CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA

QUYỂN 20.

 

TAM TẠNG PHÁP SƯ NGHĨA TỊNH PHỤNG CHẾ DỊCH.

 

Học xứ thứ 7: xin y quá lượng.

 

Lúc bấy giờ, đức Bạc-già-phạm ở thành Thất-la-phạt, rừng Thệ-đa, vườn ông Cấp-cô-độc. Khi ấy, Ô-ba-nan-đà khởi ư nghĩ: “Chúng ta t́m cầu chỗ nào đều bị Trưởng giả Cấp-cô-độc bạch, xin đức Thế Tôn chế Học xứ. Dù chúng ta chỉ t́m cầu chiếc khăn nhỏ lau mặt cũng không dễ có được, huống là t́m xin cái ǵ to lớn. Xong, đức Thế Tôn hoặc nhơn Bí-sô thiểu dục, thiếu y phục cho nên biệt khai cho phép… Nay, chúng ta nên t́m hàng thiểu dục để rồi “ăn theo” họ. Hoặc nhơn nơi họ mà chúng ta kiếm được chút ít”. Do vậy, Lục chúng men theo các vùng để t́m người thiểu dục. Tuy vậy, đă rảo khắp đồng phạm hạnh nhưng chưa thể gặp cơ hội. Trong Lục chúng có người bảo rằng: “Nơi A-lan-nhă ấy hiện có bốn mươi Bí-sô đang sống trong nếp sống thiểu dục”. Lục chúng liền đến trong rừng tịch tịnh, A-lan-nhă đó. Quả thật có bốn mươi Bí-sô đang chằm vá y rách của ḿnh hết sức vất vả. Khi ấy, Ô-ba-nan-đà nói với các Bí-sô rằng:

- Này Cụ thọ! Theo chỗ tôi nghe với thực tại, sự việc không như nhau. Tôi nghĩ quư vị dưới danh nghĩa là bốn mươi Bí-sô thiểu dục ở tại A-lan-nhă. Thọ các tịnh lự giải thoát thắng lạc, chứ đâu có chuyện các Ngài ở nơi đây chỉ lo chằm vá y phục một cách vất vả loạn ư thế này!

Các Bí-sô trả lời:

- Đại đức! Tôi bị giặc cướp.

Ô-ba-nan-đà nói:

- Đó là điều không hay, để nhận chịu cái bất hạnh tột mức này.

Các Bí-sô thiểu dục nói:

- Đại đức! V́ cớ ǵ, thấy Ngài có vẻ buồn lo như vậy ?!

Ô-ba-nan-đà nói:

- Tôi không ưu tư mà thương cho Ngài bị mất cắp có chăng là v́ ḷng tham của họ khiến họ hành động tà ngụy cướp trộm để rồi sau khi bỏ thân này họ phải đọa địa ngục cho dù làm được thân người cũng nhận lấy cái quả báo bần cùng. Này các Cụ thọ! Như đức Thế Tôn dạy: “Này các Bí-sô: Người do việc trộm cắp, huân tập thành nghiệp lực, sau khi mạng chung, sẽ đọa vào địa ngục thọ các khổ năo, dầu được thân người áo cơm cũng thiếu thốn”. Do sự việc như vậy nên tôi mới có sự ưu tư. Xong, các Cụ thọ! Nhọc nhằn khổ sở, chằm vá y rách là việc làm vô ích, tại sao không xin loại điệp bố mới ?

Các Bí-sô Lan-nhă trả lời:

- Ai lại bỏ phước điền thắng diệu của Tam bảo mà vội chịu đem cho bọn bần cùng chúng tôi.

Ô-ba-nan-đà nói:

- Này, Cụ thọ! Đức Thế Tôn, bất cứ chỗ nào cũng khen ngợi kẻ thiểu dục, tri túc như các Cụ thọ, người có ḷng tin đều ưa cúng dường, tại sao các Cụ thọ không t́m cầu ?

Các Bí-sô bảo:

- Nơi nào chúng tôi có thể xin t́m được y ?

Ô-ba-nan-đà nói:

- Không biết chỗ nào để t́m cầu, tại sao không nhờ người khuyến hóa cho ? Người kia có thể v́ quư vị đánh đổi được y phục.

Các Bí-sô thiểu dục đáp lại:

- Vấn đề nơi nào có người biết cho để giúp. Làm sao quư Đại đức Bí-sô có thể bỏ thiện phẩm mà v́ chúng tôi t́m cầu ?

Ô-ba-nan-đà nói:

- Lục chúng Bí-sô của chúng tôi, mỗi vị đều có chín đệ tử, thành sáu mươi người cả thảy, chúng tôi v́ quư vị t́m cầu y vật miễn quư vị đừng phản đối, tùy chúng tôi lo cho. Lẽ thường người của môn phái chúng tôi nhơn việc t́m xin này cũng chia sớt ít nhiều y phục.

Bí-sô thiểu dục đáp rằng:

- Cùng nhau nhận được y phục th́ chúng tôi đâu có trái ư.

Ô-ba-nan-đà nói:

- Chúng tôi đâu có thể tự đi khất thực rồi lại t́m cầu y phục chăng ? trường hợp được thức ăn đầy đủ mà không khó khổ th́ mới có thể t́m cầu y phục.

Mọi người đều trả lời:

- Được như vậy là điều tốt!

Khi ấy, Ô-ba-nan-đà về lại chùa, rửa chân, vào pḥng, suy nghĩ: “Làm thế nào để có thể khuyến hóa được hết tất cả các thành phần trong thành này, chỉ trừ nhà Trưởng giả Cấp-cô-độc không đến mà thôi. Trưởng giả gặp ta thường tỏ ra không hài ḷng. Nay, chúng ta nên, trước hết đến nhà người nghèo rồi sau đó đến nhà người giàu, cuối cùng đến nhà vua Thắng Quang, Hành Vũ phu nhơn, Thắng Man phu nhơn, Trưởng giả Tiên Thọ, Cố cựu Cư sĩ, Tỳ-xá-khư-mẫu, vợ chồng Thiện Sanh, theo thứ tự như vậy để khất cầu”.

Vào thời gian ấy, có Trưởng giả thỉnh Phật và Tăng chúng thọ trai, Ô-ba-nan-đà biết, khởi ư nghĩ: “Ta phải ra lệnh cho các đệ tử của ta là ngày mai có vị nào sai làm ǵ th́ nói rằng: Xin miễn công tác cho chúng tôi v́ hôm nay hai thầy của chúng tôi có chút việc cần chúng tôi”. Sáng ngày, Ô-ba-nan-đà sai một đệ tử đến gọi bốn mươi Bí-sô đến để đi t́m cầu y phục. Sứ giả đến thấy các Bí-sô đều nhập định. Sứ giả suy nghĩ: “Ai có thể trước h́nh ảnh này lại tác động các tâm thô bạo mà không quán sát đời sau sẽ lầm lỗi trong cảm giác định”. Điều này khiến cho sứ giả cảnh giác được, liền trở về đến chỗ Ô-ba-nan-đà báo cáo:

- Kính bạch A-giá-lợi-da! Quư vị đó đều nhập định con không dám khua động.

Ô-ba-nan-đà nộ nạt và nói:

- Kẻ ngu si vô trí! Ông kỉnh tỉnh với ḷng thành thật chứ đâu gây phiền năo mà sợ tội.

Thế rồi, Ô-ba-nan-đà tự đến nhà tịnh lự, lấy chân đạp cửa làm cho trấn động. Các Bí-sô từ định khởi, hỏi:

- Tại sao Đại đức làm như vậy ?!

Ô-ba-nan-đà bảo:

- Bốn mươi người các Ngài muốn cầu y phục, tại sao cứ ngồi tỉnh tọa thế này! Các Ngài, phải đến… để cùng đi với chúng tôi.

Các Bí-sô nói:

- Chờ một chút, chúng tôi súc miệng đă!

Ô-ba-nan-đà nói:

- Có thể đi đến nửa đường rồi sẽ súc cũng được.

Bốn chục Bí-sô làm theo ư kiến của Ô-ba-nan-đà. Ô-ba-nan-đà cùng với môn nhơn nghị bàn: “Này các Cụ thọ! Lục chúng, chúng ta cũng như Bạch tượng, đến đâu mọi người đều chen nhau đến với chúng ta. Chúng ta không nên theo thứ tự già trẻ cùng đi, mà chúng ta nên xen lẫn nhau, kẻ trước người sau, đi riêng biệt. Đi theo h́nh thức trên, nên đến nửa đường và vấn đề súc miệng của quư vị kia cũng giải quyết xong”.

Khi vào đến trong chợ Thất-la-phạt, người nghèo nơi đó, tụ tập sống với nhau một chỗ, các chủ phố hỏi:

- Hôm nay, Thánh giả có việc ǵ ưu năo chăng ?

Bí-sô của Lục chúng đáp:

- Vâng! Chúng tôi có chút việc ưu lo. Quư vị có nghe bốn mươi chúng Bí-sô mà lúc nào cũng được đức Phật khen ngợi là thiểu dục tri túc hay không ?

Họ bảo:

- Vâng! Chúng tôi có nghe.

Ô-ba-nan-đà nói:

- Chính là số người này vừa rồi đều bị kẻ cướp đoạt hết y phục.

