CĂN BẢN THUYẾT
NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA
QUYỂN
20.
TAM
TẠNG PHÁP SƯ NGHĨA TỊNH PHỤNG CHẾ DỊCH.
Học
xứ thứ 7: xin y quá lượng.
Lúc bấy giờ, đức
Bạc-già-phạm ở thành Thất-la-phạt, rừng
Thệ-đa, vườn ông Cấp-cô-độc. Khi
ấy, Ô-ba-nan-đà khởi ư nghĩ: “Chúng ta t́m cầu
chỗ nào đều bị Trưởng giả
Cấp-cô-độc bạch, xin đức Thế Tôn
chế Học xứ. Dù chúng ta chỉ t́m cầu chiếc
khăn nhỏ lau mặt cũng không dễ có
được, huống là t́m xin cái ǵ to lớn. Xong,
đức Thế Tôn hoặc nhơn Bí-sô thiểu dục,
thiếu y phục cho nên biệt khai cho phép… Nay, chúng ta nên
t́m hàng thiểu dục để rồi “ăn theo” họ.
Hoặc nhơn nơi họ mà chúng ta kiếm
được chút ít”. Do vậy, Lục chúng men theo các vùng để
t́m người thiểu dục. Tuy vậy, đă rảo
khắp đồng phạm hạnh nhưng chưa thể
gặp cơ hội. Trong Lục chúng có người
bảo rằng: “Nơi A-lan-nhă ấy hiện có bốn
mươi Bí-sô đang sống trong nếp sống
thiểu dục”. Lục chúng liền đến trong
rừng tịch tịnh, A-lan-nhă đó. Quả thật có
bốn mươi Bí-sô đang chằm vá y rách của ḿnh
hết sức vất vả. Khi ấy, Ô-ba-nan-đà nói
với các Bí-sô rằng:
- Này Cụ thọ! Theo chỗ tôi nghe
với thực tại, sự việc không như nhau. Tôi
nghĩ quư vị dưới danh nghĩa là bốn
mươi Bí-sô thiểu dục ở tại A-lan-nhă.
Thọ các tịnh lự giải thoát thắng lạc,
chứ đâu có chuyện các Ngài ở nơi đây chỉ
lo chằm vá y phục một cách vất vả loạn ư
thế này!
Các Bí-sô trả lời:
- Đại đức! Tôi bị giặc
cướp.
Ô-ba-nan-đà nói:
- Đó là điều không hay, để
nhận chịu cái bất hạnh tột mức này.
Các Bí-sô thiểu dục nói:
- Đại đức! V́ cớ ǵ,
thấy Ngài có vẻ buồn lo như vậy ?!
Ô-ba-nan-đà nói:
- Tôi không ưu tư mà thương cho Ngài
bị mất cắp có chăng là v́ ḷng tham của họ
khiến họ hành động tà ngụy cướp
trộm để rồi sau khi bỏ thân này họ
phải đọa địa ngục cho dù làm
được thân người cũng nhận lấy cái
quả báo bần cùng. Này các Cụ thọ! Như
đức Thế Tôn dạy: “Này các Bí-sô: Người do
việc trộm cắp, huân tập thành nghiệp lực,
sau khi mạng chung, sẽ đọa vào địa ngục
thọ các khổ năo, dầu được thân
người áo cơm cũng thiếu thốn”. Do sự
việc như vậy nên tôi mới có sự ưu tư.
Xong, các Cụ thọ! Nhọc nhằn khổ sở,
chằm vá y rách là việc làm vô ích, tại sao không xin
loại điệp bố mới ?
Các Bí-sô Lan-nhă trả lời:
- Ai lại bỏ phước điền
thắng diệu của Tam bảo mà vội chịu đem
cho bọn bần cùng chúng tôi.
Ô-ba-nan-đà nói:
- Này, Cụ thọ! Đức Thế Tôn,
bất cứ chỗ nào cũng khen ngợi kẻ thiểu
dục, tri túc như các Cụ thọ, người có ḷng
tin đều ưa cúng dường, tại sao các Cụ
thọ không t́m cầu ?
Các Bí-sô bảo:
- Nơi nào chúng tôi có thể xin t́m
được y ?
Ô-ba-nan-đà nói:
- Không biết chỗ nào để t́m
cầu, tại sao không nhờ người khuyến hóa cho
? Người kia có thể v́ quư vị đánh đổi
được y phục.
Các Bí-sô thiểu dục đáp lại:
- Vấn đề nơi nào có người
biết cho để giúp. Làm sao quư Đại đức
Bí-sô có thể bỏ thiện phẩm mà v́ chúng tôi t́m
cầu ?
Ô-ba-nan-đà nói:
- Lục chúng Bí-sô của chúng tôi, mỗi
vị đều có chín đệ tử, thành sáu
mươi người cả thảy, chúng tôi v́ quư vị
t́m cầu y vật miễn quư vị đừng phản
đối, tùy chúng tôi lo cho. Lẽ thường
người của môn phái chúng tôi nhơn việc t́m xin này
cũng chia sớt ít nhiều y phục.
Bí-sô thiểu dục đáp rằng:
- Cùng nhau nhận được y phục
th́ chúng tôi đâu có trái ư.
Ô-ba-nan-đà nói:
- Chúng tôi đâu có thể tự đi
khất thực rồi lại t́m cầu y phục chăng
? trường hợp được thức ăn
đầy đủ mà không khó khổ th́ mới có thể
t́m cầu y phục.
Mọi người đều trả
lời:
- Được như vậy là
điều tốt!
Khi ấy, Ô-ba-nan-đà về lại chùa,
rửa chân, vào pḥng, suy nghĩ: “Làm thế nào để có
thể khuyến hóa được hết tất cả
các thành phần trong thành này, chỉ trừ nhà Trưởng
giả Cấp-cô-độc không đến mà thôi.
Trưởng giả gặp ta thường tỏ ra không
hài ḷng. Nay, chúng ta nên, trước hết đến nhà
người nghèo rồi sau đó đến nhà
người giàu, cuối cùng đến nhà vua Thắng
Quang, Hành Vũ phu nhơn, Thắng Man phu nhơn,
Trưởng giả Tiên Thọ, Cố cựu Cư sĩ,
Tỳ-xá-khư-mẫu, vợ chồng Thiện Sanh, theo
thứ tự như vậy để khất cầu”.
Vào thời gian ấy, có Trưởng
giả thỉnh Phật và Tăng chúng thọ trai,
Ô-ba-nan-đà biết, khởi ư nghĩ: “Ta phải ra
lệnh cho các đệ tử của ta là ngày mai có vị
nào sai làm ǵ th́ nói rằng: Xin miễn công tác cho chúng tôi v́ hôm
nay hai thầy của chúng tôi có chút việc cần chúng tôi”.
Sáng ngày, Ô-ba-nan-đà sai một đệ tử đến
gọi bốn mươi Bí-sô đến để đi
t́m cầu y phục. Sứ giả đến thấy các
Bí-sô đều nhập định. Sứ giả suy
nghĩ: “Ai có thể trước h́nh ảnh này lại tác
động các tâm thô bạo mà không quán sát đời sau
sẽ lầm lỗi trong cảm giác định”.
Điều này khiến cho sứ giả cảnh giác
được, liền trở về đến chỗ
Ô-ba-nan-đà báo cáo:
- Kính bạch A-giá-lợi-da! Quư vị đó
đều nhập định con không dám khua động.
Ô-ba-nan-đà nộ nạt và nói:
- Kẻ ngu si vô trí! Ông kỉnh tỉnh
với ḷng thành thật chứ đâu gây phiền năo mà
sợ tội.
Thế rồi, Ô-ba-nan-đà tự
đến nhà tịnh lự, lấy chân đạp cửa
làm cho trấn động. Các Bí-sô từ định
khởi, hỏi:
- Tại sao Đại đức làm như
vậy ?!
Ô-ba-nan-đà bảo:
- Bốn mươi người các Ngài
muốn cầu y phục, tại sao cứ ngồi tỉnh
tọa thế này! Các Ngài, phải đến… để
cùng đi với chúng tôi.
Các Bí-sô nói:
- Chờ một chút, chúng tôi súc miệng
đă!
Ô-ba-nan-đà nói:
- Có thể đi đến nửa
đường rồi sẽ súc cũng được.
Bốn chục Bí-sô làm theo ư kiến của
Ô-ba-nan-đà. Ô-ba-nan-đà cùng với môn nhơn nghị bàn:
“Này các Cụ thọ! Lục chúng, chúng ta cũng như
Bạch tượng, đến đâu mọi người
đều chen nhau đến với chúng ta. Chúng ta không nên
theo thứ tự già trẻ cùng đi, mà chúng ta nên xen
lẫn nhau, kẻ trước người sau, đi riêng
biệt. Đi theo h́nh thức trên, nên đến nửa
đường và vấn đề súc miệng của quư
vị kia cũng giải quyết xong”.
Khi vào đến trong chợ
Thất-la-phạt, người nghèo nơi đó, tụ
tập sống với nhau một chỗ, các chủ
phố hỏi:
- Hôm nay, Thánh giả có việc ǵ ưu năo
chăng ?
Bí-sô của Lục chúng đáp:
- Vâng! Chúng tôi có chút việc ưu lo. Quư
vị có nghe bốn mươi chúng Bí-sô mà lúc nào cũng
được đức Phật khen ngợi là thiểu
dục tri túc hay không ?
Họ bảo:
- Vâng! Chúng tôi có nghe.
Ô-ba-nan-đà nói:
- Chính là số người này vừa
rồi đều bị kẻ cướp đoạt
hết y phục.
