CĂN BẢN
THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA
QUYỂN 24
TAM TẠNG PHÁP SƯ
NGHĨA TỊNH PHỤNG CHẾ DỊCH.
Học xứ thứ
hai mươi bảy: Ở A-lan-nhã sáu đêm.
Lúc bấy
giờ, đức Bạc-già-phạm ở thành
Thất-la-phạt, rừng Thệ-đa, vườn
Cấp-cô-độc. Cách thành không xa có một tụ
lạc, ở đây có một trưởng giả giàu có,
nhiều của cải, lắm tôi tớ. Trưởng
giả có tâm tịnh tín, ý ưa hiền thiện.
Trưởng giả vì Tăng-già xây cất một trú
xứ, cao ráo, trang nghiêm, có cửa ngõ bằng loại đá
đẹp, xung quanh có lan can lộng lẫy huy hoàng. Có
cầu than hướng lên trời cao ngất, trông
thấy, ai cũng lấy làm vui. Nơi trú xứ này, thí
chủ mời sáu mươi Bí-sô về an cư, sau lễ
Tùy ý các Bí-sô đều cáo lui. Thí chủ thấy chùa
trống không, nên phải nhờ người bảo
vệ, không để kẻ trộm vào đánh cắp
giường nệm v.v…
Thời
điểm ấy, có sáu mươi Bí-sô du hành trong nhơn
gian, vừa đến tụ lạc, tìm nơi tạm trú.
Lúc cần lại có một người báo cáo với các
Bí-sô rằng:
- Thưa Thánh
giả! Tại sao Thánh giả không đến chùa nghỉ ?
Bí-sô đáp:
- Này Hiền
thủ! Nơi đây có chùa à ?
Người
ấy thưa:
- Ngoài thôn xóm
trong khu rừng có một trú xứ rất tốt.
Đoàn Bí-sô
sáu mươi vị liền đến đó. Người
bảo vệ từ xa trông thấy, vui mừng cất
tiếng chào:
- Thiện lai!
Thiện lai! Người bảo vệ liền cung cấp
phòng xá, giường nệm, ghế ngồi, nước
nôi… rồi thưa:
- Thánh giả!
Ngài có thể lượt nước trước. Con xin
phép, chạy đến cho trưởng giả biết.
Người
bảo vệ liền đến nhà ông Trưởng
giả, báo cáo:
- Nay
Trưởng giả được phước
đức tăng trưởng thêm nhiều: Có sáu
mươi vị Bí-sô đến nơi chùa.
Trưởng
giả nghe rồi, vừa ngạc nhiên vừa hết
sức vui mừng, liền ra lệnh cho gia nhân:
- Các
ngươi lấy tô, mật, đường phèn,
đường cát, thạch lựu…tất cả những
thứ làm nước phi thời đem đến chùa
gấp, có khách Tăng-già đến nơi trú xứ già lam
của mình cần làm nước phi thời để cúng các
Ngài cho đầy đủ!
Gia nhân nghe
rồi, liền đem các thứ đó đến chùa. Khi
ấy, các Bí-sô vừa lọc nước xong, mỗi
vị tìm chỗ đứng khắp nơi và tùy theo
chỗ đứng oai nghi các vị rất mực trong sáng.
Sau đó, Trưởng giả đến chùa, từ xa
đã trông thấy các Bí-sô như một rừng hoa sen
nở rộ trong chùa, ông ta càng sanh lòng kính tín, hướng
về Tăng-già, xúc cảm nói bài kệ:
Thôn xóm hay rừng xanh
Có hình ảnh
Tăng-già
Khiến lòng rộn
mến vui.
Nước
phi thời được làm xong, Trưởng giả
tự tay dâng lên các Bí-sô. Các Bí-sô thọ dụng nước
phi thời bảo mãn rồi. Trưởng giả kính
lễ dưới chân Tăng-già, tự tay bưng lò
hương, hầu các Tăng-già ra nhiễu
Chế-để rồi về lại chùa. Trưởng
giả quỳ thẳng trước toà ngồi của
Thượng tọa, Trưởng giả được
thượng tọa chú nguyện. Sau phần chú nguyện,
Trưởng giả thưa:
- Với
tấm lòng thành của con sáng mai giờ ngọ, con xin
mời Thánh chúng rủ lòng
thương đến nhà con, nhận bữa ăn
đạm bạc.
- Các Bí-sô
hứa khả.
Trưởng
giả lễ túc, cáo lui. Vào sáng ngày ấy giờ ngọ,
các thức ăn hào thiện được dâng lên cúng
dường Thánh chúng. Thánh chúng thọ dụng xong, trở
về lại trú xứ. Chiều lại, nước phi
thời lại được dâng cúng, rửa ráy xong, vì
Trưởng giả nói diệu pháp, Thượng toạ
lại chú nguyện. Thế rồi, Trưởng giả
tự tay bưng lò hương, đối trước
Thượng tọa bạch với Đại chúng:
- Kính thưa
Thánh giả! Trú xứ này, con không vì cá nhân, cũng không vì
thân thuộc mà xây cất. Với bổn tâm của con
chỉ vì Tăng-già nên tạo lập, cúi xin Tăng-già
rủ lòng thương về an cư kiết hạ nơi
trú xứ này.
Trưởng
giả thưa xong, các Bí-sô trả lời:
- Pháp chủ
Thế Tôn hiện nay trú tại thành Thất-la-phạt,
hằng ngày thuyết pháp thọ ký: Bí-sô… chứng A-la-hán,
Bí-sô… thành tựu quán bất tịnh, Thắng Quang
đại vương, Mạt-lợi phu nhơn, Tiên
thọ thế chúa, Tỳ-xá- Khư-mẫu và các
Trưởng giả, Bà-la-môn v.v… thảy đều kính tín.
Chúng tôi về đó vừa có pháp vừa có nghĩa
đều đồng thọ dụng. Chúng tôi muốn
về đó an cư.
Trưởng
giả tha thiết thành khẩn thưa:
- Vấn
đề lợi lạc thọ pháp nghĩa con không dám
biết còn vấn đề y thực tự thân con xin cúng
dường đầy đủ. Cúi xin Thánh chúng trú nơi
trú xứ này, mùa Hạ năm nay, tứ sự cúng
dường sẽ không thiếu thốn.
Thượng
tọa nghe xong phát biểu với các Bí-sô:
- Này các Cụ
thọ! Như đức Thế Tôn nói: “Nếu thí chủ
nào có lòng kính tín thì cần phải rủ lòng thương
để tăng trưởng tín tâm họ”. Nay, chúng ta
muốn lưu trú nơi đây, chúng ta cần quan sát cả
trong lẫn ngoài trú xứ.
Sau khi quan sát,
thấy vườn cây hoa đầy đủ sum mậu,
cảnh trí khả ái, Thượng tọa nói:
- Này, các
Cụ thọ! Trú xứ này hiện nay, hoa quả rất
nhiều, xong chưa đến thời kỳ chín. Nếu
tiền an cư thì không thuận lợi, chúng ta nên thọ
hậu an cư.
Thời
ấy, ở đây chỉ có một ngôi chùa do
Trưởng giả tạo lập, nên tất cả
phước nghiệp đều tập trung vào đó. Trong
tụ lạc này và các xóm phường xung quanh lại không
có chùa nào khác. Mọi người vì phước nghiệp
nên đổ dồn về đây. Các Bí-sô an cư nơi
trú xứ này thu hoạch rất nhiều lợi
dưỡng. Lễ Tùy ý xong vẫn chưa phân tán. Khi
ấy có bọn giặc Ca-lật-để-ca, cùng nhau
nghị bàn:
- Năm nay
chúng ta nên làm cái gì để trọn năm khỏi phải
vất vả vì miếng cơm manh áo ?