Các chủ phố nghe xong, đều bảo nhau rằng:

- Chúng ta, tất cả mang cung tên, dao mác… bao vây bắt bọn giặc.

Lục chúng báo cáo:

- Bị cướp đoạt lâu rồi, nay bọn cướp phân tán hết.

Mọi người nghe vậy liền hỏi:

- Vậy bây giờ chúng tôi phải làm ǵ ?

Lục chúng bảo:

- Quư vị có thể cúng y.

Khi ấy, mọi người đều góp nhau y phục, mới có, cũ có, y bạch điệp đem đến dâng cúng. Lục chúng bó thành một vác, sai các thiếu niên đem về chùa. Kế đến, vào khu người giàu có, tụ tập đứng lại, họ thấy, đều hỏi: (nói như trước và cũng trả lời như trước). Mọi người đều mang y quư giá đến để dâng cúng. Lục chúng cũng sai người vác về chùa. Sau đó, đến vua Thắng Quang, đứng nơi địa điểm tập họp nhà vua thấy, hỏi: (như trước…). Nhà vua bèn ra lệnh cho Tỳ-lô-trạch-ca:

- Ngươi phải tập hợp tất cả các tướng soái để khẩn trương bao vây bắt bọn giặc cướp.

Lục chúng báo cáo:

- Bị cướp lâu rồi, nay bọn giặc đă tẩu tán đến nước khác.

Nhà vua hỏi:

- Vậy Thánh giả cần Trẫm làm ǵ ?

Lục chúng thưa:

- Đại vương có thể cúng y.

Vua Thắng Quang liền dâng cúng mỗi vị đủ mười ba thứ tư cụ thắng diệu y phục. Lục chúng cũng sai đệ tử vác về chùa.

Khi ấy, bốn mươi chúng Bí-sô nói với Ô-ba-nan-đà rằng:

- Thưa Đại đức! Số y phục nhận được nhiều lắm rồi quá đủ để phân thôi đừng xin nữa.

Ô-ba-nan-đà nói:

- Cụ thọ! Quư vị đều là hạng người nhác nhớm. Chúng tôi đâu đă không thành thật nói trước rằng: Nếu quư vị không làm trái ư th́ nhơn việc này, hàng đệ tử chúng tôi cũng t́m được ít nhiều y phục. Như vậy, tại sao  lại thấy đủ mà không chịu t́m cầu thêm nữa.

Các Bí-sô nghe Ô-ba-nan-đà nói thế, đều im lặng.

Thế rồi, Lục chúng Bí-sô bèn dẫn đến Hành Vũ phu nhơn, Thắng man phu nhơn, Tiên Thọ Cố cựu, Tỳ-xá-khư-mẫu, vợ chồng Thiện sanh, đến mỗi chỗ đều vấn đáp như trước. Vị nào cũng dâng cúng mười ba thứ tư cụ thượng diệu y phục cho mỗi Bí-sô. Đến chỗ nào thu hoạch được, Lục chúng cũng sai đệ tử vác về chùa. Khi ấy, Lục chúng bảo với mọi người rằng:

- Ngày vừa qua, đức Thế Tôn cùng các Bí-sô nhận lời mời thọ trai của thí chủ. Trai phạn này, nếu không đủ một trăm vị th́ thí chủ không toại nguyện. Quư vị nên đến dự để đủ túc số, đồng thời đưa bát đi nhận thức ăn cho chúng tôi luôn.

Lục chúng nói với mọi người như vậy rồi, họ về lại chùa soạn lấy loại y quư giá để một chỗ, c̣n y cũ rách chia làm bốn mươi phần. Bốn chục vị đi phó thỉnh rồi, về chùa. Lục chúng ăn xong, bảo các đệ tử rằng:

- Mời bốn mươi vị Bí-sô thiểu dục đến đây.

Bốn chục vị được mời liền đến. Ô-ba-nan-đà nói:

- Cụ thọ tôi đâu phải là kẻ giữ y cho quư vị, quư vị nên tự nhận phần của ḿnh.

Thấy phần y nào cũng đều là loại y cũ rách các Bí-sô cùng nh́n ngó nhau.

Lục chúng hỏi:

- Tại sao các vị mỗi người ngó lấy nhau như vậy ?

Quư Bí-sô trả lời:

- V́ sao chia cho chúng tôi đều là y rách cũ ?

Ô-ba-nan-đà vừa chỉ vừa nói:

- Cái này dùng nhiều lớp may y Tăng-già-chi, cái này may Ốt-đa-la-tăng-già, và An-đát-bà-ta, Tăng-phước-kỳ v.v… đầy đủ lắm rồi, tại sao cơ hiềm ? Nếu quư vị không bằng ḷng th́ đi xin nữa.

Các Bí-sô trả lời:

- Thôi, đủ rồi, đừng xin nữa!

Quư vị nói xong, liền mang số y cũ rách về A-lan-nhă, tùy theo từng loại cũ rách mà chằm vá lại với nhau.

Thiện tín trong thành ấp đều nghe bốn mươi Bí-sô đến nhà vua và bảy nơi trong xứ, mỗi chỗ đều nhận được mười ba tư cụ. Khi ấy, có Bí-sô đến A-lan-nhă, thấy các Bí-sô mỗi người đều tự chằm vá y phục một cách khổ cực, hỏi:

- Các Cụ thọ, tại sao chúng tôi nghe như vậy mà sự việc như thế này ?

Các Bí-sô trong rừng hỏi:

- Ngài nói như thế có nghĩa ǵ ?

Bí-sô khách hỏi:

- Tôi nghe quư Cụ thọ đến nhà vua và bảy chỗ, mỗi nơi đều nhận được mười ba tư cụ, tại sao nay quư Cụ thọ vẫn chằm vá khổ cực thế này ?!

Các Bí-sô hỏi:

- Ngài chỉ nghe nói, chứ chính tôi phải gánh chịu hết, nếu bảo chúng tôi nhận mười ba tư cụ mới th́ chỗ nào nhận những thứ xiêm y cũ rách này?!

Lúc bấy giờ, các Bí-sô thiểu dục đem tất cả sự việc báo cáo với Bí-sô. Bí-sô nghe rồi hết sức cơ hiềm, khinh tiện, bèn đến trú xứ bạch với các Bí-sô. Các Bí-sô đem nhơn duyên này bạch Phật. Đức Phật bảo các Bí-sô… cho đến hỏi chúng bốn mươi Bí-sô rằng:

- Thật sự các ông có nhận vật do người khác cúng mà không biết tri túc chăng ?

Các Bí-sô thiểu dục thành khẩn thưa:

- Kính bạch đức Thế Tôn! Sự thật là như vậy.

Đức Thế Tôn bằng mọi cách quở trách:

- Không thuận chánh lư, tâm không điều tịch khi các ông làm như vậy. Như Lai tán thán xưng dương thuận lư điều thiện… cho đến v́ các Bí-sô đối với Tỳ-nại-da chế Học xứ này như sau:

“Nếu lại có Bí-sô y bị đoạt, y bị mất, y bị cháy, y bị bay, y bị trôi đến Cư sĩ, vợ Cư sĩ không phải bà con xin y. Cư sĩ cúng nhiều y, Bí-sô chỉ nên thọ hai y thượng và hạ. Nếu nhận quá Ni-tát-kỳ Ba-dật-để-ca”.

+ Y bị đoạt…(như trước đă giải) nên thọ hai y thượng và hạ: có hai loại y thượng và hạ, một là y thượng hạ của Bí-sô, hai là y thượng hạ của người thế tục.

- Y thượng hạ của Bí-sô là y mới hai lớp làm Tăng-già-chi th́ bề đứng ba bề ngang năm; nếu Ni-bà-san th́ bề đứng hai bề ngang năm .

- Y thượng hạ của người thế tục là y thượng bề dài mười hai khuỷu  tay, bề rộng ba khuỷu tay; y hạ bề dài bảy khuỷu tay, bề rộng hai khuỷu tay.

Ưng thọ có nghĩa là khởi tâm nhận lănh. Nhận quá có nghĩa là nhận lănh quá số lượng đă quy định th́ khi xin được, phạm Xả đọa. Ngoài ra như trước đă giải.

Trong đây vấn đề tướng phạm như thế nào ?

- Nếu Bí-sô đến người khác xin y thượng hạ của người thế tục, dựa vào mức lượng của y nhận được, lại xin thêm, khi xin phạm tội Ác tác, khi được phạm Xả đọa.

- Nếu xin y thượng hạng của Bí-sô sự việc đồng như đây.

- Nếu khi đến người khác xin y thượng, hạ của người thế tục, dù không đủ mức lượng y thế tục cũng không nên xin thêm.

- Nếu có dư không trả lại chủ. Nếu khi đến người khác xin y thượng hạ của Bí-sô, thiếu không đủ mức lượng của y Bí-sô th́ nên xin thêm có dư nên trả lại cho chủ.

- Nếu, y của thế tục thiếu xin thêm, y của Bí-sô dư không trả lại, phạm tội nặng nhẹ chuẩn theo sự việc nên biết.

- Nếu có ư muốn xin quá số lượng, khi xin phạm Ác tác, khi nhận được phạm Xả đọa. Phạm Xả đọa rồi lại nhận được bao nhiêu vật khác, thảy đều phạm (như trước).

