QUYỂN 23.
TAM TẠNG PHÁP SƯ
NGHĨA TỊNH PHỤNG CHẾ DỊCH.
Học xứ thứ 24:
Khuyên thợ dệt.
Lúc bấy
giờ, Bạc-già-phạm ở tại thành
Thất-la-phạt, rừng Thệ-đa, vườn
Cấp-cô-độc. Trong thành này có một Trưởng
giả, cưới vợ chưa bao lâu, cả vợ
lẫn chồng đều làm tà hạnh, tư thông
ngoại t́nh. Duyên khởi đồng như giới
“đến Cư sĩ không phải bà con xin y”. Cho đến
câu: người vợ nói với chồng rằng:
- Thánh tử
Đại đức Ô-ba-nan-đà v́ chúng ta nói pháp yếu,
chúng ta đối với Ngài chưa có trường hợp
nào nói lên ḷng kính tín. Chúng ta cần dùng y thuật để
cúng dường Ngài.
Người
chồng vui vẻ trả lời:
- Đó là
điều rất hay, hiền thủ nên thức hiện.
Được
chồng đồng ư, người vợ nói:
- Chúng ta có
tơ mịn, bảo thợ dệt… dệt Bát Xá
để dâng cúng Ngài. (Bát Xá tức là đại
điệp cùng với Ca-sa số lượng như nhau,
gọi chung là một bức. Phương này không có,
chỉ gọi là y điệp. Trước kia gọi là y,
theo bản tiếng Phạn đều gọi là Bát Xá.
Phương này gọi là Man điều).
Người
vợ đề nghị được chồng
đồng ư, liền đem số tơ đó đến
thợ dệt, nói:
- Hiền
thủ dùng tơ này dệt Bát Xá để tôi dâng cúng cho
Đại đức Ô-ba-nan-đà.
Người
thợ dệt đồng ư dệt. Lúc bấy giờ
tớ gái trong nhà nghe nói như vậy, liền khởi ư
nghĩ: “Ta nên đem tin này thưa với Đại
đức Ô-ba-nan-đà để Ngài được vui”.
Một
buổi sáng hôm nọ, Ô-ba-nan-đà đắp y bưng bát
vào thành khất thực, tuần tự đi, khi
đến nhà ông Trưởng giả, đứa tớ gái
từ xa thấy Ô-ba-nan-đà, tuy đang quét sân, cô ta
liền buông chổi xuống để kính lễ.
Người tớ gái lễ xong, thưa với
Ô-ba-nan-đà :
-Kính thưa
Thánh giả! Con có tin lành muốn thưa với Thánh
giả.
Ô-ba-nan-đà
vui vẻ nói:
- Con muốn
nói điều ǵ ?
Tớ gái nói:
- Ông bà chủ
nhà của con muốn dệt Bát Xá để dâng cúng Thánh
giả.
Ô-ba-nan-đà
thầm nghĩ: “Trong thế gian này, hạng người
tham cầu, ta được xếp vào hạng thứ
nhất, đứa tớ gái này cũng ngầm biết ta
điều đó”. Ô-ba-nan-đà liền hỏi đứa
tớ gái:
- Ngươi
trêu chọc ta phải không ?
- Thưa Thánh
giả! Con đâu dám điều đó!
Ô-ba-nan-đà
nói:
-Quả
thật, khi gia Trưởng nóng giận nói việc này th́
sẽ phải sám hối; c̣n, nếu ngươi nói dối
th́ sẽ bị đ̣n, và phải sống lại
đời sống thiếu cơm rách áo như xưa kia.
Đứa
tớ gái nghe Ô-ba-nan-đà nói thế liền thưa:
- Nếu
Đại đức không tin, cứ đến nhà ông
thợ dệt tại địa chỉ… tận mắt mà
thấy.
Ô-ba-nan-đà
liền đến nhà ông thợ dệt, hỏi:
- Hiền
thủ dệt cái Bát Xá này cho ai ?
Thợ
dệt bảo:
- Chiếc Bát
Xá này là v́ Đại đức Ô-ba-nan-đà mà người
ta thuê tôi dệt.
Ông đă
từng biết Ô-ba-nan-đà này chưa ?
Thợ
dệt đáp:
- Tôi chưa
từng biết vị ấy.
Bảo
rằng:
- Chính tôi là
Ô-ba-nan-đà đây. Hiền
thủ! Cái Bát Xá này vốn v́ tôi mà dệt th́ phải
dệt cho dài và rộng…
Thợ
dệt thưa:
- Thưa Thánh
giả! Như vậy thiếu chỉ đào ở đâu
ra đây ?
Ô-ba-nan-đà
nói:
-
Trưởng giả sẽ đưa thêm chỉ
đến, tôi sẽ thù lao thêm cho ông.
Dứt
lời, Ô-ba-nan-đà liền bỏ đi. Ngày hôm sau,
Ô-ba-nan-đà đắp y bưng bát vào thành khất
thực, tuần tự đến nơi nhà của
Thắng-man phu nhơn, gia chủ trải toà mời
ngồi. Phu nhơn lễ sát chân, ngồi qua một bên,
để nghe pháp. Ô-ba-nan-đà v́ gia chủ nói pháp. Phu
nhơn nghe pháp xong, thưa với Thánh giả:
- Hôm nây, có thí
chủ nào mời cơm, hay Thánh giả tự đi
khất thực ?
Ô-ba-nan-đà
đáp:
- Tự đi khất thực.
Phu nhơn
Thắng-man liền nghĩ: “Ai có thể cúng thức ăn
ngon bổ hơn của ḿnh ?” Nghĩ như vậy rồi
bèn lấy b́nh bát nơi tay của Ô-ba-nan-đà, dùng thức
ăn ngon bổ cho vào đầy bát trao cúng. Ô-ba-nan-đà
nhận, cầu nguyện cho thí chủ vô bệnh rồi ra
khỏi nhà của Thắng-man phu nhơn. Ô-ba-nan-đà
đi thẳng đến nhà của ông thợ dệt,
bảo:
- Hiền
thủ, đưa tay ra nhận lấy thức ăn ngon
bổ phi thường đây! Ông thợ dệt nhận và
ăn xong, Ô-ba-nan-đà hỏi:
- Mùi vị
thức ăn thế nào ?
Thợ
dệt thưa:
- Tuyệt
hảo!
Lại
hỏi:
- Ông đă
từng thưởng thức mùi vị này lần nào
chưa ?
Thợ
dệt đáp:
- Thật
sự, tôi chưa được thưởng thức mùi
vị thế này lần nào, trước đây.
Ô-ba-nan-đà
bảo:
- Ông có thể
đưa vạt áo, tôi trút hết thức ăn ngon bổ
này cho!
Người
thợ dệt nhận thức ăn xong, Ô-ba-nan-đà nói:
- Hiền
thủ v́ tôi dệt cho đẹp, tôi biết ông khổ
sở dài dài, tôi sẽ cố gắng giúp ông càng nhiều,
càng hay.
Thợ
dệt bảo:
- Tơ sẽ
thiếu, ai đưa thêm đây!?
Ô-ba-nan-đà
bảo:
-Ông cứ
đến thí chủ đ̣i.
Sau đó,
tơ hết, thợ dệt đến nhà của thí
chủ để nhận thêm, theo lời dặn của
Ô-ba-nan-đà. Khi đến nhà, bà vợ đi vắng
chỉ gặp ông chồng. Thợ dệt báo với ông
Trưởng giả: “Tơ hết, tôi đến nhận
thêm”.
Ông
Trưởng giả liền đem tơ cho thợ
dệt. Sau đó, tơ lại hết, thợ dệt
đến nhận thêm. Gặp lúc ông chủ lại đi
vắng. Thợ dệt báo với bà vợ: “Tôi đă
dệt hết tơ xin đến nhận thêm”.
Bà chủ
liền đem tơ đưa cho thợ dệt. Sau đó
nữa lại dệt hết tơ, thợ dệt
đến nhận thêm. Lần này gặp cả vợ ông
Trưởng giả đều có ở nhà. Thợ dệt
báo cáo:
- Tơ
hết, tôi đến nhận thêm.
Người
vợ hỏi:
- Chiếc Bát
Xá dệt rộng thêm hay sao ?
Ông chồng
hỏi bà vợ:
- Tôi đă
đưa thêm, “ḿnh” cũng đă đưa thêm nữa hay
sao ?!
- Vâng, em
cũng đă đưa thêm.
Ông
Trưởng giả nói:
- Như
vậy cái Bát Xá dệt rộng lớn hơn gấp hai
lần hay sao ?
Ông thợ
dệt báo cáo:
- Đâu
phải tự ư tôi mới dệt thêm, ngày đầu
mới trương khung, Đại đức đă
đích thân đến bảo tôi dệt vừa rộng
vừa lớn hơn nhiều.
Người
vợ ông Trưởng giả liền nghĩ: “Ta sẽ
đến xem chiếc Bát Xá tướng trạng thế
nào!” Thế rồi, bà ta liền mang tơ đến nhà
thợ dệt để xem. Thật sự chiếc Bát Xá
quá rộng lớn, bền chắc, sít sao, hoàn hảo. Bà ta
trố mắt ngó với vẻ giận dữ, nói:
- Chiếc
thựơng điệp này khỏi phải cúng cho Bí-sô, tôi
sẽ dệt chiếc điệp khác. Bà ta nói rồi
bỏ đi.
Như
hằng ngày, hôm nay, Ô-ba-nan-đà đến thợ dệt
hỏi:
- Ồ nam
tử! Y đă dệt xong chưa ?
Thợ
dệt trả lời bằng một câu khác lạ:
- Tuy tôi
dệt xong mà Ngài chưa xong.
Ô-ba-nan-đà
ngạc nhiên hỏi:
- Ông nói như
thế, có nghĩa thế nào ?
Thợ
dệt bảo:
- Vừa
rồi, vợ ông Trưởng giả đến thấy
chiếc Bát Xá, bà ta trố mắt ngó, với vẻ
giận dữ nói: “Chiếc thượng điệp này,
khỏi phải cúng cho Bí-sô, tôi sẽ dệt chiếc
điệp khác”.
Ô-ba-nan-đà
nghe xong, với giọng ân t́nh nói:
- Ông có
biết chăng: Tôi đối với ông như bát
nước đầy…!
Thợ
dệt nói:
- Tôi rất
biết điều đó, thức ăn ngon bổ do
Đại đức cho, hiện nay tôi vẫn c̣n kia mà!
