô căn Tha thắng, Tăng-già-phạt-thi-sa, Ba-dật-để-ca, Đề-xá-ni, Đột-sắc-ngật-lư-đa, dùng Vô căn phá giới, phá kiến, phá oai nghi, phá chánh mạng, để làm việc vọng ngữ.

Thế nào là tám loại vọng ngữ ?

- Nghĩa là dùng Vô căn Tha thắng, Tăng-già-phạt-thi-sa, Ba-dật-để-ca, Đề-xá-ni, Đột-sắc-ngật-lư-đa, dùng Vô căn kiến, văn nghi.

Thế nào là bảy loại vọng ngữ ?

- Nghĩa là dùng Vô căn phá giới, phá kiến, phá oai nghi, phá chánh mạng, dùng Vô căn kiến, văn, nghi.

Thế nào là sáu loại vọng ngữ ?

- Bí-sô muốn làm việc vọng ngữ, phát sanh ư nghĩ: Ta sẽ vọng ngữ; khi đang là việc vọng ngữ, phát sanh ư nghĩ: Ta  đang vọng ngữ; khi đă làm việc vọng ngữ, phát sanh ư nghĩ: Ta vọng ngữ rồi; dùng Vô căn kiến, văn, nghi.

Thế nào là gọi năm loại vọng ngữ ?

- Nghĩa là dùng Vô căn năm bộ tội mà làm việc vọng ngữ.

Thế nào là bốn loại vọng ngữ ?

- Nghĩa là dùng vô căn phá giới, phá kiến, phá oai nghi, phá chánh mạng.

Thế nào là ba loại vọng ngữ ?

- Nghĩa là dùng vô căn kiến, văn, nghi.

Lại, có ba loại vọng ngữ:

- Tức khởi ư niệm: Ta sẽ vọng ngữ, ta đang vọng ngữ, ta đă vọng ngữ.

Thế nào là hai loại vọng ngữ ?

- Tức là ta đang vọng ngữ và ta đă vọng ngữ. Không có một loại mà thành vọng ngữ.

Lại, có năm loại vọng ngữ. Năm loại ấy là ǵ ?

- Tự ḿnh có vọng ngữ phạm tội Ba-la-thị-ca, có phạm Tăng-già-phạt-thi-sa, có phạm Tốt-thổ-la-để-dă, có phạm Ba-dật-để-ca, có phạm Đột-sắc-ngật-lư-đa.

Thế nào gọi là vọng ngữ phạm tội Ba-la-thị-ca ?

- Thật Bí-sô không chứng được pháp thượng nhơn, tự xưng là chứng được. Vọng ngữ này phạm Ba-la-thị-ca.

Thế nào gọi là vọng ngữ phạm tội Tăng-già-phạt-thi-sa ?

- Bí-sô biết Bí-sô kia thanh tịnh không phạm, dùng pháp Vô căn Tha thắng huỷ báng. Vọng ngữ này phạm Tăng-già-phạt-thi-sa.

Thế nào gọi là vọng ngữ phạm Tốt-thổ-la-để ?

- Bí-sô ở trong chúng Tăng cố tâm vọng ngữ, phi pháp nói là pháp, pháp nói là phi pháp, phi luật nói là luật, luật nói là phi luật. Vọng ngữ này phạm tội Tốt-thổ-la-để-dă.

Thế nào gọi là vọng ngữ phạm tội Đột-sắc-ngật-lư-đa ?

- Bí-sô nửa tháng, nửa tháng làm lễ Bao-sái-đà, khi tụng giới kinh, được hỏi thanh tịnh không? Ḿnh thật không thanh tịnh, tự biết có phạm, khởi tâm che giấu, ngồi im lặng. Vọng ngữ này phạm tội Đột-sắc-ngật-lư-đa.

Ngoài bốn loại vọng ngữ vừa nói, các loại vọng ngữ khác thảy đều phạm Ba-dật-để-ca.

Ba-dật-để-ca, có nghĩa là đọa lạc, nơi thiêu đốt nung nấu. Tức là kẻ phạm tội này đọa nơi địa ngục Bàng sanh, Ngạ quỷ, chịu các cái khổ nung nấu trong đường dữ. Tội này nếu không khẩn thiết ăn năn sám hối th́ lại có khả năng trở ngại đối với pháp lành. Đủ các nghĩa trên cho nên gọi là Ba-dật-để-ca.

Trong vấn đề này, tướng phạm của nó như thế nào ?

Nhiếp tụng ghi:

Nếu thật không thấy nghe

Không rơ không biết, tưởng

Nghi ngờ nói cách khác,

Là vọng ngữ nên biết.

Nếu Bí-sô không thấy, không nghe, không hiểu, không biết ( kiến, văn, giác, tri), khởi ư tưởng như vậy, nhẫn khả như vậy bèn nói:

- Tôi có thấy, có nghe, có hiểu, có biết. Khi nói như vậy mỗi lời đều phạm tội Ba-dật-để-ca.

Bí-sô từng thấy, nghe, hiểu, biết mà vọng nói sự việc kia, khởi ư tưởng như vầy, nhẫn khả như vầy: Không nhớ sự việc kia, mà cũng không đảng trí, mỗi lời nói đều phạm tội Ba-dật-để-ca.