- Trường hợp không phạm: Người phạm lần đầu, hoặc cuồng si tâm loạn, thống năo bức bách.

 

Học xứ thứ 8: Biết người thế tục hứa cùng nhau cúng y, đến xin

Đức Phật ở thành Thất-la-phạt, rừng Thệ-đa, vườn ông Cấp-cô-độc. Trong thành này có một Trưởng giả đă có vợ, lại hành tà hạnh, người vợ khuyên can chồng: “Anh không nên làm việc tà hạnh như vậy”. Chồng không nghe theo lời vợ, người vợ buồn giận cơ hiềm rồi cùng với nam tử khác cũng làm việc tư thông. Mỗi lần người chồng dùng vật ǵ của trong nhà biếu tặng t́nh nhân th́ người vợ cũng lấy vật tặng cho tà phu như vậy. Hai vợ chồng cảnh “chồng ăn chả vợ ăn nem” như trên, không bao lâu của cải trong gia đ́nh phá tán gần khánh tận.

Ông Trưởng giả bẩm tánh bạo ác đánh đập tứa tớ gái, hành hạ, cơm không đủ no, áo không đủ ấm, nói rằng:

- Tự nó nên gia đ́nh ông ta bị tan nát.

Người tớ gái nói:

- Thật sự, tôi đă biết cái lư do gia đ́nh này bị phá nát từ lâu. Tôi đă  nói khéo mà hai ông bà gia chủ không chịu để ư nghe, gạt bỏ lời nói của tôi rồi bây giờ áp dụng kiểu: “giận chó đánh mèo”, chỉ tội cho kiếp mèo mà thôi!

Cả hai ông bà gia chủ nghe đứa tớ gái nói, đều ôm ḷng xấu hổ nên nín thinh.

Khi ấy, Ô-ba-nan-đà nhờ tánh ṭ ṃ, biết được sự việc như vậy, bèn đến gia đ́nh ông Trưởng giả, v́ vợ chồng ông ta, thuyết pháp chê trách kẻ phá giới, khen ngợi người tŕ giới và nói:

- Này thiện nam tử, thiện nữ nhơn! như đức Phật dạy: “Người nào sống theo thói tà hạnh, sau khi mạng chung sẽ đọa vào địa ngục. Nếu được làm người th́ vợ không trinh cẩn, chồng lại tư thông. Người nào sống đời không tà hạnh, sau khi mạng chung được sanh lên cơi trời. Nếu sanh trong loài người th́ vợ trinh lương, chồng không tà hạnh”. Nói xong, Ô-ba-nan-đà lại thuyết kệ:

Do nghe nên biết pháp

Nghe pháp ĺa tội lỗi

Nghe pháp xa bạn ác

Nghe pháp đặng Niết-bàn !   

 

Vợ chồng ông Trưởng giả nghe pháp rồi liền bỏ tà hạnh. Ô-ba-nan-đà v́ vợ chồng, nói rộng vấn đề công đức thù thắng của kẻ quy kính, kêu gọi vợ chồng ông Trưởng giả lắng nghe lời Phật dạy:

Người nào quy Phật-đà

Không đọa vào đường ác

Xa ĺa thân người rồi.

Sẽ sanh lên cơi Trời.

Người nào quy y pháp

Không đọa vào ác đạo

Xa ĺa thân người rồi

Được sanh vào cơi trời.

Người nào quy y Tăng

Không đọa vào đường ác

Xa ĺa thân người rồi

Sẽ được sanh lên Trời!

Hai vợ chồng nghe pháp rồi hoan hỷ khởi ḷng tin sâu đậm, bèn quy y Tam bảo. Ô-Ba-Nan-Đà lại khen ngợi công đức của năm giới, nói:

- Thiện tín khéo nghe:

“Đức Phật dạy có năm món  đại thí đó là xa ĺa sát sanh, xa ĺa trộm cắp, xa ĺa tà dục, xa ĺa nói dối, xa ĺa uống rượu. Đó là năm món bố thí lớn? Tại sao xa ĺa năm món này gọi là bố thí lớn ? Do xa ĺa năm thứ này đem lại sự không sợ sệt, không có oán kết, vợ chồng trinh lương, được người tin cậy, không kiêu căng phóng dật. Do năm điều này cảm được quả báo vui nhiều, thường ở cơi nhơn thiên, cho nên gọi là bố thí lớn”.

Hai vợ chồng ông Trưởng giả nghe pháp này rồi, càng sanh tâm tín thọ năm Học xứ. Ô-ba-nan-đà khiến cho hai vợ chồng ông Trưởng giả trụ nơi quy giới rồi, bèn cáo lui.

Vào một ngày sau đó, ông Trưởng giả lại đánh đập gây sự khổ sở cho đứa tớ gái. Người vợ khuyên:

- Trước đây chúng ta chưa biết vấn đề nghiệp quả, thường đem lại việc khổ sở cho kẻ khác, nay nhờ Thánh giả Ô-ba-nan-đà là thiện tri thức, ta biết được vấn đề nghiệp dị thục, không nên đem lại sự khổ sở cho ai. Vấn đề nghiệp quả giữa thế gian này thay đổi, không nhất định, kiếp sống giàu sang hay tôi đ̣i như lật bàn tay. Từ nay “ḿnh” không nên đánh đập tôi tớ nữa.

Người chồng nghe xong liền nói:

- Hiền thủ! Hay thay lời khuyên can ấy!

Ông Trưởng giả lại bảo đứa tớ gái tắm rửa lấy áo mới mặc, và khuyên nó siêng năng lo gia nghiệp, từ nay ông sẽ ban cho nó sự Vô-úy.

Đứa tớ gái ghi nhận sự ban ơn của ông chủ rồi khởi ư nghĩ: “Hai gia trưởng này trước đây đều là bất nhơn, ưa làm chuyện đánh đập, sát phạt, bạo ngược đối với ta, đời ta áo rách không đủ che thân, cơm thô không đủ no ḷng, nay th́ nhơn từ đức hậu như cha mẹ ta. Ân đức này, có từ khi Thánh giả Ô-ba-nan-đà vào trong nhà này đến nay. Nhờ thánh giả mà hai gia chủ của ta không đánh đập ta, mà lại nhơn từ đối với ta, an ủi dạy dỗ ta. Ta nên đem vật ǵ để đền ơn Thánh giả”.

Đứa tớ gái lại nghĩ: “Nếu ta lén lấy một vật mọn nào của gia chủ để đem báo ân Thánh giả, rủi bị gia chủ biết được th́ ta bị hành hạ, nhục mạ, đánh đập như cũ”. Do vậy, không dám làm điều ấy. Trong khi chưa t́m được phương thức nào để có được vật mọn ǵ báo ân Thánh giả th́ ḷng ôm sự ẩn trắc.

Sau thời gian, Ô-ba-nan-đà lại đến nói pháp cho vợ chồng ông Trưởng giả nghe rồi đi. Khi ấy, vợ ông trưởng giả nói với chồng rằng:

- Thánh giả Ô-ba-nan-đà là thiện hữu của gia đ́nh chúng ta. Nhờ Thánh giả gia đ́nh của chúng ta bỏ ác nghiệp, trụ vào thiện phẩm quy kính Tam tôn, thọ năm Học xứ, luôn luôn đem giáo pháp đến trao cho chúng ta. Chúng ta nên phụng hiến Ngài chút vật mọn ǵ mới phải chứ !

Ông Trưởng giả hỏi:

- Vậy th́ “ḿnh” nên  cúng thứ ǵ đây ?

Người vợ bảo:

- Chúng ta nên dâng cúng một chiếc áo choàng bạch điệp.

Đứa tớ gái nghe, liền khởi lên ư nghĩ: “Ta nên đem tin này bạch Thánh giả cũng là một cách báo ân”. Sáng sớm hôm ấy, Ô-ba-nan-đà vào thành khất thực, tuần tự đến nhà ông Trưởng giả. Đứa tớ gái thấy liền kính lễ rồi thưa:

- Con có tin mừng muốn thưa Thánh giả.

Thánh giả hỏi:

Muốn nói việc ǵ vậy!?

Đứa ở thưa:

- Trưởng giả và phu nhơn gia chủ của con, chuẩn bị đem một thượng y dâng cúng cho Đại đức.

Ô-ba-nan-đà nghe xong, khởi ư nghĩ: “Ta là người được mang nhăn hiệu một trong số san tham nhất trong đời. Nay nghe được của lợi thật là điều xứng với bổn tâm. Xong, ta phải thẩm vấn kỹ vấn đề này nơi đứa tớ gái kai mới được”. Ô-ba-nan-đà giả đ̣ sân, nghiêm sắc mặt hỏi:

- Này tiểu nữ hết ai trêu lộng rồi sao, mi lại đi trêu  lộng với Đại đức ?

Tiểu nữ thưa:

- Bạch Thánh giả ! Con đâu dám trêu lộng với Ngài!

Ô-ba-nan-đà bảo:

- Tiểu nữ, nếu tin đó là thật th́ khi Trưởng giả có giận, ta khuyên ông Trưởng giả cũng tha thứ cho Tiểu nữ. Nếu tin đó là không thật th́ ta khuyên ông Trưởng giả tặng cho người roi vọt như ngày xưa.

Tiểu nữ thưa:

- Nếu Thánh giả nghi, mời Thánh giả vào nhà gia chủ của con th́ biết.