Các chủ phố nghe xong, đều
bảo nhau rằng:
- Chúng ta, tất cả mang cung tên, dao mác… bao
vây bắt bọn giặc.
Lục chúng báo cáo:
- Bị cướp đoạt lâu rồi,
nay bọn cướp phân tán hết.
Mọi người nghe vậy liền
hỏi:
- Vậy bây giờ chúng tôi phải làm ǵ ?
Lục chúng bảo:
- Quư vị có thể cúng y.
Khi ấy, mọi người đều
góp nhau y phục, mới có, cũ có, y bạch điệp
đem đến dâng cúng. Lục chúng bó thành một vác, sai
các thiếu niên đem về chùa. Kế đến, vào khu người
giàu có, tụ tập đứng lại, họ thấy,
đều hỏi: (nói như trước và cũng trả
lời như trước). Mọi người đều
mang y quư giá đến để dâng cúng. Lục chúng
cũng sai người vác về chùa. Sau đó, đến
vua Thắng Quang, đứng nơi địa điểm
tập họp nhà vua thấy, hỏi: (như trước…).
Nhà vua bèn ra lệnh cho Tỳ-lô-trạch-ca:
- Ngươi phải tập hợp tất
cả các tướng soái để khẩn trương
bao vây bắt bọn giặc cướp.
Lục chúng báo cáo:
- Bị cướp lâu rồi, nay bọn
giặc đă tẩu tán đến nước khác.
Nhà vua hỏi:
- Vậy Thánh giả cần Trẫm làm ǵ ?
Lục chúng thưa:
- Đại vương có thể cúng y.
Vua Thắng Quang liền dâng cúng mỗi
vị đủ mười ba thứ tư cụ
thắng diệu y phục. Lục chúng cũng sai
đệ tử vác về chùa.
Khi ấy, bốn mươi chúng Bí-sô nói
với Ô-ba-nan-đà rằng:
- Thưa Đại đức! Số y
phục nhận được nhiều lắm rồi quá
đủ để phân thôi đừng xin nữa.
Ô-ba-nan-đà nói:
- Cụ thọ! Quư vị đều là
hạng người nhác nhớm. Chúng tôi đâu đă không
thành thật nói trước rằng: Nếu quư vị không
làm trái ư th́ nhơn việc này, hàng đệ tử chúng tôi
cũng t́m được ít nhiều y phục. Như
vậy, tại sao lại
thấy đủ mà không chịu t́m cầu thêm nữa.
Các Bí-sô nghe Ô-ba-nan-đà nói thế,
đều im lặng.
Thế rồi, Lục chúng Bí-sô bèn dẫn
đến Hành Vũ phu nhơn, Thắng man phu nhơn, Tiên
Thọ Cố cựu, Tỳ-xá-khư-mẫu, vợ
chồng Thiện sanh, đến mỗi chỗ đều
vấn đáp như trước. Vị nào cũng dâng cúng
mười ba thứ tư cụ thượng diệu y
phục cho mỗi Bí-sô. Đến chỗ nào thu hoạch
được, Lục chúng cũng sai đệ tử vác
về chùa. Khi ấy, Lục chúng bảo với mọi
người rằng:
- Ngày vừa qua, đức Thế Tôn cùng
các Bí-sô nhận lời mời thọ trai của thí
chủ. Trai phạn này, nếu không đủ một
trăm vị th́ thí chủ không toại nguyện. Quư
vị nên đến dự để đủ túc số,
đồng thời đưa bát đi nhận thức
ăn cho chúng tôi luôn.
Lục chúng nói với mọi người
như vậy rồi, họ về lại chùa soạn
lấy loại y quư giá để một chỗ, c̣n y cũ
rách chia làm bốn mươi phần. Bốn chục
vị đi phó thỉnh rồi, về chùa. Lục chúng
ăn xong, bảo các đệ tử rằng:
- Mời bốn mươi vị Bí-sô
thiểu dục đến đây.
Bốn chục vị được
mời liền đến. Ô-ba-nan-đà nói:
- Cụ thọ tôi đâu phải là kẻ
giữ y cho quư vị, quư vị nên tự nhận phần
của ḿnh.
Thấy phần y nào cũng đều là
loại y cũ rách các Bí-sô cùng nh́n ngó nhau.
Lục chúng hỏi:
- Tại sao các vị mỗi người
ngó lấy nhau như vậy ?
Quư Bí-sô trả lời:
- V́ sao chia cho chúng tôi đều là y rách
cũ ?
Ô-ba-nan-đà vừa chỉ vừa nói:
- Cái này dùng nhiều lớp may y
Tăng-già-chi, cái này may Ốt-đa-la-tăng-già, và
An-đát-bà-ta, Tăng-phước-kỳ v.v… đầy
đủ lắm rồi, tại sao cơ hiềm ? Nếu
quư vị không bằng ḷng th́ đi xin nữa.
Các Bí-sô trả lời:
- Thôi, đủ rồi, đừng xin
nữa!
Quư vị nói xong, liền mang số y cũ
rách về A-lan-nhă, tùy theo từng loại cũ rách mà
chằm vá lại với nhau.
Thiện tín trong thành ấp đều nghe
bốn mươi Bí-sô đến nhà vua và bảy nơi
trong xứ, mỗi chỗ đều nhận
được mười ba tư cụ. Khi ấy, có
Bí-sô đến A-lan-nhă, thấy các Bí-sô mỗi người
đều tự chằm vá y phục một cách khổ
cực, hỏi:
- Các Cụ thọ, tại sao chúng tôi nghe
như vậy mà sự việc như thế này ?
Các Bí-sô trong rừng hỏi:
- Ngài nói như thế có nghĩa ǵ ?
Bí-sô khách hỏi:
- Tôi nghe quư Cụ thọ đến nhà vua
và bảy chỗ, mỗi nơi đều nhận
được mười ba tư cụ, tại sao nay quư
Cụ thọ vẫn chằm vá khổ cực thế này ?!
Các Bí-sô hỏi:
- Ngài chỉ nghe nói, chứ chính tôi phải
gánh chịu hết, nếu bảo chúng tôi nhận
mười ba tư cụ mới th́ chỗ nào nhận những
thứ xiêm y cũ rách này?!
Lúc bấy giờ, các Bí-sô thiểu dục
đem tất cả sự việc báo cáo với Bí-sô. Bí-sô
nghe rồi hết sức cơ hiềm, khinh tiện, bèn
đến trú xứ bạch với các Bí-sô. Các Bí-sô đem
nhơn duyên này bạch Phật. Đức Phật bảo
các Bí-sô… cho đến hỏi chúng bốn mươi Bí-sô
rằng:
- Thật sự các ông có nhận vật do
người khác cúng mà không biết tri túc chăng ?
Các Bí-sô thiểu dục thành khẩn
thưa:
- Kính bạch đức Thế Tôn! Sự
thật là như vậy.
Đức Thế Tôn bằng mọi cách
quở trách:
- Không thuận chánh lư, tâm không điều
tịch khi các ông làm như vậy. Như Lai tán thán xưng
dương thuận lư điều thiện… cho đến
v́ các Bí-sô đối với Tỳ-nại-da chế Học
xứ này như sau:
“Nếu lại có Bí-sô y bị đoạt,
y bị mất, y bị cháy, y bị bay, y bị trôi
đến Cư sĩ, vợ Cư sĩ không phải bà
con xin y. Cư sĩ cúng nhiều y, Bí-sô chỉ nên thọ
hai y thượng và hạ. Nếu nhận quá Ni-tát-kỳ
Ba-dật-để-ca”.
+ Y bị đoạt…(như trước
đă giải) nên thọ hai y thượng và hạ: có hai
loại y thượng và hạ, một là y thượng
hạ của Bí-sô, hai là y thượng hạ của
người thế tục.
- Y thượng hạ của Bí-sô là y
mới hai lớp làm Tăng-già-chi th́ bề đứng ba
bề ngang năm; nếu Ni-bà-san th́ bề đứng hai
bề ngang năm .
- Y thượng hạ của người
thế tục là y thượng bề dài mười hai
khuỷu tay, bề rộng ba
khuỷu tay; y hạ bề dài bảy khuỷu tay, bề
rộng hai khuỷu tay.
Ưng thọ có nghĩa là khởi tâm
nhận lănh. Nhận quá có nghĩa là nhận lănh quá số
lượng đă quy định th́ khi xin được,
phạm Xả đọa. Ngoài ra như trước đă
giải.
Trong đây vấn đề tướng
phạm như thế nào ?
- Nếu Bí-sô đến người khác xin
y thượng hạ của người thế tục,
dựa vào mức lượng của y nhận
được, lại xin thêm, khi xin phạm tội Ác tác,
khi được phạm Xả đọa.
- Nếu xin y thượng hạng của
Bí-sô sự việc đồng như đây.
- Nếu khi đến người khác xin y
thượng, hạ của người thế tục, dù
không đủ mức lượng y thế tục cũng
không nên xin thêm.
- Nếu có dư không trả lại
chủ. Nếu khi đến người khác xin y
thượng hạ của Bí-sô, thiếu không đủ
mức lượng của y Bí-sô th́ nên xin thêm có dư nên
trả lại cho chủ.
- Nếu, y của thế tục thiếu
xin thêm, y của Bí-sô dư không trả lại, phạm
tội nặng nhẹ chuẩn theo sự việc nên
biết.
- Nếu có ư muốn xin quá số
lượng, khi xin phạm Ác tác, khi nhận
được phạm Xả đọa. Phạm Xả
đọa rồi lại nhận được bao nhiêu
vật khác, thảy đều phạm (như
trước).