Ô-ba-nan-đà
lập kế hoạch trong bụng… nói với ông thợ
dệt:
- Này, nam
tử! Tôi cần gặp ông tại nhà ông Trưởng
giả. Ông nên mang chiếc thượng điệp
đến để trả lại.
Ông thợ
dệt nói:
- Thánh giả
đi trước, tôi đợi đến nửa
buổi, tôi sửa soạn xử lư lặt vặt xong
rồi mang điệp đến.
Ô-ba-nan-đà
đến nhà ông Trưởng giả, ngồi phía sau cánh
cửa. Khi ấy, vợ của ông Trưởng giả
đến kính lễ chân Ô-ba-nan-đà rồi ngồi
hướng về cánh cửa. Ngay lúc đó, ông thợ
dệt mang chiếc Bát Xá (thượng điệp)
đến. Vợ ông Trưởng giả từ xa
thấy, dùng tay chận lại, không muốn cho ông thợ
dệt bước tới chỗ Ô-ba-nan-đà ngồi. Ông
thợ dệt giả vờ như không biết cứ
cuối mặt bước vào, vừa đến nơi,
ông thợ dệt đem Bát Xá để vào ḷng của vợ
Trưởng giả và nói:
- Chiếc Bát
Xá đây.
Khi ấy,
Ô-ba-nan-đà liền nắm trọn Bát Xá vào tay ḿnh, chú
nguyện... (như trước).
Vợ ông
Trưởng giả thấy vậy liền nói:
- Thưa Thánh
giả, để ông Trưởng đến tự tay dâng
cúng Thánh giả!
Ô-ba-nan-đà
lại nói:
- Tôi c̣n
cần phải nhuộm. Nếu, Trưởng giả
đến th́ dùng y phục của tiên nhơn như pháp
để dâng cúng.
Vợ
Trưởng giả thưa:
- Kính thưa
Thánh giả! Đức Thế Tôn có nói: “Sắc trắng là
hơn hết”.
Ô-ba-nan-đà
nói:
- Hơn
hết đối với Tiên nhơn, chứ đối
với tôi th́ phải nhuộm.
Ô-ba-nan-đà
nói xong, liền đứng dậy ra về. Lúc ấy, ông
thợ dệt đ̣i tiền công nơi vợ
Trưởng giả. Bà ta nói:
- Ông đă làm
cho tôi mất chiếc Bát Xá lại đ̣i tiền công
nữa hay sao ?!
Ông hăy mau ra
khỏi nhà tôi! Ai lấy y th́ đến đó đ̣i
tiền công nơi họ.
Ông thợ
dệt liền đến chỗ của Ô-ba-nan-đà, nói:
- Thánh giả
trả tiền công dệt cho tôi.
Ô-ba-nan-đà
nói:
- Ông nên
đến ông Trưởng giả đ̣i.
Thợ
dệt đến ông Trưởng giả đ̣i, bị ông
Trưởng giả nổi sân nộ nạt đuổi
đi như trước. Thợ dệt lại đến
Ô-ba-nan-đà đ̣i. Ô-ba-nan-đà bảo thợ dệt:
- Ông cứ
đến hỏi, ông Trưởng giả sẽ trả
cho ông.
Ông thợ
dệt làm theo lời của Ô-ba-nan-đà, bị ông
Trưởng giả la hét vang làng rồi nói:
- Ông không
chấm dứt việc đến nhà tôi phá rầy thế
nấy! Nếu cứ đến tôi sẽ dùng chén bát
bể cột vào cổ ông. Kéo ông đi ṿng quanh nơi
Thất-la- phạt cho mọi người biết mặt
ông.
Ông thợ
dệt nghe ông Trưởng giả nói như vậy,
hoảng vía trở lại chỗ ở Ô-ba-nan-đà,
thuật lại sự việc mà ông Trưởng giả
hâm dọa như trên rồi tha thiết nói:
- Cúi xin Thánh
giả rủ ḷng thương đối với kẻ
nghèo khổ, nuôi sống bằng mồ hôi nước
mắt này mà trả tiên công dệt chiếc Bát Xá cho tôi.
Ô-ba-nan-đà
trả lời:
- Này, ông
thợ dệt! Khi người ta v́ tôi nhờ ông dệt y
phục để bố thí cho tôi, mà ông đ̣i tiền công
nơi tôi là điều không hợp lư. Đâu ông biết tôi
chỉ có ba y một bát. Tuy nhiên, nếu ông đ̣i quyết
liệt th́ lại cùng nhau tính toán chỗ ông ăn của
tôi. Thức ăn ngon bổ mà tôi đă cho ông trị giá
nhiều lắm. Ông thử tính tiền bún bao nhiêu, cho
đến tiền tô, du, đường, mật,
hương vật, tổng cộng lại, tôi tin rằng
nhiều hơn số tiền công của ông đă dệt
chiếc Bát Xá. Ô-ba-nan-đà nói tiếp: Tính toán thấy rơ
số tiền ông nhận thức ăn của tôi nhiều
hơn số tiền công ông dệt chiếc Bát Xá, lư do nào
ông đến đ̣i tiền công nơi tôi nữa. Ông
đứng lâu chừng nào càng thêm khổ thân ông, chứ có
ích ǵ ?!
Ông thợ
dệt đành buông tay chịu thua lỗ, nên đâm ra cơ
hiềm khinh tiện mạ nhục: “Sa-môn Thích tử không
biết nhàm chán, không biết đủ, ân nghĩa đă cho
tôi lại chi ly tính thành tiền. Chẳng phải chơn
Sa-môn th́ làm ǵ có chánh pháp ?”
Các Bí-sô nghe
sự việc như vậy rồi, bạch Phật.
Đức Phật lấy vấn đề này làm nhơn
duyên tập hợp các Bí-sô và hỏi Ô-ba-nan-đà để
xác định vấn đề. Ô-ba-nan-đà công nhận
đă làm việc không đoan nghiêm như vậy! Bằng
mọi cách, đức Thế Tôn quở trách rồi,
chế Học xứ này như sau:
- Nếu
lại có Bí-sô, có Cư sĩ, vợ Cư sĩ không
phải bà con, v́ Bí-sô bảo thợ dệt chẳng phải
bà con dệt y. Bí-sô này, trước không nhận
được lời mời, lại sanh ư niệm khác,
đến chỗ thợ dệt nói: Ông nên biết: y này,
người ta v́ tôi mà dệt. lành thay! Ông thợ dệt nên
dệt cho tốt, khéo, bền, chắc, dài, rộng… Tôi
sẽ dùng các loại thức ăn ít nhiều nơi b́nh
bát, hoặc thức ăn tính thành tiền để cung
cấp thêm. Nếu Bí-sô dùng vật như vậy cho thợ
dệt để t́m cầu được y, Ny-tát-kỳ
Ba-dật-để-ca.
- Nếu
lại có Bí-sô: Chỉ cho Ô-ba-nan-đà và đồng
bọn. Bà con, không phải bà con, bảy loại y như
trước đă nói. Trước không nhận
được lời mời: tức là chưa hề báo
cho biết trước từ thí chủ. Sanh ư niêm khác:
tức là ḷng muốn cầu được y. Đến
chỗ thợ dệt: tự thuật ư của ḿnh. V́ tôi
dệt: tức nói rơ là v́ ḿnh nên mới dệt. Nên dệt
cho tốt: tức muốn khiến y dài rộng,
đẹp… Tịnh sơ trị tức muốn
được rộng và trắng tinh. Khéo chọn lựa
tức trừ dệt kết phải làm cho tinh tế.
Hết sức đánh cho săn chắc: tức là muốn
láng mịn bóng và sắc mặt. Tôi sẽ dùng thức
ăn… tức là dùng năm thứ Kha-đản-ny, năm
thứ Bổ-thiện-ny, hoặc các loại thức ăn
trong bát nghĩa là lấy thực phẩm làm từ ngũ
cốc mà trao cho. Hoặc trị giá thức ăn nghĩa
là trao cho giá tiền tương đương thức
ăn. Bí-sô là chỉ cho Ô-ba-nan-đà … Được y
tức là y về nơi tay rồi. Ny-tát-kỳ…Như
trước đă nói.
Trong vấn
đề này, tướng phạm của nó như thế
nào ?
- Nếu, Bí-sô
v́ mục đích cầu y, từ chỗ ngồi
đứng dậy, sửa y phục, mang hai lọai
thức ăn, đến chỗ nhà thợ dệt trao cho
họ, khuyên thợ dệt, dệt cho tốt thí phạm Ác
tác, khi nhận được y, phạm Xả đọa.
Bà con hay không bà con v.v… như trước đă nói.
Học sứ thứ 25: Đoạt y.
Lúc bấy giờ, Đức Phật ở
thành Thất-la-phạt, rừng Thệ-đa, vườn
Cấp-cô-độc. Lúc ấy, Lục chúng Bí-sô
thường pháp như đă nói. Khi cho người nào
đó xuất gia, thọ Cụ viên, nếu lúc môn
đồ kia cùng đến chỗ thầy mà chưa
biết thầy chủ hành ác hạnh th́ cùng chung sống
với họ và sau thời gian, môn đồ biết tung
tích xấu của họ th́ bèn bỏ đi, t́m thiện
Bí-sô để cùng ở, chỉ trừ mỗi ngày ba
lần, theo lời của Phật dạy đến
để cung kính lễ bái vị thầy của ḿnh mà
thôi.
Bấy
giờ, Bí-sô Na-đà có một đệ tử cùng ở,
tên là Đạt-ma. Đạt-ma luôn mặc chiếc áo tàm
quư, tâm nghĩ đến điều ăn năn tội
lỗi, đối với các Học xứ ưa thích tôn
trọng. Đạt-ma chưa từng biết thầy
của ḿnh hành ác hạnh nên cùng ở, khi biết
được tung tích rồi liền bỏ đi, t́m
đến các thiện Bí-sô cùng ở, trừ ba thời
đến lễ bái. Vào lúc ấy, đức Thế Tôn
bảo Cụ thọ A-nan-đà:
- Ông
đến báo cho các Bí-sô biết: Thế Tôn muốn du hành
trong nhơn gian nơi nước Kiều-tát-la, Cụ
thọ nào muốn tùy tùng th́ chuẩn bị y phục.