Một ý
kiến được phát biểu:
- Chúng ta nên
đến cướp đoạt của cải của
Bí-sô.
Các ý kiến
khác, phản đối:
- Bí-sô là
giới người, giữa ngày ăn một bữa mà
phải trải qua hằng trăm cửa ngõ nhà
người một cách vất vả mới đủ no
lòng, của cải ở đâu mà ta cướp
đoạt ?!.
Một
người trong số chúng, lão luyện việc của
cải của Bí-sô phát biểu:
- Các bạn
không biết gì họ cả, tuy họ đi xin ăn
hằng ngày mà họ nhiều của cải lắm. Sở
dĩ tôi biết điều này là vì Trưởng giả,
người lập ngôi chùa này, với lòng kính tín nhiệt
thành, tất cả phước lợi của ông ta
đều dồn vào đó vì ông ta chỉ lập một
cảnh chùa mà thôi. Ngoài ra, trong tụ lạc này và các thôn
phường xung quanh đều không có chùa nào khác, phước
nghiệp của bao nhiêu người đều dồn cho
các Bí-sô một cách dồi dào. Mùa an cư này, các Bí-sô nơi
đây nhận được rất nhiều lợi
dưỡng. Nếu các bạn không tin lời của tôi thì
cùng nhau đến quan sát thì biết.
Bọn chúng
nói:
- Nếu
như vậy thì ông bạn đi trước, chúng tôi
sẽ đến sau.
Tên giặc
nói:
- Dĩ nhiên,
tôi sẽ đi trước.
Thế
rồi người này sửa soạn quần áo đúng
phong cách của người đi chùa, với bước
đi chậm rải, miệng tụng kệ kinh, đi
quanh nơi Chế-để rồi vào chùa. Thời
điểm ấy, nơi cửa ngõ, có một Bí-sô Mạc-ha-la
đang đứng, tên giặc cướp kia vừa
thấy, sụp lạy, thưa hỏi:
- Kính thưa
Thánh giả! Chùa này là chùa của ai. Phòng ốc trang nghiêm,
khiến người thấy đều ưa thích, kẻ
muốn sanh Thiên thì có cầu thang lên thiên giới ?
Bí-sô giữ
cửa trả lời:
- Hiền thủ!
Chùa này là của Trưởng giả có tên…thiết lập.
Tên giặc
hỏi Thánh giả:
- Chùa này
thuộc lọai Tỳ-ha-la hay là Tỳ-già-đa ?
Bí-sô lại
hỏi:
- Thế nào là
Tỳ-ha-la ? Thế nào gọi
là Tỳ-già-đa ?
Tên giặc
nói:
- Tư cụ
đầy đủ là Tỳ-ha-la, tư cụ thiếu
thốn gọi là Tỳ-già-đa.
Bí-sô nói:
- Hiền
thủ, như vậy chùa này là chùa thuộc loại
Tỳ-ha-la, chứ chẳng phải thuộc lọai
Tỳ-già-đa. Tư cụ của chùa này hết sức
phong túc.
Tên giặc
bảo:
- Thức
ăn đầy đủ thì không ăn các thứ thô
thực, y phục đầy đủ thì không mặc các
thứ vỏ cây, vậy y phục của Ngài có nhiều
hay ít ?
Bẩm tánh
của Bí-sô Mạc-ha-la là chất phác khờ khạo, nên
được gọi là như vậy, liền dẫn tên
giặc cướp vào phòng, vừa chỉ lên cây sào tre
vừa nói:
- Ông cứ xem
y vật nơi cây sào này thì biết.
Tên giặc
thưa:
- Thưa Thánh
giả! Đây là y vật của Ngài hay của
Tăng-kỳ-da ?
Bí-sô đáp:
- Hiền
thủ, đây là vật của riêng tôi.
Giặc
lại hỏi:
- Thưa Thánh
giả! Ngài là cấp bậc Thượng tọa hay là Pháp
sư ?
Bí-sô bảo:
- Tôi chỉ là
Sa-di, cấp bậc thấp nhất ở trong Tăng.
Giặc
bảo:
- Tư
vật của Ngài, tôi biết rồi đó, xong nơi nhà
của chúng có ngọa cụ đầy đủ hay
chăng ?
Bí-sô nói:
- Tôi là cấp
bậc thấp nhất trong Tăng, còn đầy
đủ bảy việc như thế, huống là nhà
của chúng Tăng!
Giặc
hỏi:
- Kính thưa
thánh giả! Nơi nhà trú của chúng Tăng, hằng ngày
nấu bằng nồi đất hay bằng nồi
đồng ?
Bí-sô liền
chỉ vào nhà kho và nói:
- Trong kho này
đồ đồng đầy nhẫy cả.
Sau khi biết
được sự việc, đầy đủ như
vậy, tên giặc cướp muốn ra về, bèn nói:
- Kính thưa
Trưởng giả! Chúng tôi làm mất thì giờ của
Ngài rất nhiều, để khỏi trở ngại
nhiều về vấn đề tu thiện phẩm
của Ngài, chúng tôi xin phép cáo từ. Sau này có cơ hội
chúng tôi sẽ trở lại hỏi thêm.
Bí-sô chúc
họ:
- Trên
đường về mạnh khoẻ!
Tên giặc
cướp kính lễ cáo từ. Khi về đến
nơi, tên giặc cướp báo cáo với đồng
bọn:
- Tôi đã
đến chùa kia quan sát kỹ, thật sự của
cải của họ nhiều vô số, chúng ta nên
đến đó để cướp đoạt.
Một
người trong số của bọn chúng, phát biểu:
-Tôi từng
nghe nói có sáu mươi
người là tay thiện nghệ về bắn cung,
hiện tu nơi đó. Chúng ta không nên tháo thứ trong
vấn đề cướp đoạt. Chúng ta cần
chờ khi nào họ tập hợp để nghe kinh,
mới có thể đột nhập được.
Một
người khác trong bọn hỏi:
- Không biết
khi nào họ tập hợp để nghe kinh ?
Người
am hiểu về Tăng-già nói:
- Mồng tám
thì qua rồi, ngày mười bốn đến họ
sẽ tụng. Từ hôm đó họ bấm đốt
ngón tay sống trong chờ đợi. Ngày mười
bốn Thượng tọa tự thuyết
Ba-la-đề-mộc-xoa, làm việc Trưởng tịnh
xong, vị Bí-sô tụng kinh thăng toà sư tử, vừa
mới bắt đầu tụng kệ:
Phật ở trong
vườn Cấp
Các căn đều
tịch định
Bảo chúng nói như
vậy…
Ngay thời
điểm đó, bọn giặc gõ cửa kêu, Bí-sô
hỏi:
- Ai đó ?
- Kính thưa
Trưởng giả! Tôi là người trai lành!
Khi ấy, các Bí-sô khởi ý nghĩ:
“Người trong tụ lạc đến nghe pháp”. Do
vậy, các Bí-sô mở cửa cho họ vào. Cửa chùa
vừa mở bọn giặc lấn nhau để
đột nhập, tranh nhau vơ vét của chùa, Bí-sô
thấy vậy ngạc nhiên hỏi:
- Vừa
rồi các ông nói là người trai lành, tại sao bây
giờ vô trong chùa rồi, các ông lại tranh nhau cướp
đoạt của nhà chùa chúng tôi ?!.
Bọn
giặc thản nhiên trả lời:
- Chúng tôi có hai
tên: khi chưa vào cửa thì tên “người trai lành” vào
cửa rồi thì tên là kẻ cướp.