- Trường hợp không phạm:
Người phạm lần đầu, hoặc cuồng si
tâm loạn, thống năo bức bách.
Học xứ thứ 8:
Biết người thế tục hứa cùng nhau cúng y,
đến xin
Đức Phật ở thành
Thất-la-phạt, rừng Thệ-đa, vườn ông
Cấp-cô-độc. Trong thành này có một Trưởng
giả đă có vợ, lại hành tà hạnh, người
vợ khuyên can chồng: “Anh không nên làm việc tà hạnh
như vậy”. Chồng không nghe theo lời vợ,
người vợ buồn giận cơ hiềm rồi cùng
với nam tử khác cũng làm việc tư thông. Mỗi
lần người chồng dùng vật ǵ của trong nhà
biếu tặng t́nh nhân th́ người vợ cũng
lấy vật tặng cho tà phu như vậy. Hai vợ
chồng cảnh “chồng ăn chả vợ ăn nem”
như trên, không bao lâu của cải trong gia đ́nh phá tán gần
khánh tận.
Ông Trưởng giả bẩm tánh bạo
ác đánh đập tứa tớ gái, hành hạ, cơm
không đủ no, áo không đủ ấm, nói rằng:
- Tự nó nên gia đ́nh ông ta bị tan nát.
Người tớ gái nói:
- Thật sự, tôi đă biết cái lư do
gia đ́nh này bị phá nát từ lâu. Tôi đă nói khéo mà hai ông bà gia chủ không
chịu để ư nghe, gạt bỏ lời nói của tôi
rồi bây giờ áp dụng kiểu: “giận chó đánh mèo”,
chỉ tội cho kiếp mèo mà thôi!
Cả hai ông bà gia chủ nghe đứa
tớ gái nói, đều ôm ḷng xấu hổ nên nín thinh.
Khi ấy, Ô-ba-nan-đà nhờ tánh ṭ ṃ,
biết được sự việc như vậy, bèn
đến gia đ́nh ông Trưởng giả, v́ vợ
chồng ông ta, thuyết pháp chê trách kẻ phá giới, khen
ngợi người tŕ giới và nói:
- Này thiện nam tử, thiện nữ
nhơn! như đức Phật dạy: “Người nào
sống theo thói tà hạnh, sau khi mạng chung sẽ
đọa vào địa ngục. Nếu được
làm người th́ vợ không trinh cẩn, chồng lại
tư thông. Người nào sống đời không tà
hạnh, sau khi mạng chung được sanh lên cơi
trời. Nếu sanh trong loài người th́ vợ trinh
lương, chồng không tà hạnh”. Nói xong, Ô-ba-nan-đà
lại thuyết kệ:
Do nghe nên biết pháp
Nghe pháp ĺa tội lỗi
Nghe pháp xa bạn ác
Nghe pháp đặng Niết-bàn !
Vợ chồng ông Trưởng giả nghe
pháp rồi liền bỏ tà hạnh. Ô-ba-nan-đà v́ vợ
chồng, nói rộng vấn đề công đức thù
thắng của kẻ quy kính, kêu gọi vợ chồng ông
Trưởng giả lắng nghe lời Phật dạy:
Người nào quy
Phật-đà
Không đọa vào
đường ác
Xa ĺa thân người rồi.
Sẽ sanh lên cơi Trời.
Người nào quy y pháp
Không đọa vào ác
đạo
Xa ĺa thân người rồi
Được sanh vào cơi
trời.
Người nào quy y Tăng
Không đọa vào
đường ác
Xa ĺa thân người rồi
Sẽ được sanh lên
Trời!
Hai vợ chồng nghe pháp rồi hoan hỷ
khởi ḷng tin sâu đậm, bèn quy y Tam bảo.
Ô-Ba-Nan-Đà lại khen ngợi công đức của
năm giới, nói:
- Thiện tín khéo nghe:
“Đức Phật dạy có năm món đại thí đó là xa ĺa sát
sanh, xa ĺa trộm cắp, xa ĺa tà dục, xa ĺa nói dối,
xa ĺa uống rượu. Đó là năm món bố thí
lớn? Tại sao xa ĺa năm món này gọi là bố thí
lớn ? Do xa ĺa năm thứ này đem lại sự không
sợ sệt, không có oán kết, vợ chồng trinh
lương, được người tin cậy, không
kiêu căng phóng dật. Do năm điều này cảm
được quả báo vui nhiều, thường ở
cơi nhơn thiên, cho nên gọi là bố thí lớn”.
Hai vợ chồng ông Trưởng giả
nghe pháp này rồi, càng sanh tâm tín thọ năm Học
xứ. Ô-ba-nan-đà khiến cho hai vợ chồng ông
Trưởng giả trụ nơi quy giới rồi, bèn
cáo lui.
Vào một ngày sau đó, ông Trưởng
giả lại đánh đập gây sự khổ sở
cho đứa tớ gái. Người vợ khuyên:
- Trước đây chúng ta chưa biết
vấn đề nghiệp quả, thường đem
lại việc khổ sở cho kẻ khác, nay nhờ Thánh
giả Ô-ba-nan-đà là thiện tri thức, ta biết
được vấn đề nghiệp dị thục,
không nên đem lại sự khổ sở cho ai. Vấn
đề nghiệp quả giữa thế gian này thay
đổi, không nhất định, kiếp sống giàu
sang hay tôi đ̣i như lật bàn tay. Từ nay “ḿnh” không nên
đánh đập tôi tớ nữa.
Người chồng nghe xong liền nói:
- Hiền thủ! Hay thay lời khuyên can
ấy!
Ông Trưởng giả lại bảo
đứa tớ gái tắm rửa lấy áo mới
mặc, và khuyên nó siêng năng lo gia nghiệp, từ nay ông
sẽ ban cho nó sự Vô-úy.
Đứa tớ gái ghi nhận sự ban
ơn của ông chủ rồi khởi ư nghĩ: “Hai gia
trưởng này trước đây đều là bất
nhơn, ưa làm chuyện đánh đập, sát phạt,
bạo ngược đối với ta, đời ta áo rách
không đủ che thân, cơm thô không đủ no ḷng, nay th́
nhơn từ đức hậu như cha mẹ ta. Ân
đức này, có từ khi Thánh giả Ô-ba-nan-đà vào trong
nhà này đến nay. Nhờ thánh giả mà hai gia chủ
của ta không đánh đập ta, mà lại nhơn từ
đối với ta, an ủi dạy dỗ ta. Ta nên đem
vật ǵ để đền ơn Thánh giả”.
Đứa tớ gái lại nghĩ:
“Nếu ta lén lấy một vật mọn nào của gia
chủ để đem báo ân Thánh giả, rủi bị gia
chủ biết được th́ ta bị hành hạ,
nhục mạ, đánh đập như cũ”. Do vậy,
không dám làm điều ấy. Trong khi chưa t́m được
phương thức nào để có được vật
mọn ǵ báo ân Thánh giả th́ ḷng ôm sự ẩn trắc.
Sau thời gian, Ô-ba-nan-đà lại
đến nói pháp cho vợ chồng ông Trưởng
giả nghe rồi đi. Khi ấy, vợ ông trưởng
giả nói với chồng rằng:
- Thánh giả Ô-ba-nan-đà là thiện
hữu của gia đ́nh chúng ta. Nhờ Thánh giả gia
đ́nh của chúng ta bỏ ác nghiệp, trụ vào
thiện phẩm quy kính Tam tôn, thọ năm Học xứ,
luôn luôn đem giáo pháp đến trao cho chúng ta. Chúng ta nên
phụng hiến Ngài chút vật mọn ǵ mới phải
chứ !
Ông Trưởng giả hỏi:
- Vậy th́ “ḿnh” nên
cúng thứ ǵ đây ?
Người vợ bảo:
- Chúng ta nên dâng cúng một chiếc áo choàng
bạch điệp.
Đứa tớ gái nghe, liền khởi
lên ư nghĩ: “Ta nên đem tin này bạch Thánh giả cũng
là một cách báo ân”. Sáng sớm hôm ấy, Ô-ba-nan-đà vào
thành khất thực, tuần tự đến nhà ông
Trưởng giả. Đứa tớ gái thấy liền
kính lễ rồi thưa:
- Con có tin mừng muốn thưa Thánh
giả.
Thánh giả hỏi:
Muốn nói việc ǵ vậy!?
Đứa ở thưa:
- Trưởng giả và phu nhơn gia
chủ của con, chuẩn bị đem một
thượng y dâng cúng cho Đại đức.
Ô-ba-nan-đà nghe xong, khởi ư nghĩ: “Ta là
người được mang nhăn hiệu một trong
số san tham nhất trong đời. Nay nghe
được của lợi thật là điều
xứng với bổn tâm. Xong, ta phải thẩm vấn
kỹ vấn đề này nơi đứa tớ gái kai
mới được”. Ô-ba-nan-đà giả đ̣ sân, nghiêm
sắc mặt hỏi:
- Này tiểu nữ hết ai trêu lộng
rồi sao, mi lại đi trêu
lộng với Đại đức ?
Tiểu nữ thưa:
- Bạch Thánh giả ! Con đâu dám trêu
lộng với Ngài!
Ô-ba-nan-đà bảo:
- Tiểu nữ, nếu tin đó là thật
th́ khi Trưởng giả có giận, ta khuyên ông
Trưởng giả cũng tha thứ cho Tiểu nữ.
Nếu tin đó là không thật th́ ta khuyên ông Trưởng
giả tặng cho người roi vọt như ngày xưa.
Tiểu nữ thưa:
- Nếu Thánh giả nghi, mời Thánh
giả vào nhà gia chủ của con th́ biết.