Cụ thọ
A-nan-đà vâng lời Phật dạy, đi phổ
biến…Bí-sô Nan-đà nghe phổ biến rồi, bảo
Ô-ba-nan-đà:
- Đưc
Thế Tôn muốn du hành, Ngài bảo ai muốn tùy tùng th́
đi. Chúng ta ở nơi đây, hằng ngày phải
trải qua hằng trăm cửa ngơ nhà người
mới đủ no bụng. Nếu chúng ta tùy tùng đi du
hành với đức Phật th́ tuy có mười tám món
lợi dưỡng đặc biệt ly kỳ, xong vô
lượng trăm ngàn Đại chúng vi nhiễu, cho nên
hầu hết là phải uống nước đục, và
cần một gốc cây để ngồi cũng không
phải là dễ dàng có được. Nay, ta nên đưa
một Bí-sô biết việc đi trước tán thán Tam bảo
làm tiền trạm. Nhờ đó, chúng ta có thể an
lạc trên đường đi và thu hoạch
được nhiều lợi dưỡng.
Khi nghe
thế, Ô-ba-nan-đà phát biểu:
- Này,
A-gía-lợi-da đại đức! Nay, người
bỏ bát vàng để t́m bát đất hay sao ? Để
tử của người tên là Đạt-ma, thường
ôm lấy ḷng hổ thẹn, ăn năn các tội
lỗi, đối với các Học xứ ưa thích
phụng tŕ. Ông ta c̣n ôm ḷng xấu hổ, chưa cầu y
chỉ nơi người khác, nhưng đâu chịu cùng
đi với chúng ta. Xong, đức Phật Thế Tôn nói
bốn nhiếp sự là bố thí, ai ngữ, lợi lành,
đồng sự, trong chuyến đi này, ông ấy có
đến th́ trong chúng ta không ai chịu đồng sự
à ?
Vào thời
gian ấy, y Tăng-già-chi của Đạt-ma bị cũ
rách, có người cúng điệp mới, muốn may
lại cái khác, bèn khởi ư nghĩ: “Nay, ta nên đến
thưa, xin phép Ô-ba-đà-da của ta về việc may cái y
Tăng-già-chi này”. Thế rồi, Đạt-ma mang số
điệp đến chỗ ở của Nan-đà.
Vừa ra đi, một Bí-sô khất thực thấy,
hỏi:
- Cụ
thọ, Đạt-ma! Thầy đi đâu đó ?
Đạt-ma
bảo:
-
Tăng-già-chi của tôi bị cũ rách, có người cho
điệp mới, để may cái khác, tôi đến xin
phép Ô-ba-đà-da của tôi về việc này.
Bí-sô khất
thực nghe thế bảo rằng:
- Thầy may
đại y mới cho tôi cái cũ.
Đạt-ma
nói:
- Tôi sẵn
sàng cúng thầy cái cũ.
Tiếp
tục đi, Đạt-ma đến chỗ ở của
Nan-đà, thưa:
- Kính thưa
Ô-ba-đà-da Tăng-già-chi của con bị cũ rách, có
người cho điệp để may cái mới, nay con
đến để xin phép thầy.
Ô-ba-nan-đà
nói với Nan-đà:
- Này,
A-giá-lê-da! Đây chính là một cơ hội tốt.
Nan-đà nói:
- Này, Cụ
thọ Đạt-ma! Tôi có y Tăng-già-chi tôi cho ông, khỏi
may cái mới.
Đạt-ma
thưa:
- Kính thưa
Ô-ba-đà-da! Để con may cái đại y này, chứ con
không dám làm phiền thầy.
Ô-ba-nan-đà
vừa nghe Đạt-ma thưa như vậy liền nói:
- Này,
Đạt-ma! Trước đây tôi chỉ nghe riêng nay tôi
thấy thật sự. Tôi từng nghe ông thường ôm
ḷng xấu hổ, ăn năn điều tội lỗi,
đối với các Học xứ ưa thích phụng tŕ,
tôi thật không biết ông đă trái lời dạy của
thầy ông như hiện nay. Này, ông Đạt-ma! Đâu
phải thầy ông khuyên ông làm điều ác?
Khi nghe lời quở trách như
thế Đạt-ma làm thinh không trả lời. Nan-đà
liền lấy y Tăng-già-chi đưa cho Đạt-ma.
Đạt-ma bèn quỳ cung kính hai tay nhận y và thưa:
- Xin
Ô-ba-đà-da nhận xấp điệp y này.
- Nan-đà
phủ nhận; này, Cụ thọ Đạt-ma! Đâu
phải tôi cùng ông làm việc đổi chác y, áo ?! Xấp
điệp ấy ông tự thọ dụng!
Đạt-ma
bèn nghĩ: “Nay ta sử dụng cách nào, đối với
vật ngu si này (y dư là si vật)!! Đạt-ma liền
thưa với thầy:
- Nay, con
muốn đem xấp điệp này dâng cúng cho Tăng-già,
c̣n Tăng-già-chi cũ, biếu cho Bí-sô khất thực,
vị này trước đây đă xin.
Nan-đà
trả lời:
- Tùy ư ông
giải quyết.
Thế là
Đạt-ma đem xấp điệp cúng cho Tăng-già, Tăng-già-chi
cũ biếu cho vị Bí-sô khất thực. Ngày hôm sau,
Đạt-ma mặc y Tăng-già-chi, đến lễ
dưới chân của thân giáo sư. Nhân đó, Nan-đà
bảo Đạt-ma rằng:
- Này,
Đạt-ma! Cụ thọ A-nan-đà vừa trao truyền
là đức Thế Tôn muốn đi du hoá trong nhơn gian,
ai muốn tùy tùng th́ chuẩn bị y phục. Chúng ta ở
đây th́ hằng ngày phải trải qua hằng trăm
cửa ngơ nhà người mới đủ no bụng. Chúng
ta theo đức Phật đi du hoá th́ tuy có mười tám
món lợi dưỡng hy hữu và kỳ diệu, xong có
đến vô lượng trăm ngàn Đại chúng vây
quanh đức Thế Tôn, cho nên phần đông phải
uống nước đục, và cần có một gốc
cây để ngồi cũng là một điều không
phải dễ dàng. Chúng ta nên có kế hoạch đi
trước đức Phật, khen ngợi ngôi Tam bảo.
Như vậy, chúng ta mới an lạc trên chuyến đi
và thu hoạch được nhiều lợi dưỡng.
Đạt-ma
nghe thầy nói xong, thưa:
- Kính thưa
Ô-ba-đà-da! Đi theo đức Phật, có mười tám
món lợi, xong Ô-ba-đà-da lại tạo nên tội
lỗi! Nay, con rất muốn đựoc đi theo sau
đức Thế Tôn.
Nan-đà
bảo:
- Này
Đạ-ma! Cụ thọ phải đi theo tôi.
Đạt-ma
thưa:
- Kính thưa
Ô-ba-đà-da! Con nguyện đi theo sau đức Phật,
chứ con không thể đi trước Ngài
được!
Nan-đà
nổi sân giận dữ bảo:
- Ngươi
là đồ ngu si, ta v́ vấn đề phước
đức nên cho ngươi cái y Đại, với
bổn ư là hy vọng là ngươi sẽ đi sau ta.
Nếu, ngươi không đồng ư đi th́ trả y
lại cho ta, ta không cho ngươi nữa.
Trước
sự đối sử như vậy, Đạt-ma
liền tự suy nghĩ: ‘Thà là ta không có pháp y, chứ không
thể cùng đi với nhóm sáu người hành ác này
để rồi sanh ra tội lỗi”. Nghĩ thế,
Đạt-ma liền trả y lại cho Nan-đà.
Lúc bấy
giờ, đại Chúng vi nhiễu nơi đức
Thế Tôn… (nói đầy đủ như trước)
tiến hành theo lộ tŕnh. Thường pháp của chư
Phật là khi chuẩn bị đi, giống như
tượng vương phải xem xét toàn bộ, không
để cho đồ chúng ăn mặc trái với oai
nghi. Thế Tôn thấy Đạt-ma chỉ mặc hai y mà
muốn cùng đi du hành trong nhơn gian, nên hỏi Cụ
thọ A-nan-đà:
- Này,
A-nan-đà! Sau khi an cư, các Bí-sô không nhận
được y lợi hay chăng ?
- Bạch
đức Thế Tôn! Sau khi an cư, chư Tăng
đều nhận được y lợi.
Phật
hỏi:
Như vậy, tại sao Đạt-ma Bí-sô
chỉ mặc hai y mà muốn cùng đi với đoàn.
- Được hỏi Cụ thọ
A-nan-đà đem tất cả sự việc tŕnh bày
đầy đủ với đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn tỏ ra ngạc nhiên
hỏi:
- Đâu có chuyện Bí-sô cho người khác
y, rồi đoạt trở lại hay sao ?!
Thế rồi, đức Thế Tôn lấy
việc này làm nhơn duyên, hỏi Nan-đà:
- Sự thật ông đoạt y của
Đạt-ma phải không.
- Thật
sự có đoạt lại, bạch Thế Tôn. Nan-đà
trả lời.
Bằng
mọi cách đức Phật quở trách Nan-đà (như
các trường hợp khác) cho đến chế Học
sứ này:
- Nếu lại có Bí-sô trước
cho Bí-sô khác y, sau đó v́ năo loạn giận giữ,
mắng nhiếc sanh tâm cơ hiềm kinh tiện, rồi
tự ḿnh đoạt lại hay bảo người khác
đoạt lại, nói rằng trả y lại cho tôi, tôi
không cho người. Nếu y ĺa thân người
được cho, ḿnh tự thọ dụng, Ny-tát-kỳ
Ba-dật-để-ca.
- Nếu lại có Bí-sô: Là chỉ cho
Thích tử Nan-đà. Cùng với Bí-sô tức là
Đạt-ma. Y có bảy loại như trước đă
nói. Cho y: tức là cho y cho môn nhơn hay là cho người
khác. Sau đó, tức thời gian khác về sau. Năo loạn
giận dữ, mắn nhiếc sanh tâm cơ hiềm khinh
tiện: tức là thân, ngữ, ư hiện tướng sân
nhuế. Tự ḿnh đoạt lại hay bảo
người khác đoạt lại: nói chung là làm cho y ĺa
thân người kia. Tự thọ dụng: tức là
thuộc về của ḿnh. Ny-tát-kỳ
Ba-dật-để-ca (như trước đă giải).
Trong vấn
đề này, tướng phạm của nó như thế
nào ?
Có ba loại
tướng: có trường hợp cả tướng thân
và tướng ngữ.
- Thân
tướng là trước cho y sau ôm ḷng sân hận tự
tay đoạt lấy lại, hoặc xô hoặc kéo xong
miệng không nói, khi chéo của y chưa ĺa khỏi thân
người kia, phạm tội Ác tác, khi ĺa khỏi thân
tức phạm Xả đọa. Như vậy gọi là
thân nghiệp.