Các Bí-sô nói:
- Người
nào có hai tên như vậy, không phải là người
tốt!
Họ
cướp đoạt của cải xong, liền rút ra
khỏi chùa, các Bí-sô bàn luận vời nhau:
- Này các Cụ
thọ! Như đức Thế Tôn nói: “Vắt sữa
không nên vắt hết”. Nay Trưởng giả biết
chúng ta bị cướp đoạt thế này,
người sẽ xuất của cúng chùa, cung cấp y
phục cho chúng ta thì tài sản của người bị
khô kiệt. Do vậy, chúng ta không nên báo cáo cho Trưởng
giả biết sự việc, mà chúng ta nên âm thầm
đến nơi thành Thất-la-phạt, nơi đó
đồng phạm hạnh chúng ta sẽ giúp đỡ y
phục cho chúng ta.
Nhưng
rồi các Bí-sô đều than:
- Chúng ta
lộ hình thế này làm sao đi đường!
Một Bí-sô có
sáng kiến:
- Ban ngày chúng
ta vào rừng ẩn, ban đêm chúng ta đi.
Các Bí-sô
nhất trí như vậy rồi, không tin cho Trưởng
giả biết tự tiện ra đi. Theo phương án
đó, tuần tự các Bí-sô đến thành
Thất-la-phạt.
- Các vị
thuộc phái lộ hình nhổ tóc, giờ này đến
đây có việc gì ? Đây là trú xứ của Tăng-già
chứ không phải của các vị.
Các Bí-sô từ
ngoài cửa ngõ nói:
- Thưa
Cụ thọ! Chúng tôi là Bí-sô chứ không phải ngoại
đạo lộ hình.
- Bí-sô đâu
có nếp sống hình tướng phơi trần như
vậy. -
Các Bí-sô ngoài
cửa ngõ thưa:
- Chúng tôi
bị giặc cướp đoạt..làm sao bây giờ…?!
Bí-sô trú xứ
hỏi:
- Vậy quí
vị tên gì ?
- Đáp ràng:
- Chúng tôi tên là
Phật Hộ, Pháp Hộ, Tăng Hộ v.v…
Các Bí-sô trú
xứ vội đáp ngay:
- Thiện lai!
Thiện lai! Tôn giả!
Các vị trong
trú xứ vừa chào hỏi vừa mở cửa mời
vào.
Các Bí-sô đem
nhơn duyên này bạch Phật, Phật dạy:
- Nếu các
Bí-sô ở chỗ trống vắng, trong ba y nên gởi
một y nơi nhà thế tục”.
Như lời
Phật dạy, các Bí-sô ở chỗ trống vắng,
một trong ba y nên gởi một y nơi nhà thế
tục.
Các Bí-sô vâng
lời Phật dạy, đem y gởi nơi thôn xóm. Theo
tinh thần của giới trước đã chế, nên
các Bí-sô trở lại trong thôn xóm cùng y chung ngủ. Các
Bà-la-môn Cư sĩ nói:
- Vì sao thánh
giả lại ngủ nơi đây ?
Các Bí-sô
bảo:
- Vì tôi gởi
y nơi đây.
- Chúng tôi
đâu có ăn trộm y của Thánh giả! Nếu không tin
nhau thì Thánh giả nên mang y đến chỗ khác.
Các Bí-sô đem
vấn đề này bạch lên đức Phật.
Đức Phật dạy:
- Không nên
ngủ nơi đó.
Bấy
giờ, các Bí-sô lại đến trong thôn, khi tướng
mặt trời chưa xuất hiện, thấy các phụ
nữ nằm ngủ lộ hình.
Họ
hỏi:
- Tại sao
chưa sáng mà các Thánh giả lại đến ?
Bí-sô bảo:
- Vì nơi
đây có y của chúng tôi.
Họ nói:
- Chúng tôi
đâu có ăn trộm y của Ngài! nếu không tin thì các
Ngài nên mang y đến chỗ
khác.
Các Bí-sô đem
vấn đề này bạch Phật, Phật dạy:
- Không nên
đến ban đêm.
Các Bí-sô bèn
đến ngoài thôn đợi minh tướng xuất
mới vào. Do vậy, Bí-sô
bị bọn cướp, hổ lang, sư tử gây
khủng bố. Các Bí-sô đem vấn đề này bạch
Phật, Phật dạy:
- Nên ở
trong chùa đợi tướng mặt trời xuất
hiện mới đi ra.
Các Bí-sô khi có
việc của Tam bảo, cần ra ngoài giới,
đều không dám đi, vì nghĩ rằng: “Mình có y gởi
nơi nhà thế tục”. Các Bí-sô đem vấn đề
này bạch Phật, Phật
dạy:
- Bí-sô ở
nơi trống vắng (A-lan-nhã) được lìa y sáu
đêm, đến chỗ khác để ngủ.
Khi ấy.
Lục chúng Bí-sô ra ngoài giới đến bảy đêm
ngủ, các Bí-sô nói:
- Này, Cụ
thọ! Đức Phật cho phép lìa y ra ngoài sáu đêm
để ngủ, tại sao các Ngài lại ngủ
đến bảy đêm ngoài giới ?!
Lục chúng
nói:
- Đức
Phật khiến trải sáu đêm ngủ ngoài giới,
chúng tôi thêm đêm thứ bảy, đâu có uống
rượu, ăn tỏi chăng ?
Các Bí-sô
thiểu dục nghe nói như vậy, cùng nhau sanh hiềm
tiện, phát biểu:
- Đức
Phật cho phép sáu đêm, lìa y ngủ, tại sao Bí-sô
lại ngủ đến đêm thứ bảy ?!
Thế
rồi Bí-sô đem nhân duyên này bạch với đức
Phật. Đức Thế Tôn dùng nhơn duyên này tập
hợp các Bí-sô… cho đến câu: vì các Bí-sô chế Học
xứ này như sau:
“Nếu
lại có số đông các Bí-sô ở nơi A-la-nhã, thọ
hậu an cư, nơi có sự khủng bố, nạn
sợ sệt. Bí-sô muốn gởi một trong ba y nơi
thôn xóm. Nếu Bí-sô có duyên sự cần ra ngoài giới
A-lan-nhã, được với thời gian sáu đêm, lìa y
ngủ. Nếu quá hạn, Ny-tát-kỳ
Ba-dật-để-ca”
+ Số
đông các Bí-sô: Số đông là chỉ cho trên ba
người.
Bí-sô : Là
Lục chúng. Trú xứ A-lan-nhã; cách thôn xóm năm trăm cung.
Một
Câu-lô-xá gọi là A-lan-nhã xứ. Bốn Câu-lô-xá gọi là
một Du-thiện-na.
Từ bảy
Cực vi cho đến Du-thiện-na, có mười tám
lọai sai khác. (Như trước đã nói).
Trú xứ
tức là chùa. hậu an cư: là mười sáu tháng sáu
mới bắt đầu.
Chỗ có
sự khủng bố… Tức nói có giặc cướp,
hổ lang, sư tử…
Nơi có
nạn lo sợ nghĩa là nơi có mồng muỗi,
rắn rết, gió nóng v.v…
Nói Bí-sô
gởi một trong ba y nơi thôn xóm: Ba y là Tăng-già-chi,
Ốt-đát-la-tăng-già, An-đát-bà-ta.
Thôn: Nơi có
đường xá chợ quán… có duyên sự ra ngoài giới:
Tức là có việc của Tam bảo hoặc là việc
riêng của mình mà hợp pháp.
Ra ngoài
giới: Tức ra ngoài giới vức của trú xứ quy
định. Thời gian sáu đêm: là được
đến đêm thứ sáu.