Lúc ấy, Ô-ba-nan-đà đi ngay đến
nhà của ông Trưởng giả. Hai vợ chồng ông
Trưởng giả vừa thấy liền xướng:
- Thiện lai !
Rồi trải ṭa mời ngồi, lễ
túc rồi, lấy ghế thấp hơn ngồi để
nghe pháp. Ô-ba-nan-đà nói pháp rồi, nói với Trưởng
giả:
- Ông bà hứa cúng đại điệp,
nay tôi muốn được thấy phẩm vật
ấy.
Vợ chồng ông Trưởng giả
vừa nghe nói, hai người chăm chăm ngó nhau.
Ô-ba-nan-đà thấy vậy hỏi:
- Tại sao hai ông bà lại ngó nhau như
vậy ?
Hai người đáp:
- Thưa Thánh giả ! Vấn đề dâng
cúng đại điệp, chúng tôi chỉ bàn riêng, ai báo cáo
mà Thánh giả biết ? Phải chăng Thánh giả đă
đặng Tha tâm!
Ô-ba-nan-đà thản nhiên nói:
- Tôi bưng b́nh bát đi khất thực
từ thuở thơ ấu cho đến răng tóc
bạc, vô lẽ chuyện nhỏ như vậy mà hai ông bà
không tin à ?!
Vợ chồng Trưởng giả
liền đem đại điệp trao cho Ô-ba-nan-đà.
Ô-ba-nan-đà nhận y xem xét tấm điệp ấy
kỹ, rồi lật bàn tay tỏ vẻ không bằng ḷng.
Ông Trưởng giả hỏi:
- Tại sao Thánh giả tỏ ư như
vậy ?!
Thánh giả nói rằng:
- Trưởng giả có phước xả
mà không có phước thọ dụng. Thứ này chỉ
để lau dép hay dùng làm rèm cửa, đặt nơi xào
tre tự nhiên rả ra thôi.
Ông Trưởng giả liền hỏi:
- Vậy bây giờ chúng con phải làm
thế nào ?
Thánh giả bảo:
- Cần thứ tốt hơn để
cúng cho tôi may y mới được.
Trưởng giả thưa:
- Thánh giả, con lại không thể
được thứ tốt hơn.
Thánh
giả bảo:
- Có thể mua để cúng cho tôi.
Trưởng giả thưa rằng:
- Chúng con không có phương tiện
để mua.
Lại bảo:
- Cứ mua chịu rồi sau sẽ trả
cho họ.
Khi ấy, ông Trưởng giả nh́n
vợ… Người vợ biết y của chồng,
liền thưa:
- Thánh giả Ô-ba-nan-đà đối gia
đ́nh chúng ta là kẻ có đại ân, chúng ta có thể mua
y ấy để cúng cho được toại nguyện.
Thế rồi, Trưởng giả cùng
với Ô-ba-nan-đà đến một cửa hiệu
nơi chợ để mua. Ô-ba-nan-đà liền nảy ra
ư nghĩ: “Ta cần phải nói khích để người
chủ hiệu đưa loại y phục thượng
hạng ra”. Ô-ba-nan-đà quay lại nói với ông
Trưởng giả:
- Xem qua nơi khu phố này hầu hết
là người nghèo làm ǵ có thứ bạch điệp
tốt đó! Ta nên đến nơi phố khác để
t́m mua.
Ông chủ cửa hiệu nghe nói, tức th́
ḷng tự ái nổi lên bèn lấy thứ thượng
điệp hảo hạng đưa ra và nói:
- Thánh giả thử xem thứ bạch
điệp này có dùng được hay không ?
Ô-ba-nan-đà nói:
- Thứ này được đây, giá bao
nhiêu ?
Chủ cửa hiệu nói:
- Trị giá năm mươi
Ca-lợi-xa-ba-noa.
Ô-ba-nan-đà trả:
- Ba mươi… đồng ư tôi sẽ
lấy.
Chủ hiệu hỏi:
- Ai trả tiền đây ?
Ô-ba-nan-đà nói:
- Ông Trưởng giả này sẽ trả
tiền.
Chủ hiệu hỏi ông Trưởng
giả:
- Chừng nào ông sẽ trả ?
Ông Trưởng giả nói:
- Ngày… tháng… tôi sẽ trả.
Chủ hiệu nói:
- Như thế là được tùy ư ông
cứ lấy món hàng đó.
Ông Trưởng giả bèn lấy
thượng điệp trao cho Ô-ba-nan-đà. Ô-ba-nan-đà
liền cầu nguyện: “Nguyện Trưởng giả vô
bệnh trường thọ”. Món cúng dường này là anh
lạc của tâm, là của cải của tâm, định
huệ trang nghiêm, đặng nhơn thiên đạo…
Ô-ba-nan-đà bèn đem hảo thượng điệp này
vào rừng Thệ-đa.
Gia đ́nh Trưởng giả v́ nghèo nên
không đủ khẳ năng trả đúng thời gian
đă ấn định. Chủ hiệu bắt
Trưởng giả phải đứng một chỗ
dưới ánh nắng mặt trời thiêu đốt v́
tội trả nợ không đúng hạn. Người quen
biết thấy vậy hỏi:
- Tại sao đứng dưới ánh
mặt trời giữa trưa ?! V́ chữa bệnh sốt
rét hay thoa dầu để trị ghẻ.
Trưởng giả trả lời:
- Tôi không phải v́ chữa bệnh sốt
rét hay thoa dầu để trị ghẻ mà phải
đứng thế này, do v́ không trả nợ đúng
kỳ hạn nên bị trừng phạt.
Người ta lại
hỏi:
-
Tại sao phải mắc nợ ?! Nợ của Tổ
phụ để lại chăng ?!
Trưởng giả bảo:
- Không phải nợ của tổ phụ
để lại mà do tôi sanh kính tín đối với Bí-sô
đệ tử của Thích-ca, đem chiếc y dâng cúng,
Bí-sô chê xấu không nhận, khiến tôi mua thứ y tốt
để cúng nên phải mắc nợ và chịu cảnh
khổ thế này.
Bạn quen của Trưởng giả khi
nghe câu chuyện như vậy khởi lên sự cơ
hiềm:
- Sa-môn thích tử tham cầu không biết
nhàm chán.
Lời cơ hiềm này đến tai các
Bí-sô, các vị đem vấn đề này bạch lên
đức Phật đầy đủ. Đức
Thế Tôn đem nhơn duyên này tập hợp các Bí-sô…
(như trước) đến câu: Phật bảo
Ô-ba-nan-đà:
- Thật sự ông có làm cái việc không
đoan nghiêm như vậy không ? Có phải chỗ vật
cúng của người ta, không thơa măn với ḷng của
ông, ông lại xin vật tốt hơn, khiến cho
người ấy phải chịu khổ sở như
thế ư ?
- Bạch đức Thế Tôn, có thật
như vậy ! - Ô-ba-nan-đà thưa.
Đức Thế Tôn dùng tất cả
phương tiện quở trách Ô-ba-nan-đà rồi
bảo các Bí-sô:
- Ta nay v́ các đệ tử, đối
với Tỳ-nại-da chế Học xứ này như sau:
“Nếu lại có Bí-sô, do Cư sĩ hay
vợ Cư sĩ không phải bà con cùng nhau để dành
tiền định mua y thanh tịnh như vậy cúng
cho Bí-sô… vào lúc nào đó
để sử dụng. Bí-sô ấy trước không nhận
được sự thỉnh tùy ư mà nhơn người
khác cho biết, bèn đến nhà kia nói như vầy: Lành
thay ! Ông bà để dành tiền sắm y cho tôi, có thể
mua y thanh tịnh như thế, đúng lúc cúng cho tôi, v́
ưa đẹp vậy. Nếu nhận được y,
phạm Ni-tát-kỳ Ba-dật-để-ca”.
+ Nếu lại có Bí-sô, tức là chỉ cho
Ô-ba-nan-đà.
Bà con, không phải bà con v.v… như
trước đă giải.
Giá trị của y là vàng bạc, bối
xỉ v.v...
Để dành, tức là cất dồn, gom
góp lại.
Y như vậy, tức là chỉ cho bảy
loại y như trên.
Mua, tức là đưa tiền cho
người để lấy vật.
Thanh tịnh, tức là được
như vậy mới nhận y.
Cho, tức là dâng cúng y.
Bí-sô nào đó là chỉ cho Ô-ba-nan-đà.
Không thỉnh trước, tức là không
hứa hẹn trước.
Nhơn người khác báo cáo, tức là
người khác đến tiết lộ rồi t́m
cầu y.
Đ̣i hỏi giá trị tức là cho
đẹp như vậy.
Nếu nhận được y bèn phạm
Xả đọa.
+ Trong vấn đề này, tướng
phạm như thế nào ?
- Có ba trường hợp: Giá, sắc,
lượng.
Thế nào gọi là giá ?
- Nếu Bí-sô đến nơi người
không phải bà con nhận được y giá trị
năm Ca-lợi-xa-ba-noa mà thọ th́ không phạm; không
thọ y này lại đ̣i y có giá trị hơn, khi đ̣i
phạm Ác tác, nhận được phạm Xả
đọa. Như vậy, cho đến năm mươi
Ca-lợi-xa-ba-noa v.v… tùy theo sự t́m cầu, tùy theo sự
nhận được, nhẹ, nặng chuẩn theo trên
nên biết. Như vậy gọi là giá.
Thế nào gọi là sắc ?