Nếu thật, thấy, nghe, hiểu, biết, sau lại sanh nghi người kia khởi ư tưởng như vậy, nhẫn khả như vậy: Đối với vấn đề thấy… không có tâm nghi, khi nói mỗi lời như vậy, đều phạm Ba-dật-để-ca.

Nếu thật, không thấy, nghe, hiểu, biết mà tưởng hiện hữu thấy… Người kia khởi kiến giải thế này, rồi sau lại nói: Tôi thật có thấy v.v… khi nói mỗi lời như vậy, đều phạm Bổn tội.

Nếu thật không thấy, thấy, nghe, hiểu, biết, người kia khởi ư tưởng này, nhẫn khả như vậy: Sau lại nói: Tôi thấy, mà không có nghe, v.v… khi nói mỗi lời như vậy, đều phạm Bổn tội.

Nếu thật không nghe, mà có thấy, hiểu, biết, người kia khởi ư tưởng này, nhẫn khả như vậy, sau lại nói: Tôi nghe mà không thấy, hiểu, biết, khi nói lời như vậy, đều phạm Bổn tội.

Nếu thật không hiểu, mà có thấy, nghe, biết, người kia khởi ư tưởng này, nhẫn khả như vậy, sau lại nói: Tôi hiểu mà không thấy nghe biết. Khi nói mỗi lời như vậy đều phạm Bổn tội.

Nếu thật không biết mà có thấy, nghe và hiểu vấn đề. Tác khởi ư tưởng như vậy, nhẫn khả như vậy, sau đó nói tôi biết mà không thấy, nghe và hiểu vấn đề. Khi nói mỗi lời như vậy đều phạm Bổn tội.

Nếu thật thấy, mà quên nghe, hiểu biết không quên, người kia tác khởi ư tưởng như vậy, sau đó nói tôi thấy không quên, hiểu biết cũng không quên. Khi nói mỗi lời như vậy đều phạm Bổn tội.

Nếu thật nghe mà quên thấy, hiểu biết không quên, người kia tác khởi tưởng này, sau nói tôi nghe không quên, thấy hiểu biết cũng không quên. Khi nói mỗi lời nói như vậy đều phạm Bổn tội.

Nếu, thật có hiểu (giác) mà quên, thấy, nghe, biết, không quên. Người kia khởi ư tưởng này, sau lại nói: Tôi có hiểu mà không quên, thấy, nghe, biết cũng không quên. Khi nói mỗi lời đều phạm Bổn tội.

Nếu thật có biết mà quên, thấy, nghe, hiểu không quên. Người kia khởi ư tưởng này, sau lại nói: Tôi biết không quên, nghe, thấy, hiểu cũng không quên. Khi nói mỗi lời như vậy, đều phạm Bổn tội.

Nếu, thật thấy mà nghi, nghe, hiểu, biết không nghi. Người kia khởi ư tưởng này, sau lại nói: Tôi thấy không nghi, nghe,  hiểu, biết nghi. Khi nói mỗi lời này, đều phạm Bổn tội.

Nếu, thật nghe mà nghi, thấy, hiểu, biết không nghi. Người kia khởi ư tưởng này, sau lại nói: Tôi nghe không nghi, thấy, hiểu, biết, nghi. Khi nói mỗi lời này, đều phạm Bổn tội.

Nếu, thật hiểu mà nghi thấy, nghe, biết không nghi. Người kia khởi ư tưởng này, sau lại nói: Tôi hiểu không nghi, thấy, nghe, biết nghi. Khi nói mỗi lời này, đều phạm Bổn tội.

Nếu, thật biết mà nghi, thấy, nghe, hiểu không nghi. Người kia khởi ư tưởng này, sau lại nói: Tôi biết không nghi, thấy, nghe, hiểu nghi. Khi nói mỗi lời này, đều phạm Bổn tội.

Nếu, thật không thấy mà khởi ư tưởng không thấy, có nghe, hiểu, biết khởi ư tưởng nghe, hiểu, biết. Người kia khởi ư tưởng này, sau lại nói: Tôi thấy, không nghe, hiểu, biết. Khi nói phạm Bổ tội.

Nếu thật không nghe, khởi tưởng không nghe, có thấy, hiểu, biết, khởi ư tưởng thấy, hiểu, biết. Người kia khởi ư tưởng này, sau lại nói: Tôi nghe, không thấy, hiểu, biết. Khi nói phạm Bổn tội.

Nếu, thật không hiểu, khởi tưởng không hiểu, có thấy, nghe, biết, khởi ư tưởng thấy, nghe, biết. Người kia khởi ư tưởng này, sau lại nói: Tôi hiểu,  không thấy, nghe, biết. Khi nói phạm Bổn tội.

Nếu, thật không biết, khởi tưởng không biết, có ư tưởng thấy, nghe, hiểu. Người kia khởi ư tưởng này, sau lại nói: Tôi biết, không thấy, nghe, hiểu. Khi nói phạm Bổn tội.

Nếu thật thấy, nghe, hiểu, biết, người kia khởi ư tưởng này, sau lại nói: tôi không thấy, nghe, hiểu, biết. Khi nói phạm Bổn tội.