Lìa y ngủ:
Tức hướng về thôn xóm mà mình gởi y để
ngủ. Quá hạn: tức là đến đêm thứ
bảy, tướng mặt trời xuất hiện.
Phạm tội Xả đọa và phương pháp xả,
sám hối, như đã nói nơi giởi trước.
Trong vấn
đề này tướng phạm của nó như thế
nào ?
Nếu Bí-sô,
trong ba y gởi một cái nơi thôn xóm, từ nơi giới
A-lan-nhã, lìa quá sáu đêm, phạp tội Xả đọa.
Nếu có
một trong tám nạn xảy đến thì bỏ đi
không phạm.
Lại
trường hợp không phạm nữa là: Người
phạm giới lần đầu, hoặc si cuồng, tâm
lọan thống não bức bách.
Học xư thứ
hai mươi tám:
Xin áo tắm mưa quá
sớm, dùng quá muộn.
Lúc bấy
giờ, Đức Phật ở thành Thất-la-phạt,
rừng Thệ-đa, vườn Cấp-cô-độc.
Như đức Phật đã nói: “Bí-sô nên tìm cầu y
tắm mưa”. Thế là Lục chúng Bí-sô tìm cầu trước quá sớm,
sử dụng quá muộn về sau, công việc bề
bộn, phế bỏ việc chánh tu. Bí-sô thiểu dục,
bèn sanh hiềm tiện:
- Tại sao
các Ngài cố ý làm trái lời Phật dạy.
Bí-sô thiểu
dục đem vấn đề này bạch Phật. Lúc
bấy giờ đức Thế Tôn dùng nhơn duyên này
tập hợp các Bí-sô… cho đến câu: Chế Học
xứ này như sau:
“Nếu
lại có Bí-sô, mùa xuân còn một tháng, đến tìm cầu
y tắm mưa sau đó còn nửa tháng đem dùng. Nếu
Bí-sô mùa Xuân còn hơn một tháng, tìm cầu y tắm
mưa, chưa đến sau nửa tháng đã đem dùng,
Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca”.
+Nếu
lại có Bí-sô: Chỉ cho Lục chúng Bí-sô và đồng
lọai. Mùa Xuân còn một tháng: tức còn một tháng
nữa, đến mùa an cư, từ mười sáu tháng
tư đến mươi lăm tháng năm, nên tìm
cầu y tắm mưa: tức vật dùng để
tắm rửa. Còn nửa tháng đem dùng: tức là quy
định mức thời gian bắt đầu sử
dụng, còn nửa tháng nữa đến ngày lễ Tùy ý,
từ mồng một tháng tám về sau. Nếu Bí-sô chưa
đến thời gian mùa Xuân còn một tháng, đã tìm
cầu y tắm mưa, đến sau nửa tháng còn dùng
phạm tội đồng như trước. Pháp thức
Xả và sám hối, như trước đã nói.
Trong vấn
đề này tướng phạm như thế nào ?
- Nếu Bí-sô
muốn tiền an cư, tức mùa Xuân còn một tháng
nữa tìm cầu y tắm mưa. Nếu Bí-sô hậu an
cư, bèn khởi ý nghĩ: “Người kia tìm cầu y
tắm mưa, tại sao mình không tìm cầu! Nếu tìm
cầu được, phạm Ny-tát-kỳ
Ba-dật-để-ca”.
Nếu Bí-sô
hậu an cư, người kia thọ trì y tắm mưa, cho
đến hết tháng tám mà vẫn còn dùng. Nếu
người tiền an cư nghĩ: “Người kia còn
dùng y đến hết tháng tám, tại sao mình không dùng ?”
Nếu thọ dụng, phạm tội Xả đọa.
Nếu Bí-sô
theo thời gian nhập Hạ của mình mà tìm cầu y
tắm mưa thì không phạm.
Lại
trường hợp không phạm nữa là: Người
phạm giới ban đầu, hoặc si cuông, tâm loạn,
thống não, bức bách.
Học
xứ thứ 29: Xoay vật của chúng về cho mình.
Lúc bấy
giờ, đức Phật ở tại trú xứ Thích-ca,
tụ lạc của người bán lau. Lúc ấy, có
một Trưởng giả tự khởi lòng tin sâu xa sanh
ái kính, tạo một trú xứ, cúng riêng cho Thánh giả
La-hỗ-la. Nhận được trú xứ, La-hỗ-la
thường cư trú nơi đây. Thời gian, có duyên
sự La-hỗ-la phải đi đến thành
Thất-la-phạt. Trưởng giả khi nghe Thánh giả
La-hỗ-la bỏ trú xứ đi, chùa không có người,
bèn đem chùa cúng cho Tăng-già. Sau đó, Cụ thọ
La-hỗ-la công việc nơi thành Thất-la-phạt xong,
trở lại trú xứ. Đã rõ việc, Trưởng
giả đã cúng trú xứ cho Tăng-già. Thế rồi,
La-hỗ-la đến đức Thế Tôn, đảnh
lễ và trình bày sự việc. La-hỗ-la xin tôn ý của
đức Thế Tôn, Ngài dạy La-hỗ-la:
- Ông
đến chỗ trưởng giả nói như thế
này: “Trưởng giả đối với tôi,
Người có thấy tôi thân nghiệp ngữ nghiệp có
làm điều gì bất thiện mà đem lòng cơ
hiềm như vậy ?”
La-hỗ-la
phụng hành theo lời Phật dạy đến
Trưởng giả đặt vấn đề
đầy đủ như trên. Trưởng giả nghe
xong liền kính lễ La-hỗ-la và thưa:
- Thật
sự tôi không thấy Thánh giả về thân nghiệp,
ngữ nghiệp có điều chi bất thiện! Mà
khởi tâm cơ hiềm khinh tiện.
La-hỗ-la
liền chú nguyện cho Trưởng giả vô bệnh
trường thọ, rồi trở về đức
Thế Tôn đảnh lễ và kính bạch:
- Bạch
Thế Tôn con đã vâng lời dạy của Ngài
đến chỗ Trưởng giả bảo rằng:
“Phải chăng đối với thân, ngữ nghiệp
của tôi, trưởng giả thấy có điều gì
bất thiện mà sanh lòng cơ hiềm khinh tiện sao?”
Trưởng giả thưa với con rằng: “Thánh
giả, tôi quả thật không thấy thân, ngữ
nghiệp của Thánh giả làm điều gì bất
thiện mà cơ hiềm khinh tiện” con xin trình bày Thế
Tôn chứng biết.
Lúc bấy
giờ, Cụ thọ A-nan-đà đang đứng
quạt đức Phật, Ngài bảo Cụ thọ
A-nan-đà:
- Nay, ông nên
đến tụ lạc của người bán lau, bảo
các Bí-sô tập hợp nơi nhà ăn như thường
lệ…
Thế là
Cụ thọ A-nan-đà phụng hành lời Phật
dạy, đến đó, thông tin cho các Bí-sô biết quy
tụ. Các Bí-sô nơi tụ lạc của người buôn
bán cỏ lau tập hợp xong, A-nan-đà trở về
đảnh lễ Phật và trình Phật sự việc
tập hợp Bí-sô đã hoàn tất. Sau đó, đức
Thế Tôn đến nơi nhà chúng đang hợp, ngồi
chỗ ngồi soạn sẵn, bảo các Bí-sô:
- Nếu có thí
chủ đem của thí, thí riêng cho một vị nào,
thời gian sau lại đem vật thí ấy thí cho một
vị khác. Trường hợp này người thí là phi
pháp, người thọ cũng phi pháp, gọi là thọ
dụng bất tịnh. Như vậy, nếu lại
chuyển đến hai người, ba người
hoặc cúng cho Tăng-già đều gọi là cúng phi pháp,
thọ phi pháp, thọ dụng bất tịnh.