- Bí-sô đặng y màu xanh, thọ th́ không
phạm; không nhận y này lại đ̣i hỏi y
đẹp hơn, khi t́m cầu phạm Ác tác, nhận
được phạm Xả đọa. Sắc xanh
như vậy, ngoài ra, bao nhiêu sắc khác, chuẩn theo
đây nên biết. Như vậy gọi là sắc.
Thế nào gọi là lượng ?
- Nếu Bí-sô đặng y năm khuỷu
tay, nhận th́ không phạm; không nhận y này lại đ̣i
y đẹp hơn, đồng như trước phạm
tội. Như vậy cho đến nhiều khuỷu tay,
vấn đề tội nặng nhẹ đều
đồng như trước. Như vậy gọi là
lượng.
Y Ni-tát-kỳ này, phương pháp Xả
cũng đồng như trước. Không phạm:
Nếu xin chỉ sợi lại nhận được
một miếng, xin một miếng nhỏ, người ta
cho một y lớn, những trường hợp như
vậy đều không phạm.
Lại trường hợp không phạm
nữa là: Người phạm lần đầu, hoặc
si cuồng, tâm loạn, thống năo bức bách.
* Học xứ thứ
9: Biết người thế tục riêng hứa cúng y,
đến xin.
Đức Thế Tôn ở tại rừng
Thệ-đa, Ô-ba-nan-đà Bí-sô là người khởi lên
nhơn duyên để phạm. Vợ chồng ông
Trưởng giả đều tư thông với
người ngoài… (như giới trước).
Ô-ba-nan-đà nói pháp họ bỏ ác tu thiện. (Sự việc
cũng như giới trước) chỉ khác ở
chỗ là hai người đều để dành tiền
để cúng y. Ô-ba-nan-đà khiến hai người chung
lại mua một y, cho đến khiến cho Trưởng
giả phải nhận lấy việc cực kỳ
khổ sở. Bí-sô đem nhơn duyên này bạch Phật.
Cho đến v́ chế Học xứ như sau:
“Nếu lại có Bí-sô, có Cư sĩ hay
vợ Cư sĩ chẳng phải bà con đều v́ Bí-sô
để dành tiền cúng y. Họ định mua y thanh
tịnh như vậy, cúng cho Bí-sô có tên như vậy. Bí-sô
này, trước không nhận lời mời; nhơn
người khác cho biết bèn đến nhà kia nói như
vầy: Lành thay ông bà có thể chung lại mua chiếc y
thanh tịnh như vậy, kịp thời cúng cho tôi, v́
muốn cho đẹp. Nếu được y Ni-tát-kỳ
Ba-dật-để-ca”.
Trong đây tướng phạm có ba
loại không đồng nhau (như giới trước).
Học xứ thứ 10: Quá hạn
đ̣i y.
Đức Phật ở thành
Vương-xá, trong vườn Trúc Lâm. Khi ấy,
Ô-ba-nan-đà khởi ư nghĩ: “Chúng ta kinh cầu nơi nào
đều bị Trưởng giả Cấp-cô-độc khẩn khởi thỉnh
đức Thế Tôn chế Học xứ. Dầu chúng ta
muốn khất cầu một chiếc khăn lau nhỏ
cũng khó có được, huống là khất cầu
vật ǵ to lớn. Xong, xưa kia, ta cùng với Hành Vũ
Bà-la-môn đồng học một trường, cùng học
một thầy ta nên đến gặp, có thể ông ta
rộng giúp ta một chút ít y vật”. Ô-ba-nan-đà bèn
đến nhà ông ấy. Khi vừa tới cửa ngơ bị
người giữ cửa chận lại nói:
-Thánh giả chớ nên vào!
Ô-ba-nan-đà nói:
-Này, Hiền thủ! Đức Thế Tôn
cấm tôi không được đến năm chỗ: Nhà
xướng hát, nhà dâm nữ, nhà bán rượu, nhà vua và nhà
sát sinh. Nhà này đâu phải ở trong diện năm
loại nhà nói trên?
Người gác cửa bảo:
-Thánh giả khỏi phải cơ hiềm
hủy báng nói nhà này không phải là nhà xướng ca, nhà dâm
nữ v.v… đây là nhà của Bà-la-môn Hành Vũ.
Thánh giả bảo rằng:
-Này, nam tử! Ngươi cứ vào nhà báo
với Bà-la-môn là có Đại đức Ô-ba-nan-đà,
hiện ở ngoài cửa, muốn vào gặp gia chủ.
Người giữ cửa nói:
-Ông là quan đoán sự của vua Thắng
Quang sai đến hay sao?!
Thánh giả bảo:
-Ngươi là kẻ ngu si! Ngươi vào
phi báo liền th́ tốt, chậm trễ ắt sẽ
bị Đại vương trừng phạt cho mà xem.
Người giữ cửa tự nghĩ:
“Xem chừng ông này là người có thế lực nên không
có sự sợ sệt, không như bao người khác,
chắc chắn ông ta có lư do. Ta phải vào báo cho gia chủ,
chứ không khéo sẽ bị sỉ nhục”. Nghe như
vậy xong liền vào báo:
-Đại đức Ô-ba-nan-đà hiện
nay ở ngoài cửa ngơ, cần vào gặp gia chủ.
Bà-la-môn gia chủ liền bảo:
-Mời Đại đức vào! Chứ ai
chận Đại đức lại.
Người giữ cửa nghe xong, khởi
ư niệm: “Té ra là như vậy, do chỗ hào vọng
với nhau mà Sa-môn không hề e sợ là ǵ”. Người
giữ tức tốc chạy ra mời Ô-ba-nan-đà vào.
Bà-la-môn từ xa trông thấy hô lên:
- Thiện tai!
Và trải tọa mời ngồi.
Ô-ba-nan-đà an tọa, liền phát mỹ diệu âm khen
ngợi công đức pháp môn bố thí thù thắng. Mỗi
lần Ô-ba-nan-đà phát khởi tâm hỷ, duyệt khen
hạnh bố th́ các người Bà-la-môn có tín tâm, khi nghe
phát khởi lên ư niệm: “Lành thay, pháp mầu! Chúng ta nên
cắt thịt để bố thí”. Thế rồi,
Bà-la-môn gia chủ nghe pháp hoan hỷ, phát khởi lời nói:
- Ngày Đại đức ngồi Hạ
xong, con sẽ phụng hiến 60 Kim tiền.
Ô-ba-nan-đà nói:
- Nguyện cầu Hiền thủ vô
bệnh trường thọ. Vật thí này là đồ anh
lạc cho tâm… cho đến câu: an ẩn Niết-bàn.
Thánh giả chú nguyện cáo từ.
Khi ấy, có hai Bí-sô từ thành
Thất-la-phạt đến thành Vương-xá, v́ muốn
yết kiến đức Phật nên vào thẳng rừng
Trúc. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Cụ
thọ A-nan-đà rằng:
- Ông nên đi phổ biến cho các Bí-sô
biết là Như Lai muốn đến nước
Kiều-tát-la, du hành trong nhơn gian. Nếu vị nào t́nh
nguyện tùy tùng th́ chuẩn bị y phục.
Tôn giả A-nan-đà phụng hành, đi
phổ biến lời đức Phật đến các
Bí-sô. Khi nghe lời phổ biến ấy hai Bí-sô mới
đến, ḷng lại ưu tư. Ô-ba-nan-đà
hỏi:
- Này hai thiếu niên! Tại sao nặng
vẻ ưu sầu như vậy ?
Hai Bí-sô thưa:
- Cụ thọ A-nan-đà bảo các Bí-sô:
“Như Lai muốn đến nước Kiều-tát-la, du
hành trong nhơn gian. Vị nào muốn cùng đi th́ chuẩn
bị hành lư”.
- Thưa Đại đức! Chúng tôi
mới đến, chưa nghỉ khỏe, làm sao trở
lại thành Thất-la-phạt được ?!
Khi nghe rơ biết tự sự như
vậy, Ô-ba-nan-đà ḷng phiền muộn lo lắng,
khởi lên ư niệm: “Từ lâu, nay mới gặp
được một thí chủ nhỏ nhỏ, đâu
biết có sự trở ngại thế này”. Sáng ngày,
Ô-ba-nan-đà liền đến nhà Bà-la-môn, như
thường lệ an tọa xong, với giọng áy náy
không vui nói pháp công đức bố thí. Gia chủ Bà-la-môn
hỏi:
- Trước đây Đại đức
nói pháp với âm thinh mỹ diệu, tại sao nay nơi
giọng nói có mang theo mỗi ưu tư, nguyện
được biết lư do!
Ô-Ba-nan-đà
nói:
- Này Hiền thủ! Từ lâu, nay mới
gặp được Hiền thủ chỉ một
thời gian ngắn lại phải biệt ly!
Lời tỏ
bày chưa kịp dứt, Ô-ba-nan-đà ḷng buồn
rười rượi, như người đời nói
kệ:
Người Ma-yết-đà nghe tiếng hiểu,
Nước Kiều-tát-la thấy h́nh biết.
Nửa chữ bèn rơ năm Vương thành
Cạnh nước khác đợi nói mới
hiểu.
Khi ấy, Hành vũ Bà-la-môn nghe Ô-ba-nan-đà
nói, liền nghĩ: “Đây không phải v́ ly biệt ta mà
sanh ưu sầu, mà chỉ v́ sáu mươi kim tiền nên
cớ sự mới phiền muộn”. Do vậy, Hành Vũ
thưa:
- Tùy Đại đức An cư chỗ
nào xong th́ tôi cũng sẽ phụng hiến sáu mươi
Kim tiền.
