CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA

QUYỂN 21

TAM TẠNG PHÁP SƯ NGHĨA TỊNH PHỤNG CHẾ DỊCH

 

Học xứ thứ mười hai: Dùng lông dê hoàn toàn đen làm phu cụ.

Lúc bấy giờ, đức Bạc-già-phạm ở nơi thành Thất-la-phạt, rừng Thệ-đa, vườn ông Cấp-cô-độc. Khi ấy, các Bí-sô dùng lông dê toàn đen làm phu cụ, tự làm hoặc dạy người làm. Thứ này khó có mà lại quư. Các Bí-sô đứng ra kinh doanh công việc, tốn nhiều th́ giờ, bê trể việc tu hành, đọc tụng, tác ư. Các Bí-sô thường đến nơi Bà-la-môn, Cư sĩ v.v… xin lông dê đen. Khi ấy, các Bí-sô thiểu dục sanh cơ hiềm, đem nhơn duyên này tŕnh bày đầy đủ với đức phật… cho đến câu: V́ các đệ tử, đối với Tỳ-nại-da chế Học xứ này như sau:

“Nếu lại có Bí-sô dùng lông dê toàn đen làm phu cụ mới, Ni-tát-kỳ Ba-dật-để-ca”.

+ Nếu lại có Bí-sô là chỉ cho người trong Pháp này.

- Có bốn loại màu đen: Một: Màu đen, hai: Màu xanh xậm, ba: Màu bùn, bốn: Màu xám.

- Lông dê; tức không phải các loại lông khác.

Mới: Có hai loại: Mới làm và mới nhận được, ở đây nói mới tức là mới làm. Làm, tức là tự ḿnh làm hay là dạy người khác làm.

- Phu cụ có hai loại: Một là độn làm nệm, hai là làm thành phu cụ, trong đây nói dệt hay may làm thành phu cụ. Phạm tội Xả đọa, pháp xả, pháp sám như trước đă nói.

Trong vấn đề này, tướng phạm của nó như thế nào ?

- Khi Bí-sô lo liệu vấn đề lông dê, đối với một miếng, một nắm, một đống, hoặc cắt, rọc… Làm thành phu cụ, khi làm phạm Ác tác, làm xong phạm Xả đọa.

- Nhận được vật đă làm thành hay vật đă dùng rồi, hoặc là vật cũ làm thành mới lại th́ không phạm.

Lại, trường hợp không phạm nữa là người phạm lần đầu, hoặc si cuồng tâm loạn. Thống năo bức bách.

 

Học xứ thứ mười ba: Làm phu cụ quá phân số.

Đức Phật ở thành Thất-la-phạt, rừng Thệ-đa, vườn ông Cấp-cô-độc. Phật cấm các Bí-sô không được dùng lông dê toàn đen làm phu cụ mới. Khi ấy, các Bí-sô dùng bốn phần lông đen, cộng chút ít với các lọai lông màu khác, làm phu cụ mới. Các Bí-sô thiểu dục bèn cùng nhau cơ hiềm, đến bạch với đức Phật. Đức Thế Tôn đem nhơn duyên này tập hợp các Bí-sô… (hỏi, đáp, quở trách như các giới trước, cho đến câu): Nay ta v́ các đệ tử, đối với Tỳ-nại-da chế Học xứ này như sau:

“Nếu lại có Bí-sô làm phu cụ bằng lông dê mới, nên dùng hai phần toàn đen, phần thứ ba trắng, phần thứ tư thô. Nếu Bí-sô không dùng haiphần toàn đen, phần thứ ba trắng, phần thứ tư thô, làm phu cụ mới, Ni-tát-kỳ Ba-dật-để-ca”.

+ Bí-sô, nghĩa như trước. Mới có hai loại, phu cụ có hai loại,… đều như giới trước.

- Đen có bốn loại như đă nói; trắng, là loại lông bên hông, trên xương sống và bên cổ.

- Thô, là loại lông nơi đầu, chân, bụng. Nói hai phần v.v… tức là tính theo phân số như làm cái nệm lông mười cân th́ năm cân lông toàn đen, hai cân rưỡi màu trắng, hai cân rưỡi thô. Cần làm tăng hay giảm, chuẩn theo đây th́ biết. Trong đó, màu đen tính hai phần thành bốn phần. Nếu làm khác như trên đă định tức là trong hai phần sau bị lệch đi, hoặc dùng toàn đen th́ khi làm, phạm Ác tác, khi thành phạm Xả đọa.

- Nếu không v́ ḿnh, hoặc vật đă làm thành, hoặc màu đen dễ có, các màu khác khó t́m th́ vấn đề số lượng tăng giảm đều không phạm.

Lại, không phạm nữa là: người phạm lần đầu, hoặc si cuồng tâm loạn thống năo bức bách.

  

Học xứ thứ mười bốn: Dùng phu cụ dưới sáu năm.

Đức Phật ở thành Thất-la-phạt, rừng Thệ-đa, vườn ông Cấp-cô-độc. Khi ấy, các Bí-sô chứa nhiều phu cụ, cùng nói với nhau:

- Đại Đức! cái nệm này dày quá. Vị ấy liền bỏ cái đó, sắm cái khác. Đại đức! Cái này ngắn quá, cái này nhỏ quá, cái này rộng quá th́ những cái đó bị phá huỷ, không tính toán chi cả, để rồi vất bỏ, sắm lại cái mới. Do làm phu cụ bận rộn, phiền phức sanh ra… Như trường hợp trước, các Bí-sô thiểu dục cùng nhau cơ hiềm khinh tiện, đem sự việc ấy bạch với đức Phật. Đức Thế Tôn tập chúng, vấn đáp, quở trách… cho đến câu: Chế Học xứ này như sau:

“Nếu lại có Bí-sô làm phu cụ mới, buông lung không thích thọ tŕ sáu năm, dưới sáu năm, không bỏ cái cũ lại làm cái mới, Ni-tát-kỳ Ba-dật-để-ca”.

Đây là đức Thế Tôn chế Học xứ này lần đầu. Một thuở, đức Phật ở tại trú xứ Khoáng Dă Lâm, lúc ấy, khí hậu thay đổi bất ngờ, gió rét, Bí-sô bị cảm lạnh. Các vị tri sự có ngoạ cụ đều thọ tŕ sáu năm, do cấm giới nên không dám làm cái mới. V́ quá lạnh nên các công tác đều bị đ́nh trệ. Khi ấy, đức Thế Tôn biết mà vẫn hỏi Cụ thọ A-nan-đà:

- Tại sao các Bí-sô tri sự đ́nh chỉ các công tác ?

Cụ thọ A-nan-đà thưa:

- Do đức Phật v́ các Bí-sô chế Học xứ này: Thọ tŕ chưa đủ sáu năm, không được làm phu cụ mới. Phụ cụ của các Bí-sô dùng lâu quá mỏng manh nên khi làm việc không chống nổi với cái lạnh khắc nghiệt cho nên công tác đều bị đ́nh trệ.

Đức Phật bảo A-nan-đà:

- Các Bí-sô tri sự, phụ trách các công tác được chứa các phu cụ, tuy chưa đủ sáu năm, cũng không đủ chống lại với cái giá rét. Bí-sô nên đến trong Tăng-già xin để sắm phu cụ. Thể thức xin làm phu cụ trong sáu năm như sau: Tập Tăng như thường lệ, Bí-sô tri sự đến trong chúng, lễ Tăng túc, chấp tay, ngồi xỏm trước Thượng tọa, thưa:

“Đại đức Tăng, lắng nghe! Tôi là Bí-sô tên … phụ trách công tác, theo phép th́ trong ṿng sáu năm không nên làm phu cụ mới. Bí-sô tôi tên… tuy c̣n trong ṿng sáu năm, nhưng muốn đến Tăng-già xin làm phu cụ mới. Nguyện đại đức Tăng-già cho Bí-sô tôi tên là… tuy trong sáu năm lại được làm phu cụ mới. Nếu có thể được, nguyện các ngài từ mẫn cho! (Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy)”.