- Tướng
ngữ là nói ra lời nói để đoạt y của
người kia, chứ thân hay tay không động
đến. Kiết tội đồng như trước.
- Cả thân và
ngữ: tức là dùng cả thân và miệng để
lấy lại y. Kiết tội đồng như
trước. Bảo người đoạt: khi bảo
Bí-sô đoạt y kia, y chưa ĺa thân cả hai đều
phạm tội Ác tác.
Nếu y ĺa
thân th́ cả hai đều phạm tội
Ba-dật-để-ca. Người chủ phạm tội
Xả đọa. Nếu dạy Ni đoạt, tội
cũng đồng như đây. Ba chúng sau đều phạm
Ác tác.
Nếu các nam
nữ thế tục đoạt th́ phạm tội Vô
lượng.
- Có hai
truờng hợp không phạm: một là nạn sự, hai
là thuận theo lời dạy.
Nạn sự
tức là hai thầy thấy môn đồ của ḿnh
đối với chỗ bị khủng bố v. v…
hoặc lúc phi thời hiểm trở, đi lại sợ
mất y nên đoạt lấy, không phạm tội.
Thuận theo lời dạy, tức là hai
thầy thấy môn đồ ḿnh gần gũi cùng ác tri
thức, hoặc đồng đi cùng đường, nên đoạt
y kia để khỏi tạo ác th́ đây gọi là
thuận giáo. Lài trường
hợp không phạm nữa là người phạm lần
đầu, hoặc si cuồng tâm loạn, thống năo
bức bách.
Học xứ thứ 26: Nạn gấp cúng y.
Đức
Phật ở tại thành Thất-la-phạt, vườn
Cấp-cô-độc, rừng Thệ-đa. Trong tụ
lạc có một Trưởng giả với một ḷng tin
hiền thiện, phát nguyện lập một trú xứ
ở nơi A-lan-nhă, dâng cúng cho Tăng-già. Trú xứ ấy
được trang hoàng hết sức trang nghiêm và
đầy đủ. Sáu mươi Bí-sô an trụ nơi
trú xứ đó, được tứ sự cúng
dường một cách đầy đủ, không thiếu
một thứ ǵ. Kể từ ngày ông Trưởng giả
lâm bệnh, qua đời, sự cúng dường bị
chấm dứt. Khi ấy, các Bí-sô đến nơi
người con của Trưởng giả, bảo
rằng:
- Này, Hiền
thủ! Thân sinh của người cất chùa, cúng
dường y thực cho sáu mươi Bí-sô một cách
đầy đủ, nay thân sinh của người đă
qua đời, người có thể tiếp tục
việc ấy không?
Người
con trả lời:
- Có thể dâng cúng cho một trăm vị,
một ngàn vị, cho đến một trăm ngàn vị
mà cũng có thể không tự nuôi bản thân. Nay, tôi không
thể cúng dường như thân sinh của tôi được!
Các Bí-sô nghe
như vậy, bèn bỏ đi. Trong số đó, có hai Bí-sô
già, người ở địa phương sở
tại xuất gia, tiếp tục ở lại trú xứ,
hằng ngày khất thực để nuôi sống. Sau
đó, một thời gian trên đường thương
nghiệp, thương tộc ở phương Bắc,
ghé lại cảnh chùa này. Họ hết lời khen ngợi
đi thăm các khu già lam lớn và các pḥng xá. Tất cả
đều trống vắng, liền suy nghĩ: “Có thể
Bí-sô sống trong nếp sống yên lặng, đang tĩnh
tọa nơi nào đây, hoặc ban ngày, các vị vào rừng thiền
quán…?” Sau khi xem kỹ, thấy hai Bí-sô già, bèn thưa:
- Kính thưa
A-giá-lợi-da, Bí-sô ở chùa này, nay ở đâu hết ?
Hai Bí-sô già
đem tất cả sự việc tŕnh bày với đoàn
thương tộc phương Bắc. Các thương
chủ nghe rồi, bảo nhau rằng: Từ lâu chúng ta
hằng có tâm niệm này: Lành thay, vào lúc nào đây v́ Tăng-già
mới tạo đươc trụ xứ rồi mời Bí-sô về yên ở
để cúng dường cơm áo?!
Bấy
giờ chùa đă có mà lại không có thí chủ, chúng ta nên
cúng dường cho chúng Tăng. Để thực hiện
điều trên, họ liền trương một
đại điệp, để phẩm vật lên trên,
phổ cáo với mọi người: “Quí vị nào, có
thể tùy hỷ, theo khả năng của ḿnh, kẻ ít
người nhiều, cùng nhau cầu phước sự”.
Khi ấy, các
thương nhơn đều phát tâm cúng dường vào
việc phước, nên thu được nhiều
phẩm vật. Thương chủ thưa với Bí-sô già:
- Thưa
A-giá-lợi-da. Thiết nghĩ vật này có thể cấp
cho sáu mươi Bí-sô, an cư nơi đây, đầy
đủ cả y thực. Đây là ngân khoản dùng vào ngày
mùng tám hằng tháng, đây là ngân khoản dùng vào ngày 14 và 15
hằng tháng, đây là ngân khoản dùng vào việc thuốc
men chữa bệnh, đây là y lợi, cần có một
Bí-sô tốt đủ khả năng quy tụ quản lư
tốt trú xứ này. Cuối mùa Hạ, chúng tôi sẽ
trở lại. Theo khả năng, chúng tôi sẽ cúng
dường một trăm Bí-sô.
Thưa như
vậy rồi, kính lễ cáo lui. Một Bí-sô già bảo
đồng bạn rằng:
- Nay, thu
được nhiều của lợi thế này, ai
cất giữ đây ?!
Bí-sô kia
đáp:
- Người
nào nhỏ, người đó cất giữ.
Bí-sô hỏi:
- Ai
đến thành Thất-la-phạt để mời các Bí-sô
về đây ở ?
Vị kia nói
Bí-sô nhỏ ở nhà cất giữ của lợi nên
vị Bí-sô già phải đi.
Thế là
vị Bí-sô già đến thành Thất-la-phạt, rừng
Thệ-đa. Thường pháp của Lục chúng là
hằng ngày có một vị đứng ở trước
cửa ngơ, để đón khách. Ô-ba-nan-đà từ xa trông
thấy vị Bí-sô già đi đến, tóc bạc như
cỏ lau: Ô-ba-nan-đà liền nghĩ: “Đây là lăo kỳ
túc từ đâu đến”, liền chào:
- Lành thay
đến đây! Thiện lai, Đại đức!
Vị Bí-sô già
trả lời:
- Kính lễ
A-giá-lợi-da! Kính lễ Ô-ba-đà-da!
Ô-ba-nan-đà
liền nghĩ: “Đây là vị Ma-ha-la nên không rành pháp tôn
ty” liền hỏi lại:
- Ông già từ
đâu đến?
Lăo Bí-sô khách
nói:
- Tôi từ
Tỳ-ha-la…đến.
- Ông nói ông
từ Tỳ-ha-la, hay Tỳ-già-đa ? Ô-ba-nan-đà hỏi
tiếp.
Lăo Bí-sô
hỏi:
- Thế nào
gọi là Tỳ-ha-la, thế nào gọi là Tỳ-dà-đa?
Ô-ba-nan-đà
nói: Của lợi đầy đủ gọi là
Tỳ-gia-đa, của gọi thiếu thốn gọi là
Tỳ-già-đa.
Bí-sô già nói
tiếp:
- Trước
kia là Tỳ-già-đa, nay là Tỳ-ha-la.
Ô-ba-nan-đà hỏi:
- Như
thế nghĩa là sao?
Lăo Bí-sô
đáp:
- Thương
nhơn ở phương Bắc bỏ tiền của cúng
dường đầy đủ sáu mươi vị
thọ dụng, nên tôi đến mời các Bí-sô…
Ô-ba-nan-đà
nghe nói như vậy rồi, liền sanh ư nghĩ: “Không nên
để ông thầy già này, vào chùa”, và bảo rằng:
- Ông muốn
t́m cách khuyến dụ các Bí-sô ở đây đi phải
không? Ông nên biết Thắng Quang đại vương cúng
dường y thực phẩm vật một cách
đầy đủ cho các Bí-sô nơi trú xứ này. C̣n
nữa, Thắng-man phu nhơn, Hành vũ phu nhơn, Trưởng
giả Cấp-cô-độc ḍng Sát-đế-lỵ, Tiên
thọ cổ cựu, Tỳ-xá khư-mẫu, Thiện Sanh
phu nhơn, lại có nhiều tịnh tín Ba-la-môn, Trưởng
giả, Cư sĩ v.v… quy
dưỡng. Hằng ngày Thượng tọa chú nguyện.
Bí-sô nào chưa đến đây, đều có ư muốn
đến. Chúng Tăng hiện tại sống trong nếp
sống hoan hỷ. Tứ sự cúng dường không
hề thiếu thốn. Đức Thế Tôn Đại
sư đích thân thuyết pháp. Pháp, thực cả hai đều
vô cùng phong phú. Nếu Đại chúng biết ông có ư
muốn t́m cách khuyên mời các Bí-sô th́ họ tác pháp
Yết-ma khu tẫn ông ngay. Đó là điều chắc
chắn. Xong huynh đệ của tôi hiện có sáu
người, mỗi người đều có mười
đệ tử, v́ rủ ḷng thương đối
với ông nên chúng tôi sẽ đi.
Khi ấy, ông
Bí-sô già kia báo cáo với Ô-ba-nan-đà rằng:
- Kính
thưaThánh giả! Tôi muốn tạm vào một chút
để kính lễ dưới chân đức Thế Tôn,
trước khi về chỗ ở cũ.
Ô-ba-nan-đà
nghĩ: “Nếu có các vị Hắc bát nghe được
việc này họ đi trước chúng ta là điều
bất lợi!” Nghĩ như vậy rồi liền nói:
- Này ông Bí-sô
già! Ông không nghe đức Phật nói bài tụng:
Các
pháp tâm là đầu
Tâm
hơn, tâm mau chóng
Do
tâm được thanh tịnh
Khen
ngợi và thân lễ
Sẽ được vui thắng diệu
Như ảnh kia theo h́nh.
Ô-ba-nan-đà khi nói bài kệ xong, liền
nắm thượng đảnh của Bí-sô già đè xuống, bảo đê
đầu và bảo nói:
-
Bí-sô già nói:
- Thưa A-giá-lợi-da,
nay tôi khát nước, xin được uống
nước.
Ô-ba-nan-đà
nói:
- Ông già
đứng đây, tôi sẽ lấy chiếc b́nh bát của
ông múc đầy nước đem đến để
ông uống.