Lúc ấy, Ô-ba-nan-đà đi ngay đến nhà của ông Trưởng giả. Hai vợ chồng ông Trưởng giả vừa thấy liền xướng:

- Thiện lai !

Rồi trải ṭa mời ngồi, lễ túc rồi, lấy ghế thấp hơn ngồi để nghe pháp. Ô-ba-nan-đà nói pháp rồi, nói với Trưởng giả:

- Ông bà hứa cúng đại điệp, nay tôi muốn được thấy phẩm vật ấy.

Vợ chồng ông Trưởng giả vừa nghe nói, hai người chăm chăm ngó nhau. Ô-ba-nan-đà thấy vậy hỏi:

- Tại sao hai ông bà lại ngó nhau như vậy ?

Hai người đáp:

- Thưa Thánh giả ! Vấn đề dâng cúng đại điệp, chúng tôi chỉ bàn riêng, ai báo cáo mà Thánh giả biết ? Phải chăng Thánh giả đă đặng Tha tâm!

Ô-ba-nan-đà thản nhiên nói:

- Tôi bưng b́nh bát đi khất thực từ thuở thơ ấu cho đến răng tóc bạc, vô lẽ chuyện nhỏ như vậy mà hai ông bà không tin à ?!

Vợ chồng Trưởng giả liền đem đại điệp trao cho Ô-ba-nan-đà. Ô-ba-nan-đà nhận y xem xét tấm điệp ấy kỹ, rồi lật bàn tay tỏ vẻ không bằng ḷng.

Ông Trưởng giả hỏi:

- Tại sao Thánh giả tỏ ư như vậy ?!

Thánh giả nói rằng:

- Trưởng giả có phước xả mà không có phước thọ dụng. Thứ này chỉ để lau dép hay dùng làm rèm cửa, đặt nơi xào tre tự nhiên rả ra thôi.

Ông Trưởng giả liền hỏi:

- Vậy bây giờ chúng con phải làm thế nào ?

Thánh giả bảo:

- Cần thứ tốt hơn để cúng cho tôi may y mới được.

Trưởng giả thưa:

- Thánh giả, con lại không thể được thứ tốt hơn.

          Thánh giả bảo:

- Có thể mua để cúng cho tôi.

Trưởng giả thưa rằng:

- Chúng con không có phương tiện để mua.

Lại bảo:

- Cứ mua chịu rồi sau sẽ trả cho họ.

Khi ấy, ông Trưởng giả nh́n vợ… Người vợ biết y của chồng, liền thưa:

- Thánh giả Ô-ba-nan-đà đối gia đ́nh chúng ta là kẻ có đại ân, chúng ta có thể mua y ấy để cúng cho được toại nguyện.

Thế rồi, Trưởng giả cùng với Ô-ba-nan-đà đến một cửa hiệu nơi chợ để mua. Ô-ba-nan-đà liền nảy ra ư nghĩ: “Ta cần phải nói khích để người chủ hiệu đưa loại y phục thượng hạng ra”. Ô-ba-nan-đà quay lại nói với ông Trưởng giả:

- Xem qua nơi khu phố này hầu hết là người nghèo làm ǵ có thứ bạch điệp tốt đó! Ta nên đến nơi phố khác để t́m mua.

Ông chủ cửa hiệu nghe nói, tức th́ ḷng tự ái nổi lên bèn lấy thứ thượng điệp hảo hạng đưa ra và nói:

- Thánh giả thử xem thứ bạch điệp này có dùng được hay không ?

Ô-ba-nan-đà nói:

- Thứ này được đây, giá bao nhiêu ?

Chủ cửa hiệu nói:

- Trị giá năm mươi Ca-lợi-xa-ba-noa.

Ô-ba-nan-đà trả:

- Ba mươi… đồng ư tôi sẽ lấy.

Chủ hiệu hỏi:

- Ai trả tiền đây ?

Ô-ba-nan-đà nói:

- Ông Trưởng giả này sẽ trả tiền.

Chủ hiệu hỏi ông Trưởng giả:

- Chừng nào ông sẽ trả ?

Ông Trưởng giả nói:

- Ngày… tháng… tôi sẽ trả.

Chủ hiệu nói:

- Như thế là được tùy ư ông cứ lấy món hàng đó.

Ông Trưởng giả bèn lấy thượng điệp trao cho Ô-ba-nan-đà. Ô-ba-nan-đà liền cầu nguyện: “Nguyện Trưởng giả vô bệnh trường thọ”. Món cúng dường này là anh lạc của tâm, là của cải của tâm, định huệ trang nghiêm, đặng nhơn thiên đạo… Ô-ba-nan-đà bèn đem hảo thượng điệp này vào rừng Thệ-đa.

Gia đ́nh Trưởng giả v́ nghèo nên không đủ khẳ năng trả đúng thời gian đă ấn định. Chủ hiệu bắt Trưởng giả phải đứng một chỗ dưới ánh nắng mặt trời thiêu đốt v́ tội trả nợ không đúng hạn. Người quen biết thấy vậy hỏi:

- Tại sao đứng dưới ánh mặt trời giữa trưa ?! V́ chữa bệnh sốt rét hay thoa dầu để trị ghẻ.

Trưởng giả trả lời:

- Tôi không phải v́ chữa bệnh sốt rét hay thoa dầu để trị ghẻ mà phải đứng thế này, do v́ không trả nợ đúng kỳ hạn nên bị trừng phạt.

          Người ta lại hỏi:

          - Tại sao phải mắc nợ ?! Nợ của Tổ phụ để lại chăng ?!

Trưởng giả bảo:

- Không phải nợ của tổ phụ để lại mà do tôi sanh kính tín đối với Bí-sô đệ tử của Thích-ca, đem chiếc y dâng cúng, Bí-sô chê xấu không nhận, khiến tôi mua thứ y tốt để cúng nên phải mắc nợ và chịu cảnh khổ thế này.

Bạn quen của Trưởng giả khi nghe câu chuyện như vậy khởi lên sự cơ hiềm:

- Sa-môn thích tử tham cầu không biết nhàm chán.

Lời cơ hiềm này đến tai các Bí-sô, các vị đem vấn đề này bạch lên đức Phật đầy đủ. Đức Thế Tôn đem nhơn duyên này tập hợp các Bí-sô… (như trước) đến câu: Phật bảo Ô-ba-nan-đà:

- Thật sự ông có làm cái việc không đoan nghiêm như vậy không ? Có phải chỗ vật cúng của người ta, không thơa măn với ḷng của ông, ông lại xin vật tốt hơn, khiến cho người ấy phải chịu khổ sở như thế ư ?

- Bạch đức Thế Tôn, có thật như vậy ! - Ô-ba-nan-đà thưa.

Đức Thế Tôn dùng tất cả phương tiện quở trách Ô-ba-nan-đà rồi bảo các Bí-sô:

- Ta nay v́ các đệ tử, đối với Tỳ-nại-da chế Học xứ này như sau:

“Nếu lại có Bí-sô, do Cư sĩ hay vợ Cư sĩ không phải bà con cùng nhau để dành tiền định mua y thanh tịnh như vậy cúng cho  Bí-sô… vào lúc nào đó để sử dụng. Bí-sô ấy trước không nhận được sự thỉnh tùy ư mà nhơn người khác cho biết, bèn đến nhà kia nói như vầy: Lành thay ! Ông bà để dành tiền sắm y cho tôi, có thể mua y thanh tịnh như thế, đúng lúc cúng cho tôi, v́ ưa đẹp vậy. Nếu nhận được y, phạm Ni-tát-kỳ Ba-dật-để-ca”.

+ Nếu lại có Bí-sô, tức là chỉ cho Ô-ba-nan-đà.

Bà con, không phải bà con v.v… như trước đă giải.

Giá trị của y là vàng bạc, bối xỉ v.v...

Để dành, tức là cất dồn, gom góp lại.

Y như vậy, tức là chỉ cho bảy loại y như trên.

Mua, tức là đưa tiền cho người để lấy vật.

Thanh tịnh, tức là được như vậy mới nhận y.

Cho, tức là dâng cúng y.

Bí-sô nào đó là chỉ cho Ô-ba-nan-đà.

Không thỉnh trước, tức là không hứa hẹn trước.

Nhơn người khác báo cáo, tức là người khác đến tiết lộ rồi t́m cầu y.

Đ̣i hỏi giá trị tức là cho đẹp như vậy.

Nếu nhận được y bèn phạm Xả đọa.

+ Trong vấn đề này, tướng phạm như thế nào ?

- Có ba trường hợp: Giá, sắc, lượng.

Thế nào gọi là giá ?

- Nếu Bí-sô đến nơi người không phải bà con nhận được y giá trị năm Ca-lợi-xa-ba-noa mà thọ th́ không phạm; không thọ y này lại đ̣i y có giá trị hơn, khi đ̣i phạm Ác tác, nhận được phạm Xả đọa. Như vậy, cho đến năm mươi Ca-lợi-xa-ba-noa v.v… tùy theo sự t́m cầu, tùy theo sự nhận được, nhẹ, nặng chuẩn theo trên nên biết. Như vậy gọi là giá.

Thế nào gọi là sắc ?