- Nếu Tăng-già biết người kia có thể tin cậy được th́ tác pháp thuận cho; hoặc là bảo họ đem cái cũ đến trong Tăng để kiểm tra lại; nếu quá dài bảo họ cắt bỏ, quá ngắn chắp thêm, quá rộng, quá hẹp, tùy theo đó mà liệu lư. Nếu có chỗ rách th́ vá; rách nhiều, không thể vá được, Tăng-già nên thuận cho bằng cách khiến một Bí-sô tác bạch Yết-ma (như trong 101 Yết-ma tŕnh bày). Nếu Bí-sô tri sự mà Tăng-già xét thấy cần cho th́ tuy c̣n trong ṿng sáu năm vẫn cho tùy ư làm không có ǵ nghi hoặc.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn khen ngợi người Tŕ giới, người cung kính giới, tùy thuận thuyết pháp bảo các Bí-sô rằng:

- Trước là sáng chế, nay là tùy khai. Cho đến câu: nên nói như sau:

“Nếu lại có Bí-sô làm phu cụ mới, buông lung không thích thọ tŕ sáu năm, dưới sáu năm, không bỏ cái cũ lại làm cái mới, trừ được phép của chúng, Ni-tát-kỳ Ba-dật-để-ca”.

+ Nghĩa của danh từ Bí-sô như trước đă giải. Mới có hai loại cũng như trước. Chủ yếu của vấn đề là phải thọ tŕ đủ sáu năm, nếu không đủ sáu năm hoặc xả, không xả, lại làm cái mới, phạm tội Xả đọa. Pháp xả, sám hối v.v… cũng đồng như giới trước.

Trong vấn đề này, tướng phạm của nó như thế nào ?

- Nếu, Bí-sô trong năm nay làm phu cụ mới, cũng trong năm này lại làm tiếp bao nhiêu cái khác, trong khi làm cái thứ hai th́ phạm tội Ác tác, khi thành phạm tội Xả đọa.

Cái làm ban đầu, không phạm. Tuy chẳng phải cùng một năm mà đến năm thứ hai lại làm cái nệm khác, như vậy năm thứ ba, tư, cho đến năm thứ năm lại làm cái mới, phạm tội đồng như trước. Cái nệm làm ban đầu không phạm tội.

Nếu Bí-sô trước đă có cái phu cụ rồi, trong năm đó lại làm cái phu cụ khác; cũng trong năm đó cũng làm xong, phạm Xả -đọa.

Nếu năm ấy làm không xong, đến năm năm mới làm xong, phạm tội Xả đọa.

Nếu Bí-sô trong năm ấy làm phu cụ mới chưa xong lại làm cái khác, khi cùng xong nói rằng: Tôi tŕ cái trước xả cái sau. Đối với cái sau lại tŕ rồi mới xả bỏ th́ đối với cái trước, cái sau phạm Xả đọa.

Cái làm trước không phạm. Nếu cái làm ban đầu chưa xong, cho đến năm thứ hai, kéo dài đến năm thứ ba, tư, năm, khi đều hoàn thành nói: Tôi thọ tŕ cái trước, tôi sẽ xả cái sau… (như trước).

- Nếu Bí-sô đă làm một cái nệm, trong năm đó, làm một cái khác, chưa xong lại thôi; năm thứ hai lại làm một cái khác cũng chưa xong mà thôi, đến năm thứ ba, năm thứ tư, năm thứ năm cũng như vậy. Những cái chưa thành đó đều năm tội Ác tác.

Cái làm ban đầu không phạm. Nếu Bí-sô đă làm một cái nệm rồi, trong năm đó không làm cái nệm nào khác, cho đến năm thứ năm cũng không làm cái nệm nào khác, đến năm thứ sáu mới làm một cái th́ không phạm.

Lại, trường hợp không phạm nữa là: người phạm lần đầu, hoặc si cuông tâm loạn, hoặc thống năo bức bách.

 

Học xứ thứ mười lăm:

May phu cụ mới mà không làm cho hoại sắc.

Đức Phật ở thành Thất-la-phạt, rừng Thệ-đa, vườn ông Cấp-cô-độc. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn đặng Vô thượng Trí rồi, đối với tứ phương có một đại danh xưng, tất cả đều nghe Trung Quốc có Phật ra đời. Lúc bấy giờ, thương nhơn ở phương Bắc nghe Phật ra đời, có người dâng phẩm vật cúng dường, được quả báo lớn, được lợi ích lớn, tiếng đồn khắp hết, giàu có phú hộ. Họ nghe có người được như vậy nên khởi ư nghĩ: “Nay, ta nên mang hàng hoá đến thành Thất-la-phạt, một là được cầu lợi nhuận, hai là được thân kiến lễ bái đức Thế Tôn”.

Đoàn nhà buôn gồm năm trăm người, nghĩ như vậy rồi, họ chở hàng hoá từ phương Bắc đến Trung Quốc. Khi họ đến thành Thất-la-phạt an trí  hàng hoá rồi bèn đến chỗ vườn Cấp-cô-độc, thưa với trưởng giả:

- Trưởng giả nên biết cho; nay chúng tôi muốn thân kiến lễ kính đức Thế Tôn.

Ông Trưởng giả trả lời:

- Lành thay! Lành thay! Đó là ư nguyện cao đẹp! Đức Như Lai bậc Ứng chánh biến tri là ngôi vị nên kính lễ. Ngài là bật rất khó được gặp, như bông Ô-đàm-bạt-la được một lần xuất hiện.

Trưởng giả nói như vậy rồi, liền hướng dẫn năm trăm thương nhơn đến chỗ đức Phật. Họ đảnh lễ Phật túc rồi ngồi qua một bên. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn v́ Trưởng giả và năm trăm người buôn tuyên nói pháp cốt yếu, chỉ vẽ hướng dẫn cho họ vui vẻ tin theo. Đức Phật trầm mặc an nghiêm. Sau đó họ hoan hỷ lễ Phật cáo lui. Họ đến chỗ các Bí-sô kỳ túc, đích thân kính lễ, và xin phép được xem các pḥng ốc chúng Bí-sô. Cấp-cô Trưởng giả hướng dẫn họ đi xem các pḥng ốc xong, đoàn người con buôn thấy Ni-sư-đăn-na trên nệm giường của các Bí-sô bị lủng ở chính giữa, hỏi trưởng giả:

- Tại sao chính giữa Ni-sư-đăn-na, trên giường nệm của các đại kỳ túc Bí-sô đều bị lủng rách.

Trưởng giả trả lời:

- Các tôn túc Bí-sô ban đêm, phần nhiều ngồi thẳng cho đến sáng, do nhơn duyên ấy cho nên phần nhiều nệm đều bị huỷ rách.

Các thương khách nghe xong, rất sanh kính tín, bèn đem năm trăm diệu điệp phụng hiến chúng tăng. Khi nhận được diệu điệp rồi các Bí-sô làm Ni-sư-đăn-na mới, bao nhiêu cái cũ dồn lại một đống dưới đất, nơi pḥng kế cận. Lúc ấy, có một trưởng giả thỉnh đức Phật và Tăng đến nhà mời cơm. Các Bí-sô đến giờ đều phó trai, chỉ trừ đức Phật Thế Tôn là ở tại chùa, khiến người đi lấy thức ăn.