Thế
tất, nước mang đến Bí-sô già uống xong,
Ô-ba-nan-đà bảo ông ta đi mau, đừng đứng
đây lâu. Ô-ba-nan-đà nói với theo:
- Đi mau! Lên
đường mau! Đừng khiến ai đến
đây nữa.
Thường
pháp của Lục chúng là mỗi buổi chiều nào,
họ cũng tụ họp lại một chỗ. Trong ngày
ấy, có việc tốt xấu… họ đều thông báo
cho nhau. Bấy giờ, Ô-ba-nan-đà vào trong chùa, báo cáo
với Lục chúng rằng:
- Này, các
Cụ thọ! Chúng ta đă
đến lúc thoát khỏi
cảnh khổ sở.
Trong họ
lại hỏi:
- Đại
đức có nhận chút ǵ khác lạ để chi dụng
xài chơi không?
Ô-ba-nan-đà
bảo:
- Tại
tụ lạc… có Tỳ-ha-la, thương nhơn
phương Bắc đến đó, phát nguyện cúng
dường sáu mươi Bí-sô, y thực đầy
đủ không hề thiếu thốn.
Tất cả
nghe xong, đều nhất trí đến đó an cư,
chỉ trừ Ô-ba-nan-đà
không đồng ư và nói:
- Chúng ta nên
đến đó trước mùa Hạ, thụ
hưởng hiện vật xong, trở về đây
thọ hậu an cư. Nhất trí, cả Lục chúng
đều dẫn môn đồ, lên đường
đến địa điểm đó.
Lục chúng
đi vừa đến nơi, hai cựu trú Bí-sô , từ
xa thấy vui mừng, cất tiếng chào:
- Thiện lai!
Thiện lai! Chư Cụ thọ!
Chào hỏi
xong, liền trao pḥng xá ngọa cụ, chỗ ngồi
nhỏ, đồ đựng nước… cho Lục chúng
Bí-sô. Thế rồi, Lục chúng nghị bàn: “Chúng ta từ
xa đến, cần quan sát kỹ mọi vật, mỗi
chỗ”. Lục chúng bảo hai vị Bí-sô già rằng:
- Lợi
dưỡng hiện có những ǵ, cần đem ra xuất
tŕnh.
Hai Bí-sô già,
với bản tánh chất trực, tất cả lợi
vật hiện có, đều mang ra xuất tŕnh:
- Đây là
vật cúng dường sáu mươi Bí-sô an cư, đây
là cúng hằng ngày, đây là cúng ngày mồng tám, mười
bốn, mười lăm hằng tháng, đây là quỹ thuốc
men, và đây là lợi vật về y.
Thế là
Lục chúng Bí-sô kiểm nhận vật rồi, cùng nhau nói:
- Hai Bí-sô này
keo kiết không chịu đem những phẩm vật tinh
diệu cúng dường chúng Tăng, xong họ đă
bảo vệ cẩn thận tư cụ của chúng
Tăng một cách vất vả, ta nên miễn giảm
vấn đề phục dịch nhọc nhằn
đối với họ.
Hai Bí-sô khi
được miễn giảm việc nhọc nhằn,
hết sức vui mừng. Lục chúng lại nói với
nhau:
- Chúng ta nên sai
có khả năng kiểm giảo, hằng ngày v́ Tăng-già
làm mười tám món bánh kỳ diệu để dâng cúng
chúng tăng.
Họ
thảo bàn xong liền ra lệnh cho tri sự thực
hiện. Vị tri sự thọ giáo rồi sắm
đủ các thức ẩm thực thượng diệu
để cúng dường chúng Tăng. Không bao lâu tài
vật bị khánh tận. Lúc bấy giờ, vị tri
sự đến thưa với vị Thượng
tọa:
- Kính thưa
Đại đức Tăng biết cho là thức ăn
đă hết, chỉ c̣n
một ngày nữa.
Thượng
tọa bảo:
- Cụ
thọ nếu giới không đủ th́ cần phải
đợi đến ngày tiết hội, chúng ta giới
hạnh đều đầy đủ, đâu phiền ǵ
đến ngày tiết hội. Hiện có phẩm vật
để dành cho ngày tiết hội mồng tám,
mười bốn, mười lăm, chúng ta có thể
đem ra sử dụng.
Vị tri
sự phụng hành theo lời của Thượng tọa.
Không bao lâu, phẩm vật hết, lại báo cáo với
Thượng tọa… chỉ c̣n dùng một ngày nữa.
Thượng tọa bảo:
- Thân thủ
ngũ uẩn này bị bệnh khổ sở phải dùng
đến thuốc. Do vậy, ta có thể dùng ngân khoản
về thuốc men trong vấn đề ẩm thực…
Hiện có vật tư của y pháp cũng phải đem
ra phân chia, phần ai nấy mang đi.
Cuối cùng,
Thượng tọa được báo cáo là:
- Chỉ c̣n
đủ ăn cháo một ngày nữa thôi.
Khi ấy,
Ô-ba-nan-đà bảo vị tri sự rằng:
- Đến
kêu ông Bí-sô già đến hỏi, tại sao khi ông thỉnh
Tăng, ông ấy nói rằng: “Tứ sự cúng
dường ba tháng đầy đủ, mà nay chưa
đầy một tháng đă hết sạch”.
Hai vị Bí-sô
già được kêu đến hỏi. Liền trả
lời:
- Thí chủ
đâu có dự liệu là chư Tăng mỗi ngày dùng
mười tám thứ thức ăn kỳ diệu
thượng hảo hạng thế này.
Thượng
tọa nghe xong liền nghiêm mặt nói:
- Này, hai ông
thầy già! Không có cái chuyện, khi được ăn
ngon th́ cúi đầu ăn, nay nghe nói hết, lại nói cái
giọng cơ hiềm khinh tiện đó.
Ô-ba-nan-đà
bảo vị tri sự:
- Hai ông
thầy già này, chúng phải tác pháp Yết-ma khu tẫn
họ mới được.
Bao nhiêu
người khác th́ nói:
- Hai Bí-sô già
phải mau sám hối. Nếu chậm trễ th́
đuổi ra khỏi trú xứ.
Hai vị Bí-sô
ấy liền đối chúng cầu sám
Bổ-nại-phạt-tố.
Vị tri
sự bố cáo với Đại chúng:
- Hai
người già này bẩm tính tánh ngu độn, Đại
chúng từ bi thể tất cho họ.
Thế là
Đại chúng đều ban cho hai Bí-sô một sự hoan
hỷ.
Ô-ba-nan-đà
nói với hai Bí-sô già:
- Người
trong tụ lạc không có sự tín kính, chúng tôi ở
đây, khất thực khó khăn, hai ông có cách nào giải
quyết th́ cho biết, bằng không chúng tôi phải đi.
Hai Bí-sô già
trả lời gọn:
- Thưa
chư Đại đức! Chúng tôi ở đây “tứ
cố vô thân”
Thế là sáu
chục Bí-sô nghe xong, liền theo lộ tŕnh trở về
lại thành Thất-la-phạt. Họ liền ngồi
hậu an cư và ba tháng cũng qua mau.
Sau Hạ
đoàn thương nhơn phương Bắc
trước kia trở lại chùa mà họ đă cúng
dường. Họ vào chùa tán thán kính lễ, tuần tự
thăm lại các pḥng ốc. Họ gặp lại hai Bí-sô
già, hỏi:
- Bí-sô trong chùa
đi đâu vắng cả ?!
Hai Bí-sô nói:
- Thưa
Hiền thủ! Nơi đây không có Bí-sô .
Thương
nhơn hỏi:
- Tại sao
thế! Đâu không phải trước đây tôi nhờ
sư cụ thỉnh sáu mươi Bí-sô về đây an
cư…?
Khi ấy, Hai
Bí-sô già nhớ lại, mới đem tất cả sự
việc tŕnh bày cho đoàn thương chủ nghe.
Thương chủ hỏi:
- Sư cụ
thỉnh Bí-sô ở đâu?
Bí-sô già nói:
Tôi thỉnh
Lục chúng Bí-sô và môn đồ của họ, tại thành
Thất-la-phạt.
Thưong
chủ bảo:
- Thế là
Sư cụ đă vào trong Đại hải mà nhầm
lấy Lưu-ly giả rồi! Đâu có chuyện trong
rừng Thệ-đa lại không có các vị khác, mà v́ sao
Sư cụ chỉ thỉnh Lục chúng.
Khi ấy,
thương chủ và thương nhơn đều sanh
ḷng cơ hiềm khinh tiện: “Sa-môn Thích tử không
biết xấu hổ, phá hoại tịnh pháp. Chúng ta
mới phát khởi ḷng tin mà đă bị bẻ găy!”
Các Bí-sô nghe,
đem vấn đề bạch với đức
Phật. Đức Phật dạy: “Trong mùa Hạ mà phân
chia y vật, sanh ra tội lỗi như vậy. Do vậy,
các Bí-sô không nên phân chia lợi vật của mùa Hạ trong
giữa mùa Hạ. Nếu phân chia trong giữa mùa Hạ
phạm tội Việt pháp”. Đây là vấn đề
duyên khởi nhưng đức Phật chưa chế
giới.
Ngay sau khi
thời gian đó, trong thành này, có Bí-sô-ni, Đại Thế
chúa, thường tu tịch định. Môn đồ
của Người cũng sống trong nếp sống yên
tịnh đó. Bí-sô-ni Pháp Dự thường ưa tŕ kinh,
môn đồ cũng tŕ kinh tạng. Hai Bí-sô này cùng ở
một chùa. Mỗi khi môn đồ Đại Thế chúa
từ định xuất khởi th́ Pháp Dự Ni nói
với các môn đồ rằng:
- Này các
chị em! Đức Thế Tôn cho các Bí-sô-ni xuất gia,
thọ Viên cụ, đều do nổ lực của
Đại Thế chúa cầu khuyến thỉnh. Như
đức Thế Tôn đă từng dạy: “Người
nào có thể bảo hộ được ư muốn của người khác,
sẽ được nhiều phước”. Các chị em
nên quán vô thường. Thế là các môn đồ
đều thực hành theo lời dạy.
Mỗi khi môn
đồ của Pháp Dự đọc kinh, Đại
Thế chúa nói với các môn đồ rằng:
- Này các
chị em! Đức Như Lai Thế Tôn, trong ba
đại kiếp tu các khổ hạnh, tu Vô lượng
trăm ngàn phép tu sáu Ba-la-mật-đa, đều chứng
Vô thượng trí một cách viên măn. Tất cả việc
làm ấy đều v́ nhiêu ích cho loài hữu t́nh.