Nếu thật thấy, nghe, hiểu, biết mà không quên việc kia. Người kia khởi ư tưởng này, sau lại nói: Tôi thấy, nghe, hiểu, biết mà quên việc kia. Khi nói phạm Bổn tội.

Nếu, thật thấy, nghe, hiểu, biết mà không nghi tâm. Người kia khởi ư tưởng này, sau lại nói: Tôi thấy, nghe, hiểu, biết mà có nghi tâm. Khi nói phạm Bổn tội.

Nếu thật thấy, nghe, hiểu, biết, có ư tưởng thấy, nghe, hiểu, biết. Người kia khởi ư tưởng như đây, sau lại nói: Tôi không thấy, nghe, hiểu, biết. Khi nói phạm Bổn tội.

Nếu thật thấy, không nghe, hiểu, biết. Người kia khởi ư tưởng như này, sau lại nói: Tôi không thấy, xong có nghe, hiểu, biết. Khi nói phạm Bổn tội.

Nếu, thật nghe, không thấy, hiểu biết, người kia khởi ư tưởng này, sau lại nói: Tôi không nghe, xong có thấy, hiểu, biết. Khi nói phạm Bổn tội.

Nếu, thật hiểu, mà không thấy, nghe, biết người kia khởi ư tưởng này, sau lại nói: Tôi không hiểu, xong có thấy, nghe, biết. Khi nói phạm Bổn tội.

Nếu, thật biết, mà không thấy, nghe, hiểu, người kia khởi ư tưởng này, sau lại nói: Tôi không biết, xong có thấy, nghe, hiểu. Khi nói phạm Bổn tội.

Nếu, thật thấy, mà không quên nghe, hiểu, biết quên. Người kia khởi ư tưởng này, sau lại nói: Tôi thấy mà quên, nghe, hiểu, biết không quên. Khi nói phạm Bổn tội.

Nếu thật có nghe mà không quên, thấy, hiểu, biết quên. Người kia khởi ư tưởng này, sau lại nói: Tôi nghe mà quên, thấy, hiểu, biết không quên. Khi nói phạm Bổn tội.

Nếu, thật hiểu mà không quên, thấy, nghe, biết quên. Người kia khởi ư tưởng này, sau lại nói: Tôi hiểu mà quên, thấy, nghe, biết không quên. Khi nói phạm Bổn tội.

Nếu, thật biết, mà không quên, thấy, nghe, hiểu quên. Người kia khởi ư tưởng này, sau lại nói: Tôi biết mà quên, thấy, nghe, hiểu không quên. Khi nói phạm Bổn tội.

Nếu, thật thấy không nghi, nghe, hiểu, biết có nghi. Người kia khởi ư tưởng này, sau lại nói: Tôi thấy có nghi, biết, nghe, hiểu không nghi. Khi nói phạm Bổn tội.

Nếu, thật nghe không nghi, thấy, hiểu biết có nghi. Người kia khởi ư tưởng này, sau lại nói: Tôi nghe có nghi, biết thấy, hiểu không nghi. Khi nói  phạm Bổn tội.

Nếu, thật hiểu không nghi, thấy, nghe, biết có nghi. Người kia khởi ư tưởng này, sau lại nói: Tôi hiểu có nghi, thấy có nghe, biết không nghi. Khi nói phạm Bổn tội.

Nếu, thật biết không nghi, thấy, nghe, hiểu có nghi. Người kia khởi ư tưởng này, sau lại nói: Tôi biết có nghi, thấy, nghe, hiểu không nghi. Khi nói phạm Bổn tội.

Nếu thật thấy khởi ư tưởng thấy, không nghe, không hiểu, không biết khởi ư tưởng không nghe, không hiểu, không biết. Người kia khởi ư tưởng này, sau lại nói: Tôi không thấy, xong có nghe, hiểu, biết. Khi nói phạm Bổn tội.

Nếu, thật có nghe khởi ư tưởng nghe, không thấy, hiểu, biết. Khởi ư tưởng không thấy, hiểu, biết. Người kia khởi ư tưởng này sau lại nói: Tôi  không nghe, xong có thấy, hiểu, biết. Khi nói phạm Bổn tội.

Nếu thật hiểu khởi ư tưởng hiểu, không thấy, nghe, biết khởi ư tưởng không thấy nghe, biết. Người kia khởi ư tưởng này sau lại nói: Tôi không hiểu, xong có thấy, nghe, biết. Khi nói phạm Bổn tội.

Nếu thật biết, khởi ư tưởng biết, không thấy, nghe, hiểu, khởi ư tưởng không thấy, nghe, hiểu. Người kia khởi ư tưởng này, sau lại nói: Tôi không biết, xong có thấy, nghe, hiểu, biết. Khi nói phạm Bổn tội.

Nếu Bí-sô trái với ḷng mà nói, đều phạm tội Ba-dật-để-ca; không trái với ḷng mà nói th́ không phạm. Lại, trường hợp không phạm nữa là người phạm ban đầu, hoặc si cuồng tâm loạn, thống năo bức bách.

 

 

Học xứ thứ hai: mắng nhiếc.