- Có năm nhơn duyên mà đức Phật không đi phó trai:

1. Cần nếp sống yên lặng.

2. V́ chư thiên nói pháp.

3. Quan sát bệnh nhơn.

4. V́ vấn đề xem xét các ngọa cụ.

5. V́ Bí-sô chế Học xứ.

Trong trường hợp này, đức Thế Tôn muốn đến xem xét các ngọa cụ, và muốn v́ các Bí-sô chế Học xứ, cho nên không đi phó trai. Sau khi các Bí-sô đi phó trai không bao lâu, đức Thế Tôn cầm ch́a khoá tuần tự đi đến các pḥng. Ngài đến xem một cái pḥng, thấy một đống Ni-sư-đăn-na cũ bỏ dưới đất một cách bừa băi và nhơ nhớp. Đức Thế Tôn thấy bèn khởi ư nghĩ: “Các thí chủ với thâm tâm tín kính, như cắt xén máu thịt của ḿnh đem đến dâng cúng v́ tu các phước nghiệp, xong các Bí-sô vất bỏ phu cụ cũ, không tận dụng để sử dụng, không có tâm ái hộ, vất bỏ một cách bừa băi”. Đức Thế Tôn lấy một cái phu cụ cũ, giũ sạch bụi đất rồi xếp, đem treo trên cái giá. Ngài đi rửa tay chân rồi vào pḥng đoan tọa. Bí-sô lấy thức ăn đem về, đến chỗ đức Thế Tôn. Như thường lệ, Thế Tôn nhận thức ăn, vui vẻ nói chuyện với Bí-sô thị giả:

- Các Bí-sô nhận được thức ăn tốt và đầy đủ chăng ?

Bí-sô thị giả thưa:

- Kính bạch đức Thế Tôn! Đại chúng đều nhận được thức ăn, thức uống tốt và đầy đủ.

Đức Thế Tôn thọ trai xong, rửa tay chân, trở vào pḥng ngồi trong nếp sống tịnh mặc. Xế chiều, đức Thế Tôn từ cảnh định xuất, đến trong Đại chúng, an tọa nơi toà, bảo các Bí-sô :

- Sau khi các ông đi phó trai không lâu, Như Lai cầm ch́a khoá tuần tự đến các pḥng để xem xét điều cần xem xét. Như Lai thấy một đống Ni-sư-đăn-na cũ bỏ bừa băi nơi đất trong một pḥng, một cách nhơ nhớp thấy rồi, khởi ư nghĩ: “Các thí chủ với thâm tâm tín kính, như cắt xén máu thịt của ḿnh, đem đến dâng cúng, v́ tu các phước nghiệp, xong các Bí-sô vất bỏ phu cụ cũ, không tận dụng để sử dụng, không có tâm ái hộ, vất bỏ một cách bừa băi. Đây, không phải là điều thiện”. Này, các Bí-sô! Đối với vật thí của người có tín tâm, cần phải ái hộ đúng mức, thuận thời tri túc để thọ dụng. Như vậy mới là điều thiện.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn khen ngợi người ái hộ thuận thời tri túc, thọ dụng của tín thí rồi ngài bảo các Bí-sô:.. (nói đầy đủ như trước) cho đến câu: chế Học xứ như sau:

“Nếu lại có Bí-sô làm Ni-sư-đăn-na mới, nên lấy một miếng vải c̣n chắc của cái cũ, dọc ngang bằng một gang tay đức Phật may lên trên cái mới, v́ làm cho hoại sắc. Nếu Bí-sô làm Ni-sư-đăn-na mới, không dùng một miếng của cái cũ may lên trên cái mới, v́ làm cho hoại sắc, Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca”.

+ Bí-sô, đă giải rồi. Mới có hai loại: một là mới làm, hai là mới nhận được.

Chữ mới nói nơi đây là mới làm. Ni-sư-đăn-na, tức là phu cụ.

Làm, có nghĩa là tự ḿnh làm hay là sai người khác làm.

Một miếng của cái cũ là cắt lấy một miếng chỗ nào đó tương đối c̣n chắc của cái cũ.

Một gang tay của Phật bằng một khuỷu tay rưỡi của người trung b́nh. May lên trên cái mới là may chồng lên trên cái mới may.

V́ làm cho họai sắc, c̣n có nghĩa là để cho nó làm được bền hơn. Nếu không may chồng lên th́ phạm Ni-tát-kỳ Ba-dật-để-ca.

Pháp Xả và sám hối đều đồng như trước.

Trong đây, vấn đề phạm tướng của nó như thế nào ?

- Nếu Bí-sô dùng một miếng của Ni-sư-đăn-na cũ, bằng một gang tay của Phật may lên trên cái mới, mà thiếu đi một ngón tay hay nữa ngón tay cũng phạm tội Ni-tát-kỳ Ba-dật-để-ca.

Trường hợp không phạm là dùng cái cũ may phủ giáp khắp cái mới, hay cái cũ hoàn toàn bị rách nát không thể may lên trên cái mới được.

Lại, không phạm nữa là người phạm lần đầu, hoặc si cuồng tâm loạn thống năo bức bách.

 

              Học xứ thứ mười sáu: Tự ḿnh vác lông dê đi.

 

Đức Phật ở thành Thất-la-phạt, rừng Thệ-đa, vườn ông Cấp-cô-độc. Khi ấy, Lục chúng Bí-sô cùng nhau bàn luận:

 - Nan-đà, Ô-ba-nan-đà các Hắc bát ấy dùng mỡ con di hầu thoa dưới chân, nên đi đâu đều thu được lợi dưỡng; đi đến địa điểm xa th́ vừa đến đă có người cung cấp, nhiều người ái kính, mọi người đều quen biết. Chúng ta chẳng khác nào con ếch ở dưới giếng không hề đi đâu, làm sao có được lợi dưỡng! Chúng ta cũng nên đi đây đi đó.

Trong số Lục chúng có ư kiến:

- Chúng ta đi đâu bầy giờ ?

Ô-ba-nan-đà trả lời:

- Nay, chúng ta tạm đi ra ngoài để t́m cầu đoàn con buôn.

Lục chúng lại nghĩ: “Tất cả chúng ta đi hết th́ môn đồ quyết thuộc, nhà thí chủ của chúng ta đến cúng, đều bị Hắc bát xâm đoạt, nên để một người ở nhà c̣n bao nhiêu người đi hết”.

- Họ bàn với nhau:

          - Ai là người đồng ư ở nhà đây ?

        Đại đức Ô-đà-di được phân công ở nhà trông nom, quyền lợi thu được đem về cùng chia. Ô-đà-di bảo rằng: 

- Tôi một ḿnh ở lại ǵn giữ.

C̣n năm vị đi ra ngoài t́m đoàn con buôn. Thấy nhiều người đi theo hướng nước Nê-ba-la, Bí-sô hỏi:

- Các vị đi về đâu ?

Thương khách trả lời:

- Chúng tôi muốn đến nước Nê-ba-la.

Các Bí-sô nói:

- Chúng tôi muốn được đi với quư vị.

Đoàn con buôn nói:

- Thưa Thánh giả! Nước Nê-ba-la đất nhiều đá sỏi, như cái xương sống con lạc đà. Các Thánh giả chưa chắc đă vui sống nơi đó.

Các Bí-sô với thái độ hiếu kỳ trả lời:

- Chúng tôi muốn cùng đi để xem phong thổ nơi đó.

Thương khách thản nhiên nói:

- Nếu như vậy th́ quư Thánh giả cứ cùng đi.

Thế là các Bí-sô cùng với các đoàn con buôn lên đường. Các Bí-sô khi vừa đến nước kia liền cảm thấy không hài ḷng. Ngày nọ họ đến hỏi các thương khách:

- Các vị chừng nào trở về lại ?

Đoàn thương khách nói:

- Thế là ngài không hài ḷng phải không ?

Các Bí-sô nói:

- Ngay từ ngày đầu mới đến, chúng tôi đă cảm thấy không ưa thích chút nào!

Các người trên nói:

- Thánh giả, chúng tôi chưa giao dịch được về vấn đề hàng hoá th́ làm sao trở về được! Tuy nhiên, chúng tôi có bạn đồng nghiệp muốn trở về lại Trung Quốc, chúng tôi sẽ nói với các vị ấy để Thánh giả đồng hành.

Các Bí-sô bảo: 

- Như vậy th́ quá tốt!