Ô-ba-nan-đà liền cầu nguyện:
- Nguyện Hiền thủ vô bệnh,
trường thọ. Lành thay! Ḷng bố thí thủy chung
đều bền vững, phước lợi này sẽ
đem đến thắng quả.
Ô-ba-nan-đà cầu nguyện xong liền
cáo lui.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn
được Đại chúng vây quanh (như
trước)… khi Phật và Tăng đến
Kiều-tát-la. Tại thành Thất-la-phạt, an trụ nơi
rừng Thệ-đa. Khi ấy, có thương khách từ
trong thành này đi ra, chở theo các hàng hóa đến thành
Vương-xá. Thường pháp xưa của thành
Vương-xá đối với xứ khác có đại
vương tộc đến nơi nước này th́ nhà
vua tự soát xét hàng hóa hoặc khiến Hành Vũ
đại thần làm việc ấy. Kỳ này, Hành Vũ
được sai soát xét hàng hóa của thương tộc
kia. Hành Vũ bảo
thương khách:
- Khi người trở về nơi
Thất-la-phạt nên cho tôi biết.
Người thương khách đồng ư.
Thương nhơn trao đổi hàng hóa xong, đến
chỗ Đại thần bảo:
- Tôi sắp sửa về nước.
Hành Vũ bèn đem gởi sáu mươi Kim
tiền và dặn:
- Nhờ thương khách đem vật này
đến cho Đại đức Ô-ba-nan-đà.
Thương chủ nhận vật rồi,
nghĩ: “Nếu trước đây cùng với Đại
thần Hành Vũ có sự quen biết th́ vị này chắc
chắn là một Đại đức Bí-sô lắm
người quen biết. Với vị Đại
đức này ta sẽ tạo thêm một chút lợi
nhuận để Đại đức được
vui. Có thể ta mua ít hàng loại tế điệp đem
đến Thất-la-phạt”. Nghĩ như vậy
rồi liền đến trong vườn Trúc hỏi các
Bí-sô để biết loại điệp y nào mà các Bí-sô có thể may mặc. Các
Bí-sô hỏi thương nhân:
- Hiền thủ! Há ông muốn mua vải
để cúng dường cho Tăng sao ?
Thương chủ bảo rằng:
- Tôi không đủ khả năng
để làm việc cúng dường mà đây là
đại thần Hành Vũ gởi sáu mươi Kim
tiền, nhờ đem đến cho Đại đức
Ô-ba-nan-đà. Nay tôi muốn đem số tiền này mua
điệp y đem đến đó, để
được vừa ư người nhận.
Các Bí-sô nghe, biết rơ sự việc nên nói:
- Nếu ông làm như vậy th́ chắc
chắn ông sẽ phải nộp cả Bạch
điệp và Kim tiền cho vị ấy.
Thương nhơn nghĩ rằng: “Có
lẽ Bí-sô này với Ô-ba-nan-đà có sự không hài ḷng nhau
nên nói thế”. Ông bèn đến hỏi các Bí-sô khác xem các
vị có ư kiến ǵ khác hơn không.
Các Bí-sô nói:
- Nếu ông không đóng ấn Kim tiền mà
mang đi th́ đến đó, chắc chắn vị kia
sẽ đ̣i tiền lời.
Thương chủ nghĩ: “Các Bí-sô
đều có ư cảnh giác
cho ḿnh sợ vị kia gây
phiền phức. Ta nên đến yêu cầu Đại
thần đóng ấn tín vào”. Thương chủ
đến yêu cầu. Đại thần nói:
-Tôi đă tin người, phiền ǵ
phải đóng ấn tín làm ǵ!
Thương chủ nói:
- Tuy Đại thần tin tôi ủy thác
tiền, xong pháp sự của nhà buôn phải đâu đó
rơ ràng.
Đại thần giải quyết đúng
theo yêu cầu, ngay khi ấy, cho người đóng ấn
tín vào sáu mươi Kim tiền đó.
Thương chủ mang số Kim tiền
đến thành Thất-la-phạt, rừng Thệ-đa,
hỏi Bí-sô:
- Pḥng ở của Thánh giả Ô-ba-nan-đà
chỗ nào.
Các Bí-sô chỉ chỗ. Đến đó
không có. Các Bí-sô nói:
- Đại đức Ô-ba-nan-đà vừa
đi đâu đó xin mời ông tạm ra ngoài chùa nơi
thanh tịnh ngồi nghỉ.
Thương chủ nói:
- Đại thần Hành Vũ bên thành
Vương-xá có gởi cho Đại đức
Ô-ba-nan-đà một số Kim tiền này, các Ngài nhận
cho, khi nào vị ấy về trao lại giùm.
Bí-sô nói:
- Hiền thủ! Người đă
từng thấy ai chui đầu vào ngọn lửa của
cây đuốc đang hừng cháy không!
Thương chủ nghĩ rằng: “Có
lẽ vị Bí-sô này với Đại thần
Ô-ba-nan-đà có sự không hài ḷng nhau nên nói như thế”.
Ông ta lại đến nói với các Bí-sô khác:
- Thưa Đại đức, tiền này
là của Đại thần Hành Vũ bên thành
Vương-xá gởi cho Đại đức
Ô-ba-nan-đà, nhờ ngài nhận, khi nào vị ấy về
trao lại giùm.
Các Bí-sô nói:
- Nếu món Kim tiền đó, không đóng
ấn mà mang đến giao th́ vị kia đ̣i tiền
lời đâu để trả ?! Ông nên trực tiếp
giao cho rồi.
Thương chủ nghĩ: “Vị nào
cũng nói như nhau. Đây thật là một điều
nan giải cho ta”. Trong nhà đợi, đợi
Ô-ba-nan-đà, Thương chủ tự rơ được
câu trả lời của các Bí-sô nên thưa với các Bí-sô:
- Khi nào Ô-ba-nan-đà về xin bảo giùm: Có
người ở tại địa chỉ… mời
Đại đức đến nhận quà tặng,
từ Vương-xá gởi đến.
Thương chủ nói xong, cáo lui. Sau đó,
Ô-ba-nan-đà về, các Bí-sô nói:
- Đại đức Ô-ba-nan-đà, lành
thay! Đức Thế Tôn có nói: “Người nào đầy
đủ giới hạnh, tâm ư thanh tịnh th́ tùy tâm
sở nguyện đều được thành tựu”.
Nay, Ngài nhờ dứt ư trong rừng nên liền thu hoạch
được sáu mươi Kim tiền từ
phương xa đem đến cúng dường.
Ô-ba-nan-đà nói:
- Cụ thọ! Nơi nào mà có
được thí chủ: cúng dường Phật và
Đại chúng một ngàn hai trăm năm mươi
vị, mỗi vị sáu mươi Kim tiền như
thế ?
Bí-sô nói:
- Chỉ độc nhất có Ngài
được mà thôi, chứ không phải cả
Đại chúng .
Ô-ba-nan-đà nói:
- Ai mà có thể huệ thí cho tôi sáu
mươi Kim tiền như thế.
Các Bí-sô bảo rằng:
- Đại thần Hành Vũ nơi Thành
Vương-xá gởi cúng.
Ô-ba-nan-đà nói:
- Vị đại thần đó là tri
thức của tôi lúc xưa, trước đă dự
định cúng cho tôi một số Kim tiền đó. Không
biết vị nào nhận có xem xét cho kỷ hay không ?! Có
bị thiếu hụt rơi rớt ǵ không ?! Nếu
vật bị trá, giả mạo th́ không thể nhận
được.
Các Bí-sô bảo rằng:
-Không ai chịu nhận giùm cả.
Ô-ba-nan-đà vừa nghe, liền buông
lời:
-Th́ ra từ lâu tôi cùng ở với bạn
ác, nên sự việc như vậy mà không ai nhận giùm.
Khi,
Ô-ba-nan-đà nặng lời trách móc như thế, các Bí-sô
cho biết:
-Không sao đâu! Đại đức
đừng ưu năo, thương chủ có để
lại địa chỉ rơ ràng, mời Đại
đức đến đó mà nhận.
Khi được cho biết như
thế, Ô-ba-nan-đà liền lấy y Tăng-già-chi mặc
vào, vội vàng đi đến nhà của thương
chủ. Từ xa thấy đi xăng xái như vậy,
thương chủ tự nghĩ: “Xem phong thái thế này
th́ rơ mười mươi là Sa-môn có thế lực
thuộc gịng hào tộc”.
- Xin chào Ngài, Ngài là Đại đức
Ô-ba-nan-đà ?
Đại đức đáp:
- Đúng vậy!
Thương chủ đem tiền ra, nói:
- Đây là Đại thần Hành Vũ
gởi, xin Ngài thọ nhận.
Ô-ba-nan-đà liền chú nguyện một
cách nom na. Thương chủ nói:
- Đây không phải tài vật của tôi mà
Ngài chú nguyện cho tôi. Ngài nên chú nguyện cho Đại
thần Hành Vũ.
Ô-ba-nan-đà nói:
- Tuy không phải của người
nhưng công lao của người từ phương xa
đem về. Tục ngữ có câu: “Của một
đồng công một lượng”, người không
biết sao ? - Ô-ba-nan-đà nói tiếp: Bây giờ
người cho mượn một cháu nhỏ mang số
tiền này đi với tôi ra chợ rồi nó về
lại .
-Thưa Thánh giả, tôi không có cháu nhỏ
nào cả.
Ô-ba-nan-đà nói:
- Người là kẻ ngu, từ
Vương-xá c̣n đem về đến đây
được, huống là từ đây ra chợ chỉ
có mấy bước mà không chịu cho người mang
đi là sao!