- Bí-sô đặng y màu xanh, thọ th́ không phạm; không nhận y này lại đ̣i hỏi y đẹp hơn, khi t́m cầu phạm Ác tác, nhận được phạm Xả đọa. Sắc xanh như vậy, ngoài ra, bao nhiêu sắc khác, chuẩn theo đây nên biết. Như vậy gọi là sắc.

Thế nào gọi là lượng ?

- Nếu Bí-sô đặng y năm khuỷu tay, nhận th́ không phạm; không nhận y này lại đ̣i y đẹp hơn, đồng như trước phạm tội. Như vậy cho đến nhiều khuỷu tay, vấn đề tội nặng nhẹ đều đồng như trước. Như vậy gọi là lượng.

Y Ni-tát-kỳ này, phương pháp Xả cũng đồng như trước. Không phạm: Nếu xin chỉ sợi lại nhận được một miếng, xin một miếng nhỏ, người ta cho một y lớn, những trường hợp như vậy đều không phạm.

Lại trường hợp không phạm nữa là: Người phạm lần đầu, hoặc si cuồng, tâm loạn, thống năo bức bách.

 

* Học xứ thứ 9: Biết người thế tục riêng hứa cúng y, đến xin.

Đức Thế Tôn ở tại rừng Thệ-đa, Ô-ba-nan-đà Bí-sô là người khởi lên nhơn duyên để phạm. Vợ chồng ông Trưởng giả đều tư thông với người ngoài… (như giới trước). Ô-ba-nan-đà nói pháp họ bỏ ác tu thiện. (Sự việc cũng như giới trước) chỉ khác ở chỗ là hai người đều để dành tiền để cúng y. Ô-ba-nan-đà khiến hai người chung lại mua một y, cho đến khiến cho Trưởng giả phải nhận lấy việc cực kỳ khổ sở. Bí-sô đem nhơn duyên này bạch Phật. Cho đến v́ chế Học xứ như sau:

“Nếu lại có Bí-sô, có Cư sĩ hay vợ Cư sĩ chẳng phải bà con đều v́ Bí-sô để dành tiền cúng y. Họ định mua y thanh tịnh như vậy, cúng cho Bí-sô có tên như vậy. Bí-sô này, trước không nhận lời mời; nhơn người khác cho biết bèn đến nhà kia nói như vầy: Lành thay ông bà có thể chung lại mua chiếc y thanh tịnh như vậy, kịp thời cúng cho tôi, v́ muốn cho đẹp. Nếu được y Ni-tát-kỳ Ba-dật-để-ca”.

Trong đây tướng phạm có ba loại không đồng nhau (như giới trước).

 

                   Học xứ thứ 10: Quá hạn đ̣i y.

Đức Phật ở thành Vương-xá, trong vườn Trúc Lâm. Khi ấy, Ô-ba-nan-đà khởi ư nghĩ: “Chúng ta kinh cầu nơi nào đều bị Trưởng giả Cấp-cô-độc  khẩn khởi thỉnh đức Thế Tôn chế Học xứ. Dầu chúng ta muốn khất cầu một chiếc khăn lau nhỏ cũng khó có được, huống là khất cầu vật ǵ to lớn. Xong, xưa kia, ta cùng với Hành Vũ Bà-la-môn đồng học một trường, cùng học một thầy ta nên đến gặp, có thể ông ta rộng giúp ta một chút ít y vật”. Ô-ba-nan-đà bèn đến nhà ông ấy. Khi vừa tới cửa ngơ bị người giữ cửa chận lại nói:

-Thánh giả chớ nên vào!

Ô-ba-nan-đà nói:

-Này, Hiền thủ! Đức Thế Tôn cấm tôi không được đến năm chỗ: Nhà xướng hát, nhà dâm nữ, nhà bán rượu, nhà vua và nhà sát sinh. Nhà này đâu phải ở trong diện năm loại nhà nói trên?

Người gác cửa bảo:

-Thánh giả khỏi phải cơ hiềm hủy báng nói nhà này không phải là nhà xướng ca, nhà dâm nữ v.v… đây là nhà của Bà-la-môn Hành Vũ.

Thánh giả bảo rằng:

-Này, nam tử! Ngươi cứ vào nhà báo với Bà-la-môn là có Đại đức Ô-ba-nan-đà, hiện ở ngoài cửa, muốn vào gặp gia chủ.

Người giữ cửa nói:

-Ông là quan đoán sự của vua Thắng Quang sai đến hay sao?!

Thánh giả bảo:

-Ngươi là kẻ ngu si! Ngươi vào phi báo liền th́ tốt, chậm trễ ắt sẽ bị Đại vương trừng phạt cho mà xem.

Người giữ cửa tự nghĩ: “Xem chừng ông này là người có thế lực nên không có sự sợ sệt, không như bao người khác, chắc chắn ông ta có lư do. Ta phải vào báo cho gia chủ, chứ không khéo sẽ bị sỉ nhục”. Nghe như vậy xong liền vào báo:

-Đại đức Ô-ba-nan-đà hiện nay ở ngoài cửa ngơ, cần vào gặp gia chủ.

Bà-la-môn gia chủ liền bảo:

-Mời Đại đức vào! Chứ ai chận Đại đức lại.

Người giữ cửa nghe xong, khởi ư niệm: “Té ra là như vậy, do chỗ hào vọng với nhau mà Sa-môn không hề e sợ là ǵ”. Người giữ tức tốc chạy ra mời Ô-ba-nan-đà vào. Bà-la-môn từ xa trông thấy hô lên:

- Thiện tai!

Và trải tọa mời ngồi. Ô-ba-nan-đà an tọa, liền phát mỹ diệu âm khen ngợi công đức pháp môn bố thí thù thắng. Mỗi lần Ô-ba-nan-đà phát khởi tâm hỷ, duyệt khen hạnh bố th́ các người Bà-la-môn có tín tâm, khi nghe phát khởi lên ư niệm: “Lành thay, pháp mầu! Chúng ta nên cắt thịt để bố thí”. Thế rồi, Bà-la-môn gia chủ nghe pháp hoan hỷ, phát khởi lời nói:

- Ngày Đại đức ngồi Hạ xong, con sẽ phụng hiến 60 Kim tiền.

Ô-ba-nan-đà nói:

- Nguyện cầu Hiền thủ vô bệnh trường thọ. Vật thí này là đồ anh lạc cho tâm… cho đến câu: an ẩn Niết-bàn.

Thánh giả chú nguyện cáo từ.

Khi ấy, có hai Bí-sô từ thành Thất-la-phạt đến thành Vương-xá, v́ muốn yết kiến đức Phật nên vào thẳng rừng Trúc. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Cụ thọ A-nan-đà rằng:

- Ông nên đi phổ biến cho các Bí-sô biết là Như Lai muốn đến nước Kiều-tát-la, du hành trong nhơn gian. Nếu vị nào t́nh nguyện tùy tùng th́ chuẩn bị y phục.

Tôn giả A-nan-đà phụng hành, đi phổ biến lời đức Phật đến các Bí-sô. Khi nghe lời phổ biến ấy hai Bí-sô mới đến, ḷng lại ưu tư. Ô-ba-nan-đà hỏi: 

- Này hai thiếu niên! Tại sao nặng vẻ ưu sầu như vậy ?

Hai Bí-sô thưa:

- Cụ thọ A-nan-đà bảo các Bí-sô: “Như Lai muốn đến nước Kiều-tát-la, du hành trong nhơn gian. Vị nào muốn cùng đi th́ chuẩn bị hành lư”.

- Thưa Đại đức! Chúng tôi mới đến, chưa nghỉ khỏe, làm sao trở lại thành Thất-la-phạt được ?!

Khi nghe rơ biết tự sự như vậy, Ô-ba-nan-đà ḷng phiền muộn lo lắng, khởi lên ư niệm: “Từ lâu, nay mới gặp được một thí chủ nhỏ nhỏ, đâu biết có sự trở ngại thế này”. Sáng ngày, Ô-ba-nan-đà liền đến nhà Bà-la-môn, như thường lệ an tọa xong, với giọng áy náy không vui nói pháp công đức bố thí. Gia chủ Bà-la-môn hỏi:

- Trước đây Đại đức nói pháp với âm thinh mỹ diệu, tại sao nay nơi giọng nói có mang theo mỗi ưu tư, nguyện được biết lư do!

 Ô-Ba-nan-đà nói:

- Này Hiền thủ! Từ lâu, nay mới gặp được Hiền thủ chỉ một thời gian ngắn lại phải biệt ly!

 Lời tỏ bày chưa kịp dứt, Ô-ba-nan-đà ḷng buồn rười rượi, như người đời nói kệ:

Người Ma-yết-đà nghe tiếng hiểu,

Nước Kiều-tát-la thấy h́nh biết.

Nửa chữ bèn rơ năm Vương thành

Cạnh nước khác đợi nói mới hiểu.

Khi ấy, Hành vũ Bà-la-môn nghe Ô-ba-nan-đà nói, liền nghĩ: “Đây không phải v́ ly biệt ta mà sanh ưu sầu, mà chỉ v́ sáu mươi kim tiền nên cớ sự mới phiền muộn”. Do vậy, Hành Vũ thưa:

- Tùy Đại đức An cư chỗ nào xong th́ tôi cũng sẽ phụng hiến sáu mươi Kim tiền.