Này, các Bí-sô!
Trường hợp này, nếu có thí chủ dùng của thí
cúng riêng cho hai người, sau lại chuyển của thí
này thí cho một người thì người thí, kẻ
thọ đều gọi là phi pháp, thọ dụng
đều gọi là thọ bất tịnh. Như vậy,
nếu lại chuyển thí cho hai người, ba
người hoặc cho Tăng-già, người thí, kẻ
thọ đều gọi là phi pháp, thọ dụng
đều gọi là thọ bất tịnh.
Này, các Bí-sô
nếu có thí chủ dùng của thí cúng riêng cho ba người,
sau lại chuyển của thí ấy cúng cho một, hai, ba
người khác, hoặc cúng cho Tăng-già, kẻ thí,
người thọ đều gọi là phi pháp, thọ
dụng đều gọi là thọ bất tịnh.
Này, các Bí-sô!
Nếu có thí chủ dùng của thí, cúng cho Tăng-già, sau
lại chuyển của thí này cúng cho một, hai, ba
người, hoặc cho Tăng-già khác, kẻ thí
người thọ đều gọi phi pháp, thọ
dụng đều gọi là thọ bất tịnh.
Này các Bí-sô!
Nếu Tăng-già bị phá làm hai bộ, trước thí cho
bộ này, sau lại đem thí cho bộ kia, đều là
bất tịnh thọ dụng.
Này, các Bí-sô!
Nếu có thí chủ dùng của thí, cúng riêng một
người, sau không chuyển thí cho một người nào
khác, kẻ thí người thọ đều gọi là
như pháp, thọ dụng gọi là thanh tịnh thọ.
Như vậy, nếu thí cho hai, ba người hay
Tăng-già, thí cho bộ này không chuyển cho bộ khác
thọ dụng đều gọi là thanh tịnh thọ
(nói đầy đủ như trước).
Này, các Bí-sô!
Trước là như pháp thí, sau là phi pháp thí. Này, các Bí-sô!
Đất thuộc về nhà vua, vật thuộc về thí
chủ, y bát v.v… các vật thuộc Bí-sô. Thí chủ cúng chùa
hay các vật dụng, có hư hỏng phải nên tu bổ,
không nên đem vật thí này thí cho người khác.
Này, các Bí-sô!
Nên trao lại cho La-hỗ-la trú xứ mà trước kia thí
chủ đã cúng cho La-hỗ-la.
Các Bí-sô
phụng hành lời Phật dạy, trao trú xứ đó
lại cho La-hỗ-la. Đây là duyên khởi, xongđức Thế
Tôn chưa chế giới.
Đức
Phật ở thành Thất-la-phạt, rừng
Thệ-đa, vườn Cấp-cô-độc. Một
Tỳ-kheo khất thực trao cho một trưởng
giả ba pháp quy y và năm Học xứ. Sau một
thời gian, Tỳ-kheo vì Trưởng giả khen ngợi
bảy món hữu sự phước nghiệp.
Trưởng giả nghe xong, bạch:
- Kính thưa
Thánh giả! Nay, tôi theo khả năng muốn làm chút ít
hữu sự phước nghiệp.
Bí-sô hỏi:
- Muốn làm
việc gì?
Trưởng
giả thưa:
- Muốn cúng Phật và Bí-sô Tăng.
Tỳ-kheo
hỏi:
- Có chút gì
về y vật để cúng hay không?
- Thưa Thánh
giả! Tôi nghèo, chỉ có một cặp Bạch
điệp, Thánh giả có thể nhơn danh tôi đến
thỉnh Phật và Tăng, rủ lòng thương, sáng mai
đến nhà tôi dùng cơm.
Bí-sô khất
thực đến trong vườn Cấp-cô-độc,
thấy các Bí-sô đều có mặt đông đủ. Bí-sô
khất thực nhơn danh Trưởng giả thỉnh Phật
và Tăng ngày mai đến nhà Trưởng giả thọ
trai. Các Bí-sô cùng nói với nhau:
- Đây là
người thí chủ do vị Bí-sô khất thực giáo
hoá.
Một vị
trong số Bí-sô hỏi:
- Nhà
Trưởng giả này có vật thí hay không có vật thí?
-
Trưởng giả này nhà nghèo, chỉ có một cặp
điệp dùng để phụng thí. - Bí-sô khất
thực trả lời.
Khi nghe
thế, Ô-ba-nan-đà liền có ý nghĩ: “Người này
thỉnh Phật và Tăng mà dùng một cặp điệp
để dâng cúng, chắc chắn y tài kia là vậy quí giá.
Nếu, ta không dùng cách chiếm đoạt được
y tài này thì ta không mang tên Ô-ba-nan-đà nữa”. Nghĩ như
vậy rồi, suốt đêm vất vả trong tư
tưởng về kế hoạch đoạt thủ y tài.
Trời vừa sáng Ô-ba-nan-đà liền đắp y
bưng bình bát đến nhà Trưởng giả. Nhìn
thấy Trưởng giả chuẩn bị thức ăn
uống đầy đủ, Ô-ba-nan-đà hỏi:
- Gia đình
Trưởng giả sắp có lễ gì?
Trưởng
giả thưa:
- Nay, gia
đình tôi chuẩn bị hào soạn để cúng
dường Phật và Tăng.
Ô-ba-nan-đà
liền thuyết giảng để thuyết phục:
- Này, ông
Trưởng giả! Như đức Như Lai đã
thiện thuyết: “Nếu có chúng sanh, phần đầu
của ngày dùng thân ngữ tâm, tu các thiện nghiệp,
người ấy được gọi là sơ phần
thiện. Nếu có chúng sanh, giữa ngày dùng thân ngữ tâm,
tu các thiện nghiệp. Người ấy được
gọi là trung phần thiện. Nếu có chúng sanh, phần
cuối của ngày dùng thân ngữ tâm, tu các thiện nghiệp.
Người ấy được gọi là hậu
phần thiện.” Nay, Trưởng giả thu hoạch được tam
nghiệp sơ thiện. Trưởng giả tự tay lo
liệu lấy thức ăn hào thiện để cúng
dường Phật và Tăng, không biết Trưởng
giả có chút ít y tài để dâng cúng Phật, Tăng hay
chăng ?
Trưởng giả
đáp:
- Nhà tôi nghèo
khổ chỉ có một cặp Bạch Điệp…!
Ô-ba-nan-đà
bảo:
- Tạm có
thể đưa tôi xem cặp Bạch điệp đó
được không ?
Khi ấy,
Trưởng giả liền lấy y đó ra, đưa
cho Ô-ba-nan-đà xem.
Ô-ba-nan-đà
khen:
- Thiện tai,
đây là y tài mới tốt lắm! Xong như thế này là
Trưởng giả có cái phước Xả thí mà không có
phước thọ dụng. Tại sao vậy ? Phật và
đồ chúng cả thảy là 1250 vị, chỉ nhận
được một y tài vật này, phải chờ khi
nhận được 1249 y tài nữa mới có thể
chia được. Như vậy chiếc y này treo trên cây
sào tre cho đến cũ hư hao mòn mới dùng. Lại
như đức Phật nói: “Nếu Tăng-già
được một ít thực lợi, như một lá
cây nhỏ cũng chia đồng cho nhau, được
một chiếc y thì nên xé ra làm tiêm đèn, bình đẳng
chia cho nhau. Trưởng giả cúng y tài tốt đẹp
như thế này để rồi sẽ xé ra chia cho nhau làm
tiêm đèn như vậy hay sao ? Còn đâu được
phước lợi của sự thọ dụng ?