Thương chủ liền sai một
tiểu nhi mang tiền cùng đi với Ô-ba-nan-đà,
dặn tiểu nhi rằng:
- Phải
đi theo sau chớ đừng ghé nơi đường
khác, Thánh giả có tiền mua bánh quà ǵ không nên nhận.
Tiểu nhi mang tiền đi theo,
đến nơi cửa hiệu, cậu bé thưa với
Thánh giả:
- Tiền để nơi đây phải
không ?
Ô-ba-nan-đà nghĩ: “Thế là đồng
tử đă theo ư của chủ nó dặn chứ không theo ư
ḿnh”. Ô-ba-nan-đà liền bảo người chủ
hiệu rằng:
- Này, Hiền thủ! Số Kim tiền này,
người cất hộ cho.
Người nơi cửa hiệu nói:
- Thưa Thánh giả! Không có gia
trưởng, tôi không dám nhận.
Ô-ba-nan-đà nói:
- Cám ơn! Kẻ mất hết tự do!
Ô-ba-nan-đà lại đến chỗ
đồng tử bán hương, nói:
- Hiền thủ, cho tôi tạm gởi
số tiền này.
Đồng tử bán hương nói:
- Xin lỗi Ngài, người lớn trong nhà
tôi đi vắng.
Ô-ba-nan-đà nói:
- Cám ơn, gia trưởng của
người đi luôn rồi đó!
Ô-ba-nan-đà đến nơi một
đồng tử bán hương khác, mà ḷng tin của nó
đối với Phật pháp cũng vừa mới có, nói:
- Hiền thủ! Cho tôi tạm gởi
số tiền này.
Đồng tử này nói:
- Nhà tôi có người lớn, tôi không dám
nhận vật gởi.
Ô-ba-nan-đà nói:
- Tôi nghĩ rằng: “Người có chút tín
tâm, nào ngờ đó là tín tâm của La sát. Nếu
ngươi vốn không có tín tâm mà tự nói là có tín tâm th́
khi nắm chân của Bí-sô liền bổ nhào ra ngoài
cửa”.
Đồng tử bị rủa nộp
nghẹn lời nói:
-Thánh giả có thể để chỗ này.
Ô-ba-nan-đà gởi xong, về lại chùa.
Thời ấy, thương nhơn có
chế lệnh: “Đến lúc mặt trời mọc, ai
không tập hợp sẽ bị phạt sáu mươi
văn Kim tiền” Bà mẹ của đồng tử
bảo đồng tử:
- Con phải đến sớm đừng
để người ta phạt.
Đêm ấy, Ô-ba-nan-đà sanh tâm nghi
kỵ: “Đồng tử bán hương mới có
được ḷng tin có thể đem gói gửi tiền
rồi tránh mặt ta”. Nên trời chưa sáng Ô-ba-nan-đà
dẫn một thiếu nhi đến cửa hiệu đă
gởi tiền. Vừa lúc ấy chủ hiệu đóng
cửa đi ra. Ô-ba-nan-đà chận lại bảo
rằng:
- Hiền thủ! Cho tôi xin nhận lại
số tiền gửi.
Chủ cửa hiệu đáp:
- Thánh giả! Nơi đây từ
trước đến giờ, thương nhơn chế
ra lệnh: Hội họp lúc mặt trời mọc,
nếu trễ phạt sáu mươi văn Kim tiền. Xin
Ngài nán đợi một chút tôi về sẽ giao.
Ô-ba-nan-đà nói rằng:
- Ngươi là người ngu, ta đâu
phải tôi tớ của ngươi mà bảo chờ
đợi. Trở vào lấy tiền của tôi gởi
đưa đây chứ chân của tôi bị đau không
đứng lâu được. Nếu không trả lại
cho mà đi tức là trái với giáo lệnh của vua
Thắng Quang sẽ bị phạt sáu mươi Kim
tiền.
Đồng tử chủ cửa hiệu
nghe nói như vậy nổi giận hủy báng rồi xách
gói tiền quăng dưới đất, nên dấu
đóng ấn bị vấy bùn không c̣n nguyên như
trước. Ô-ba-nan-đà nói rằng:
- Ngươi khoan đi, để ta
thử xem lại cho rơ có thiếu không, có thông đồng
đổi đồ giả không.
Chủ cửa hiệu nói:
- Khi gởi cho tôi Ngài đâu có đếm
trước khi gởi ?!
Ô-ba-nan-đà nói:
- Tuy không đếm mà có dấu ấn
đóng rơ ràng, bầy giờ ấn dấu bị phá
mất.
Khi ấy, người chủ cửa
hiệu ngậm hận mà đành phải nín thinh. Trời
đă sáng hẳn, bị trễ buổi họp. Các
thương nhơn đến nhà thu số tiền bị
phạt. Khi họ mang sáu mươi Kim tiền đi, bà
mẹ của đồng tử, chủ hiệu thấy,
hỏi:
- Con làm ǵ mà trái phạm lệnh chế
để phải bị phạt sáu mươi Kim tiền
như thế ?
Người con thưa với mẹ:
- Do con quen thân với Thích tử, vừa
phát ḷng tin th́ liền bị bẻ găy.
Cả hai mẹ con liền cơ hiềm,
hủy báng. Sự việc này đến tai Bí-sô, các Bí-sô
tŕnh bày đầy đủ với đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn dựa vào nhơn duyên này, tập
hợp các Bí-sô… cho đến câu: Đức Thế Tôn
hỏi Ô-ba-nan-đà:
-Thật sự ông có làm cái việc không
đoan nghiêm vậy chăng?
-Bạch Đại đức Thế Tôn!
Thật sự con có làm như vậy.
Đức Phật dùng mọi cách quở
trách… cho đến câu:
- Nay, Ta v́ các đệ tử, đối
với Tỳ-nại-da chế Học xứ này như sau:
“Nếu lại có Bí-sô, hoặc vua, hoặc
Đại thần Bà-la-môn, Cư sĩ v.v… sai sứ v́ Bí-sô
đem tiền đến chỗ Bí-sô, thưa: Đại
đức! Vật này là của vua… Đại thần,
Bà-la-môn , Cư sĩ… sai tôi đem đến, Đại
đức ai mẫn thọ nhận cho. Bí-sô nói với
người sứ kia rằng: Này, nhơn giả! Số
tiền may y này tôi không được phép nhận. Nếu
khi cần y, hợp thời thanh tịnh th́ tôi mới
nhận. Người xứ kia thưa: Đại
đức có người chấp sự hay không ? Bí-sô nói:
Có. Rồi lại nói: Tịnh nhơn của Tăng hay
Ô-ba-sách-ca ở tại chỗ đó là người chấp
sự của Bí-sô. Người sứ kia đến
chỗ người chấp sự trao số tiền may y
rồi nói: Ông có thể dùng số tiền may y này sắm y
thanh tịnh, khi hợp thời trao cho Bí-sô tên… để
Ngài đắp mặc. Người sứ kia khéo léo dặn
người chấp sự rồi, trở lại chỗ
Bí-sô thưa: Đại đức! Ngài chỉ người
chấp sự đó, tôi đă trao số tiền may y
rồi. Khi Ngài cần được y thanh tịnh, nên
đến đó nhận. Khi cần y thanh tịnh, Bí-sô
đến chỗ người chấp sự, hoặc hai
lần, hoặc ba lần khiến cho họ nhớ
lại, bằng cách nói rằng: Tôi cần y. Nếu
nhận được y th́ tốt, không nhận
được y, cho đến bốn, năm, sáu lần
đến nơi đó đứng nín thinh. Nếu
đứng nín thinh bốn, năm, sáu lần nhận
được y th́ tốt, không nhận được y,
quá hạn định cầu cho được y,
Ni-tát-kỳ Ba-dật-để-ca. Nếu cuối cùng không
nhận được y th́ Bí-sô nên đến chỗ
người đưa tiền may y đó, hay sai
người tin cậy đến nói: Ông v́ Bí-sô tên… sai
người đem tiền may y đến. Bí-sô kia cuối
cùng không nhận được y. Ông nên biết,
đừng để mất số tiền ấy. Đây
là hợp thức”.
+ Bí-sô ở đây là chỉ cho
Ô-ba-nan-đà.
Vua, có thể là nam, có thể là nữ
được dùng vương pháp quán đảnh
đều gọi là vua.
Đại thần là người chấp
hành chánh sự, theo chức năng mà an lập.
Bà-la-môn là quư chủng Đa-văn.
Cư sĩ là kẻ tại gia phong phú.
Vân vân là chỉ cho các tạp loại khác.
Sai sứ giả là chỉ cho nam nữ,
Huỳnh môn.
Đem tiền may y tức là chỉ cho vàng
bạc tiền…
Sứ giả kia đem tiền may y v.v…
tức là đem tiền may y… đến chỗ Bí-sô.
Bạch Đại đức, là
đối với vị Sa-môn trước mắt.
Vật này là của… tức là nói nơi cúng
dường và xin được nạp thọ.
Bí-sô nói không nhận là v́ không hợp lư
để nhận.
Thuận lúc thanh tịnh nghĩa là phù
hợp với lư do nên đến nhận người
sứ giả kia hỏi Bí-sô về người nhận…
đây chính là người chấp sự.
Bí-sô nói: Có, tức là chỉ người
chấp sự.
Nghĩa của tịnh nhơn của
Tăng là chỉ cho Tịnh nhơn của Đại chúng.
Ô-ba-sách-ca là người quy y Tam bảo,
thọ năm Học xứ.
Sứ ấy… nhằm minh bạch ư của
sứ.
Sắm tức là mua hay là dệt trao cho Bí-sô
tên… tức là chỉ cho người nhận.