Ô-ba-nan-đà liền cầu nguyện:

- Nguyện Hiền thủ vô bệnh, trường thọ. Lành thay! Ḷng bố thí thủy chung đều bền vững, phước lợi này sẽ đem đến thắng quả.

Ô-ba-nan-đà cầu nguyện xong liền cáo lui.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn được Đại chúng vây quanh (như trước)… khi Phật và Tăng đến Kiều-tát-la. Tại thành Thất-la-phạt, an trụ nơi rừng Thệ-đa. Khi ấy, có thương khách từ trong thành này đi ra, chở theo các hàng hóa đến thành Vương-xá. Thường pháp xưa của thành Vương-xá đối với xứ khác có đại vương tộc đến nơi nước này th́ nhà vua tự soát xét hàng hóa hoặc khiến Hành Vũ đại thần làm việc ấy. Kỳ này, Hành Vũ được sai soát xét hàng hóa của thương tộc kia. Hành Vũ  bảo thương khách:

- Khi người trở về nơi Thất-la-phạt nên cho tôi biết.

Người thương khách đồng ư. Thương nhơn trao đổi hàng hóa xong, đến chỗ Đại thần bảo:

- Tôi sắp sửa về nước.

Hành Vũ bèn đem gởi sáu mươi Kim tiền và dặn:

- Nhờ thương khách đem vật này đến cho Đại đức Ô-ba-nan-đà.

Thương chủ nhận vật rồi, nghĩ: “Nếu trước đây cùng với Đại thần Hành Vũ có sự quen biết th́ vị này chắc chắn là một Đại đức Bí-sô lắm người quen biết. Với vị Đại đức này ta sẽ tạo thêm một chút lợi nhuận để Đại đức được vui. Có thể ta mua ít hàng loại tế điệp đem đến Thất-la-phạt”. Nghĩ như vậy rồi liền đến trong vườn Trúc hỏi các Bí-sô để biết loại điệp y nào mà  các Bí-sô có thể may mặc. Các Bí-sô hỏi thương nhân:

- Hiền thủ! Há ông muốn mua vải để cúng dường cho Tăng sao ?

Thương chủ bảo rằng:

- Tôi không đủ khả năng để làm việc cúng dường mà đây là đại thần Hành Vũ gởi sáu mươi Kim tiền, nhờ đem đến cho Đại đức Ô-ba-nan-đà. Nay tôi muốn đem số tiền này mua điệp y đem đến đó, để được vừa ư người nhận.

Các Bí-sô nghe, biết rơ sự việc nên nói:

- Nếu ông làm như vậy th́ chắc chắn ông sẽ phải nộp cả Bạch điệp và Kim tiền cho vị ấy.

Thương nhơn nghĩ rằng: “Có lẽ Bí-sô này với Ô-ba-nan-đà có sự không hài ḷng nhau nên nói thế”. Ông bèn đến hỏi các Bí-sô khác xem các vị có ư kiến ǵ khác hơn không.

Các Bí-sô nói:

- Nếu ông không đóng ấn Kim tiền mà mang đi th́ đến đó, chắc chắn vị kia sẽ đ̣i tiền lời.

Thương chủ nghĩ: “Các Bí-sô đều có ư cảnh  giác cho  ḿnh sợ vị kia gây phiền phức. Ta nên đến yêu cầu Đại thần đóng ấn tín vào”. Thương chủ đến yêu cầu. Đại thần nói:

-Tôi đă tin người, phiền ǵ phải đóng ấn tín làm ǵ!

Thương chủ nói:

- Tuy Đại thần tin tôi ủy thác tiền, xong pháp sự của nhà buôn phải đâu đó rơ ràng.

Đại thần giải quyết đúng theo yêu cầu, ngay khi ấy, cho người đóng ấn tín vào sáu mươi Kim tiền đó.

Thương chủ mang số Kim tiền đến thành Thất-la-phạt, rừng Thệ-đa, hỏi Bí-sô:

- Pḥng ở của Thánh giả Ô-ba-nan-đà chỗ nào.

Các Bí-sô chỉ chỗ. Đến đó không có. Các Bí-sô nói:

- Đại đức Ô-ba-nan-đà vừa đi đâu đó xin mời ông tạm ra ngoài chùa nơi thanh tịnh ngồi nghỉ.

Thương chủ nói:

- Đại thần Hành Vũ bên thành Vương-xá có gởi cho Đại đức Ô-ba-nan-đà một số Kim tiền này, các Ngài nhận cho, khi nào vị ấy về trao lại giùm.

Bí-sô nói:

- Hiền thủ! Người đă từng thấy ai chui đầu vào ngọn lửa của cây đuốc đang hừng cháy không!

Thương chủ nghĩ rằng: “Có lẽ vị Bí-sô này với Đại thần Ô-ba-nan-đà có sự không hài ḷng nhau nên nói như thế”. Ông ta lại đến nói với các Bí-sô khác:

- Thưa Đại đức, tiền này là của Đại thần Hành Vũ bên thành Vương-xá gởi cho Đại đức Ô-ba-nan-đà, nhờ ngài nhận, khi nào vị ấy về trao lại giùm.

Các Bí-sô nói:

- Nếu món Kim tiền đó, không đóng ấn mà mang đến giao th́ vị kia đ̣i tiền lời đâu để trả ?! Ông nên trực tiếp giao cho rồi.

Thương chủ nghĩ: “Vị nào cũng nói như nhau. Đây thật là một điều nan giải cho ta”. Trong nhà đợi, đợi Ô-ba-nan-đà, Thương chủ tự rơ được câu trả lời của các Bí-sô nên thưa với các Bí-sô:

- Khi nào Ô-ba-nan-đà về xin bảo giùm: Có người ở tại địa chỉ… mời Đại đức đến nhận quà tặng, từ Vương-xá gởi đến.

Thương chủ nói xong, cáo lui. Sau đó, Ô-ba-nan-đà về, các Bí-sô nói:

- Đại đức Ô-ba-nan-đà, lành thay! Đức Thế Tôn có nói: “Người nào đầy đủ giới hạnh, tâm ư thanh tịnh th́ tùy tâm sở nguyện đều được thành tựu”. Nay, Ngài nhờ dứt ư trong rừng nên liền thu hoạch được sáu mươi Kim tiền từ phương xa đem đến cúng dường.

Ô-ba-nan-đà nói:

- Cụ thọ! Nơi nào mà có được thí chủ: cúng dường Phật và Đại chúng một ngàn hai trăm năm mươi vị, mỗi vị sáu mươi Kim tiền như thế ?

Bí-sô nói:

- Chỉ độc nhất có Ngài được mà thôi, chứ không phải cả Đại chúng .

Ô-ba-nan-đà nói:

- Ai mà có thể huệ thí cho tôi sáu mươi Kim tiền như thế.

Các Bí-sô bảo rằng:

- Đại thần Hành Vũ nơi Thành Vương-xá gởi cúng.

Ô-ba-nan-đà nói:

- Vị đại thần đó là tri thức của tôi lúc xưa, trước đă dự định cúng cho tôi một số Kim tiền đó. Không biết vị nào nhận có xem xét cho kỷ hay không ?! Có bị thiếu hụt rơi rớt ǵ không ?! Nếu vật bị trá, giả mạo th́ không thể nhận được.

Các Bí-sô bảo rằng:

-Không ai chịu nhận giùm cả.

Ô-ba-nan-đà vừa nghe, liền buông lời:

-Th́ ra từ lâu tôi cùng ở với bạn ác, nên sự việc như vậy mà không ai nhận giùm.

 Khi, Ô-ba-nan-đà nặng lời trách móc như thế, các Bí-sô cho biết:

-Không sao đâu! Đại đức đừng ưu năo, thương chủ có để lại địa chỉ rơ ràng, mời Đại đức đến đó mà nhận.

Khi được cho biết như thế, Ô-ba-nan-đà liền lấy y Tăng-già-chi mặc vào, vội vàng đi đến nhà của thương chủ. Từ xa thấy đi xăng xái như vậy, thương chủ tự nghĩ: “Xem phong thái thế này th́ rơ mười mươi là Sa-môn có thế lực thuộc gịng hào tộc”.

- Xin chào Ngài, Ngài là Đại đức Ô-ba-nan-đà ?

Đại đức đáp:

- Đúng vậy!

Thương chủ đem tiền ra, nói:

- Đây là Đại thần Hành Vũ gởi, xin Ngài thọ nhận.

Ô-ba-nan-đà liền chú nguyện một cách nom na. Thương chủ nói:

- Đây không phải tài vật của tôi mà Ngài chú nguyện cho tôi. Ngài nên chú nguyện cho Đại thần Hành Vũ.

Ô-ba-nan-đà nói:

- Tuy không phải của người nhưng công lao của người từ phương xa đem về. Tục ngữ có câu: “Của một đồng công một lượng”, người không biết sao ? - Ô-ba-nan-đà nói tiếp: Bây giờ người cho mượn một cháu nhỏ mang số tiền này đi với tôi ra chợ rồi nó về lại .

-Thưa Thánh giả, tôi không có cháu nhỏ nào cả.

Ô-ba-nan-đà nói:

- Người là kẻ ngu, từ Vương-xá c̣n đem về đến đây được, huống là từ đây ra chợ chỉ có mấy bước mà không chịu cho người mang đi là sao!