Đức Thế Tôn đă từng dạy: “Người
nào có thể bảo hộ ư muốn của kẻ khác,
sẽ được nhiều phước”. Này các chị
em! Chúng ta nên tụng kinh vô thường.
Thế
rồi, môn đồ của Người đều
thực hành theo lời dạy
và một khi hai Bí-sô-ni và các môn đồ, v́ kính nể
nhau, cùng bảo hộ cho nhau như vậy, nên vấn
đề tu thiện phẩm mỗi bên không thể tăng
tiến, như hoa bị thiếu nước!
Vào thời
ấy có Ô-ba-sách-ca, tên là Tỳ-xá-khư, thâm sanh kính tín,
đối với Bí-sô-ni Pháp Dự. Tỳ-xá-khư
đối với các Bí-sô-ni, cúng dường tất cả
tư cụ đáp ứng đầy đủ. Hơn
một lần Tỳ-xá-khư, đến đảnh
lễ Pháp Dự Bí-sô-ni, Pháp Dự bảo:
- Này,
Ô-ba-sách-ca! Hiện nay nhiều Bí-sô-ni cùng an cư một
chỗ, do sự kính nễ nhau, bảo hộ cho nhau, nên
vấn đề tu thiện phẩm không được
phát triển, như hoa bị thiếu nước!
Ô-ba-sách-ca có thể v́ Bí-sô-ni xây dựng riêng một trú
xứ được không?
Tỳ-xá-khư
liền thưa:
- Kính thưa
Thánh giả! Vật tư th́ con sẵn sàng có đó,
nhưng không có đất, v́ đất thuộc về nhà
vua, con không chiếm dụng được.
Pháp Dự
vừa nghe xong trả lời:
- Nếu
được như vậy, tôi tâu với vua, hy vọng
sẽ có đất.
Tư-xá-khư vui
mừng thưa:
- Có
đất con sẽ cho xây cất liền.
Bí-sô-ni Pháp
Dự liền đến Thắng-man Phu nhơn để
nhờ trung gian. Phu nhơn thấy Pháp Dự đến
liền chào:
- Thiện lai!
Thiện lai! Thánh giả! Mời Thánh giả an tọa.
Pháp Dự
vừa ngồi, Phu nhơn liền kính lễ hai chân và
thưa:
- Xin lỗi
Thánh giả đến có việc ǵ không ?
Này Phu nhơn!
Nay, tôi muốn v́ Bí-sô-ni xây cất một trú xứ, xong
vấn đề đất
đai đều thuộc quyền nhà vua nên không thể làm
được. Tôi v́ vấn đề đất, muốn
đến tâu để nhà vua
biết.
Phu nhơn vui
mừng thưa:
- Như
vậy, để con sẽ tâu với vua, Thánh giả yên
tâm về!
Pháp Dự chú
nguyện cho Phu nhơn vô bệnh, rồi từ chỗ
ngồi cáo lui. Sau đó, Phu nhơn liền đến
nơi vương cung, tâu với nhà vua:
- Hôm nay,
Đại vương sẽ đặng phúc lớn: Thánh
giả, Bí-sô-ni vừa đến cung điện của
Đại vương.
Nhà vua nghe Phu
nhơn nói, liền hỏi:
- Thánh giả
đến có việc ǵ?
Phu nhơn
thưa:
- Thánh giả
v́ Bí-sô-ni, muốn xây cất một trú xứ. Thánh giả
nói, đại địa đều thuộc quyền nhà
vua, v́ cần có đất nên Thánh giả đến tâu với
nhà vua điều đó.
Nhà vua phán:
- Phu nhơn
thưa với Thánh giả: “Thánh giả muốn cất chùa
chỗ nào tùy ư, kể cả trong hoàng cung nếu cần ta
thu xếp”.
Sau khi, Phu
nhơn nhận được tôn ư của nhà vua rồi,
liền sai sứ giả đến báo cáo với Pháp
Dự Bí-sô-ni đúng như lời nhà vua đă phán
quyết. Pháp Dự nhận được tin trên liền
báo cáo cho Tỳ-xá-khư biết.
Lúc bấy
giờ, vua Thắng Quân có hai tướng soái: Người
thứ nhất tên là Thiện Kiếm, người thứ
hai tên là Thiện Cung. Gặp lúc điều động
binh, Thiện Kiếm có lệnh đưa quân lính
đến một nơi khác. Có một số vợ binh
lính ở nhà ngoại t́nh. Gần khu gia binh có một
khoảng đất trống. Pháp Dự v́ t́m đất
nên đến đó. Pháp Dự ghi nhận: Nơi khoảng
đất này mà xây dựng một ngôi chùa th́ h́nh ảnh này
khả ái biết chừng nào. Địa điểm có
rồi, Tỳ-xá-khư liền cho thi công xây dựng.
Thời gian thi công không lâu, trú xứ được hoàn
thành. Sau đó Bí-sô-ni cùng môn đồ về sống nơi
ngôi chùa này.
Bấy
giờ soái Thiện Kiếm hành quân xong, về lại doanh
trại. Vợ của họ bỏ nhà tự ư đi theo
t́nh nhân. Người của binh lính truy tầm bắt
được. Khi áp giải về đến nhà, họ bị
sử trị bằng trượng. Các phụ nữ kia
khóc la ầm ỉ vang làng. Các Ni đến bạch với
Pháp Dự:
- Thưa Thánh
giả! Chúng ta tránh trời mưa lại bị ch́m trong
nước!
Nghe thế,
Pháp Dự khởi ư nghĩ: “Không biết những
người này có căn lành hay chăng? Pháp Dự liền
quán sát biết họ có căn lành, phải có mối liên
hệ thân thuộc nào đây nên hiện tại mới cùng
chỗ của ta”. Pháp Dự liền báo với môn
đồ:
- Này, các
chị em! V́ muốn hoá độ nên chúng ta cần phải
nhẫn chịu.
Thế
rồi, Pháp Dự lấy cái chậu đất để
một chỗ, bảo các đồ chúng:
- Tất
cả thức ăn c̣n dư, các chị em nên để vào
chậu này!
Các Ni y giáo
phụng hành. Sau đó, các trẻ nít đến chùa chơi,
nếu là nam th́ pháp Dự Ni lấy dầu để
nơi tay bảo nó tự thoa lên đầu, rồi lấy
thức ăn dư cho nó. Nếu là nữ th́ Pháp Dự Ni
tự cầm hương du thoa lên đầu chúng nó,
rồi lấy thức ăn dư cho nó, bảo nó ăn.
Trẻ nít cả nam lẩn nữ nhận được
bánh (thức ăn dư) đều đem về nhà,
mẹ của nó thấy hỏi:
- Các con
nhận được bánh đó ở đâu?
Các đứa con thưa:
- Thánh giả
Pháp Dự cho chúng con. Các bà mẹ của trẻ em nghe xong
đều có ư nghĩ: “Đây là ơn mưa móc của
Thánh giả Pháp Dự trợ giúp để ta nuôi các cháu”.
Do hành động này của Pháp Dự nên các bà mẹ
của chúng khởi ḷng kính tính bội phần đối
với chư Ni. Trong mỗi bà mẹ này đều có ư
nghĩ: “Từ nay phu chủ chúng ta có xuất trinh, chúng ta
nên đến chỗ Thánh giả để thừa sự
cúng dường”.
Sau thời
gian, phu chủ của họ, xuất quân ra trận, Pháp
Dự đă biết số phụ nữ này đă
đến lúc hoá độ được. Pháp Dự
bảo các đồ chúng dọn quét xung quanh trú xứ, dùng
phân trâu mới trét lên trên, để tháo đậu,
nước sạch, trang bị hương hoa, các thứ
cung phụng đầy đủ. Người nào có âm
thỉnh thanh thoát được phân công tán Phật .
Khi biết đoàn quân xuất
chinh Pháp Dự cho người đến mời các phụ
nữ kia đến chùa. Họ đến các Ni vui mừng
chào:
- Thiện lai,
các chị em!
Họ
đều kính lễ chư Ni và cùng nhau hỏi thăm
sức khoẻ. Chư Ni trao cho họ tháo đậu, nước
sạch, bảo họ rửa chân tay, đưa
hương cho họ, bảo họ đi quanh bên hữu
cúng dường Chế để, ca vịnh tán thán. Cúng
dường xong, Pháp Dự đến trước Đại
chúng, ngồi chỗ soạn sẵn. Các phụ nữ
đều đến kính lễ Pháp Dự Bí-sô.
Đảnh lễ xong, họ ngồi đối diện
để nghe pháp. Pháp Dự Bí-sô quán căn cơ của
họ nói các pháp yếu sai biệt, khiến cho họ
được hoan hỷ, tất cả đều
được khai ngộ. Từ nơi chỗ ngồi
họ dùng trí Kim cang, phá tan hai mươi núi kiến
Tát-ca-da, chứng quả Dự lưu… xa ĺa ba
đường ác, đặng đạo Niết-bàn, quy y
Tam bảo, thọ năm Học xứ, không sát sanh cho
đến không uống rượu, thành Ô-ba-tư-ca.
Thế
rồi, các phụ nữ kính lễ Ni chúng và trở về
nhà.
Bấy
giờ các phụ nữ làm theo điều họ
được học: Quét dọn nhà cửa sân
vườn, dùng phân trâu sạch và mới trét lên trên mặt
đất. Sau đó với phong cách mới áp dụng vào
đời sống. Họ sống tịch tịnh đ́nh
chỉ mọi ước muốn xôn xao. Sau thời gian, phu
chủ của họ kéo quân về; trên đường
hồi quân các phu chủ nghĩ: “Vợ của ḿnh ở
nhà, đang cùng với nam tử nào, sống trong nếp
sống tà hạnh đây ?!” Trong lúc ấy, các người vợ
được tin chồng của ḿnh về, đều ra
nghinh đón. Họ vừa gặp nhau, reo mừng: “Lành thay!
Lành thay! Người con yêu của tổ quốc, qua
một phen gian khổ hành quân, nay được trở
về quê nhà, mạnh khẻo!”.
Bấy
giờ, vợ chồng khắn khít bên nhau, nước nóng
tắm rửa, dầu thơm thoa thân cho chồng ḿnh, cung
phụng thức ăn ngon, khăn áo đều ướp
hoa, chu tất ch́u chuộng. Từ đó các ông chồng
đều có ư nghĩ: “Thật đặc biệt thật
hy hữu, ngày hôm nay đúng là ngày cách lễ tiết”. Các
đức ông chồng hỏi vợ:
- Tại sao
kỳ này, “ḿnh” có nếp sống cao đẹp thế này
?!