Thanh tịnh tức là đủ
điều kiện để nhận.
Khéo léo dặn, tức là chỉ vẽ
một cách rơ ràng. Hoặc hai hoặc ba lần nói lên
bằng lời, khiến cho người kia nhớ lại.
Được th́ tốt, tức là
xứng với ư. Nếu không được cho đến
bốn, năm, sáu lần làm thinh đứng.
Có bốn địa điểm: 1- Chỗ
cơ xưởng sản xuất. 2- Chỗ nhà ở. 3-
Nơi đồng ruộng. 4- Nơi cửa hiệu.
Cơ xưởng sản xuất là chỗ
sản xuất ra hàng hóa.
Nhà ở là nơi nghỉ ngơi trú xứ.
Đồng ruộng là nơi gieo trồng
ngũ cốc.
Cửa hiệu là nơi mua bán.
Có sáu cách cật vấn người
đối diện sáu lời th́ tùy theo sự việc nói mà
cật vấn.
Những ǵ là sáu: Nếu người kia
hỏi: Ngài có việc ǵ đến đây ? Bí-sô trả
lời: V́ việc ấy nên đến.
Nếu người kia nói: Ngài đến
đây là bậc cực thiện! Mời Ngài ngồi, Bí-sô
lại cũng nói: V́ việc ấy nên đến.
Nếu người kia nói: Mời Ngài dùng
cơm. Bí-sô vẫn nói: V́ việc ấy nên đến.
Nếu người kia mời xơi bánh.-
Bí-sô vẫn nói: v́ việc ấy nên đến.
Nếu người kia nói: Mời Ngài
chứng nước. Bí-sô vẫn nói: V́ việc ấy nên
đến.
Nếu đối với một trong sáu
trường hợp trên, khi người kia nói, Bí-sô trả
lời ngay chận họng họ không để cho họ
kịp “cà kê, dê ngỗng” trước mọi người,
họ không thời gian để nói lời ǵ khác, như
vậy gọi là không viên măn thiện hảo.
Nếu đối với một trong sáu
trường hợp trên, khi người kia nói, Bí-sô không
kịp đáp trả chận họng họ. Bí-sô cứ
chậm chậm trả lời, khiến cho họ
trước mọi người có được thời
gian để nói lời loanh quanh, như vậy gọi là
viên măn thiện hảo.
Khi áp dụng sáu cách cật vấn như
vậy, nhận được y th́ tốt, không nhận
được y mà quá quy định để t́m cầu
cho được y phạm Ni-tát-kỳ
Ba-dật-để-ca.
Quá số lượng tức là t́m cầu
quá ba lần nói, sáu lần nín thinh. Cuối cùng không nhận
được y, đến chỗ người cúng y,
hoặc tự ḿnh đến, hoặc sai người tin
cậy đến, tức là sai đệ tử hay môn
nhơn, không có điều ǵ nghi ngờ đối với
người sai đó.
Mục đích là cho người cúng y
biết rơ điều đó để họ đến
nhận lại đừng để cho sự hư
dối lường gạt. Đây là phương pháp
trở lại báo cáo cho chủ nhân cúng y tài.
Trường hợp Bí-sô đă sai sứ báo
cáo cho chủ y tài rồi, người chấp sự kia
lại đến nói với Bí-sô: Thưa Thánh giả! Ngài
có thể nhận số tiền may y này. Bí-sô nên nói với
người chấp sự: Tiền may y này đă trả
lại cho chủ cúng y rồi, ông nên đưa đến
đó. Trả lời như vậy là tốt, nếu lấy
y tài th́ phạm Xả đọa.
Nếu người chấp sự nói:
Thưa thánh giả! Ngài cứ thọ nhận số
tiền may y này đi, đối vói người chủ y
tài, tôi sẽ cùng họ nói chuyện, khiến cho họ hoan
hỷ. Trường hợp như vậy th́ nhận không
phạm.
Nếu Bí-sô không theo thứ tự như
vậy để giải quyết mà thọ nhận y,
đều phạm Xả đọa.
Khi đă phạm tội rồi th́ pháp
Xả đọa sám hối như giới trước
đă giải.
Trong vấn đề này phạm
tướng của nó như thế nào ?
Nếu người đóng vai thí chủ,
người đóng vai sứ giả, người đóng
vai cấp sự đều như pháp, nhận
được y vô tội; trái với đây th́ phạm
Xả đọa.
Nếu người đóng vai thí chủ,
người đóng vai sứ giả phi pháp người
đóng vai cấp sự đúng pháp, nhận
được y vô tội. Trái với đây th́ phạm Ác
tác.
Nếu người đóng vai thí chủ phi
pháp, người đóng vai sứ giả phi pháp,
người đóng vai cấp sự đồng như
trước, phạm Ác tác.
Nếu người đóng vai thí chủ phi
pháp, người đóng vai sứ giả, người
đóng vai cấp sự đồng như trước,
phạm Xả đọa.
Nếu Phi nhơn đóng vai thí chủ, Phi
nhơn đóng vai sứ giả, phi nhơn đóng vai
cấp sự, đồng như trước, phạm Ác
tác.
Nếu Phi nhơn đóng vai thí chủ, Phi
nhơn đóng vai sứ giả, người đóng vai
cấp sự, đồng như trước, phạm
Xả đọa.
Nếu Phi nhơn đóng vai thí chủ,
người đóng vai sứ giả, người đóng
vai cấp sự, đồng như trước, Xả
đọa.
Nếu Phi nhơn đóng vai thí chủ,
người đóng vai sứ giả, Phi nhơn đóng vai
cấp sự , đồng như trước, Ác tác.
Nếu Bí-sô đến Phi nhơn xin
tiền may y, phạm tội Ác tác, nhận được
y phạm Xả đọa, đến loài rồng, xin
tiền may y phạm Ác tác, nhận được phạm
Xả đọa.
Nếu Bí-sô sai sứ đến hoặc
gởi thư xin y tài, phạm Ác tác, nhận
được y phạm Xả đọa. Lại
trường hợp không phạm (như trước).
*Học xứ
thứ 11: Dùng tơ tằm làm phu cụ.
Nhiếp tụng:
Cao thế da toàn đen
Phân lục
Ni-sư-đăn
Gánh lông giặt kim ngân
Nộp chất và mua
bán.
Đức Phật ở tại rừng
Thệ-đa, vườn ông Cấp-cô-độc. Khi
ấy, các Bí-sô làm ngọa cụ mới bằng tơ
tằm, hoặc tự làm hoặc dạy người làm.
Thứ này khó có mà lại quư giá. Các Bí-sô đứng ra kinh
doanh công việc, mất rất nhiều th́ giờ, bê
trễ việc chánh tu, đọc tụng, tác ư. Các Bí-sô
thường đến nơi Bà-la-môn, Cư sĩ v.v… xin
tơ tằm, ngoại đạo thấy vậy cơ
hiềm:
- Mọi người nên biết sa-môn Thích
tử này là người sát sinh; họ không bỏ nghiệp
sát hại, họ tự làm hay sai người khác làm
ngọa cụ mới bằng tơ tằm. Họ dùng
thứ này, phải giết rất nhiều loài hữu t́nh.
Tại sao chúng ta dùng y tốt, thức ăn tốt bố
thí cho họ để họ làm việc sát hại.
Các Bí-sô nghe họ nói như vậy,
đến bạch đức Thế Tôn. Đức
Thế Tôn dùng nhơn duyên này tập hợp chúng Bí-sô,
hỏi các Bí-sô:
- Thật sự, các ông có làm ngọa cụ
mới bằng tơ tằm hay chăng?
- Kính bạch đức Thế Tôn! Đúng
như vậy.
Đức Phật nói:
- Các ông là người khó biết
đủ, khó nuôi dưỡng, không thuận hạnh
thiểu dục tri túc.
Bằng mọi cách, đức Phật
quở trách rồi, Ngài khen ngợi của
Đổ-đa, thiểu dục, tri túc… cho đến câu:
- Nay ta v́ các đệ tử, đối
với Tỳ-nại-da chế Học xứ này như sau:
“Nếu lại có Bí-sô dùng tơ lụa cao
thế da mới làm phu cụ, Ni-tát-kỳ
Ba-dật-để-ca ”.
+Nếu lại có Bí-sô dùng tơ lụa Cao
thế da là chỉ cho nhơn vật trong vấn đề
này. Mới có hai loại: Một là mới làm, hai là mới
nhận được.
Trong đây nói mới tức là mới làm.
Cao thế da làm phu cụ có hai loại:
Một loại độn làm nệm, một loại làm
thành phu cụ.
Nơi đây là nói cả hai loại dùng làm
phu cụ. Tự ḿnh làm, dạy người làm, phạm
Xả đọa. Pháp xả, sám hối… như giới
trước.
Trong đây vấn đề phạm
tướng như thế nào ?
Khi Bí-sô lo liệu Cao thế da đối
với một cái kén, một nắm kén, một đống
kén, hoặc xé, hoặc rọc… để làm phu cụ, khi
làm phạm Ác tác, làm rồi phạm Xả đọa.
Nếu Bí-sô khi xin cao thế da và khi lo
liệu đều phạm Ác tác, khi thành phạm Xả
đọa.
Nếu nhận được vật
đă làm thành hay vật đă dùng, hoặc cũ đă làm
cho mới lại, lo liệu việc như vậy
để thọ dụng, đều không phạm.
Lại, trường hợp không phạm
nữa là người phạm lần đầu, hoặc
si cuồng tâm loạn thống năo bức bách.
CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU
BỘ TỲ-NẠI-DA
QUYỂN 20 - (hết).