Thương chủ liền sai một tiểu nhi mang tiền cùng đi với Ô-ba-nan-đà, dặn tiểu nhi rằng:

 - Phải đi theo sau chớ đừng ghé nơi đường khác, Thánh giả có tiền mua bánh quà ǵ không nên nhận.

Tiểu nhi mang tiền đi theo, đến nơi cửa hiệu, cậu bé thưa với Thánh giả:

- Tiền để nơi đây phải không ?

Ô-ba-nan-đà nghĩ: “Thế là đồng tử đă theo ư của chủ nó dặn chứ không theo ư ḿnh”. Ô-ba-nan-đà liền bảo người chủ hiệu rằng:

- Này, Hiền thủ! Số Kim tiền này, người cất hộ cho.

Người nơi cửa hiệu nói:

- Thưa Thánh giả! Không có gia trưởng, tôi không dám nhận.

Ô-ba-nan-đà nói:

- Cám ơn! Kẻ mất hết tự do!

Ô-ba-nan-đà lại đến chỗ đồng tử bán hương, nói:

- Hiền thủ, cho tôi tạm gởi số tiền này.

Đồng tử bán hương nói:

- Xin lỗi Ngài, người lớn trong nhà tôi đi vắng.

Ô-ba-nan-đà nói:

- Cám ơn, gia trưởng của người đi luôn rồi đó!

Ô-ba-nan-đà đến nơi một đồng tử bán hương khác, mà ḷng tin của nó đối với Phật pháp cũng vừa mới có, nói:

- Hiền thủ! Cho tôi tạm gởi số tiền này.

Đồng tử này nói:

- Nhà tôi có người lớn, tôi không dám nhận vật gởi.

Ô-ba-nan-đà nói:

- Tôi nghĩ rằng: “Người có chút tín tâm, nào ngờ đó là tín tâm của La sát. Nếu ngươi vốn không có tín tâm mà tự nói là có tín tâm th́ khi nắm chân của Bí-sô liền bổ nhào ra ngoài cửa”.

Đồng tử bị rủa nộp nghẹn lời nói:

-Thánh giả có thể để chỗ này.

Ô-ba-nan-đà gởi xong, về lại chùa.

Thời ấy, thương nhơn có chế lệnh: “Đến lúc mặt trời mọc, ai không tập hợp sẽ bị phạt sáu mươi văn Kim tiền” Bà mẹ của đồng tử bảo đồng tử:

- Con phải đến sớm đừng để người ta phạt.

Đêm ấy, Ô-ba-nan-đà sanh tâm nghi kỵ: “Đồng tử bán hương mới có được ḷng tin có thể đem gói gửi tiền rồi tránh mặt ta”. Nên trời chưa sáng Ô-ba-nan-đà dẫn một thiếu nhi đến cửa hiệu đă gởi tiền. Vừa lúc ấy chủ hiệu đóng cửa đi ra. Ô-ba-nan-đà chận lại bảo rằng:

- Hiền thủ! Cho tôi xin nhận lại số tiền gửi.

Chủ cửa hiệu đáp:

- Thánh giả! Nơi đây từ trước đến giờ, thương nhơn chế ra lệnh: Hội họp lúc mặt trời mọc, nếu trễ phạt sáu mươi văn Kim tiền. Xin Ngài nán đợi một chút tôi về sẽ giao.

Ô-ba-nan-đà nói rằng:

- Ngươi là người ngu, ta đâu phải tôi tớ của ngươi mà bảo chờ đợi. Trở vào lấy tiền của tôi gởi đưa đây chứ chân của tôi bị đau không đứng lâu được. Nếu không trả lại cho mà đi tức là trái với giáo lệnh của vua Thắng Quang sẽ bị phạt sáu mươi Kim tiền.

Đồng tử chủ cửa hiệu nghe nói như vậy nổi giận hủy báng rồi xách gói tiền quăng dưới đất, nên dấu đóng ấn bị vấy bùn không c̣n nguyên như trước. Ô-ba-nan-đà nói rằng:

- Ngươi khoan đi, để ta thử xem lại cho rơ có thiếu không, có thông đồng đổi đồ giả không.

Chủ cửa hiệu nói:

- Khi gởi cho tôi Ngài đâu có đếm trước khi gởi ?!

Ô-ba-nan-đà nói:

- Tuy không đếm mà có dấu ấn đóng rơ ràng, bầy giờ ấn dấu bị phá mất.

Khi ấy, người chủ cửa hiệu ngậm hận mà đành phải nín thinh. Trời đă sáng hẳn, bị trễ buổi họp. Các thương nhơn đến nhà thu số tiền bị phạt. Khi họ mang sáu mươi Kim tiền đi, bà mẹ của đồng tử, chủ hiệu thấy, hỏi:

- Con làm ǵ mà trái phạm lệnh chế để phải bị phạt sáu mươi Kim tiền như thế ?

Người con thưa với mẹ:

- Do con quen thân với Thích tử, vừa phát ḷng tin th́ liền bị bẻ găy.

Cả hai mẹ con liền cơ hiềm, hủy báng. Sự việc này đến tai Bí-sô, các Bí-sô tŕnh bày đầy đủ với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn dựa vào nhơn duyên này, tập hợp các Bí-sô… cho đến câu: Đức Thế Tôn hỏi Ô-ba-nan-đà:

-Thật sự ông có làm cái việc không đoan nghiêm vậy chăng?

-Bạch Đại đức Thế Tôn! Thật sự con có làm như vậy.

Đức Phật dùng mọi cách quở trách… cho đến câu:

- Nay, Ta v́ các đệ tử, đối với Tỳ-nại-da chế Học xứ này như sau:

“Nếu lại có Bí-sô, hoặc vua, hoặc Đại thần Bà-la-môn, Cư sĩ v.v… sai sứ v́ Bí-sô đem tiền đến chỗ Bí-sô, thưa: Đại đức! Vật này là của vua… Đại thần, Bà-la-môn , Cư sĩ… sai tôi đem đến, Đại đức ai mẫn thọ nhận cho. Bí-sô nói với người sứ kia rằng: Này, nhơn giả! Số tiền may y này tôi không được phép nhận. Nếu khi cần y, hợp thời thanh tịnh th́ tôi mới nhận. Người xứ kia thưa: Đại đức có người chấp sự hay không ? Bí-sô nói: Có. Rồi lại nói: Tịnh nhơn của Tăng hay Ô-ba-sách-ca ở tại chỗ đó là người chấp sự của Bí-sô. Người sứ kia đến chỗ người chấp sự trao số tiền may y rồi nói: Ông có thể dùng số tiền may y này sắm y thanh tịnh, khi hợp thời trao cho Bí-sô tên… để Ngài đắp mặc. Người sứ kia khéo léo dặn người chấp sự rồi, trở lại chỗ Bí-sô thưa: Đại đức! Ngài chỉ người chấp sự đó, tôi đă trao số tiền may y rồi. Khi Ngài cần được y thanh tịnh, nên đến đó nhận. Khi cần y thanh tịnh, Bí-sô đến chỗ người chấp sự, hoặc hai lần, hoặc ba lần khiến cho họ nhớ lại, bằng cách nói rằng: Tôi cần y. Nếu nhận được y th́ tốt, không nhận được y, cho đến bốn, năm, sáu lần đến nơi đó đứng nín thinh. Nếu đứng nín thinh bốn, năm, sáu lần nhận được y th́ tốt, không nhận được y, quá hạn định cầu cho được y, Ni-tát-kỳ Ba-dật-để-ca. Nếu cuối cùng không nhận được y th́ Bí-sô nên đến chỗ người đưa tiền may y đó, hay sai người tin cậy đến nói: Ông v́ Bí-sô tên… sai người đem tiền may y đến. Bí-sô kia cuối cùng không nhận được y. Ông nên biết, đừng để mất số tiền ấy. Đây là hợp thức”.

+ Bí-sô ở đây là chỉ cho Ô-ba-nan-đà.

Vua, có thể là nam, có thể là nữ được dùng vương pháp quán đảnh đều gọi là vua.

Đại thần là người chấp hành chánh sự, theo chức năng mà an lập.

Bà-la-môn là quư chủng Đa-văn.

Cư sĩ là kẻ tại gia phong phú.

Vân vân là chỉ cho các tạp loại khác.

Sai sứ giả là chỉ cho nam nữ, Huỳnh môn.

Đem tiền may y tức là chỉ cho vàng bạc tiền…

Sứ giả kia đem tiền may y v.v… tức là đem tiền may y… đến chỗ Bí-sô.

Bạch Đại đức, là đối với vị Sa-môn trước mắt.

Vật này là của… tức là nói nơi cúng dường và xin được nạp thọ.

Bí-sô nói không nhận là v́ không hợp lư để nhận.

Thuận lúc thanh tịnh nghĩa là phù hợp với lư do nên đến nhận người sứ giả kia hỏi Bí-sô về người nhận… đây chính là người chấp sự.

Bí-sô nói: Có, tức là chỉ người chấp sự.

Nghĩa của tịnh nhơn của Tăng là chỉ cho Tịnh nhơn của Đại chúng.

Ô-ba-sách-ca là người quy y Tam bảo, thọ năm Học xứ.

Sứ ấy… nhằm minh bạch ư của sứ.