Đức Phật ở thành Thất-la-phạt, rừng Thệ-đa, vườn Cấp-cô-độc. Khi ấy, Lục chúng Bí-sô đối với các Bí-sô dùng lời mắng nhiếc, như nói:

- Thấy mắt chột, lưng gù, h́nh dáng quá cao, quá thô, điếc, mù, câm, ngọng, chân ch́, đầu to, răng hô, môi sệ…

Lục chúng Bí-sô dùng những lời như thế mắng nhiếc. Các Bí-sô nghe rồi ưu sầu không vui, vấn đề tụng niệm tư duy đều bị ảnh hưởng nên bê trễ. Lúc ấy các Bí-sô thiểu dục, thấy sự việc như vậy rồi, đều sanh hiềm tiện, nói lên lời khinh huỷ:

- Tại sao Bí-sô lại mắng nhiếc các Bí-sô, nói những lời thậm tệ như vậy!

Các Bí-sô bạch Phật đầy đủ vấn đề. Thế rồi, đức Thế Tôn dùng nhơn duyên này tập hợp các Bí-sô… cho đến hỏi các Lục chúng rằng:

- Các ông thật sự có dùng những lời như vậy để mắng nhiếc các Bí-sô chăng ?

- Lục chúng Bí-sô xác nhận là đúng như vậy.

Đức Thế Tôn bằng mọi cách quở trách (nói đầy đủ như trước) cho đến câu:

- Đây không phải là việc làm của Sa-môn, tại sao vậy ? Các ông lắng nghe:

Xưa kia, tại một tụ lạc có một Trưởng giả, cưới vợ thời gian không lâu, sự chung sống đầy sự hỷ ái. Sau đó họ sanh được một đứa con gái, theo năm tháng lớn khôn. Trưởng giả một ḿnh đích thân cầy ruộng. Khi ấy, có một người con của Cư sĩ, cha mẹ đều qua đời, thường vào rừng đốn củi, gánh về bán để nuôi sống. Người con của Cư sĩ gánh củi đến dưới gốc cây, nơi đầu đám ruộng để nghỉ vai, thấy Trưởng giả đích thân cầy ruộng, đến hỏi:

- Thưa cậu! Tại sao cậu già yếu, mà tự cầy bừa khổ cực như thế! Lẽ ra, tuổi của cậu, phải được nghỉ ngơi, hay đứng trên bờ chỉ tay năm ngón.

Trưởng giả nghe mát ḷng, liền trả lời:

- Này, cháu! Cậu không có anh em, lại không có con rể, không tự cày bừa th́ vấn đề cơm áo làm sao giải quyết ?!

Thanh nien kia nói:

- Cậu cho phép cháu cày thế để cậu nghỉ khỏe được không ?

Ông Trưởng giả hoan hỷ trao cầy cho chàng thanh niên cày hộ. Cày đến trưa, người nhà đem cơm đến, ông Trưởng giả bảo chàng thanh niên cùng ăn với ông. Ăn xong, chàng thanh niên nói:

- Cậu về nhà nghỉ để cháu cày đến chiều luôn. Nhưng cháu không biết nhà cậu, chiều tối cậu cho người đón cháu nơi đầu thôn.

Ông Trưởng giả nghe rồi, liền về nhà nghỉ. Chàng thanh niên cày đến chiều, mở trâu cho ăn cỏ; sau đó, gánh củi; lùa trâu về nhà. Khi đến gần thôn, Trưởng giả đón nơi đó, đưa chàng thanh niên về nhà.

Khi về đến nhà, chàng thanh niên quét chuồng ḅ, rải rơm khô, xông muỗi và bỏ cỏ cho trâu ăn. Ông Trưởng giả thấy chàng thanh niên chu toàn công việc như vậy, khởi ư nghĩ: “Ta nhờ chàng thanh niên này mà được sự an lạc, ta nên gả đứa con gái ta cho nó”. Sau bữa ăn tối xong, ông Trưởng giả nói:

- Này, cháu! Cháu ở đây siêng năng coi ngó gia nghiệp, đứa con gái của ta đây, ta sẽ cho nó làm vợ của cháu.

Chàng thanh niên thưa:

- Nếu được cậu thương như vậy là điều diễm phúc đối với cháu.

Từ đó, chàng thanh niên hết ḿnh phục vụ cho sanh nghiệp của gia đ́nh Trưởng giả. Bấy giờ, ông Trưởng giả có hai con trâu, mỗi con sự chăn giữ có khác, con lớn bẩm tánh hiền lành, con nhỏ tánh tham ăn, tuy đă xỏ mũi, nó vẫn ăn lúa, ăn bắp của người. Đồng tử chẳng giữ nổi giận, từ xa ném đá vào nó, đánh đuổi chẳng may găy mất một sừng. Do vậy, nó được gọi là con trâu găy sừng. Thời gian sau, nó vẫn ăn lúa của người, người chăn quăng cái liềm nên nó bị đứt đuôi. Cho nên gọi nó là con trâu găy sừng, cụt đuôi.

Thời gian sau nữa, chàng thanh niên, con ông Cư sĩ thưa với Trưởng giả rằng:

- Trước đây, cậu hứa cho con được kết thân…Hân hạnh cho con biết đến khi nào ?