Nơi nước Nê-ba-la có hai mặt hàng giá rẻ dễ mua là lông dê và hùng hoàng. Các khách buôn mua lông dê rất nhiều chở xe đem về bán. Các Bí-sô đồng đi với xe chở lông dê. Các Bí-sô bản tánh sợ bụi nhớp, nên hoặc đi trước hay đi sau đoàn xe tải. Khi ấy, các Bí-sô Lục chúng chậm rải đi sau. Trong đoàn xe tải của thương khách có một chiếc bị găy trục bất ngờ không chạy được. Các thương nhơn cùng nhau nghị bàn: “Nếu chúng ta ở lại đây để lo liệu cái trục xe th́ bọn cướp nghe được, đến, trước hết nó giết chúng ta rồi sau đoạt tài vật. Chúng ta nên chở những hàng hoá quư giá c̣n xe chở lông dê bỏ lại”. Thời gian bàn tính công việc th́ Lục chúng đi kịp đến gặp, hỏi:

- Tại sao quư vị tỏ vẻ ưu sầu, đứng đây không đi!

Người buôn đáp:

- Thưa Thánh giả xe hàng chúng tôi bị găy trục…báo cáo đầy đủ vấn đề cho Lục chúng biết.

 Lục chúng nghe hỏi:

- Như vậy quư vị bỏ lông dê à ?

Người buôn bảo:

- Chúng tôi đành phải bỏ vậy!

Lục chúng nói:

- Quư vị bỏ, chúng tôi xin mang về để làm đồ dùng được không ? Chúng tôi tùy sức mà mang.

Người buôn nói:

- Tùy ư Thánh giả, chứ đối với chúng tôi là một vật vất bỏ rồi đó.

Khi ấy, Nan-đà, Ô-ba-nan-đà cùng nhau nghị bàn: “Đây là một dịp may, chúng ta có được một số phấn tảo hết sức phong túc”. Chúng ta dồn y bát của năm người cho một người mang, bốn người lấy dây cỏ cột số lông dê thành bốn bó cho bốn người vác đi.

Các thương nhơn thấy vậy nói:

- Này các Thánh giả! Chúng tôi nghĩ chỗ lông dê này, ai đó hoặc chim chót đến lấy nhưng nay các Thánh giả lại vác đi hết. Chúng tôi xin sẽ trả lại tiền để lấy số lông dê này.

Các Bí-sô nói:

- Các người là vật vô thức, chúng tôi đâu phải là người làm thuê đâu! Nếu, các người nói như vậy, chúng tôi sẽ bỏ hết, đi không.

Các thương nhơn nói:

- Chúng tôi nói vui, các Thánh giả miễn chấp cho! Các ngài cứ mang về dùng.

Trong đoàn con buôn có ngoại đạo cùng đi, họ trêu lộng Lục chúng:

- Vác thứ này coi bộ khá nặng đấy, đến nơi nhận được bao nhiêu lợi nhuận ?

Lục chúng nghe xong, nổi giận trả lời:

- Phá vỡ bụng các ngươi ra, đạp trên đầu các ngươi đi, để chúng tôi vác, chúng tôi mới thu được mối lợi đó.

Ngoại đạo nín thinh không đối đáp chi cả.

Lục chúng nghị bàn: “Nếu, chúng ta cùng đi trong đoàn buôn, chúng ta phải nhận lấy nhiều cơ hiềm và trêu lộng, chúng ta nên đi trước họ”.

Lục chúng đi gần đến một tụ lạc, nơi đó có nhiều giặc cướp. Phần hành cảnh giác từ xa trông thấy, có người vác vật đi đến, tức tốc báo động:

 - Các người nên biết: Có đoàn quân voi kéo đến.

Mọi người thấy rồi đều kinh hoàng hoản sợ, bỏ nhà chạy vào rừng, chỉ để thanh niên khoẻ mạnh ở lại giữ thôn ấp.

Những người canh gác lại bảo rằng:

- Lạ nhỉ không phải đoàn quân voi mà là đoàn lạc đà. Rồi họ lại bảo: sai rồi, không phải lạc đà mà là ḅ ngựa chở hàng hoá. Thế rồi họ bảo khổ thật, không phải ngựa lừa ǵ cả mà là người vác đồ vật.

Khi đến gần thôn th́ rơ ra là Bí-sô vác lông dê, họ nói:

- Này, Thánh giả! Thật kỳ lạ, các thánh giả vác một vác rất to, khác hẳn với người thường, làm cho người trong thôn đều bỏ chạy tứ tản.

Lục chúng nói:

- Các người là kẻ vô tri thức, thấy người vác đồ lại gọi là giặc, bỏ chạy. Nếu bọn giặc biết được họ đến cướp đoạt của cải th́ sao! Thôi, bảo họ về và mang tài sản về hết đi.

Người trong thôn  ấp nghe rồi im lặng…

Lúc này, Lục chúng chứng kiến sự việc như vậy bèn cùng nhau tính toán: Nan-đà, Ô-ba-nan-đa nói:

- Nếu chúng ta đi theo đường thường th́ chúng ta phải nhận lấy nhiều sự cơ hiềm và trêu lộng. Chúng ta nên đi theo đường rừng.

Thế rồi, Lục chúng đi theo con đường hoang vắng kia. Khi ấy, phần hành thuế quan đi lùng t́m nẻo đi của người trốn thuế, bắt gặp đoàn người vác lông dê, nói:

- Này các thương nhơn! Các ông là người trốn thuế nên tránh đường lộ không đi mà đi vào đường rừng.

Lục chúng trả lời:

- Ông là người vô tri nên ông mới gọi chúng tôi là thương nhơn trốn thuế.

Phần hành quan thuế hỏi:

- Như vậy quư vị là ai ?

Đáp rằng:

- Chúng tôi là Lục chúng Bí-sô .

Quan thuế bảo:

- Như vậy xin các Thánh giả cứ đi.

Lục chúng lại nghị bàn: “Nếu chúng ta vào cửa chính của Thệ-đa, các Hắc bát sẽ cùng nhau nắm lấy cơ hội để trêu lộng chúng ta, chúng ta nên vác vào cửa phụ”. Khi đến cửa phụ, Ma-ha-la thấy, hỏi:

- Tại sao quư khách vác đồ lại cớ ǵ phá rào vào chùa ?

Lục chúng nói:

- Này ông già! Ông gọi chúng tôi là khách vác đồ à ?!

Ma-ha-la nói:

- Nếu không phải… th́ các ông là ai ?

Đáp rằng:

- Chính chúng tôi là Lục chúng đây.

- Lành thay! Lành thay! Các Đại đức! - Ma-ha-la chào hỏi.

Đến nơi rồi, Lục chúng tập trung lại chất thành một đống như ḥn núi. Ai thấy đều lấy làm lạ, hỏi:

- Các Cụ thọ, có thể vác nặng như thế này à ?! Các Cụ thọ không sợ đời họ cơ hiềm hay sao ?

Lục chúng liền trả lời:

- Đâu phải, cái miệng của chúng tôi chỉ ăn mà thôi. Ai trêu lộng chúng tôi, chúng tôi trêu lộng lại, bằng ba lần hơn.

Khi ấy, các Bí-sô thiểu dục đều cùng nhau cơ hiềm, phát biểu:

- Tại sao Bí-sô tự vác vật nặng như thế này đi mà không biết xấu hổ, lại khoe khoang cái sở trường của ḿnh.

Các Bí-sô đem nhơn duyên này bạch với đức Phật. Đức Thế Tôn tập hợp các Bí-sô … (như trước) cho đến câu: Chế Học xứ này như sau:

 “Nếu lại có Bí-sô trên đường đi, nhận được lông dê, cần th́ nên nhận. Không có người mang th́ tự ḿnh được quyền mang cho đến ba Du-thiện-na. Nếu mang quá, Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca”.

+ Bí-sô ở đây là chỉ cho Lục chúng và đồng bọn. Trên đường đi, là trên lộ tuyến đường giao thông. Nhận được, là nhận vật từ người khác trao cho. Cần, tức là hữu dụng đối với ḿnh. Nên nhận, tức là tùy ư tiếp nhận. Cho đến ba Du-thiện-na, tức là chỉ cho chiều dài của tuyến đường, mà không có người khác mang giùm cho ḿnh. Nếu mang quá mức định, phạm Ni-tát-kỳ Ba-dật-để-ca. Pháp Xả, sám hối, như trước đă nói.