Ông
Trưởng giả nghe Ô-ba-nan-đà phân tích thuyết
giảng như vậy, liền hỏi:
- Thế thì
làm thế nào để có phước lợi thọ
dụng ?!
Ô-ba-nan-đà
đắc ý, trả lời:
- Trưởng
giả có thể cúng cho người thuộc dòng họ
Thích chủng xuất gia, lão thông Tam tạng, là bậc
đại Pháp sư khéo hay trình bày, biện tài vô ngại.
Trưởng giả đem y này cúng cho vị đó tức
là đủ các phước huệ thì các phước
thọ dụng.
Trưởng
giả tỏ vẽ mừng hỏi:
- Thưa Thánh
giả! Nơi nào để có được một
vị đầy đủ phước điền như
thế để tôi dâng cúng ?!
Ô-ba-nan-đà
tự tin bảo rằng:
- Chính tôi là
vị ấy.
Lập
tức Trưởng giả kính lễ và đem y tài dâng
cúng, rồi thưa:
- Thưa Thánh
giả, Ngài vì con mà rủ lòng từ mẫn nhận cho y
này.
Ô-ba-nan-đà
nói:
-
Trưởng giả tuy hiểu rõ sự lợi ích của
vấn đề, cúng dường nhưng chưa hiểu
rõ lễ nghi dâng cúng. Trưởng giả ráng đợi
thêm một chút nữa, khi đức Phật và Tăng
đến, thọ trai xong, Trưởng giả đem
Bạch điệp đến trước Thượng
tọa, báo cáo với Đại chúng rằng: “Tùy hỷ!
Sau đó sẽ đem đến trao cho tôi.”
Ông
Trưởng giả nghe xong, liền thưa:
- Tôi sẽ
cúng như Thánh giả dạy.
Lúc bấy
giờ, Trưởng giả lau quét sân nhà, bày trải
ghế toà, cắm hoa, xong trầm, để nước
rửa nơi cửa, sai sứ giả đến bạch
Phật và Tăng: “Giờ đã đến”.
Bấy
giờ là phần đầu của ngày, đức Thế
Tôn và Bí-sô Tăng-già, chấp trì y bát, đến nhà
Trưởng giả, theo thứ tự an tọa.
Trưởng giả thấy Đại cúng an tọa xong,
tự tay dâng cúng các thức ăn hào thiện lên
đức Phật và Đại chúng thọ trai xong,
Trưởng giả đem Bạch điệp đến
trước Đại chúng, xướng: Tùy hỷ!
Rồi trao cho Ô-ba-nan-đà .
Phần
cuối, đức Thế Tôn đích thân chú nguyện
rồi, từ toà đứng dậy, trở về trú
xứ.
Sau đó, Bí-sô
giữ kho chứa y bảo người Thọ sự
rằng:
- Cụ thọ đến
Ô-ba-nan-đà hỏi lấy chiếc Bạch điệp tùy
hỷ kia.
Vị thọ
sư đến đòi:
- Thưa
Đại đức, vật cúng dường hôm nay cho
Đại chúng xin trao lại cho tôi.
Ô-ba-nan-đà
đáp rằng:
- Cụ
thọ, ông đã vì tôi mang điệp về chùa, bây giờ
ông đem điệp đến giao lại cho tôi phải
không ?
Thọ sự
bảo rằng:
- Hoàn trả
cái gì mà hoàn trả ?!
Ô-ba-nan-đà
gằn giọng:
- Nghĩ sao mà
không giao lại ?
Vị thọ
sự liền đáp rằng:
- Đây là
vật cúng cho Đại chúng.
Ô-ba-nan-đà
bảo rằng:
- Cụ
thọ à! Y bát của Cụ thọ vì sao không đem trao
lại khiến tôi đem y bát cúng cho Tăng-già, tôi không giao
cho Cụ thọ đâu.
Khi ấy,
vị Bí-sô khất thực đến nhà ông Trưởng
giả, hỏi:
- Vì lý do nào mà
sấm sét chỗ này lại mưa chỗ khác ?!
Trưởng
giả thưa:
- Thưa Thánh
giả: Tôi có lỗi gì.
Bí-sô bảo
rằng:
- Trước
kia Trưởng giả dùng Bạch điệp cúng cho chúng
Tăng, nghĩ sao lại xoay cúng riêng cho Ô-ba-nan-đà ?!
Trưởng
giả đáp:
- Thưa Thánh
giả, tôi muốn làm sao được ? Chính Đại
đức Ô-ba-nan-đà đến nhà tôi nói: “Ông có cái
phước Xả thí mà không có cái phước thọ
dụng. Tại sao vậy ? Đồ chúng của
đức Phật có đến 1250 vị…(nói đầy
đủ như trước) cho đến câu sau đó
sẽ đem trao điệp cho tôi”. Tôi nghe xong làm theo tôn ý
của Đại đức Ô-ba-nan-đà, chứ tôi
đâu có lỗi!
Vị Bí-sô
khất thực nghe xong, trở về lại trú xứ, các
Bí-sô thấy hỏi:
- Ngài là
người khất thực, từ lâu mới giáo hoá
được một thí chủ, tại sao nay lại có
chuyện sấm sét một nơi, mà mưa một nơi
?!
Bí-sô khất
thực trình bày lại sự việc một cách
đầy đủ rồi nói:
- Như
thế thì tôi với ông Trưởng giả đâu có
lỗi gì ?!
Sau đó, có
một người đến nhà Trưởng giả
bảo rằng:
- Ông có
phước thí mà không hưởng được
phước đó…(lời thoại như trên đã trình
bày) cho đến xướng Tùy hỷ rồi đem
đến giao cho tôi. Khi ấy, Trưởng giả y theo
lời mà làm. Tôi và với vị kia có lỗi gì đâu ?
Bấy
giờ, các Bí-sô thiểu dục nghe nói rất sanh hiềm
tiện:
- Tại sao
Bí-sô biết vật người cúng cho Tăng lại xoay
về riêng cho mình ?! Các Bí-sô đem nhơn duyên này bạch
Phật, Phật tập hợp các Bí-sô, hỏi
Ô-ba-nan-đà rằng:
- Thật
sự ông có xoay vật của Tăng về cho mình hay không
?
- Ô-ba-nan-đà
xác nhận là có. (nói đầy đủ như
trước) cho đến câu: nay Ta vì các Bí-sô chế
Học xứ này như sau:
“Nếu
lại có Bí-sô biết người khác cúng vật cho chúng
Tăng, mà tự xoay về cho mình, Ny-tát-kỳ
Ba-dật-để-ca”.
+ Nếu lại có Bí-sô: Chỉ
cho Ô-ba-nan-đà và đồng bọn. Biết hoặc
tự biết hay nhân người khác nói mà biết. Tăng
chúng: Tức hàng Thanh-văn đệ tử Phật. Chúng
vật: Tức chỉ cho thực lợi và y lợi. Trong
trường hợp này nói về y lợi. Xoay: Vật
thuộc người khác mà chuyển về cho mình.
Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca, pháp thức Xả và sám
hối như trước đã nói.
Trong đây,
vấn đề tướng phạm như thế nào ?
Nếu Bí-sô
biết vật ấy thuộc về của một Bí-sô
khác mà xoay về cho mình. Khi xoay phạm tội Ác tác; khi
nhận được phạm tội Xả đọa.