Ông Trưởng giả vui vẻ trả lời:

- Được chứ, tốt lắm! Ông Trưởng giả nói với người vợ: ḿnh sắm sửa y phục và anh lạc…để làm lễ gả con gái lấy chồng, sắp đến ngày rồi đó.

Người vợ ngạc nhiên, hỏi:

- Em chưa nghe người nào đến xin cưới; vậy gả cho ai ?

Ông Trưởng giả nói:

- Tôi gả rồi.

Bà vợ hỏi:

- Ông gả cho ai ?!

Ông Trưởng giả thản nhiên bảo rằng:

- Tôi gả cho con ông Cư sĩ này đây.

Bà vợ hơi khó chịu nói:

- Con của ông Cư sĩ này ḍng họ thân thuộc thế nào ta không được biết, giống như hạt Bạch hồ tiêu, chẳng hiểu nó sanh từ đâu. Làm thế nào đem con gái của ḿnh vội gả cho nó được. Phàm vấn đề  hôn phối, bên nhà trai phải đến xin hỏi bằng nghi lễ trầu cau rượu chè, bên họ gái tương ưng ḿnh mới gả con chứ!

Ông Trưởng giả bảo với vợ:

- Từ khi con của ông Cư sĩ đến nhà ḿnh, nó thay thế làm những việc nhọc nhằn, nhờ vậy mà tôi được an lạc. Nếu, không có nó th́ tôi tự vất vả cày bừa khổ sở hay sao ?!

Bà vợ thẳng thắn nói với ông chồng:

- Thật sự, tôi không thể đem đứa con gái khả ái của tôi mà gả cho một tên làm thuê, làm mướn, để rồi người thế gian họ sẽ mỉa mai, chế nhạo.

Nghe vợ nói thế, ông Trưởng giả liền có suy nghĩ: “Nếu, Ta trả lời là không gả con gái th́ : “người làm” này sẽ bỏ ta đi liền. Thế là cái cày, cái cuốc lại tự đặt vào tay cực khổ của ta. Nay, ta nên ngụy đặt phương tiện đừng để cho nó bỏ ta đi liền”. Ngày nọ “người làm” lại thưa với ông Trưởng giả:

- Thưa ông Trưởng giả! Ông nên tổ chức lễ hôn nhơn cho rồi!

Ông Trưởng giả hoăn binh, bằng cách trả lời:

- Này, cháu (rễ)! Họ hàng thân tộc của ta số lượng đông đảo, khi tụ tập làm lễ, cần nhiều lương thực. Như vậy, đợi đến mùa Thu gặt xong thu hoạch mễ cốc rồi sẽ tổ chức.

Sau khi thu hoạch xong vụ lúa mùa Thu, chàng thanh niên lại yêu cầu tổ chức. Ông Trưởng giả lại hoăn binh lần thứ hai bằng cách bảo đợi đến sau khi mùa đường mía thu hoạch xong. Mùa đường  thu hoạch rồi, chàng thanh niên lại yêu cầu tổ chức lễ thành hôn. Ông Trưởng giả lại hẹn đến mùa lúa mạch để làm bánh, mới tổ chức đựơc. Mùa lúa mạch xong, ông Trưởng giả lại hẹn đến mùa lúa Tám gặt muộn rồi sẽ tổ chức.

Lúc bấy giờ, con của ông Cư sĩ, thấy sự tŕ hoăn kéo dài măi, bèn sanh ư nghĩ: “Hết hẹn mùa lúa, đến hẹn mùa đường… thế này là ta đă bị lừa dối. Ta nên nói cho mọi người biết điều này. Nếu, không được ta kiện đến cửa quan”. Mọi người nghe thanh niên phổ biến, họ đến bảo ông Trưởng giả:

- Ông hứa đă lâu tại sao không tổ chức lễ hôn nhơn ?.

Ông Trưởng giả nổi giận, nói:

- Các người nên biết: Thanh niên này là người làm công cho nhà tôi, lư do nào, tôi lại đem con gái của tôi gả cho nó ?!

Mọi người nghe nói đều làm thinh. Người thanh niên con của ông Cư sĩ thất vọng, nghĩ: “Đă không được tiền lại không được vợ! Luống phí thời gian, “Dă tràng xe cát”! Nay, ta đă gây tổn hại cho người này, sẽ mới ra đi. Thế là giữa trưa, anh ta lùa hai con trâu ra, cột vào gốc cây khô, dưới sức nóng thiêu đốt của mặt trời dùng gậy đánh một cách bạo ác. Lúc sắp đuổi trâu về. V́ vào giai đoạn ấy gần Kiếp sơ nên súc vật hiểu được tướng người. Trâu kia bị khổ sở v́ đánh đập. Con trâu lớn bèn nói với con ông Cư sĩ rằng:

- Này, người nam tử! Trước đây ông đối với tôi ái nệm cùng nhau ân nghĩa đồng như cha mẹ, ông luôn luôn thông cảm khó nhọc của tôi, tại sao nay, ông lại cột tôi vào cây khô, dưới ánh nắng thiêu đốt của buổi trưa và dùng gậy đánh đập tôi một cách tàn bạo thế này! Rồi để mặc tôi ông bỏ về nhà. Tôi đối với ông có tội lỗi oan khiên ǵ ?