Trong đây, vấn đề phạm tướng như thế nào ?

Bảy Cực vi thành một Vi trần. Bảy Vi trần thành một Đồng trần.

Bảy Đồng trần thành một Thủy trần. Bảy Thủy trần thành một Thố trần.

Bảy Thố trần thành một Dương mao trần. Bảy Dương mao trần thành một Ngưu mao trần.

Bảy Ngưu mao trần thành một Khích du trần. Bảy Khích du trần thành một Kỷ.

Bảy Kỷ thành một Sắt. Bảy Sắt thành một Khoáng mạch.

Bảy Khoáng mạch thành một Chỉ. Hai mươi bốn Chỉ thành một Khuỷu tay.

Ba Khuỷu rưỡi tay thành một người. Bốn khuỷu tay thành một Cung.

Năm trăm cung thành một Câu-lô-xá. Tám Câu-lô-xá là một Du-thiện-na. Bảy thôn, mỗi thôn có một Câu-lô-xá.

Khi mang lông dê đi đến nửa đường, đều phạm tội Ác tác.

Nếu đến trong thôn đều phạm tội Xả đọa.

Nếu từ thôn đến nơi Khoáng dă, một phần tư Câu-lô-xá, phạm Ác tác, đủ một Câu-lô-xá phạm Xả đọa.

Nếu từ Khoáng dă đi đến dưới ba Du-thiện-na th́ không phạm, quá mức định phạm Xả đọa.

Nếu dùng làm măo, làm khăn trải, làm tràng phan… mang đi một cách kín đáo th́ không phạm.

Lại, trường hợp không phạm nữa là: Người phạm lần đầu, hoặc si cuồng tâm loạn thống năo bức bách.

 

Học xứ thứ mười bảy:

Sai Ni không phải bà con xử lư (giặt, nhuộm, chải) lông dê.

       Đức Phật ở thành Thất-la-phạt, rừng Thệ-đa, vườn ông Cấp-cô-độc. Lúc ấy, Lục chúng Bí-sô nói với nhau:

- Nay, ta nên chia số lông dê có được.

Nan-đà hỏi:

- Chia làm mấy phần ? Đại đức Ô-đà-di ở nhà có được nhận phần chăng ?

Khi nghe nói như vậy, Ô-đà-di bèn khởi ư nghĩ: “Bạn bè của ta thu hoạch được nhiều lợi dưỡng, bằng cách nào ta cũng được nhận một phần trong số đó ?” Bèn hỏi:

- Quư vị bàn tính chuyện ǵ đó ? Chỗ lông dê mỗi vị được đó, tự đem nhập chung trở lại rồi phân, phần của ngài nào nhận phần của ngài ấy tôi cũng nhận được phần của tôi.

Ô-ba-nan-đà nghe nói như vậy, khởi ư nghĩ: “Thế Tôn pháp chủ hiện nay an trụ nơi đây, lợi dưỡng nhận đuợc rất nhiều, chuyện ǵ phải nhập kho như lời Ô-đà-di phát biểu”. Xưa nay chúng ta thường gọi là nhóm sáu người, không lẽ nay làm thành chúng năm người hay sao ? Nên chia làm sáu phần b́nh đẳng cho nhau th́ hơn.

Nan-đà nói:

- Như vậy, ai làm việc chia phần đây ?

Xiển-đà phát biểu:

- Đại đức Ô-đà-di từ lâu nghĩ ngơi, nay có thể giao cho Đại đức v́ ta chia phần.

Tất cả đều nhất trí, gọi đó là ư kiến hay! Thế là Ô-đà-di gom hết lại chia làm sáu phần, đem phần của ḿnh để vào trong pḥng.

A-thuyết-ca nói:

- Đại đức Ô-đà-di ở nhà nhận được ǵ cũng đem ra chia chứ!

Ô-đà-di nói:

- Từ khi quư vị đi đến nay, cây tăm xỉa răng tôi cũng không nhận được. Nếu không tin th́ cứ hỏi đại chúng hiện tại và đồng phạm hạnh th́ biết.

Bổ-nại-phạt-tố nói:

- Ô-đà-di khinh lộng chúng ta chăng ?

Ô-đà-di nói:

- Có nhận được ǵ mà không chia mới gọi là khinh lộng, chứ một cây tăm xỉa răng cũng không nhận được th́ làm sao thành khinh lộng.

Năm vị khi nghe nói như vậy đều nín thinh.

Ô-đà-di khởi ư nghĩ: “Nay ta được nhiều lông dê nhờ ai lo liệu đây. Nếu giao cho người giúp việc th́ có thể bị mất hết v́ họ là kẻ vô giới hạnh, khó tin cậy. Nếu giao cho mười hai Ni chúng th́ họ cũng thuộc về loại khó tin; họ tính toán tỷ mỷ lắm, giống như người cân bột làm bánh. Bí-sô-ni Đạt-ma-đà-na khéo tŕ kinh tạng, quyến thuộc cô ta cũng tŕ kinh, đọc tụng siêng năng tu các thiện phẩm. Ta giao cho họ, họ kéo dài thời gian không thể làm xong. Kiều-đáp-di khéo Tŕ Luật Tạng, môn đồ cũng đều tŕ Luật, suy nghĩ vấn đề tŕ phạm, cân nhắc cẩn thận việc khinh trọng ta giao cho họ cũng khó thành. Đại Thế Chúa trong nếp sống tịnh lự, môn nhơn của người đều tu tịch định, những giờ rảnh ta có thể giao lông dê để họ lo liệu cho ta”. Ô-đà-di vừa khởi ư nghĩ xong, th́ Đại Thế Chúa đến đảnh lễ đức Thế Tôn. Ô-đà-di vừa thấy liền nói:

- Này, Kiều-đáp-di! Như đức Thế Tôn nói: Người đủ cấm giới, tâm họ nghĩ ǵ đều được thành tựu. Do sức của tịnh giới được kết quả như vậy. Chỗ định nói để nhờ giúp th́ người đă biết được. Tôi vừa nghĩ đến Đại Thế Chúa Kiều-đáp-di th́ người lại đến, thật đúng lúc như qua sông gặp đ̣, nguyện tôi đă toại.

Đại Thế Chúa hỏi:

- Đại đức cần ǵ tôi?

Ô-đà-di bảo:

- Tôi có một ít lông dê cần liệu lư, người có thể giúp tôi điều đó không?

Vị Ni đáp:

- Thưa Thánh giả! Tôi cần đến để kính lễ đức Thế Tôn; lễ xong, tôi sẽ sai hai Ni đến pḥng nhận đem về để liệu lư cho Thánh giả.

Số lông dê của Ô-đà-di bó thành hai gói để phía sau cửa pḥng. Kiều-đáp-di kính lễ Thế Tôn xong, về chùa, sai hai Ni đến nhận. Đến nơi, hai Ni thưa:

- Bạch Đại đức! Thánh giả Kiều-đáp-di sai hai đứa con đến lấy lông dê.

Ô-đà-di nói:

- Hai bó lông dê ở phía sau cửa, mang về đi!

Hai cô Ni vào sau cửa, dùng hai tay kéo bó lông dê nó không nhúc nhích v́ quá nặng. Hai cô Ni bảo rằng:

- Thưa Thánh giả!  Trong lông dê có đá hay chăng?

Ô-đà-di bảo:

- Hai cô c̣n trẻ lẽ đâu xương sống lại găy ? Nào cúi xuống, đưa lưng vào!

Ô-đà-di dùng tay lấy một ngón nhỏ móc đỡ mạnh một bó đặt lên trên đầu, một bó để lên trên lưng của hai cô Ni. Hai cô Ni đầu ê ẩm lưng đâu thắt khó khổ lắm mới mang về đến chùa. Vừa vứt bỏ hai bó lông dê xuống đất hai cô Ni liền nằm sải nơi giường rên và thở. Các Bí-sô Ni thấy vậy, hỏi:

- Đem một ít lông dê về, mà hai cô bị găy xương sống rồi sao, coi bộ đau đớn khổ sở quá vậy!?