Các bà vợ
trả lời:
- Này phu quân,
người con của Thánh, có biết chăng: Chúng em nhờ
Bí-sô-ny Pháp Dự nói pháp yếu, khiến cho chúng em
đối với vấn đề sanh tử tuy vẫn
c̣n lưu chuyển, nhưng những phiền năo cực
trọng không hiện hành như những ngày trước
được.
Các phu chủ
nghe xong đều nghĩ: “Thánh giả Pháp Dự có khả
năng điều phục những con người khó
điều phục! Vợ chúng ta từ trước
tạo nhiều tà hạnh, chúng ta phải mắng chửi,
dùng gậy gộc đánh mà không cải hoá được.
Nay, nhờ Thánh giả nói pháp yếu mà họ
được điều phục tốt đẹp
thế này. Đây là Thánh giả đă ban cho ta một
đại ân. Chúng ta cần phải cùng nhau tâu vời nhà
vua biết điều này mà đến chùa lễ tạ
ơn Thánh giả”.
Lúc ấy, Pháp
Dự quán căn cơ, thấy họ có thể
được giáo hoá, nên bảo đồ chúng lau quét pḥng
ốc… (nói đầy đủ như trước),
khiến cho họ đều chứng được
kiến đế (thấy đựơc sự thật
của sự vật), tán thán hy hữu... cho đến quy
y Tam bảo thọ năm Học xứ. Các người chồng tỏ bày
với Pháp Dự Bí-sô:
- Kính thưa
Thánh giả! Từ nay, chúng con không bao giờ cố tâm làm
tổn hại đến mạng sống, kể cả
loài trùng kiến, xong hiện nay chúng con đang sống với
nghề cầm đao kiếm th́ làm sao tránh được
nghiệp sát ?!
Pháp Dự
trả lời:
- Này các
Hiền thủ! Đừng sanh tâm sát hại, cầm tên
không có mũi nhọn, cầm cung không có dây, cầm dao
bằng gỗ.
Tất cả
đều trả lời:
- Chúng con xin
phụng hành.
Sau khi các quân
sĩ đă kiến đế rồi nên không uống
rượu, không đánh bạc, không làm hạnh tà. Do
đó, vấn đề gia nghiệp, thọ dụng
họ được đầy đủ. Tất cả
voi ngựa trong binh trận, được nuôi đúng pháp
cũng đều mập khẻo.
Sau một
thời gian, nơi biên cương nước
Kiều-tát-la do vua Thắng Quang trị v́, có bọn
nghịch phản, nên phát binh dẹp loạn. Những
đội quân đưa đến đều bị
giặc đánh bại lại đem quân về trong cái
cảnh chết chóc thất lạc. Trước cảnh
này, vị đại thần của nước
đến tâu với vua:
- Quân của
bọn nghịch phản mạnh, quân ta hiện nay suy
yếu, nhà vua không thân chinh th́ khó mà dẹp được.
Nhà vua nghe
lời đại thần, liền tuyên lệnh phổ cáo
cho nhân dân: “Tất cả những người trong
nước ta, v́ sự sống c̣n vác dao mác theo ta đi
dẹp phản lọan không luận dân hay thần”.
Trong binh
chủng của nước có hai quân lực, một do
tướng soái tên là Thiện Kiếm chỉ huy, một do
tướng soái tên là Thiện Cung chỉ huy. Nhà vua tuyên
lệnh xuất quân: Thiện Kiếm tiên phong, Thiện Cung
hậu chiến. Nhà vua thấy đoàn binh mă đi
trước, cả người lẫn voi ngựa
đều mập mạnh, hỏi đại thần:
- Binh chủng
nào đó ?
Đại
thần tâu:
- Binh chủng
do tướng soái Thiện Kiếm chỉ huy đi tiên
phong.
Nhà vua quay
lại thấy đoàn binh mă đi sau, cả người
lẫn ngựa đều gầy ốm, hỏi
đại thần:
- Binh chủng
nào đó ?
Đại
thần tâu:
- Binh chủng
do tướng soái Thiện Cung chỉ huy hậu bị
quân.
Nhà vua ngạc
nhiên hỏi:
- Các khanh cung
cấp quân lương không b́nh đẳng hay sao ?.
Đại
thần tâu:
- Tâu
Đại vương! kẻ hạ thần cung cấp
đều b́nh đẳng.
Nhà vua nghi,
trực tiếp kêu hỏi:
- Binh chủng
của các tướng quân được nhận quân
lương không đồng đều hay sao ?
Tướng
quân tâu:
- Tâu
Đại vương! Vấn đề quân lương
được tính toán rương đồng.
Nhà vua hỏi:
- Như
vậy, tại sao binh chủng tiên phong mập mạnh, binh hậu
chiến gầy ốm như thế ?!
Tướng
soái Thiện Cung tâu:
- Nếu, chúng
tôi cầm tên không có mũi nhọn, cầm cung không có dây,
cầm dao bằng gỗ… không muốn sát hại, tất
cả binh khí được đem bán để dùng vào việc
ăn uống th́ binh chủng của chúng tôi cũng mập
mạnh sung túc.
Nhà vua nghe xong,
liền hỏi binh chủng tiên phong:
- Các
ngươi cầm tên không có mũi nhọn, cầm cung
không có dây, cầm dao bằng gỗ…không muốn sát hại
hay chăng ?
Tướng
quân tâu:
- Tâu
Đại vương! Thật như vậy.
Nhà vua nói:
- Các
ngươi muốn đem ta đến đó cho họ
giết hay chăng ?!
Tướng
quân tâu ngay:
- Đâu có
thể quả quyết là khí trượng có khả năng
chiến đấu, cuối cùng cần phải dùng sức
người mới phá được quân binh của đối
phương.
Nhà vua nghe nói,
nổi giận, phẩn nộ:
- Nếu khí
trượng không thể thắng, sức người
mới thắng được th́ các ngươi
đến đó, phá thành kia đi!
Phẩn
nộ như vậy rồi, nhà vua hồi giá.
Lúc bấy
giờ, binh chủng tiên phong đến chỗ Ni pháp
Dự thưa:
- Kính thưa
Thánh giả! Nhà vua bảo chúng con đến đánh phá thành
kia. Chúng con phải lập mưu kế thế nào đây ?!
Pháp Dự nói:
- Này Hiền thủ!
Các người chỉ đến bên thành kia là chắc
chắn sẽ thắng, xong các người hằng đêm
ở đâu cũng tụng Tam Khải kinh. Khi đă vây
quanh thành quách kia rồi, ngay
hôm đó phải tụng kinh suốt đêm, nệm danh
hiệu các Thiên chủ mà chú nguyện: “Nguyện đem
phước này dâng đến Phạm Thiên. Chủ tể
thế giới này Đế thích thiên vương, cùng
vị bốn hộ thế và mười tám đại
Dược xoa vương, Bát-chi-ca Dược xoa
đại tướng, Thần vương cầm
trượng và quyến thuộc, Nan-đà, Ô-ba-nan-đà
đại Long vương v.v…”
Các quân nhân nghe
Pháp Dự Bí-sô-ni nói như vậy rồi, liền kính
lễ dưới chân Pháp Dự một cách hoan hỷ, cáo
lui. Mỗi người nơi trú xứ đều tụng
Tam Khải kinh. Khi đến nơi vây xung quanh thành quách
rồi, suốt ngày đêm tụng kinh. Tất cả
tướng quân đều y theo phương pháp mà Pháp
Dự đă hướng dẫn, chú nguyện… (như
trước đă nói), thiết lập lễ nghi cúng
dường Thiên thần. Ngay lúc ấy, các vị
Đa-văn thiên vương ở phương Bắc,
phải đến nơi tập hợp của đông
đảo chúng Dược xoa, nghe các quân nhơn nói lời
chú nguyện bèn sanh ư nghĩ: “Ai xưng danh hiệu của ta
làm việc chú nguyện thế này ?” Sau khi t́m hiểu biết đó là quân nhân
lại bèn suy nghĩ: “Pháp đệ này của ta phải
chăng cầu nguyện để đuổi giặc
nơi này”. Liền bảo Bát-chi-ca Dược xoa
tướng quân rằng:
- Quân binh này là
pháp đệ của ta, hành quân cầu nguyện nhờ ta
đuổi giặc nơi này. Các người phải hàng
phục thành này để giao cho binh chúng kia.
- Dược
xoa cúi đầu thọ lệnh.
Cách thành không xa, họ hoá làm quân chúng,
voi lớn như núi, ngựa lớn như voi, xe như
lầu các, dân chúng Dược xoa tràn ngập xung quanh thành.
Khi ấy, người trong thành từ xa trông thấy binh mă
voi ngựa xe cổ ồ ạt kéo đến vô cùng lo
sợ khiếp đảm cùng nói với nhau:
- Nước
cùng với mạng sống cái nào ưu tiên ? Nước
mất có ngày lấy lại được, mạng
mất làm sao lấy lại được. Ta nên bảo
vệ mạng sống. Đâu có thể v́ thành mà bỏ
mạng.
Thế là
mỗi binh sĩ đều buông binh khí, mở cửa thành
thoát thân, phủ phục cầu xin sự sống của
thân mạng. Khi ấy, binh mă của tướng soái
Thiện Kiếm thấy sự việc như vậy,
thương tâm không sát hại, bắt giữ tướng
soái của đối phương và tịch thu chiến
lợi phẩm. Tất cả đều đại hoan
hỷ, kéo binh mă trở về, đến chỗ
Đại vương, tâu:
- Đây là
tướng quân bại trận, đây là chiến lợi
phẩm đă thu được.
Nhà vua rất
đổi vui mừng, tuyên bố sẽ thăng
thưởng cho tất cả tướng quân hữu công
trong chiến thắng này. Tất cả tù binh thề không
dấy loạn và được trả về nước
của họ.
Khi ấy,
Thiện Kiếm quân nhơn nghĩ: “Chúng ta hành quân
được yên ổn trở về như thế này,
đều nhờ oai lực của Thánh giả Pháp Dự
mà đại thắng. Nay, ta nên đem phẩm vật có
được, dâng cúng Thánh giả”. Bấy giờ, họ
làm theo ư nghĩ, mang phẩm vật đến chỗ Pháp
Dự thưa:
- Thưa Thánh
giả! chúng con đă chiến thắng và an toàn tánh mạng
để trở về, quốc vương hoan hỷ
tặng thưởng công lao nay chúng con mang đến
đây với tất cả ḷng thành dâng lên Thánh giả, cúi
xin Thánh giả từ bi doăn nạp để chúng con
được trượng thừa công đức.