Chàng thanh niên trả lời:

- Ngươi đối với ta không có lỗi nhưng, người chủ nuôi ngươi đối với ta có lỗi.

Trâu hỏi:

- Ông chủ tôi có lỗi ǵ ?

Chàng thanh niên trả lời:

- Trước kia ông ta hứa gả con gái cho tôi nay lại đổi ư!

Trâu nói:

- Như vậy, tại sao ông không kiện đến cửa quan, nhờ quan phân xử ?

Người thanh niên bi quan nói:

- V́ không có người làm chứng.

Con trâu liền bảo rằng:

- Chúng tôi v́ ông làm nhân chứng.

Chàng thanh niên ngạc nhiên nói:

- Ngươi nói tiếng người hay ngươi dùng ngữ âm trâu ?

Trâu nói:

- Chúng tôi không nói tiếng người, nhưng chúng tôi sẽ hiện tướng, khiến cho người ta hiểu đựơc. Ông phải v́ trâu tôi lập lời thề để cho người ta tin. Ông dẫn chúng tôi đến làm chứng khiến cho họ biết. Ông nhốt chúng tôi trong chuồng đừng cho ăn cỏ, đừng cho uống nước, đủ bảy ngày rồi, thả chúng tôi ra nơi nhiều cỏ nhiều nước và bằng cách nào đó để cho mọi người khách quan nh́n thấy và tin, nhận ra chúng tôi đang cấm khẩu không ăn cỏ và uống nước. Tôi hiện lên tướng mạo đến khi nào Đại thần của vua tin lời nói ông là đúng sự thật th́ khi đó chúng tôi mới ăn uống.

Thế là, chàng thanh niên nghe lời hai con trâu hứa như vậy, liền lùa nó đến chỗ cỏ xanh tươi cho nó ăn thật no rồi lùa về chuồng.

Chàng thanh niên, con ông Cư sĩ đích thân đến nhà vua thưa:

- Kính bạch Đại vương, tại thôn… có ông Trưởng giả hứa gả con gái cho tôi, khiến tôi làm việc nhiều năm, nay lại không gả!

Nhà vua cho đ̣i ông Trưởng giả hỏi để biết sự thật hư. Ông Trưởng giả nói không hề hứa như vậy.

Nhà vua hỏi con ông Cư sĩ:

- Có ai làm chứng việc này cho anh không ?

Muôn tâu Đại vương:

- Có, chàng thanh niên tâu.

Nhà vua hỏi:

- Nhân chứng là ai ?

- Nhân chứng không phải là người. - Thanh niên liền nói.

Nhà vua hỏi:

- Vậy th́ loài nào ?

Thanh niên tâu:

- Là loài trâu.

Vua hỏi:

- Nó nói tiếng người hay không nói tiếng người ?

- Nó không nói tiếng người. - Thanh niên trả lời.

Nhà vua hỏi:

- Như vậy tại sao thành “chứng” ?

Chàng thanh niên tŕnh bày:

- Nó có tín hịêu, khiến cho người hiểu được. Con trâu tôi đưa ra làm chứng nó sẽ bị nhốt trong chuồng bảy ngày, không cho ăn, không cho uống. Đủ bảy ngày, mới mở nó ra, chỗ có cỏ, có nước và khi làm chứng, nó có dấu hiệu đặc biệt để bầy tỏ cho đến khi nào Đại vương chưa tin lời nói của tôi là đúng sự thật th́ nó vẫn không chịu ăn uống. Việc này không đúng sự thật th́ tôi xin nhận tội tử h́nh.

Nhà vua bảo Đại thần:

- Y theo lời nói của thanh niên này t́m hiểu sự thật, hư!

Vị Đại thần phụng mệnh nhà vua, đem hai con trâu nhốt trong chuồng không cho ăn, không cho uống. Khi ấy, con trâu găy sừng cụt đuôi bảo với con trâu lớn rằng:

- Há mặt trời lại mọc ở phương Tây sao ?! Chỉ riêng độc nhất chúng ta phải gánh lấy cái kỳ hạn điên đảo này trong chuồng tối ṃ, không nghe tăm hơi cọng cỏ miếng nước là ǵ ?!

Con trâu lớn nói:

- Đâu chẳng phải chúng ta hứa với con ông Cư sĩ làm việc bảo chứng hay sao ? Chúng ta tự nhịn đói, nhịn khát bảy ngày, sau đó khi nào nhà vua chưa tin lời của con ông Cư sĩ th́ ta vẫn không ăn uống.

Con trâu găy sừng, cụt đuôi nói với con trâu lớn:

- Nếu thả tôi ra  th́ gặp đá tôi cũng nuốt luôn, huống là cỏ với nước!

Con trâu lớn nói:

- Con ông Cư sĩ thương yêu chúng ta nhiều điều giống như cha mẹ thương con. Chúng ta đâu được trái với lời hứa đối với ân nhân!

Con trâu găy sừng cụt đuôi nói:

- Tuy thật ái niệm ân đồng xong thân, xong thường gọi tôi bằng tên găy sừng, cụt đuôi. Mỗi lần tôi nghe gọi như vậy, tôi muốn lấy cái sừng c̣n lại đâm vào bụng ông ta!