Bị nghi ngờ, hai cô bất bằng, trả lời:

- Ai mạnh như tôi cứ đến dở thử th́ biết.

Cô Ni nghi ngờ kia đến dở thử th́ thật sự không nhúc nhích. Các cô Ni bảo rằng: trong bó lông dê này có đá chăng!

Sau khi nghỉ khoẻ hai cô Ni mở hai bó lông dê ra bỏ thành một đống to bự. Các cô Ni thấy vậy, cùng nhau cười vang làng bể xóm. Đại Thế Chúa nghe tiếng cười náo động, hỏi:

- Các Cụ thọ điên rồi hay sao ?! Cạo tóc đi tu lông nách dài rồi, ai nấy đều lớn cả, tại sao không thể sống trong nếp sống tịch tịnh mà ồn ào cười giỡn như thế!

Các cô Ni báo cáo với Đại Thế Chúa:

- Kính thưa Thánh giả Đại đức, Ô-đà-di nói: Một ít lông dê mà bấy giờ xổ ra thành một đống như đống rơm. Nếu nói nhiều th́ thế nào ?!

Đại Thế Chúa nói:

- Này, các cô Em! Ô-đà-di là người ưa làm ác hạnh, ở trong giáo pháp của đức Phật thường hay “quậy” như bờ sông bị băng vỡ sụp đổ. Xong, như lời Phật dạy: “Có hai hạng người lành, một là hạng người không hứa nhận, hai là hạng người hứa nhận làm thành trách nhiệm”. Trường hợp này, ḿnh đă hứa th́ phải hoàn thành trách nhiệm. Các cô cùng tôi lo liệu, số lông dê này nhiều quá khó bề mà làm xong ngay. Có thể tùy theo đó lấy ít nhiều, xong việc đem giao hoàn lại ngay.

Sau đó, Ô-đà-di nghĩ: “Đại Thế Chúa này thường vui trong tịch tịnh chẳng bao giờ sai khiến các Ni làm cái việc trái nếp sống của họ, là nếp sống vui trong tư duy”. 

Khi ấy, có hai Ni làm xong chỗ lông dê rồi mang đến giao cho Ô-đà-di, hai cô bảo rằng:

- Thưa Thánh giả, số lông dê con đem đến đặt ở chỗ nào đây ?

Ô-đà-di bảo rằng:

- Các cô xem c̣n có chỗ lông dê nào dư th́ nhớ mang lại cho tôi nhé! Lại nói: Đại muội có thể đem để vào trong pḥng.

Hai vị Ni đem lông dê đặt ở trong pḥng rồi bỏ ra về. Sau đó số lông dê dư đă xử lư xong cũng mang nốt đến cho Ô-đà-di.

Vị Ni Đại Thế Chúa v́ lo xử lư số lông dê ấy nên tay bị nhuộm sắc đỏ như lụa đào. Sau đó, vị Ni đến chỗ Phật, lễ chân Phật rồi ngồi qua một bên. Đức Thế Tôn thấy, hỏi:

- Này Kiều-đáp-di! Tại sao tay của Người đỏ như người làm nghề thợ nhuộm?

Đại Thế Chúa thưa:

- Kính bạch Đại đức Thế Tôn! Như Thế Tôn dạy: Việc nên làm không làm mà làm việc người khác. Nay con phải làm việc như vậy.

Đức Phật hỏi:

- Đại Thế Chúa đă làm việc ǵ ?

Kiều-đáp-di tŕnh bày đầy đủ vấn đề với đức Thế Tôn.

Đức Phật bảo A-nan-đà:

- Các Bí-sô sai Ni không phải bà con giặt nhuộm lông dê chăng?

A-nan thưa:

- Bạch Thế Tôn! Các Bí-sô bảo họ xử lư việc như vậy.

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn lấy việc này làm nhơn duyên, tập hợp chúng Bí-sô, hỏi Ô-đà-di:

- Thật sự ông sai Ni không phải bà con liệu lư lông dê phải không?

Ô-đà-di thưa:

- Bạch Thế Tôn! Đúng như vậy!

Thế rồi đức Thế Tôn bằng mọi cách quở trách Ô-đà-di (nói đầy đủ như trước) cho đến câu: nay, ta chế Học xứ này như sau:

“Nếu lại có Bí-sô sai Bí-sô Ni không phải bà con giặt, nhuộm, chải lông dê, Ni-tát-kỳ Ba-dật-để-ca”.

+ Nếu lại có Bí-sô: Chỉ cho Ô-đà-di. Sai Ni không phải bà con: (thế nào là bà con hay không phải bà con như trước đă giải).

Lông dê: là khẳng định chứ không phải loại lông khác.

Giặt: Kể cả nhúng vào nước.

Nhuộm: Dù chỉ nhuộm một lần.

Chải: Cho đến chỉ một miếng. Ni-tát-kỳ Ba-dật-để-ca (như trước đă giải)

Trong đây, tướng phạm của nó như thế nào ?

- Bí-sô đối với Ni chẳng phải bà con hay khởi ư tưởng không phải bà con, hoặc lại sanh nghi, khiến họ giặt, nhuộm, chải lông dê đều phạm Xả đọa.

Hoặc giặt, nhuộm mà không chải, hoặc giặt chải mà không nhuộm, hoặc nhuộm mà không giặt chải cũng phạm Xả đọa.

Nếu đối với Ni bà con mà khởi ư tưởng không phải bà con, hoặc lại sanh nghi khiến làm ba việc liệu lư về lông dê như trên đều phạm Ác tác.

Ngoài ra, như trước đă nói. Nếu là bà con mà tưởng là bà con th́ không phạm.

Lại trường hợp không phạm nữa là: Người phạm lần đầu, hoặc si cuồng tâm loạn, thống năo bức bách.

 

Học xứ thứ 18: Cầm nắm vàng bạc.

      Đức Phật ở nơi thành Vương-xá, trong rừng trúc. Khi ấy có Cư sĩ chủ tụ lạc, tên là Bảo Kế, đến chỗ đức Phật đảnh lễ chân Phật rồi ngồi qua một bên, bạch Phật:

- Kính bạch đức Thế Tôn!  Gần đây, giữa đám đông, nhà vua chư thần có mở một cuộc họp, đặt vấn đề: “Quư vị có biết, Sa-môn Thích tử được phép cầm nắm tiền bạc hay không ? Có người phát biểu là Bí-sô được quyền cầm nắm. Có người phát biểu là Bí-sô không được quyền cầm nắm vàng bạc. Hai ư kiến này, ai xứng lư, ai không xứng lư ? Ai như pháp, ai phi pháp? Ai báng Phật, ai không báng Phật ? Ai bị xấu bởi Thắng nhơn, ai bị xấu bởi chẳng phải thắng nhơn ?”

Đức Thế Tôn trả lời:

- Này Cư sĩ! Người nào nói: Sa-môn Thích tử được phép cầm nắm vàng bạc là người ấy nói không xứng lư, là người ấy nói điều phi pháp, là người hủy báng Ta, là người bị xấu hổ bởi Thắng nhơn. Ngược lại với trên gọi là thiện. Tại sao vậy ? Này Cư sĩ! Thật sự th́ Bí-sô không được thọ nhận cầm nắm vàng bạc, trân bảo… Bí-sô không thọ nhận vàng bạc là Sa-môn như pháp, là con Thích-ca, là pháp thuần thiện. Lần thứ hai, lần thứ ba, Ta cũng nói như vậy. Nếu người nào cầm nắm vàng bạc th́ không phải Sa-môn, không phải con của Thích-ca, không phải pháp thuần thiện. Lần thứ hai, lần thứ ba, Ta cũng nơi như vậy.

Vị Cư sĩ nói:

- Bạch Đại đức Thế Tôn! Ư của con cũng như vậy. Bí-sô không cầm nắm vàng bạc, trân bảo là chơn Sa-môn, con lành của Thích-ca. Người nào cầm nắm, chẳng phải chơn Sa-môn, chẳng phải con của Thích-ca.