Pháp Dự
Bí-sô-ni nói:
- Này Hiền
thủ! Đối với Tam bảo, không khởi tâm cúng
dường th́ tuy sanh lên thiên thượng c̣n phải
chịu bần khổ trong kiếp sống. Các Hiền
thủ nên đối với Tam bảo khởi tâm cúng
dường Phật, Pháp, Tăng để các Hiền
Thiện được an lạc trong nếp sống
trầm luân.
Tất cả
quân nhân nhờ sự hướng dẫn của Pháp
Dự, rồi liền đến rừng Thệ-đa
cầu thỉnh xin Phật và Tăng: được phép
cúng dường tất cả tứ sự trong ba tháng an
cư hằng ngày trước mỗi bữa ăn cúng
dường Tam bảo. Sau mỗi bữa ăn
được nghe diệu pháp. Đầu đêm cuối
đêm hệ niệm tư duy.
Sau một
thời gian, lại có biến động nơi biên
thuỳ chống lại nhà vua. Vua ra lệnh cho binh
chủng của Thiện Cung; các người đến trị
phạt bọn phản lọan nơi biên thuỳ!
Thiện Cung
tâu với nhà vua:
- Binh chủng
của chúng tôi bị gầy ốm, binh chủng của
Thiện Kiếm khẻo mạnh, nhà vua ra lệnh cho
họ đi chinh phạt, kỳ sau binh chủng của tôi
sẽ đi.
Nhà vua liền
ra lệnh cho quân chủng của Thiện Kiếm:
- Các
người đến trị phạt bọn phản
loạn nơi biên thuỳ.
Thiện
Kiếm tâu với nhà vua:
- Quân chủng
của tôi vừa mới xuất chinh, nay lại hành quân là
điều không hợp lư.
Nhà vua phán
quyết:
- Các
ngươi chỉ xuất quân lần này, sau sẽ
được miễn.
Thế là, quân
nhân thừa lệnh nhà vua rồi cùng nhau bàn tính:
- Trước
đây điều phục được thành kia là nhờ
sức oai thần của chúng Dựơc xoa, nay ta lại
xuất quân, bỏ mạng là điều chắc chắn!
Hiện nay, chúng ta c̣n ở trong thời gian phát nguyện và
cúng dường Phật và Tăng, đầy đủ
tứ sự, trong ba tháng an cư, chúng ta nên hiến dâng y
mùa Hạ trước khi xuất quân.
Bàn tính xong
họ mang y vật đến rừng Thệ-đa, lúc
ấy đức Thế Tôn đang tỉnh tọa, họ
mang y vật đến chỗ các Bí-sô:
- Chúng con
phải xuất quân chinh phạt nơi biên thuỳ,
đời quân sĩ có đi không có về, khó
được gặp lại chư Thánh giả. Do
vậy, đây là phẩm vậy y tài mùa Hạ, chúng con
hiến dâng, xin quư Thánh giả nạp thọ cho chúng con
được công đức!
Các Bí-sô
trả lời:
- Này Hiền
thủ! Đại sư Thế Tôn đả chế
Học xứ, không cho phép chúng tôi chia y giữa mùa Hạ. Do
vậy chúng tôi không dám nhận.
Họ lại
thưa:
- Cúi xin Thánh
giả nhận cho rồi cất nơi nào đó,
đợi đến Hạ xong, sẽ cùnh phân chia.
Trong hoàn
cảnh gấp gáp. Binh lính đem y vật để vào
trong một pḥng rồi cáo lui. Trong khi quân binh trang bị
trượng và các khí vật theo đội ngũ xuất
trận th́ Trưởng giả Cấp-cô-độc
gặp họ hỏi:
- Các ông
tại sao phải xuất trận ?
Họ đáp:
- Chúng tôi
định xuất binh để chinh phạt bọn
phản loạn nơi biên thuỳ.
Trưởng
giả nói:
- Nếu tôi
không nhầm th́ các ông vừa mới chinh phạt
đắc thắng về kia mà!?
Họ đáp:
- Đúng
như vậy.
- Thế th́
tại sao nay lại xuất quân ?
- Nhà vua
bảo chúng tôi xuất quân kỳ này rồi sau sẽ
miễn.
Trưởng
giả bảo rằng:
- Các ông
dừng binh nơi đây, tôi sẽ v́ các ông tâu với nhà vua.
Trưởng
giả Cấp-cô-độc tức tốc đến
vương cung tâu với nhà vua:
- V́ lư do nào nhà
vua sai Thiện kiếm xuất quân ?
Vua bảo:
- Tại thành…
có bọn phản loạn, nay cần phải dẹp
bọn phản loạn ấy.
Trưởng
giả tâu:
- Đă
đến phiên của họ chưa ?
Nhà vua trả
lời:
- Tôi bảo
họ đi rồi.
Trưởng
giả Cấp-cô-độc hỏi nhà vua:
- Tại sao
bảo họ đi liên tiếp ?!
Nhà vua trả
lời:
- Kỳ sau
họ được miễn .
Trưởng
giả khẩn khoản tâu:
- Nhà vua
biết chăng: binh chủng của họ đều là
con Phật, họ cầm tên không có mũi nhọn, họ
cầm cung không có dây, họ cầm dao bằng gỗ… cho
đến con kiến, họ không cố tâm đoạn
mạng sống của nó. Trước kia họ đánh
bại quân lính nơi thành nọ là nhờ Dược xoa
thiên chúng, nay bảo họ xuất quân chắc chắn
họ phải bỏ mạng! Đâu phải Đại
vương làm tổn thương đến Phật
tử ?!.
Lúc bấy
giờ, Đại vương mới biết họ là con
Phật, nên bảo đại thần rằng:
- Trẩm
hạ lệnh cho Tỳ-lô-trạch-gia, kể từ nay,
trường hợp xuất binh th́ đừng sai quân binh
do Thiện Kiếm chỉ huy.
Khi ấy, các
Bí-sô Hạ an cư xong, đến báo cáo với quân nhân thí
chủ:
- Này Hiền
thủ! Chúng tôi làm lễ Tùy ư xong, có y vật bố thí cho
chúng tôi không ?
Quân nhân thí
chủ trả lời:
- Trước
đây chúng tôi để nơi pḥng…xin các Thánh giả
đến đó lấy.
Các Bí-sô
đến mở cửa pḥng… để lấy y vật,
chỉ thấy kiến, mối ăn y vật bỏ thành
một đống lớn. Các Bí-sô đem nhân duyên này
bạch với Phật. Đức Phật dạy:
- “Nên sai
một số Bí-sô phụ trách việc cất chứa y
vật. Bí-sô không đủ năm pháp th́ không nên sai. Nếu
được sai th́ không nên làm. Năm pháp ấy là ǵ ? Có
ái, nhuế, bố, si, không có khả năng hiểu rơ
việc cất chứa cùng chưa cất chứa. Bí-sô
đủ năm pháp th́ nên sai, sai th́ nên làm.
Những ǵ là
năm pháp: Không ái. nhuế, si, bố, có khả năng
hiểu rơ việc cất chứa cùng chưa cất
chứa. Bí-sô như vậy th́ nên sai. Trước khi sai nên
t́m hiểu cẩn thận rồi hỏi: Ngài có thể v́
Tăng-già làm việc cất chứa y vật trong ba tháng
Hạ không ? Nếu vị ấy nói: “Có thể”, th́
phải, trải ṭa, đánh kiền chuỳ, tập
Tăng, một Bí-sô tác pháp Yết-ma sai”.
Lúc bấy
giờ, đức Thế Tôn khen ngợi người tŕ
giới và tôn kính giới, thiểu dục, tri túc, hạnh
Đổ-đa, oai nghi nghiêm túc, biết mức
lượng để thọ, tùy thuận làm đúng
như pháp Bí-sô, đức Thế Tôn tuyên nói xong, bảo các
Bí-sô :
- Trước
là sáng chế, đây là tùy khai. Ngài v́ Bí-sô chế Học
xứ này như sau:
“Nếu
lại có Bí-sô ba tháng an cư trước, chưa măn, c̣n
mười ngày nữa, chưa hết nửa tháng tám, có y
cấp thí, Bí-sô cần th́ nhận, nên cất cho đến
thời gian thí y. Nếu chứa quá thời hạn,
Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca”.
+ Bí-sô: nhơn
vật trong Phật pháp. Mười ngày nữa, chưa
hết nửa tháng tám: tức mười ngày nữa
mới đến lễ Tùy ư. Ba tháng an cư trước:
tức là tiền an cư chứ chẳng phải hậu
an cư.
Có y cấp
thí: Cấp thí có năm trường hợp: hoặc v́ ḿnh
bệnh nên thí, hoặc v́ người khác bệnh nên thí,
hoặc gần chết nên thí, hoặc gần đi xa nên
thí.
Bí-sô cần:
muốn nhận v́ thiếu y: là chỉ cho một trong
bảy loại y. Nên nhận: tức là nhận rồi
cất cho đến lễ Tùy ư sẽ chia.
Cất cho
đến thời gian thí y: nghĩa là cất chứa
nơi nào đó.
Thế nào
gọi là thời gian thí y ?
- Tức là
không có lễ trương Yết-sỉ-na y th́ một tháng,
có lễ trương Yết-sỉ-na y th́ năm tháng.
Đó là thời gian thứ y, quá tức phi thời. Nếu
quá thời gian này không làm pháp phân biệt mà chứa y,
phạm Xả đọa, Pháp thức Xả, như đă
nói ở giới trước.
Trong giới
này, tướng phạm của nó như thế nào ?
- Bí-sô phân chia Hạ vật lợi
dưỡng giữa mùa Hạ, hoặc chứa quá thời
hạn ấn định đều phạm Xả
đọa.
Nếu trong
mười ngày đặng năm món y cấp thí, phân chia
th́ không phạm.
Nếu ở
trong Hạ, thí chủ muốn tự tay làm việc hành thí,
th́ nhận cũng không phạm.
Nếu
Tăng sai được Bí-sô cất chứa y, hoặc thí
chủ nói: sau khi tôi đi về sẽ tự tay hành thí y,
th́ tuy quá thời hạn, cất chứa cũng không
phạm.
Trường
hợp không phạm nữa là: Người phạm giới
ban đầu, hoặc si cuồng, tâm lọan, thống năo
bức bách.
CĂN
BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ
TỲ-NẠI-DA
QUYỂN
23 - ( hết).