Sắm tức là mua hay là dệt trao cho Bí-sô tên… tức là chỉ cho người nhận.

Thanh tịnh tức là đủ điều kiện để nhận.

Khéo léo dặn, tức là chỉ vẽ một cách rơ ràng. Hoặc hai hoặc ba lần nói lên bằng lời, khiến cho người kia nhớ lại.

Được th́ tốt, tức là xứng với ư. Nếu không được cho đến bốn, năm, sáu lần làm thinh đứng.

Có bốn địa điểm: 1- Chỗ cơ xưởng sản xuất. 2- Chỗ nhà ở. 3- Nơi đồng ruộng. 4- Nơi cửa hiệu.

Cơ xưởng sản xuất là chỗ sản xuất ra hàng hóa.

Nhà ở là nơi nghỉ ngơi trú xứ.

Đồng ruộng là nơi gieo trồng ngũ cốc.

Cửa hiệu là nơi mua bán.

Có sáu cách cật vấn người đối diện sáu lời th́ tùy theo sự việc nói mà cật vấn.

Những ǵ là sáu: Nếu người kia hỏi: Ngài có việc ǵ đến đây ? Bí-sô trả lời: V́ việc ấy nên đến.

Nếu người kia nói: Ngài đến đây là bậc cực thiện! Mời Ngài ngồi, Bí-sô lại cũng nói: V́ việc ấy nên đến.

Nếu người kia nói: Mời Ngài dùng cơm. Bí-sô vẫn nói: V́ việc ấy nên đến.

Nếu người kia mời xơi bánh.- Bí-sô vẫn nói: v́ việc ấy nên đến.

Nếu người kia nói: Mời Ngài chứng nước. Bí-sô vẫn nói: V́ việc ấy nên đến.

Nếu đối với một trong sáu trường hợp trên, khi người kia nói, Bí-sô trả lời ngay chận họng họ không để cho họ kịp “cà kê, dê ngỗng” trước mọi người, họ không thời gian để nói lời ǵ khác, như vậy gọi là không viên măn thiện hảo.

Nếu đối với một trong sáu trường hợp trên, khi người kia nói, Bí-sô không kịp đáp trả chận họng họ. Bí-sô cứ chậm chậm trả lời, khiến cho họ trước mọi người có được thời gian để nói lời loanh quanh, như vậy gọi là viên măn thiện hảo.

Khi áp dụng sáu cách cật vấn như vậy, nhận được y th́ tốt, không nhận được y mà quá quy định để t́m cầu cho được y phạm Ni-tát-kỳ Ba-dật-để-ca.

Quá số lượng tức là t́m cầu quá ba lần nói, sáu lần nín thinh. Cuối cùng không nhận được y, đến chỗ người cúng y, hoặc tự ḿnh đến, hoặc sai người tin cậy đến, tức là sai đệ tử hay môn nhơn, không có điều ǵ nghi ngờ đối với người sai đó.

Mục đích là cho người cúng y biết rơ điều đó để họ đến nhận lại đừng để cho sự hư dối lường gạt. Đây là phương pháp trở lại báo cáo cho chủ nhân cúng y tài.

Trường hợp Bí-sô đă sai sứ báo cáo cho chủ y tài rồi, người chấp sự kia lại đến nói với Bí-sô: Thưa Thánh giả! Ngài có thể nhận số tiền may y này. Bí-sô nên nói với người chấp sự: Tiền may y này đă trả lại cho chủ cúng y rồi, ông nên đưa đến đó. Trả lời như vậy là tốt, nếu lấy y tài th́ phạm Xả đọa.

Nếu người chấp sự nói: Thưa thánh giả! Ngài cứ thọ nhận số tiền may y này đi, đối vói người chủ y tài, tôi sẽ cùng họ nói chuyện, khiến cho họ hoan hỷ. Trường hợp như vậy th́ nhận không phạm.

Nếu Bí-sô không theo thứ tự như vậy để giải quyết mà thọ nhận y, đều phạm Xả đọa.

Khi đă phạm tội rồi th́ pháp Xả đọa sám hối như giới trước đă giải.

Trong vấn đề này phạm tướng của nó như thế nào ?

Nếu người đóng vai thí chủ, người đóng vai sứ giả, người đóng vai cấp sự đều như pháp, nhận được y vô tội; trái với đây th́ phạm Xả đọa.

Nếu người đóng vai thí chủ, người đóng vai sứ giả phi pháp người đóng vai cấp sự đúng pháp, nhận được y vô tội. Trái với đây th́ phạm Ác tác.

Nếu người đóng vai thí chủ phi pháp, người đóng vai sứ giả phi pháp, người đóng vai cấp sự đồng như trước, phạm Ác tác.

Nếu người đóng vai thí chủ phi pháp, người đóng vai sứ giả, người đóng vai cấp sự đồng như trước, phạm Xả đọa.

Nếu Phi nhơn đóng vai thí chủ, Phi nhơn đóng vai sứ giả, phi nhơn đóng vai cấp sự, đồng như trước, phạm Ác tác.

Nếu Phi nhơn đóng vai thí chủ, Phi nhơn đóng vai sứ giả, người đóng vai cấp sự, đồng như trước, phạm Xả đọa.

Nếu Phi nhơn đóng vai thí chủ, người đóng vai sứ giả, người đóng vai cấp sự, đồng như trước, Xả đọa.

Nếu Phi nhơn đóng vai thí chủ, người đóng vai sứ giả, Phi nhơn đóng vai cấp sự , đồng như trước, Ác tác.

Nếu Bí-sô đến Phi nhơn xin tiền may y, phạm tội Ác tác, nhận được y phạm Xả đọa, đến loài rồng, xin tiền may y phạm Ác tác, nhận được phạm Xả đọa.

Nếu Bí-sô sai sứ đến hoặc gởi thư xin y tài, phạm Ác tác, nhận được y phạm Xả đọa. Lại trường hợp không phạm (như trước).

 

*Học xứ thứ 11: Dùng tơ tm làm phu cụ.

Nhiếp tụng:

Cao thế da toàn đen

Phân lục Ni-sư-đăn

Gánh lông giặt kim ngân

Nộp chất và mua bán.

Đức Phật ở tại rừng Thệ-đa, vườn ông Cấp-cô-độc. Khi ấy, các Bí-sô làm ngọa cụ mới bằng tơ tằm, hoặc tự làm hoặc dạy người làm. Thứ này khó có mà lại quư giá. Các Bí-sô đứng ra kinh doanh công việc, mất rất nhiều th́ giờ, bê trễ việc chánh tu, đọc tụng, tác ư. Các Bí-sô thường đến nơi Bà-la-môn, Cư sĩ v.v… xin tơ tằm, ngoại đạo thấy vậy cơ hiềm:

- Mọi người nên biết sa-môn Thích tử này là người sát sinh; họ không bỏ nghiệp sát hại, họ tự làm hay sai người khác làm ngọa cụ mới bằng tơ tằm. Họ dùng thứ này, phải giết rất nhiều loài hữu t́nh. Tại sao chúng ta dùng y tốt, thức ăn tốt bố thí cho họ để họ làm việc sát hại.

Các Bí-sô nghe họ nói như vậy, đến bạch đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn dùng nhơn duyên này tập hợp chúng Bí-sô, hỏi các Bí-sô:

- Thật sự, các ông có làm ngọa cụ mới bằng tơ tằm hay chăng?

- Kính bạch đức Thế Tôn! Đúng như vậy.

Đức Phật nói:

- Các ông là người khó biết đủ, khó nuôi dưỡng, không thuận hạnh thiểu dục tri túc.

Bằng mọi cách, đức Phật quở trách rồi, Ngài khen ngợi của Đổ-đa, thiểu dục, tri túc… cho đến câu:

- Nay ta v́ các đệ tử, đối với Tỳ-nại-da chế Học xứ này như sau:

“Nếu lại có Bí-sô dùng tơ lụa cao thế da mới làm phu cụ, Ni-tát-kỳ Ba-dật-để-ca ”.

+Nếu lại có Bí-sô dùng tơ lụa Cao thế da là chỉ cho nhơn vật trong vấn đề này. Mới có hai loại: Một là mới làm, hai là mới nhận được.

Trong đây nói mới tức là mới làm.

Cao thế da làm phu cụ có hai loại: Một loại độn làm nệm, một loại làm thành phu cụ.

Nơi đây là nói cả hai loại dùng làm phu cụ. Tự ḿnh làm, dạy người làm, phạm Xả đọa. Pháp xả, sám hối… như giới trước.

Trong đây vấn đề phạm tướng như thế nào ?

Khi Bí-sô lo liệu Cao thế da đối với một cái kén, một nắm kén, một đống kén, hoặc xé, hoặc rọc… để làm phu cụ, khi làm phạm Ác tác, làm rồi phạm Xả đọa.

Nếu Bí-sô khi xin cao thế da và khi lo liệu đều phạm Ác tác, khi thành phạm Xả đọa.

Nếu nhận được vật đă làm thành hay vật đă dùng, hoặc cũ đă làm cho mới lại, lo liệu việc như vậy để thọ dụng, đều không phạm.

Lại, trường hợp không phạm nữa là người phạm lần đầu, hoặc si cuồng tâm loạn thống năo bức bách.

 

CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA

QUYỂN 20 - (hết).