Đức Thế Tôn dạy:

- Lành thay! Lành thay! Cư sĩ, như ông giải thích là người khéo phân biệt.

Cư sĩ Bảo Kế nghe Phật nói rồi, vui mừng tín thọ, lễ Phật cáo lui.

Lúc bấy giờ, A-nan-đà đứng sau đức Phật, quạt đức Thế Tôn. Cư sĩ vừa ra khỏi, đức Thế Tôn bảo A-Nan-Đà:

- Ông nên đi đến chỗ các Bí-sô, trong vùng lân cận này, bảo họ tập hợp nơi nhà ăn.

A-nan-đà phụng hành lời đức Phật dạy đi gọi. Chúng tập hợp xong, A-nan-đà trở lại chỗ đức Phật, lễ Phật rồi đứng qua một bên thưa:

- Con đă đi gọi các Bí-sô vùng lân cận về tập hợp lại nhà ăn rồi. Đă đúng lúc xin cung thỉnh Ngài.

Liền sau đó đức Phật đến nhà ăn, trước Đại chúng Ngài ngồi vào chỗ ngồi như thường nhật, đức Phật bảo các Bí-sô:

- Có một chủ tụ lạc, tên là Bảo Kế, đến chỗ Như Lai, kính lễ xong, ngồi qua một bên, nói như vầy: (nói đầy đủ như trước) cho đến câu: lễ Phật cáo lui. Này, các Bí-sô ! Vị chủ tụ lạc kia, giữa triều đ́nh, đă nói lên tiếng nói của con sư tử; nói một cách dứt khoác rằng là: “Sa-môn Thích tử cầm nắm tiền bạc là điều không hợp pháp…” Như Lai cũng nói: Sa-môn Thích tử không nên thọ nhận tiền bạc… Như vậy, này các Bí-sô ! Nếu v́ xây cất pḥng xá các việc nên cầu xin vật liệu phương tiện và nhơn công, chứ không nên xin tiền bạc… Ta không nói: Các Bí-sô cầm nắm vàng bạc là một phương tiện. Đây là duyên khởi nhưng chưa chế giới.

Đức Phật ở tại rừng Thệ-đa, vườn ông Cấp-cô-độc. Khi ấy, Lục chúng Bí-sô tự tay cầm nắm vàng bạc tiền, hoặc sai người cần nắm để làm các pḥng xá, hoặc sắm sửa giường toà. Nhân lúc ấy, ngoại đạo thấy vậy cơ hiềm kinh tiện:

- Sa-môn Thích tử này tự tay cầm nắm vàng bạc tiền v.v… hoặc dạy người cầm nắm vàng bạc tiền v.v…hoặc dạy người cầm nắm…(nói đầy đủ như trước). Đây là việc làm của người thế tục, như vậy Sa-môn với người tục chúng ta khác nhau ở chỗ nào?! V́ sao phải khiến cho Bà-la-môn, Cư sĩ khác sanh ḷng kính tín mang đồ ăn thức uống cho bọn trọc Sa-môn này ?

Các Bí-sô nghe nói như vậy, đem nhơn duyên này tŕnh bầy đầy đủ với đức Phật. Đức Thế Tôn lấy đây làm nhơn duyên, tập hợp các Bí-sô… (như trước) cho đến câu:

- Hỏi Lục chúng rằng:

- Thật sự các ông có tự tay cầm nắn tiền, bạc, vàng hoặc dạy người cầm nắm… hay chăng ?

Lục chúng thưa:

- Kính bạch đức Thế Tôn! Đúng như vậy.

Đức Thế Tôn quở trách rồi chế giới như sau:

“Nếu lại có Bí-sô tự tay cầm vàng bạc tiền v.v… hoặc dạy người cầm, Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca”

+ Nếu lại có Bí-sô : Chỉ chi Lục chúng. Tự tay cầm: Tức là chính ḿnh cầm. Vàng bạc: Chỉ cho bảy báu. Ḿnh cầm hay dạy người cầm cũng phạm Xả đoạ. Pháp Xả và Sám hối như trước đă nói.

Trong vấn đề này, tướng phạm như thế nào?

Nếu, khi dạy người lấy, có mười tám trường hợp sự việc không đồng đều thành tội phạm. Mười tám trường hợp là:

1.Người lấy vật này

2.Người tính lấy vật này

3.Người lấy vật này với mức lượng

4.Người sẽ lấy vật này

5.Người tính sẽ lấy vật này

6.Người tính sẽ lấy vật này với mức lượng

7.Người để vật này

8.Người tính để vật này

9.Người để vật này với mực lượng

10.Người lấy vật kia

11.Người tính lấy vật kia

12.Người lấy vật kia với mức lượng

13.Người sẽ lấy vật kia

14.Người tính lấy vật kia

15.Người tính sẽ lấy vật kia với mức lượng

16.Người để vật kia

17.Người tính để vật kia

18.Người để vật kia với mức lượng

+ Nói người tính lấy vật này: Dạy người lấy vàng bạc… ở chỗ có thể thấy, khi dạy phạm Ác tác, khi tay cầm vật dở lên phạm Xả đọa

+ Nói người tính lấy vật này: Dạy người khác lấy vật trong gói, trong rương, trong trắp, phạm tội như trước.

+ Nói người lấy vật này với mức lượng: Tức là dạy người khác lấy vật với mức lượng trăm, ngàn, vạn… phạm tội đồng như trước.

+ Nói người sẽ lấy vật này: Dạy người chuẩn bị sẽ lấy vàng bạc… phạm tội đồng như trước.

+ Nói người sẽ tính lấy vật này: Dạy người chuẩn bị sẽ lấy vật có đồ đựng như gói, rương, trắp… phạm tội đồng như trước.

+ Nói người tính sẽ lấy vật  này với mức lượng: Dạy người chuẩn bị sẽ lấy vật với mức lượng trăm, ngàn, vạn… phạm tội đồng như trước.

+ Nói người để vật này: dạy người an trí vàng bạc lấy được, phạm tội đồng như trước.

+ Nói người tính để vật này: Dạy người an trí vật trong đồ đựng như gói, rương, trắp… phạm tội đồng như trước.

+ Nói người để vật này với mức lượng: Dạy người để vật với mức lượng trăm, ngàn, vạn… phạm tội đồng như trước

Chín trường hợp này là dạy người lấy vật ở chỗ có thể thấy.

+ Nói người lấy vật kia: Dạy người lấy vàng bạc… ở chỗ không thể thấy, khi dạy phạm Ác tác, khi tay cầm vật dở lên phạm Xả đọa.

+ Nói người tính lấy vật kia: Dạy người lấy vật có đồ đựng như rương, trắp đăy mà không thấy, phạm tôị đồng như trước..

+ Nói người lấy vật kia với mức lượng: Dạy người lấy vật với mức lượng trăm, ngàn, vạn, ở chỗ không thể thấy, phạm tội như trước.

+ Nói người sẽ lấy vật kia: Dạy người chuẩn bị sẽ lấy vàng bạc… nơi không thể thấy, phạm tội như trước.

+ Nói người tính sẽ lấy vật kia: Dạy người lấy vật đựng trong đăy, rương, trắp, không thấy được, phạm tội như trước.

+ Nói người tính sẽ lấy vật kia với mức lượng: Dạy người lấy vật với mức lượng trăm, ngàn, vạn mà không thấy phạm tội đồng như trước.

+ Nói người để vật kia: Dạy người an trí sự vàng bạc… lấy được, chỗ không thấy, phạm tội như trước.

+ Nói người tính để vật kia: Dạy người an trí vật trong đồ đựng gói rương, trắp… mà không thể thấy, phạm tội như trước.

+ Nói người để vật kia với mức lượng: Dạy người an trí với mức lượng trăm ngàn, vạn… mà không thấy, phạm tội đồng như trước.

Chín trường hợp này là dạy người lấy vật ở chỗ không thấy.

Nếu Bí-sô tự tay cầm nắm vàng bạc tiền của cải th́ phạm Xả đọa.