Con trâu lớn nghe rồi lặng thinh không nói. Trong lúc ấy, con ông Cư sĩ lại đến thăm hai con trâu nơi chuồng và hỏi trâu:

-Được an ẩn chăng ?

Con trâu lớn nói:

- Tôi th́ được an ẩn, nhưng ông không được an ẩn.

Con ông Cư sĩ hỏi:

- Câu nói ấy là nghĩa ǵ ?

Con trâu lớn tŕnh bày:

- Ông bạn găy sừng, cụt đuôi nói: “Nếu, thả nó ra, gặp đá nó cũng nuốt luôn, huống là cỏ với nước”.

Con ông Cư sĩ hoảng hốt nói:

- Như thế th́ đêm nay tôi phải trốn thoát, chứ đối với nhà vua mà khi dối th́ mạng sống chỉ trong chớp mắt!

Con trâu lớn đề nghị:

- Ông khỏi phải trốn thoát! Ông lấy sợi dây sâu vào mũi ông bạn găy sừng, cụt đuôi của tôi, rồi cột sợi dây đó vào sừng của tôi. Ngày thả chúng tôi ra, nếu ông bạn tôi trái với lời hứa vội ăn uống th́ tôi dùng cặp sừng này đưa lổ mũi ổng lên. Khi đó, ông nói với mọi người: “Nay đây, hai con trâu này đang báo cáo với vị Hộ thế thứ năm”. Người đời đều công nhận và tin có năm loại ủng hộ là đất, nước, lửa, gió và mặt trời.

Liền ngay sau đó, con của Cư sĩ lấy sợi dây xâu mũi con trâu kia. Con trâu găy sừng cụt đuôi nói với con trâu lớn ông xem:

- Đây là một khổ h́nh ngược đăi đối với tôi!

Con trâu lớn trả lời:

- Bạn cứ xem đó như một chuỗi anh lạc được trao cho th́ làm ǵ có chuyện khổ.

Tiện thể con trâu lớn quấn sợi dây vào đầu sừng của ḿnh. Đủ bảy ngày vua và Đại thần đích thân đến xem, hai con trâu được thả ra khoảng đất có nhiều cỏ và nước. Con trâu găy sừng cụt đuôi thấy cỏ nước liền muốn ăn uống. Ngay lập tức, con tâu lớn đưa cặp sừng lên cao, làm cho lỗ mũi con trâu nhỏ hỉnh lên trời. Trước hiện tượng như vậy, nhà vua hỏi Đại thần:

- Tại sao hai con trâu đều hướng nh́n về mặt trời ?

Khi ấy một vị Đại thần có trí, tâu với nhà vua:

- Tâu Đại vương nay, hai con trâu này ư muốn tâu Đại vương: “Sự việc này không chỉ hai chúng nó làm chứng, mà luôn cả hai vị Hộ thế thứ năm kia, giữa thanh thiên bạch nhật cũng chứng tri điều này trước ta”.

Nhà vua thấy sự việc hết sức hy hữu, hạ lệnh cho các Đại thần:

- Súc sanh loài vô tri thức mà c̣n có thể v́ người làm “bảo chứng”. Sự việc không phải là không đúng sự thật nên cho cặp nam nữ này thành vợ thành chồng vui sống với nhau.

Sau đó, hai con trâu đựơc thả ra và nó ăn uống như thường, c̣n con ông Cư sĩ đắc thắng kia đă cưới người con gái ấy làm vợ.

Phật bảo các Bí-sô các ông nên biết:

- Loài Bàng sanh nghe lời mắng nhiếc c̣n ôm ḷng t́m cách làm hại huống là loài người. V́ vậy các ông không nên dùng ác ngữ mắng nhiếc kẻ khác. Đây là duyên khởi nhưng chưa Kiết giới.

Lúc bầy giờ, đức Phật lại bảo các Bí-sô :

- Khi nói lời mắng nhiếc, đối với việc làm của đời hiện tại, không thể thành tựu. Các ông lắng nghe:

- Ngày xưa, có ông Trưởng giả ở tại thôn nọ, sống với nghề đánh xe Trưởng giả có hai con trâu cái, một con trâu tên là Hoan Hỷ, con thứ hai tên là Mỹ Vị . Mùa xuân mỗi con đều sanh một con, sắc lông lang lổ, khi đă khôn lớn, con của con trâu Hoan Hỷ, sừng dài lớn; con của con Mỹ Vị đầu trọc không sừng, khi ấy ông Trưởng giả đặt tên một con tên là Hoan Hỷ Trường Giác, một con tên là Mỹ Vị Ngốc đầu. Hai con đều to béo, sức mạnh như nhau. Thời gian sau, mấy người đánh xe, nhơn lúc tập hợp trâu, cho nó uống nước nơi ao. Họ cùng nhau đặt vấn đề: “Trâu ai có sức hơn tuyệt đối ?”

Ai nấy đều gọi trâu ḿnh là hơn hết (thắng).

Ông Trưởng giả nói:

- Trâu tôi là tuyệt đối hơn tất cả (cực thắng).