Như vậy cho đến biết vật thuộc
của hai, ba người, hoặc thuộc về Tăng,
tự xoay về cho mình, đều phạm tội
đồng như trước.
Nếu Bí-sô
biết vật thuộc một Bí-sô, xoay cho người
khác, khi xoay phạm tội Ác tác; khi người kia nhận
được cũng phạm tội Ác tác.
Như vậy
cho đến biết vật thuộc một người,
xoay về cho hai, ba người, hoặc xoay về cho
Tăng-già, phạm tội đồng như trước.
Nếu Bí-sô
biết vật thuộc về Tăng-già, xoay về cho
một người, khi xoay phạm tội Ác tác. Khi
người ấy nhận được cũng phạm
tội Ác tác.
Như
vậy, cho đến biết vật thuộc của
Tăng-già, xoay về cho hai, ba người, khi xoay phạm
tội Ác tác, khi người kia nhận được
cũng phạm tội Ác tác.
Nếu Bí-sô
biết vật thuộc về của Tăng-già này, xoay cho
một Tăng-già khác, khi xoay phạm tội Ác tác; Khi
Tăng-già kia nhận được cũng phạm
tội Ác tác.
Nếu
biết vật cho Bí-sô Tăng-già, xoay cho Bí-sô-ni Tăng-già;
biết vật cho Bí-sô-ni Tăng-già; Xoay cho Bí-sô Tăng-già,
biết vật cho hai bộ Tăng-già, xoay cho Bí-sô-ni
Tăng-già; Biết vật cho hai bộ Tăng-già, xoay cho
Bí-sô-ni Tăng-già; Biết vật cho Bí-sô Tăng-già, xoay cho
hai bộ Tăng-già; Biết vật cho Bí-sô-ni Tăng-già,
xoay cho hai bộ Tăng-già.
Nếu
Tăng-già kia bị phá làm hai bộ, biết vật cho
bộ này, xoay cho bộ kia, hoặc biết vật cho chùa
này xoay cho chùa khác; Biết vật cho phòng này xoay cho phòng khác,
biết vật cho mái hiên này, xoay cho mái hiên khác… cho
đến lần lượt cùng nhau xoay chuyển
đều phạm Ác tác.
Nếu Bí-sô
biết vật cúng cho Phật tượng nơi đây,
xoay cúng cho Phật tượng nơi kia, biết vật
cúng cho Tốt-đỗ-ba này, xoay cúng cho
Tốt-đỗ-ba kia; Biết vật của tầng
dưới, chuyển cho tầng thứ hai, thứ ba,
hoặc chuyển cho pháp thân, hoặc vác lên bậc cấp,
hoặc vật bên này xoay chuyển đưa sang bên kia,
hoặc xoay xở trao cho phú bát, hoặc xoay chuyển cho
bánh xe Phương đài giáp với bậc cấp
đầu, cho đến trụ giữ Pháp luân bảo bình
hoặc từ nơi này chuyển xuống làm nền cho
đến cùng nhau chuyển qua, chuyển lại một
cách tự tiện đều phạm Ác tác.
Nếu,
quyền lực của nhà vua bắt phải xoay, phải
chuyển thì không phạm tội tức không phạm.
Nếu
biết vật cho người nghèo này, xoay chuyển cho
người nghèo kia, phạm tội Ác tác.
Nếu tìm cách
khác để giúp mà không có thì chuyển không phạm.
Nếu Bí-sô
đem thức ăn cho Bàng sanh này, xoay cho Bàng sanh kia,
phạm tội Ác tác.
Nếu, tìm
cách khác để cho mà không có thì chuyển không phạm.
Nếu,
vật tính cho Bàng sanh, xoay cho người, vật tính cho
người xoay cho Bàng sanh, phạm tội Ác tác.
Nếu
vật cho người xuất gia, xoay cho người
thế tục hay ngược lại đều phạm
tội Ác tác.
Nếu tìm cách
khác để giúp không có thì chuyển không tội.
Như vậy,
nam nữ, Bán-trạch-ca, Bí-sô-ni, ba chúng dưới,
hoặc nhiều, hoặc ít, bên này, bên kia, xoay qua, xoay
lại, chuẩn theo đây thì biết.
Nếu, tìm
không có cách nào hơn thì tuy có trái với bản tâm, trong khi
xoay cho kẻ khác, không phạm.
Lại
trường hợp không phạm nữa là: Người
phạm lần đầu, hoặc si, cuồng tâm loạn,
thống não bức bách.
Học
xứ thứ 30: Uống thuốc quá bảy ngày.
Lúc bấy
giờ, đức Phật ở tại thành
Vương-xá, trong rừng Trúc. Lúc ấy, đệ tử
môn nhơn của Cụ thọ Tất-lân-đà-tử có
các loại thuốc, hoặc tự mình hoà chế, hoặc
khiến người khác hoà chế, hoặc sử dụng
lộn xộn, hoặc hoà lộn với nhau, hoặc cùng
loại, hoặc khác loại để chung một chỗ,
không biết nên bỏ hay không nên bỏ; loại thời
dược, phi thời dược mặc tình sử
dụng. Các Bí-sô thiểu dục thấy sự việc
như vậy, khởi tâm hiềm tiện:
- Tại sao
các Bí-sô có các loại thuốc tự xúc chạm, hay
khiến người xúc chạm, hoặc sử dụng
lộn xộn, hoặc hoà lộn lẫn nhau, hoặc cùng
loại, hoặc khác loại để chung một chỗ,
không biết nên bỏ hay không nên bỏ; loại thời
dược, phi thời dược, mặc tình sử
dụng.
Các Bí-sô đem
nhơn duyên này bạch Phật. Đức Phật tập
hợp các Bí-sô, biết mà vẫn hỏi: … (như
trước) cho đến câu:
- Thật
sự các ông có các loại thuốc tự xúc chạm…
Môn đệ
của Cụ thọ Tất-lân-đà-tử xác nhận:
- Sự
thật có như vậy, thưa Đại đức
Thế Tôn!
Đức
Thế Tôn bằng mọi cách quở trách:
- Kẻ
nhiều muốn, không biết đủ, khó nuôi khó biết
đủ. Như Lai khen gợi người thiểu
dục tri túc, dễ nuôi, dễ thấy đủ, biết
thọ dụng theo mức lượng cần thiết, tu
hạnh Đỗ-đa.
Như Lai
bảo các Bí-sô… (như trước) cho đến câu:
- Ta quán
mười điều lợi, vì các đệ tử
chế Học xứ này như sau:
“Như
đức Thế Tôn nói: Cho phép các Bí-sô bệnh
được dùng các loại thuốc tùy theo chứng
bệnh tức là tô, du, đường, mật, trong vòng
bảy ngày tự cất giữ về đêm xúc chạm
để uống dùng. Nếu Bí-sô dùng quá bảy ngày,
Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca”.
+ Như
đức Thế Tôn:
- Tức
đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác.
- Nói: Tức
là chỉ bày hướng dẫn.
- Bí-sô
bệnh: Tức là Bí-sô trong pháp này, thân hình có bệnh.
-
Được dùng các loại thuốc: Tức là những
thứ mà bệnh trạng dùng để chữa trị.
Tô, du là dầu sữa, đường là đường
cát, mật là mật ong.
- Trong vòng
bảy ngày: Tức là bảy ngày đêm.
- Tự
cất giữ tự xúc chạm: Tức là được
phép tự lấy để uống.
- Quá bảy
ngày: Tức là quá thời gian ấn định. Ny-tát-kỳ
Ba-dật-để-ca. Vật này nên xả, tội kia
phải xám hối, nên gọi là Ny-tát-kỳ
Ba-dật-để-ca.