Nếu Bí-sô cầm vàng bạc thành hay chưa thành th́ phạm Xả đọa.

Nếu Bí-sô cầm văn tướng thành tựu vàng, bạc, tiền của cải, phạm Xả đọa.

Bí-sô xúc chạm Mạt-ni Bảo bích, Lưu ly bảo, phạm Xả đọa.

Bí-sô cầm loại tiền tệ sử dụng trong nước phạm Xả đọa.

Nếu cầm loại tiền tệ chẳng phải là trong nước sử dụng, phạm tội Ác tác.

Nếu cầm loại đồng đỏ, đồng, thiếc, đá thau,… không phạm.

Đức Thế Tôn v́ các Thanh-văn đệ tử chế Học xứ này rồi th́ một việc khác lại xảy ra khi đức Phật ở nơi rừng Thệ-đa. Lúc ấy nước Điểm-ba có một Trưởng giả, cư trú tại thành này, thâm tín thuần thiện, dùng vật thựơng diệu để dâng cúng. Vị Trưởng giả kia v́ Phật và Tăng tạo lập trú xứ. Cửa ra vào, cửa sổ hành lan, trang hoàng lộng lẫy, trang nghiêm thù diệu ai trông thấy cũng lấy làm vui, cứ ngỡ con đường thiên giới. Nhiều chúng Bí-sô An cư nơi đây. An cư xong lễ Tùy ư rồi, bảo với Trưởng giả:

- Nay, chúng tôi muốn đến thành Thất-la-phạt, lễ Đại sư và quư Kỳ túc Bí-sô mà thiếu y phục, Trưởng giả Bí-sô thí cho!

Ông Trưởng giả thưa:

- Bạch Thánh giả! Tại đây không có thượng diệu y điệp, tôi nghe đoàn con buôn sắp đến, đợi họ đến, tôi mua rồi sẽ dâng cúng.

Bí-sô nói:

- Trưởng giả, không có thứ tốt th́ xin bố thí thứ xấu cũng được.

Trưởng giả bày tỏ tấm ḷng:

- Thưa Thánh giả! Bản tánh của tôi là thường hiến cúng thứ tốt, làm sao nay tôi cúng thứ xấu, coi sao cho được! Nếu không đợi được th́ tôi xin cúng tiền để các ngài mang theo rồi mua.

Các Bí-sô khẳng định:

- Thế Tôn chế giới cấm chúng tôi cầm tiền cơ mà!

Ông Trưởng giả lại thưa:

- Như vậy thà là tôi không cúng, chứ tôi không thể dùng vật xấu dâng cúng!

Khi đă biết dứt khoát như vậy, các Bí-sô đành phải ra đi. Theo tuyến đường đi đến thành Thất-la-phạt, đến nơi, gặp lại nhau, các Bí-sô chào hỏi:

- Thiện lai! Thiện lai! Cụ thọ. Chẳng lẽ các Ngài An cư nơi đó mà không nhận được nhiều y phục hay sao ? Để đến nỗi các cụ, phải mặc y Phục thô mà rách nát như thế này ư ?

Các Bí-sô tế nhị trả lời:

- Không có thứ y để có thể thọ nhận.

Các Bí-sô hỏi:

- Như vậy, xin lỗi quư Ngài An cư lại trú xứ nào ?

Các Bí-sô đáp:

- Chúng tôi An cư tại Điểm-ba.

Lại hỏi:

- Nương vào vị nào để an trụ?

Các Bí-sô đáp:

- Trưởng giả tên …

       Các Bí-sô bảo:

- Nghe nói Trưởng giả ấy thích dâng cúng thượng diệu y, các ngài không được nhận sao?

Các Bí-sô đáp:

- Do một nhơn duyên đặt biệt mà chúng tôi không nhận được y!

Các Bí-sô hỏi:

- Nhơn duyên ǵ lạ vậy ?

Các Bí-sô tŕnh bày tất cả sự việc của vấn đề. Các Bí-sô sở tại nghe xong, bạch Phật, đức Phật khởi ư nghị:

- Các người Bà-la-môn kính tín Trưởng giả, Cư sĩ v.v… hoan hỷ muốn cúng cho Bí-sô loại y tài quư giá, các đệ tử của Ta ư muốn được y, ta nên tác pháp khiến các Bí-sô khỏi phải bị thiếu thốn.

Thế Tôn bảo các Bí-sô:

- Nếu có người cúng y tài quư giá, cần th́ nên nhận. Nhận rồi liền khởi tâm niệm là vật của người kia để cất chứa, xong các Bí-sô phải t́m người chấp sự.

Các Bí-sô không biết t́m người chấp sự bằng cách nào, Đức Phật dạy:

- Nên t́m người của nhà chùa hoặc là Ô-ba-sách-ca. Người của nhà chùa tức là tịnh nhơn. Ô-ba-sách-ca là người thọ Tam qui và ngũ giới. Nên hỏi người ấy thế này: “Người có thể v́ tôi làm thí chủ chăng ? Nếu người ấy trả lời là được nên khởi tâm kư gởi cho người ấy để cất chứa vật kia. Nên khiến người cầm, không nên tự ḿnh nắm”.

Khi ấy, các Bí-sô đến nơi phương khác khởi ư niệm: Nay ta đến đây chưa có thí chủ khởi tâm truy hối, đem vấn đề bạch với đức Phật. Phật dạy:

- Dù đến phương xa, miễn người ấy c̣n sống tức là thí chủ.

Khi ấy, có Bí-sô chưa t́m được người làm thí chủ mà có người đem vật dâng cúng, Bí-sô ấy nghi hoặc không dám nhận, đem vấn đề ấy bạch Phật, Phật dạy: Nên nhận rồi mang vật ấy đối trước một Bí-sô nói như thế này:

- Cọ thọ, biết cho! Tôi Bí-sô tên… được vật bất tịnh, tôi đem vật bất tịnh này đổi lấy tịnh tài. Như vậy ba lần rồi sử dụng không có ǵ phải nghi hoặc.

Có thí chủ khi xây cất tự tiện để dâng cúng cho Tăng nơi ven tụ lạc, luôn luôn bị giặc đến khủng bố, các Bí-sô bỏ chùa không, đi nơi khác. Giặc cướp vào lấy của chùa. Đức Phật dạy:

- Nếu là vật của Tăng-già, hoặc vật của Tốt-đổ-ba, như vàng bạc tiền bảo vật v.v… nên cất dấu cho bảo đảm mới di chuyển đi nơi khác.

Đức Phật bảo cất giấu, Bí-sô không biết bảo ai cất giấu. Phật nói:

- Bảo tịnh nhơn hay Ô-ba-sách-ca, cất giấu.

Có trường hợp họ cất rồi lấy luôn, Phật bảo phải t́m Ô-ba-sách-ca thâm tín cất giấu. Nếu không có Ô-ba-sách-ca thâm tín th́ bảo cầu tịch. Không có cầu tịch th́ Bí-sô tự tay làm việc cất giấu. Bí-sô không biết cất giấu bằng cách nào ? Đức Phật nói:

- Nên đào hầm để cất giấu.

Bí-sô không biết sai ai đào, đức Phật bảo:

- Sai Tịnh nhơn, hoặc Ô-ba-sách-ca. Trường hợp họ đào cất giấu rồi lấy luôn th́ nên t́m người có ḷng tin sâu đậm. Nếu không có người có tín tâm sâu đậm th́ bảo cầu tịch. Nếu không có cầu tịch th́ tự tay đào để cất giấu. Sau khi giặc đi nên lấy vật ấy hoàn lại chỗ cũ cho Tăng-già.

 Đức Phật dạy:

- Ta v́ nạn duyên nên khai cho sự việc như trên, nạn duyên không c̣n th́ không nên áp dụng. Nếu lạm dụng th́ phạm tội Ác tác.

Trường hợp không phạm: người phạm ban đầu, hoặc si cuồng  tâm loạn thống năo bức bách khi hành động.

 

CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA

QUYỂN 21 – (hết).