Mọi người hỏi:

- Tại sao biết trâu của ông là cực mạnh hơn tất cả.

Ông Trưởng giả nói:

- Trâu tôi có thể kéo một xe nặng, từ dưới sườn núi lên trên đỉnh đồi.

Họ cùng nhau đánh cược năm trăm Kim tiền. Họ “cá” xong, đem trâu ḿnh, kéo một xe nặng, từ dưới sườn núi lên. Ông Trưởng giả liền quát trâu rằng:

- Hoan Hỷ sừng dài phải kéo nhanh lên Mỹ Vị trọc đầu cũng kéo gấp gấp lên.

Khi nghe tiếng quát tháo này, con trâu trọc đầu, như bị hủy nhục, đứng yên, không chịu kéo xe lên. Ông Trưởng giả nỗi giận đánh đập nó một cách tàn nhẫn. Mọi người thấy vậy nói:

- Coi bộ ông muốn giết con trâu hay sao! Nó đă không chịu đi th́ mở nó ra…

Thế là, ông Trưởng giả bị phạt năm trăm Kim tiền v́ thua trận, nên rất giận dữ. Hai con trâu bị đánh dập thậm tệ và bị cột dưới gốc cây khô. Súc sanh hiểu được tiếng nói của người; như trước đă nói. Khi ấy, hai con trâu bảo với ông Trưởng giả:

-Trước kia ông nuôi tôi mọi điều giống như cha mẹ. Tôi có lỗi ǵ mà ông đánh đập hành hạ thậm tệ thế này ?!

Ông Trưởng giả nói:

- Do bởi ngươi mà ta phải bị phạt năm trăm Kim tiền.

Con trâu Hoan Hỷ sừng dài nói với ông Trưởng giả:

- Do ông tạo tội nên ông phải bị phạt tiền, chứ chúng tôi đâu có lỗi ǵ!

Ông Trưởng giả:

- Tôi đă tạo cái khẩu nghiệp ǵ ?

Con trâu liền bảo với ông Trưởng giả:

- Tại sao trước mọi người ông mạ nhục tôi. Ông không gọi tên tôi một cách đẹp đẻ, mà ông gọi tôi là “Đầu trọc”. Nếu, ông đừng mạ nhục tôi, ông gọi tên tôi bằng tên đẹp đẻ th́ xe nặng bằng hai lần như thế tôi cũng kéo lên khỏi sườn núi. Ông cứ “cá” lại trọng lượng bằng hai lần, tiền “cá” cũng bằng hai, tức một ngàn Kim tiền, chúng tôi kéo cho ông xem.

Ông Trưởng giả nghi ngờ trả lời:

- Nay, các ngươi lại muốn tôi bị phạt nữa hay sao!

Trâu nói:

- Đừng mạ nhục tôi, quyết định tôi sẽ tận lực.

Thời gian sau, nhơn lúc cho trâu đi uống nước, nơi ao như trước, ông Trưởng giả công bố:

- Trâu tôi hơn hết (cực thắng)

Mọi người phát biểu:

- Nay, ông muốn bị thua phạt nữa hay sao ?

Ông Trưởng giả nói:

- Dầu tôi bị phạt th́ mất mát ǵ đối với các ông ? Kỳ này, xe chở trọng lượng bằng hai, tiền “cá” một ngàn Kim tiền.

Cam kết rơ ràng, mọi việc xong, chuẩn bị trâu kéo lên sườn núi. Ông Trưởng giả kêu con trâu:

- Này, Hoan Hỷ! Nên đến kéo gấp! Này, Mỹ Vị! Cần phải kéo mau! Hai con trâu nghe kêu tên ḿnh, một cách tŕu mến nên vui ḷng tận lực kéo chiếc xe lên đồi để chỗ đất bằng. Ông Trưởng giả đắc thắng, thu được một ngàn Kim tiền.

Khi ấy, vị Thiên thần từ trên hư không nói kệ:

Dù có chở nặng mấy

Từ dưới kéo lên đồi

Ḷng đôi trâu được vui

Dễ dàng xe này kéo

Lời khéo thuận được ḷng

Đôi trâu nghe vui kéo

Vượt khó kéo xe lên

Ngàn vàng, chủ được thắng

Cho nên thường ái ngữ

Lời chói tai, đừng nói

Bao giờ, lời ái ngữ,

Vô tội, thường an lạc.

Đức Phật bảo các Bí-sô:

- Loài Bàng sanh kia, khi nghe lời bị hũy nhục, c̣n có thể làm việc không lợi ích đối với chủ, huống là người bị hũy nhục, cho nên các Bí-sô không nên đối với người khác nói lời hũy nhục.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bằng mọi cách quỡ trách các Bí-sô rồi… (nói đầy đủ như trước) cho đến câu: Ta nay v́ các đệ tử chế Học xứ này như sau:

“Nếu lại có Bí-sô nói lời hũy nhục, Ba-dật-để-ca”.

+ Bí-sô, nghĩa như trước đă giải.

Lời hũy nhục: Tức là đối với người khác dùng lời nói để mắng nhiếc mạ nhục họ. Người kia hiểu được, phạm tội Ba-dật-để-ca (nói đầy đủ như trên).

 

CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA

QUYỂN 25 – (hết)