Vấn
đề tướng phạm trong giới này thế nào ?
- Nếu Bí-sô
ngày thứ nhất trong tháng nhận được
thuốc, thuốc này tự cất giữ để
thọ dụng trong vòng bảy ngày, hoặc có thể
xả hoặc có thể cho người khác. Nếu không
giữ, không xả, không cho người khác, đến
tướng mặt trời ngày thứ tám xuât hiện,
phạm Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca.
- Bí-sô một
ngày không nhận được thuốc, hai ngày không
nhận được thuốc, ba ngày không nhận
được thuốc, cho đến bảy ngày nhận
được thuốc này. Đối vời loại
thuốc này trong vòng bảy ngày, tự thủ trì, hoặc
có thể xả, hoặc có thể cho người. Nếu
không trì, không xả, không cho người, cho đến tám
ngày, tướng mặt trời xuất hiện, phạm
tội Xả đọa.
- Bí-sô một
ngày nhận được thuốc, hai ngày nhận
được thuốc, trong vòng bảy ngày, đối
với thuốc nhận được ngày đầu,
cần phải thủ trì, thuốc nhận được
ngày thứ hai, hoặc xả, hoặc cho người khác.
Hoặc thuốc nhận được ngày thứ hai,
tự thủ trì, thì thuốc nhận được ngày
thứ nhất hoặc xả, hoặc cho người khác.
Nếu không trì, không xả, không cho người khác, cho
đến ngày thứ tám, tướng mặt trời
xuất hiện, phạm tội Xả đọa.
- Bí-sô như
ngày thứ nhất, ngày thứ hai tương đối
tác pháp, ngày thứ hai, ngày thứ ba tương đối
tác pháp như vậy, cho đến ngày thứ sáu, ngày
thứ bảy cũng tương đối tác pháp, ngoài ra
như pháp đã nói trên.
- Bí-sô ngày
thứ nhất trong tháng nhận được nhiều
thứ thuốc. Thuốc này, trong vòng bảy ngày, tự làm
phép thủ trì hoặc xả hoặc cho người khác. Nếu
không trì không xả không cho người khác, cho đến
ngày thứ tám, tướng mặt trời xuất hiện
phạm tội Xả đọa.
- Bí-sô
đối với ngày thứ nhất cho đến ngày
thứ bảy nhận được nhiều loại
thuốc, các loại thuốc này, trong vòng bảy ngày
phải tự làm pháp thủ trì, hoặc xả hoặc cho
người khác. Nếu không trì không xả, không cho
người khác đến ngày thứ tám, tướng
mặt trời xuất hiện, phạm tội Xả
đọa.
- Bí-sô ngày
thứ nhất nhận đựơc nhiều thứ
thuốc, ngày thứ hai cũng nhận được
nhiều thứ thuốc. Thuốc đựơc nhận
ngày thứ nhất trong vòng bảy ngày nên thủ trì.
Thuốc nhận được ngày thứ hai, hoặc
xả, hoặc cho người khác. Hoặc thuốc
nhận ngày thứ hai, tự làm pháp thủ trì, thuốc
nhận ngày thứ nhất hoặc xả, hoặc cho
người khác. Nếu không xả, không cho người
khác đến ngày thứ tám, tướng mặt trời
xuất hiện phạm tội Xả đọa.
- Bí-sô ngày
thứ nhất không nhận được nhiều
thứ thuốc, ngày thứ hai cũng không nhận
được nhiều thứ thuốc, cho đến ngày
thứ sáu, ngày thứ bảy mới nhận
được nhiều thuốc. Thuốc nhận
được ngày thứ sáu, trong vòng bảy ngày nên tự
thủ trì. Thuốc nhận ngày thứ bảy hoặc
xả cho người khác. Nếu không xả, không cho
người khác, cho đến ngày thứ tám, tướng
mặt trời xuất hiện phạm tội Xả
đọa.
- Bí-sô có các
loại thuốc tự mình xúc chạm, khiến
người khác xúc chạm, hoặc cùng nhau xúc chạm hoà
chế tán nhỏ để ăn uống. Hoặc trộn
với nhau, hoặc cùng loại trộn với nhau không
thể phân chia ra đuợc. Thuốc này nên cho tịnh
nhơn của chùa hay cầu tịch.
- Bí-sô
đối với các loại thuốc không tự xúc
chạm, không khiến người khác xúc chạm không cùng
trao xúc cho nhau thuốc tán nhỏ để ăn uống,
không trộn với nhau, cũng không cùng loại trộn
lộn xộn với nhau khác loại trộn chung với
nhau. Xả cùng với không xả, thời cùng với phi
thời có thể khéo phân biệt (tác tịnh), trong vòng
bảy ngày, tự làm pháp thủ trì để tự
thọ dụng.
- Pháp thủ
trì như sau:
Trước
giờ ngọ, rửa tay sạch sẽ cầm lấy
thuốc ấy, đối trước một đồng
phạm hạnh thưa:
“Cụ
thọ ghi nhận cho tôi Tỳ-kheo tên… vì có bệnh duyên món
thuốc thanh tịnh này, nay tôi xin được thủ
trì. Tôi thọ dụng trong vòng bảy ngày, đồng
phạm hạnh ghi nhận cho”. Lần thứ hai, lần
thứ ba cũng nói như vậy.
Nếu đã
uống một ngày thì báo cáo với đồng phạm
hạnh: “Tôi vì có bệnh duyên, đã uống một ngày
thuốc, còn lại sáu ngày sẽ tiếp tục uống”.
Báo cáo như vậy cho đến ngày thứ bảy.
Nếu, uống đủ bảy ngày rồi mà còn dư
thuốc thì cho tịnh nhơn hay cầu tịnh. Nếu
không cho, đến ngày thứ tám
tướng mặt trời xuất hịên, phạm
tội Xả đọa.
- Bí-sô có thuốc Xả đọa mà không
xả cho người, không làm pháp gián cách tội, không nói
lên sự ăn năn tội, lại nhận được
bao nhiêu thuốc khác đều phạm Xả đọa,
do sự nhiễm tội của vật trước
để lại.
Nếu Bí-sô phạm Xả đọa
thuốc tuy đã xả rồi, chưa làm pháp gián cách,
chưa nói lên sự ăn năn tội, lại nhận
được bao nhiêu thuốc khác đều phạm
Xả đọa.
- Do nhiễm
tội trước để lại thuốc của Bí-sô
phạm Xả đọa tuy đã xả rồi, thực
hiện gián cách tội nhưng chưa nói lời ăn
năn. Nếu được bao nhiêu thuốc khác đều
phạm Xả đọa.
- Nếu Bí-sô
thuốc phạm đã xả nhưng chưa làm ba việc,
lại nhận được bao nhiều thứ khác
như y, bát, dây lưng, đãy đựng bát những
thứ vật dụng cần thiết cho sống của
Sa-môn, đều phạm Xả đọa, do sức
nhiễm tội của vật trước vậy.
- Thuốc
phạm Xả đọa của Bí-sô đã xả rồi,
đã làm pháp gián cách, đã nói lên sự ăn năn
tội, nhận được bao nhiêu thứ thuốc khác
đều không phạm.
Lại những trường
hợp không phạm nữa: Người phạm lần
đầu, hoặc si cuồng, tâm loạn, thống não
bức bách.
- Các
Đại đức! Tôi đã nói ba mươi pháp
Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca, nay hỏi các Đại
đức, trong đây có thanh tịnh không ? (hỏi như
vậy ba lần) các Đại đức, trong đây thanh
tịnh nên im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.
CĂN BẢN
THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA
QUYỂN 24 ( hết).